TÔNG THƯ IL RAPIDO SVILUPPO
(SỰ PHÁT TRIỂN NHANH CHÓNG)
CỦA ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II
GỞI TỚI GIỚI HỮU TRÁCH TRUYỀN THÔNG

Ngày 24 Tháng 01 Năm 2005

 

 
1. Sự phát triển kỹ thuật nhanh chóng trong lãnh vực truyền
thông chắc chắn là một dấu chỉ cho sự tiến bộ trong xã hội chúng ta
ngày nay. Khi nhìn những phát minh này trong sự tiến hóa liên tục,
những lời lẽ tìm thấy trong Sắc Lệnh của Công Đồng Chung Vatican
II “Inter Mirifica” (Giữa Những Điều Kỳ Diệu), đã được vị tiền
nhiệm của tôi, vị tôi tớ Chúa Phaolô VI, công bố ngày 4/12/1963,
xem ra càng thích hợp hơn: “Với sự trợ giúp của Thiên Chúa, tài
năng con người, đặc biệt là trong thời đại chúng ta, đã đưa ra
những sáng tạo kỹ thuật diệu kỳ. Giáo Hội, mẹ chúng ta, đặc biệt
lưu tâm đến những phát minh trực tiếp động đến tinh thần con người
cũng như những gì mở ra những đại lộ mới cho việc truyền thông dễ
dàng tin tức, ý tưởng và các định hướng”. [1]
I. TIẾN BỘ PHONG PHÚ SAU SẮC LỆNH “INTER
MIRIFICA” 
2. Sau hơn bốn mươi năm công bố văn kiện này, có lẽ thật thích hợp
để suy tư về những “thách đố” mà các phương tiện truyền thông đặt
ra đối với Giáo Hội, một Giáo Hội mà như Đức Phaolô VI đã nói “sẽ
có lỗi trước mặt Chúa nếu không tận dụng các phương tiện mạnh mẽ
này”. [2]  Thật vậy, Giáo Hội không chỉ được mời gọi để sử dụng các
phương tiện truyền thông đại chúng hầu truyền bá Tin Mừng, nhưng

hơn bao giờ hết, còn phải hội nhập thông điệp cứu độ này vào trong
“nền văn hóa mới” do những phương tiện truyền thông mạnh mẽ này
tạo ra và khuếch trương lên. Giáo Hội dạy chúng ta rằng việc sử
dụng những kỹ thuật và công nghệ truyền thông đương đại là một
phần tích hợp trong sứ mạng của Giáo Hội trong ngàn năm thứ ba.
Với nhận thức này, cộng đoàn Kitô hữu đã chọn những bước
tiến đáng kể trong việc sử dụng các phương tiện truyền thông cho
thông tin tôn giáo, cho việc rao giảng Tin Mừng và dạy giáo lý, cho
việc đào tạo các mục tử trong địa hạt này, và cho việc giáo dục một
trách nhiệm trưởng thành nơi những người sử dụng và những người
tiếp nhận các phương tiện truyền thông đa dạng.

3. Công việc tân phúc âm hóa đối diện với nhiều thách đố
trong một thế giới dồi dào các tiềm năng truyền thông. Vì thế, tôi đã
muốn nhấn mạnh trong thông điệp “Redemptoris Missio” (Sứ Vụ
Đấng Cứu Thế) rằng đồi Arê  [3]  đầu tiên của các thời đại tân tiến là
thế giới của truyền thông với khả năng thống nhất nhân loại và
chuyển hóa nhân loại thành “một làng toàn cầu”, theo cách nói
thường được dùng. Các phương tiện truyền thông đã đạt đến một
tầm quan trọng đến độ trở thành phương tiện chủ yếu để hướng dẫn
và kích thích các hành vi cá nhân, gia đình và xã hội của nhiều
người. Chúng ta đang đối diện với một vấn đề phức tạp, vì chính nền
văn hóa, không kể nội dung của nó, nảy sinh từ chính sự tồn tại của
các phương thế truyền thông mới với những kỹ thuật và từ vựng cho
đến nay vẫn chưa biết được.
Thời đại của chúng ta là một thời đại của truyền thông toàn
cầu trong đó biết bao thời giờ con người dành ra hay ít nhất là phải
đối diện với các tiến trình khác nhau của truyền thông đại chúng. Tôi
giới hạn chỉ đề cập đến sự hình thành nhân cách và lương tâm, sự
diễn dịch và tổ chức các quan hệ tình cảm, sự nhịp nhàng của các
giai đoạn giáo dục và đào tạo, sự mở rộng và khuếch tán các hiện
tượng văn hóa, và sự phát triển của đời sống xã hội, chính trị và kinh
tế.
Các phương tiện truyền thông đại chúng có thể và phải đề
cao công lý và tình liên đới trong viễn kiến chân thật và đúng đắn về
sự phát triển con người bằng cách tường thuật chính xác và trung

