TÔNG HUẤN GIÁO HỘI Á CHÂU (ECCLESIA IN ASIA)

Bản dịch được HĐGM Việt Nam chuẩn y ngày 20/09/2001

CHƯƠNG MỘT: BỐI CẢNH Á CHÂU

Châu Á là nơi khai sinh của Đức Giêsu và cũng là nơi Chúa Giêsu lập Giáo Hội. Châu lục lớn nhất này chiếm hai phần ba dân số thế giới. Đây cũng là chiếc nôi của các tôn giáo lớn của thế giới và là nơi phát sinh nhiều truyền thống tâm linh khác.

Các dân tộc Châu Á đang sống trong một bối cảnh kinh tế xã hội và chính trị rất đa dạng, đồng thời phải đối mặt với biết bao vấn đề khó khăn phức tạp như sự chênh lệch giàu nghèo, vấn đề di cư, sự hình thành các đô thị khổng lồ – môi trường thuận lợi cho các tệ nạn và tội ác.

Giáo Hội đã kiên trì rao giảng Tin Mừng qua nhiều giai đoạn lịch sử, và ngày nay, tuy sống trong một môi trường phức tạp như vậy, nhưng Giáo Hội tin tưởng vào tâm tình đạo đức truyền thống của các dân tộc này, những người luôn biết tôn trọng và khao khát các giá trị tâm linh, lúc nào cũng đang trên đường đi tìm Đấng Tuyệt Đối. Giáo Hội nhìn thấy Thiên Chúa đang mở ra những chân trời mới của một nhân loại đang sẵn sàng đón nhận Tin Mừng.

Châu Á, nơi sinh ra của Đức Giêsu và Giáo Hội

  1. Cuộc Nhập Thể của Con Thiên Chúa, một biến cố sẽ được toàn thể Giáo Hội long trọng kỷ niệm vào Năm Đại Toàn Xá 2000, đã diễn ra trong một bối cảnh lịch sử và địa lý nhất định. Bối cảnh ấy cũng có một tầm ảnh hưởng quan trọng trên cuộc đời và sứ mạng của Đấng Cứu Thế trong thân phận làm người. «Nơi Đức Giêsu người Nazareth, Thiên Chúa đã nhận lấy những yếu tố đặc thù của bản tính nhân loại, kể cả việc thuộc về một dân tộc nhất định và một xứ sở nhất định. Nét đặc thù vật lý của xứ sở và những yếu tố địa lý của miền đất ấy là điều không thể tách rời được với sự thật là Ngôi Lời đã nhận lấy thân xác con người»(). Bởi đó, biết được cái thế giới trong đó Đấng Cứu Thế «cư ngụ giữa chúng ta» (Ga 1,14) là chìa khoá quan trọng giúp ta hiểu biết chính xác hơn ý định của Chúa Cha hằng hữu, cũng như tình thương vô biên của Ngài đối với mỗi thụ tạo: «Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời» (Ga 3,16).

5§2 Cũng vậy, Giáo Hội sống và hoàn thành sứ mạng của mình trong những hoàn cảnh cụ thể của không gian và thời gian. Nếu Dân Chúa trên lục địa Á Châu muốn hưởng ứng những gì Chúa muốn họ làm trong công cuộc tân phúc âm hóa, thì điều thiết yếu là họ phải biết nhận thức một cách sâu sắc những thực tại đa dạng và phức tạp của lục địa này. Các Nghị Phụ nhấn mạnh: việc thi hành sứ mạng yêu thương và phục vụ của Giáo Hội tại Châu Á bị chi phối bởi hai nhân tố: một là phải nhận thức mình là cộng đoàn các môn đệ của Đức Giêsu Kitô quy tụ chung quanh các mục tử của mình, hai là cũng phải hiểu biết các thực tế xã hội, chính trị, tôn giáo, văn hóa và kinh tế của Châu Á (). Trong quá trình Hội Nghị, tình hình Á Châu đã được đưa ra xem xét kỹ lưỡng bởi những người có dịp tiếp xúc mỗi ngày với các thực tế cực kỳ khác nhau của đại lục mênh mông này. Sau đây là kết quả suy tư của các Nghị Phụ, được trình bày một cách tổng hợp.

Các thực tế tôn giáo và văn hóa

  1. Châu Á là lục địa rộng nhất thế giới và là quê hương của gần hai phần ba dân số thế giới, trong đó Trung Quốc và Ấn Độ chiếm gần nửa dân số địa cầu. Nét nổi bật nhất của lục địa này là sự đa dạng của các dân tộc, những người «thừa hưởng những nền văn hóa, tôn giáo và truyền thống cổ xưa»(). Chúng ta không khỏi sững sờ trước con số khổng lồ của dân cư Á Châu và trước bức tranh ghép phức tạp của biết bao nền văn hóa, ngôn ngữ, tín ngưỡng và truyền thống, làm nên phần cơ bản của lịch sử và di sản của gia đình nhân loại.

6§2 Châu Á cũng là chiếc nôi của các tôn giáo lớn trên thế giới, như Do Thái Giáo, Kitô Giáo, Hồi Giáo và Ấn Độ Giáo. Đó là nơi khai sinh của nhiều truyền thống tâm linh khác như Đạo Phật, Đạo Lão, Đạo Khổng, Đạo Bái Hoả (Zoroastrianism), đạo Giaina (Jainism), đạo Sikh và Thần Đạo (Shintoism). Chưa kể hàng triệu người theo các tôn giáo truyền thống hay bộ tộc, có nghi thức quy củ và giáo lý chính thức ở những mức độ khác nhau. Giáo Hội hết sức kính trọng các truyền thống này và luôn tìm cách đối thoại chân thành với các tín đồ của các tôn giáo và các truyền thống ấy. Các giá trị tôn giáo mà các đạo ấy giảng dạy đang chờ được kiện toàn trong Đức Giêsu Kitô.

6§3 Người dân Á Châu rất tự hào về các giá trị tôn giáo và văn hóa của mình, như yêu mến sự thinh lặng và chiêm niệm, sống giản dị, hòa hợp, từ bỏ, bất bạo động, làm việc chăm chỉ, có kỷ luật, sống thanh đạm, ham học hỏi và truy tầm triết lý (). Người Á Châu rất yêu chuộng các giá trị như: tôn trọng sự sống, từ bi với mọi loài, gần gũi thiên nhiên, hiếu thảo với cha mẹ, tôn kính người cao tuổi và tổ tiên, ý thức sâu sắc về cộng đoàn (). Cách riêng, họ coi gia đình là nguồn sức mạnh đem lại sự sống, là một cộng đoàn liên kết chặt chẽ và có ý thức liên đới cao (). Các dân Á Châu thường được tiếng là có tinh thần bao dung tôn giáo và sống chung hòa bình. Trong bối cảnh đa tôn giáo và đa văn hóa, tuy không phủ nhận đã xảy ra những căng thẳng và xung đột gay gắt, nhưng vẫn nói được rằng Châu Á luôn chứng tỏ có khả năng đặc biệt thích nghi và cởi mở một cách tự nhiên để làm cho các dân tộc giúp nhau thêm phong phú. Ngoài ra, dù chịu ảnh hưởng của trào lưu hiện đại hóa (modernization) và tục hóa, các tôn giáo Á Châu vẫn chứng tỏ mình có nhiều sinh lực và khả năng canh tân, như có thể thấy qua các phong trào cải cách ngay trong các tập thể tôn giáo khác nhau. Nhiều người, nhất là người trẻ, rất khao khát các giá trị tâm linh, sự xuất hiện các phong trào tôn giáo mới gần đây là một bằng chứng rõ ràng.

