CHƯƠNG V: NHỮNG NGƯỜI RAO GIẢNG TIN MỪNG VỚI THẦN KHÍ

  1. Những người rao giảng Tin Mừng với Thánh Thần là những kẻ mở rộng tâm hồn cho hoạt động của Chúa Thánh Thần. Vào ngày lễ Hiện Xuống, Chúa Thánh Thần đã giúp cho các Tông đồ ra khỏi chính mình và biến họ thành những người rao giảng các sự vĩ đại của Thiên Chúa, mà mỗi người nghe có thể hiểu được bằng ngôn ngữ của mình. Hơn nữa, Chúa Thánh Thần chuyển trao sức mạnh để rao truyền sự mới mẽ của Tin Mừng một cách can đảm (parrhesia), lớn tiếng, mọi nơi mọi lúc, dù phải lội ngược dòng. Hãy kêu cầu Người trong ngày hôm nay, gắn bó vào lời cầu nguyện, nếu không có lời cầu nguyện này mọi hoạt động sẽ hóa ra vô ích. Và việc loan báo, cuối cùng cũng sẽ không hồn. Đức Giêsu muốn các vị truyền giáo loan báo Tin Mừng không chỉ bằng lời, nhưng nhất là bằng đời sống được sự hiện diện của Thiên Chúa biến đổi. 
  2. Trong chương cuối này, tôi sẽ không đưa ra một tổng hợp về linh đạo Kitô giáo, cũng không triển khai những đề tài rộng lớn như cầu nguyện, tôn thờ bí tích Thánh Thể hay cử hành đức tin; về những vấn  đề này đã có nhiều tài liệu huấn quyền có giá trị, cũng như các tác phẩm quen thuộc của nhiều tác giả danh tiếng. Tôi không muốn thay thế hay vượt trên các sự phong phú này. Tôi chỉ xin đề nghị vài suy nghĩ về tinh thần của việc Phúc Âm hóa. 
  3. Khi nói một điều gì đó có “tinh thần”, người ta muốn nói đến những động lực bên trong thúc đẩy, chuyển biến, động viên và mang ý nghĩa cho hành động cá nhân và cộng đoàn, Việc truyền giáo với tinh thần lại rất khác với tổng số trách nhiệm phải thực hiện như một sự đòi buộc nặng nề mà người ta phải làm hay một điều gì đó phải gánh lấy, vì nghịch với xu hướng và khao khát của riêng mình. Tôi chỉ muốn tìm lời động viên cho việc  truyền giáo nhiệt thành hơn, vui tươi, quảng đại, can đảm, đầy tình yêu sâu xa và một cuộc sống được truyền đạt ! Nhưng tôi biết, không một sự động viên nào là đủ, nếu như không làm phát sinh trong tâm hồn ngọn lửa của Thánh Thần. Cuối cùng, việc truyền giáo được thực hiện với tinh thần là một cuộc truyền giáo với Chúa Thánh Thần, chỉ vì Người là linh hồn của Giáo hội truyền giáo. Trước khi đề nghị vài động lực và gợi ý thiêng liêng, tôi kêu cầu Chúa Thánh Thần nhiều hơn nữa, tôi xin Người đến canh tân, lay động, thúc đẩy Giáo hội bước ra một cách can đảm khỏi cái tôi của mình, để rao giảng Tin Mừng cho muôn dân.   

1. Những động lực thúc đẩy việc truyền giáo cách mới mẽ

  1. Nhà truyền giáo với tinh thần là một vị công bố Tin Mừng, luôn cầu nguyện và làm việc. Việc Phúc Âm hóa thực sự không cần đến những suy luận cao siêu, nếu không có sự dấn thân mạnh mẽ về mặt xã hội và truyền giáo, không có những thuyết trình và những thực hành xã hội và mục vụ, không có một linh đạo chuyển đổi tâm hồn kẻ khác. Những đề nghị từng phần và rời rạc chỉ  đụng chạm đến những nhóm nhỏ thu hẹp và không có sức mạnh thấm nhập lớn lao, chỉ vì nó cắt xén Tin Mừng. Phải luôn cố gắng để có được không gian nội tâm đem lại ý nghĩa Kitô giáo cho việc dấn thân và hoạt động [205]. Nếu không có những thời gian kéo dài để thờ phượng, gặp gỡ trong cầu nguyện với Lời, đối thoại thành thật với Chúa, các trách nhiệm sẽ dễ dàng bị đẩy vào vô nghĩa, chúng ta sẽ yếu dần vì mệt mõi và gặp những khó khăn, và rồi lòng nhiệt thành sẽ tắt ngấm. Giáo hội không thể sống mà không có buồng phổi cầu nguyện, tôi thật vui mừng vì đã xuất hiện ngay trong những cơ chế Giáo hội các nhóm cầu nguyện, cầu bầu, đọc Lời Chúa với tinh thần cầu nguyện, thờ phượng liên lĩ Bí tích Thánh Thể. Đồng thời, “chúng ta phải đẩy lui mọi cơn cám dỗ về một thứ linh đạo ướt át và cá nhân, hòa hợp không đúng với những đòi hỏi bác ái, cũng như không thích hợp với ý niệm Mầu nhiệm Nhập Thể” [206]. Có một mối nguy khi một số thời gian cầu nguyện lại trở thành những giây phút chạy tội để khỏi dấn thân cho việc truyền giáo, chỉ vì việc cá nhân hóa cách sống có thể đưa các Kitô hữu chạy trốn trong những thứ linh đạo sai lạc.
  2. Thật hữu ích để nhớ lại các Kitô hữu tiên khởi và biết bao anh em trong dòng lịch sử được tràn đầy niềm vui, đầy can đảm không mõi mệt trong việc công bố và có khả năng chịu đựng lâu dài. Có nhiều người tự an ủi cho rằng ngày nay khó khăn hơn nhiều, dù vậy, chúng ta phải nhận ra hoàn cảnh của đế quốc La Mã không thích hợp cho việc loan báo Tin Mừng, cũng không dễ dàng để đấu tranh cho công bằng, để bảo vệ nhân phẩm. Trong mọi thời điểm trong lịch sử, con người lúc nào cũng yếu đuối, cũng như tìm về chính mình một cách bệnh hoạn, một sự ích kỷ tiện lợi và cuối cùng, vật dục luôn rình mò chúng ta. Điều này luôn xảy ra, dưới hình thức này hay hình thức khác ; điều này là do giới hạn của con người hơn là hoàn cảnh. Vì thế, chúng ta đừng nói hôm nay khó khăn hơn hôm qua, điều này thật khác biệt. Hãy học các thánh  đi trước chúng ta và đã đối mặt với những khó khăn riêng của thế kỷ họ. Để đạt mục đích này, tôi đề nghị chúng ta nên dừng lại, tìm những lý do giúp chúng ta bắt chước các ngài trong ngày hôm nay [207].