thực, phân tích toàn bộ các tình huống và vấn đề, và đưa ra một diễn
đàn cho các ý kiến khác nhau. Một phương thế đúng đắn về luân lý
trong việc sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng đầy uy
lực phải được đặt trong bối cảnh của việc thực hành trưởng thành
quyền tự do và trách nhiệm, được xây dựng trên nền tảng tối cao là
sự thật và công lý.
II. SUY TƯ TIN MỪNG VÀ DẤN THÂN TRUYỀN
GIÁO
4. Thế giới truyền thông đại chúng cũng cần đến ơn cứu độ
của Chúa Kitô. Để phân tích với con mắt đức tin những tiến trình và
giá trị truyền thông, nhận thức sâu hơn về Thánh Kinh chắc chắn có
thể trợ giúp như một “quy tắc cao cả” cho việc truyền thông một sứ
điệp không chóng qua, nhưng thật căn bản vì giá trị của thông điệp
này.
Lịch sử ơn Cứu Độ tường thuật và ghi lại truyền thông của
Thiên Chúa với loài người, một sự truyền thông sử dụng tất cả mọi
hình thức và cách thế thông đạt. Con người được tạo nên giống hình
ảnh Thiên Chúa để mặc lấy mạc khải thánh thiện và để bước vào
một cuộc đối thoại thân tình với Ngài. Vì tội lỗi, khả năng đối thoại
này đã bị đổi thay ở cả cấp độ cá nhân lẫn xã hội, và nhân loại phải
chịu đau khổ, và sẽ còn tiếp tục chịu khổ đau, đó là kinh nghiệm cay
đắng cho sự vô tri và ly khai. Tuy nhiên, Thiên Chúa không bỏ rơi
con người, nhưng ban chính Con Ngài (x. Mc 12:1-11) cho thế gian.
Trong Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể, truyền thông tự nó mang lấy
một ý nghĩa cứu sộ sâu sắc: chính vì thế, trong Thánh Thần, nhân
loại được trao ban khả năng để nhận lãnh ơn cứu độ, để công bố và
làm chứng cho ơn cứu độ trước thế giới.
5. Truyền thông giữa Thiên Chúa và nhân loại vì thế đạt đến
sự viên mãn nơi Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể. Hành vi yêu
thương qua đó Thiên Chúa mạc khải chính mình cho nhân loại, kết
hiệp với lời đáp trả là đức tin của nhân loại, tạo nên một cuộc đối
thoại đầy ơn ích. Chính vì lý do này, khi chúng ta đưa ra theo một
nghĩa nào đó lời thỉnh cầu của các môn đệ “Lạy Thầy, xin dạy bảo
chúng con”, chúng ta có thể xin Chúa giúp chúng ta hiểu được cách
thế truyền thông với Thiên Chúa và với người khác qua các phương

tiện truyền thông đại chúng diệu kỳ. Trong ánh sáng của loại truyền
thông quả quyết và rõ ràng như thế, các phương tiện truyền thông
cung cấp một cơ may đến với con người ở mọi nơi, vượt qua mọi
chướng ngại của thời gian, không gian và ngôn ngữ; trình bày nội
dung đức tin trong những cách thế đa dạng nhất có thể nghĩ ra được;
và đem đến cho tất cả những ai tìm kiếm khả năng tiến vào cuộc đối
thoại với mầu nhiệm của Thiên Chúa, Đấng được mạc khải trọn vẹn
nơi Đức Giêsu Kitô.
Ngôi Lời Nhập Thể đã để lại cho chúng ta một thí dụ về cách
thế truyền thông với Chúa Cha và với nhân loại, trong những lúc yên
lặng và tĩnh tâm, cũng như khi rao giảng mọi nơi mọi chốn trong
mọi cách thế. Ngài giải thích Thánh Kinh, tỏ mình ra qua các dụ
ngôn, qua các cuộc trò chuyện ấm cúng dưới mái gia đình, qua các
lời dạy bảo nơi quảng trường, trên hè phố, trên bờ hồ và trên đỉnh
núi. Gặp gỡ cá nhân với Ngài không để lại trong ta sự thờ ơ nhưng
kích thích lời đáp trả: Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì
hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái
nhà rao giảng” (Mt 10:27).
Tuy nhiên, có một lúc tột đỉnh mà việc truyền thông này trở
nên sự hiệp nhất hoàn toàn: đó là cuộc gặp gỡ Thánh Thể. Qua việc
nhận ra Đức Giêsu nơi “ cử chỉ bẻ bánh” (x Lc 24:30-31), các tín
hữu tự thấy mình bị thúc giục phải công bố cái chết và sự phục sinh
của Ngài, và trở nên chứng nhân vui mừng và can đảm cho Vương
Quốc của Ngài (x. Lc 24:35).

