TÔNG HUẤN HẬU THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁO HỘI TẠI CHÂU ĐẠI DƯƠNG

CỦA ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II GỞI CÁC GIÁM MỤC, LINH MỤC VÀ PHÓ TẾ,

CÁC TU SĨ NAM NỮ VÀ TOÀN THỂ GIÁO DÂN

VỀ ĐỨC GIÊSU KITÔ VÀ DÂN CHÚNG CHÂU ĐẠI DƯƠNG: ĐI CON ĐƯỜNG CỦA NGƯỜI, NÓI SỰ THẬT CỦA NGƯỜI, SỐNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI

MỤC LỤC

DẪN NHẬP (1-2)

CHƯƠNG I: CHÚA GIÊSU KITÔ VÀ CÁC DÂN TỘC ĐẠI DƯƠNG CHÂU

  • Con Người Chúa Giêsu
      1. Lời mời gọi
      1. Giới thiệu Chúa Giêsu Kitô
      1. Chúa Giêsu Kitô: Mục Tử, Ngôn Sứ và Linh Mục
  • Các Dân Tộc Châu Đại Dương
      1. Địa lý và lịch sử
      1. Truyền Giáo và Văn Hoá
  • Khoá Họp Đặc Biệt Thượng Hội Đồng
      1. Chủ Đề
      1. Kinh Nghiệm

CHƯƠNG II: ĐI CON ĐƯỜNG CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ TẠI CHÂU ĐẠI DƯƠNG

  • Giáo Hội Như Là Sự Hiệp Thông
      1. Mầu Nhiệm và Ân Ban
      1. Giáo Hội Địa Phương và Phổ Quát
      1. Làm Phong Phú Cho Nhau
  • Hiệp Thông Và Truyền Giáo
      1. Tiếng gọi Truyền giáo
      1. Những Thách Đố
      1. Một Giáo Hội Chia Sẻ
  • Tin Mừng Và Văn Hoá
      1. Hội Nhập Văn Hoá
      1. Hoàn Cảnh Hiện Tại

CHƯƠNG III : NÓI SỰ THẬT VỀ CHÚA GIÊSU KITÔ TẠI CHÂU ĐẠI DƯƠNG

  • Tân Phúc Âm Hoá Tại Châu Đại Dương
      1. Rao giảng Tin Mừng tại Đại Dương Châu
      1. Những Tác Nhân của Phúc Âm Hoá
      1. Tính Ưu Việt của Công Cuộc Rao Giảng
      1. Phúc Âm Hoá và Các Phương Tiện Truyền Thông
  • Thách Đố Của Đức Tin Ngày Nay
      1. Dạy Giáo Lý
      1. Đại kết
      1. Các Nhóm Fundamental
      1. Đối Thoại Liên Tôn Giáo
  • Niềm Hy Vọng Cho Xã Hội
      1. Huấn Giáo về Xã Hội của Giáo Hội
      1. Nhân Quyền
      1. Các Dân Tộc Bản Xứ
      1. Trợ Giúp Phát Triển
      1. Sự Thánh Thiện của Sự Sống
      1. Môi trường
  • Những Công Việc Bác Ái
      1. Những Cơ Chế Công Giáo
      1. Giáo Dục Công Giáo
      1. Chăm Sóc Sức Khoẻ
      1. Những Trợ Cấp Xã Hội

CHƯƠNG IV : SỐNG SỰ SỐNG CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ TẠI CHÂU ĐẠI DƯƠNG

  • Đời Sống Thiêng Liêng và Bí Tích
      1. Lạy Chúa Thánh Thần Xin Hãy Đến !
      1. Tinh Thần Nội Tâm
      1. Sách Thiêng Liêng và Kinh Thánh
      1. Phụng Vụ
      1. Bí Tích Thánh Thể
      1. Bí Tích Giải Tội
      1. Bí Tích Xức Dầu Bệnh Nhân
  • Dân Chúa
      1. Ơn Gọi của Giáo Dân
      1. Giới Trẻ trong Giáo Hội
      1. Hôn Nhân và Đời Sống Gia Đình
      1. Người Nữ Trong Giáo Hội
      1. Những Phong Trào Mới Trong Giáo Hội
  • Thừa Tác Vụ Có Chức Thánh và Đời Sống Thánh Hiến
      1. Những Ơn Gọi và các Chủng Viện
      1. Đời Sống của Người Được Phong Chức
      1. Chức Phó Tế Vĩnh Viễn
    • 51 & 52. Đời Sống Thánh Hiến

PHẦN KẾT

    1. Đức Maria Mẹ Chúng Ta

DẪN NHẬP

  1. Giáo Hội tại Châu Đại Dương tôn vinh Thiên Chúa vào lúc bình minh Ngàn Năm Thứ Ba và công bố niềm hy vọng của mình cho thế giới. Lòng biết ơn của Giáo Hội này đối với Chúa phát sinh từ việc Giáo Hội đó ngắm nhìn nhiều ân ban mình đã lãnh nhận, gồm cả sự thịnh vượng các dân tộc và các nền văn hoá cũng như những kỳ công của tạo vật. Nhưng trên tất cả có hồng ân đức tin vào Chúa Giêsu Kitô, “Trưởng Tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo” (Cl 1, 15). Trong ngàn năm qua Giáo Hội tại Châu Đại Dương đã đón nhận và gìn giữ ân huệ đức tin này, và truyền sang cách trung thực cho các thế hệ mới hơn. Vì sự kiện đó, toàn thể Giáo Hội cảm tạ Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh.

Từ những thời xa xưa nhất, các dân tộc Châu Đại Dương được linh hứng bởi sự hiện diện của Thiên Chúa trong những gia sản thiên nhiên và văn hoá. Nhưng chờ tới khi các nhà truyền giáo nước ngoài đến trong nửa cuối ngàn năm thứ hai thì những thổ dân ở đây lần đầu tiên mới được nghe về Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Lời nhập thể. Những người di dân từ Âu châu và các phần khác trên thế giới đã mang theo đức tin của mình. Đối với tất cả, Tin Mừng Chúa Giêsu, nhận lãnh trong đức tin và sống trong sự hiệp thông của Giáo Hội, hoàn thành những ước vọng sâu xa nhất của cõi lòng, vượt quá sự chờ đợi của con người. Giáo Hội tại Đại Dương châu được vững mạnh, trong hy vọng, bởi vì đã kinh nghiệm sự tốt lành vô cùng của Thiên Chúa trong Đức Kitô. Cho tới ngày nay, kho tàng đức tin Kitô giáo không giảm sút trong sự năng động và hứa hẹn của nó, vì Thần Khí Chúa luôn luôn mới mẻ và lạ lùng. Giáo Hội hoàn vũ chia sẻ niềm hy vọng của các dân tộc tại Châu Đại Dương là tương lai sẽ mang lại những ân huệ ân sủng mới mẻ và có khi lạ lùng hơn tới những vùng đất của Đại Dương này.

  1. Một thời điểm rất đặc biệt mà Giáo Hội tại Châu Đại Dương có thể bộc lộ lòng biết ơn và hy vọng của mình là Khoá Họp Đặc Biệt của Thượng Hội Đồng các Giám Mục vì châu Đại Dương, từ 22/11 – 12/12/1998. Trong Tông Thư Tertio Millennio Adveniente, tôi đã đề nghị sự hữu ích của một Khoá Họp như thế, một trong loạt những Khoá Họp lục địa nhằm chuẩn bị Giáo Hội bước sang ngàn năm mới. Tiếp với Các Giám Mục Đại Dương Châu là các Giám Mục đến từ những lục địa khác và các thủ trưởng các cơ quan Giáo Triều Rôma. Những thành phần khác của Giáo Hội ở trong số những kẻ tham dự, kể cả linh mục, giáo dân và tu sĩ thánh hiến, cũng như các đại diện anh em từ các Giáo Hội khác và những Cộng đồng Giáo Hội. Khoá Họp phân tách và bàn cãi hiện trạng của Giáo Hội tại Châu Đại Dương ngõ hầu đạt kế hoạch cách hiệu quả hơn trong tương lai. Cũng tập trung sự chú ý của Giáo Hội phổ quát về những hy vọng và thách đố, những nhu cầu và tiện lợi, những âu lo và vui mừng của tấm thảm nhân loại rộng lớn này tức là châu Đại Dương.

Cuộc gặp mặt của nhiều Giám Mục tại Rôma, tập hợp với và xung quanh vị Kế nhiệm Thánh Phêrô, là một dịp phi thường để mừng những quà tặng ân sủng, đã ban cho một mùa gặt dồi dào giữa các dân tộc Đại Dương Châu. Niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô là nền tảng và trung tâm của các tham dự viên trong kinh nguyện và thảo luận của họ. Các Giám Mục và tất cả những người ở với các ngài được khích lệ bởi cùng một đức tin vào Chúa Kitô. Tất cả được linh hứng và tăng lực do sự hiệp thông Giáo Hội ràng buộc họ với nhau và được tỏ bày qua những ngày Họp Thượng Hội Đồng một cách hết sức hùng mạnh và cảm động như một sự hiệp nhất thực sự trong khác biệt.

CHƯƠNG I: CHÚA GIÊSU KITÔ VÀ CÁC DÂN TỘC ĐẠI DƯƠNG CHÂU

“Chúa Giêsu đang đi dọc theo biển hồ Galilê, thì thấy hai anh em kia, là ông Simon, cũng gọi là Phêrô, và người anh là ông Anrê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá. Và Người bảo các ông: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.” Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người (Mt 4, 18-20).

Con Người Chúa Giêsu

3. Lời mời gọi

Trong Khoá Họp Thượng Hội Đồng, Giáo Hội phổ quát có thể thấy rõ hơn cách thức Chúa Giêsu gặp gỡ nhiều dân tộc Đại Dương Châu trong những đất nước và ở nhiều hòn đảo của họ. Bởi vì chính Chúa nhìn xuống dân chúng với một tình yêu, tình yêu đó vừa là một thách đố và là một tiếng gọi. Cũng như ông Simon Phêrô và anh ông là Anrê, họ được mời bỏ tất cả, để trở về với Người là Chúa sự sống, và theo Người. Họ phải từ bỏ không chỉ những con đường tội lỗi, nhưng còn phải từ bỏ những con đường cằn cỗi của một cách suy nghĩ và hành động, ngõ hầu đi con đường của một đức tin thâm sâu hơn và theo Chúa với lòng trung thành hơn.

Chúa đã kêu gọi Giáo Hội tại Châu Đại Dương đến với mình: luôn luôn tiếng gọi như bao hàm một sự sai đi truyền giáo. Mục đích ở với Chúa Giêsu là để ra đi từ Chúa Giêsu, trong quyền năng của Người và với ân sủng của Người. Bây giờ Chúa Giêsu đang kêu mời Giáo Hội chia sẻ sứ vụ của Người với năng lực và sự sáng tạo mới. Thượng Hội Đồng nhận thấy điều này rõ ràng trong đời sống của Giáo Hội tại Châu Đại Dương.

Các Giám Mục vui mừng vì thấy tại Châu Đại Dương Chúa Giêsu đã minh chứng Người giữ lời hứa: “Thầy hằng ở cùng anh em mọi ngày cho tới tận thế” (Mt 28, 20). Việc bảo đảm về sự hiện diện của Người ban sức mạnh và lòng dũng cảm cần cho các môn đệ để trở thành “những kẻ lưới người”. Trong Khoá Họp riêng, sự hiện diện của Chúa được kinh nghiệm trong kinh nguyện, trong sự chia sẻ những hy vọng và những ưu tư, và trong mối ràng buộc của sự hiệp thông Giáo Hội. Niềm tin vào sự hiện diện của Chúa Giêsu giữa dân Người tại Châu Đại Dương sẽ luôn luôn tạo ra những cuộc gặp gỡ mới và kỳ diệu có thể với Người, và những sự gặp gỡ mới này sẽ trở nên những hạt giống của việc truyền giáo mới.

Khi chúng ta đi với Chúa, chúng ta loại bỏ với Người tất cả những gánh nặng của chúng ta, và điều này ban sức mạnh để hoàn thành sứ vụ Người trao cho chúng ta. Người lấy từ chúng ta thì ban cho chúng ta; chính Người mang lấy những yếu đuối chúng ta và ban cho chúng ta sức mạnh của Người. Đây là mẫu nhiệm trọng đại về đời sống của người môn đệ và tông đồ. Điều chắc chắn là Chúa Kitô làm việc với chúng ta và trong chúng ta khi chúng ta “chèo ra chỗ nước sâu”, như chúng ta phải làm bây giờ. Khi gặp thời khó khăn và không hứa hẹn, thì chính Chúa thúc giục chúng ta “thả lưới một lần nữa” (Lc 5, 1-11). Chúng ta không nên không vâng lời.

4. Giới thiệu Chúa Giêsu Kitô

Quan tâm chính của Khoá Họp Thượng Hội Đồng là tìm ra những cách thức giới thiệu cho các dân tộc Châu Đại Dương ngày nay biết Chúa Giêsu Kitô là Chúa và là Đấng Cứu Thế. Nhưng cách thức mới này là gì để giới thiệu Chúa, hầu nhiều người hơn sẽ gặp được Người và tin vào Người? Các bài tham luận của các Nghị Phụ đã phản chiếu những thách đố và những khó khăn, nhưng cũng phản chiếu những hy vọng và những khả thể do vấn đề gợi lên.

Trong giòng lịch sử, nhờ những cố gắng mục vụ và truyền giáo phi thường của Giáo Hội, các dân tộc Châu Đại Dương đã gặp được Chúa Giêsu Kitô, Người không ngừng kêu mời họ đến với đức tin và ban cho họ sự sống mới. Trong những thời thuộc địa, hàng giáo sĩ và tu sĩ Công giáo đã mau chóng thiết lập các cơ chế để giúp những người định cư mới tại Australia và New Zealand duy trì và tăng cường đức tin của mình. Các nhà truyền giáo đã mang Tin Mừng đến những cư dân gốc Châu Đại Dương, mời gọi họ tin vào Chúa Kitô và gặp được ngôi nhà thật sự trong Giáo Hội Chúa Kitô. Dân chúng đáp ứng đông đảo tiếng gọi, trở nên những môn đệ Chúa Kitô và bắt đầu sống theo lời Người. Thượng Hội Đồng không để ai hồ nghi rằng Giáo Hội, sự hiệp thông của các tín hữu, bây giờ là một thực tại ngân vang giữa nhiều dân tộc tại Châu Đại Dương. Ngày nay Chúa Giêsu lại hướng sự quan tâm đầy tình yêu của Người về phía họ, kêu gọi họ đến với một đức tin còn thâm sâu hơn và một sự sống còn phong phú hơn trong Người. Do đó, các Giám Mục không thể không tự hỏi: Làm thế nào Giáo Hội có thể trở thành khí cụ hiệu năng của Chúa Giêsu Kitô, Đấng bây giờ muốn gặp các dân tộc Châu Đại Dương trong những cách thức mới?

5. Chúa Giêsu Kitô: Mục Tử, Ngôn Sứ và Linh Mục

Trong tình yêu vô cùng của Người đối với thế giới, Thiên Chúa đã cho Con Một mình trở nên Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Tự huỷ mình ra không để giống chúng ta, Chúa Giêsu được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria trong cảnh đơn sơ và khó nghèo. Tuy là một người hoàn toàn trơ trụi và nghèo khó trên Thánh giá, Chúa Giêsu là người Con yêu dấu của Thiên Chúa, Đấng Cứu Chuộc thế gian trong tất cả sự trơ trụi và nghèo khó của Người. Khi Chúa Kitô ở giữa chúng ta, Người loan báo Tin Mừng là Nước Chúa đã đến, một Nước hoà bình, công lý và chân lý. Nhiều người, đặc biệt những kẻ nghèo, thiếu thốn và bị bỏ rơi, đi theo Người, nhưng phần lớn kẻ chức quyền thế gian quay lại chống Người. Họ kết án Người và đóng đinh Người trên Thập Giá. Cái chết sỉ nhục này mà Chúa Cha chấp nhận làm hy lễ tình yêu vì thế gian, mở đường cho việc Sống Lại vinh hiển do quyền năng tình yêu của Chúa Cha. Như vậy Chúa Giêsu được công nhận như Vua vũ trụ, như Ngôn Sứ cho mọi người và như Linh Mục Thượng Phẩm trong cung thánh đời đời. Người là Ngôn Sứ, Linh Mục và Vua, không những cho những kẻ theo Người, mà còn cho tất cả mọi dân tộc địa cầu. Chúa Cha dâng hiến Người như Đường, sự Thật và sự Sống cho mọi người nam và người nữ, cho mọi gia đình và cộng đồng, cho mọi nước và mọi thế hệ.

Vì là Con vua Đavít, Chúa Giêsu không những là Vua mà còn là Mục Tử Tốt Lành của những ai nghe tiếng Người. Người biết và yêu những kẻ theo Người. Người là Mục Tử thủ lãnh của linh hồn chúng ta, và là Mục Tử của mọi dân tộc. Người điều khiển Giáo Hội bằng quyền phép Chúa Thánh Thần Đấng ngự tràn đầy trong Người và Đấng mà Người thổi vào trong các môn đệ Người (x. Ga 20, 22). Thần Khí hướng dẫn bằng quyền lực tình yêu, từ trong sâu thẳm, bằng cách đánh động các tâm hồn và trí tuệ các dân tộc Châu Đại Dương và cho họ tự do sống sự sống phong phú mà nhờ đó họ được tạo thành.

Vì là Lời của Thiên Chúa, Chúa Giêsu là Ngôn Sứ phổ quát, là mạc khải trọn vẹn về Thiên Chúa. Người là Chân Lý, gọi mời người ta tin vào Người và chia sẻ sự sống của Người. Thần Khí Người hướng dẫn kẻ được rửa tội lên đường hằng ngày vào trong những thâm sâu của chân lý đó. Được thúc đẩy bởi Chúa Thánh Thần, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng bàn cãi về nhiều điều xuất phát từ kinh nghiệm mục vụ của các ngài và từ tình yêu của các ngài đối với dân Chúa. Không thể tìm ra được hết những câu trả lời trong những ngày họp Thượng Hội Đồng, bởi vì nhiều vấn đề cần phải suy nghĩ, kinh nghiệm và cầu nguyện nhiều hơn. Dầu sao, trong cuộc tìm kiếm ơn soi sáng cho mình, các Giám Mục chia sẻ đầy đủ và tuyên xưng niềm xác tín rằng chân lý ơn cứu độ chỉ có thể gặp được nơi Chúa Giêsu Kitô, và Thần Khí của Người mang đến niềm an ủi và sự hướng dẫn cho những ai tìm đến Người với các vấn đề và gánh nặng của họ.

Chúa Chịu Đóng Đinh và Phục Sinh là Linh Mục Thượng Phẩm tự hiến mình cho Chúa Cha làm hy lễ đời đời đem lại sự sống thế gian. Người thí mạng sống mình cho mọi người và tiếp tục làm tràn đầy những kẻ theo Người với sự sống của Người, nhất thiết nhờ các Bí tích. Trong lời cầu của Người, lời cầu của mọi tín hữu bay lên tới Chúa Cha. Qua Chúa Thánh Thần, Người ban cho họ khả năng sống một sự sống kết hợp thân mật với Thiên Chúa và yêu thương quảng đại hơn đối với các anh chị em, cách riêng những kẻ nghèo và túng thiếu. Những cuộc tranh luận trong Thượng Hội Đồng nhấn mạnh rằng, khi trình bày về Chúa Giêsu, Giáo Hội phải chứng tỏ tình yêu thương xót của Người đối với một thế giới cần được chữa lành. Tất cả những người đã được rửa tội đều được kêu gọi làm dân tư tế của Thiên Chúa theo gương Chúa Giêsu, Linh Mục Thượng Phẩm, và với tư cách là dân tư tế, họ có sứ mạng thương xót mọi người, cách riêng những người bị tước đoạt nhất, những kẻ ở xa nhất, những kẻ bị lạc mất. Khi vươn ra và hiến mạng sống vì danh Chúa Giêsu, Giáo Hội tại Châu Đại Dương ngày nay sẽ là một bí tích của công lý và hoà bình của Thiên Chúa.

Các Dân Tộc Châu Đại Dương

6. Địa lý và lịch sử

Thượng Hội Đồng nhìn nhận không những đó là một khu vực độc đáo trải rộng gần 1/3 diện tích địa cầu, nhưng cũng nhìn nhận một số lớn dân bản xứ chứng tỏ họ vui vẻ chấp nhận Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô trong việc cử hành đầy hứng thú sứ điệp cứu rỗi. Những dân tộc này làm thành một phần độc nhất của nhân loại trong một vùng độc nhất của thế giới. Theo địa lý, Châu Đại Dương gồm có lục địa Australia, nhiều đảo, lớn và nhỏ, và những vùng nước mênh mông. Biển và đất liền, nước và đất gặp nhau trong những con đường không biên giới, thường đập vào mắt con người với vẻ huy hoàng và nét đẹp hùng vĩ. Mặc dầu Châu Đại Dương rất rộng về mặt địa lý, dân cư tương đối ít và phân phối không đều, dầu có một số lớn người bản xứ và di dân. Đối với phần đông, đất liền là quan trọng nhất: dù là đất phì nhiêu của nó, hay những nơi hoang dã của nó, tính đa dạng về cây cối và động vật của nó, sự phong phú hay cằn cỗi của nó. Những người khác mặc dầu sống trong đất liền, lại tuỳ thuộc vào sông biển nhiều hơn. Nước cho phép họ đi từ đảo này sang đảo kia, từ bờ này sang bờ nọ. Tính đa dạng ngôn ngữ – chỉ tại Papua New Guinéa có tới 700 ngôn ngữ – với những khoảng cách rộng lớn giữa các đảo và khu vực, làm cho việc giao thông trong vùng đã trở thành một thách đố nghiêm trọng. Trong nhiều phần Châu Đại Dương, đi tàu biển và tàu bay quan trọng hơn đi trên đất liền. Giao thông có thể còn chậm và khó như các thời trước dầu cho ngày nay trong nhiều lãnh vực việc thông tin được truyền đi ngay nhờ kỹ thuật điện tử mới.

