TÔNG THƯ HẬU THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁO HỘI TẠI CHÂU (tiếp)
(17/05/2002).
CHƯƠNG V. CON ĐƯỜNG ĐƯA TỚI TÌNH LIÊN ĐỚI.
- Tình Liên Đới, Hoa Quả Của Sự Hiệp Thông.
- Huấn Giáo Của Giáo Hội, Bản Tuyên Bố Về Những Đòi Hỏi Cải Thiện
- Học Thuyết Xã Hội Của Giáo Hội
- Toàn Cầu Hoá Tình Liên Đới
- Những Tội Xã Hội Kêu Thấu Trời
- Nền Tảng Tận Cùng Của Các Quyền Nhân Bản.
- Tình Yêu Ưu Tiên Dành Cho Người Nghèo Và Bị Loại Trừ
- Nợ Nước Ngoài
- Trận Chiến Chống Tham Nhũng.
- Vấn Đề Ma Túy.
- Chạy Đua Vũ Trang.
- Văn hoá sự chết và một xã hội bị những kẻ quyền thế thống trị
- Sự Kỳ Thị Những Người Bản Xứ Và Những Người Mỹ Gốc Châu Phi
- Vấn Đề Di Dân.
“Ở điểm này mọi người sẽ nhận biết anh em sẽ là môn đệ của Thầy; là anh em có lòng yêu
thương nhau” (Ga 13, 35)
- Tình Liên Đới, Hoa Quả Của Sự Hiệp Thông
“Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25, 40; x. 25, 45).
Ý thức về sự hiệp thông với Chúa Kitô và với các anh chị em chúng ta, đó là kết quả của sự cải thiện, dẫn tới việc phục vụ những người thân cận chúng ta trong mọi nỗi thiếu thốn của họ, vật chất và thiêng liêng, từ khi gương mặt Chúa Kitô sáng chói trong mọi người. “Như vậy tình liên đới là hệ quả của sự hiệp thông đặt nền tảng trong mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, và trong Con Thiên Chúa nhập thể và chết cho mọi người. Tình liên đới được biểu thị trong tình yêu Kitô giáo, tình yêu tìm kiếm điều tốt cho những kẻ khác, cách riêng những kẻ túng thiếu nhất”. (195)
Đối với các Giáo Hội địa phương lục địa Châu Mỹ, tình yêu này là nguồn mạch của một sự dấn thân tới tình liên đới hỗ tương và sự chia sẻ các ân huệ thiêng liêng và các của cải vật chất Chúa đã ban cho họ, nuôi dưỡng nơi các cá nhân một tinh thần sẵn sàng làm việc nơi nào cần đến họ. Lấy Tin Mừng làm khởi điểm, một nền văn hoá liên đới cần được thăng tiến, có khả năng linh hứng những sáng kiến hợp thời để nâng đỡ người nghèo và người bị bỏ rơi, cách riêng những người tị nạn buộc phải rời bỏ làng mạc của mình để tránh nạn khủng bố. Giáo Hội tại Châu Mỹ phải khuyến khích những cơ quan quốc tế đặt tại châu lục thiết lập một trật tự kinh tế không những theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, mà còn theo đuổi công ích các quốc gia và cộng đồng quốc tế, sự phân phối công bằng của cải và sự phát triển toàn vẹn các dân tộc. (196)
- Huấn Giáo Của Giáo Hội, Bản Tuyên Bố Về Những Đòi Hỏi Cải Thiện
Ở một thời điểm khi mà trong lãnh vực luân lý, thuyết tương đối và chủ quan lan rộng cách rối trật tự, thì Giáo Hội tại Châu Mỹ được kêu gọi công bố với sự mãnh liệt mới mẻ là việc cải thiện hệ tại sự dấn thân theo con người Chúa Giêsu Kitô, với tất cả những hàm ý thần học và luân lý đã được Huấn Quyền Giáo Hội dạy. Cần có nhu cầu công nhận “vai trò của các nhà thần học, giáo lý viên và những thầy dạy đạo là những kẻ, bằng cách giới thiệu huấn giáo của Giáo Hội trong sự trung thành với Huấn Quyền, hợp tác trực tiếp vào sự đào tạo đúng đắn lương tâm người tín hữu“.(197)
Nếu chúng ta tin rằng Chúa Giêsu là sự Thật (x. Ga 14, 6), chúng ta không thể không ao ước nồng nhiệt trở nên những nhân chứng cho Người, ngõ hầu đem các anh chị em chúng ta tới gần sự thật toàn vẹn ở trong Con Thiên Chúa làm người, Đấng đã chết và sống lại từ kẻ chết để cứu rỗi nhân loại. “Như vậy chúng ta mới có thể trở nên những ngọn hải đăng sống động của đức tin, đức cậy và đức mến, trong thế giới này”. (198)
- Học Thuyết Xã Hội Của Giáo Hội
Đứng trước những vấn đề xã hội nghiêm trọng đang hiện hữu khắp Châu Mỹ, với những đặc tính khác nhau, những người Công Giáo biết rằng mình có thể tìm thấy trong học thuyết xã hội của Giáo Hội một lời giải đáp dùng làm khởi điểm trong việc tìm kiếm những giải pháp thực hành. Loan truyền học thuyết này là một ưu tiên mục vụ đích thực. Do đó điều quan trọng là “tại Châu Mỹ các tác nhân của việc rao giảng Tin Mừng (các Giám Mục, các linh mục, các thầy dạy, những kẻ làm mục vụ, v.v…) coi kho tàng này như của riêng mình, tức là huấn giáo xã hội của Giáo Hội và, được huấn giáo đó soi dẫn, họ có khả năng giải thích hoàn cảnh hiện diện và quyết định những hành động phải thực hiện“.(199)
Về phương diện này, phải chú tâm cách riêng đến việc huấn luyện các giáo dân có khả năng làm việc, dựa trên nền tảng đức tin của họ vào Chúa Kitô, để biến đổi những thực tại trần thế. Hơn nữa, điều đó sẽ giúp thăng tiến và nâng đỡ việc học hỏi học thuyết này trong mọi lãnh vực đời sống của các Giáo Hội địa phương tại Châu Mỹ, cách riêng trong các đại học, nhờ vậy mà học thuyết đó có thể được biết sâu rộng hơn và áp dụng cho cho xã hội Châu Mỹ. Thực tại xã hội phức tạp tại của châu lục là một cánh đồng màu mỡ để phân tách và áp dụng những nguyên tắc chung chứa đựng trong học thuyết này.
