LỜI GIỚI THIỆU

Chúng ta có thể nói: đối với các Giáo Hội Á Châu, sau Công Đồng Vaticanô II, không còn tài liệu nào của Giáo Hội quan trọng hơn Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á. Vì Tông huấn này chẳng những là các giáo huấn của riêng Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trước thềm thiên niên kỷ thứ ba, mà còn là suy tư, đúc kết kinh nghiệm và định hướng của Thượng Hội đồng Giám Mục Á Châu về sứ mạng của Giáo Hội tại lục địa Châu Á rộng lớn này.

Nhưng Tông huấn chỉ đem lại lợi ích thiêng liêng cho các tín hữu cũng như chỉ có thể đóng góp vào việc canh tân Giáo Hội và thăng tiến xã hội, nếu như Tông huấn được học hỏi và ứng dụng trong cuộc sống cá nhân và cộng đoàn của các thành phần khác nhau trong Giáo Hội.

Riêng với Giáo Hội Việt Nam thì việc tạo điều kiện cho giáo dân tiếp cận, học hỏi và ứng dụng Tông huấn vào cuộc sống là một vấn đề vừa quan trọng vừa cấp bách. Tuy ý thức được điều đó, nhưng vì khả năng và thời gian hạn hẹp, chúng tôi chỉ có thể đưa ra tài liệu khiêm tốn này gồm 21 đề tài. Khi soạn các đề tài, chúng tôi đã nỗ lực hết sức tuân theo các nguyên tắc sau đây :

  1. Trung thành với nội dung Tông huấn..
  2. Làm nổi bật những xác tín và quan điểm vừa mới mẻ vừa mang tính truyền thống của Giáo Hội về những vấn đề nóng bỏng và cấp bách của Châu Á hiện nay.
  3. Các đề tài thảo luận được ứng dụng trong môi trường sống cụ thể của mọi thành phần Dân Chúa.
  4. Quan tâm đến hoàn cảnh hiện tại của Giáo Hội Việt Nam giữa cộng đồng dân tộc gồm nhiều thành phần tôn giáo và văn hoá khác nhau.

Ước mong nỗ lực nhỏ bé này của chúng tôi đóng góp vào việc xây dựng Giáo Hội Việt Nam thân yêu.
Rất mong đón nhận những góp ý.
Nhóm Biên Soạn

TÔNG HUẤN GIÁO HỘI TẠI CHÂU Á

PHẦN NHẬP ĐỀ

Ai có thể hiểu được vì sao Thiên Chúa đã khởi sự kế hoạch cứu độ nhân loại của Ngài trên mảnh đất Á Châu, qua những con người của lục địa này và hoàn thành kế hoạch đó bằng cách sai Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô sinh xuống làm một người Á Châu ! Vui mừng trước đặc ân lớn lao này, Giáo Hội tại Châu Á không ngừng cất cao lời ca ngợi tình thương vô biên của Thiên Chúa.

Nhưng một điều khác cũng không kém huyền nhiệm là Đấng Cứu Độ thế giới đã sinh ra tại Châu Á, mà tới nay, sau 2000 năm, phần lớn dân châu lục này vẫn chưa biết tới Ngài ?

Câu hỏi này đặt ra những vấn đề lớn cho Giáo Hội Á Châu. Chính vì thế mà mùa xuân năm 1998, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã triệu tập Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu để các Nghị Phụ hiệp thông trong tình yêu, tìm hiểu môi trường Châu Á, chia sẻ kinh nghiệm mục vụ, khẳng định niềm tin vào Đấng Cứu Thế, nhất là để thực hiện một cuộc dấn thân mới vào sứ mạng loan báo Tin Mừng.

ĐỀ TÀI 1 :

GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT TÔNG HUẤN GIÁO HỘI TẠI CHÂU Á (SỐ 2,3,4)

MỤC ĐÍCH YÊU CẦU

Giúp mọi thành phần Dân Chúa hiểu được diễn tiến, ý nghĩa và nội dung Tông Huấn GIÁO HỘI TẠI CHÂU Á của ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II, để học hỏi và tìm ra những phương thế áp dụng.