Việc gặp gỡ cá nhân với tình yêu cứu độ của Đức Giêsu Kitô 

  1. Lý do đầu tiên để truyền giáo là tình yêu của Đức Giêsu mà chúng ta đã được lãnh nhận, kinh nghiệm được Người cứu độ, thúc đẩy chúng ta luôn yêu mến Người hơn nữa. Nhưng tình yêu nào mà chúng ta không cần phải nói đến việc được yêu, chỉ cho thấy, giúp cho người khác nhận ra ? Nếu chúng ta không cảm thấy khao khát mãnh liệt chia sẻ vào tình yêu này, cần thời gian để kêu xin Người trong cầu nguyện, cầu xin ân sủng của Người khai mở trái tim lạnh giá của chúng ta và lay động cuôc sống hửng hờ và nguội lạnh. Đứng trước mặt Người, với trái tim rộng mở, để Người nhìn đến chúng ta, chúng ta sẽ nhận ra cái nhìn tình yêu này mà Nathanel đã khám phá, ngày Đức Giêsu đứng trước mặt ông và nói : “Khi anh còn đứng dưới cây vả, Tôi đã thấy anh” (Ga 1,48). Thật êm dịu biết bao khi đứng trước thập giá, hay quì gối trước Bí tích Thánh Thể, và hãy thật đơn sơ trước ánh mắt của Người ! Điều này thật tốt đẹp vì làm cho Người đụng chạm đến hiện sinh của chúng ta và thúc đẩy chúng ta kết hợp vào đời sống mới của Người ! Vì thế, điều đã xuất hiện, dứt khoát, là điều “mà chúng tôi đã thấy và đã nghe, đó là điều chúng tôi công bố” (1 Ga 1,3). Động lực tốt nhất để quyết định kết hợp với Tin Mừng đó là chiêm ngắm Người với trọn tình yêu, chậm chậm đọc các trang này và hãy đọc với tâm hồn. Nếu chúng ta tiếp cận với cách này, vẻ đẹp của Người sẽ làm cho chúng ta kinh ngạc, và mỗi lần như thế chúng ta sẽ ngất ngây. Vậy cần thiết để tìm lại tinh thần chiêm niệm, cho phép chúng ta mỗi ngày tái khám phá rằng chúng ta là những người đang nắm giữ một điều thiện hảo thật nhân bản, giúp chúng ta sống đời sống mới. Không còn điều gì tốt hơn nữa để truyền đạt cho người khác.
  2. Trọn cuộc đời của Đức Giêsu, cách Người hoạt động với người nghèo, cử chỉ của Người, sự kiên trì, lòng quảng đại thường ngày thật đơn sơ và cuối cùng là việc hoàn toàn tận hiến, tất cả đều tràn đầy giá trị và trở thành gương sáng cho chính cuộc đời chúng ta. Mỗi lần có ai bắt đầu muốn khám phá Người, người đó sẽ thấy rằng điều này cũng cần thiết cho những kẻ khác, vì họ chưa biết được Đức Kitô : “Đấng quý vị không biết mà vẫn tôn thờ, thì tôi xin rao giảng cho quý vị” (Cv 17,23). Đôi khi, chúng ta mất đi sự phấn khởi cho sứ vụ khi quên rằng Tin Mừng đáp ứng những nhu cầu sâu xa nhất của con người, vì tất cả được dựng nên cho những gì Tin Mừng đề nghị với chúng ta : tình bạn với Đức Giêsu và tình huynh đệ giữa nhau. Khi chúng ta thành công trong việc trình bày tương đối vẻ đẹp nội dung cơ bản của Tin Mừng, chắc chắn sứ điệp này sẽ đáp trả cho những đòi hỏi sâu xa nhất của tâm hồn : “Nhà truyền giáo phải tin chắc rằng đang có sự mong chờ nơi biết bao người cũng như nơi các dân tộc, nhờ tác động của Thánh Thần, sự mong chờ này dù còn mơ hồ, để biết chân lý về Thiên Chúa, về con người, về con đường đưa đến sự giải thoát khỏi tội lỗi và cái chết. Sự phấn khởi để rao giảng Đức Kitô đến từ việc xác tín rằng chúng ta sẽ đáp ứng cho sự mong chờ này” [208]. Sự phấn khởi trong việc truyền giáo đặt nền tảng trên xác tín này. Chúng ta đang giữ một kho tàng sự sống và tình yêu không thể dối gạt được, cũng không thể thao túng và làm cho thất vọng. Đó là câu trả lời phát sinh từ sâu thẳm của con người, có thể nâng đỡ và đưa họ lên cao. Đó là chân lý trường cửu, có khả năng thấm thấu vào những nơi mà không có gì có thể đến được. Sự buồn khổ triền miên chỉ có thể được chăm sóc bằng một tình yêu vĩnh cửu.    
  3. Nhưng dù sao, xác tín này được nâng đỡ bằng kinh nghiệm cá nhân, phải luôn được nhìn lại, để tận hưởng tình bạn và sứ điệp của Người. Chúng ta không thể luôn kiên trì trong việc truyền giáo nhiệt thành, nếu như không được thuyết phục rằng, cùng đi với Người, khác với việc đi trong mò mẩm, để có thể lắng nghe Người ; và việc không biết Lời Người cũng khác với việc có quyền chiêm ngắm Người, thờ lạy Người, yên nghỉ bên Người hay không thể làm những việc này thì đó cũng là việc khác. Cố gắng xây dựng thế giới với Tin Mừng của Người cũng không giống như làm việc đó chỉ do lý trí của mình mà thôi. Chúng ta biết rõ, cùng với Người cuộc sống sẽ trở nên tròn đầy hơn và với Người, thật dễ dàng để tìm được một ý nghĩa cho tất cả mọi việc. Vì thế, chúng ta rao giảng Tin Mừng. Vị truyền giáo đích thực, không bao giờ quên mình là môn đệ, biết rằng Đức Giêsu cùng đồng hành với mình, cùng nói với Người, cùng thở với Người, cùng hoạt động với Người. Họ cảm thấy Đức Giêsu thật sống động với họ trong hoạt động truyền giáo. Nếu kẻ nào không khám phá được Người đang hiện diện ngay chính trong trách nhiệm truyền giáo, họ sẽ mất đi sự phấn khởi và nghi ngờ chính điều họ truyền đạt, họ thiếu sức mạnh và đam mê. Và nếu một người không được thuyết phục, thêm phấn khởi, kiên vững, thân thiết, sẽ không thu phục được ai.        
  4. Khi đã kết hợp với Đức Giêsu, chúng ta hãy tìm điều Người đang tìm, hãy yêu điều Người yêu. Cuối cùng, chính vinh quang của Chúa Cha mà chúng ta tìm kiếm, chúng ta sống và hoạt động “để ngợi khen ân sủng Người” (Ep 1,6). Nếu muốn dấn thân trọn vẹn và kiên trì, chúng ta phải vượt lên trên tất cả động lực khác. Đó là chủ đích dứt khoát, sâu xa nhất, vĩ đại nhất, lý lẽ và ý nghĩa tối thượng cho tất cả những gì còn lại. Đó là vinh quang của Thiên Chúa Cha mà Đức Giêsu đã đi tìm trong suốt cuộc đời Người. Người là Chúa Con vĩnh cửu, thật hạnh phúc với trọn hiện sinh của mình khi “hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha” (Ga 1,18). Chúng ta trở thành nhà truyền giáo, vì Đức Giêsu đã nói với chúng ta : “Điều làm cho Chúa Cha được tôn vinh là : anh em sinh nhiều hoa trái” (Ga 15,8). Vượt trên sự kiện chúng ta có đồng ý hay không, quan tâm hay không, hữu ích cho chúng ta hay không, vượt trên tất cả những ranh giới nhỏ bé các quyết định của chúng ta, những sự hiểu biết của chúng ta và các động lực của chúng ta, chúng ta truyền giáo để vinh quang vĩ đại của Chúa Cha, Đấng yêu thương chúng ta, được tỏ rạng.     