Để đạt mục đích này, điều rất hữu ích là có được một bản trích yếu hay một bản tóm lược được chấp nhận về học thuyết xã hội Công Giáo, kèm theo một quyển “Giáo Lý”, có thể chứng tỏ sự liên hệ giữa học thuyết đó và sự rao giảng Tin Mừng. Cái phần mà sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo dành ra cho tài liệu này, trong mục dạy về điều răn thứ bảy của Thập Giới, có thể dùng như khởi điểm cho một quyển “Giáo Lý về Học Thuyết Xã Hội Công Giáo”. Dĩ nhiên, như trong trường hợp sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, một bản tóm tắt như vậy chỉ đề ra những nguyên lý chung, dành việc áp dụng các nguyên tắc đó cho sự xử lý hơn nữa các vấn đề riêng biệt liên hệ với những hoàn cảnh địa phương khác nhau. (200)
Một chỗ quan trọng trong học thuyết xã hội của Giáo Hội nói về quyền lợi của lao động có phẩm giá. Do đó, vì tỷ lệ cao nạn thất nghiệp xảy ra trong nhiều nước Châu Mỹ và vì những hoàn cảnh khắc nghiệt mà nhiều người lao công công nghiệp hay đồng quê gặp phải, “nên cần phải đánh giá lao động như là một yếu tố của sự thành toàn và của phẩm giá con người. Một xã hội được tổ chức có trách nhiệm đạo đức thăng tiến và ủng hộ một nền văn hoá lao động”. (201)
- Toàn Cầu Hoá Tình Liên Đới
Như tôi đã nhắc tới trước kia, hiện tượng phức tạp toàn cầu hoá là một trong những nét của thế giới ngày nay được thấy rõ cách riêng tại Châu Mỹ. Một phần quan trọng của thực tại nhiều mặt này là phương diện kinh tế. Bằng học thuyết xã hội của mình Giáo Hội hiến một đóng góp hiệu nghiệm cho các vấn đề mà nền kinh tế toàn cầu hoá hiện nay nêu lên. Quan điểm luân lý của Giáo Hội trong lãnh vực này “nằm trong ba viên đá góc là phẩm giá con người, tình liên đới và sự bổ trợ”. (202)
Nền kinh tế toàn cầu hoá phải được phân tách trong ánh sáng những nguyên lý thuộc công bình xã hội, tôn trọng sự chọn lựa ưu tiên cho người nghèo là những người phải được cho phép có chỗ đứng trong một nền kinh tế thể ấy, và trong những đòi hỏi công ích quốc tế. Bởi vì “học thuyết xã hội của Giáo Hội là một quan điểm luân lý nhằm khuyến khích các chính phủ, các cơ chế và những tổ chức tư hình thành một tương lai phù hợp với phẩm giá của mỗi người. Bên trong viễn ảnh này có thể xem xét những vấn đề nợ nước ngoài, nạn tham nhũng chính trị nội bộ và sự kỳ thị vừa trong nước vừa giữa các quốc gia”. (203)
Giáo Hội tại Châu Mỹ được kêu gọi không những cổ võ sự hợp nhất nhiều hơn giữa các quốc gia, như vậy là giúp kiến tạo một nền văn hoá toàn cầu hoá về tình liên đới, (204) nhưng còn được kêu gọi hợp tác với mọi phương tiện truyền thông hợp pháp để giảm những tác dụng tiêu cực của việc toàn cầu hoá, như sự thống trị của kẻ mạnh trên kẻ yếu, nhất là trong lãnh vực kinh tế, và sự mất những giá trị của các nền văn hoá địa phương vì muốn tới một sự thuần nhất hiểu sai.