Nước rộng nhất của Châu Đại Dương cả về mặt kích thước và dân số là Australia, nơi những thổ dân đã sống hàng ngàn năm, di chuyển trên những luồng đất rộng và sống trong hoà hợp thâm sâu với thiên nhiên. Được khám phá và bị thuộc địa hoá bởi người châu Âu, họ gọi tên nó là “Southern Land of the Holy Spirit” (Đất phương Nam của Chúa Thánh Thần), Australia đã trở nên rất là Tây trong mô hình văn hoá và cấu trúc xã hội của nó. Bao hàm sâu rộng trong những phát triển khoa học, kỹ thuật và xã hội của thế giới phương Tây, bây giờ Australia là một quốc gia đô thị hoá rộng rãi, tân tiến và tục hoá, nơi mà những cuộc di dân liên tiếp từ Âu châu và Á châu đã góp phần biến nó thành một xã hội đa văn hoá. Do đó người Australia là “một dân tộc đặc biệt, kết quả của sự gặp gỡ giữa các dân tộc của nhiều quốc gia, ngôn ngữ và văn minh khác nhau”.

Đức tin Kitô giáo được mang vào bởi những người di dân đến từ Âu châu. Nhiều linh mục và tu sĩ nối gót theo họ, và sự tận tụy mục vụ và việc giáo dục đã giúp những người di dân sống đời sống Kitô giáo trong một vùng đất mới lạ. Những ơn gọi linh mục và tu sĩ địa phương và nhiều giáo dân đã góp phần thiết yếu của mình tại Australia cho sự lớn mạnh Giáo Hội và sự hoàn thành sứ mạng của Giáo Hội. Trong số đó, có một nữ tu nổi bật, Chân phước Mary Mackillop, mất năm 1909 và tôi đã vui mừng phong Á Thánh năm 1995. Trong dịp này tôi nhắc lại rằng “khi tuyên bố bà là “Chân Phước“ Giáo Hội muốn nói sự thánh thiện do Tin Mừng đòi hỏi cũng mang tính Australia như bà là người Australia”. Mối liên hệ của Giáo Hội với các thổ dân và những Torres Strait Islanders vẫn là vấn đề quan trọng và khó khăn do những bất công quá khứ và hiện tại và do những khác biệt văn hoá. Bên cạnh sự thách đố này, Giáo Hội tại Australia bây giờ đương đầu với “những hoang địa“ thời nay giống như những hoang địa trong các nước phương Tây.

Những cư dân nguyên gốc của New Zealand, một quốc gia đảo, là dân Maori, họ gọi xứ sở của họ là Aotearoa, “Đất Mây Trắng Lớn”. Việc thuộc địa hoá và sự di dân sau này đã tạo hình quốc gia nên một xã hội hai văn hoá, nơi đây sự hội nhập văn hoá Maori và phương Tây còn là một thách đố khẩn cấp. Các nhà truyền giáo nước ngoài đầu tiên rao giảng Tin Mừng cho dân Maori. Rồi khi những người thực dân Âu châu đến với số đông hơn, thì các linh mục và tu sĩ cũng đến và giúp duy trì và phát triển Giáo Hội. Những phát triển hiện đại đã biến New Zealand thành một xã hội đô thị hoá và tục hoá hơn, nơi mà Giáo Hội giáp mặt với những thách đố giống như ở Australia. Dầu giữa dân Công Giáo có một “ý thức gia tăng là mình thuộc về Giáo Hội”, nhưng cũng nhận thật rằng nói chung thì “cảm thức về Thiên Chúa và sự quan phòng yêu thương của Người đã giảm sút”. “Một xã hội tục hoá thể đó cần phải được đối chiếu trở lại bởi toàn diện Tin Mừng cứu độ trong Chúa Giêsu Kitô”.

Papua New Guinea thì rộng nhất trong các nước Melanesian. Đó là một xã hội Kitô giáo chiếm ưu thế với nhiều ngôn ngữ địa phương khác nhau và một sự phong phú đa dạng văn hoá. Cũng như những quốc gia nhỏ hơn thuộc đảo Melanesian, Papua New Guinea đã dành lại độc lập chính trị trong thời gian mới đây, và lịch sử của nó từ đó được tạo thành hình bởi những đấu tranh cho nền dân chủ vững bền hơn, cho công bình xã hội và cho sự phát triển cân đối và toàn vẹn của dân mình. Những sự đấu tranh này tại Papua New Guinea và trong những phần khác thuộc Melanesia mới đây được đánh dấu bằng bạo động và những phong trào ly khai, do đó dân chúng và các thể chế gánh chịu đau khổ nặng nề. Các nhà lãnh đạo Giáo Hội và nhiều người Kitô hữu đã nỗ lực nhiều để mang lại hoà bình và hoà giải, và điều này phải tiếp tục rõ ràng trong một hoàn cảnh vẫn còn bấp bênh.

Những đảo quốc thuộc Polynesia và Micronesia thì tương đối nhỏ, mỗi nước có tiếng nói và văn hoá riêng của nó. Các nước đó cũng đang đương đấu với những sức ép và thách đố của thế giới ngày nay, gây ảnh hưởng lớn trên xã hội của họ. Không để mất căn tính mình hay là bỏ rơi những giá trị truyền thống mình, các nước đó muốn chia sẻ sự phát triển phát sinh từ sự tác động qua lại phức tạp và trực tiếp hơn với các dân tộc và văn hoá khác. Điều đó chứng minh có một sự cân bằng tế nhị trong những xã hội nhỏ bé và dễ bị thương tổn này, trong đó có một số nước đang đương đầu với một tương lai không chắc chắn, không những do sự di dân qui mô rộng lớn, mà còn do mặt nước biển dâng lên vì địa cầu đang nóng lên. Đối với họ, thà là khí hậu thay đổi còn hơn là vấn đề kinh tế.

7. Truyền Giáo và Văn Hoá

Đầu thế kỷ 16, khi các nhà truyền giáo nước ngoài tới Châu Đại Dương lần đầu tiên, các dân đảo đã nghe và đã chấp nhận Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô. Trong số những người đã bắt đầu và thực hiện công trình truyền giáo có những vị thánh và tử đạo; và họ không những là vinh quang lớn nhất của thời quá khứ Giáo Hội tại Châu Đại Dương, mà còn là nguồn mạch chắc chắn nhất của hy vọng cho tương lai. Nổi bật giữa những chứng nhân đức tin này là Thánh Peter Chanel, tử đạo năm 1841 trên đảo Futuna, Chân phước Diego Luis de San Vitores và Chân phước Pedro Calungsod cùng bị giết năm 1672 tại Guam, Chân phước Giovanni Mazzuconi tử đạo năm 1851 trên đảo Woodlark, và Chân phước Peter To Rot, bị giết tại New Britain năm 1945, lúc kết thúc Thế Chiến Thứ Hai. Với nhiều vị khác, những vị anh hùng này của đức tin Kitô giáo góp phần, mỗi người theo cách riêng mình, vun trồng Giáo Hội vào trong các đảo Châu Đại Dương. Ước gì kỷ niệm của các vị không bao giờ bị lãng quên. Xin các vị không bao giờ ngừng cầu bàu cho các dân tộc yêu quí mà các vị đã đổ máu cho!

Khi các nhà truyền giáo lần đầu tiên mang Tin Mừng đến cho dân Bản xứ (Aboriginal) hay Maori, hay là cho các nước đảo, họ đã gặp những dân tộc đã có một cảm thức lâu đời và thâm sâu về sự thánh thiêng. Những thực hành và nghi lễ tôn giáo là phần chính yếu của đời sống hằng ngày của họ và thâm nhập triệt để các nền văn hoá của họ. Các nhà truyền giáo mang chân lý Tin Mừng không phải xa lạ cho một ai; nhưng thỉnh thoảng một số vị tìm cách áp đặt những nhân tố xa lạ về mặt văn hoá với dân tộc đó. Bây giờ cần phân biệt cẩn thận để thấy cái gì thuộc về Tin Mừng và cái gì không, cái gì là thiết yếu và cái gì ít thiết yếu hơn. Nhiệm vụ đó, cần phải nói, trở thành khó khăn hơn do tiến trình thực dân hoá và hiện đại hoá, làm mập mờ đường ranh giới giữa cái gì là bản xứ và cái gì là du nhập vào.

Các dân tộc cổ truyền của Châu Đại Dương làm thành một tấm khảm gồm nhiều nền văn hoá khác nhau: Thổ dân (Aboriginal), Melanesian, Polynesian và Micronesian. Từ thời thực dân, văn hoá phương Tây cũng đã tạo hình cho vùng đất này. Trong những năm gần đây, những văn hoá Á châu cũng là thành phần của hiện tình văn hoá, đặc biệt tại Australia. Mỗi một nhóm văn hoá, khác nhau về tầm vóc và sức mạnh, có những truyền thống riêng của mình và kinh nghiệm riêng của mình về việc hội nhập trong đất mới. Chúng sắp xếp từ những xã hội có những nét truyền thống và công cộng mạnh, cho tới những xã hội nhiều nét phương Tây và tân thời theo dấu ấn. Tại New Zealand, và còn hơn nữa tại Australia, những chính sách thuộc địa và hậu thuộc địa về di dân đã biến dân tộc bản xứ thành một thiểu số trong quê hương mình và, bằng nhiều cách thức, là một nhóm văn hoá bị tước quyền sở hữu.

Một trong những nét nổi bật nhất của các dân tộc Châu Đại Dương là cảm giác mãnh liệt của họ về cộng đồng và liên đới trong gia đình và bộ lạc, trong làng xóm láng giềng. Điều này có nghĩa là những quyết định đạt được bởi sự đồng thuận, phải qua một quá trình dài và phức tạp đối thoại mới thành toàn. Được Chúa đánh động, cảm giác tự nhiên của dân chúng về cộng đồng làm cho họ tiếp nhận mầu nhiệm hiệp thông ban tặng trong Chúa Kitô. Giáo Hội tại Châu Đại Dương chứng tỏ một tinh thần thật sự hợp tác, trải dài tới các cộng đồng Kitô hữu khác nhau và tới mọi người có thiện chí. Lòng tôn kính sâu xa đối với truyền thống và uy quyền cũng là thành phần của những văn hoá truyền thống tại Châu Đại Dương. Do đó nẩy sinh cảm giác liên đới của thế hệ hiện nay với những người đi trước họ, và uy quyền khác thường được dành cho cha mẹ và những kẻ lãnh đạo theo truyền thống.

Tính đa dạng văn hoá của Châu Đại Dương không tránh khỏi tiến trình hiện đại hoá khắp thế giới với những hậu quả vừa tích cực vừa tiêu cực. Điều chắc là những thời hiện tại gây nên một nét mới và cao hơn cho các giá trị nhân bản, như sự tôn trọng những quyền bất khả nhượng của con người, việc đưa vào những thủ tục dân chủ trong hành chánh và chính phủ, sự từ chối chấp nhận nạn nghèo đói cấu trúc như là một điều kiện không thể thay thế, sự loại trừ nạn khủng bố, tra tấn và bạo hành như những phương tiện để thay đổi chính trị, quyền được giáo dục, được chăm sóc sức khoẻ và có nhà ở cho mọi người. Những giá trị này, thường đâm rễ trong Kitô giáo – dầu không công khai – đang gây ảnh hưởng tích cực tại Châu Đại Dương, và Giáo Hội chỉ có thể làm hết sức mình để khuyến khích tiến trình này.

Nhưng sự hiện đại hoá cũng có những hậu quả tiêu cực của nó trong vùng, làm cho những xã hội truyền thống tranh đấu để giữ nguyên căn tính mình khi tiếp xúc với những xã hội tục hoá và đô thị hoá phương Tây và với ảnh hưởng ngày càng lớn của những di dân Á châu. Ví dụ, các Giám Mục nói về việc giảm bớt dần dần cảm thức tôn giáo tự nhiên, điều đó đưa tới sự mất phương hướng trong đời sống luân lý và lương tâm của dân. Một phần lớn Châu Đại Dương, cách riêng Australia và New Zealand đã lâm vào một thời đại đánh dấu bằng sự tục hoá đang gia tăng. Trong đời sống dân sự, tôn giáo, cách riêng Kitô giáo, bị đưa ra rìa và có khuynh hướng bị coi như là một vấn đề hoàn toàn riêng tư cho từng cá nhân, ít thích hợp với đời sống công. Những xác tín tôn giáo và những hiểu biết sâu sắc về đức tin thỉnh thoảng bị chối từ vai trò đào tạo lương tâm dân chúng. Cũng vậy, tiếng nói của Giáo Hội và các đoàn thể tôn giáo khác bị giảm sút. Trong thế giới ngày nay, tiến bộ hơn về mặt kỹ thuật, sự hiểu biết nhiều hơn về bản tính và cách cư xử con người, và những phát triển chính trị và kinh tế khắp thế giới đặt ra những vấn đề mới và khó khăn cho các dân tộc Châu Đại Dương. Khi trình bày Chúa Giêsu là Đường, là sự Thật, và là sự Sống, Giáo Hội phải đáp ứng bằng nhiều cách mới và hiệu năng cho những vấn đề luân lý và xã hội này, mà không bao giờ để cho tiếng nói của mình tắt đi hay chứng tá của mình bị loại bỏ.

Khoá Họp Đặc Biệt Thượng Hội Đồng

8. Chủ Đề

Những gợi ý của Hội Nghị Tiền Thượng Hội Đồng, tìm đăng ký những quan tâm của các Giám Mục Đại Dương châu, đưa tới kết quả là chủ đề được chọn cho Khoá Họp Đặc Biệt tại Châu Đại Dương: Chúa Giêsu Kitô và các dân tộc Đại Dương Châu, Đi Con Đường của Người, Nói sự Thật của Người, Sống đời Sống của Người. Chủ đề được linh hứng bởi những lời Tin Mừng Thánh Gioan, nơi Chúa Giêsu qui chiếu về mình như là Đường, sự Thật và sự Sống (14, 6), và chủ đề nhắc lại lời mời của Chúa trải dài tới tất cả các dân tộc Đại Dương Châu: họ được mời gặp Người, tin vào Người, và loan truyền Người như là Chúa mọi người. Chủ đề cũng nhắc Giáo Hội tại Châu Đại Dương rằng Giáo Hội tập hợp với nhau thành dân Chúa đang trên đường về với Chúa Cha. Nhờ Chúa Thánh Thần, Chúa Cha kêu gọi những tín hữu – từng cá nhân và tập thể – đi con đường Chúa Giêsu đã đi, nói cho tất cả các quốc gia nghe sự thật Chúa Giêsu đã mạc khải, sống đầy đủ sự sống Chúa Giêsu đã sống, và tiếp tục chia sẻ với chúng ta ngày nay.

Chủ đề thích hợp cách đặc biệt cho Giáo Hội tại Châu Đại Dương ngày nay, là vì các dân tộc Thái Bình Dương đang tranh đấu cho sự thống nhất và căn tính, giữa những điều đó có sự quan tâm về hoà bình, công lý và sự nguyên vẹn của tạo vật, và nhiều người đang tìm ý nghĩa của sự sống. Chỉ khi chấp nhận Chúa Giêsu Kitô như là Đường, thì các dân tộc Đại Dương Châu mới gặp được điều họ đang tìm kiếm và tranh đấu. Con đường của Chúa Kitô không thể bước đi mà không có một sự ước muốn nồng nhiệt truyền giáo, và trọng tâm sứ vụ Giáo Hội là rao giảng Chúa Giêsu Kitô là Chân Lý hằng sống – một chân lý được mặc khải, một chân lý được giải thích, được hiểu và đón nhận trong đức tin, một chân lý truyền thông tới những thế hệ mới. Chân lý của Chúa Giêsu luôn luôn lớn hơn chính chúng ta, lớn hơn tâm lòng chúng ta, bởi vì nó phát xuất từ những vực thẳm của Chúa Ba Ngôi, và đó là một chân lý đòi hỏi Giáo Hội đáp trả các vấn đề và các thách đố ngày nay. Trong ánh sáng Tin Mừng, chúng ta khám phá Chúa Giêsu là sự sống, sự sống của Chúa Kitô cũng được dâng hiến như một ân sủng chữa lành, ân sủng này làm cho nhân loại có thể nên điều mà Đấng Sáng Tạo muốn họ trở nên. Sống sự sống Chúa Kitô bao hàm sự kính trọng sâu xa đối với mọi sự sống. Cũng bao hàm một linh đạo sống động và một nền luân lý đích thực, được củng cố bởi Lời Chúa trong Kinh Thánh và được cử hành trong các Bí Tích của Giáo Hội. Khi các Kitô hữu sống sự sống của Chúa Kitô với đức tin sâu sắc hơn, thì niềm hy vọng của họ hoá nên mãnh liệt hơn và đức ái của họ sáng chói hơn. Đó là mục đích của Thượng Hội Đồng và đó là mục đích của việc tân phúc âm hoá, mà Thần Khí kêu gọi toàn thể Giáo Hội phải thực hiện.

9. Kinh Nghiệm

Điều xứng hợp là Khoá Họp Thượng Hội Đồng khởi sự trong ngày lễ trọng Chúa Kitô Vua, khi Giáo Hội mừng Chúa Giêsu là Chúa, trong Người Nước Chúa được thiết lập khắp thế giới và trong toàn bộ lịch sử.

Trong thời gian Khoá Họp, ngày càng thấy rõ rằng chính Chúa Kitô là Đấng dẫn đường, chính Người ngự trị giữa Khoá Họp. Những phụng vụ khai mạc và bế mạc sáp nhập những dấu chỉ và những biểu tượng rút ra từ các nền văn hoá đảo Thái Bình Dương như là những biểu tỏ của đức tin và niềm tôn kính. Trong một sự pha trộn độc đáo, những lễ nghi này diễn tả sự hợp nhất đức tin trong tính đa dạng của phụng tự Công giáo, và chứng tỏ cách hoàn toàn nổi bật làm thế nào đức tin Công Giáo có thể đạt tới những bờ biển xa nhất của Đại Dương, và mọi người tìm được nhà mình nơi Giáo Hội Công Giáo. Như là một sự trao đổi biểu trưng quà tặng, những phụng vụ bày tỏ sự hiệp thông thâm sâu giữa Giáo Hội Roma và các Giáo Hội địa phương Đại Dương Châu.

Các Giám Mục mang tới Vatican số vốn phong phú của những kinh nghiệm và những kho tàng văn hoá của họ, và đáp lại, họ được củng cố trong mối dây ràng buộc hiệp thông địa phương và phổ quát, điều đó đối với họ là một sự tươi mới trọng đại và là một sự khích lệ cho tương lai.

Những nét riêng biệt của Giáo Hội tại Châu Đại Dương đưa tới điều quan trọng nầy là tập hợp một Khoá Thượng Hội Đồng riêng biệt. Các Giám Mục tại Châu Đại Dương được tổ chức thành bốn Hội Đồng liên kết với nhau thành Liên Hội Đồng Giám Mục Công Giáo tại Châu Đại Dương (F.C.B.C.O). Tổng số Giám Mục tương đối ít, điều này cho phép Thượng Hội Đồng triệu tập tất cả các Giám Mục hoạt động, đại diện tất cả các Giáo Hội địa phương.

Đối với nhiều người tham dự đây là một cuộc khám phá thật sự những ân huệ tôn giáo, những nền văn hoá và những lịch sử của các dân tộc Đại Dương Châu. Họ ý thức hơn về những ân sủng thường bị ẩn giấu hay là không được biết tới mà Chúa đã ban cho Giáo Hội mình, và điều này cũng là nguồn mạch an ủi lớn. Việc đối thoại và sự nhận thức rõ của Thượng Hội Đồng khai mở những con mắt tâm lòng và linh hồn để thấy rõ điều cần phải làm hầu sống đức tin Kitô giáo đầy đủ và hiệu nghiệm hơn. Đã có nhiều lý do ngợi khen và cảm tạ Chúa vì những kho tàng được khám phá và đánh giá trở lại.

Về phía các Giám Mục, Khoá Họp là một kinh nghiệm tình huynh đệ và sự hiệp thông xung quanh Toà Phêrô. Vì diễn ra tại Vatican, Khoá Họp cho phép tất cả những tham dự viên “cảm nghiệm như ở nhà “ với Giám Mục Rôma. Nó cũng cho phép Giám Mục Rôma “cảm nghiệm như ở nhà “ với các Giám Mục và nghe các ngài đánh giá kinh nghiệm độc nhất về tính phổ quát của Giáo Hội. Cảm giác về sự hợp nhất và trung thành vượt thắng những khoảng cách to lớn về địa lý và văn hoá giữa Rôma và Châu Đại Dương. Kinh nghiệm này là một trong những ân huệ Chúa Kitô, vì lòng tốt của Người, đã ban cho trong kỳ họp Thượng Hội Đồng.