6. Nhờ ơn Cứu Chuộc, khả năng truyền thông của các tín hữu
được chữa lành và canh tân. Gặp gỡ với Đức Kitô biến họ thành
những tạo vật mới và cho phép họ trở nên một phần của dân tộc, mà
khi chết trên Thánh Giá, Ngài đã giành được nhờ máu của Ngài; và
đưa họ vào cuộc sống thân mật của Ba Ngôi Thiên Chúa, một sự
truyền thông liên tục xoay tròn về sự hoàn thiện và tình yêu vô hạn
giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
Truyền thông thấm nhiễm vào các chiều kích của Giáo Hội,
một Giáo Hội được mời gọi để công bố cho tất cả mọi người sứ điệp
vui mừng của ơn cứu độ. Vì lý do này, Giáo Hội sử dụng các cơ hội
do truyền thông đại chúng đem đến như những cách thế được trao

ban theo sự quan phòng của Thiên Chúa hầu tăng cường hiệp nhất
và để việc công bố Lời Ngài được rộng rãi hơn. [4]  Các phương tiện
truyền thông cho phép biểu tỏ tính chất hoàn vũ của Dân Chúa, giúp
cho việc trao đổi giữa các Giáo Hội địa phương mạnh mẽ và tức thời
hơn, nuôi dưỡng nhận thức chung và sự hợp tác với nhau.
Chúng ta cám tạ Chúa vì sự hiện diện của những phương tiện
truyền thông mạnh mẽ, mà nếu được sử dụng bởi các tín hữu có đức
tin chân thật trong sự tuân phục ánh sáng của Thánh Thần, sẽ tạo
điều kiện cho sự truyền thông của Tin Mừng và làm cho các mối
giây hiệp nhất giữa các cộng đoàn giáo hội trở nên hiệu quả hơn.
III. MỘT THAY ĐỔI NÃO TRẠNG VÀ CANH TÂN
MỤC VỤ
7. Giáo Hội tìm thấy nơi các phương tiện truyền thông một
sự trợ giúp quý báu cho việc truyền bá Tin Mừng và các giá trị tôn
giáo, cho việc cổ võ đối thoại, sự hợp tác đại kết và liên tôn, và cho
cả sự bảo vệ những nguyên tắc cứng rắn thiết yếu cho việc kiến tạo
một xã hội tôn trọng phẩm giá con người và chú ý đến thiện ích
chung. Giáo Hội sẵn lòng sử dụng những phương tiện truyền thông
này để đưa ra những thông tin về chính mình và mở rộng các biên
giới truyền giáo, giáo lý và đào tạo, trong khi xem việc sử dụng
chúng như một lời đáp trả cho lệnh truyền của Chúa: “Anh em hãy
đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ
tạo” (Mc 16:15).
Đây chắc chắn không phải là một sứ vụ dễ dàng trong một
thời đại như thời đại chúng ta hiện nay, trong đó tồn tại xác tín cho
rằng thời của những điều chắc chắn đã chìm sâu trong quá khứ. Thật
vậy, nhiều người tin rằng nhân loại phải học cách sống trong bầu khí
thống trị bởi sự vô nghĩa, bởi sự tạm bợ và chóng qua. [5]  Trong bối
cảnh đó, các phương tiện truyền thông có thể được dùng “để công bố
Tin Mừng hay bắt Tin Mừng phải câm nín trong lòng người”. [6]  Điều
này đặt ra một thách đố nghiêm trọng với các tín hữu, đặc biệt các
bậc cha mẹ, các gia đình và tất cả những ai có trách nhiệm trong việc
đào tạo trẻ em và người trẻ. Những cá nhân trong Giáo Hội có năng
khiếu đặc biệt để hoạt động trong ngành truyền thông cần phải được
khích lệ với sự cẩn trọng và khôn ngoan mục vụ, sao cho họ có thể

trở thành những nhà chuyên nghiệp có thể đối thoại với thế giới bao
la của các phương tiện truyền thông đại chúng.