6§4 Tất cả những dẫn chứng trên cho thấy trong cái hồn Á Châu có một thiên hướng tâm linh bẩm sinh và sự khôn ngoan đạo đức. Đây chính là cốt tủy làm trung tâm cho cảm thức về «bản sắc Á Châu» ngày càng phát triển hơn. «Bản sắc Á Châu» này sẽ được khám phá và khẳng định rõ nhất không phải bằng cách đối đầu và phản kháng, nhưng bằng cách bổ sung và phối hợp hài hòa với nhau. Trong khung cảnh bổ sung và phối hợp hài hòa ấy, Giáo Hội có thể truyền bá Tin Mừng một cách vừa trung thành với truyền thống của mình vừa phù hợp với cái hồn Á Châu.

Các thực tế kinh tế và xã hội

  1. Về phương diện phát triển kinh tế, ta phải nhìn nhận tình hình trên lục địa Á Châu quả là có rất nhiều khác biệt nên khó mà phân loại cách đơn giản. Một số quốc gia đã phát triển cao, một số quốc gia khác đang phát triển thông qua các chính sách kinh tế hữu hiệu và một số khác nữa đang sống trong cảnh bần cùng, được xếp vào số các nước nghèo nhất trên địa cầu. Trong quá trình phát triển ấy, chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa tục hóa đang lấn lướt, nhất là tại các khu vực đô thị. Những ý thức hệ này đang làm xói mòn các giá trị truyền thống, xã hội và tôn giáo, đe doạ các nền văn hóa Á Châu, gây thiệt hại tới mức không lường được.

7§2 Các Nghị Phụ đã nói tới những thay đổi nhanh chóng đang diễn ra ngay trong chính các xã hội Á Châu, cùng với những khía cạnh tích cực và tiêu cực của những thay đổi này. Trong số đó, phải kể đến hiện tượng đô thị hóa và sự xuất hiện các đô thị khổng lồ. Các đô thị này thường có nhiều khu vực rộng lớn rơi vào tình trạng suy thoái, trở thành nơi phát sinh các tổ chức tội ác, khủng bố, mãi dâm và nạn bóc lột các thành phần yếu kém trong xã hội. Di cư cũng là một hiện tượng xã hội quan trọng, đặt hằng triệu người vào những tình cảnh rất khó khăn về kinh tế, văn hóa và đạo đức. Người ta di cư trong phạm vi Châu Á hay từ Châu Á sang các châu lục khác vì nhiều lý do, trong đó có lý do nghèo khổ, chiến tranh và xung đột sắc tộc, sự phủ nhận các quyền con người và những quyền tự do căn bản. Việc thành lập các tổ hợp công nghệ khổng lồ cũng là một nguyên nhân nữa đưa tới sự di cư trong phạm vi Châu Á hay ngoài Châu Á, kéo theo những hậu quả tai hại cho đời sống và các giá trị gia đình. Các Nghị Phụ cũng nhắc tới việc có nhiều nhà máy năng lượng hạt nhân được xây dựng mà chỉ chú ý tới giá thành và hiệu năng nhưng ít quan tâm tới sự an toàn cho con người và sự bảo tồn môi trường.

7§3 Du lịch cũng là một điều khiến ta phải chú ý đặc biệt. Dù đó là một ngành công nghiệp hợp pháp mang những giá trị văn hóa và giáo dục riêng, nhưng trong một số trường hợp nó ảnh hưởng tai hại đến nền đạo đức và phong cảnh thiên nhiên của nhiều quốc gia Á Châu, biểu hiện qua sự chà đạp nhân phẩm nhiều thiếu nữ và trẻ em do dịch vụ mãi dâm (). Việc chăm sóc mục vụ cho người di cư cũng như cho người du lịch trở nên khó khăn và phức tạp, đặc biệt tại Châu Á, vì tại đây chưa có những cơ cấu hạ tầng cho việc này. Khi lập chương trình mục vụ ở mọi cấp, chúng ta cần cứu xét tới các thực tế trên đây. Trong bối cảnh này, chúng ta không được phép quên những người di cư từ các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương, đang cần sự chăm sóc mục vụ phù hợp với các truyền thống Giáo Hội của họ ().

7§4 Nhiều quốc gia Á Châu đang phải đối mặt với những khó khăn có liên quan với việc gia tăng dân số; đây «không chỉ là vấn đề dân số hay kinh tế, nhưng đặc biệt còn là một vấn đề luân lý» (). Rõ ràng vấn đề dân số có liên hệ mật thiết với vấn đề thăng tiến con người, nhưng những giải pháp sai lạc đe doạ tới phẩm giá và tính bất khả xâm phạm của sự sống ngày càng xuất hiện nhiều, tạo ra một thách đố đặc biệt cho Giáo Hội tại Châu Á. Ở đây có lẽ ta nên nhắc lại sự đóng góp của Giáo Hội vào việc bảo vệ và thăng tiến sự sống thông qua các tổ chức chăm sóc sức khoẻ, phát triển xã hội và giáo dục, làm lợi cho các dân tộc, nhất là những người nghèo. Thật là xứng hợp việc Hội Nghị đặc biệt này đã tuyên dương Mẹ Têrêsa Calcutta quá cố, «người nổi tiếng trên khắp thế giới vì đã chăm sóc những người nghèo nhất với lòng yêu thương và vị tha» (). Mẹ vẫn tiếp tục là biểu tượng cao cả của việc phục vụ sự sống mà Giáo Hội đang cống hiến tại Châu Á, can đảm đi ngược lại với nhiều sức mạnh đen tối đang hoạt động trong xã hội.