Cũng vậy, giữa các ngài với nhau, các Giám Mục kinh nghiệm một cảm giác mới và mạnh hơn về căn tính và hiệp thông. Nhiều vị thường bị phân cách bởi những khoảng cách lớn, và sự giao thông đều đặn không phải dễ. Đối với Giáo Hội xét toàn thể, sự khác biệt văn hoá tại Châu Đại Dương là một thách đố liên tục phải làm việc cho sự hợp nhất lớn hơn.

Các Giám Mục muốn tăng cường sự hiệp thông của mình và giúp các dân tộc Đại Dương Châu làm việc với nhau cách hữu hiệu hơn. Các Giáo Hội địa phương trong vùng này của thế giới là một phần độc đáo trong Giáo Hội hoàn vũ. Như vậy, các ngài nhận thức rằng các ngài có thể và phải đóng góp những ân huệ riêng của mình cho Giáo Hội rộng lớn hơn. Tôi cầu nguyện, qua Thượng Hội Đồng, xin cho các Giám Mục tại Châu Đại Dương cảm thấy hơn bao giờ hết rằng mình tuỳ thuộc lẫn nhau và, cùng với những Giáo Hội địa phương mình, các ngài tuỳ thuộc đầy đủ vào Giáo Hội phổ quát, mà các ngài mang đến cho một sự phong phú đặc thù.

Điều có ý nghĩa là Khoá Họp Thượng Hội Đồng xảy ra trong lúc chuẩn bị trước mắt Đại Năm Thánh năm 2000. Sắc lệnh loan báo Năm Thánh, Mầu nhiệm Nhập Thể, được công bố trong thời gian Thượng Hội Đồng, và chính Khoá Họp là một thuận lợi cho Giáo Hội tại Châu Đại Dương để chuẩn bị lãnh hồng ân Năm Thánh.

Chắc chắn Khoá Họp đã giúp các Giáo Hội ở Thái Bình Dương mừng Năm Thánh với những cố gắng mới mẻ đem lại sự hoà giải và hoà bình, vì ý thức hơn bao giờ rằng “Giáo Hội, đã nhận lãnh từ Chúa Kitô quyền tha thứ nhân danh Người, thì trong thế giới Giáo Hội là sự hiện diện sống động của tình yêu của Chúa, Đấng hướng về với tất cả sự yếu hèn nhân loại hầu đón nhận nó với lòng thương xót của Người”.

Năm Thánh có thể sinh một hoa quả kỳ diệu nếu Giáo Hội tại Châu Đại Dương, được tăng cường bằng nhiều cách bởi kinh nghiệm của Thượng Hội Đồng, vẫn tiếp tục thi hành những hiểu biết sâu sắc và những lời mời gọi của Năm Thánh theo những đường hướng nói trong Tông Thư Novo Millennio Ineunte. Vì Năm Thánh đã công bố những vực thẳm vô cùng về lòng thương xót của Chúa mạc khải trong Chúa Kitô, nên nó cũng khích động những nghị lực mới về nhiệm vụ phải đương đầu với những thách đố mà Thượng Hội Đồng nhận ra và bàn cãi. “Trong tình yêu tha thứ của Người một trời mới và một đất mới đã được công bố”: ước chi sự mơ ước trời mới và đất mới không bao giờ ngưng lôi kéo các dân tộc Đại Dương Châu một cách sâu xa hơn vào trong sự đổi mới cuộc sống.

CHƯƠNG II: ĐI CON ĐƯỜNG CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ TẠI CHÂU ĐẠI DƯƠNG

“Đi một quãng nữa, Người thấy hai anh em khác con ông Dêbêđê, là ông Giacôbê và người em là ông Gioan. Hai ông này cùng với cha là ông Dêbêđê vá lưới ở trong thuyền. Người gọi các ông. Lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo người”. (Mt 4, 21-22)

Giáo Hội như là sự hiệp thông

10. Mầu nhiệm và Ân ban

Khi Chúa Giêsu đi dọc theo bờ biển Galilêa Người đã kêu gọi người ta đi theo làm môn đệ. Người kêu mời họ đi con đường của Người, nói được là đi theo vết chân Người. “Được thúc đẩy bởi Chúa Thánh Thần, Giáo Hội phải đi cũng một con đường như Chúa Kitô đã đi, và Giáo Hội chỉ tất cả chúng ta, kết hợp với nhau như một thân thể nhận lãnh ảnh hưởng ban sự sống của nó từ Chúa Giêsu”. Con đường của Chúa Giêsu luôn luôn là con đường truyền giáo; và bây giờ Người đang gọi những môn đệ Người đi rao giảng Tin Mừng một lần nữa cho các dân tộc Đại Dương Châu, để rồi văn hoá và việc rao giảng Tin Mừng sẽ gặp nhau trong cách thức làm giàu lẫn nhau và Tin Mừng sẽ được nghe, được tin và được sống sâu xa hơn. Sứ vụ này đâm rễ sâu trong mầu nhiệm hiệp thông.

Công Đồng Vatican II chọn khái niệm hiệp thông như là thích hợp cách riêng để diễn tả mầu nhiệm thẳm sâu Giáo Hội; và Khoá Họp Thượng Hội Đồng Bất Thường năm 1985 làm cho chúng ta ý thức hơn về sự hiệp thông như là chính con tim của Giáo Hội.

Như vậy các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã tuyên bố: “Giáo Hội chủ yếu là một mầu nhiệm hiệp thông, một dân nên một với sự hiệp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Sự chia sẻ này với sự sống của Ba Ngôi Cực Thánh là nguồn mạch và là sự linh hứng cho tất cả tương quan Kitô giáo và cho tất cả mọi hình thức hiệp nhất Kitô hữu”. Sự hiểu biết này là bối cảnh thiêng liêng và giáo lý của tất cả những thảo luận của Thượng Hội Đồng. Nó được hoàn thành và được chiếu soi trong sự hiểu biết về Giáo Hội như là Dân Chúa và là cộng đoàn môn đệ. Giáo Hội như sự hiệp thông, nhìn nhận sự bình đẳng cơ bản của mọi người tín hữu Chúa Kitô, giáo dân, tu sĩ và người được phong chức. Sự hiệp thông được tạo hình và được làm sinh động do những ân huệ chức vụ và đoàn sủng của Chúa Thánh Thần”.

Sự hiệp thông Giáo Hội là một ân huệ của Ba Ngôi Cực Thánh, mà đời sống nội tại thẳm sâu được chia sẻ cách kỳ diệu nhất với nhân loại. Sự hiệp thông là hoa quả do sáng kiến yêu thương của Thiên Chúa, sáng kiến đó hoàn thành trong Mầu Nhiệm Phục Sinh của Chúa Kitô, nhờ đó mà Giáo Hội chia sẻ trong sự hiệp thông tình yêu thần linh giữa Chúa Cha và Chúa Con trong Chúa Thánh Thần. “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta (Rm 5, 5). Trong ngày lễ Hiện Xuống, sự Vượt Qua của Chúa Kitô được hoàn thiện qua sự đổ tràn Thần Khí, Đấng ban cho chúng ta những hoa quả đầu mùa của gia tài chúng ta, một sự chia sẻ trong sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi, sự chia sẻ đó cho phép chúng ta yêu “như Chúa đã yêu chúng ta (1 Ga 4, 11).

11. Giáo Hội Địa phương và Phổ quát

Trong Khoá Họp Thượng Hội Đồng, các Giám Mục đeo đuổi cách riêng quan điểm về Giáo Hội như sự hiệp thông. Các ngài nhấn mạnh những khía cạnh của sự tuỳ thuộc và của tương quan liên vị gặp được trong sự hiểu biết về Giáo Hội như là Dân Chúa. Sự hiệp thông Giáo Hội được diễn tả và sống cách đặc biệt bởi Giáo Hội địa phương tập hợp xung quanh Giám Mục, người dân là những cộng tác viên của ngài trong việc truyền giáo.

Với tư cách Mục Tử, mỗi Giám Mục tìm kiếm cổ võ sự hiệp thông qua thừa tác vụ mình, là một sự chia sẻ trong nhiệm vụ mục tử, ngôn sứ và tư tế của Chúa Kitô. Dấu chỉ và hiệu quả sự hiệp thông này được mô tả trong sách Tông Đồ Công Vụ: “Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý (4, 32). Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng thấy một biểu tỏ rất thực tiễn của tinh thần này trong việc soạn thảo một chương trình mục vụ, phối hợp với giáo dân và các tổ chức của họ. Điều này bảo đảm rằng chương trình phát xuất từ linh đạo hiệp thông mà Công đồng Vatican II cổ võ.

Sự hiệp thông giữa các Giáo Hội địa phương đặt nền tảng trên sự hiệp nhất đức tin, bí tích Rửa tội và Thánh Thể, nhưng cũng đặt nền trên sự hiệp nhất của hàng Giám Mục. Sự hiệp thông của Giáo Hội bao gồm tất cả các Giáo Hội địa phương qua các Giám Mục của mình, các ngài liên kết với Giám Mục Rôma như là đầu hữu hình của Giáo Hội. “Giám Mục đoàn hợp nhất dưới quyền Đấng Kế Vị Thánh Phêrô thực hiện một diễn tả có uy quyền về sự hiệp thông của Giáo Hội”.

Sự hiệp nhất của hàng Giám Mục tồn tại mãi qua các thế kỷ nhờ có sự kế tục tông đồ; trong mọi thời đại đó là nền tảng căn tính của Giáo Hội, do Chúa Kitô xây dựng trên Phêrô và tập đoàn các Tông đồ. Người Kế Vị Thánh Phêrô thật sự là “nguyên lý vững bền của sự hiệp nhất và là nền móng hữu hình của Giáo Hội. Chính Chúa đã giao phó cho Phêrô và những người Kế Vị ngài phải củng cố anh em trong đức tin (Lc 22, 32), và nuôi dưỡng đàn chiên Chúa Kitô (Ga 21, 15-17). Giữa các Giám Mục có một mối giây liên kết diễn tả sự hiệp thông cách cá nhân hay tập thể – koinonia – đó là đặc điểm của toàn thể sự sống của Giáo Hội. Trong Giám Mục Đoàn các ngài cùng nhau chia sẻ thừa tác vụ nuôi dưỡng sự hiệp nhất dân Chúa trong đức tin và đức mến”.

Thượng Hội Đồng phát biểu niềm hy vọng là tương quan giữa các Giáo Hội địa phương và Giáo Hội phổ quát, cách riêng Tòa Thánh, phản chiếu và xây dựng sự hiệp thông, và những tương quan này phát triển với sự quan tâm phải có đối với thừa tác vụ Phêrô hiệp nhất và với sự tôn trọng thích hợp các Giáo Hội địa phương.

Các Giáo Hội địa phương tại Châu Đại Dương nhận biết mình chia sẻ sự hiệp thông của Giáo Hội hoàn vũ, và thấy đó là một nguyên nhân để vui mừng. Mặc dầu những nền văn hoá khác biệt sâu xa và những khoảng cách to lớn tại Châu Đại Dương, các Giám Mục địa phương thấy mình liên kết với nhau và với Giám Mục Rôma, và các ngài thấy đó là một hồng ân. “Giữa người Kế Vị Thánh Phêrô và những kẻ kế vị các Tông Đồ khác, thật sự có một giây ràng buộc thiêng liêng và mục vụ sâu xa; đó là tập đoàn tính hữu hiệu và trìu mến của chúng ta. Ước gì chúng ta luôn luôn tìm ra những phương cách giúp đỡ nhau trong những cố gắng liên kết giữa chúng ta để xây dựng Hội Thánh và sống sự hiệp thông này trong phục vụ và đức tin”.

Với tư cách là anh em trong Giám Mục Đoàn, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nói lên rõ ràng ý muốn tăng cường sự hiệp nhất của mình với Giám Mục Rôma; và chính Giám Mục Rôma được thúc đẩy và khích lệ bởi ý muốn của các ngài.

12. Sự làm phong phú cho nhau

Một dấu chứng và khí cụ của tập đoàn tính và hiệp thông giữa các Giám Mục là Hội Đồng Giám Mục, một “sự hiệp nhất năng lực để phục vụ ích chung của các Giáo Hội”, điều này góp phần trong nhiều cách cho việc thực hiện tinh thần tập đoàn. Có nhiều lãnh vực trong đó các Hội Đồng Giám Mục đã thiết lập những tương quan có kết quả.

Việc trao đổi những hồng ân là một đặc điểm của nhiều phần đất tại Châu Đại Dương và có thể dùng như một kiểu mẫu cho những tương quan tích cực giữa các Giám Mục tại Châu Đại Dương và với những vị khác. Kiểu mẫu này khuyến khích một sự trao đổi các ân huệ thiêng liêng nuôi dưỡng các tương quan tình yêu, tôn trọng và tín nhiệm nhau.

Các Giáo Hội Công Giáo Tây phương đã đến Châu Đại Dương trong những thời gian tương đối mới, và đã thiết lập chính mình như là một diễn tả phong phú của tính Công Giáo trong những phần khác biệt của Châu Đại Dương, cách riêng Australia. Các Giáo Hội đó cho thấy bằng chứng có ý nghĩa về sự khác biệt và hiệp nhất của Giáo Hội phổ quát với lịch sử và những truyền thống độc đáo của mình.

Tại Thượng Hội Đồng, điều rõ ràng là các Giáo Hội Công Giáo Đông phương ý thức được tính quảng đại của Giáo Hội Công Giáo Latin tại Châu Đại Dương. Qua nhiều năm, thường trong những hoàn cảnh khó khăn, các Giám Mục, linh mục và các giáo xứ đã dành các Nhà Thờ và trường học của mình cho các Giáo Hội ấy sử dụng, và những giây ràng buộc về tình huynh đệ và hợp tác tiếp tục ở mọi cấp bậc. Những Giáo Hội đó còn có thể bị xúc phạm vì con số tương đối nhỏ các tín hữu của họ và khoảng cách lớn chia cắt họ với các Giáo Hội Mẹ của họ, và người của họ có thể cảm thấy bị bắt buộc hay bị cám dỗ đồng hoá mình với Giáo Hội Latin đang vượt trội.

Thượng Hội Đồng còn cho thấy rõ các Giám Mục Latin tại Châu Đại Dương muốn đánh giá, hiểu biết và cổ võ những truyền thống, phụng vụ, kỷ luật và thần học của các Giáo Hội Công Giáo Đông phương. Do đó, sự ý thức và sự hiểu biết ngày càng tăng về những kho tàng của các Giáo Hội Công Giáo Đông phương, là điều hệ trọng giữa những người Công Giáo Latin.

Thách đố đối với Giáo Hội tại Châu Đại Dương là phải đạt tới một sự hiểu biết sâu xa hơn về hiệp thông địa phương và phổ quát, và về một sự thực hành hiệu nghiệm hơn những điều được gợi ý thực tiễn. Vị Tiền Nhiệm của tôi Đức Phaoô VI đã thu tóm thách đố đó trong những lời này: “Sự hiệp thông trước tiên, sự hiệp nhất trước tiên, là về đức tin. Sự hiệp nhất trong đức tin là điều cần thiết và cơ bản. Phương diện thứ hai của sự hiệp thông Công Giáo là phương diện bác ái. Chúng ta phải thực hành, với những phương diện Giáo Hội của nó, một đức bác ái kiên định và tích cực hơn”.

Các dân tộc Đại Dương Châu tự bẩm sinh có một sự hiểu biết mãnh liệt về tính cộng đồng, nhưng sự hiệp nhất trong đức tin chỉ đạt được nếu sự hoà giải và tình yêu thay thế xung đột và hận thù. Trong những nền văn hoá Tây hoá của xứ sở, những cơ chế xã hội ở dưới sự căng thẳng và dân chúng đói khát một đời sống xứng với con người hơn. Nơi nào chủ nghĩa cá nhân đe doạ đục khoét cấu trúc của xã hội con người, Giáo Hội tự hiến mình như là một bí tích chữa lành, là một nguồn mạch của sự hiệp thông đáp ứng với những cơn đói thâm sâu nhất cõi lòng. Một hồng ân như thế rõ ràng bây giờ cần thiết giữa các dân tộc Đại Dương Châu.

CHƯƠNG III: NÓI SỰ THẬT VỀ CHÚA GIÊSU KITÔ TẠI CHÂU ĐẠI DƯƠNG

Tân Phúc Âm Hoá

18. Rao giảng Tin Mừng tại Đại Dương Châu

Việc rao giảng Tin Mừng là sứ vụ của Giáo Hội nói cho thế giới nghe sự thật về Thiên Chúa được mạc khải trong Chúa Giêsu Kitô. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng mong mỏi rằng sự hiệp thông phải là chủ đề và là cùng đích của mọi sự rao truyền Tin Mừng tại Châu Đại Dương và là nền tảng cho mọi kế hoạch mục vụ. Trong việc rao giảng Tin Mừng, Giáo Hội bày tỏ sự hiệp thông nội tại của mình và hành động như một thân thể duy nhất, ra sức đem tất cả nhân loại về hiệp nhất trong Thiên Chúa qua Chúa Kitô. Tất cả mọi người đã nhận lãnh bí tích Rửa Tội có trách nhiệm rao giảng Tin Mừng trong lời nói và hành động cho thế giới họ đang sống. Tin Mừng phải được nghe tại Châu Đại Dương bởi mọi người, tin và không-tin, người bản xứ và di dân, người giàu và người nghèo, người trẻ và người cao tuổi. Thật vậy tất cả những người này đều có quyền nghe Tin Mừng, điều này có nghĩa là các Kitô hữu có một bổn phận triệt để phải chia sẻ Tin Mừng với họ. Một cuộc tân Phúc Âm hoá ngày nay là cần thiết để cho mỗi người có thể nghe, hiểu và tin vào lòng nhân từ của Thiên Chúa dành cho mọi người trong Chúa Giêsu Kitô.

Trong Khoá Họp Đặc Biệt, các Giám Mục chia sẻ kho tàng phong phú của mình về kinh nghiệm mục vụ và của những người làm việc thân cận nhất với các ngài, và như vậy các ngài cùng nhau nhận ra những viễn ảnh mới cho tương lai Giáo Hội tại Châu Đại Dương. Nhiều vị nói tới những gian khổ của sự cô lập, của sự cần thiết vượt qua những khoảng cách mênh mông và của đời sống trong những môi trường khắc nghiệt. Đồng thời, các ngài cũng thuật lại những kinh nghiệm rất tích cực về sự tươi tắn đức tin và hiệp thông khi người ta đón nhận Tin Mừng và khám phá tình yêu của Thiên Chúa. Các Giám Mục cũng nói tới những hy vọng và sợ hãi, những thành công và thất bại và sự lớn mạnh hay sa sút của các Giáo Hội địa phương tại Châu Đại Dương. Một số vị cảm thấy Giáo Hội tại Châu Đại Dương nói chung, đang ở tại bước ngoặt, tìm kiếm những lựa chọn quan trọng cho ngày mai. Các ngài biết rằng những hoàn cảnh mới trong vùng rộng lớn này có nhiều thách đố, và thời gian đã chín mùi để trình bày Tin Mừng lại cho các dân tộc Thái Bình Dương, hầu họ có thể nghe Lời Chúa với đức tin mới mẻ và gặp được sự sống dồi dào hơn trong Chúa Kitô. Nhưng muốn làm được vậy, các ngài đồng ý, cần có nhiều phương cách và phương pháp rao giảng Tin Mừng, linh hứng bởi đức tin sâu sắc hơn, bởi hy vọng và yêu mến Chúa Giêsu.

Như bước đầu trong sự “đổi mới tâm trí“ cần thiết (Rm 12, 2), các Giám Mục nói rất tích cực về nhiều cố gắng áp dụng những chỉ thị của Công đồng Vatican II. Các ngài nhấn mạnh rằng phải xây dựng trên những chỉ thị đó, và điều này bao hàm sự cần phải có những sáng kiến khác để tăng cường đức tin của những kẻ đã lớn nhưng còn yếu kém và để trần bày đức tin một cách xác tín hơn cho toàn thể xã hội. Lời kêu gọi đổi mới là một lời kêu gọi rao giảng cho thế giới sự thật về Chúa Giêsu Kitô bằng cách làm chứng về Người, cho dầu phải tới chỗ hy sinh cao nhất là tử đạo. Giáo Hội tại Châu Đại Dương bây giờ được kêu gọi đạt tới đó; và đó là lý do giải thích tại sao có Khoá Họp Đặc Biệt Thượng Hội Đồng Giám Mục.