8. Thông hiểu về các phương tiện truyền thông không chỉ
giới hạn trong phạm vi những người có khiếu về lãnh vực này,
nhưng phải bao gồm toàn thể cộng đoàn Giáo Hội. Như đã nêu ở
trên, Kitô hữu cần chú ý đến nền văn hóa truyền thông họ đang sống
để có thể diễn đạt các khía cạnh khác nhau của đức tin: từ Phụng Vụ,
là hình thái diễn đạt hoàn bị và căn bản nhất về truyền thông với
Thiên Chúa và với tha nhân, đến Giáo Lý, là điều luôn hướng đến
con người đắm chìm trong ngôn ngữ và văn hóa thời nay.
Hiện tượng truyền thông hiện nay thúc đẩy Giáo Hội thực
hiện một sự tái duyệt mục vụ và văn hóa, để có thể thích ứng được
với thời đại của chúng ta. Hơn ai hết, các mục tử phải gánh lấy trách
nhiệm này. Mọi điều khả thi đều phải được đưa ra thực hiện để Tin
Mừng có thể thấm nhiễm vào xã hội, kích thích con người lắng nghe
và chấp nhận thông điệp của Tin Mừng. [7]  Về điểm này, những người
được thánh hiến thuộc các cơ cấu chuyên sử dụng các phương tiện
truyền thông có một trách nhiệm đặc biệt. Được đào tạo về linh đạo
và chuyên môn cho mục đích này, những cơ cấu này, “phải sẵn sàng
đưa ra những trợ giúp, bất cứ khi nào thích hợp về phương diện mục
vụ […] để bù đắp cho việc sử dụng không thích hợp các phương tiện
truyền thông; nâng cao phẩm chất các chương trình này; đề cao
những nội dung tôn trọng luật luân lý, phong phú về nhân bản; và cổ
võ các giá trị Kitô Giáo”. [8]

9. Các phương tiện truyền thông quan trọng đến độ mười lăm
năm trước đây tôi đã nhận định thật là không may khi phó thác hoàn
toàn việc sử dụng chúng cho những sáng kiến của các cá nhân hay
những nhóm nhỏ, và đề nghị rằng các phương tiện truyền thông phải
được dứt khoát đưa vào các chương trình mục vụ. [9]  Cách riêng, các
kỹ thuật mới đang tạo ra nhiều cơ hội cho truyền thông cần phải
phục vụ cho việc quản trị mục vụ và tổ chức các hoạt động khác
nhau của cộng đoàn Kitô Giáo. Một thí dụ điển hình ngày nay là
Internet không chỉ đưa ra các tài nguyên để thông tin phong phú hơn
nhưng còn thay đổi cách thế con người tương tác với truyền
thông. [10]  Nhiều Kitô hữu đang sử dụng khí cụ này cách sáng tạo, tìm