- Những Tội Xã Hội Kêu Thấu Trời
Học thuyết xã hội của Giáo Hội cũng cho phép đánh giá rõ ràng hơn tính trầm trọng của “những tội xã hội kêu thấu trời bởi vì chúng sinh ra bạo loạn, phá vỡ hoà bình và sự hài hoà giữa các công đồng trong những quốc gia đơn lẻ, giữa các quốc gia và giữa những vùng khác nhau trong lục địa”. (205)
Giữa những tội này phải kể: “nạn buôn ma túy, sự quay vòng vốn bất hợp pháp, sự ký thị chủng tộc, sự bất bình đẳng giữa những nhóm xã hội và sự phá hoại thiên nhiên cách phi lý”. (206)
Những tội này là dấu chỉ một cơn khủng hoảng sâu rộng gây nên do sự mất cảm giác về Thiên Chúa và sự thiếu những nguyên lý luân lý mà đáng lý phải hướng dẫn sự sống của mỗi người. Trong sự thiếu những điểm qui chiếu luân lý, một sự ham muốn không kềm chế về của cải và quyên lực dành quyền kiểm soát, làm lu mờ bất cứ quan điểm nào dựa trên Tin Mừng về thực
tại xã hội. Thường thường, sự này làm cho một số cơ chế công không biết bầu khí xã hội hiện nay. Ngày càng hơn, trong nhiều nước Châu Mỹ, một hệ thống được biết như là “tân chủ nghĩa tự do” thịnh hành; dựa trên quan niệm thuần kinh tế về con người, hệ thống này coi lợi nhuận và luật thị trường như là những nét đặc trưng của mình, không nghĩ tới phẩm giá và sự tôn trọng đối với các cá nhân và các dân tộc. Thỉnh thoảng hệ thống này đã trở nên một biện minh ý thức hệ cho một số thái độ và ứng xử trong các lãnh vực xã hội và chính trị đưa tới sự coi thường những thành phần yếu kém hơn trong xã hội. Thật vậy, người nghèo trở nên ngày càng nhiều hơn, nạn nhân của những chính sách và cấu trúc thường là bất công. (207)
Trên nền tảng Tn Mừng, câu trả lời tốt nhất cho hoàn cảnh bi kịch này là sự thăng tiến tình liên đới và hoà bình, với mục đích thực hiện nền công bình thật. Muốn được điều này, phải khuyến khích và nâng đỡ tất cả những ai nêu gương lương thiện trong việc quản trị tài chính công và sự công bằng. Cho nên cũng có một nhu cầu phải nâng đỡ tiến trình dân chủ hoá hiện đangthành hình tại Châu Mỹ, (208) bởi vì một hệ thống dân chủ có thể kiểm soát mạnh hơn các lạm dụng quyền lực.
“Quyền lực của luật pháp là điều kiện cần để thiết lập một nền dân chủ đích thực”. (209)
Muốn cho nền dân chủ phát triển, cần có giáo dục công dân và cổ võ trật tự công và hoà bình. Trên thực tế, “không có dân chủ đích thực và bền vững mà không có công bình xã hội. Như vậy Giáo Hội cần lưu ý nhiều đến việc đào tạo lương tâm, một sự đào tạo sẽ chuẩn bị các nhà lãnh đạo xã hội biết lo cho đời sống công ở mọi tầng lớp, sẽ cổ võ việc giáo dục công dân, tôn trọng luật và các quyền nhân bản, và sẽ linh hứng những cố gắng lớn hơn trong việc đào tạo đạo đức những kẻ lãnh đạo chính trị. (210)
- Nền Tảng Tận Cùng Của Các Quyền Nhân Bản
Nên nhắc lại rằng nền tảng mà tất cả mọi quyền nhân bản dựa vào là phẩm giá con người. “Kỳ công của Thiên Chúa, con người, được tạo thành theo hình ảnh Chúa và giống Chúa. Chúa Giêsu mặc lấy bản tính nhân loại chúng ta, trừ tội lỗi; Người thúc đẩy và bảo vệ phẩm giá của mỗi người, không trừ ai; Người đã chết để cho mọi người được tự do. Tin Mừng chứng tỏ cho chúng ta Chúa Kitô đã nhấn mạnh tới tính trung tâm của con người trong trật tự thiên nhiên (x. Lc 12, 22-29) và trong các trật tự xã hội và tôn giáo, có khi chống lại những đòi hỏi của Luật (x. Mc 2, 27): Người bênh vực những người nam, người nữ (x. Ga 8, 11) và cả trẻ con (x. Mt 19, 13-15), là những kẻ vào thời đại và trong nền văn hoá của Người, chiếm một chỗ thấp bé trong xã hội. Phẩm giá của những con người xét như là một người con Thiên Chúa, là nguồn mạch của những nhân quyền và những bổn phận tương ứng.(211)
Vì lý do này, “tất cả những xúc phạm đến phẩm giá con người là một xúc phạm đến chính Thiên Chúa, vì con người được tạo dựng theo hình ảnh Người”. (212) Phẩm giá này là chung cho mọi người, không trừ ai, bởi vì tất cả đều được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa (x. St 1, 26). Câu trả lời của Chúa Giêsu cho câu hỏi “Ai là người anh em tôi ?” (Lc 10, 29) đòi hỏi mỗi người phải có thái độ tôn trọng phẩm giá kẻ khác và thật sự lưu ý tới họ, cho dầu họ là những ngoại kiều hay kẻ thù (x. Lc 10, 30-37). Trong tất cả mọi phần đất Châu Mỹ, nhận thức nhân quyền phải được tôn trọng đã gia tăng trong những thời gian gần đây, nhưng còn phải làm nhiều hơn nữa, nếu chúng ta thấy những vi phạm quyền của những cá nhân và những nhóm người vẫn còn xảy ra trên châu lục địa.