Niềm vui tinh thần khi được thuộc về một dân

  1. Lời Chúa mời gọi để chúng ta nhận ra chúng ta là một dân : “Xưa anh em chưa phải là một dân, nay anh em đã là Dân của Thiên Chúa” ( 1 Pr 2,10). Để trở thành một nhà truyền giáo đích thực, cần phải tìm được tinh thần thoải mái để gần gũi với đời sống của dân chúng, đến độ có thể khám phá nguồn gốc của niềm vui cao cả hơn. Sứ vụ là một sự say mê đối với Đức Giêsu nhưng đồng thời, một sự say mê đối với dân Người. Nếu chúng ta dừng lại trước Đức Giêsu chịu đóng đinh, chúng ta sẽ nhận ra tình yêu của Người giúp chúng ta xứng đáng và nâng đỡ chúng ta, nhưng đồng thời nếu chúng ta không mù quáng, chúng ta bắt đầu nhận ra cái nhìn này của Đức Giêsu nới rộng ra, với tràn đầy yêu thương và nồng nhiệt, hướng chúng ta đến toàn dân của Người. Như thế, chúng ta tái khám phá, Người muốn sử dụng chúng ta như khí cụ để đến thật gần gũi dân được Người thương mến. Người đã chọn chúng ta giữa dân Người và sai chúng ta đi đến với dân Người, đến độ căn tính của chúng ta chỉ có thể hiểu được qua việc chúng ta thuộc về dân này.   
  2. Chính Đức Giêsu là mẫu mực cho việc chọn lựa truyền giáo này, Đấng dẫn chúng ta vào trung tâm dân Người. Điều này thật tốt vì giúp chúng ta thấy được Người gần gũi với tất cả mọi người ! Khi Người nói với một người nào đó, Người nhìn họ với một sự chú ý đầy tình thương : “Đức Giêsu đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến” (Mc 10,21). Chúng ta thấy Người dễ tiếp cận, khi Người đến với người mù ngồi bên đường (x.Mc 10, 46-52), và khi Người ăn uống với những kẻ tội lỗi (x.Mc 2,16) không màn đến việc người ta trách Người là tham ăn khát uống (x. Mt 11,19). Chúng ta nhìn thấy Người thật sẵn sàng khi để cho cô điếm xức dầu vào chân Người (x.Lc 7,36-50) hay khi ban đêm Người đón ông Nicôđêmô (x. Ga 3,1-15). Hồng ân của Đức Giêsu trên thập giá không gì khác hơn là đỉnh điểm cách thức đã in dấu suốt cuộc đời của Người. Được mẫu mực này thu hút, chúng ta muốn hội nhập thật sâu xa vào xã hội, chia sẻ cuộc sống của tất cả mọi người, lắng nghe những lo lắng của họ, cộng tác về mặt vật chất cũng như tinh thần với họ trong những nhu cầu của họ, chúng ta vui với người vui, và khóc với người than khóc, dấn thân để xây dựng một thế giới mới, chung tay với kẻ khác. Dù vậy, chúng ta không làm những việc này như một điều bắt buộc, hay như một gánh nặng làm chúng ta đuối sức, nhưng như một sự chọn lựa cá nhân đổ tràn niềm vui trên chúng ta và đem lại cho chúng ta một căn tính.
  3. Đôi khi chúng ta cảm nhận cơn cám dỗ muốn thực sự là Kitô hữu, nhưng lại có một khoảng cách với những vết thương của Chúa. Dù vậy, Đức Giêsu muốn chúng ta hãy chạm vào nỗi khổ của con người, thân xác khổ đau của kẻ khác. Người mong chờ chúng ta đừng tìm những nơi trú ẩn cho bản thân hay cộng đoàn, để lánh xa trung tâm các thảm kịch của con người, mà chấp nhận liên hệ thực sự với cuộc sống cụ thể của những người khác, nhận ra sức mạnh của sự thân ái. Khi chúng ta thực hiện như thế, cuộc sống chúng ta luôn trở nên tốt đẹp hơn và chúng ta được kinh nghiệm sâu xa là một dân, kinh nghiệm thuộc về một dân.  
  4. Thực sự, trong mối liên hệ của chúng ta với thế giới, chúng ta được mời gọi xác tín vào hy vọng của chúng ta, nhưng không phải như kẻ thù chỉ tay năm ngón và kết án. Chúng ta đã ý thức điều này thật rõ ràng : “Chúng ta phải trả lời cách hiền hòa và với sự kính trọng” (1 Pr 3,16) và “Hãy làm tất cả những gì anh em có thể làm được, để sống hòa thuận với mọi người” (Rm 12,18). Chúng ta cũng được gọi để cố gắng thắng “cái ác bằng sự thiện” (Rm 12,21) để đừng sờn lòng “làm điều thiện”  (Gl 6,9) và không coi mình trên trước, nhưng hãy coi “kẻ khác  hơn mình” (Pl 2,3). Các Tông đồ của Chúa “được toàn dân thương mến”(Cv 2,47 ; x. 4,21.23 ; 5,13). Đương nhiên Đức Giêsu Kitô không muốn chúng ta trở thành các ông hoàng khó gần gũi, nhưng phải là người của dân chúng. Đây không phải là ý kiến của một Đức Giáo Hoàng cũng không phải là cách chọn lựa mục vụ giữa những cách thế khác ; đây chính là những hướng dẫn của Lời Chúa, rõ ràng, trực tiếp và không cần phải tranh luận vì chúng không cần những cách giải thích làm mất đi sức mạnh khuyên bảo. Chúng ta hãy sống Lời này “sine glossa – không cần chú giải”. Như thế, chúng ta cảm nghiệm được niềm vui truyền giáo để chia sẻ đời sống với dân trung thành với Thiên Chúa và đồng thời đốt lên ngọn lửa vào trái tim thế giới.