Xét đến hoàn cảnh tại Châu Đại Dương, tiếng Chúa kêu gọi có thể dễ dàng không được nghe, do sự biến đổi toàn cầu ảnh hưởng đến căn tính văn hoá và những cơ chế xã hội trong vùng. Một số vị sợ rằng những thay đổi này có thể xói mòn những nền móng đức tin, và đưa tới sự mỏi mệt tinh thần và làm ngã lòng. Trong những lúc đó, chúng ta cần nhớ rằng Thiên Chúa ban sức lực chiến thắng những cơn cám dỗ ấy. Đức tin của chúng ta vào Chúa giống như một ngôi nhà xây dựng trên đá tảng. “Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá” (Mt 7, 25). Nhờ quyền lực Chúa Thánh Thần, Giáo Hội tại Châu Đại Dương đang chuẩn bị một cuộc tân Phúc Âm hoá cho dân chúng mà ngày nay đang đói khát Chúa Kitô. “Đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ” (2 Cr 6, 2).

Nhiều Nghị Phụ Thượng Hội Đồng lên tiếng âu lo cho vị trí công khai của đức tin Kitô giáo tại Châu Đại Dương, các ngài ghi nhận rằng đức tin đó ít gây ảnh hưởng trong các chính sách liên quan đến công ích, nền luân lý chung và sự thi hành công lý, hiện trạng hôn nhân và gia đình, hay quyền của chính sự sống. Một số Giám Mục nói rõ rằng huấn giáo của Giáo Hội đôi khi bị cả những người Công Giáo chất vấn. Trong chừng mực điều đó là thật, thì điều chắc chắn không gây ngạc nhiên là tiếng nói của Giáo Hội ít có ảnh hưởng trong đời sống công cộng.

Những thách đố của tính hiện đại và hậu-hiện-đại thì tất cả những Giáo Hội địa phương tại Châu Đại Dương đều kinh nghiệm, nhưng với một sức lực riêng biệt bởi những Giáo Hội trong những xã hội bị ảnh hưởng mãnh liệt nhất bởi thuyết tục hoá, chủ nghĩa cá nhân và hưởng thụ. Nhiều Giám Mục nhận ra nhưng dấu hiệu xói mòn đức tin và việc thực hành Công Giáo trong những cách sống của một số người, đến chỗ họ chấp nhận một quan điểm hoàn toàn phàm tục như mực thước phán đoán và cư xử. Về phương diện này, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã lưu ý các người Kitô hữu, ngài nói “điều nguy hiểm là qui mọi sự về chủ nghĩa nhân đạo phàm tục, mà quên chiều kích luân lý và thiêng liêng của sự sống và chấm dứt việc lo đến quan hệ cần thiết của chúng ta với Đấng Sáng Tạo”. Giáo Hội phải hoàn thành sứ vụ rao giảng Tin Mừng trong một thế giới không ngừng tục hoá. Cảm giác về Thiên Chúa và về sự Quan Phòng đầy tình yêu của Chúa giảm sút đối với nhiều người và có khi đối với toàn bộ các bộ phận trong xã hội. Sự thờ ơ thực tế đối với những chân lý và giá trị tôn giáo làm vẩn đục gương mặt của tình yêu thần linh. Do đó, “giữa những ưu tiên của cách đổi mới việc rao giảng Tin Mừng, phải trở về với cảm thức sự thánh thiêng, về với ý thức Thiên Chúa là trung tâm trong toàn sự sống con người”. Một cuộc tân Phúc Âm hoá là điều ưu tiên số một cho Giáo Hội tại Châu Đại Dương. Nói chung, sứ vụ của Giáo Hội thì đơn giản và rõ ràng: lại một lần nữa cống hiến cho xã hội loài người Tin Mừng nguyên vẹn về sự cứu rỗi trong Chúa Giêsu Kitô. Giáo Hội được sai đến thế giới hiện nay, đến những người nam và người nữ thời đại chúng ta, “để rao giảng Tin Mừng … kẻo Thập Giá Chúa Kitô bị mất đi quyền lực của nó. Bởi vì lời của Thập giá… là quyền lực của Thiên Chúa” (1 Cr 1,17-18 ). (64)

Tân Phúc Âm Hóa (Tiếp theo)

19. Những tác nhân của việc Phúc Âm hóa

Cũng như các Tông đồ, các Giám Mục được sai tới các Giáo Phận mình như những chứng nhân quan trọng nhất cho Chúa Kitô Phục Sinh. Tựu họp xung quanh Đấng Kế Vị thánh Phêrô, các ngài làm thành một tập đoàn có trách nhiệm loan báo Tin Mừng ra khắp thế giới. Trong Khoá Họp Đặc Biệt vì Châu Đại Dương, các Giám Mục thừa nhận rằng các ngài chính là những người đầu tiên được kêu gọi sống một đời sống Kitô đổi mới và chứng nhân. Việc học hỏi có tính chất cầu nguyện hơn về Kinh Thánh và Thánh Truyền sẽ dẫn các ngài tới một sự hiểu biết sâu xa hơn và yêu mến đức tin. Bằng cách này, với tư cách là những Mục Tử của dân mình, các ngài sẽ đóng góp hiệu nghiệm hơn cho công trình tân Phúc Âm hoá. Như sách Tông Đồ Công Vụ làm sáng tỏ, đặc điểm nổi bật của sứ vụ tông đồ linh hứng bởi Chúa Thánh Thần, là lòng can đảm rao giảng “Lời Chúa cách mạnh dạn” (4, 31). Lòng can đảm này được ban cho các Tông Đồ để đáp ứng lời cầu nguyện của toàn thể cộng đồng: “Xin cho các tôi tớ Ngài đây được nói lời Ngài với tất cả sự mạnh dạn” (4, 29). Cũng một Thần Khí hôm nay ban cho các Giám Mục khả năng nói rõ ràng và mạnh dạn khi phải đương đầu với một xã hội cần nghe lời chân lý Kitô giáo. Những người Công Giáo tại Châu Đại Dương tiếp tục cầu nguyện sốt sắng hầu, cũng như các Tông Đồ, các vị Mục Tử của họ sẽ là những chứng nhân can đảm cho Chúa Kitô; và Đấng Kế Vị thánh Phêrô kết hợp với các ngài trong lời cầu nguyện này.

Cùng với các Giám Mục, tất cả mọi người tín hữu – giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân – được kêu gọi rao truyền Tin Mừng. Sự hiệp thông của họ tự diễn tả trong một tinh thần hợp tác, điều đó chính là một chứng tá hùng mạnh cho Tin Mừng. Các linh mục là những cộng sự viên gần gũi nhất và là sự nâng đỡ lớn nhất trong công trình rao giảng Tin Mừng, cách riêng trong những cộng đồng giáo xứ được giao phó cho họ coi sóc. Các linh mục dâng Lễ Tế của Chúa Kitô cho những nhu cầu của cộng đồng, hòa giải những tội nhân với Chúa và với cộng đồng, tăng sinh lực cho người bịnh khi họ đang đi về sự sống đời đời, và như vậy cho phép toàn thể cộng đồng làm chứng cho Tin Mừng trong cả lúc sống và chết. Những người nam và nữ trong đời sống thánh hiến là những dấu chỉ sống động cho Tin Mừng. Những lời khấn đức khó nghèo Tin Mừng, đức khiết tịnh và đức vâng phục là những con đường chắc chắn đưa tới sự hiểu biết và yêu mến Chúa Kitô sâu xa hơn, và nhờ sống thân mật với Chúa như vậy mà họ có được sự phục vụ thánh hiến cho Giáo Hội, chứng tỏ một ân sủng kỳ diệu tại Châu Đại Dương. Người giáo dân cũng giữ vai trò của họ bằng cách dâng hiến thế giới cho Thiên Chúa, và nhiều kẻ trong họ có một ý thức sâu xa về vai trò trách nhiệm của họ trong sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội. Qua chứng tá tình yêu trong Bí tích Hôn nhân hay là qua sự cống hiến quảng đại của những kẻ được kêu gọi sống độc thân, qua sinh hoạt của họ trong thế giới bất chấp sự gì xảy ra, người giáo dân có thể và phải nên một chất men thật sự trong mọi góc cạnh xã hội tại Châu Đại Dương. Sự thành công của việc tân Phúc Âm hoá tuỳ thuộc phần lớn vào sự kiện này.

Một việc loan truyền mới về Chúa Kitô phải xuất hiện từ sự đổi mới bên trong của Giáo Hội, và tất cả sự đổi mới trong Giáo Hội phải coi việc truyền giáo như là cùng đích của mình nếu không muốn làm mồi cho một thứ trạng thái hướng nội. Tất cả mọi phương diện của sứ vụ Giáo Hội đối với thế giới phải được sinh ra từ một sự đổi mới nhờ chiêm ngắm gương mặt Chúa Kitô. Việc đổi mới này, tới phiên nó, phát sinh những chiến lược mục vụ cụ thể; và về phương diện này, Khoá Họp Đặc biệt đã mời những cộng đồng địa phương góp phần vào việc tân Phúc Âm hoá bằng một tinh thần thân hữu trong các buổi phụng vụ của họ, trong các sinh hoạt xã hội và tông đồ của họ; bằng cách tiếp xúc với những người không sống đạo và những người Công Giáo thờ ơ; bằng cách tăng cường căn tính các trường học Công Giáo; bằng cách cung cấp những tiện ích cho những kẻ trưởng thành lớn lên trong đức tin của họ nhờ những chương trình học hỏi và đào tạo; bằng cách dạy và giải thích giáo lý Công Giáo cách hiệu nghiệm cho những kẻ ở ngoài cộng đồng Kitô giáo; và bằng cách mang học thuyết xã hội của Giáo Hội để gán cho đời sống công dân tại Đại Dương Châu. Kết quả của những sáng kiến này và những sáng kiến liên minh là Tin Mừng sẽ được trình bày cho xã hội cách xác tín hơn và ảnh hưởng đến văn hoá sâu rộng hơn.

20. Tính Ưu Tiên Của Việc Rao Giảng Tin Mừng

Lời Chúa được rao giảng hầu đem nhân loại gần gũi với Chúa qua đức tin vào Chúa Kitô. Chúng ta thấy quyền lực của việc rao giảng Tin mừng tác động trong cộng đồng tiên khởi tại Giêrusalem. “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng“ (Cv 2, 42). Đó là bản chất của đời sống Giáo Hội, hoa quả của việc rao giảng Tin Mừng tiên khởi. Sự gắn bó với Chúa Giêsu Kitô có được là do tin Lời Chúa được Giáo Hội rao giảng. Thánh Phaolô hỏi, “Làm sao có thể rao giảng nếu không được sai đi ?” (Rm 10, 15); và thật sự Chúa Kitô đã sai các Tông Đồ mà “tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển“ (Tv 19, 5).

Như “những chứng nhân chân lý của Chúa và Giáo Hội”, các vị thừa sai tại Châu Đại Dương đã rảo khắp trên đất dưới biển, vượt qua những sa mạc và sông ngòi, và đương đầu với nhiều khó khăn văn hoá khi hoàn thành công trình khác thường của các ngài. Được linh hứng bởi lịch sử về sự sinh ra của Giáo Hội tại Châu Đại Dương, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cảm thấy cần phải rao giảng Tin Mừng cách can đảm và đổi mới trong thời đại chúng ta.

Giáo hội đương đầu với hai thách đố khi ra sức rao giảng Tin Mừng tại Châu Đại Dương: một đàng, những tôn giáo và văn hoá truyền thống, và đàng khác, tiến trình tục hoá hiện nay. Trong mỗi trường hợp, “nhiệm vụ đầu tiên và khẩn cấp nhất là rao giảng Chúa Kitô Phục Sinh qua một sự gặp gỡ cá nhân có thể đem người thính giả tới chỗ cải thiện tâm hồn và xin bí tích Rửa Tội”. Mặc dầu đương đầu với tôn giáo truyền thống hay khoa minh triết, Giáo Hội vẫn rao giảng bằng lời nói và hành động để cho biết “chân lý ở nơi Chúa Giêsu Kitô (Ep 4, 21; x. Cl 1, 15-20). Trong ánh sáng của sự thật này, Giáo Hội dấn thân bàn luận về các giá trị và những nguyên tắc đạo đức mang lại hạnh phúc cho đời sống con người và an bình cho xã hội.

Đức tin phải luôn luôn được trình bày một cách mạch lạc có lý, ngõ hầu giúp nó có khả năng thấm nhiễm vào trong những lãnh vực hết sức rộng rãi hơn của kinh nghiệm con người. Thật sự, đức tin có sức tạo đường nét cho chính nền văn hoá bằng cách thâm nhập vào văn hoá tới cốt lõi của nó. Cảnh giác với truyền thống Kitô giáo và những thay đổi văn hoá hiện nay, lời đức tin và lý trí phải đi đôi với chứng tá đời sống nếu muốn cho việc rao giảng sinh hoa quả. Nhưng trên hết, điều cần thiết là một sự rao giảng không e sợ về Chúa Kitô, “một parrhesia của đức tin”.

21. Phúc Âm Hoá Và Các Phương Tiện Truyền Thông

Trong thế giới ngày nay, các phương tiện truyền thông xã hội ngày càng có sức mạnh như những tác nhân của hiện đại hoá, dầu trong những phần hẻo lánh nhất Châu Đại Dương. Các phương tiện truyền thông gây ảnh hưởng lớn trên đời sống dân chúng, trên nền văn hoá của họ, trên những suy tư luân lý của họ và trên cách cư xử tôn giáo của họ; và, khi sử dụng bừa bãi, chúng có thể gây ảnh hưởng tai hại trên các nền văn hoá truyền thống. Các Nghị Phụ kêu gọi phải cảnh giác hơn với thế lực của các phương tiện truyền thông, những phương tiện này “mang đến một điều kiện tuyệt hảo để Giáo Hội rao giảng Tin Mừng, xây dựng cộng đồng và tình liên đới”.

Thật sự các phương tiện truyền thông thường giúp Giáo Hội tiếp xúc với những người Công Giáo không sống đạo hay cộng đồng to lớn. Do đó, chúng phải được sử dụng cách sáng tạo và có trách nhiệm. Nơi nào có thể, Giáo Hội phải nghĩ ra một chương trình mục vụ truyền thông ở cấp bậc quốc gia, giáo phận và giáo xứ. Sự phối hợp những nỗ lực của Giáo Hội là điều cần thiết để bảo đảm việc chuẩn bị tốt hơn cho những người đại diện Giáo Hội trong các phương tiện truyền thông, và để khuyến khích những giáo dân đã cống hiến đời mình vào nghề truyền thông như là một ơn gọi. Đó là một dấu hy vọng vì các Kitô hữu làm việc trong ngành truyền thông nêu rõ sự dấn thân mình cho các giá trị Kitô giáo.

Với sự giúp đỡ của họ, tài liệu và những chương trình tôn giáo phản ảnh các giá trị luân lý nhân bản có thể được sản xuất chuyên nghiệp, cho dầu tiền tài trợ thường là một vấn đề. Một trung tâm truyền thông Công Giáo cho toàn thể Châu Đại Dương có thể giúp ích nhiều bằng cách dùng các phương tiện truyền thông với mục đích rao giảng Tin Mừng.

Các Giám Mục cũng bày tỏ quan tâm về những tiêu chuẩn đúng đắn trong các phương tiện truyền thông công cộng và các ngài tố giác mức độ bạo hành chúng nó đã đạt. Các nhà lãnh đạo Giáo hội cần cộng tác dự thảo những qui luật đạo đức cho các phương tiện truyền thông; còn các gia đình và giới trẻ cần được giúp đỡ trong việc phê phán đánh giá nội dung các chương trình. Do đó các cơ chế giáo dục Công Giáo đóng một vai trò thiết yếu để giúp đỡ dân chúng, cách riêng giới trẻ, biết phê phán đánh giá các phương tiện truyền thông. Đức tin Kitô giáo thách đố tất cả chúng ta phải trở nên những kẻ nghe, thấy và đọc biết suy xét và nhận thức đúng đắn.

Ngành quảng cáo có một quyền lực to lớn để khuyến khích cả sự tốt lẫn sự xấu. Tiến trình toàn cầu hoá và kiểu mẫu ngày càng nhiều về những độc quyền trong ngành truyền thông còn có tác động lớn hơn trên dân chúng. Qua hình ảnh và sự gợi ý, ngành quảng cáo thường phổ biến một thứ văn hoá của chủ nghĩa hưởng thụ, dồn dân chúng vào cái gì họ có hay phải dành cho được. Quảng cáo dẫn dân chúng tới chỗ tin tưởng là không có gì ngoài điều mà một nền kinh tế hưởng thụ cung cấp cho. “Quan tâm lớn nhất với quyền lực này là, hầu hết, nó không ngừng quảng bá một ý thức hệ xung đột rõ ràng với cái nhìn của đức tin Công Giáo”.

Do đó điều quan trọng là người tín hữu, cách riêng giới trẻ, phải được trang bị để đối phó cách quyết định với quảng cáo là một phần có mặt luôn trong cuộc sống ngày nay. Điều này có nghĩa là họ phải có một nhận thức rõ và mạnh về các giá trị nhân bản và Kitô giáo, những giá trị này là điều cơ bản cho sự thấu hiểu Công Giáo về sự sống con người.

Thách Đố Của Đức Tin Ngày Nay

22. Dạy Giáo Lý

Sứ vụ Giáo Hội phải “nói sự thật về Chúa Giêsu Kitô“ tại Châu Đại Dương ngày nay kêu gọi Giáo Hội đổi mới việc dạy giáo lý, việc hướng dẫn và đào tạo trong đức tin. Ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông trên đời sống dân chúng cho thấy điều cần thiết là thực tại xã hội mới đòi hỏi những phương cách mới để trình bày đức tin. Việc dạy giáo lý nhằm giáo dục trẻ con, giới trẻ và người lớn trong đức tin. Nó bao hàm cách riêng “việc dạy giáo lý Kitô giáo đã được sắp xếp cách hữu cơ và có hệ thống với mục đích kết nạp những người nghe vào sự viên mãn của đời sống Kitô giáo”.

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đề nghị một sự dấn thân lớn hơn về cả hai mặt tài chánh và nhân sự, hầu tiếp xúc được các nhóm người dễ bị bỏ quên. Sự cần thiết mở những khoá học phổ thông cho người lớn và trẻ con có nhu cầu riêng, vì không thể đi học tại các trường Công Giáo, đòi hỏi phải có sự chăm sóc cách riêng và chương trình có hệ thống. Nền tảng của mọi quyền nhân bản là sự tự do tôn giáo, bao gồm cả quyền được dạy dỗ trong đức tin. “Mọi người đã được rửa tội, chính vì đã được rửa tội, có quyền nhận lấy từ Giáo Hội việc dạy dỗ và giáo dục cho phép họ đi vào một đời sống thực sự Kitô giáo”.

Điều này đòi hỏi các chính phủ và thẩm quyền nhà trường phải bảo đảm rằng quyền này trên thực tế được tôn trọng. “Nơi nào có sự cộng tác đích thực giữa chính phủ và Giáo Hội trong việc cung cấp và điều hành nhà trường, thì việc giáo dục các trẻ em và thanh niên trong nước được tiến triển nhiều”. Các tu sĩ nam và nữ, giáo dân và giáo sĩ đã gắng sức hoàn thành mục đích này, thường với cố gắng phi thường và nhiều hy sinh. Công trình của họ cần được củng cố và trải rộng để bảo đảm rằng tất cả những kẻ đã được rửa tội lớn lên trong đức tin và sự hiểu biết chân lý về Chúa Kitô.

23. Đại kết

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng thấy sự chia rẽ giữa các Kitô hữu là một ngăn trở lớn đối với sự tín nhiệm vào chứng tá của Giáo Hội. Các ngài bày tỏ lòng ước muốn tha thiết cho gương xấu chia rẽ không còn tiếp tục và thực hiện những cố gắng mới hoà giải và đối thoại, ngõ hầu vẻ huy hoàng của Tin Mừng có thể chói sáng cách rõ ràng hơn.

Trong nhiều vùng truyền giáo ở Châu Đại Dương, những khác biệt giữa các Giáo Hội và Cộng đồng Giáo Hội đã đưa tới, trong quá khứ, sự cạnh tranh và đối nghịch. Nhưng trong những thời gian gần đây, các quan hệ đã trở nên tích cực và huynh đệ hơn. Giáo Hội tại Châu Đại Dương đã dành cho việc hiệp nhất quyền ưu tiên cao và đã mang lại một sự mới mẻ và cởi mở đối với những sinh hoạt hiệp nhất. Người ta hoan nghênh những cơ hội “đối thoại về ơn cứu rỗi“ nhằm hiểu nhau và làm giàu cho nhau hơn.

Lòng ước muốn mãnh liệt hiệp nhất trong đức tin và việc thờ phượng là một trong những ân ban của Chúa Thánh Thần cho Châu Đại Dương; và sự hợp tác trong các lãnh vực bác ái và công bình xã hội là một dấu chứng rõ ràng tình huynh đệ Kitô giáo. Sự hiệp nhất đã gặp đất tốt để bắt rễ tại Châu Đại Dương, bởi vì nhiều nơi các cộng đồng địa phương sống liên kết chặt chẽ. Một lòng muốn còn mãnh liệt hơn được hiệp nhất trong đức tin sẽ giúp giữ những cộng đồng này với nhau. Lòng muốn này giúp hiệp thông sâu xa hơn trong Chúa Kitô được biểu trưng tại Thượng Hội Đồng bởi sự hiện diện của những đại biểu anh em từ các Giáo Hội khác và những Cộng Đồng Giáo Hội. Việc tham dự của họ khuyến khích và giúp tiến đến sự hiệp nhất mà Chúa Kitô mong muốn.