- Tình Yêu Ưu Tiên Dành Cho Người Nghèo Và Bị Loại Trừ
“Giáo Hội tại Châu Mỹ phải cụ thể hoá trong những sáng kiến mục vụ của mình, tính liên đới của Giáo Hội phổ quát đối với kẻ nghèo và những kẻ bị loại trừ đủ loại. Thái độ của Giáo Hội phải là thái độ giúp đỡ, thăng tiến, giải phóng và cởi mở huynh đệ. Mục đích của Giáo Hội là bảo đảm không có ai bị loại trừ”. (213)
Ký ức về những chương đen tối của lịch sử Châu Mỹ, bao hàm việc thực hành nô lệ và những tình huống khác thuộc kỳ thị xã hội, phải đánh thức một sự ao ước thành thực cải thiện đưa tới sự hoà giải và hiệp thông. Việc quan tâm tới những kẻ túng thiếu nhất phát xuất từ một quyết định yêu kẻ nghèo một cách đặc biệt. Đây là một tình yêu không loại trừ và như vậy là không thể giải thích như một dấu chỉ thiên vị hay phe phái; (214) khi yêu thương kẻ nghèo người Kitô hữu bắt chước thái độ của Chúa, trong lúc còn sống ở trần gian Người đã hiến mình yêu thương cách riêng những ai có nhu cầu thiêng liêng và vật chất.
Công tác của Giáo Hội vì kẻ nghèo trong mọi phần đất Châu Mỹ là quan trọng; nhưng còn phải cố gắng để làm cho đường hướng sinh hoạt mục vụ luôn hướng về một sự gặp gỡ với Chúa Kitô Đấng, tuy giàu sang, tự sống nghèo vì chúng ta, ngõ hầu Người có thể làm cho chúng ta giàu có bằng cái nghèo khó của Người (x. 2 Cr 8, 9). Cần phải tăng cường và mở rộng những gì đã làm trong lãnh vực này, với mục tiêu vươn tới kẻ nghèo càng nhiều càng hay. Kinh Thánh nhắc chúng ta rằng Thiên Chúa nghe tiếng kêu kẻ nghèo (x. Tv. 34, 7) và Giáo Hội phải chú ý đến tiếng kêu của những kẻ nghèo nhất. Vì nghe tiếng kêu của người nghèo, “Giáo Hội phải sống với người nghèo và chia sẻ sự túng thiếu của họ. Bằng kiểu sống, các quyền ưu tiên, các lời nói, và các hành động của mình, Giáo Hội phải minh chứng rằng mình hiệp thông và liên đới với họ”. (215)
- Nợ Nước Ngoài
Sự hiện hữu nợ nước ngoài, bóp nghẹt một số đáng kể quốc gia lục địa Châu Mỹ, là một vấn đề phức tạp. Đang khi không dây mình vào trong nhiều khía cạnh của nó, Giáo Hội trong quan tâm mục vụ của mình không thể không biết hoàn cảnh khó khăn này, bởi vì nó đụng chạm tới sự sống của nhiều người. Vì lý do này, những Hội đồng giám mục khác nhau tại Châu Mỹ, ý thức tính nghiêm trọng của vấn đề, đã tổ chức những cuộc gặp mặt học hỏi về chủ đề và đã phát hành những tài liệu nhằm đề ra những giải pháp có thể thực hiện được. (216)
Tôi cũng đã thường bày tỏ quan tâm của tôi về hoàn cảnh này, trong nhiều trường hợp hoàn cảnh đó không thể chịu nổi. Trong ánh sáng Đại xá năm 2000 sắp tới, và nhớ ý nghĩa xã hội của năm Thánh trong Cựu Ước, Tôi đã viết: “Trong tinh thần sách Lêvi (25, 8-12), người Kitô hữu phải lên tiếng bênh vực tất cả người nghèo trên thế giới, đề nghị Năm Thánh như là một thời gian thích hợp để gợi ý, giữa những chuyện khác, giảm thiểu đáng kể, nếu không xoá hết, nợ quốc tế đang đe dọa trầm trọng tương lai của nhiều quốc gia”. (217)