  5. Tình yêu đối với người khác là một sức mạnh tinh thần cho phép chúng ta gặp gỡ trọn vẹn với Thiên Chúa, về điểm này thì ai không yêu anh em mình sẽ “đi trong bóng tối” (1 Ga 2,11). “ở trong sự chết” ( 1 Ga 3,14) và “không biết Người” (1 Ga 4,8). Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI nói rằng “nhắm mắt lại trước người thân cận của mình là trở thành đui mù trước Thiên Chúa” [209] và tình yêu là nguồn của ánh sáng duy nhất luôn “chiếu soi một thế giới đang chìm trong bóng tối ; ánh sáng này ban cho chúng ta sự can đảm để sống và hoạt động”[210]. Như thế, khi chúng ta sống “sự thần bí” khi tiếp cận kẻ khác, để tìm điều thiện hảo cho họ, chúng ta khơi rộng hiện sinh của chúng ta để lãnh nhận những hồng ân tốt đẹp nhất của Chúa. Mỗi lần gặp gỡ một con người trong tình yêu, chúng ta có thể khám phá một điều gì mới mẽ của Chúa. Mỗi lần mắt chúng ta mở ra để nhận biết người thân cận, niềm tin của chúng ta sẽ chiếu sáng nhiều hơn nữa để nhận biết Thiên Chúa. Vì thế, nếu muốn đời sống tinh thần của mình trường thành, chúng ta không thể ngưng làm việc truyền giáo. Công tác truyền giáo gia tăng sự phong phú tinh thần và tâm hồn chúng ta, mở cho chúng ta những chân trời tinh thần, giúp chúng ta mau mắn nhận ra tác động của Thánh Thần, giúp  chúng ta bước ra khỏi những chương trình linh đạo hạn hẹp. Đồng thời, một nhà truyền giáo nhiệt thành, cảm nghiệm ngay trong công tác của mình niềm vui vì là nguồn tuôn trào và làm dịu mát mọi người khác. Nhà truyền giáo phải là người cảm nghiệm thật sự khi mình đi tìm điều thiện hảo và hạnh phúc cho kẻ khác. Việc rộng mở con tim là nguồn hạnh phúc, vì “cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35). Không ai sống tốt khi trốn chạy trước kẻ khác, khi ẩn nấp, khi từ chối chia sẻ và ban cho, khi ẩn mình vào trong an lành. Điều này không khác gì là một sự tự vận chầm chậm.
  6. Sứ vụ giữa lòng dân chúng không phải là một phần của đời tôi cũng không phải là một thứ trang sức mà tôi có thể quăng đi, cũng không phải là một thứ gì phụ thuộc cũng như một thời đoạn trong đời tôi. Nó là một điều gì mà tôi không thể rức ra khỏi đời sống của tôi được, nếu tôi không muốn tự hại mình. Tôi là một nhà truyền giáo trên trái đất này, và vì thế tôi đang hiện diện trong thế giới này. Tôi phải biết rằng tôi đã được đốt cháy do sứ vụ này để soi sáng, để chúc lành, để làm cho sống động, để nâng đỡ, để chữa lành, để giải thoát. Trong sứ vụ đó, xuất hiện người y tá trong linh hồn, giáo sư trong linh hồn, chính trị gia trong tâm hồn, những ai đã quyết định, thật sâu xa, hiện diện với kẻ khác và cho kẻ khác. Dù vậy, nếu một người bỏ qua bên này bổn phận và bên kia đời sống tư riêng, tất cả sẽ trở thành buồn thảm, và sẽ sống trong việc tìm kiếm không ngừng danh vọng hay bảo vệ cho những sự quan tâm của riêng mình. Họ sẽ không còn thuộc về dân.
  7. Để chia sẻ cuộc sống cho kẻ khác và hiến thân cách quảng đại, chúng ta còn nhận ra rằng mỗi con người thật xứng đáng cho việc dấn thân của chúng ta. Đó không phải vì thể lý bên ngoài, cũng không phải khả năng của họ, cũng không phải ngôn ngữ, cũng không phải tâm tính, cũng không phải vì những sự hy sinh mà họ đem đến cho chúng ta, nhưng chỉ vì họ là tạo vật của Thiên Chúa, là thụ tạo. Thiên Chúa sáng tạo họ giống hình ảnh Người, và họ phản ánh một chút gì vinh quang của Người. Mỗi con người là đối tượng thương yêu vô vàn của Chúa, Đấng ngự trong cuộc sống của họ. Đức Giêsu Kitô đã đổ máu quí báu trên thập giá cho chính con người này. Vượt qua tất cả những gì thuộc bề ngoài, mỗi con người thật vô vàn thánh thiện và xứng đáng để chúng ta yêu thương và dấn thân. Vì thế, nếu tôi thành công khi giúp đỡ chỉ một người thôi để sống tốt hơn, điều này cho thấy đó là ân sủng của Chúa ban cho đời tôi. Một dân trung thành với Thiên Chúa thì thật tốt đẹp biết bao. Chúng ta chỉ đạt được sự tròn đầy khi chúng ta phá đổ những bức tường, để tâm hồn chúng ta được tràn đầy những gương mặt và danh tánh của họ.     