Trong việc hiệp nhất, điều cần thiết là các người Công Giáo phải am hiểu hơn về giáo lý, truyền thống và lịch sử Giáo Hội, để khi hiểu biết đức tin của mình cách thâm sâu hơn, họ sẽ có khả năng hơn để dấn thân trong cuộc đối thoại và hợp tác. Cũng có một nhu cầu cho “sự hiệp nhất thiêng liêng“, nghĩa là một sự hiệp nhất trong cầu nguyện và cải tạo tâm hồn. Kinh nguyện hiệp nhất sẽ dẫn tới sự chia sẻ về sự sống và phục vụ, nơi mà các Kitô hữu cùng nhau làm nhiều theo sự có thể tại thời gian này. “Sự hiệp nhất thiêng liêng“ cũng có thể đưa tới cuộc đối thoại giáo lý, hay củng cố nó nơi nào nó đã hiện hữu. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng thấy điều rất hữu ích là có cách đại kết những bản văn Kinh Thánh và những kinh nguyện đã được chấp nhận để dùng chung. Các ngài muốn thấy sự quan tâm hơn đối với các nhu cầu mục vụ các gia đình mà thành viên thuộc các Cộng đồng Kitô giáo khác nhau. Các ngài cũng khuyên những cơ quan của Giáo Hội, nơi nào có thể, chia sẻ những trợ giúp xã hội với các công đồng Kitô giáo khác. Điều tốt là các người lãnh đạo Kitô giáo hành động trong hợp tác và đưa ra những tuyên ngôn chung về các vấn đề tôn giáo hay xã hội khi những tuyên ngôn đó là cần thiết và thích hợp.

25. Đối thoại liên tôn

Những cơ hội đi lại lớn hơn và sự di dân dễ dàng hơn mang lại những cuộc gặp gỡ trước kia không có giữa các nền văn hoá thế giới, và do đó tại Châu Đại Dương mới có những tôn giáo lớn phi-Kitô giáo.

Một số thành phố có những cộng đồng Do Thái, thành hình bởi số đông những người sống sót sau cuộc tàn sát người Do Thái, và những cộng đồng này có thể đóng một vai trò quan yếu trong các quan hệ Do Thái – Kitô giáo. Cũng trong một số nơi, có những cộng đồng Hồi Giáo thiết lập từ lâu; trong những nơi khác, có những cộng đồng người Hindu; và còn trong những nơi khác nữa, những trung tâm Phật Giáo được thiết lập. Điều quan trọng là các người Công Giáo hiểu rõ hơn các tôn giáo này, những huấn giáo, cách sống và thờ phượng của những tôn giáo này. Nơi nào cha mẹ từ những tôn giáo này và gia đình của họ nữa, ghi danh con cái mình vào học trong các trường Công Giáo, Giáo Hội có một trách nhiệm hết sức tế nhị.

Giáo Hội tại Châu Đại Dương cũng cần phải nghiên cứu thấu đáo hơn những tôn giáo truyền thống của các dân bản xứ, ngõ hầu bước vào cách hiệu quả hơn việc đối thoại mà sự loan truyền Kitô giáo đòi buộc. “Việc loan truyền và đối thoại, mỗi việc ở vị trí riêng của mình, là những bộ phận cấu thành và là những hình thức đích thực của sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội. Cả hai đều hướng về sự truyền thông chân lý cứu rỗi”. Muốn theo đuổi một cuộc đối thoại với các tôn giáo này, Giáo Hội cần những chuyên gia về triết học, nhân chủng học, về những tôn giáo tương đối, những môn khoa học xã hội và, hơn hết, về thần học.

Niềm Hy Vọng Cho Xã Hội

26. Huấn Giáo Của Giáo Hội Về Xã Hội

Giáo Hội xem việc tông đồ xã hội như là một phần nguyên vẹn của sứ vụ rao giảng Tin Mừng để nói một tiếng nói hy vọng cho thế giới; và sự dấn thân của Giáo Hội về phương diện này được thấy rõ trong việc Giáo Hội góp phần phát triển con người, cổ vô những quyền con người, bênh vực sự sống và phẩm giá con người, thăng tiến công bình xã hội và bảo vệ môi trường. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhất trí với giáo dân mình trong việc bày tỏ quyết tâm hành động chống những bất công, tham nhũng, những đe dọa sự sống và các hình thức mới nghèo nàn.

Cuối thế kỷ 19 khi xã hội tiêu thụ, kỹ nghệ đang ở trong thời kỳ phôi thai, Giáo Hội tại Châu Đại Dương tiếp nhận huấn giáo giáo hoàng về xã hội dạy rằng quyền người công nhân phải có việc làm và được trả lương tương xứng. Trong những xứ đang phát triển tại Châu Đại Dương, học thuyết xã hội của Giáo Hội được tiếp nhận tốt, nhất là từ sau Công Đồng Vatican II, và các Giám Mục Đại Dương Châu đã dạy học thuyết xã hội này cách hiệu nghiệm và áp dụng học thuyết đó cho các vấn đề xã hội đương thời.

Những phát biểu của Liên Hội Đồng Giám Mục Đại Dương Châu, của các Hội Đồng Giám Mục và của từng cá nhân các Giám Mục, phản chiếu một loạt đầy đủ huấn giáo về xã hội của Giáo Hội và nêu rõ sự kiện Giáo Hội đã cố gắng làm tiến triển vấn đề các dân bản xứ và những quyền của các nước nhỏ hơn, và tăng cường những giây ràng buộc về tính liên đới quốc tế. Giáo Hội cũng giúp phát triển những hình thức cai trị dân chủ biết tôn trọng nhân quyền, luật lệ và việc áp dụng luật lệ đó.

Điều chắc chắn là sự dấn thân vì công bằng xã hội và hoà bình là phần nguyên vẹn của sứ vụ Giáo Hội trong thế giới. Nhưng sứ vụ của Giáo Hội không lệ thuộc quyền lực chính trị. “Giáo Hội quan tâm đến những phương diện trần thế của công ích là vì những phương diện đó hướng về sự Thiện siêu đẳng, cùng đích của chúng ta”. Huấn giáo về xã hội của Giáo Hội cần được dạy và còn được thi hành hiệu nghiệm hơn tại Châu Đại Dương, cách riêng nhờ những cơ cấu như các ủy ban công lý và hoà bình. Huấn giáo về xã hội này phải được “trình bày rõ ràng cho người tín hữu bằng những lời lẽ dễ hiểu và được minh chứng bằng một kiểu sống đơn giản”.

Một sự phân tích kỹ hơn về bất công xã hội và nạn tham nhũng cần phải thực hiện để có thể đưa ra những giải pháp thích hợp hầu loại trừ được chúng. Những tổ chức Công Giáo dấn thân trong hoạt động vì công lý, được khuyến khích lưu ý tới những hình thức mới của cảnh nghèo và bất công và giúp loại trừ các nguyên nhân của chúng.

27. Những quyền con người

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng lưu ý rằng dân chúng Đại Dương Châu còn trở nên ý thức hơn nữa về phẩm giá con người, căn cứ trên sự kiện mọi người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa (x. St 1, 26). Sự tôn trọng con người lôi kéo theo sự tôn trọng những quyền bất khả xâm phạm phát xuất từ phẩm giá con người. Mọi quyền cơ bản có trước xã hội nên phải được xã hội công nhận. Không tôn trọng phẩm giá hay các quyền của một người nào khác là trái nghịch với Tin Mừng và phá hoại xã hội loài người. Giáo Hội khuyến khích giới trẻ và người trưởng thành phải trả lời cách hiệu nghiệm cho sự bất công và sự không tôn trọng những quyền con người, một số quyền đó hoặc bị đe doạ tại Châu Đại Dương hoặc cần phải được tôn trọng rộng rãi hơn.

Giữa những quyền này là quyền có công ăn việc làm, ngõ hầu người ta có thể chu cấp cho chính mình và nuôi dưỡng giáo dục một gia đình. Nạn thất nghiệp giữa giới trẻ là một quan tâm lớn, vì tại nhiều nước nó đưa tới tỷ lệ tự tử trong giới trẻ ngày càng cao. Các cộng đồng lao động có thể thực hiện một vai trò duy nhất trong việc bênh vực những quyền của giới lao động.

Muốn trung thành với ơn gọi của mình, các nhà chính trị, viên chức chính quyền và cảnh sát, phải ở lương thiện và tránh tham nhũng trong tất cả mọi hình thức, vì đó luôn luôn là một bất công nghiêm trọng đối với công dân. Bằng cách làm việc chung với các nhà chính trị, doanh nhân và lãnh đạo cộng đồng, những nhà lãnh đạo trong Giáo Hội có thể góp phần trợ giúp đáng kể trong việc thiết lập những chỉ dẫn đạo đức đối với những vấn đề ảnh hưởng tới công ích và trong việc bảo đảm cho những chỉ dẫn đó được thực hành.

Không nhất thiết phải là những chuyên viên trong ngành, các nhà lãnh đạo Giáo Hội cần được thông tin đầy đủ về những công việc kinh tế và ảnh hưởng của chúng trên xã hội. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng lặp đi lặp lại rằng một lý thuyết xem lợi nhuận là qui luật và là cùng đích duy nhất của hoạt động kinh tế, thì không thể chấp nhận về mặt luân lý”. Cái gọi là “chủ nghĩa duy lý kinh tế – economic rationalism” là một nguyên lý luôn có khuynh hướng chia rẽ người giàu với kẻ nghèo, cộng đồng với cá nhân.

Những quốc gia nhỏ hơn ở Châu Đại Dương dễ bị tấn công do những chính sách kinh tế căn cứ trên nền triết học xã hội kiểu này, bởi vì nền triết học đó ít có cảm thức về công bằng phân phối, và quá ít quan tâm bảo đảm cho mọi người có được những điều kiện cần thiết để sống và một sự phát triển con người toàn vẹn. Sự kiện các gia đình đau khổ do những chính sách kinh tế đó, thật đáng quan tâm. Các Giám Mục chỉ rõ một hiện tượng phá hoại khác tại Châu Đại Dương là sự lan tràn nạn cờ bạc, đặc biệt trong những sòng bạc, nơi hứa hẹn một giải pháp nhanh chóng và lý tưởng cho những nạn nghèo túng, nhưng thực ra chỉ đưa người ta vào trong một hoàn cảnh còn khó hơn nữa.

28. Các dân bản xứ

Những chính sách kinh tế bất công, đặc biệt gây thiệt hại cho các thổ dân, cho các quốc gia non trẻ và cho những nền văn hoá truyền thống của họ; và nhiệm vụ của Giáo Hội là giúp các nền văn hoá bản xứ bảo tồn được căn tính mình và duy trì những truyền thống của mình. Thượng Hội Đồng mãnh liệt khuyến khích Toà Thánh tiếp tục ủng hộ Tuyên ngôn Liên Hiệp Quốc về những quyền của các dân bản xứ.

Một trường hợp đặc biệt là trường hợp của cư dân bản xứ Australia mà nền văn hoá phải tranh đấu để sống còn. Qua nhiều ngàn năm họ đã tìm sống hài hoà với môi trường thường khắc nghiệt của “đất nước rộng lớn của mình; nhưng ngày nay căn tính và nền văn hoá của họ bị đe doạ nghiêm trọng. Nhưng, trong những thời gian mới đây hơn, những cố gắng liên kết của họ để bảo đảm sự sống còn và giữ được công bằng, đã bắt đầu sinh hoa kết quả.

Có một câu tục ngữ lấy từ đời sống cây rừng tại Australia, được nghe trong Phòng Thượng Hội Đồng: “Nếu các bạn đứng liên kết chặt chẽ, các bạn giống như một cây đứng giữa một đám cháy rừng quét qua thân gỗ: lá bị cháy sém, vỏ cứng chắc bị rỗ và bị đốt cháy, nhưng bên trong thân cây nhựa sống còn chảy, và dưới lòng đất rễ nó còn mạnh. Giống như cây đó, các bạn sống còn sau những ngọn lửa, và các bạn còn có sức sinh sản. Thời gian để tái sinh là bây giờ đây”.

Giáo Hội sẽ ủng hộ vấn đề của các dân bản xứ muốn có được một sự nhìn nhận công bằng và bình đẳng cho căn tính và những quyền của họ; và các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng bày tỏ sự ủng hộ cho những ước mong của dân bản xứ muốn có một giải pháp công bằng cho vấn đề phức tạp là mất quyền sở hữu đất đai của mình.

Bất cứ lúc nào sự thật bị các chính phủ hay các cơ quan chính phủ hay có khi các cộng đồng Kitô hữu gạt bỏ, thì những gì sai quấy đã làm đối với các dân bản xứ cần phải được nhìn nhận cách thành thật. Thượng Hội Đồng ủng hộ việc thiết lập “Những Ủy ban Chân Lý“, ở nơi nào mà những ủy ban này có thể giúp giải quyết những bất công lịch sử và mang lại sự hoà giải bên trong cộng đồng to lớn hơn hay là quốc gia. Quá khứ không thể sửa đổi, nhưng sự công nhận thành thật những bất công đã qua, có thể đưa tới những biện pháp và thái độ giúp sửa chữa những hậu quả tai hại cho hai bên cộng đồng bản xứ và xã hội rộng lớn hơn. Giáo Hội bày tỏ sự hối tiếc sâu xa và xin lỗi nơi nào con cái mình đã và còn tham gia vào những sai trái này.

Ý thức về những bất công xỉ hổ đã gây ra cho các dân bản xứ tại Châu Đại Dương, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng xin lỗi cách không dấu giếm về phần can dự vào những bất công đó do các thành viên của Giáo Hội, cách riêng nơi nào con cái bị ép buộc cách ly khỏi gia đình chúng. Các chính phủ được khuyến khích tiếp tục, với năng lực lớn hơn nữa, các chương trình cải thiện những hoàn cảnh và tiêu chuẩn sống của các nhóm bản xứ trong các lãnh vực thiết yếu y tế, giáo dục, việc làm và nhà ở.

29. Trợ Giúp Phát Triển

Đúng như trong Giáo Hội tiên khởi, một cộng đồng Kitô hữu liên kết chặt chẽ với cộng đồng khác bằng lòng mến khách đối với những khách lữ hành, bằng sự trợ giúp và sự chia sẻ những tài nguyên vật chất và nhân sự, tình liên đới thực tế giữa các Giáo Hội địa phương tại Châu Đại Dương làm cho thế giới thấy rõ sự hiệp thông.

Nhiều nền kinh tế quốc gia tại Châu Đại Dương còn tùy thuộc vào sự nâng đỡ quốc tế và cần một sự cung cấp liên tục về sự trợ giúp phát triển. Đang khi sự trợ giúp phát triển kinh tế xã hội được các cơ quan quốc tế cung cấp cách quảng đại, thì Giáo Hội thấy khó hơn để được sự trợ giúp trực tiếp cho các chương trình mục vụ của mình, cho dù nhiều chương trình này vượt xa biên giới của cộng đồng Công Giáo.

Do hoàn cảnh đó, Thượng Hội Đồng khuyên bảo những cơ quan tài chánh liên hệ với Giáo Hội phải xét lại những tiêu chuẩn của mình ngõ hầu mở ra các tài nguyên của mình để giúp các công trình tông đồ, một điều kiện tiên quyết cần thiết cho việc phát triển xã hội, việc phát triển này cần để thăng tiến những tiêu chuẩn đời sống.

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng xin “Giáo Hội trong những phần đất giàu có Châu Đại Dương chia sẻ những tài nguyên của mình với những Giáo Hội địa phương khác trong Thái bình dương, cũng như hợp tác với các Giáo Hội đó trong việc thiết lập những mối liên kết với các cơ quan tài chánh“. Giáo Hội tại Châu Đại Dương cũng không thể dửng dưng với số phận những Giáo Hội nghèo hơn tại Á châu láng giềng, mỗi khi họ cần giúp đỡ và phục vụ. Thượng Hội Đồng thừa nhận những đóng góp quảng đại về tiền của và tài nguyên của dân Công Giáo cho các chương trình cứu trợ, và cách riêng cho công trình của cá nhân giáo dân dấn thân trong những hoàn cảnh thường rất khó khăn hầu cải thiện những hoàn cảnh con người tại Châu Đại Dương.

 

Chú Thích:

  • (91) Cf. Propositio 17.

  • (92) Cf. Propositio 17.

  • (93) Catechism of the Catholic Church, 2420.

  • (94) Propositio 17.

  • (95) Cf. Catechism of the Catholic Church, 2273.

  • (96) Ibid., 2424.

  • (97) Propositio 17.

  • (98) Cf. Propositio 18.

  • (99) John Paul II, Address to Aboriginal People, Alice Springs (29 November 1986), 8: AAS 79 (1987), 976; cf. Propositio 18.

  • (100) Cf. John Paul II, Address to Aboriginal People, Alice Springs (29 November 1986), 10: AAS 79 (1987), 976-977.

  • (101) Cf. Propositio 18.

  • (102) Cf. Propositio 17.

  • (103) Cf. Propositio 18.

  • (104) Cf. Propositio 16.

  • (105) Ibid.

Đức Ông Phêrô Nguyễn Quang Sách

Những Công Việc Từ Thiện

32. Các Cơ Chế Công Giáo

Lịch sử Giáo Hội tại Châu Đại Dương không thể thuật lại mà không nói tới lịch sử những đóng góp đáng kể của Giáo Hội trong lãnh vực giáo dục, chăm sóc sức khoẻ và hạnh phúc xã hội. Các cơ chế Công Giáo cho phép ánh sáng Tin Mừng thấm nhiễm những nền văn hoá và xã hội, Phúc Âm hoá chúng từ bên trong, có thể nói như vậy. Nhờ công trình của các thừa sai Kitô, những con đường bạo lực xưa cũ đã nhường bước cho những tiêu chuẩn luật pháp và công lý.

Nhờ giáo dục các nhà lãnh đạo Kitô giáo và những công dân trách nhiệm đã được đào tạo, và những giá trị luân lý Kitô giáo đã trở thành bộ khung cho xã hội. Qua các chương trình giáo dục của mình, Giáo Hội nhắm đào tạo trọn vẹn con người, xem chính Chúa Kitô là sự viên mãn của nhân loại. Việc tông đồ bác ái minh chứng sự viên mãn của tình yêu Kitô không những trong lời nói mà còn trong việc làm. Tình yêu thể đó đưa dân chúng đến chỗ kinh ngạc về những nguồn gốc của nó và làm cho họ tự hỏi tại sao Kitô hữu lại khác trong những giá trị và cách cư xử của mình. (110) Nhờ bác ái tông đồ như thế, Chúa Kitô đánh động đời sống những kẻ khác, và đưa họ tới một cảm giác lớn hơn về điều đáng nói và xây dựng một “nền văn minh tình yêu”. (111)

Giáo Hội tận dụng tự do tôn giáo trong xã hội để công khai rao giảng Chúa Kitô và chia sẻ tình yêu của Người qua các cơ chế linh hứng bởi tình yêu này. Quyền của Giáo Hội xây dựng những cơ chế giáo dục, chăm sóc sức khỏe và phục vụ xã hội, là dựa trên sự tự do này. Việc tông đồ của những cơ chế này có thể hiệu nghiệm hơn khi các chính phủ không những cho phép việc làm này mà còn hợp tác trong lãnh vực này với các thẩm quyền Giáo Hội, công khai tôn trọng vai trò và khả năng chuyên môn của nhau.

33. Giáo Dục Công Giáo

Cha mẹ là những người giáo dục đầu tiên đối với con cái mình về các giá trị nhân bản và đức tin Kitô giáo, và họ có quyền cơ bản lựa chọn nền giáo dục xứng hợp cho con cái mình. Nhà trường giúp cha mẹ thi hành quyền này bằng cách giúp các sinh viên phát triển như họ đáng phải được. Trong một số hoàn cảnh, trường học Công Giáo là sự tiếp xúc duy nhất mà cha mẹ có được với cộng đồng của Giáo Hội.

Trường Công Giáo có một căn tính Giáo Hội, bởi vì nó là một phần của sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội. (112) Nhưng một nét phân biệt của sự giáo dục Công Giáo là nó được mở ra cho mọi người, cách riêng cho người nghèo và người yếu kém nhất trong xã hội. (113) Điều thiết yếu là trường học và giáo xứ phải cộng tác, và nhà trường phải hoà nhập vào chương trình mục vụ của giáo xứ, cách riêng về phương diện các bí tích Sám Hối, Thêm Sức và Thánh Thể.

Trong trường tiểu học, các thầy cô giáo phát triển khả năng trẻ em đối với đức tin và sự hiểu biết, những thứ đó sẽ nẩy nở đầy đủ các năm sau. Các trường trung học cung cấp cho một phương tiện ưu tiên nhờ đó “Cộng đồng Công Giáo trao cho học sinh một nền giáo dục tri thức, ơn gọi và tôn giáo”. (114) Trong những năm này, thông thường học sinh đi tới chỗ nhận định rõ hơn về đức tin và đời sống luân lý của mình, căn cứ trên một sự hiểu biết cá nhân về Chúa Giêsu Kitô như là Đường, sự Thật, và là sự Sống.