7§5 Một số Nghị Phụ nhấn mạnh tới những ảnh hưởng từ bên ngoài đang đè nặng trên văn hóa Á Châu. Nhiều hình thức ứng xử mới xuất hiện như một hậu quả của việc quá lệ thuộc các phương tiện truyền thông đại chúng, các loại sách báo, âm nhạc và phim ảnh đang tràn ngập lục địa. Tuy không phủ nhận các phương tiện thông tin xã hội có thể là một lực lượng đáng kể phục vụ cho điều hay cái đẹp (), nhưng chúng ta không thể bỏ qua tác động tiêu cực mà các phương tiện ấy thường gây ra. Nhiều khi những hiệu quả có ích của các phương tiện ấy có thể bị lấn át, bởi có những người kiểm soát và sử dụng các phương thế ấy theo những lợi ích chính trị, kinh tế và ý thức hệ đáng ngờ. Kết quả là những mặt tiêu cực của kỹ nghệ truyền thông và giải trí ấy đã làm cho các giá trị truyền thống bị đe doạ, đặc biệt là tính linh thiêng của hôn nhân và sự ổn định của gia đình. Các hình ảnh bạo lực, khoái lạc chủ nghĩa, cá nhân chủ nghĩa thái quá và duy vật chủ nghĩa «đang đánh vào trung tâm của các nền văn hóa Á Châu, vào tính tôn giáo của người dân, vào cả gia đình và xã hội» (). Đây là một tình huống đang đặt ra một thách thức lớn cho Giáo Hội và cho việc loan báo sứ điệp của Giáo Hội.

7§6 Tình trạng nghèo đói triền miên và nạn bóc lột con người đang là những vấn đề đáng quan ngại nhất. Tại Châu Á có hằng triệu người bị áp bức từ bao thế kỷ nay cứ phải đứng bên lề xã hội về mặt kinh tế, văn hóa và chính trị (). Khi nghĩ tới tình cảnh của các phụ nữ thuộc các xã hội Á Châu, các Nghị Phụ ghi nhận rằng «dù sự ý thức của các phụ nữ về phẩm giá và quyền lợi của mình là một trong những dấu chỉ có ý nghĩa nhất của thời đại, nhưng họ vẫn phải sống nghèo nàn và bị bóc lột, đó vẫn là một vấn đề nghiêm trọng trên khắp châu lục này» (). Tỷ lệ phụ nữ mù chữ cao hơn nhiều so với nam giới; các thai nhi thuộc phái nữ có nguy cơ bị giết hại nhiều hơn, ngay cả sau khi được sinh ra. Cũng còn hằng triệu người bản địa hay các bộ tộc trên khắp Châu Á phải sống cô lập về xã hội, văn hóa và chính trị đối với tập thể dân cư đang chiếm đa số (). Thật là khích lệ khi được nghe các giám mục tại Thượng Hội Đồng cho biết rằng các vấn đề trên đây đang nhận được nhiều sự chú ý hơn ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế, Giáo Hội cũng đang tích cực tìm cách quan tâm tới tình hình nghiêm trọng ấy.

7§7 Các Nghị Phụ đã lưu ý rằng những suy nghĩ vắn tắt trên đây về các thực tại kinh tế và xã hội của Châu Á sẽ chưa đầy đủ, nếu người ta quên không nhận ra sự tăng trưởng kinh tế rất đáng kể của một số xã hội Á Châu trong những thập niên gần đây: một thế hệ mới gồm các người thợ lành nghề, các nhà khoa học và kỹ thuật, đang gia tăng mỗi ngày và con số đông đảo các thành phần ấy chính là điềm tốt báo hiệu sự phát triển của Châu Á. Tuy nhiên, trong sự tiến bộ ấy không phải mọi sự đều ổn định và vững chắc, như cuộc khủng hoảng tài chính có ảnh hưởng lan rộng mới đây mà nhiều nước Á Châu phải chịu đã chứng minh. Tương lai Châu Á tùy thuộc vào sự cộng tác trong nội bộ Châu Á và với các quốc gia thuộc các châu lục khác, nhưng luôn luôn phải dựa vào chính những gì người Á Châu tự làm để đạt tới mục tiêu là phát triển.

Các thực tế chính trị

  1. Giáo Hội luôn luôn cần phải có một sự hiểu biết đúng đắn về tình hình chính trị ở các quốc gia mà mình đang nỗ lực hoàn thành sứ mạng. Tại Châu Á ngày nay tình hình chính trị rất phức tạp, với đủ mọi ý thức hệ từ những hình thức chính phủ dân chủ đến những hình thức cai trị thần quyền. Các chế độ độc tài quân sự và các ý thức hệ vô thần hiện diện rất nhiều. Một số nước còn công nhận một tôn giáo chính thức cho quốc gia mình, trong khi các cộng đồng thiểu số và các tín đồ thuộc các tôn giáo khác thì chỉ được dành cho rất ít hay không có chút tự do tôn giáo nào. Một số quốc gia khác, tuy không công khai theo chế độ thần quyền, cũng đẩy các cộng đồng thiểu số xuống hàng công dân hạng hai, rất ít được bảo vệ trong các quyền căn bản của con người. Tại một số nơi các Kitô hữu không được phép thực hành đức tin một cách tự do và không được phép loan báo Đức Giêsu Kitô cho người khác (). Họ bị bách hại và bị từ chối không cho được một chỗ đứng xứng hợp trong xã hội. Các Nghị Phụ đặc biệt nhớ tới dân tộc Trung Quốc và tỏ ý hy vọng mãnh liệt rằng một ngày nào đó tất cả các anh chị em Công Giáo tại Trung Quốc sẽ được phép thực hành tôn giáo của mình một cách tự do và tuyên xưng công khai sự hiệp thông trọn vẹn của mình với Tòa Thánh Phêrô ().

8§2 Trong khi đánh giá cao sự tiến bộ mà nhiều quốc gia Á Châu đã đạt được dưới những hình thức cai trị khác nhau, các Nghị Phụ cũng lưu ý chúng ta về tình trạng tham nhũng phổ biến có mặt ở các cấp chính quyền và xã hội (). Quá nhiều khi dân chúng cảm thấy bất lực không thể tự bảo vệ mình trước những nhà chính trị, những viên chức tòa án, các nhà hành chánh và các quan chức tham ô. Tuy nhiên, khắp nơi tại Châu Á, càng ngày người ta càng ý thức hơn rằng mình có khả năng thay đổi những cơ chế bất công ấy. Càng ngày càng có nhiều người đòi hỏi một sự công bằng xã hội lớn hơn, đòi hỏi được tham gia nhiều hơn vào chính phủ và đời sống kinh tế, được có cơ hội đồng đều trong giáo dục và được phân chia công bằng các nguồn lợi quốc gia. Càng ngày người ta càng ý thức về nhân phẩm và nhân quyền hơn, cương quyết bảo vệ chúng nhiều hơn. Những tập thể thiểu số về chủng tộc, văn hóa, và xã hội lâu nay im hơi lặng tiếng, nay đang tìm cách chủ động trong việc thăng tiến xã hội của mình. Thánh Thần Thiên Chúa luôn giúp đỡ và hỗ trợ các nỗ lực của dân chúng muốn thay đổi xã hội nhằm thoả mãn khát vọng của con người là được sống dồi dào hơn như Thiên Chúa hằng mong muốn (x. Ga 10,10).