Hành động mầu nhiệm của Đấng Phục sinh và của Chúa Thánh Thần 

  1. Trong chương hai, chúng ta đã suy nghĩ về việc thiếu linh đạo sâu xa, biểu lộ qua sự yếm thế, tin thuyết định mệnh, mất tin tưởng. Một số người không dấn thân cho sứ vụ, vì họ tin rằng không có gì có thể thay đổi và họ cho là vô ích để đổ sức lực vào đó. Họ nghĩ điều này : “Tại sao tôi phải bỏ sự thoải mái và thú vui của tôi, nếu tôi không thấy bất cứ kết quả nào quan trọng ?”. Với não trạng như thế, họ không thể nào trở thành nhà truyền giáo. Thái độ này rõ ràng là một lời chạy tội xấu xa để chạy trốn trong sự thuận lợi, lười biếng, buồn thảm vì không được thỏa mãn, một sự trống rỗng ích kỷ. Đó là một thái độ tự hũy, vì “con người không thể nào sống nếu không có hy vọng ; đời sống của họ sẽ rơi vào vô nghĩa và không thể chịu đưng nỗi” [211]. Nếu chúng ta nghĩ rằng mọi vật không thể nào thay đổi, hãy nhớ rằng Đức Giêsu Kitô đã chiến thắng tội lỗi và cái chết, và Người có tràn đầy quyền năng. Đức Giêsu Kitô vẫn đang sống. Nói cách khác, “nếu Đức Kitô đã không chỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng” (1 Cr 15,14). Tin Mừng thuật lại cho chúng ta rằng các môn đệ tiên khởi đi rao giảng, “có Chúa cùng hoạt động với các ông và xác nhận Lời” (Mc 16,20). Điều này cũng hiện thực trong những ngày của chúng ta. Người mời chúng ta nhận biết Người, sống với Người. Đức Kitô Phục sinh vinh quang là nguồn gốc sâu xa của hy vọng chúng ta, và sự trợ giúp của Người sẽ luôn theo chúng ta trong lúc chúng ta chu toàn sứ vụ Người gởi gấm.    
  1. Sự Phục sinh của Người không phải là sự kiện thuộc về quá khứ ; mầu nhiệm này có một sức sống đi vào thế giới. Nơi xem ra tất cả đã chết, mầm sống Phục sinh tái xuất hiện ở khắp nơi. Đó là một sức lực không có gì so sánh được. Hình như Thiên Chúa không hiện hữu : chúng ta chỉ đụng chạm đến bất công, bạo lực, dửng dưng và sự gian ác không giảm đi chút nào. Dù vậy, thực sự ngay trong bóng tối, luôn bắt đầu nảy sinh một điều gì mới, sớm hay muộn cũng sinh hoa trái. Trong một cánh đồng bằng phẳng bắt đầu xuất hiện sự sống, kiên vững và không gì vượt thắng nỗi. Việc tồn tại sự xấu không thể ngăn sự thiện phát triển và luôn lan tỏa khắp nơi. Mỗi ngày, trong thế giới, sự đẹp đẻ vẫn được tái sinh, sự đẹp đẻ này dù giông tố lịch sử có biến đổi nhưng vẫn tái sinh. Các giá trị vẫn luôn xuất hiện dưới nhiều mẫu mã mới, và thực sự con người tái sinh từ trong những hoàn cảnh dường như không thể đảo ngược. Đó là sức mạnh của mầu nhiệm Phục sinh và các nhà truyền giáo là một khí cụ của sức năng động này.

 