hiểu các tiềm năng của nó để trợ giúp các nghiã vụ truyền giáo và
giáo dục, cũng như truyền thông nội bộ, quản trị và chăn dắt. Tuy
nhiên, bên cạnh Internet, các phương tiện truyền thông mới khác,
cũng như các phương tiện truyền thông truyền thống, cần phải được
dùng đến. Các nhật báo và tuần báo, các ấn phẩm đủ loại, và các
chương trình truyền hình và truyền thanh Công Giáo vẫn còn là
những phương tiện hữu dụng trong nhãn giới hoàn chỉnh về truyền
thông Giáo Hội.
Trong khi nội dung truyền thông hiển nhiên là phải được
thay đổi cho phù hợp với nhu cầu của các nhóm khác nhau, mục tiêu
luôn luôn phải là làm cho quần chúng nhận thức về các chiều kích
đạo đức và luân lý của thông tin. [11]  Cũng vậy, điều quan trọng là cần
phải bảo đảm sao cho những nhà chuyên môn về truyền thông nhận
được sự đào tạo và sự chú ý mục vụ cần thiết để họ có thể đương
đầu với những căng thẳng đặc biệt và những tình huống luân lý nan
giải nảy sinh trong công việc hàng ngày. Rất thường là những người
nam nữ này “thành tâm muốn biết và thực thi điều gì là chính đáng
về luân lý và đạo đức” và trông mong sự hướng dẫn và nâng đỡ của
Giáo Hội. [12]
IV. TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG, NHỮNG NGÃ TƯ
CỦA CÁC ĐẠI VẤN NẠN XÃ HỘI
10. Giáo Hội, dưới ánh sáng của ơn cứu độ được Chúa trao
phó, cũng là thầy dạy của nhân loại, nhận thức nghĩa vụ của mình
đóng góp cho một sự hiểu biết tốt hơn về những dự phóng và những
trách nhiệm liên quan đến những phát triển hiện nay trong ngành
truyền thông. Đặc biệt vì chúng ảnh hưởng đến lương tâm của các cá
nhân, hình thành não trạng, và quyết định quan điểm trước các sự
việc, thật quan trọng để nhấn mạnh một cách mạnh mẽ và rõ ràng
rằng truyền thông đại chúng là một gia sản cần phải được bảo vệ và
đề cao. Truyền thông đại chúng cần được đặt trong khuôn khổ đã
được hình thành ban đầu về những quyền hạn và nghĩa vụ, dù theo
quan điểm về trách nhiệm đào tạo và luân lý, hay bởi ràng buộc về
luật pháp và các luật lệ.
Phát triển tích cực của truyền thông nhằm phục vụ thiện ích
chung là trách nhiệm của mỗi một người. [13]  Vì những liên hệ gần gũi

của truyền thông với kinh tế, chính trị và văn hóa, cần phải có một
hệ thống quản lý có thể bảo vệ vị trí trung tâm và phẩm giá của con
người, địa vị cao trọng của gia đình như một đơn vị căn bản của xã
hội và quan hệ chính đáng giữa các thành viên trong gia đình.

11. Chúng ta đối diện với ba vấn đề căn bản: cơ chế, dự phần
và đối thoại.
Trước hết, rất nhiều việc liên quan đến cơ chế là cần thiết để
bảo đảm rằng truyền thông đại chúng được hiểu rõ và được sử dụng
cách thông minh và thích hợp. Những từ vựng mới do các phương
tiện truyền thông đưa vào xã hội thay đổi cả các tiến trình học hỏi
lẫn phẩm chất của các mối quan hệ giữa con người với nhau, đến nỗi
nếu không có một cơ chế thích hợp, các phương tiện truyền thông
đại chúng này đi đến chỗ lèo lái và uốn nắn mạnh mẽ con người hơn
là phục vụ họ. Điều này đặc biệt đúng nơi những người trẻ, là lứa
tuổi có khuynh hướng tự nhiên hướng về các sáng tạo kỹ thuật, và
do đó cần sự giáo dục tốt hơn về việc sử dụng có trách nhiệm và
thiết yếu các phương tiện truyền thông.
Điều thứ hai, tôi muốn kêu gọi sự lưu tâm của chúng ta đối
với vấn đề thủ đắc các phương tiện truyền thông và sự dự phần đồng
trách nhiệm trong việc quản lý các phương tiện này. Nếu các
phương tiện truyền thông đại chúng là thiện ích cho tất cả mọi
người, thì hơn bao giờ một cách thế mới phải được tìm ra – bao gồm
cả việc phải dùng đến các biện pháp về luật pháp thích hợp – để hiện
thực hóa việc dự phần thực sự của tất cả mọi người trong việc quản
lý chúng. Một nền văn hóa đồng trách nhiệm cần phải được nuôi
dưỡng.
Cuối cùng, không thể quên những khả năng to lớn của các
phương tiện truyền thông đại chúng trong việc cổ võ đối thoại, trong
việc trở nên phương tiện cho sự hiểu biết lẫn nhau, tình liên đới và
hòa bình. Các phương tiện truyền thông là một tài nguyên mạnh mẽ
cho thiện ích nếu được dùng để nuôi dưỡng sự hiểu biết lẫn nhau
giữa các dân tộc; chúng cũng có thể là “những vũ khí” hủy diệt nếu
được dùng để gieo rắc bất công và xung khắc. Vị tiền nhiệm đáng
kính của tôi, Chân Phước Gioan XXIII, đã cảnh cáo cách tiên tri về

những hiểm họa này trong Thông điệp “Pacem in Terris” (Hòa Bình
Tại Thế). [14]