Một đức tin như thế, được nuôi dưỡng tại gia đình, tại trường và giáo xứ qua kinh nguyện và các Bí tích, xuất hiện trong một đời sống lành mạnh và đúng với luân lý. Thách đố lớn cho các trường Công Giáo trong một xã hội ngày càng tục hoá, là trình bày sứ điệp Kitô giáo một cách xác tín và hệ thống. Nhưng “việc dạy giáo lý có nguy cơ vô bổ, nếu không có cộng đồng đức tin và đời sống Kitô giáo, đón rước những kẻ được đào tạo đó”. (115) Do đó, giới trẻ cần được tháp nhập thật sự vào trong sự sống và sinh hoạt của cộng đồng.

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng muốn công nhận công trình của các tu sĩ nam nữ và của giáo dân đã làm việc cách quảng đại trong lãnh vực giáo dục Công Giáo, (116) thiết lập và làm việc tại các trường Công Giáo, thường phải đương đầu với khó khăn to lớn và hy sinh cá nhân lớn lao. Sự đóng góp của họ cho Giáo Hội và cho xã hội dân sự tại Châu Đại Dương thật là vô giá.

Trong bối cảnh giáo dục ngày nay, các dòng tu, các học viện và hiệp hội có tất cả lý do để yêu quí ơn gọi mình. Các nữ và nam thánh hiến là cần thiết trong các cơ chế giáo dục để triệt để minh chứng cho các giá trị Tin Mừng và nhờ vậy linh hứng các giá trị đó trong những cơ chế khác. Trong những thời gian gần đây, sự đáp trả quảng đại của giáo dân cho các nhu cầu mới đã mở ra những triển vọng mới cho nền giáo dục Công Giáo. Đối với người giáo dân tham gia, việc dạy học còn hơn là một nghề; đó là một ơn gọi đào tạo học sinh, là một sự phục vụ giáo dân phổ biến và cần thiết trong Giáo Hội. Việc dạy học luôn luôn là một thách đố; nhưng với sự hợp tác và khuyến khích của cha mẹ, của giáo sĩ và tu sĩ, sự dấn thân của giáo dân trong ngành giáo dục Công Giáo có thể nên một phục vụ quí báu cho Tin Mừng, và là một phương thức thánh hoá Kitô giáo cho cả thầy lẫn trò.

Căn tính và sự thành công của nền giáo dục Công Giáo liên kết chặt chẽ với chứng từ sự sống do ban giảng huấn nêu lên. Do đó, các Giám Mục khuyên “những kẻ trách nhiệm thuê mướn thầy và nhân viên điều hành trong các trường Công Giáo chúng ta phải lưu ý tới đời sống đức tin của những kẻ mình thuê mướn”. (117) Ban tham mưu nhà trường mà sống thật sự đức tin của mình, thì sẽ là những tác nhân của việc tân Phúc Âm hoá, nhờ tạo nên một bầu khí tích cực cho đức tin Kitô giáo lớn mạnh và nuôi dưỡng thiêng liêng những học sinh được giáo phó cho họ coi sóc. Họ sẽ mang lại kết quả cách đặc biệt khi họ là những người Công Giáo tích cực sống đạo, cam kết với cộng đồng giáo xứ mình và trung thực với Giáo Hội và với huấn giáo của Giáo Hội.

Ngày nay, Giáo Hội tại Châu Đại Dương nới rộng cam kết của mình trong ngành giáo dục. Người giáo dân Công Giáo chuyên nghiệp được giúp đỡ nhiều do các học viện cấp ba Công Giáo, các trường cao đẳng và đại học chuyên đào tạo, những học viện này nuôi dưỡng họ về mặt trí thức, đào tạo họ về mặt nghề nghiệp và nâng đỡ đức tin của họ để họ có thể giữ chỗ thích đáng của họ trong sứ vụ của Giáo Hội giữa thế giới. Sự phiêu lưu này trong ngành giáo dục cấp ba đang bắt đầu tại Châu Đại Dương và đòi phải có những ơn riêng khôn ngoan và thấu hiểu trong sự phát triển của nó. Những đại học Công Giáo là những cộng đồng góp chung những học giả từ các ngành khác nhau thuộc kiến thức nhân loại.

Họ tận tụy nghiên cứu, dạy học và làm những dịch vụ khác đúng với sứ mệnh văn hoá của họ. Danh dự và trách nhiệm của họ là hiến mình không dè dặt cho vấn đề chân lý. (118) Họ được kêu gọi tuân thủ những tiêu chuẩn cao nhất của việc nghiên cứu học thuật và của việc giảng dạy như là một sự phục vụ đối với các cộng đồng địa phương, quốc gia và quốc tế. Nhờ vậy, họ giữ một vai trò thiết yếu trong xã hội và Giáo Hội, chuẩn bị những nhà chuyên nghiệp và lãnh đạo mai sau, những người sẽ nhận lãnh trách nhiệm Kitô hữu cách nghiêm túc. Các Giám Mục thấy điều cần thiết là họ duy trì sự tiếp xúc cá nhân với các giáo sư và nuôi dưỡng những đức tính lãnh đạo trong những kẻ dấn thân trong lãnh vực giáo dục cấp ba.

Việc nghiên cứu và dạy học trong những cơ chế cấp ba phải mang những giá trị Kitô giáo vào trong các nghệ thuật và khoa học. Giáo Hội cần những người chuyên môn về triết học, đạo đức học và thần học luân lý ngõ hầu những giá trị nhân bản được hiểu đúng trong một xã hội ngày càng phức tạp về mặt kỹ thuật, và sự thống nhất của kiến thức không thể trọn vẹn trừ khi thần học được phép rọi ánh sáng trên hết những lãnh vực tìm hiểu. Phải lưu ý cách riêng trong việc tuyển chọn và huấn luyện sinh viên làm việc trong lãnh vực thần học. Hiến chế Tông đồ: Ex Corde Ecclesiae nói rằng đa số giáo sư tại các Đại học Công Giáo và các cơ chế cấp ba Công Giáo phải là những người Công Giáo tích cực. Những người trách nhiệm thuê mướn phải cẩn thận tuyển chọn giáo sư không những kinh nghiệm trong lãnh vực nghề nghiệp mà còn có nhiệm vụ làm gương cho giới trẻ”. (119) Sự hiện diện những người Công Giáo tận tụy trong các cơ chế cấp ba Công Giáo là điều cần thiết và tạo nên một việc phục vụ thật sự cho Giáo Hội và xã hội.

34. Chăm Sóc Sức Khoẻ

Chúa Giêsu đã đến chữa trị người bịnh và an ủi kẻ đau khổ. Trong tư cách Chúa Kitô Phục Sinh, Người tiếp tục sứ mạng chữa trị và an ủi của Người qua những kẻ mang lòng thương xót của Chúa tới dân chúng sống trong sự yếu đuối và đau khổ. Sứ mạng này của Giáo Hội tại Châu Đại Dương là bằng chứng hữu hình và xác thực nhất của tình yêu Chúa đối với nhiều người. Sứ mạng cứu thế của lòng thương xót, (120) của sự chữa trị và sự tha thứ, phải được tiếp tục cách hào phóng và thực hiện bằng những cách mới mẻ đáp ứng với những nhu cầu hiện nay.

Lịch sử việc chăm sóc sức khoẻ tại Châu Đại Dương chứng tỏ sự liên kết cụ thể giữa việc chăm sóc sức khoẻ và sứ mạng của Giáo Hội, và chứng tỏ nó bao gồm mọi phương diện chữa trị, kể cả việc cung cấp những trợ giúp thuốc men đơn giản nhất tại những vùng xa xôi. Giáo Hội đã ở trong số những người đầu tiên tiếp xúc với những kẻ bị những kẻ khác bỏ rơi, như trường hợp các người bịnh phung và những kẻ mắc bịnh HIV/AIDS. Giáo Hội cũng quản lý những bệnh viện đào tạo nơi những nhân viên chăm sóc được chuẩn bị cách xuất sắc. Do khủng hoảng hiện nay trong việc cung cấp và tài trợ sự chăm sóc thuốc men tại Châu Đại Dương, một số cơ chế bị căng thẳng gay gắt; nhưng sự kiện này không được phép làm phương hại đến việc dấn thân cơ bản của Giáo Hội trong lãnh vực này.

Huấn giáo Giáo Hội về phẩm giá con người và sự thánh thiện sự sống, cần được giải thích cho những kẻ trách nhiệm về luật pháp và những quyết định toà án, cách riêng từ khi họ có ảnh hưởng đến sự chăm sóc thuốc men, quản lý các bịnh viện và cung cấp những dịch vụ y tế. Ngày nay các bệnh viện Công Giáo và các cơ sở chăm sóc sức khoẻ Công Giáo, ở tuyến đầu của việc Giáo Hội cổ võ sự sống con người từ lúc thụ thai cho đến lúc chết tự nhiên.

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng công nhận sự tận tâm của các hội dòng tu sĩ đã thiết lập những hệ thống Công Giáo chăm sóc sức khoẻ khắp Châu Đại Dương. Giáo Hội và xã hội nói chung mắc nợ họ một món nợ to lớn về lòng biết ơn. Họ phải tiếp tục hiện diện trong các bệnh viện, chung với giáo dân đã được chuẩn bị để làm việc với các tu hội khác nhau thuộc đời sống thánh hiến theo tinh thần đặc sủng của mình. Những người này có khả năng làm Tin Mừng được rao giảng minh bạch trong một xã hội thường nhằm lẫn về các giá trị luân lý. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đề nghị rằng muốn chống lại ảnh hưởng của “văn hoá sự chết”, thì tất cả mọi Kitô hữu được nài nỉ giúp bảo đảm gia sản lớn của việc chăm lo sức khoẻ Công Giáo không bị hủy hoại. (121)

Các đại học Công Giáo phải đóng vai trò hướng dẫn trong việc giáo dục những người chuyên ngành y được áp dụng huấn giáo Công Giáo cho những thách đố mới thường nổi lên trong lãnh vực y tế. Bằng mọi cách có thể, những hiệp hội bác sĩ, y tá và những lao công chăm sóc sức khoẻ Công Giáo phải được nuôi dưỡng và, nơi nào không có những hiệp hội đó, thì nên thiết lập. Những người quản lý và nhân viên trong các cơ sở Công Giáo cần được huấn luyện biết áp dụng những nguyên tắc luân lý Công Giáo cho đời sống nghiệp vụ của mình. Đây là một nhiệm vụ tế nhị, vì một số người làm việc trong một bệnh viện Công Giáo không quen hay không đồng ý với những nguyên lý này. Khi huấn giáo Công Giáo được trình bày thích hợp, những người đó thường cảm thấy sự bình an đến từ sự sống hài hoà với chân lý và họ sẵn sàng cộng tác.

Đức tin vào Thánh Giá cứu độ của Chúa Kitô ban một ý nghĩa mới cho cơn bịnh, đau khổ và sự chết. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng khuyến khích nâng đỡ những chủ sở hữu hay bảo trợ các phương tiện mang sự thương xót của Chúa Kitô đến với những kẻ đau khổ, cách riêng những người mắc bịnh HIV/AIDS, những kẻ già cả, những người hấp hối, những dân bản xứ và những người sống trong những vùng cách biệt. (122)

Cách riêng người ta nên biết đến những người cung cấp các trợ giúp này ở những vùng xa xôi nhất: rừng rậm, những đảo nhỏ hay “vùng xa xôi hẻo lánh“ nước Úc. Làm việc thường với những nguồn lợi kém cỏi và sự nâng đỡ tài chánh nhỏ bé, sự tận tâm của họ là một bằng chứng hùng hồn về tình yêu của Chúa đối với kẻ nghèo, người bịnh và thiếu thốn. Những người làm việc trong các bệnh viện, chăm sóc người cao tuổi hay cống hiến những hình thức chăm sóc sức khoẻ khác cho những người anh chị em nhỏ nhất (x. Mt 25,40), (xin những người đó) biết cho rằng Giáo Hội đánh giá cao sự tận tụy và quảng đại của họ, và cám ơn họ đứng vị trí hàng đầu của bác ái Kitô giáo.

35. Những Trợ Giúp Xã Hội

Bao lâu còn sống ở đời này, Chúa Giêsu nhạy cảm với tất cả mọi yếu hèn và đau khổ của con người. “Trọng tâm huấn giáo của Người là tám mối phúc, được gởi đến cho người bị thử thách bởi những đau khổ khác nhau trong đời sống tạm của họ”. (123) Theo chân Chúa, sứ vụ bác ái của Giáo Hội vươn tới những kẻ túng cực nhất: kẻ mồ côi, người nghèo, người vô gia cư, người bị bỏ rơi và loại trừ. Sứ vụ này được thực hiện bởi tất cả những ai chăm sóc người thiếu thốn, và cả những sáng kiến cá nhân nữa, sứ vụ đó bao gồm những cơ chế thiết lập để đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau ở cấp bậc giáo xứ, giáo phận, quốc gia và quốc tế.

Đây không phải là chỗ để kê khai cho hết nhiều trợ giúp xã hội Giáo Hội cống hiến tại Châu Đại Dương; nhưng có một số được ghi nhận riêng trong Phòng Thượng Hội Đồng. Giáo Hội cung cấp những dịch vụ cố vấn cho những người gặp khó khăn cá nhân hay xã hội, cố gắng củng cố gia đình, ngăn ngừa hôn nhân đổ vỡ và nạn ly dị, cũng như chữa trị những hậu quả đau thương của nó. Cung cấp những nơi phát chẩn đồ ăn, xây dựng những trung tâm chăm sóc cho những lớp người khác nhau hay làm việc với những kẻ không nhà cửa và “các trẻ bụi đời“, đó chỉ là một phần trong việc tông đồ xã hội của Giáo Hội tại Châu Đại Dương.

Trong thinh lặng và khiêm tốn, nhiều nhóm thuộc giáo xứ và hiệp hội tông đồ làm việc để sửa chữa sự thiệt hại thường không được biết do cảnh nghèo trong các vùng ngoại ô hay những khu vực nông thôn. Những nhóm khác giúp mang lại hoà bình hay hoà giải giữa các bè đảng, bộ tộc hay những nhóm khác đang xung đột nhau. Người nữ, cách riêng các bà mẹ, có thể gây một hiệu quả lạ thường trong việc đề bạt những phương thức hoà bình để giải quyết xung đột. (124)

Việc chăm sóc của Giáo Hội cũng vươn dài tới những người nghiện rượu, hút xách hay cờ bạc, hay là những nạn nhân của nạn lạm dụng tình dục. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng nhắc tới những người tị nạn và tìm nơi cư trú, những hạng người này ngày càng tăng số và phẩm giá con người của họ đòi hỏi được tiếp đón và được chăm sóc thích đáng. Vì các nước Châu Đại Dương tuỳ thuộc vào các đại dương và biển, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng lên tiếng bênh vực những thủy thủ, thường làm việc dưới những điều kiện khắt khe và chịu nhiều cực khổ.

Thường thường, những người tình nguyện bỏ ra thời giờ, năng lực và những phục vụ chuyên nghiệp cho các việc tông đồ này mà không đòi thù lao. Những kẻ đã chọn tình yêu tư-hiến-tế như lẽ sống cho mình, thì không tìm kiếm sự đền đáp hay phần thưởng loài người, mà cũng không phần thưởng nào xứng đáng.

Mối quan tâm của họ là thực hiện phần của mình trong sứ vụ của Giáo Hội là nói lên sự thật về Chúa Giêsu Kitô, đi con đường của Người và sống sự sống của Người. Những người này là chủ yếu cho bất cứ kế hoạch nào muốn tân Phúc Âm hoá các dân tộc Châu Đại Dương. Đức tin được đánh thức nhờ việc rao giảng Lời Chúa và hy vọng được linh hứng nhờ lời hứa Nước Trời của Người, nhưng đức bác ái được truyền cho nhờ Chúa Thánh Thần, “là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống”.

CHƯƠNG IV: SỐNG SỰ SỐNG CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ TẠI CHÂU ĐẠI DƯƠNG

“Giảng xong, Người bảo ông Simon: ‘Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá. Ông Simon đáp: Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới. Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đỗ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm”. (Lc 5, 4-7).

Đời Sống Thiêng Liêng Và Bí Tích

36. Lạy Chúa Thánh Thần Xin Hãy Đến !

“Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta (Rm 5, 5). Khi “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta (Ga 1, 14), Thiên Chúa đột nhập vào lịch sử nhân loại đến nỗi chúng ta có thể trở nên “những kẻ thông phần bản tính Thiên Chúa” (2 Pr 1, 4). Sống trong Chúa Kitô bao hàm một cách sống do Thần Khí đổi mới. Thánh Phaolô nói phải mặc lấy bản tính mới “đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện (Ep 4, 24). Giáo Hội tại Châu Đại Dương được Chúa Thánh Thần phú cho nhiều ân huệ. Mặc dầu có khác biệt to lớn về văn hoá và truyền thống, Giáo Hội vẫn nên một trong đức tin, đức cậy và đức mến, nên một trong giáo lý và kỷ luật Công Giáo, nên một trong sự hiệp thông với Ba Ngôi Chí Thánh. (125). Trong sự hiệp thông này, tất cả được kêu gọi sống sự sống Chúa Kitô trong các sinh hoạt hằng ngày của mình để chứng tỏ những hoa quả kỳ diệu của Thần Khí (x. Gl 5, 22-23) và để làm chứng nhân cho tình yêu và lòng thương xót của Chúa trong thế giới.

37. Tinh Thần Nội Tâm

Khoá họp đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng cơ bản, đối với Giáo Hội tại Châu Đại Dương, của sự cầu nguyện và của đời sống nội tâm kết hiệp với Chúa Kitô. Dân bản xứ duy trì được sự hâm mộ im lặng, chiêm ngưỡng và một cảm nhận về mầu nhiệm trong cuộc sống. Sinh hoạt điên cuồng của sự sống hiện nay với tất cả sức ép của nó làm nên điều cần thiết là các Kitô hữu phải tìm kiếm sự thinh lặng để cầu nguyện và chiêm ngưỡng, vừa như là những điều kiện và vừa như những diễn tả của một đức tin đầy nghị lực. Khi nào Chúa không còn là trung tâm của sự sống con người, bấy giờ chính sự sống trở thành trống rỗng và vô nghĩa. (126)

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng công nhận cần phải tạo ra sự thúc đẩy và khuyến khích mới cho đời sống thiêng liêng của tất cả các tín hữu. Chính Chúa Giêsu thường “đi đến một nơi vắng vẻ và cầu nguyện ở đó (Mc 1, 35). Thánh Sử Tin Mừng nói: “Tiếng đồn về Người ngày càng lan rộng; đám đông lũ lượt tuôn đến để nghe Người và được chữa bệnh. Nhưng Người lui vào nơi hoang vắng mà cầu nguyện (Lc 5, 15-16).

Sự cầu nguyện của Chúa Giêsu là gương lành cho chúng ta, nhất là khi chúng ta bị vướng trong những căng thẳng và những trách nhiệm của đời sống hằng ngày. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhấn mạnh tầm quan trọng của đời sống cầu nguyện, khi tính đến sự kiện toàn vùng đương đầu với ảnh hưởng ngày càng lớn của thuyết tục hoá và chủ nghĩa duy vật, và như một khuyến khích sống đời sống nội tâm, các ngài khuyên năng viếng Thánh Thể, đi đàng Thánh Giá, lần chuỗi Mân Côi và những việc lành sốt sắng khác, kể cả những kinh nguyện trong gia đình. (127)

Tại Châu Đại Dương, sự hiện diện các cộng đồng đời sống chiêm niệm là một sự nhắc nhở hùng mạnh cách riêng về tinh thần nội tâm giúp chúng ta gặp sự hiện diện của Chúa trong tâm hồn chúng ta. Tinh thần nội tâm cũng quan trọng trong sự linh hứng và hướng dẫn các sáng kiến mục vụ. Tinh thần đó cống hiến sức mạnh của một tình yêu tông đồ đích thực phản ảnh tình yêu của Chúa.

38. Sách Thiêng Liêng và Kinh Thánh

Giáo Hội mạnh mẽ và đặc biệt khuyến khích tất cả người Kitô hữu …học biết “kiến thức trỗi vượt về Chúa Giêsu Kitô (Pl 3, 8) bằng cách năng đọc Sách Thánh… Nhưng, họ phải nhớ rằng cầu nguyện phải kèm theo việc đọc Sách Thánh, sao cho thành một cuộc đối thoại giữa Chúa và người đọc. Bởi vì chúng ta nói với Chúa khi chúng ta cầu nguyện, chúng ta nghe Chúa khi chúng ta đọc các sấm ngôn của Chúa”. (128)

Lời Chúa trong Cựu và Tân Ước là cơ bản cho tất cả những kẻ tin vào Chúa Kitô, và đó là nguồn suối vô tận của việc Phúc Âm hoá. Sự thánh thiện của đời sống và sự hoạt động tông đồ có hiệu lực, phát sinh do thường lắng nghe Lời Chúa. Sự đánh giá đổi mới về Kinh Thánh cho phép chúng ta trở về những nguồn đức tin chúng ta và gặp được chân lý của Chúa trong Đức Kitô.