Một lần nữa tôi bày tỏ hy vọng mà các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng coi như của mình, là Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hoà Bình cùng với nhiều cơ quan chuyên môn khác, như Phân Bộ của Văn Phòng Nhà Nước chuyên lo các Tương quan với các Nước, “qua sự nghiên cứu và đối thoại với các đại diện của Thế giới thứ Nhất và với các người lãnh đạo Ngân Hàng Thế Giới và Quĩ Tiền tệ Quốc tế, sẽ tìm cách giải quyết vấn đề nợ nước ngoài và đưa ra những hướng dẫn có thể ngăn ngừa những hoàn cảnh tương tự khỏi chạy tới vay mượn trong tương lai”.(218)
Trên một mức độ rộng rãi hết sức, điều hữu ích là nếu “các nhà chuyên môn danh tiếng thế giới về khoa kinh tế và các vấn đề tiền tệ thực hiện một cuộc phân tích có phê phán về trật tự kinh tế thế giới, trong các phương diện tích cực và tiêu cực của nó, ngõ hầu sửa cho đúng trật tự hiện nay, và họ sẽ đề nghị một hệ thống và những cơ chế có khả năng bảo đảm sự phát triển toàn vẹn và có phối hợp của các cá nhân và dân chúng”. (219)
- Trận Chiến Chống Tham Nhũng
Tại Châu Mỹ cũng vậy, hiện tượng tham nhũng phổ biến. Giáo Hội có thể giúp cách hiệu nghiệm tiêu hủy sự dữ này khỏi xã hội dân sự bằng “sự dấn thân nhiều hơn của những người giáo dân Kitô có khả năng, những người này, nhờ được đào tạo trong gia đình, tại trường học và trong giáo xứ, thúc đẩy việc thực hiện những giá trị như chân lý, lương thiện, cần cù và phục vụ công ích”. (220)
Để đạt mục đích này, và để khai sáng tất cả những người thiện chí lo lắng để diệt những sự dữ phát sinh từ nạn tham nhũng, cần phải dạy và phổ biến hết sức rộng rãi những đoạn sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo dành cho chủ đề này, đồng thời giúp các người Công Giáo trong các nước khác nhau hiểu biết hơn những tài liệu liên quan do các Hội Đồng Giám Mục phát hành trong những nước khác. (221)
Nhờ được đào tạo như thế, các Kitô hữu sẽ đóng góp có ý nghĩa để giải quyết vấn đề tham nhũng, dấn thân thực thi học thuyết xã hội của Giáo Hội trong mọi vấn đề liên quan tới đời sống của họ và trong những lãnh vực mà họ có thể giúp đỡ những kẻ khác.
- Vấn Đề Ma Túy
Đối với vấn đề trầm trọng buôn ma túy, Giáo Hội tại Châu Mỹ có thể hợp tác hữu hiệu với các nhà lãnh đạo quốc gia và doanh nghiệp, với những tổ chức phi-chính-phủ và với những cơ quan quốc tế để khai triển những dự án nhằm dẹp bỏ nạn buôn này đang đe dọa hạnh phúc các dân tộc Châu Mỹ. (222)
Sự hợp tác này phải trải rộng cho tới các đoàn thể lập pháp, trong sự nâng đỡ những sáng kiến ngăn chận “sự tái sinh tiền bạc”, thúc đẩy việc kiểm soát những tài sản của những kẻ tham gia vào cuộc buôn này, và bảo đảm rằng sự sản xuất và buôn bán những hoá chất dùng để bào chế ma túy, phải được thực hiện theo luật pháp. Tính khẩn cấp và tính trầm trọng của vấn đề bắt buộc phải kêu gọi những khu vực và những nhóm khác nhau trong xã hội dân sự, phải hợp nhất trong trận chiến chống buôn bán ma túy. (223)
Cách riêng, theo mức độ các Giám mục có liên quan, điều cần thiết như các Nghị Phụ Thương Hội Đồng gợi ý rằng chính các ngài, với tư cách là Mục Tử Dân Chúa, phải can đảm và mãnh liệt lên án chủ nghĩa khoái lạc, thuyết duy vật và những kiểu sống dễ dàng đưa tới việc sử dụng ma túy. (224).