12. Suy tư về vai trò “của công luận trong Giáo Hội” và “của
Giáo Hội trước công luận” nảy sinh nhiều điều đáng quan tâm.
Trong một cuộc gặp gỡ với các chủ bút các ấn bản Công Giáo, vị
tiền nhiệm đáng kính của tôi, Đức Piô XII, khẳng định rằng đời sống
của Giáo Hội sẽ thiếu đi điều gì đó nếu Giáo Hội không cho một ai
có ý kiến. Ý tưởng tương tự cũng đã được lặp lại trong nhiều dịp
khác, [15]  và trong Giáo Luật cũng công nhận quyền phát biểu ý kiến
cá nhân trong một số điều kiện nhất định. [16]  Trong khi đúng là các sự
thật đức tin không thể để ngỏ cho bất cứ những diễn dịch tùy tiện
nào, và sự tôn trọng những quyền của người khác đặt ra những giới
hạn nội tại trên sự diễn đạt các phán đoán của ta, thật sự vẫn có chỗ
trong giới Công Giáo cho việc trao đổi các ý kiến trong một cuộc đối
thoại tôn trọng công lý và sự cẩn trọng.
Truyền thông cả trong nội bộ cộng đoàn Giáo Hội, lẫn giữa
Giáo Hội và thế giới nói chung, đòi hỏi một sự cởi mở và một bước
tiến mới trước các vấn đề đang phải đối diện liên quan đến thế giới
truyền thông. Việc truyền thông này cần hướng đến một cuộc đối
thoại xây dựng để cổ võ cho một công luận được thông tin đúng đắn
và sáng suốt trong nội bộ cộng đoàn Kitô hữu. Giáo Hội, cũng như
các cơ cấu và các tập thể khác, có nhu cầu và có quyền quảng bá các
hoạt động của mình. Tuy nhiên, khi cần thiết, Giáo Hội phải bảo
đảm một sự riêng tư thích hợp, mà không làm ảnh hưởng đến việc
truyền thông đúng thời điểm và cần thiết về các biến cố của Giáo
Hội. Đây là một trong các lãnh vực trong đó sự hợp tác giữa giáo
dân và các Mục Tử thật cần thiết, như Công Đồng đã nhấn mạnh
cách thích đáng: “Giáo Hội trông chờ nhiều điều lớn lao kỳ diệu nảy
sinh từ cuộc đối thoại quen thuộc này giữa giáo dân và nhà lãnh đạo
tinh thần của họ: mong đợi nơi giáo dân một ý tưởng được củng cố
về trách nhiệm cá nhân; một lòng nhiệt thành được canh tân; một sự
sẵn sàng áp dụng tài năng của họ vào các đề án của các vị lãnh đạo
tinh thần. Mặt khác, Giáo Hội chờ mong nơi các nhà lãnh đạo tinh
thần, với sự trợ giúp kinh nghiệm của giáo dân, có thể đi đến những
quyết định rõ ràng hơn và khôn ngoan hơn liên quan đến cả các vấn

đề thiêng liêng lẫn thế tục. Bằng cách này, toàn thể Giáo Hội, được
củng cố bởi mỗi một thành viên của mình, có thể hoàn thành hiệu
quả hơn sứ vụ của mình cho cuộc sống của thế giới”. [17]
V. ĐỂ TRUYỀN THÔNG VỚI QUYỀN NĂNG CỦA
THÁNH THẦN
13. Thách đố lớn nhất của thời đại chúng ta đối với các tín
hữu và tất cả những người thiện chí là làm sao duy trì được sự
truyền thông trung thực và tự do để giúp củng cố tiến bộ toàn diện
trên thế giới. Mọi người cần biết cách nuôi dưỡng một nhận thức
tinh tế và một sự cảnh giác thường xuyên, trong khi phát triển một
khả năng quan yếu lành mạnh liên quan đến sức mạnh thuyết phục
của các phương tiện truyền thông đại chúng.
Cũng trong lãnh vực này, những tín hữu tin vào Đức Kitô
biết rằng họ có thể trông cậy nơi sự phù trợ của Thánh Thần. Sự phù
trợ này cần thiết hơn tất cả khi ta xét đến mức độ lớn lao mà những
trở ngại nội tại đối với truyền thông có thể bị nhân rộng ra bởi các
chủ nghĩa, bởi lòng tham muốn lợi lộc và quyền lực, và bởi những
đố kỵ và mâu thuẫn giữa các cá nhân và các tập thể, cũng như sự
yếu đuối của nhân loại và những rắc rối trong xã hội. Những kỹ
thuật tiên tiến làm gia tăng đến mức đáng kể tốc độ, số lượng và khả
năng thâm nhập của truyền thông, nhưng tất cả những thứ đó không
tạo điều kiện dễ dàng hơn cho sự trao đổi tế nhị diễn ra giữa những
trí óc, những tâm hồn, là tính chất đặc thù của loại truyền thông
phục vụ cho tình liên đới và yêu thương.
Xuyên suốt lịch sử ơn cứu độ, Đức Kitô đã tự trình bày Ngài
với chúng ta như là “nhà truyền thông” của Chúa Cha: “Thiên Chúa,
trong những ngày sau hết này, đã nói với chúng ta qua Con Ngài”
(Dt 1:2). Ngôi Lời hằng sống hóa thành nhục thể, trong khi truyền
thông về chính Ngài, luôn luôn chứng tỏ sự tôn trọng đối với những
ai lắng nghe, dạy bảo họ hiểu biết về tình trạng và những nhu cầu
của mình, động lòng trắc ẩn trước những đau khổ họ phải chịu,
mạnh mẽ dạy bảo họ chỉ những điều họ cần lắng nghe mà không áp
đặt hay tương nhượng, lừa phỉnh hay lèo lái. Đức Giêsu dạy rằng
truyền thông là một hành vi luân lý, “Người tốt thì rút cái tốt từ kho
tàng tốt của mình; kẻ xấu thì rút cái xấu từ kho tàng xấu của mình.