Sự hiểu biết Kinh Thánh là một đòi hỏi của tất cả người tín hữu, nhưng cách riêng là của những chủng sinh, linh mục và tu sĩ. Họ phải được khuyến khích chuyên cần đọc sách thiêng liêng, suy gẫm thinh lặng và có tính cầu nguyện về Kinh Thánh, cho phép Lời Chúa nói với tâm hồn con người. Hình thức cầu nguyện này, riêng cá nhân hay theo nhóm, sẽ đào sâu tình yêu của họ đối với Kinh Thánh và làm cho Kinh Thánh trở nên một yếu tố thiết yếu và ban sinh lực cho đời sống hằng ngày của họ. (129)

Vì lẽ đó, Kinh Thánh cần được sử dụng đối với mọi người tại Châu Đại Dương. Kinh Thánh cần được chuyển ngữ tốt và trung thực ra càng nhiều ngôn ngữ bản xứ càng quí. Công trình rất đáng ca ngợi về việc chuyển ngữ Kinh Thánh đã được thực hiện, nhưng còn cần phải làm hơn thế nữa. Dầu sao, vẫn chưa đủ, nếu chỉ cung cấp cho nhiều nhóm ngôn ngữ bản văn Kinh Thánh họ có thể đọc; muốn giúp họ hiểu điều họ đọc, cần phải có sự đào tạo Kinh Thánh vững chắc và liên tục cho tất cả những ai được kêu gọi rao giảng và dạy Lời Chúa. (130)

39. Phụng Vụ

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng dành nhiều thời gian suy tư về tầm quan trọng của Phụng Vụ trong các Giáo Hội địa phương tại Châu Đại Dương, và các ngài bày tỏ lòng ước ao các Giáo Hội địa phương tiếp tục nuôi dưỡng đời sống phụng vụ của mình, ngõ hầu người tín hữu có thể đi sâu hơn vào mầu nhiệm Chúa Kitô. Các ngài công nhận sự tham gia nhiều hơn của Dân Chúa trong Phụng Vụ là một trong những hoa quả của Công đồng Vatican II, hoa quả đó lại đưa tới một ý thức mạnh hơn về việc truyền giáo, như đã được dự định.

Đời sống Kitô hữu đã được tăng cường nhờ sự hiểu biết và đánh giá đổi mới về Phụng Vụ, cách riêng phụng vụ Thánh Thể. Công đồng đã thấy sự đổi mới Phụng Vụ là một tiến trình đi tới sự hiểu biết thâm sâu hơn về các nghi thức thánh, và về phương diện này, nhiều Giáo Hội địa phương đã tham gia việc suy tư lý thuyết và thực hiện thực tế một sự hội nhập thích đáng các hình thức thờ phượng, nhưng phải giữ nguyên vẹn Nghi thức Roma. Những bản dịch đúng các văn bản phụng vụ và việc sử dụng thích hợp những biểu tượng rút ra từ những nền văn hoá địa phương có thể ngăn chận sự tha hoá văn hoá của dân bản xứ khi họ đến gần sự thờ phượng của Giáo Hội. (131) Những lời nói và dấu chỉ của Phụng Vụ sẽ là những lời nói và dấu chỉ của tâm hồn họ.

40. Bí Tích Thánh Thể

Thánh Thể hoàn thành việc gia nhập Kitô giáo vừa là nguồn gốc và là chóp đỉnh của đời sống Kitô hữu. Chúa Kitô hiện diện thực sự và cách trọn vẹn trong Bí Tích Mình và Máu Người, được hiến dâng làm hy lễ cho sự sống thế gian và được người tín hữu đón nhận trong sự hiệp thông. Ngay từ lúc đầu, Giáo Hội không ngừng vâng phục mệnh lệnh Chúa, “Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (1 Cr 11, 24).

Những người Công Giáo Châu Đại Dương hiểu rõ vị trí trung tâm của Thánh Thể trong đời sống của họ. Họ hiểu rằng việc cử hành đều đặn và với tâm tình cầu nguyện của Hy lễ Thánh Thể cho họ khả năng bước đi trên con đường thánh thiện cá nhân và nắm giữ vai trò của họ trong sứ vụ Giáo Hội. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhanh chóng nhìn nhận sự đánh giá phổ biến và tình yêu mãnh liệt này đối với Bí tích cao cả nhất của Giáo Hội.

Các ngài cũng bày tỏ quan tâm của mình về việc nhiều cộng đồng khắp Châu Đại Dương không được cử hành Thánh Thể từ nhiều năm nay. (132) Có nhiều lý do trong việc này: sự khan hiếm ngày càng tăng các linh mục thừa tác mục vụ, cách riêng tại nước Úc, sự gia tăng cảnh nghèo đói ở nông thôn và những cuộc di dân về các thị tứ, điều này đưa tới sự kiện dân số ngày càng luôn giảm sút và sự cô lập của nhiều cộng đồng.

Những khoảng cách mênh mông giữa nhiều đảo thường có nghĩa là không thể có được một linh mục ở tại chỗ. Do đó nhiều cộng đồng tập họp trong ngày Chúa Nhật để thực hành những nghi lễ không phải là những cử hành Thánh Thể; và cần có sự khôn ngoan và can đảm nhiều để giải quyết hoàn cảnh rất đáng thương này. Tôi coi là của chính tôi sự đòi hỏi của Thượng Hội Đồng, là phải cố gắng hơn nữa đánh thức những ơn gọi đời sống linh mục, và phân phối linh mục trong khắp vùng một cách đồng đều hơn.

41. Bí Tích Sám Hối

“Điều quan trọng cho chúng ta là suy tư về việc Chúa Kitô muốn Bí tích Sám hối nên nguồn mạch và dấu chỉ triệt để của lòng thương xót, sự hoà giải và hoà bình. Giáo Hội phục vụ thế giới cách tốt nhất khi Giáo Hội chính xác là điều mà Giáo Hội được hiểu phải là: một cộng đồng đã được hoà giải và mang tính hoà giải, gồm các môn đệ Chúa Kitô … Giáo Hội không có lúc nào là chính mình hơn lúc Giáo Hội suy gẫm và hoà giải, trong tình yêu và quyền lực của Chúa Giêsu Kitô, qua Bí tích Sám Hối”. (133) Đó là lý do các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng biết ơn vì trong nhiều Giáo Hội tại Châu Đại Dương bí tích Sám Hối được thực hành rộng rãi và được quí chuộng như là một nguồn mạch ân sủng chữa lành.

Nhưng các ngài cũng ghi nhận trong những Giáo Hội khác có những thách đố mục vụ nghiêm trọng đối với Bí Tích này. Cách riêng trong những xã hội phát triển, nhiều tín hữu sống mơ hồ hay thờ ơ về thực tại sự tội và về sự cần thiết được tha thứ trong Bí Tích Sám Hối. Thỉnh thoảng, ý nghĩa thật sự về tự do con người không được hiểu.

Sự phục hồi lại được chỗ đứng cơ bản của Bí Tích Sám Hối trong đời sống Dân Chúa, là một ước muốn thâm sâu của các Giám Mục. Các ngài nài nỉ “phải cống hiến việc dạy giáo lý rộng rãi về trách nhiệm cá nhân, về thực tại sự tội và Bí Tích Hoà Giải, ngõ hầu nhắc các người Công Giáo nhớ lòng nhân từ thương xót của Chúa Giêsu Kitô có sẵn nhờ Bí Tìch này, và về sự cần thiết được sự xá giải bí tích cho tội trọng đã phạm sau khi chịu Bí Tích Rửa Tội; vì phải giúp đỡ cho việc tiến triển thiêng liêng mà Bí Tích này đem lại, các linh mục phải được khuyến khích không những biến Bí Tích Hoà Giải thành một phần quan trọng trong chính đời sống mình, mà còn bảo đảm tính sẵn sàng của nó trên nền tảng đều hoà như là một phần thiết yếu của thừa tác vụ mình đối với người tín hữu”. (134) Kinh nghiệm của Năm Đại Toàn Xá gợi ý rằng thời giờ đã điểm cho việc dạy giáo lý đổi mới như vậy và cho việc thực hành Bí Tích cao cả của lòng thương xót.

42. Bí Tích Xức Dầu Bệnh Nhân

Tình yêu thương cảm thông của Chúa Kitô được cống hiến cách đặc biệt cho người bệnh và đau khổ. Điều này được phản chiếu trong việc chăm sóc mà Giáo Hội trải dài tới tất cả những kẻ đau đớn trong thể xác và tinh thần. Phụng Vụ canh tân của người bệnh đã là một đóng góp tích cực nhất cho sự sống của những kẻ ở trong những hoàn cảnh nguy hiểm cho sự sống: cơn bệnh trầm trọng, cuộc giải phẩu nguy đến tính mạng hay tuổi già.

Những người già thường gánh chịu đau đớn do cô lập hay cô đơn. Những cử hành cộng đồng Bí Tích này là một sự giúp đỡ và an ủi lớn cho người bịnh và đau đớn, và là một nguồn hy vọng cho những ai có mặt với họ. Một cách đặc biệt, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng muốn cám ơn tất cả những ai nâng đỡ người bệnh và người hấp hối. Họ là chứng tá quí báu cho tình yêu của chính Chúa Kitô chính vào lúc mà bệnh tật và hấp hối có thể được xem như một gánh nặng. (135)

Chú Thích:

  • (125) Cf. John Paul II, Homily at the Mass for Evangelization, Mount Hagen (8 May 1984), 5: AAS 76 (1984), 1010.

  • (126) Cf. Propositio 21.

  • (127) Cf. ibid.

  • (128) Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on Divine Revelation Dei Verbum, 25; Saint Ambrose, De Officiis Ministrorum 1, 20, 88: PL 16, 50.

  • (129) Cf. Propositio 22.

  • (130) Cf. ibid.

  • (131) Cf. Propositio 47.

  • (132) Cf. Propositio 39.

  • (133) John Paul II, Address to the Bishops of New Zealand, Wellington (23 November 1986), 9: AAS 79 (1987), 940-941.

  • (134) Propositio 40.

  • (135) Cf. Propositio 41.

Dân Chúa

43. Ơn Gọi Của Giáo Dân

Kinh nghiệm được kêu gọi như Matthêô là điều cơ bản cho tính môn đệ Kitô giáo: “Bỏ nơi ấy, Đức Giêsu đi ngang qua trạm thu thuế, thì thấy một người tên là Matthêô đang ngồi ở đó. Người bảo ông: “Anh hãy theo tôi!” Ông đứng dậy đi theo Người” (Mt 9, 9).

Trong Bí Tích Rửa Tội, tất cả các Kitô hữu đều nhận lấy ơn gọi nên thánh. Mỗi một ơn gọi cá nhân là một lời gọi chia sẻ sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội, và, vì cần phải tân Phúc Âm hoá, nên điều quan trọng đặc biệt bây giờ là nhắc người giáo dân trong Giáo Hội về ơn gọi riêng của họ. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng “vui mừng trong việc làm và chứng tá của rất nhiều người giáo dân, họ là một phần nguyên vẹn trong sự lớn mạnh của Giáo Hội tại Châu Đại Dương”. (136) Ngay từ đầu của Giáo Hội trong vùng rộng lớn này, các giáo dân đã đóng góp cho sự lớn mạnh và truyền giáo của Giáo Hội bằng nhiều cách khác nhau; và họ còn tiếp tục làm như vậy qua việc họ dấn thân vào nhiều hình thức phục vụ, cách riêng trong các giáo xứ với tư cách giáo lý viên, giảng viên chuẩn bị bí tích, lo cho giới trẻ, lãnh đạo các nhóm và cộng đồng nhỏ.

Trong một thế giới cần được thấy và nghe chân lý của Chúa Kitô, các giáo dân trong nhiều nghề nghiệp khác nhau của họ, là những chứng nhân sống động cho Tin Mừng. Lời gọi cơ bản của giáo dân là đổi mới trật tự thế tục trong tất cả nhiều thành phần của nó. (137) Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng “hứa nâng đỡ những giáo dân nam và nữ đang sống ơn gọi Kitô hữu chính của họ trong những cuộc sống hằng ngày và đổi mới trật tự thế tục nhờ những giá trị cá nhân và gia đình, những lợi ích kinh tế, những mậu dịch và nghề nghiệp, những cơ chế chính trị, những quan hệ quốc tế, những công nghệ, v.v…”. (138) Giáo Hội nâng đỡ và khuyến khích những giáo dân nào ra sức thiết lập cán cân thích hợp các giá trị trong trật tự thế tục và như vậy hướng nó tới Chúa qua Chúa Kitô. Nhờ vậy, Giáo Hội trở nên chất men làm dậy toàn thể khối bánh thuộc trật tự thế tục.

44. Giới Trẻ Trong Giáo Hội

Trong nhiều nước ở Châu Đại Dương, giới trẻ là thành phần đa số trong dân chúng, nhưng Úc và Tân Tây Lan không hẳn như vậy. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng muốn bảo đảm với giới trẻ của Giáo Hội tại Châu Đại Dương rằng họ được kêu gọi làm “muối đất và ánh sáng thế gian” (Mt 5, 13-14).

Các Giám Mục muốn họ biết rằng họ là một thành phần chủ yếu của Giáo Hội ngày nay, và các vị lãnh đạo Giáo Hội thiết tha tìm ra những phương cách để thúc đẩy giới trẻ tham gia đầy đủ hơn nữa vào đời sống và sứ mệnh Giáo Hội. Những người trẻ Công Giáo được kêu gọi theo Chúa Giêsu: không những trong tương lai như những người trưởng thành, nhưng bây giờ như những môn đệ đang chín mùi.

Ước chi giới trẻ luôn luôn được lôi kéo đến với dung nhan rất hấp dẫn của Chúa Giêsu, và được thúc đẩy bởi sự thách đố của những lý tưởng cao cả Tin Mừng! Rồi họ sẽ được trao quyền hành hợp pháp để tiếp tục việc tông đồ tích cực mà Giáo Hội ngày nay kêu gọi họ làm, và đóng vai trò của mình cách vui tươi và năng nổ trong đời sống Giáo Hội ở mọi cấp bậc: quốc tế, quốc gia, giáo phận và địa phương. (139) Ngày nay “giới trẻ sống trong một nền văn hoá độc đáo của họ. Điều cần thiết là những người lãnh đạo Giáo Hội nên học hỏi văn hoá và ngôn ngữ giới trẻ, tiếp đón họ và đưa những phương diện tích cực nền văn hoá của họ vào trong đời sống và sứ vụ Giáo Hội”. (140)

Nhưng đây cũng là một thời buổi giới trẻ đương đầu với những khó khăn lớn. Nhiều người trẻ không thể tìm được việc làm, thường trôi dạt đến những đô thị lớn hơn, ở đây những sức ép của sự cô lập, của cảnh cô đơn và thất nghiệp đưa họ vào trong những hoàn cảnh hủy hoại. Một số bị cám dỗ lạm dụng ma túy hay những hình thức nghiện khác, và có khi tới chỗ tự tử. Nhưng cũng trong những hoàn cảnh đó, giới trẻ thường tìm kiếm sự sống mà chỉ một mình Chúa Kitô có thể cho họ. Nên điều cấp bách là Giáo Hội rao giảng Tin Mừng cho giới trẻ trong những cách thức chúng có thể hiểu, những cách thức cho chúng khả năng nắm được tay Chúa Kitô, Đấng không bao giờ ngưng việc vươn tới họ, cách riêng trong những thời điểm tối tăm của họ.

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng xác tín về sự cần thiết giới trẻ lo cho giới trẻ, và các ngài vọng lại lời yêu cầu khẩn thiết tôi đã nói với giới trẻ khi thăm viếng vùng đất này: “Chúng con đừng có sợ dấn thân trong nhiệm vụ làm cho người ta biết và yêu mến Chúa Kitô, cách riêng giữa nhiều người thuộc tuổi chúng con, là thành phần lớn nhất của dân số”. (141)

Với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, tôi kêu gọi giới trẻ của Giáo Hội cân nhắc cầu nguyện cho việc theo Chúa Giêsu trong chức linh mục hay đời sống hiến thánh, vì nhu cầu rất lớn. Các Giám Mục mau mắn tán thành giới trẻ vì họ có cảm giác sắc bén về phép công bình, về phẩm chất trung thực cá nhân và sự tôn trọng phẩm giá con người, vì họ chăm sóc những kẻ nghèo túng và quan tâm đến môi trường. Đó là những dấu chứng tính quảng đại cao cả của tinh thần, thứ đó sẽ không thiếu sinh hoa quả trong đời sống của Giáo Hội ngày nay, như đã được thực hiện luôn trong quá khứ.

Ở nhiều nơi những cuộc Hành Hương Giới Trẻ là một nét tích cực của đời sống giới trẻ Công Giáo. (142) Hành hương từ lâu là một phần của đời sống Kitô hữu, và nó có thể giúp ích nhiều nhất trong việc trao tặng một ý nghĩa về căn tính và thuộc tính. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng công nhận tầm quan trọng của Ngày Quốc Tế Giới Trẻ như là một cơ hội cho giới trẻ kinh nghiệm sự hiệp thông chính hiệu, như đã thấy cách rất đáng ghi nhớ trong Đại Năm Thánh.

Họ cùng nhau đến đó để nghe Lời Chúa được trình bày trong một ngôn ngữ họ hiểu được, để suy gẫm Lời Chúa qua kinh nguyện và tham dự những phụng vụ có tính linh hứng và những buổi hội họp cầu nguyện. (143) Nhiều lần tôi đã thấy biết bao nhiêu người trong họ tự nhiên cởi mở với mầu nhiệm của Chúa mạc khải trong Tin Mừng. Ước chi mầu nhiệm vinh hiển của Chúa Giêsu Kitô mang lại hoà bình và niềm vui mãi mãi cho giới trẻ Châu Đại Dương.

45. Hôn Nhân Và Đời Sống Gia Đình

“Gia đình Kitô giáo là sự mạc khải và sự thực hiện đặc biệt của tính hiệp thông Giáo Hội, và do đó nó có thể và phải được gọi là một Giáo Hội tại gia”. (144). Rút cục, gia đình là một hình ảnh của sự hiệp thông không thể diễn tả của Ba Ngôi Thiên Chúa. Trong việc sinh sản và giáo dục con cái gia đình cũng chia sẻ công trình sáng tạo của Thiên Chúa, và như thế gia đình là một nguồn lực lớn để rao giảng Tin Mừng trong Giáo Hội và ngoài Giáo Hội. “Giáo Hội và xã hội tại Châu Đại Dương tùy thuộc nhiều vào phẩm chất của đời sống gia đình”. (145) Điều này ngụ ý trách nhiệm nặng nề cho những người bước vào giao ước hôn nhân, và “cần có sự chuẩn bị mục vụ thích hợp cho tất cả những ai tìm đến Bí Tích Hôn Nhân”. (146)

Vì là một cơ chế, nên gia đình sẽ luôn luôn cần sự chăm sóc mục vụ hài hoà của Giáo Hội, và cách riêng cần phải thừa nhận những đòi hỏi và trách nhiệm của các gia đình rộng lớn hơn. Giáo Hội và các thẩm quyền dân sự phải cảm thấy bổn phận cung cấp tất cả những dịch vụ và nâng đỡ có thể được, ngõ hầu xác nhận các cha mẹ và các gia đình.

Cách riêng Giáo Hội ý thức về quyền những người nữ được tự do kết hôn và họ có quyền được tôn trọng trong hôn nhân. Chế độ đa thê, còn tồn tại ở một số nơi, là một nguyên nhân nghiêm trọng khai thác người nữ. Cách chung hơn, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng quan tâm đến địa vị xã hội của người nữ tại Châu Đại Dương, các ngài nhấn mạnh rằng nguyên tắc đồng lương bình đẳng cho công việc bình đẳng phải được tôn trọng và người nữ không được bị loại trừ khỏi việc làm. Và đồng thời, điều thiết yếu là không bị phạt vì ở nhà để chăm sóc con cái của mình, bởi vì giá trị thiên chức cha mẹ rất to lớn và chăm sóc con cái là việc vô cùng quan trọng.