Giáo Hội tại Châu Á: trong quá khứ và trong hiện tại

  1. Lịch sử của Giáo Hội tại Châu Á đã có từ lâu đời như chính Giáo Hội vậy, vì chính tại Châu Á Đức Giêsu đã thổi Thánh Thần xuống trên các môn đệ và sai họ ra đi tới tận cùng trái đất để loan báo Tin Mừng và quy tụ các cộng đoàn tín hữu. «Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con» (Ga 20,21; x Mt 28,28-20; Mc 16,15-18; Lc 24,47; Cv 1,8). Theo lệnh của Chúa, các Tông Đồ đã rao giảng lời Chúa và thành lập các Giáo Hội. Ôn lại đôi điều trong lịch sử vừa phức tạp vừa hấp dẫn này có thể giúp ích cho chúng ta.

9§2 Từ Giêrusalem, Giáo Hội đã phát triển sang Antiôkia, Rôma và xa hơn nữa, tới tận Êthiôpia ở miền Nam, Scythia ở miền Bắc và Ấn Độ ở miền Đông; tại đây truyền thống cho rằng chính thánh Tôma tông đồ đã có mặt năm 52 sau Công Nguyên và đã thành lập các Giáo Hội ở miền Nam Ấn Độ. Vào các thế kỷ thứ ba và thứ bốn, tinh thần truyền giáo của cộng đoàn Syria miền Đông với Edessa làm trung tâm, rất đáng được chú ý. Các cộng đoàn khổ tu ở Syria đã là một lực lượng truyền giáo đáng kể tại Châu Á từ thế kỷ thứ ba trở đi. Họ đem đến cho Giáo Hội nguồn sinh lực thiêng liêng, nhất là trong những thời kỳ bị bách hại. Vào cuối thế kỷ thứ ba, Armenia trở thành nước đầu tiên toàn dân đón nhận Kitô Giáo, và nay đang chuẩn bị mừng 1700 năm lãnh nhận phép rửa. Vào cuối thế kỷ thứ năm, sứ điệp Kitô Giáo đã lan tới các vương quốc Ả Rập, nhưng vì nhiều lý do, kể cả sự chia rẽ giữa các Kitô hữu, sứ điệp đã không đâm rễ được nơi các dân tộc này.

9§3 Các thương gia Ba Tư đã mang Tin Mừng đến Trung Quốc vào thế kỷ thứ năm. Giáo Hội Kitô Giáo đầu tiên được xây dựng tại đó vào đầu thế kỷ thứ bảy. Vào đời Đường (618 – 907 sau CN), Giáo Hội đã phát triển được gần hai thế kỷ. Sự sa sút của Giáo Hội vốn đã sinh động tại Trung Quốc vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất là một trong những trang sử đáng buồn của Dân Chúa trên lục địa này.

9§4 Vào thế kỷ 13, Tin Mừng được loan báo cho những người Mông Cổ, người Thổ Nhĩ Kỳ và một lần nữa cho người Trung Quốc. Nhưng Kitô Giáo rất mau biến mất tại các vùng này vì nhiều lý do, trong số đó phải kể tới sự xuất hiện của Hồi Giáo, sự cô lập về địa lý, thiếu thích nghi với các nền văn hóa địa phương, và có lẽ trên hết là do thiếu chuẩn bị để gặp gỡ các tôn giáo lớn tại Châu Á. Vào cuối thế kỷ 14, Giáo Hội tại Châu Á giảm sút cách thảm hại, ngoại trừ cộng đoàn Nam Ấn Độ vì sống cô lập. Giáo Hội tại Châu Á phải chờ đợi một kỷ nguyên mới của nỗ lực truyền giáo.

9§5 Những nỗ lực tông đồ của thánh Phanxicô Xaviê, việc Đức Giáo Hoàng Gregoriô XV thành lập Bộ Truyền Bá Đức Tin, và những chỉ thị yêu cầu các nhà truyền giáo phải tôn trọng và đánh giá cao các nền văn hóa địa phương, tất cả những điều này đã góp phần tạo ra những kết quả tích cực hơn vào thế kỷ 16 và 17. Rồi sang thế kỷ 19 hoạt động truyền giáo một lần nữa lại được hồi sinh. Nhiều dòng tu dốc hết tâm lực cho công tác này. Bộ Truyền Bá Đức Tin được tổ chức lại. Người ta bắt đầu nhấn mạnh nhiều hơn tới việc xây dựng các Giáo Hội địa phương. Song song với việc rao giảng Tin Mừng, nhiều công tác từ thiện và giáo dục được tổ chức. Nhờ đó, Tin Mừng tiếp tục đến với nhiều người hơn, cách riêng là những người nghèo và những người bị thiệt thòi trong xã hội, nhưng ở một vài nơi Tin Mừng cũng đến với cả những người thuộc thành phần ưu tú về mặt xã hội và trí thức. Đã có những nỗ lực mới giúp đưa Tin Mừng hội nhập văn hóa, những nỗ lực như thế vẫn chưa đủ. Mặc dù đã hiện diện nhiều thế kỷ và đã có rất nhiều nỗ lực tông đồ, nhưng ở nhiều nơi Giáo Hội vẫn bị coi là xa lạ đối với người Á Châu, thực tế mà nói, trong tâm trí nhiều người, Giáo Hội còn bị coi là đã liên kết với các chính quyền thực dân.

9§6 Tình hình của Giáo Hội Á Châu trước Công Đồng Vaticanô II là như thế. Tuy nhiên, nhờ sức thúc đẩy của Công Đồng, người ta đã bắt đầu có một cách hiểu mới về việc truyền giáo và kèm theo đó, là một niềm hy vọng lớn lao. Tính phổ quát của chương trình cứu độ, bản chất truyền giáo của Giáo Hội và trách nhiệm của mọi người trong Giáo Hội đối với nhiệm vụ này, đã được tái khẳng định cách mạnh mẽ trong sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo Hội “Đến với lương dân” (Ad Gentes), nay trở thành cái khung cho một cuộc dấn thân mới. Trong Hội Nghị đặc biệt vừa qua, các Nghị Phụ đã xác nhận gần đây có sự tăng trưởng của cộng đoàn Giáo Hội nơi các dân tộc thuộc nhiều khu vực khác nhau trên châu lục này. Các ngài cũng kêu gọi nỗ lực truyền giáo nhiều hơn nữa trong những năm sắp tới, nhất là khi chứng kiến những khả năng mới trong việc loan báo Tin Mừng tại vùng Siberia và các nước thuộc vùng Trung Á vừa giành được độc lập như Kazakhstan, Uzbekistan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Turkmenistan.