Cũng cần giúp đỡ những chủ nông trại nghèo khỏi bị cám đỗ bởi tiền bạc dễ kiếm nhờ trồng những cây dùng sản xuất ma túy. Về phương diện này các cơ quan quốc tế có thể đóng góp đáng kể cho các chính phủ bằng cách cung cấp những khích lệ để khuyến khích việc sản xuất những vụ mùa luân canh. Cũng phải khuyến khích những người tham gia vào việc phục hồi những kẻ sử dụng ma túy và những kẻ dấn thân trong việc chăm sóc mục vụ cho các nạn nhân ghiền ma túy. Điều quan trọng cơ bản là trình bày “ý nghĩa sự sống cho giới trẻ, là những hạng người, vì thiếu sự hiểu biết này, thường thấy mình bị mắc trong vòng xoắn phá hoại của chất ma túy. Kinh nghiệm chứng tỏ rằng công việc phục hồi và khôi phục xã hội có thể là một sự dấn thân đích thực cho việc rao giảng Tin Mừng. (225)
- Chạy Đua Vũ Trang
Một nguyên nhân làm tê liệt trầm trọng sự phát triển của nhiều quốc gia tại Châu Mỹ là cuộc chạy đua vũ trang. Các Giáo Hội địa phương tại Châu Mỹ phải cất lên một tiếng nói ngôn sứ để lên án cuộc chạy đua vũ trang và việc buôn bán kinh tởm khí giới, tiêu phí những số tiền khổng lồ đáng lý được sử dụng xoá đói giảm nghèo và cổ võ phát triển. (226) Đàng khác, việc tích trữ vũ khí là một nguyên nhân bất ổn và là một sự đe dọa hoà bình. (227)
Vì lý do này Giáo Hội luôn thức tỉnh trong những hoàn cảnh có nguy cơ xảy ra xung đột vũ trang, có khi giữa các quốc gia chị em. Như một dấu chứng và khí cụ của sự hoà giải và hoà bình, Giáo Hội phải tìm kiếm “bằng mọi phương tiện có thể, kể cả việc làm trung gian và trọng tài, để hành động vì hoà bình và tình huynh đệ giữa các dân tộc”. (228)
- Văn hoá sự chết và một xã hội bị những kẻ quyền thế thống trị
Ngày nay, tại Châu Mỹ cũng như bất cứ nơi nào khác trên thế giới, một kiểu xã hội xem ra xuất hiện, trong đó kẻ quyền thế thống trị, gạt ra một bên và có khi loại trừ những kẻ không quyền lực: ở đây tôi nghĩ tới những con nít chưa sinh, những nạn nhân không được bảo vệ của nạn phá thai, những người bệnh cao tuổi và bất trị, thỉnh thoảng bị buộc phải chết êm dịu; và nghiều người khác bị loại ra bên lề xã hội do chủ nghĩa hưởng thụ và duy vật. Tôi cũng không thể không nhắc tới sự viện đến án tử hình cách không cần thiết khi có “những phương thế không đổ máu khác đủ để bảo vệ những mạng sống con người chống lại kẻ phạm tội và bảo vệ trật tự công cộng và sự an toàn con người. Ngày nay, vì các Nhà Nước đều có sẵn những phương tiện xử lý tội ác và kiểm soát những ai phạm tội ác, mà không mất hết niềm hy vọng cứu chuộc họ, cho nên những trường hợp cần phải tuyệt đối xoá tên một kẻ phạm tội thì bây giờ rất họa hiếm, thậm chí trên thực tế không còn nữa”. (229)
Kiểu mẫu xã hội này mang dấu tích nền văn hoá sự chết, và do đó nghịch với sứ điệp Tin Mừng. Đứng trước thực tại đau buồn này, cộng đồng Giáo Hội có ý dấn thân hơn nữa để bảo vệ nền văn hoá sự sống. Về phương diện này, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, khi nhắc lại những tài liệu mới của Huấn Quyền Giáo Hội, đã mãnh liệt tái phát biểu sự tôn trọng vô điều kiện và sự tận tụy hoàn toàn của mình lo cho đời sống con người từ lúc thụ thai cho đến lúc chết tự nhiên, và tái khẳng định mình kết án những sự dữ như phá thai và làm cho chết êm dịu. Nếu muốn duy trì các huấn giáo của luật Thiên Chúa và luật tự nhiên, thì điều cần thiết là cổ võ việc hỏi học thuyết xã hội của Giáo Hội và hành động sao cho những giá trị sự sống và gia đình được thừa nhận và bảo vệ trong các tập quán xã hội và trong các qui định của Nhà Nước. (230)
Cũng như việc bảo vệ sự sống, phải cố gắng hơn nữa, nhờ một số khác biệt các sáng kiến mục vụ, cổ động việc nhận làm con nuôi và cung cấp sự giúp đỡ liên tục cho những người nữ vớivấn đề mang thai, trước cũng như sau khi sinh con. Cũng phải lưu ý mục vụ đặc biệt đếnnhững người nữ đã phải bị buộc hoặc chủ ý phá thai. (231)