  1. Luôn luôn có những khó khăn xảy đến, kinh nghiện thất bại, những sự thấp hèn của con người tạo nhiều đau khổ. Qua kinh nghiệm, tất cả chúng ta đều biết, nhiều khi một trách nhiệm không đưa đến những thành công mà chúng ta khao khát, thành công hiếm hoi và các sự thay đổi thật chậm, và chúng ta cảm thấy mệt mõi. Dù vậy, vì quá mệt, có lúc chúng ta thả rơi cánh tay xuống, thì không có nghĩa là buông xuôi mãi mãi, vì  chúng ta bị một bất mãn nào đó ám ảnh, do lười biếng làm khô héo tâm hồn. Cũng có lúc tâm hồn thật mệt mõi trong chiến đấu, vì cuối cùng con người tự tìm kiếm chính mình qua khao khát được người khác biết đến, vổ tay, phần thưởng, chức vụ ; vào lúc đó, con người không những hạ cánh tay xuống, nhưng không còn gì khoắc khoải ; họ thiếu sự Phục sinh. Như thế, Tin Mừng là sứ điệp đẹp nhất hiện diện trong trần gian, bị chôn vùi trong không biết bao nhiêu lời bào chữa.
  2. Tin có nghĩa là tin vào Người, tin rằng Người đã thật sự yêu thương chúng ta, Người đang sống, Người có thể can thiệp cách mầu nhiệm, Người sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta, với sức lực và sức sáng tạo vô hạn, Người rút điều thiện từ điều xấu. Đó là tin rằng Người bước đi trong chiến thắng ngay trong lịch sử “với những kẻ thuộc về Người : những người được gọi, những người được tuyển chọn, những kẻ trung thành” (Kh 17,14). Chúng ta tin vào Tin Mừng; Tin Mừng dạy chúng ta rằng Nước Thiên Chúa đã hiện diện trong thế giới này, và đã phát triển đây đó, dưới nhiều cách thức : như một hạt giống nhỏ bé, sẽ lớn lên để có thể trở thành một cây to (x.Mt 13, 31-32), như một nắm men, làm dậy cả một khối bột (x. Mt 13,33) và như hạt giống tốt, lớn lên giữa đám cỏ lùng (x.Mt 13,24-30) và có thể làm cho chúng ta ngạc nhiên thật thú vị. Nước Trời đang hiện diện, sẽ đến cách mới mẽ, sẽ chiến đấu để trổ hoa. Sự Phục sinh của Đức Kitô gieo rắc khắp nơi các mầm giống cho thế giới mới này ; và nếu chúng bị cắt đi, sẽ nẩy mầm mới, vì sự Phục sinh của Chúa đã đi vào bi kịch ẩn kín trong lịch sử này, vì Đức Giêsu không sống lại một cách vô ích. Chúng ta đừng đứng bên lề con đường của hy vọng tràn đầy sức sống.
  3. Vì không luôn thấy các chồi non, nên chúng ta cần một xác tín nội tâm, xác tín đó công nhận Thiên Chúa có thể hoạt động trong tất cả mọi hoàn cảnh, ngay ở những nơi xem ra thất bại, vì “chúng tôi chứa đựng kho tàng ấy trong những bình sành” (2 Cr 4,7). Xác tín được gọi là “cảm thức về mầu nhiệm”. Đó là biết một cách chắc chắn rằng ai dấn thân và gắn bó với Thiên Chúa bằng tình yêu, sẽ đem lại hoa trái  (x. Ga 15,5). Sự sung mãn này thường không thể thấy được, không nắm bắt được, không đo đếm được. Con người chỉ biết đời sống mình sẽ sinh hoa trái, nhưng không biết như thế nào, không biết ở đâu cũng không biết khi nào. Họ chắc chắn rằng không có một hành động nào được thực hiện bằng tình yêu đối với Thiên Chúa, không một sự mệt nhọc quảng đại nào, cũng không một sự kiên nhẫn khổ đau nào … sẽ bị mất đi. Tất cả những điều này sẽ tràn ngập toàn thế giới, như một sức sống. Đôi khi, đối với chúng ta, những cố gắng của chúng ta xem ra không đem lại kết quả nào, dù vậy, sứ vụ không phải là một cuộc trao đổi cũng không phải là dự án thương mại, càng không phải là một tổ chức nhân đạo, không phải màn diễn kịch được thuật lại chuyện biết bao người dấn thân nhờ sự tuyên truyền của chúng ta  ; nó là một điều gì sâu xa hơn, vượt khỏi mọi sự tính toán của chúng ta. Có lẽ, Thiên Chúa sử dụng việc dấn thân của chúng ta để đổ tràn ân sủng của Người ở một phần đất nào, trong thế giới, trong một nơi mà chúng ta chưa bao giờ đến. Chúa Thánh Thần hoạt động như Người muốn, lúc nào và khi nào tùy ý Người. Chúng ta không có quyền đòi hỏi để nhìn thấy kết quả. Chúng ta chỉ biết rằng việc dấn thân của chúng ta là cần thiết. Hãy học hỏi để nghỉ ngơi trong bàn tay âu yếm của Chúa Cha, ngay giữa cuộc dấn thân đầy sáng tạo và quảng đại. Chúng ta hãy tiến lên, trao cho Người tất cả, nhưng hãy để cho Người làm cho những cố gắng của chúng ta được kết quả, theo ý Người.
  4. Để giữ cho lòng nhiệt thành truyền giáo luôn sống động, phải vững tin vào Chúa Thánh Thần, vì chính Người “đến trợ giúp những yếu đuối của chúng ta” (Rm 8,26). Sự tin tưởng phó thác này cần phải được nuôi dưỡng, vì thế phải luôn kêu cầu Người. Người có thể chữa lành những gì làm chúng ta mệt mõi trong sự dấn thân truyền giáo. Thật vậy, việc tin tưởng vào Đấng vô hình có thể làm chúng ta chóng mặt : tương tự như việc nhảy vào đại dương mà không biết sẽ đi về đâu. Chính tôi cũng đã có kinh nghiệm này nhiều lần rồi. Dù vậy, không có tự do nào lớn hơn khi để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn, khi từ bỏ mọi thứ tính toán và kiểm soát, và để Thánh Thần soi sáng, hướng dẫn, định hướng và dẫn chúng ta đến nơi Người muốn. Người biết rõ chúng ta cần gì ngay trong mỗi thời đại và trong giây phút này. Người ta gọi điều này là sự phong phú của huyền nhiệm.

Sức lực truyền giáo của việc cầu bầu

  1. Có một hình thức cầu nguyện khuyến khích chúng ta cách đặc biệt để dấn thân truyền giáo và động viên chúng ta đi tìm điều thiện hảo cho kẻ khác : đó là việc cầu bầu. Chúng ta hãy nhìn một chút vào nội tâm của vị truyền giáo vĩ đại như thánh Phaolô để hiểu lời cầu nguyện của ngài như thế nào. Lời cầu nguyện của ngài chứa đầy những con người : “Tôi luôn vui sướng mỗi khi cầu nguyện cho anh em hết thảy… bởi vì tôi mang anh em trong lòng tôi” (Pl 1,4.7). Chúng ta khám phá ra rằng lời chuyển cầu không tách chúng ta ra khỏi sự chiêm niệm đích thực, vì sự chiêm niệm được thực hiện mà không có người khác là một lời nói dối.  
  2. Thái độ này trở thành một lời cám ơn Thiên Chúa cho kẻ khác : “Trước hết, nhờ Đức Giêsu Kitô, tôi tạ ơn Thiên Chúa của tôi về tất cả anh em” (Rm 1,8). Đó là một lời tạ ơn liên lũy : “Tôi hằng cám tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em. Người đã ban cho anh em nơi Đức Kitô Giêsu” (1 Cr 1,4) ; “Tôi cảm tạ Thiên Chúa của tôi, mỗi lần nhớ đến anh em” (Pl 1,3). Đấy không phải là một cái nhìn vô tín, tiêu cực  và không có hy vọng, nhưng là cái nhìn tinh thần, tin tưởng sâu xa, nhận ra điều Thiên Chúa đã thực hiện nơi họ. Đồng thời, khi một nhà truyền giáo ra khỏi giây phút cầu nguyện, tâm hồn ngài thêm quảng đại hơn, ngài được giải thoát khỏi sự cô đơn và khao khát làm việc lành và chia sẻ đời sống cho kẻ khác.
  3. Những người nam nữ vĩ đại của Thiên Chúa cũng là những đấng cầu bầu nổi danh. Việc cầu bầu như “men” trong lòng Thiên Chúa Ba Ngôi. Bước vào Thiên Chúa Cha và khám phá chiều kích mới mẽ soi sáng những hoàn cảnh cụ thể và thay đổi chúng. Chúng ta có thể nói rằng việc cầu bầu đánh động tấm lòng Thiên Chúa, nhưng thực tế là, chính Người luôn đi trước chúng ta và vì chúng ta có khả năng đón nhận những gì qua việc cầu bầu của chúng ta, đó là cách biểu lộ quyền năng, sức mạnh, tình yêu và sự công chính của Người một cách rõ ràng nhất ngay giữa lòng dân của Người.  