9§7 Nhìn một cách bao quát các cộng đoàn Công Giáo tại Châu Á, thật là đa dạng và huy hoàng do những nguồn gốc và quá trình phát triển lịch sử khác nhau, và do đã thừa hưởng nhiều truyền thống thiêng liêng và phụng vụ của các Nghi Lễ khác nhau. Tuy nhiên, tất cả các cộng đoàn ấy đều hợp nhất với nhau trong việc loan báo Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô, qua đời sống chứng nhân Kitô giáo, qua các công tác từ thiện và tình liên đới nhân loại. Trong khi một số Giáo Hội địa phương được thi hành sứ mạng một cách bình an và tự do, thì cũng có những Giáo Hội khác phải sống trong những tình huống bạo lực và xung đột hoặc bị các tập thể khác đe doạ vì lý do tôn giáo hay vì những lý do khác. Trong một thế giới văn hóa đa dạng của Châu Á này, Giáo Hội phải đối mặt với rất nhiều thách thức về triết học, thần học và mục vụ. Nhiệm vụ của các Giáo Hội trở nên khó khăn hơn do chỉ là thiểu số, ngoại trừ Philíppin nơi người Công Giáo chiếm đa số.

9§8 Nhưng bất kể trong hoàn cảnh nào, Giáo Hội tại Châu Á cũng thấy mình đang sống giữa những con người tỏ ra rất khát khao Thiên Chúa. Giáo Hội biết rằng khát vọng ấy chỉ có thể được thoả mãn hoàn toàn bởi Đức Giêsu Kitô, Tin Mừng của Thiên Chúa cho hết mọi dân tộc. Các Nghị Phụ đã tha thiết mong rằng Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng này sẽ tập trung chú ý tới khát vọng ấy, đồng thời sẽ cổ võ để Giáo Hội tại Châu Á mạnh mẽ công bố bằng lời nói cũng như bằng việc làm rằng Đức Giêsu Kitô chính là Vị Cứu Tinh.

9§9 Thánh Thần Thiên Chúa đã luôn hoạt động trong lịch sử Giáo Hội Á Châu, hẳn cũng sẽ tiếp tục hướng dẫn Giáo Hội ấy. Nhiều yếu tố tích cực gặp thấy nơi các Giáo Hội địa phương, mà các Nghị Phụ thường lưu ý trong Hội Nghị, càng làm chúng ta thêm hy vọng vào «một mùa xuân mới của đời sống Kitô hữu» . Một lý do vững chắc cho phép ta hy vọng như thế là càng ngày càng có nhiều giáo dân được huấn luyện tốt hơn, nhiệt tình và đầy ơn Thánh Thần, nhận thức sâu sắc hơn ơn gọi riêng của mình trong cộng đoàn Giáo Hội. Trong số đó các giáo dân giảng viên giáo lý là những người rất đáng cho chúng ta chân nhận và ca ngợi một cách đặc biệt. Các phong trào tông đồ và đặc sủng cũng là một ơn huệ do Chúa Thánh Thần ban cho, đem lại sức sống mới và nghị lực cho công việc đào tạo các giáo dân nam nữ, các gia đình và giới trẻ. Các hiệp hội và các phong trào của Giáo Hội nhằm thăng tiến nhân phẩm và công lý đã giúp làm cho mọi người có thể cảm nhận được tính phổ quát của sứ điệp Tin Mừng là ơn được nhận làm con cái Thiên Chúa (x. Rm 8,15-16).

9§a Trong khi đó, vẫn có những Giáo Hội đang sống trong những hoàn cảnh rất khó khăn, «đang trải qua những thử thách nặng nề trong việc thực hành đức tin». Các Nghị Phụ rất xúc động khi nghe tường thuật về những chứng tá anh hùng, sự bền chí không gì lay chuyển được và sự tăng trưởng đều đặn của Giáo Hội Công Giáo tại Trung Quốc, hay khi nghe thuật lại những nỗ lực của Giáo Hội Nam Hàn trong việc cứu trợ đồng bào Bắc Hàn, cũng như sự kiên định cách khiêm tốn của cộng đoàn Công Giáo tại Việt Nam, tình trạng cô lập của các Kitô hữu tại những nơi như Lào và Myanmar, sự sống chung khó khăn tại một số nước có đa số theo Hồi Giáo. Thượng Hội Đồng quan tâm đặc biệt tới tình hình của Giáo Hội tại Đất Thánh và tại Thành Thánh Giêrusalem, «trái tim của Kitô Giáo», một thành phố thân yêu đối với tất cả con cháu Abraham. Các Nghị Phụ bày tỏ sự tin tưởng rằng hòa bình của khu vực, thậm chí của cả thế giới, tùy thuộc phần lớn vào hòa bình và hòa giải lâu nay vẫn chưa thấy ló dạng ở Giêrusalem.

9§b Tôi không thể kết thúc phần lược qua tình hình Giáo Hội Á Châu này, dù vẫn biết còn chưa đầy đủ, mà không nhắc tới các thánh và các vị tử đạo của Châu Á, những vị đã được công nhận cũng như những vị mà chỉ có Thiên Chúa biết; tấm gương của các vị ấy chính là nguồn đem lại «sự phong phú thiêng liêng và là phương thế rất tốt để phúc âm hóa». Những tấm gương ấy, tuy lặng lẽ, nhưng nói lên được rất nhiều về tầm quan trọng của đời sống thánh thiện cũng như tinh thần sẵn sàng hiến dâng mạng sống mình cho Tin Mừng. Các vị ấy chính là thầy dạy và là người che chở, là vinh dự của Giáo Hội Á Châu trong công cuộc phúc âm hóa. Cùng với toàn thể Giáo Hội, tôi cầu xin Chúa hãy gửi thêm nhiều hơn nữa những thợ gặt nhiệt tình đến thâu hoạch các linh hồn mà tôi nhận thấy đã rất sẵn sàng và đông vô kể (x. Mt 9,37-38). Lúc này, tôi muốn nhắc lại một câu đã viết trong Thông Điệp “Sứ vụ Đấng Cứu Thế” (Redemptoris Missio): «Thiên Chúa đang mở ra trước mắt Giáo Hội những chân trời của một nhân loại đã sẵn sàng đón nhận hạt giống Tin Mừng». Quang cảnh một chân trời mới, đầy hứa hẹn ấy, tôi thấy đang được thực hiện tại Châu Á này, nơi Đức Giêsu đã chào đời và Kitô Giáo được khai sinh.

CHƯƠNG 3: CHÚA THÁNH THẦN LÀ ĐỨC CHÚA VÀ LÀ ĐẤNG BAN SỰ SỐNG

Chúa Thánh Thần đã tác động ngay từ khi tạo dựng, Ngài liên tục hoạt động trong lịch sử trên phạm vi thế giới và vũ trụ. Ngài mặc khải chương trình của Chúa Cha trong Cựu ước. Ngài có vai trò quan trọng ngay từ giây phút đầu tiên của Ngôi Lời nhập thể, và luôn can thiệp vào cuộc đời và sứ mạng của Đức Giêsu. Ngài cũng hoạt động như thế trong thân thể của Đức Kitô là Hội Thánh, để Hội Thánh hiểu biết sự thật về Đức Kitô, hầu trở nên một cộng đoàn chứng nhân và truyền giáo.