Trong những gia đình mà cha mẹ đều là Công Giáo, thì họ sẽ dễ dàng hơn chia sẻ niềm tin chung của mình cho con cái. Đang khi thừa nhận cách biết ơn những hôn nhân hỗn hợp nào thành công trong việc nuôi dưỡng đức tin của vợ chồng và cả con cái nữa, Thượng Hội Đồng khuyến khích những cố gắng mục vụ cổ võ những hôn nhân giữa người có cùng một đức tin. (147)

Ngày nay tại Châu Đại Dương cũng như bất cứ nơi nào khác, hôn nhân và đời sống gia đình đang gặp nhiều sức ép. Điều này có thể xói mòn hôn nhân như là đơn vị nền tảng của xã hội loài người, với những hậu quả trầm trọng nhất cho chính xã hội. Như tôi đã lưu ý khi tôi đến nước Úc: ”Quan niệm Kitô giáo về hôn nhân và gia đình thì đối nghịch với quan điểm mới thế tục, thực dụng và cá nhân, quan điểm này chiếm được chỗ đứng trong lãnh vực lập pháp và được “một sự phê chuẩn“ nào đó trong địa hạt công luận”. (148)

Vì nhận biết điều này, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhấn mạnh rằng “các chương trình mục vụ phải lo liệu nâng đỡ các gia đình gặp bất cứ vấn đề nghiêm trọng nào của xã hội ngày nay: rượu chè, hút xách ma túy, những thói buông tuồng, nạn cờ bạc… Trước những khó khăn liên hệ với hôn nhân và sự sống gia đình ngày nay, kèm theo thực tại đau buồn vợ chồng bất hoà, đổ vỡ và ly dị, Thượng Hội Đồng kêu gọi việc dạy giáo lý đổi mới theo những lý tưởng hôn nhân Kitô giáo”. (149) Giáo Hội có một cơ hội độc đáo để trình bày hôn nhân Kitô giáo cách mới mẻ như là một giao ước suốt đời trong Chúa Kitô, dựa trên sự hiến mình quảng đại và tình yêu vô điều kiện. Cái nhìn rất đẹp này về hôn nhân và gia đình cống hiến một sự thật cứu rỗi không những cho cá nhân mà còn cho xã hội nói chung. Do đó, những nguyên lý thần học củng cố huấn giáo của Giáo Hội về hôn nhân và gia đình phải được giải thích cách cẩn thận và xác tín cho mọi người. (150)

Những chương trình thăng tiến hôn nhân có thể giúp các đôi bạn củng cố việc dấn thân giữ những lời thề của mình và giúp đào sâu niềm vui của mình trong sự hiến thân cho nhau qua tình yêu hôn nhân. Nhưng nếu hôn nhân bị đe doạ bằng cách nào đó, các vị mục tử được yêu cầu dành mọi lo lắng cho những kẻ vướng mắc trong hoạn nạn này. Thượng Hội Đồng ý thức về sự tận tụy cao cả của các cha mẹ góa trong việc nuôi và giáo dục con cái mình, và bày tỏ sự quí mến những kẻ sống Tin Mừng trong những hoàn cảnh thường là khó khăn. Hàng giáo sĩ, các trường học Công Giáo và các giáo lý viên cần chăm sóc cách riêng những cha mẹ này và con cái của họ.

46. Người Nữ Trong Giáo Hội

Đoàn đông đảo các Thánh qua các thời đại cho thấy rõ rằng người nữ đã luôn mang đến những năng khiếu độc đáo và cần thiết cho đời sống Giáo Hội, và không có những năng khiếu đó thì cộng đồng Kitô hữu sẽ nghèo nàn cách tuyệt vọng. (152) Bây giờ hơn bao giờ hết, Giáo Hội cần những kỹ năng và nghị lực, trên thực tế là sự thánh thiện của người nữ, nếu muốn việc tân Phúc Âm hoá sinh hoa quả hằng mong ước nghiêm chỉnh. Đang khi một số phụ nữ còn cảm thấy bị loại trừ trong Giáo Hội cũng như trong xã hội nói chung, thì nhiều người nữ khác có được một cảm giác sâu xa mãn nguyện trong việc góp phần vào đời sống giáo xứ, bằng cách tham gia phụng vụ, đời sống kinh nguyện và những việc tông đồ và bác ái của Giáo Hội tại Châu Đại Dương.

Điều quan trọng là Giáo Hội tại cấp bậc địa phương tạo điều kiện dễ dàng cho người nữ đóng vai trò chính đáng của mình trong sứ vụ Giáo Hội; đừng bao giờ để họ cảm thấy mình là người xa lạ. Nhiều hình thức tông đồ giáo dân và nhiều chương trình huấn luyện giáo dân được mở ra cho người nữ, cũng như nhiều vai trò khác biệt về lãnh đạo cho phép người nữ cống hiến những năng khiếu của mình cách dồi dào hơn trong việc phục vụ sứ vụ Giáo Hội. (153)

47. Những Phong Trào Mới Trong Giáo Hội

Một trong những “dấu chỉ của thời đại“ cho Giáo Hội tại Châu Đại Dương là sự xuất hiện những phong trào mới trong Giáo Hội, là những hoa quả khác nữa của Công Đồng Vatican II. Những phong trào đó cống hiến một sự khuyến khích và nâng đỡ cho người Công Giáo của mọi thời đại để họ cố gắng sống đời sống môn đệ mãnh liệt hơn. Một số phong trào cũng sinh ra một số lớn ơn gọi đến chức linh mục và đời sống thánh hiến; và điều nầy là nguyên nhân của sự biết ơn lớn.

Nhờ những phong trào trong Giáo Hội này, nhiều người Công Giáo khám phá Chúa Kitô tới chiều sâu mới, và kinh nghiệm này cho phép họ sống trung thành trong bối cảnh văn hoá hằng ngày, bất chấp khó khăn nào. Vì những phong trào này giúp dân chúng lớn lên trong đời sống Kitô hữu của mình, chúng mang đến cho Giáo Hội nhiều quà tặng của sự thánh thiện và phục vụ. (154).

Hoan nghênh những phong trào này như dấu chỉ của Chúa Thánh Thần hoạt động trong Giáo Hội, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng yêu cầu họ làm việc trong những cơ cấu của các Giáo Hội địa phương, ngõ hầu giúp xây dựng sự hiệp thông của Giáo phận nơi họ đang ở. Giám Mục địa phương phải “thi hành sự phán đoán mục vụ của mình bằng cách tiếp đón và hướng dẫn họ, yêu cầu họ phải tôn trọng kế hoạch mục vụ của Giáo phận”. (155)

Chú Thích:

  • (136) Propositio 30.

  • (137) Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Decree on the Apostolate of the Laity Apostolicam Actuositatem; John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Christifideles Laici (30 December 1988): AAS 81 (1989), 393 ff.

  • (138) Propositio 30.

  • (139) Cf. Propositio 26.

  • (140) Ibid.

  • (141) Homily at the Beatification of Peter To Rot, Port Moresby (17 January 1995), 8: AAS 87 (1995), 995.

  • (142) Cf. Propositio 26.

  • (143) Cf. ibid.

  • (144) John Paul II, Apostolic Exhortation Familiaris Consortio (22 November 1981), 21: AAS 74 (1982), 105.

  • (145) Propositio 23.

  • (146) Ibid.

  • (147) Cf. ibid.

  • (148) Address to the Bishops of Australia, Sydney (26 November 1986), 10: AAS 79 (1987), 960.

  • (149) Propositio 23.

  • (150) Cf. Propositio 24.

  • (151) Cf. ibid.

  • (152) Cf. John Paul II, Apostolic Letter Mulieris Dignitatem (15 August 1988): AAS 80 (1988), 1653-1729; Letter to Women (29 June 1995): AAS 87 (1995), 803-812.

  • (153) Cf. Propositio 27.

  • (154) Cf. Propositio 11.

  • (155) Ibid.

CHƯƠNG IV: SỐNG SỰ SỐNG CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ TẠI CHÂU ĐẠI DƯƠNG

48. Ơn gọi và chủng sinh

Đã rõ vai trò chủ yếu của chức linh mục và tầm quan trọng lớn của đời sống thánh hiến trong sứ vụ Giáo Hội, các Giám Mục trong Khoá Họp Đặc Biệt đã khẳng định chứng từ cống hiến do các Giám Mục, linh mục và những người sống đời thánh hiến qua sự cầu nguyện, lòng trung thành, quảng đại và sự giản dị của sự sống. (156)

Địa bàn các ngài làm việc thì rộng lớn mà các ngài thì tương đối ít. Nhưng Châu Đại Dương có nhiều người trẻ là một nguồn lực thiêng liêng quí báu, và giữa họ chắc có nhiều người được kêu gọi lãnh chức linh mục và sống đời thánh hiến.

“Ước chi có một số người ngày càng tăng có thể chăm chỉ nghe và sẵn lòng chấp nhận những lời của Chúa Kitô nói về việc Chúa lựa chọn riêng biệt cá nhân hầu sinh hoa quả tông đồ: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái” (Ga 15, 16). (157)

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nêu rõ việc thiếu linh mục và các tu sĩ hiến thánh tại Châu Đại Dương. Việc cổ võ ơn thiên triệu là một trách nhiệm khẩn cấp của mọi cộng đồng Công Giáo.

Mỗi Giám Mục phải để ý thiết lập và thực hiện một chương trình cổ võ các ơn gọi linh mục và tu sĩ ở mọi cấp bậc – giáo phận, giáo xứ, trường học và gia đình. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhìn về tương lai với hy vọng và tin cẩn, cầu xin “Chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về“ (Lc 10, 2). Các ngài vững tin rằng “Chúa sẽ lo liệu“ (St 22, 8).

Trong các chủng viện, các linh mục tương lai được huấn luyện theo gương Đấng Chăn Chiên Lành, “kết hợp chính mình với Chúa Kitô trong việc nhìn nhận ý muốn của Chúa Cha và hiến thân cho đoàn chiên được trao phó cho mình“. (158)

Mỗi Giám Mục có trách nhiệm đào tạo hàng giáo sĩ địa phương trong bối cảnh của nền văn hóa và truyền thống địa phương. Về phương diện này, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng yêu cầu “phải nghiêm chỉnh quan tâm đến những mẫu linh động và sáng tạo hơn cho việc huấn luyện và dạy dỗ (159), những mẫu đó coi trọng các yếu tố thiết yếu của một việc huấn luyện hoà nhập đúng cho các ứng viên chức linh mục tại Châu Đại Dương: sự huấn luyện nhân bản, trí thức, thiêng liêng và mục vụ. (160)

Đồng thời, các Giám Mục bày tỏ “sự cẩn thận liên can tới chủ nghĩa giáo sĩ hay tục hoá và những nguy hiểm vì không đủ khả năng, đôi khi là hậu quả của việc đào tạo chủng viện ngày nay coi thường những nhu cầu học vấn và thiêng liêng thật sự của các chủng sinh”. (161)

Cần phải chú ý cách riêng đến hoàn cảnh của một số Giáo Hội tại Châu Đại Dương. Riêng trong những Giáo Hội tại Papua New Guinea, các đảo Solomon và những nước đảo khác tại Thái Bình Dương, nhiều chủng viện được mở ra để phục vụ một số chủng sinh ngày càng tăng, những chủng sinh này cần được đào tạo trong xứ sở của mình và trong sự tiếp xúc với nền văn hoá mình.

Trong lúc cảm tạ vì ân huệ quí báu của những ơn gọi mới, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng công nhận nhu cầu cần có ban nhân viên địa phương hơn, được huấn luyện đầy đủ vì cả hai mục đích dạy học và đào tạo. Một số đề nghị được nêu ra để vượt qua hoàn cảnh khủng hoảng ngày nay, kể cả việc chia sẻ nhân viên trong vùng Châu Đại Dương.

Các linh mục giáo phận địa phương phải được cống hiến cho nhiều cơ hội hơn để theo những môn học cao hơn cả trong nước lẫn ngoài nước. Một chương trình trao đổi được chấp nhận giữa nhau, có thể được thiết lập để đáp ứng những nhu cầu khác biệt này.

Quan tâm quan trọng nhất của các Giám Mục là việc đào tạo trọn vẹn nhân bản và mục vụ cho các chủng sinh trong bối cảnh văn hóa của họ. Cần phải tìm những giải pháp để cung cấp sự nâng đỡ tài chánh cần thiết cho các chủng viện, mà bây giờ là một gánh nặng trong nhiều địa phận.

Nơi nào những tài nguyên không đủ tại Châu Đại Dương, thì nên cầu cứu với Giáo Hội rộng lớn hơn, với các dòng tu, các hiệp hội và các tổ chức, để giúp các Giáo Hội trẻ đào tạo nhân sự địa phương. (162)

Tương lai của Giáo Hội tại châu Đại Dương tuỳ thuộc phần lớn vào việc này, bởi vì Giáo Hội không thể hoạt động mà không có chức linh mục bí tích, và không thể hoạt động tốt mà không có các linh mục tốt.

49. Đời sống của những người có chức thánh

Từ Công Đồng Vatican II, linh mục phải đương đầu với những thay đổi, những phát triển và những thách đố của xã hội đương thời. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhìn nhận “lòng trung và sự dấn thân tiếp tục của các linh mục trong thừa tác vụ linh mục của mình.

Lòng trung này càng gây ấn tượng mạnh hơn nữa vì được sống trong một thế giới bất ổn, cô lập, bận rộn và, đôi khi, dửng dưng và kỳ thị. Chúng tôi công nhận lòng trung của các linh mục như là một chứng từ hùng mạnh cho lòng thương yêu của Chúa Kitô đối với tất cả dân Người, và đề nghị họ làm như vậy”. (163)

Đời sống linh mục hoàn toàn noi gương Chúa Kitô, Người đã thí mạng để cho mọi người sống cách đầy đủ. Qua chức linh mục được tấn phong, sự hiện diện của Chúa Kitô được thấy rõ giữa cộng đồng. Dầu sao điều này không có nghĩa là, các linh mục được miễn những yếu đuối con người hay sự tội.

Do đó, mỗi một linh mục cần luôn cải tạo và cởi mở đối với Thần Khí ngõ hầu đào sâu sự dấn thân linh mục của mình trong lòng trung tín với Chúa Kitô. “Muốn bảo tồn lòng trung tín này, Thượng Hội Đồng này thúc giục tất cả hàng giáo sĩ đổi mới những cố gắng của mình sao cho đời sống cầu nguyện của mình theo gương đời sống cầu nguyện của Chúa Kitô, và nhận một cách sống phản chiếu gương Chúa Kitô, sống giản dị, tín cẩn vào Chúa Cha, quảng đại đối với kẻ nghèo và đồng hóa với kẻ bất lực”. (164)

Thượng Hội Đồng ý thức sự xói mòn căn tính linh mục, cách riêng sự chê bai độc thân linh mục trong một thế giới bị ảnh hưởng bởi những giá trị nghịch với những đòi hỏi của Tin Mừng. Độc thân linh mục là một mầu nhiệm thâm sâu dựa trên tình yêu Chúa Kitô, và kêu gọi một sự quan hệ với Chúa Kitô và Thân Thể Người là Giáo Hội, một quan hệ triệt để, yêu thương và bao gồm tất cả.

Chế độ độc thân là ân ban của Chúa ban cho những ai được kêu gọi sống đời sống Kitô hữu với tư cách linh mục, và đó là một ân sủng cả thể đối với toàn thể Giáo Hội, một chứng từ hiến trọn mình vì Vương Quốc.

Những giá trị muôn thuở của sự độc thân và khiết tịnh tin mừng phải được Giáo Hội bảo vệ và giải thích trong các nền văn hóa chưa bao giờ biết chúng và trong những xã hội hiện nay, nơi mà những giá trị đó ít được hiểu rõ hay quí trọng. Một sự khảo sát càng sâu xa hơn về mầu nhiệm Kitô giáo của sự độc thân, sẽ giúp những người đã lãnh nhận ân ban này sống độc thân cách trung thành và an bình hơn. (165)

Công Đồng Vatican II dạy rằng “tất cả các linh mục được gia nhập hàng linh mục qua Bí tích Truyền Chức, ràng buộc với nhau bằng một tình huynh đệ thân mật bí tích, nhưng một cách đặc biệt họ làm thành một thân thể linh mục trong Giáo phận mà họ gắn bó với, dưới quyền Giám Mục của mình“. (166) Trên thực tế, các linh mục với Giám Mục mình tạo thành một cộng đồng duy nhất, thường gọi là linh mục đoàn. Cách đặc biệt sự hiệp thông của linh mục đoàn mang lấy sự diễn tả phụng vụ trong Nghi thức Truyền Chức Linh Mục, và trong khi đồng tế Thánh Thể với Giám Mục, cách riêng trong Thánh lễ Dầu ngày thứ Năm Tuần Thánh.

Các linh mục đau bịnh, cao niên và nghỉ hưu có một chỗ riêng biệt trong linh mục đoàn. Như là một dấu chứng Giáo Hội công nhận lòng trung của các ngài, các ngài phải luôn luôn được cung cấp sự giúp đỡ và sự nuôi dưỡng xứng đáng. Giáo sĩ nào rút lui khỏi trách nhiệm hành chính phải được cảm thấy mình còn một chỗ có giá trị bên trong linh mục đoàn. (167)

Sự hiệp thông của linh mục đoàn có những khía cạnh thực tế: “Các linh mục cần sự đồng hành và nâng đỡ của các linh mục khác và của Giám Mục mình. Các Giám Mục được khuyến khích làm sao cho các linh mục cảm thấy mình thật sự là những kẻ cộng tác với ngài trong vườn nho Chúa.

Các Giám Mục cũng phải khuyến khích các linh mục chăm sóc nhau, trong tinh thần huynh đệ, ngõ hầu xây dựng một hàng giáo sĩ giáo phận địa phương vững mạnh nhờ sự nâng đỡ nhau và sự đổi mới liên tục“. (168)

Sự nâng đỡ này trong tình yêu huynh đệ là đặc biệt quan trọng trong những nơi thuộc đảo, nơi nhiều linh mục đến từ những hiệp hội sống những ràng buộc cộng đồng vững mạnh, và là nơi họ thường được tôn trọng cách riêng do sự Phong chức và cấp bậc của họ trong xã hội. “Được đối xử bằng cách này bởi những người mà họ được yêu cầu phục vụ, họ cần được nâng đỡ đặc biệt để thiết lập những truyền thống riêng của họ và cách sống như là những linh mục giáo phận“. (169)

Đời sống của các Giám Mục, linh mục và phó tế cần được đào tạo liên tục và cần những cơ hội đổi mới sự nhiệt thành trong ơn gọi thần linh của mình. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng mạnh mẽ giới thiệu những cơ hội thiêng liêng, mục vụ, trí thức và giải trí thích hợp, ngõ hầu gia tăng khả năng phục vụ hiệu năng và nhất quyết dấn thân trong sứ mệnh qua nhiều năm tháng.

Một số phương diện của việc đào tạo liên tục được Thượng Hội Đồng nêu cao: “Tất cả các thừa tác viên phải nhớ rằng sự hoàn thành những trách vụ hằng ngày cung cấp cho sự soi sáng và tươi trẻ thiêng liêng – cử hành Thánh Thể thánh, đọc Kinh Thánh hằng ngày, đọc Phụng Vụ các Giờ Kinh, học hỏi Sách Thánh và các tài liệu khác giúp giảng và dạy, giải tội, và đọc những sách thần học và báo chí, mỗi cá nhân phải cố gắng tham dự các buổi tĩnh tâm, các cuộc hội nghị và sự nghỉ ngơi hằng năm, dầu khi sự này có nghĩa là vắng mặt khỏi những nhiệm vụ mục vụ.

Việc đào tạo tiếp tục đòi hỏi tất cả tiếp tục phát triển khả năng của mình để rao giảng sứ điệp Tin Mừng một cách mà dân chúng có thể hiểu được; việc đào tạo tiếp tục không những về mặt trí thức, mà còn về mặt thiêng liêng, nhân bản và mục vụ. Các Giám Mục được khuyến khích tổ chức việc đào tạo tiếp tục trong Giáo phận mình theo những đường lối này; và phải liệu cho có kỳ nghỉ học và đổi mới thiêng liêng cho tất cả giáo sĩ “. (170)

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng bày tỏ lòng ước mong cống hiến việc chăm sóc mục vụ cho các linh mục của mình bằng cách cởi mở đối với những nhu cầu của họ trong mọi hoàn cảnh. Các ngài cũng phải nhạy cảm đối với hoàn cảnh của những vị đã từ bỏ chức linh mục.

Trong một vài phần Châu Đại Dương, sự lạm dụng tình dục do một số giáo sĩ và tu sĩ đã gây ra sự đau đớn cả thể và sự thiệt hại thiêng liêng cho các nạn nhân. Việc đó rất có hại trong đời sống Giáo Hội và đã trở thành một rào cản cho việc loan báo Tin Mừng. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng lên án tất cả việc lạm dụng tình dục và tất cả hình thức lạm dụng quyền lực, cả trong Giáo Hội và trong xã hội nói chung.

Sự lạm dụng tình dục bên trong Giáo Hội là một phủ nhận sâu xa của việc dạy và minh chứng cho Chúa Giêsu Kitô. Các Nghị Phụ muốn thẳng thắn xin lỗi các nạn nhân vì sự đau đớn và sự vỡ mộng họ phải chịu. (171) Giáo Hội tại Châu Đại Dương đang tìm kiếm những thủ tục trong và đúng để đáp lại những trách cứ trong địa hạt này, và cam kết rõ ràng thực hiện việc chăm sóc đầy yêu thương và hiệu nghiệm đối với các nạn nhân, gia đình nạn nhân, toàn thể cộng đồng và chính những kẻ lỗi phạm.

  • (156) Cf. Propositio 29.

  • (157) John Paul II, Homily at the Mass for Vocations, Port Moresby (7 May 1984), 4: AAS 76 (1984), 1006.

  • (158) Second Vatican Ecumenical Council, Decree on the Ministry and Life of Priests Presbyterorum Ordinis, 14.

  • (159) Propositio 37.

  • (160) Cf. John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Pastores Dabo Vobis (25 March 1992), 43-59: AAS 84 (1992), 731-762.

  • (161) Propositio 37.

  • (162) Cf. Propositio 38.

  • (163) Propositio 36.

  • (164) Ibid.

  • (165) Cf. Propositio 35.

  • (166) Second Vatican Ecumenical Council, Decree on the Ministry and Life of Priests Presbyterorum Ordinis, 8.

  • (167) Cf. Propositio 36.

  • (168) Propositio 33.

  • (169) Ibid.

  • (170) Propositio 34.

  • (171) Cf. Propositio 43.

Đức Ông Phêrô Nguyễn Quang Sách