2. Đức Maria, Mẹ của sứ vụ truyền giáo 

  1. Với Chúa Thánh Thần, luôn luôn có Đức Maria ở giữa dân chúng. Mẹ đã cùng với các môn đệ kêu cầu Người (x.Cv 1,14) và Mẹ đã làm cho việc truyền giáo bùng nổ ra trong ngày lễ Hiện Xuống. Đức Maria là Mẹ Giáo hội truyền giáo và không có Mẹ, chúng ta không thể nào hiểu được cách trọn vẹn tinh thần truyền giáo mới mẽ.

Hồng ân của Đức Giêsu ban cho Dân Người 

  1. Trên thập giá, khi Đức Kitô còn chịu đau khổ trong xác thân,  lúc đó diễn ra cuộc gặp gỡ bi thảm giữa tội lỗi của thế giới và lòng thương xót của Thiên Chúa; Người có thể nhìn dưới chân sự hiện diện thật an ủi của Mẹ và bạn của Người. Trong giây phút khổ đau, trước khi công bố chương trình Chúa Cha trao phó cho Người được hoàn tất, Đức Giêsu nói với Mẹ :  “Thưa Bà, đây là con Bà”. Đoạn, Người nói với bạn thân yêu : “Đây là mẹ của anh” (Ga 19, 26-27). Những lời của Đức Giêsu hấp hối không muốn nói lên sự quan tâm sâu sắc đối với Mẹ Người, nhưng là một công thức mạc khải, diễn tả mầu nhiệm sứ vụ cách đặc biệt. Đức Giêsu để lại Mẹ của Người như là Mẹ của chúng ta. Chỉ sau khi thực hiện điều này, Đức Giêsu mới có thể cảm thấy “mọi sự đã hoàn tất” (Ga 19,28). Dưới chân thập giá, trong giây phút vĩ đại của sáng tạo mới, Đức Kitô đã dẫn chúng ta đến với Đức Maria. Người dẫn chúng ta đến với Mẹ, vì Người không muốn chúng ta ra đi mà không có Mẹ. Và dân của Người đọc trong hình ảnh mẫu từ thân thương này tất cả mầu nhiệm của Tin Mừng. Thiên Chúa không vui thích khi hình ảnh của người phụ nữ này thiếu vắng trong Giáo hội. Mẹ đã sinh Giáo hội với tất cả niềm tin, cùng đồng hành với “những người còn lại trong dòng dõi bà, là những người tuân theo các điều răn của Thiên Chúa và giữ lời chứng của Đức Giêsu” (Kh 12,17). Sự liên hệ mật thiết giữa Đức Maria, Giáo hội và từng người Kitô hữu, mỗi vị, theo cách của mình sinh Đức Kitô; hình ảnh này được chân phước Isaac de l’Étoile diễn tả một cách tuyệt diệu :”Trong các Sách Thánh, được Thiên Chúa linh hứng, điều người ta hiểu cách đại cương về Giáo hội, trinh nữ và là mẹ, thì cũng hiểu một cách đặc biệt về Đức Trinh Nữ Maria… Người ta cũng có thể nói cách tương tự như thế rằng mỗi linh hồn trung tín là hiền thê của Lời Thiên Chúa, mẹ của Đức Kitô, con gái, chị em, trinh nữ và mẹ … Đức Kitô ngự chín tháng trong lòng Mẹ ; Người cũng ngự trong Nhà Tạm của đức tin Giáo hội cho đến cuối thời đại ; và trong sự nhận biết và tình yêu của tâm hồn trung tín, từ thế kỷ này sang thế kỷ khác” [212].
  2. Đức Maria là Đấng biến đổi  một hang súc vật thành nhà của Đức Giêsu, với những tấm tả nghèo nàn và biết bao âu yếm. Mẹ là nữ tỳ nhỏ bé của Chúa Cha, đã nhảy mừng trong niềm vui. Mẹ là người bạn luôn quan tâm để rượu không thiếu trong đời sống chúng ta. Mẹ là người có trái tim bị lưỡi gươm đâm thâu, Mẹ hiểu được tất cả những nỗi khổ. Mẹ là người mẹ của tất cả mọi người, Mẹ là dấu chỉ hy vọng cho dân đang đau khổ vì sinh nở cho đến khi công bình được sinh ra. Mẹ là vị truyền giáo thật gẫn gũi với chúng ta, để đồng hành với chúng ta trong cuộc sống, khai mở tâm hồn chúng ta cho niềm tin với sự âu yếm của một người mẹ. Như người mẹ đích thực, Mẹ đi với chúng ta, chiến đấu với chúng ta và luôn tuôn khai triển sự gần gũi của tình thương Thiên Chúa. Qua những lời kêu cầu đến Đức Mẹ, thường gắn liền với các linh địa, Mẹ chia sẻ lịch sử của từng dân tộc đã đón nhận Tin Mừng, và biến dân này thành một phần của căn tính Mẹ. Nhiều cha mẹ công giáo xin ban phép Rửa tội cho con cái trong một linh địa Thánh Mẫu, biểu lộ của họ nhờ vào hành động thân thương của Mẹ, Đấng sinh nhiều con cái mới mẽ cho Thiên Chúa, những người con này, với nhiều cố gắng, đi hành hương để nhìn thấy Mẹ và để Mẹ nhìn đến mình. Nơi đó, họ tìm được sức mạnh của Thiên Chúa, để gánh lấy những đau khổ và mệt nhọc của cuộc đời. Như đối với thánh Juan Diego, Đức Maria ban cho họ  sự an ủi của một người mẹ với tình âu yếm và thì thầm với họ : “Tâm hồn con đừng xao xuyến nữa… Ta không phải là Mẹ con sao ? Ta đang hiện diện với con đây !” [213]