Nhưng Chúa Thánh Thần không hoạt động riêng biệt. Mọi việc Ngài làm đều nhắm thúc đẩy Hội Thánh cộng tác vào việc hoàn thành chương trình của Chúa Cha và hoàn tất công cuộc cứu độ của Đức Kitô trên trần gian.

Tại Châu Á, Chúa Thánh Thần đã hoạt động từ thời các tổ phụ và liên tiếp cho đến ngày nay, để củng cố việc làm chứng đức tin. Ngài tạo ra các cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa Chúa Cứu Thế và các Dân tộc để giúp họ nhận ra Thiên Chúa chân thật và Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế được Ngài sai đến. Giáo Hội Á Châu cầu xin Chúa Thánh Thần đến, và sẵn sàng hoạt động theo sự soi sáng và thúc đẩy của Ngài.

Thánh Thần Thiên Chúa trong việc sáng tạo và trong lịch sử

  1. Nếu đúng là ý nghĩa cứu độ của Đức Giêsu chỉ có thể hiểu được trong bối cảnh chương trình cứu độ của Thiên Chúa Ba Ngôi mà Đức Giêsu đã mặc khải, thì Chúa Thánh Thần phải có một vai trò tuyệt đối quan trọng trong mầu nhiệm Đức Giêsu và trong công cuộc cứu độ do Ngài mang đến. Các Nghị Phụ thường đề cập tới chức năng của Chúa Thánh Thần trong lịch sử cứu độ, và lưu ý rằng tách rời Đấng Cứu Chuộc và Thánh Thần một cách sai lạc sẽ làm tổn hại tới chân lý Đức Giêsu là Vị Cứu Tinh duy nhất của hết mọi người.

15§2 Truyền thống Kitô Giáo thường liên kết Chúa Thánh Thần với sự sống và với việc ban sự sống. Kinh Tin Kính của Công Đồng Nicêa-Constantinopoli gọi Chúa Thánh Thần là «Đức Chúa và là Đấng ban sự sống». Bởi thế, không có gì lạ khi nhiều chú giải về công trình sáng tạo được trình thuật trong sách Sáng Thế đã nhìn thấy Chúa Thánh Thần trong cơn gió mạnh thổi qua trên mặt nước (x. St 1,2). Chúa Thánh Thần đã có mặt từ giây phút đầu tiên của công trình sáng tạo và là biểu hiện đầu tiên của tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi, và Ngài luôn có mặt trên thế giới này như thần lực ban sự sống. Vì sáng tạo vũ trụ là khởi đầu của lịch sử, nên có thể nói Chúa Thánh Thần là quyền năng tiềm ẩn đang hoạt động trong lịch sử, hướng dẫn lịch sử trên con đường dẫn đến chân lý và thiện hảo.

15§3 Việc mặc khải Chúa Thánh Thần là một ngôi vị, là tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con, là điều đặc biệt của Tân Ước. Trong suy tư Kitô Giáo, Ngài được coi là nguồn sống của mọi thụ tạo. Khi sáng tạo vũ trụ thì Thiên Chúa đã tự do thông ban tình yêu của Ngài, một sự thông ban đã đưa mọi sự từ hư vô sang hiện hữu. Không có gì được tạo thành mà không chứa chan sự trao đổi bất tận của tình yêu, đặc điểm của cuộc sống sâu xa của Ba Ngôi, bởi lẽ tất cả thọ tạo được chứa chan Thánh Thần: «Thánh Thần Thiên Chúa chan hòa khắp mặt đất» (Kn 1,7). Sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong cuộc sáng tạo đã tạo ra trật tự, hài hòa và phụ thuộc lẫn nhau giữa tất cả mọi hữu thể.

15§4 Được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, con người trở nên nơi cư ngụ của Chúa Thánh Thần trong một phương cách mới khi con người được nâng lên làm nghĩa tử của Thiên Chúa (x. Gl 4,5). Được tái sinh trong phép Rửa, con người cảm nghiệm được sự hiện diện và quyền năng của Chúa Thánh Thần, Ngài không phải chỉ là Tác giả của Sự Sống mà còn là Đấng thanh tẩy và cứu thoát, làm phát sinh những hoa trái «yêu thương, vui tươi, bình an, kiên nhẫn, tử tế, tốt lành, tin cậy nhau, dịu dàng và tiết độ» (Gl 5,22-23). Những hoa trái ấy của Chúa Thánh Thần là dấu chỉ «Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần, mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Khi đã tự nguyện đón nhận tình yêu này, con người sẽ được tình yêu biến đổi thành dụng cụ hữu hình của Chúa Thánh Thần vô hình luôn luôn tác động. Nhất là khả năng mới để trao ban và đón nhận tình yêu, điều này chứng tỏ Chúa Thánh Thần đang hiện diện và hoạt động trong nội tâm. Một khi tâm trí con người được Thánh Thần biến đổi và tái tạo thì xã hội và văn hóa loài người sẽ chịu ảnh hưởng của Ngài. «Quả thật, Thánh Thần là nguồn mạch các lý tưởng và việc làm cao đẹp, đem phúc lợi cho nhân loại trong cuộc hành trình qua lịch sử. “Thánh Thần Thiên Chúa trong sự quan phòng tuyệt vời đang điều khiển dòng lịch sử của thời đại và canh tân bộ mặt trái đất”.

15§5 Theo hướng dẫn của Công Đồng Vaticanô II, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã tập trung chú ý tới các hoạt động vừa nhiều và đa dạng của Chúa Thánh Thần, Đấng vẫn tiếp tục gieo các hạt giống chân lý vào các dân tộc, tôn giáo, văn hóa và tư tưởng của họ. Nói thế có nghĩa là những tôn giáo, văn hóa và tư tưởng ấy có thể giúp con người, cá nhân và tập thể, hoạt động chống lại sự dữ và phục vụ sự sống cũng như tất cả những gì tốt đẹp. Quyền lực của tử thần cô lập con người, xã hội và các cộng đồng tôn giáo, gieo rắc nghi ngờ và cạnh tranh, đưa người ta tới chỗ xung đột lẫn nhau. Ngược lại, Thánh Thần thì luôn nâng đỡ người ta trong việc tìm hiểu biết và đón nhận nhau. Vì thế, Thượng Hội Đồng đã có lý khi nhìn nhận Thánh Thần Thiên Chúa là tác nhân chủ yếu của việc đối thoại giữa Giáo Hội với mọi dân tộc, mọi nền văn hóa và mọi tôn giáo.