Làm sao chúng ta không cảm tạ ơn Chúa và bày tỏ sự quí trọng chân thành đối với những anh chị em trong đức tin khắp Châu Mỹ, là những người đã dấn thân, cùng với những Kitô hữu khác và những cá nhân vô số có thiện chí, bênh vực sự sống bằng mọi phương tiện hợp pháp và bảo vệ các con trẻ chưa sinh, những người bệnh bất trị và những kẻ khuyết tật? Công việc của họ càng đáng khen hơn nữa nếu chúng ta nghĩ tới sự thờ ơ của nhiều người, nghĩ tới những đe dọa gây nên bởi ưu sinh học và bởi những sự tấn công mạng sống và phẩm giá con người hằng ngày xảy ra khắp nơi. (232)
Cũng phải quan tâm như vậy đối với các người cao tuổi, thường bị bỏ rơi và phải tự nuôi mình. Họ phải được tôn trọng như những nhân vị; điều quan trọng là chăm sóc họ và giúp họ bằng những phương cách sẽ thăng tiến quyền của họ và bảo đảm cho họ sống hạnh phúc về mặt thể lý và thiêng liêng tốt nhất. Những người cao tuổi phải được bảo vệ khỏi những hoàn cảnh hay những sức ép có thể đưa họ tới chỗ tự tử, cách riêng ngày nay họ phải được trợ giúp chống lại cơn cám dỗ tự tử được tiếp tay và việc làm chết êm dịu. Cùng với các Mục Tử Dân Chúa tại Châu Mỹ, tôi kêu gọi “những người Công Giáo làm việc trong lãnh vực y khoa và chăm sóc sức khỏe, những người giữ nhiệm vụ công hay dấn thân trong ngành giáo dục, hãy hết sức cố gắng để bênh vực những sự sống nào lâm nguy nhất, và hành động với một lương tâm được huấn luyện đúng theo giáo lý Công Giáo. Ở đây các Giám Mục và linh mục có một trách nhiệm riêng biệt phải làm chứng không biết mỏi mệt cho Tin Mừng sự sống và khuyên bảo người tín hữu hành động như vậy”. (233)
Đồng thời điều thiết yếu cho Giáo Hội Châu Mỹ là thực hiện những biện pháp thích hợp để ảnh hưởng tới những quyết định của các nhóm lập pháp, bằng cách khuyên bảo các công dân, Công Giáo cũng như những người thiện chí khác, thiết lập những tổ chức để đề nghị việc xây dựng lập pháp khả thi và chống lại những biện pháp có nguy cơ cho cả hai thực tại không thể tách rời nhau là sự sống và gia đình. Ngày nay cần đặc biệt chú ý tới những vấn đề liên can tới việc chẩn đoán trước lúc sinh, ngõ hầu tránh mọi vi phạm nhân quyền.
- Sự Kỳ Thị Những Người Bản Xứ Và Những Người Mỹ Gốc Châu Phi
Nếu Giáo Hội tại Châu Mỹ, trung thành với Tin Mừng Chúa Kitô, có ý đi con đường liên đới, thì phải chú ý cách riêng đến những nhóm sắc tộc này mà ngày nay còn bị kỳ thị. Phải loại trừ mọi thứ chủ trương cho ra rìa những dân tộc bản xứ. Điều này cò nghĩa là, trước nhất, tôn trọng đất đai của họ và những giao kèo ký kết với họ; cũng vậy, phải cố gắng thỏa mãn những đòi hỏi văn hoá, sức khỏe, xã hội chính đáng của họ. Và tại sao chúng ta có thể làm ngơ nhu cầu hoà giải giữa các dân tộc bản xứ và những xã hội trong đó họ đang sống? Ở đây tôi muốn nhắc rằng ở một số nơi người Mỹ gốc Châu Phi còn bị kỳ thị chủng tộc, và đều này là một ngăn trở nghiêm trọng không cho họ gặp Chúa Kitô. Bởi vì mọi người, thuộc bất cứ sắc tộc hay hoàn cảnh nào, đã được Thiên Chúa dựng nên giống hình ảnh Người, nên cần khuyến khích những chương trình cụ thể, trong đó sự cầu nguyện chung phải đóng một vai trò, nhằm cổ võ sự hiểu biết và sự hoà giải giữa các dân tộc khác nhau. Các dân tộc này có thể xây dựng những cây cầu tình yêu, hoà bình và công lý Kitô giáo giữa mọi người nam và người nữ.(234)
Muốn đạt những mục tiêu này điều cần thiết là huấn luyện những cán bộ mục vụ chuyên nghiệp có khả năng sử dụng những phương thức đã “hội nhập hợp pháp trong sách giáo lý và phụng vụ, tránh một sự tổng hợp chỉ trình bày một phần của giáo lý Kitô giáo chân thật. Cũng sau đó, sẽ dễ dàng cung cấp đủ số mục tử để làm việc với dân bản xứ nếu có những cố gắng thăng tiến các ơn thriên triệu linh mục và tu sĩ giữa các dân này. (235)
- Vấn Đề Di Dân