Ngôi sao của việc tân Phúc Âm hóa 

  1. Chúng ta cầu xin Người Mẹ của Tin Mừng cầu bầu cho chúng ta để tất cả mọi cộng đoàn Giáo hội đón nhận lời mời này cho một giai đoạn mới trong việc Phúc Âm hóa. Mẹ là người phụ nữ của niềm tin, của sự sống và bước đi trong đức tin [214] và “cuộc lữ hành đức tin tuyệt vời của Mẹ luôn được Giáo hội chiêm ngắm” [215]. Mẹ tự để cho Thánh Thần hướng dẫn, trong cuộc lữ hành đức tin, hướng đến một định mệnh phục vụ và sinh con. Ngày nay chúng ta nhìn về Mẹ, để Mẹ giúp chúng ta loan báo cho mọi người sứ điệp cứu độ, và hy vọng rằng các người môn đệ mới sẽ trở thành những nhà truyền giáo nhiệt thành [216]. Trong cuộc lữ hành truyền giáo, có những giây phút khô khan, đen tối và mệt lã, như Mẹ đã sống trong những năm tháng tại Nazareth, khi Đức Giêsu lớn lên : “Đấy là lúc khởi đầu Phúc Am, nghĩa là Tin Mừng, là niềm vui hạnh phúc mới. Dù vậy chúng ta cũng thấy được trong khởi đầu này một khổ đau tâm hồn, tiếp nối là “đêm đen của đức tin” – nói theo cách diễn tả của thánh Gioan Thánh Giá – như một bức màn ngang qua đó mới tiếp cận  Đấng Vô Hình và sống mật thiết với mầu nhiệm. Thực vậy, với cách thức này, Đức Maria, trong nhiều năm, sống thật gần gũi với mầu nhiệm Con của Mẹ và tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin” [217].   
  2. Có một cách thức Thánh Mẫu trong hoạt động truyền giáo của Giáo hội. Vì, mỗi khi nhìn vào Đức Maria, chúng ta lại tin vào sức mạnh chuyển đổi của tình âu yếm và thân thương. Nơi Mẹ, chúng ta thấy được sự khiêm tốn và dịu dàng không phải là nhân đức của kẻ yếu đuối, nhưng là của kẻ mạnh, không cần phải hành hạ kẻ khác để cảm thấy mình quan trọng. Khi nhìn lên Mẹ, chúng ta khám phá ra rằng Mẹ ca ngợi Thiên Chúa vì “Người đã hạ người quyền hành xuống khỏi vị cao” và “để người giàu có trở về tay không” (Lc 1,52.53) và chính Mẹ đã ban cho chúng ta sự nồng ấm của tình mẫu tử trong cuộc tìm kiếm công bằng của chúng ta. Chính Mẹ, là Người “hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,19). Đức Maria biết nhận ra dấu vết của Thánh Thần Thiên Chúa trong những biến cố lớn lao, cũng như  trong những điều không thể nhận ra được. Mẹ chiêm ngắm mầu nhiệm Thiên Chúa giữa trần gian, trong lịch sử và trong đời sống hằng ngày của mỗi người chúng ta và của tất cả mọi người.  Mẹ là người phụ nữ cầu nguyện và siêng năng tại Nazareth, Mẹ của sự sẵn sàng, vội vã ra đi khỏi làng để giúp đỡ kẻ khác (x. Lc 1,39-45). Sự năng động của công chính và thân thương, của chiêm niệm và hướng đến kẻ khác, đó là điều làm cho Mẹ trở thành mẫu gương cho Giáo hội để Phúc Âm hóa. Chúng ta cầu xin Mẹ, nhờ lời cầu bầu của người mẹ, giúp Giáo hội trở thành ngôi nhà dành cho nhiều người, một người mẹ cho tất cả mọi dân tộc và có thể sinh ra một thế giới mới. Đấng Phục sinh đã nói với chúng ta, với sức lực đã được đổ tràn trong chúng ta một niềm tin tưởng vô biên, một hy vọng vững chắc : “Này đây Ta đổi mới mọi sự” (Kh 21,5). Với Đức Maria, chúng ta hãy tiến bước với niềm tin tưởng hướng đến lời hứa này và thưa cùng Người rằng : 

Lay Mẹ Maria !

Là Trinh nữ và Mẹ hiền

Nhờ tác động của Thánh Thần,

Mẹ đã đón nhận Lời sự sống

trong sâu thẳm niềm tin khiêm tốn của Mẹ, 

hoàn toàn phó thác cho Đấng Vĩnh Hằng,

Xin giúp chúng con nói tiếng “Xin vâng”

trong lúc khẩn cấp và nặng nề hơn bao giờ hết 

để làm vang dội Tin Mừng của Đức Giêsu. 

 

Mẹ được tràn đầy ân sủng nhờ sự hiện diện của Đức Kitô,

Mẹ đã mang niềm vui cho Gioan Tẩy Giả 

giúp cho ngài nhảy mừng trong dạ me.

Mẹ tràn đầy vui sướng, 

đã ca tụng những kỳ công của Chúa.

Mẹ vững vàng bên thập giá

 với một niềm tin không hề lay chuyển 

và đã lãnh nhận sự an ủi vui mừng của mầu nhiệm Phục sinh, 

Mẹ đã qui tụ các môn đệ chờ đón Thánh Thần 

để Giáo hội truyền giáo được xuất hiện.

 

Xin ban cho chúng con một lòng nhiệt thành của những người đã được phục sinh 

để đem Tin Mừng sự sống đến cho mọi người, 

Tin Mừng đã chiến thắng sự chết. 

Xin ban cho chúng con sự can đảm thánh thiện 

để tìm những con đường mới

 để có thể đem đến cho mọi người 

vẻ đẹp hồng ân không bao giờ tàn úa.  

 

Lạy Đức Maria, Trinh Nữ lắng nghe và chiêm niệm, 

Mẹ của tình yêu tốt đẹp, hiền thê của những tiệc cưới vĩnh cửu, 

cầu bầu cho Giáo hội, mà Mẹ luôn là ảnh hình trinh khiết nhất, 

hầu Giáo hội đừng tự khép kín và không bao giờ dừng lại 

trong khát vọng thiết lập Nước Trời.

 

Lạy Mẹ là ngôi sao của việc Tân Phúc Âm hóa, 

xin giúp chúng con tỏa sáng 

nhờ chứng cứ hiệp thông, phục vụ, niềm tin mãnh liệt và quảng đại, 

khao khát công bằng và tình yêu đối với kẻ nghèo 

để cho niềm vui của Tin Mừng có thể đi sâu vào các xung khắc của thế giới 

và không một ngoại vi nào thiếu vắng ánh sáng của Tin Mừng.

 

Lạy Mẹ của Tin Mừng sống động, 

nguồn vui cho kẻ thấp hèn, 

xin cầu cho chúng con, 

Amen. 

Alléluia !

Ban hành tại Rôma, gần đền thờ thánh Phêrô, vào dịp kết thúc Năm Đức Tin.

 Ngày 24.11.2013, Đại lễ Đức Giêsu Kitô, Vua vũ trụ, 

trong năm thứ nhất triều đại Giáo hoàng của tôi.