Chúa Thánh Thần và sự nhập thể của Ngôi Lời

  1. Dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, lịch sử cứu độ đã diễn tiến trên phạm vi thế giới, và ngay cả trong phạm vi vũ trụ, theo như chương trình của Chúa Cha từ đời đời. Chương trình này đã được Thánh Thần khởi sự ngay từ khi tạo dựng vũ trụ, được Ngài mặc khải trong Cựu Ước, được Ngài hoàn thành nhờ ân sủng của Đức Giêsu Kitô, và cũng được chính Ngài tiếp tục trong cuộc tạo dựng mới cho tới khi Chúa trở lại trong vinh quang lúc thời gian kết thúc. Việc Nhập Thể của Con Thiên Chúa được coi là công trình cao cả nhất của Chúa Thánh Thần: «Thật vậy, Đức Giêsu Kitô được thụ thai và sinh ra, đó chính là công trình vĩ đại nhất Chúa Thánh Thần đã hoàn thành trong lịch sử sáng tạo và cứu chuộc: ân huệ cao cả nhất chính là ơn hiệp nhất, nguồn mạch sinh ra mọi ơn khác». Nhập Thể là biến cố trong đó Thiên Chúa kết hợp, một cách vừa mới mẻ vừa dứt khoát, không chỉ với con người mà còn với toàn thể thụ tạo và toàn thể lịch sử.

16§2 Vì được thụ thai trong lòng Đức Trinh Nữ Maria do quyền năng Chúa Thánh Thần (x. Lc 1,35; Mt 1,20), Đức Giêsu Nazareth, là Đấng Mêsia và là Đấng Cứu Tinh duy nhất, đã được đầy Thánh Thần. Thánh Thần ngự xuống trên Ngài khi Ngài chịu phép rửa (x. Mc 1,10), rồi dẫn Ngài vào hoang địa để được thêm sức mạnh trước khi hoạt động công khai (x. Mc 1,12; Lc 4,1; Mt 4,1). Tại hội đường Nazareth, Ngài bắt đầu sứ vụ ngôn sứ của mình bằng cách áp dụng cho mình thị kiến mà Isaia đã thấy trước về việc Ngài được xức dầu bằng Thánh Thần để ra đi rao giảng tin mừng cho người nghèo, đem lại tự do cho người bị giam cầm và công bố thời hồng ân của Chúa (x. Lc 4,18-19). Dựa vào quyền năng của Thánh Thần, Đức Giêsu chữa trị người bệnh và xua trừ ma quỷ, lấy đó làm dấu chỉ báo hiệu Nước Thiên Chúa đã đến (x. Mt 12,28). Sau khi sống lại từ cõi chết, Ngài thông cho các môn đệ Chúa Thánh Thần mà Ngài đã hứa ban cho Giáo Hội khi về với Chúa Cha (x. Ga 20,22-23).

16§3 Tất cả những điều này cho thấy sứ mạng cứu độ của Đức Giêsu đã mang dấu ấn không thể lầm lẫn về sự hiện diện của Chúa Thánh Thần: đó là dấu ấn của sự sống, sự sống mới. Chúa Con được Chúa Cha sai tới và Thánh Thần được Chúa Cha và Chúa Con sai tới, hai việc này có liên hệ mật thiết và sinh động với nhau. Hoạt động của Chúa Thánh Thần trong công việc sáng tạo và trong lịch sử loài người đạt tới một ý nghĩa mới mẻ hẳn khi Ngài can thiệp vào cuộc đời và sứ mạng của Đức Giêsu. «Những hạt giống của Ngôi Lời» mà Chúa Thánh Thần đã gieo vãi đều chuẩn bị cho muôn loài thụ tạo, lịch sử và con người đạt tới mức viên mãn trong Đức Kitô.

16§4 Các Nghị Phụ tỏ ra rất quan ngại về khuynh hướng muốn tách biệt hoạt động của Chúa Thánh Thần với hoạt động của Chúa Giêsu – Đấng Cứu Thế. Để giải đáp cho quan ngại ấy, tôi xin lặp lại những gì tôi đã viết trong thông điệp “Sứ vụ Đấng Cứu Thế” (Redemptoris Missio): «(Thánh Thần)… không phải là Đấng thay thế Đức Kitô, Ngài cũng không lấp đầy chỗ trống như đôi khi có giả thuyết cho rằng đã có giữa Đức Kitô và Ngôi Lời. Bất cứ điều gì Thánh Thần làm được trong tâm hồn con người, trong lịch sử các dân tộc, trong các nền văn hóa và trong các tôn giáo, đều là một sự chuẩn bị cho Tin Mừng và chỉ có thể hiểu được khi quy chiếu về Đức Kitô, Đấng là Ngôi Lời đã làm người nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, «để Ngài, với tư cách là một con người trọn vẹn, cứu độ hết mọi người và thâu tóm tất cả mọi sự trong Ngài».

16§5 Bởi đó, không thể lấy lý do vì Chúa Thánh Thần đã hiện diện khắp nơi mà bào chữa cho việc không công bố một cách minh thị rằng Đức Giêsu Kitô là vị Cứu Tinh duy nhất. Trái lại, sự hiện diện khắp nơi của Chúa Thánh Thần không thể tách lìa với sự cứu độ phổ quát trong Đức Giêsu. Chúa Thánh Thần có mặt trong công trình sáng tạo và trong lịch sử là để đưa ta hướng về Đức Giêsu Kitô, vì nơi Ngài công trình sáng tạo và lịch sử được cứu chuộc và hoàn thành. Sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần ngay trước khi Đức Giêsu Kitô nhập thể cũng như vào giây phút cao điểm của lễ Ngũ Tuần đều hướng ta về Đức Giêsu và ơn cứu độ do Ngài mang đến. Chính vì thế không bao giờ được tách rời sự hiện diện phổ quát của Chúa Thánh Thần với hoạt động của Ngài trong Thân Thể Đức Kitô là Hội Thánh.

Chúa Thánh Thần và Thân Thể Đức Kitô

  1. Chúa Thánh Thần luôn giữ gìn mối hiệp thông giữa Đức Giêsu và Giáo Hội của Ngài. Vì Chúa Thánh Thần cư ngụ trong Giáo Hội như trong đền thờ (x. 1Cr 3,16), nên trước hết Ngài hướng dẫn Giáo Hội hiểu biết trọn vẹn sự thật về Đức Giêsu. Rồi, cũng chính Thánh Thần làm cho Giáo Hội có khả năng tiếp tục sứ mạng của Đức Giêsu, tiên vàn bằng việc minh chứng về chính Đức Giêsu, và như thế, là thực hiện lời Ngài đã hứa trước khi chết và sống lại, đó là sai Thánh Thần đến với các môn đệ để giúp họ làm chứng về Ngài (x. Ga 15,26-27). Công trình của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội còn là để chứng tỏ rằng các tín hữu được Thiên Chúa nhận làm dưỡng tử để thừa hưởng ơn cứu độ, tức là được hiệp thông trọn vẹn với Chúa Cha như đã hứa (x. Rm 8,15-17). Khi ban cho Giáo Hội những đoàn sủng và ân huệ khác nhau, Chúa Thánh Thần giúp Giáo Hội càng ngày càng lớn lên trong sự hiệp thông như một thân thể do nhiều bộ phận khác nhau làm nên (x. 1Cr 12,4; Ep 4,11-16). Chúa Thánh Thần quy tụ mọi dân tộc với những phong tục tập quán khác nhau, những tiềm lực và tài năng khác nhau, làm cho Giáo Hội trở nên dấu chỉ của sự hiệp thông toàn thể nhân loại dưới quyền thủ lãnh của Đức Kitô. Chúa Thánh Thần uốn đúc Giáo Hội thành một cộng đoàn gồm các chứng nhân để nhờ quyền năng của Ngài làm chứng cho Đức Giêsu Cứu Tinh (x. Cv 1,8). Trong ý nghĩa đó, Chúa Thánh Thần là tác nhân chủ yếu của công cuộc phúc âm hóa. Từ đó, các Nghị Phụ kết luận: sứ mạng trần gian của Chúa Giêsu được hoàn thành nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, «thì cũng một Thánh Thần ấy được Chúa Cha và Chúa Con ban cho Giáo Hội trong ngày lễ Ngũ Tuần để hoàn thành sứ mạng yêu thương và phục vụ của Đức Giêsu tại Châu Á này».