Tôi nói cho các người hay: đến Ngày phán xét, người ta sẽ phải trả
lời về mọi điều vô ích mình đã nói. Vì nhờ lời nói của anh mà anh sẽ
được trắng án; và cũng tại lời nói của anh mà anh sẽ bị kết án” (Mt
12:35-37).

14. Thánh tông đồ Phaolô có một thông điệp rõ ràng cho
những ai dự phần trong truyền thông (các chính trị gia, những nhà
truyền thông chuyên nghiệp, những khán giả), “Bởi thế, một khi đã
cởi bỏ sự gian dối, mỗi người trong anh em hãy nói sự thật với
người thân cận, vì chúng ta là phần thân thể của nhau… Anh em
đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói
những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe” (Ep
4:25,29).
Với những ai hoạt động trong ngành truyền thông, đặc biệt
với những tín hữu đang dự phần trong lãnh vực quan trọng này của
xã hội, tôi gởi đến anh chị em lời mời gọi, mà từ đầu sứ vụ Mục Tử
Giáo Hội Hoàn Vũ, tôi đã muốn gởi đến toàn thế giới “Đừng sợ!”.
Đừng sợ những kỹ thuật mới! Chúng nằm “trong số những
điều kỳ diệu” — “inter mirifica” — mà Thiên Chúa đặt để trong tay
chúng ta để khám phá, sử dụng và công bố sự thật, cũng là sự thật về
phẩm giá của chúng ta về vận mệnh của chúng ta như là con cái của
Ngài, những người thừa tự Vương Quốc vĩnh cửu của Ngài.
Đừng sợ bị thế gian chống đối! Đức Giêsu đã bảo đảm với
chúng ta, “Thầy đã chiến thắng thế gian!” (Ga 16:33).
Đừng sợ ngay cả với sự yếu đuối và bất toàn của chúng ta!
Thầy Chí Thánh đã nói: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận
thế”. (Mt 18:20). 
Hãy truyền thông sứ điệp của Đức Kitô về hy vọng, ơn sủng và tình
yêu, trong khi giữ cho sống động, trong thế giới đang qua đi này,
triển vọng vĩnh cửu của thiên đàng, một triển vọng mà không
phương tiện truyền thông đại chúng nào có thể trực tiếp truyền
thông, “Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người
không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những
ai mến yêu Người” (1 Cr 2:9).

Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã ban cho chúng con Ngôi Lời hằng
sống, Mẹ đã giữ những lời không lay chuyển của Ngài trong lòng,
con xin phó dâng hành trình của Giáo Hội trong thế giới hôm nay
cho Mẹ. Xin Đức Mẹ giúp chúng con truyền thông bằng mọi phương
tiện vẻ đẹp và niềm vui của cuộc sống trong Đức Kitô, Đấng Cứu
Độ chúng con.
Tôi ưu ái ban phép lành Tòa Thánh cho tất cả anh chị em!