Trong lịch sử của mình, Châu Mỹ đã kinh nghiệm nhiều cuộc di dân, vì những làn sóng người nam nữ đến những vùng khác nhau của châu này với hy vọng có một tương lai tốt đẹp hơn. Hiện tượng vẫn còn tiếp tục ngày nay, cách riêng với nhiều người và nhiều gia đình từ các miền châu Mỹ Latin, họ di chuyển tới những phần phía bắc châu lục, đến nỗi có nơi trong một số trường hợp, họ là thành phần chủ yếu của dân số. Thường họ mang theo mình một di sản văn hoá và tôn giáo, di sản đó giàu những yếu tố Kitô giáo. Giáo Hội thức rất rõ về những vấn đề phát sinh do hoàn cảnh này và cam kết không bỏ qua cố gắng nào để phát triển chiến thuật mục vụ của mình giữa những người di dân này, ngõ hầu giúp họ định cư trong đất mới của họ và cổ võ một thái độ đón tiếp giữa cư dân địa phương, vì tin rằng một sự cởi mở cho nhau sẽ mang lại sự phồn vinh cho mọi người. Các cộng đồng Giáo Hội sẽ nhìn thấy trong hiện tượng này một tiếng gọi đặc biệt sống một tình huynh đệ tin mừng và đồng thời thấy đó là một lời mời tăng cường tinh thần tôn giáo của mình với cái nhìn hướng đến một công cuộc Phúc Âm hoá thấm nhập hơn. Với điều đó trong trí, các Nghị Phụ Thương Hội Đồng nhắc lại rằng “Giáo Hội tại Châu Mỹ phải là một vị luật sư tỉnh thức, bảo vệ tránh khỏi bất cứ hạn chế bất công nào, quyền tự nhiên của các cá nhân được di chuyển tự do trong quê hương mình và từ nước này qua nước khác. Cần kêu gọi sự chú ý tới những quyền người di dân và gia đình họ, và kêu gọi tôn trọng phẩm giá con người của họ, ngay cả trong những trường hợp di dân bất hợp pháp”. (236)
Những người di dân phải gặp được thái độ hiếu khách và cởi mở, điều đó có thể khuyến khích họ dự phần vào đời sống Giáo Hội, luôn luôn phải tôn trọng chính đáng quyền tự do và căn tính văn hoá riêng biệt của họ. Sự hợp tác giữa các giáo phận họ bỏ ra đi và những giáo phận họ tới định cư, cũng nhờ những cơ cấu mục vụ đặc biệt theo lập pháp và thực hành của Giáo Hội, (237) đã chứng tỏ rất cực kỳ hữu ích cho mục đích này. Bằng cách này có thể bảo đảm việc chăm sóc mục vụ thích hợp và trọn vẹn. Giáo Hội tại Châu Mỹ phải luôn quan tâm đến việc rao giảng tin mừng hữu hiệu cho những người mới đến mà chưa biết Chúa Kitô. (238)
Chú Thích:
(195) Propositio 67.
(196) Cf. ibid.
(197) Propositio 68.
(198) Ibid.
(199) Propositio 69.
(200) Cf. Synod of Bishops, Second Extraordinary General Assembly, Final Report Ecclesia sub Verbo
Dei Mysteria Christi Celebrans pro Salute Mundi (December 7, 1985), II, B, a, 4: Enchiridion Vaticanum 9,
1797; John Paul II, Apostolic Constitution Fidei Depositum (October 11, 1992): AAS 86 (1994), 117;
Catechism of the Catholic Church, 24.
(201) Propositio 69.
(202) Propositio 74.
(203) Ibid.
(204) Cf. Propositio 67.
(205) Propositio 70.
(206) Ibid.
(207) Cf. Propositio 73.
(208) Cf. Propositio 70.
(209) Propositio 72.
(210) Ibid.
(211) Ibid.
(212) Third General Conference of the Latin Châu Mỹn Bishops, Puebla 1979, Message to the Peoples of
Latin Châu Mỹ, No. 306.
(213) Propositio 73.
(214) Cf. Congregation for the Doctrine of the Faith, Instruction Libertatis Conscientia (March 22, 1986),
68: AAS 79 (1987), 583-584.
(215) Propositio 73.
(216) Cf. Propositio 75.
(217) Apostolic Letter Tertio Millennio Adveniente (November 10, 1994), 51: AAS 87 (1995), 36.
(218) Propositio 75.
(219) Ibid.
(220) Propositio 37.
(221) Cf. ibid. Regarding the publication of these texts, cf. John Paul II, Apostolic Letter Issued “Motu
Proprio” Apostolos Suos (May 21, 1998), IV: AAS 90 (1998), 657-658.
(222) Cf. Propositio 38.
(223) Cf. ibid.
(224) Ibid.
(225) Cf. ibid.
(226) Cf. Pontifical Council for Justice and Peace, The International Arms Trade. An Ethical Reflection
(May 1, 1994): Enchiridion Vaticanum 14, 1071-1154.
(227) Cf. Propositio 76.
(228) Ibid.
(229) Catechism of the Catholic Church, No. 2267, which cites John Paul II, Encyclical Letter Evangelium
Vitae (March 25, 1995), 56: AAS 87 (1995), 463-464.
(230) Cf. Propositio 13.
(231) Cf. ibid.
(232) Cf. ibid.
(233) Ibid.
(234) Cf. Propositio 19.
(235) Cf. Propositio 18.
(236) Propositio 20.
(237) Cf. Congregation for Bishops, Instruction Nemo Est (August 22, 1969), No. 16: AAS 61 (1969),
621-622; Code of Canon Law, Canons 294 and 518; Code of Canons of the Eastern Churches, Canon
280 § 1.
(238) Cf. ibid.
Đức Ông Phêrô Nguyễn Quang Sách