17§2 Chương trình cứu độ của Chúa Cha không kết thúc với cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu. Khi Thánh Thần của Đức Kitô được ban cho Giáo Hội, thì hoa trái sứ mạng cứu độ của Đức Giêsu cũng được ban qua Giáo Hội cho mọi dân tộc thuộc mọi thời đại nhờ việc loan báo Tin Mừng và yêu thương phục vụ gia đình nhân loại. Như công đồng Vaticanô II đã nhận xét, «Thánh Thần thúc đẩy Giáo Hội cộng tác vào việc hoàn thành trọn vẹn chương trình của Thiên Chúa, Đấng đã đặt Đức Kitô làm nguồn ơn cứu độ cho toàn thế giới». Được Chúa Thánh Thần tăng sức để hoàn tất công cuộc cứu độ của Đức Kitô trên trần gian, Giáo Hội chính là hạt giống của Nước Thiên Chúa, luôn náo nức mong cho Nước ấy đến lần sau hết. Căn tính và sứ mạng của Giáo Hội không thể tách rời với Nước Thiên Chúa đã được Đức Giêsu loan báo và khai mở qua tất cả những lời Ngài nói và những việc Ngài làm, nhất là qua cái chết và sự sống lại của Ngài. Thánh Thần nhắc nhở Giáo Hội rằng Giáo Hội không phải là cùng đích của chính mình; dù Giáo Hội có là gì và có làm gì đi nữa, thì Giáo Hội hiện hữu là để phục vụ Đức Kitô và công cuộc cứu độ trần gian. Trong nhiệm cục cứu độ hiện tại, tất cả những gì Chúa Thánh Thần làm trong công cuộc tạo dựng, trong lịch sử và trong Giáo Hội đều là một phần trong kế hoạch duy nhất và đời đời của Thiên Chúa Ba Ngôi trên mọi loài thụ tạo.

Chúa Thánh Thần và sứ mạng của Giáo Hội tại Châu Á

  1. Chúa Thánh Thần đã hoạt động tại Châu Á vào thời các tổ phụ và các ngôn sứ, rồi còn hoạt động mạnh hơn nữa trong thời Đức Giêsu Kitô và Hội Thánh sơ khai, nay vẫn đang hoạt động nơi các Kitô hữu Á Châu để củng cố chứng tá đức tin của họ giữa các dân tộc, giữa các nền văn hóa và các tôn giáo của lục địa. Cũng như cuộc đối thoại tình yêu cao cả giữa Thiên Chúa và con người đã được Chúa Thánh Thần chuẩn bị và được hoàn thành trên miền đất Á Châu này trong mầu nhiệm Đức Kitô, thì cuộc đối thoại hiện nay giữa Chúa Cứu Thế và các dân tộc của châu lục này cũng vẫn tiếp tục nhờ quyền năng của cùng một Thánh Thần đang hoạt động trong Giáo Hội. Trong tiến trình này, các giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân đều có vai trò quan trọng, như lời Đức Giêsu đã phán, vừa như một lời hứa vừa như một mệnh lệnh: «Anh em sẽ nhận được sức mạnh khi Thánh Thần đến với anh em; anh em sẽ là nhân chứng của Thầy tại Giêrusalem, trong toàn cõi Giuđê và Samari, cho tới tận cùng trái đất» (Cv 1,8).

18§2 Giáo Hội tin chắc rằng ẩn sâu trong các dân tộc, các nền văn hóa và tôn giáo của Châu Á này luôn có một sự khao khát «nước hằng sống» (x. Ga 4,10-15), một sự khao khát do chính Chúa Thánh Thần khơi dậy và chỉ mình Đức Giêsu Cứu Thế mới có thể thoả mãn. Giáo Hội hướng về Chúa Thánh Thần xin Ngài tiếp tục chuẩn bị tâm hồn các dân tộc Á Châu để họ đối thoại với Đấng Cứu Tinh nhân loại hầu đón nhận ơn cứu độ. Dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần trong sứ mạng yêu thương và phục vụ, Giáo Hội có thể tạo cơ hội cho Đức Giêsu Kitô và các dân tộc Á Châu gặp gỡ nhau, đang khi họ tìm kiếm sự sống sung mãn. Chỉ khi nào có cuộc gặp gỡ ấy người ta mới tìm được nước mạch vọt lên đem lại sự sống đời đời, nghĩa là sự nhận biết Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đức Giêsu Kitô do Ngài sai đến (x. Ga 17,3).

18§3 Giáo Hội biết rõ mình chỉ có thể hoàn thành sứ mạng khi vâng theo những sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần. Được trao cho nhiệm vụ trở thành dấu chỉ và dụng cụ chân thực để Chúa Thánh Thần hoạt động trong những thực tế phức tạp của Châu Á, Giáo Hội phải biết nhận ra đâu là tiếng Chúa Thánh Thần muốn mình làm chứng cho Đức Giêsu Cứu Thế một cách mới mẻ và hiệu quả trong tất cả các hoàn cảnh khác nhau của lục địa. Sự thật toàn vẹn về Đức Giêsu và ơn cứu độ mà Ngài đã đạt được luôn luôn là một ân huệ, chứ không bao giờ là kết quả của nỗ lực con người. «Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa. Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Kitô» (Rm 8,16-17). Bởi đó, Giáo Hội không ngừng kêu lên: «Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến! Xin hãy tràn ngập tâm hồn các tín hữu Chúa và đốt lửa tình yêu Chúa trong lòng họ!», đó là ngọn lửa mà Đức Giêsu đã đem xuống địa cầu. Ngày nay Giáo Hội Á Châu cũng chia sẻ nhiệt huyết của Ngài là mong sao cho ngọn lửa ấy được bùng lên (x. Lc 12,49). Với niềm khát khao mãnh liệt này, các Nghị Phụ đã tìm cách nhận ra đâu là những cánh đồng truyền giáo chính yếu cho Giáo Hội tại Châu Á khi bước vào thiên niên kỷ mới.

Lm Phêrô Nguyễn Quang Sách