 
 
[1]  Công Đồng Vatican II, Sắc Lệnh “Inter Mirifica” (Giữa
Những Điều Kỳ Diệu), số 1.
[2]  Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Tông huấn “Evangelii
Nuntiandi” (Loan Báo Tin Mừng Trong Thế Giới Mới) (8/12/1975):
AAS 68 (1976), pp. 45.
[3]  Chú thích riêng của người dịch: Đồi Arê (Areopagus) nơi
người Hy Lạp tụ họp bàn chuyện chính sự.
[4]  x. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông Huấn
“Christifideles Laici” (Ơn Gọi và Sứ Vụ Giáo Dân Trong Đời Sống
Giáo Hội) (30 Tháng 12, 1988), số 18-24: AAS 81 (1989), pp. 421-
435; x. Hội Đồng Giáo Hoàng về Truyền Thông Xã Hội, Huấn thị
mục vụ “Aetatis Novae”(Feb. 22, 1992), số 10: AAS 84 (1992), pp.
454-455.

13
[5]  x. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp “Fides et
Ratio” (Đức Tin và Lý Trí)(14/9/1998), số 91: AAS 91 (1999), pp.
76-77.
[6]  x. Hội Đồng Giáo Hoàng về Truyền Thông Xã Hội, Huấn
thị mục vụ “Aetatis Novae”(22/2/1992), số 4: AAS 84 (1992), pp.
450.
[7]  x. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông Huấn Hậu
Thượng Hội Đồng Giám Mục “Pastores Gregis”, số 30:
L’Osservatore Romano, 17/10/2003, pp. 6.
[8]  Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông Huấn Hậu
Thượng Hội Đồng Giám Mục “Vita Consecrata” (25/3/1996), số 99:
AAS 88 (1996), pp. 476.
[9]  x. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp
“Redemptoris Missio” (Sứ Vụ của Đấng Cứu Thế) (7 Tháng 12,
1990), số 37: AAS 83 (1991), pp. 282-286.
[10]  x. Hội Đồng Giáo Hoàng về Truyền Thông Xã Hội, Huấn
thị “Giáo Hội và Internet”(22/2/2002), số 6: Thành Vatican, 2002,
pp. 13-15.
[11]  x. Công Đồng Vatican II, Sắc Lệnh “Inter Mirifica”
(Giữa Những Điều Kỳ Diệu), số 15-16; Hội Đồng Giáo Hoàng về
Truyền Thông Xã Hội, Huấn thị mục vụ “Communio et
Progressio”(23/5/1971), số 107: AAS 63 (1971), pp. 631-632; Hội
Đồng Giáo Hoàng về Truyền Thông Xã Hội, Huấn thị mục vụ
“Aetatis Novae” (22/2/1992), số 18: AAS 84 (1992), pp. 460.
[12]  x. Ibid., 19: l.c.
[13]  x. Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, số 2494.
[14]  x. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Sứ điệp Ngày Quốc
Tế Truyền Thông lần thứ 37(24/1/2003): L’Osservatore Romano,
25/1/2003, pp. 6.
[15]  x. Công Đồng Chung Vatican II, Hiến chế “Lumen
Gentium” (Ánh Sáng Muôn Dân), số 37; Hội Đồng Giáo Hoàng về
Truyền Thông Xã Hội, Huấn thị mục vụ “Communio et
Progressio” (May 23, 1971), số 114-117: AAS 63 (1971), pp. 634-
635.

14
[16]  Giáo Luật điều 212, §3: “Theo trình độ, khả năng và uy tín
có được, họ có quyền và ngay cả đôi khi là bổn phận phải trình bày
với các mục tử có chức thánh ý kiến của họ về những vấn đề có lợi
cho Giáo Hội và công bố ý kiến của họ cho toàn thể các tín hữu,
miễn là không xuyên tạc sự toàn vẹn của đức tin và luân lý, trong
niềm tuân phục các vị mục tử của họ, và chú ý đến các thiện ích
chung và phẩm giá của con người”.
[17]  Công Đồng Vatican II, Hiến chế “Lumen Gentium” (Ánh
Sáng Muôn Dân), số 37.
http://catechesis.net/index.php/van-kien-giao-hoi/duc-giao-
hoang/tong-thu/1823-tong-thu-il-rapido-sviluppo-su-phat-trien-
nhanh-chong-cua-dgh-gioan-phaolo-ii-ngay-24-10-2005

Ban hành từ điện Vatican, ngày 24 tháng Giêng năm 2005,
Lễ Thánh Phanxicô Đệ Salê, Bổn Mạng Các Ký Giả.
+ IOANNES PAULUS II
Giáo Hoàng