TIẾP CẬN CHỦ ĐỀ

– Tông huấn là một huấn dụ công khai của Đức Giáo Hoàng vừa có tính khuyên nhủ, vừa có tính quyền bính để hướng dẫn đời sống Kitô hữu.

– Tông huấn Giáo Hội tại Châu Á nhắm đưa ra một giải đáp cho điều khó hiểu là tại sao Đấng Cứu Độ thế giới sinh ra tại Châu Á, mà cho đến ngày nay, phần lớn dân lục địa này vẫn không biết tới Ngài.

– Tông Huấn mong muốn mọi thành phần Dân Chúa ý thức về sứ mạng của mình là làm sao cho Đức Giêsu Kitô được người dân Á Châu biết đến nhiều hơn.

HỌC HỎI TÔNG HUẤN

  1. Hỏi : Tại sao có Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu ?

Thưa : Trước hết ta cần biết về Thượng Hội Đồng Giám Mục: Thượng Hội Đồng Giám Mục là một cơ cấu được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI thiết lập ngày 16 tháng 9 năm 1965 qua Tự Sắc Mối Quan Tâm Của Tông Tòa (Apostolica Sollicitudo). Đó là một đại hội gồm các Giám Mục, đại diện từ nhiều miền khác nhau trên thế giới tập họp quanh Đức Giáo Hoàng để giúp ý kiến cho Ngài nhằm tìm kiếm những giải pháp mục vụ có giá trị hữu hiệu cho toàn thể Giáo Hội.

Trong chương trình các Thượng Hội Đồng Giám Mục theo châu lục, Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu đề cập vấn đề phúc âm hóa cho phù hợp với tình hình và nhu cầu riêng của Châu Á.

  1. Hỏi : Mục tiêu và đề tài của Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu là gì ?
    Thưa : – Mục tiêu của Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu là làm sao cho Kitô Giáo gặp gỡ các văn hóa và tôn giáo lâu đời của Châu Á.

– Đề tài của Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu là : Đức Giêsu Kitô Cứu Thế với sứ mạng yêu thương và phục vụ của Ngài tại Châu Á, “Để họ được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10)

  1. Hỏi : Thượng HĐGM Á Châu diễn tiến như thế nào ?
    Thưa : Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu diễn tiến qua các giai đoạn như sau :

– Chuẩn bị xa : Đó là các phiên họp khoáng đại và các hội nghị chuyên đề do Liên Hiệp Hội Đồng Giám Mục Á Châu tổ chức và các cuộc gặp gỡ trong tinh thần đối thoại giữa các Giáo Hội địa phương, kể cả các Giáo Hội Đông Phương.

– Chuẩn bị gần : Đó là những phiên họp của ban trù bị đề ra những phương pháp, đề cương, các nội dung làm việc của Thượng Hội Đồng.

– Phiên họp chính thức của Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu quy tụ 252 nghị phụ và các tham dự viên đã diễn ra từ ngày 18-4 đến ngày 14-5-1998 tại Vatican.

  1. Hỏi : Kết quả của Thượng HĐGM Á Châu như thế nào ?
    Thưa : Kết quả cụ thể là Tông huấn Giáo Hội tại Châu Á được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II công bố ngày 6-11-1999 tại New Delhi, Ấn Độ. Tông huấn này mở đường cho nhiều cải tiến sâu rộng tại các Giáo Hội Á Châu.
  2. Hỏi : Nội dung của Tông Huấn gồm những gì ?
    Thưa : Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, Tông huấn Giáo Hội tại Châu Á gồm 7 chương :

Ch I : Bối cảnh của Châu Á .
Ch II : Đức Giêsu Cứu Thế : một món quà gửi tặng Châu Á.
Ch III : Chúa Thánh Thần Là Đức Chúa và là Đấng Ban Sự Sống.
Ch IV : Đức Giêsu Cứu Thế : một quà tặng cần loan báo.
Ch V : Hiệp thông và đối thoại để truyền giáo.
Ch VI : Phục vụ thăng tiến con người.
Ch VII : Những người làm chứng cho Tin Mừng.

THẢO LUẬN VÀ ỨNG DỤNG

  1. Anh chị đã hiểu biết gì về Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu và Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á ?
  2. Giáo Hội Việt Nam đang triển khai học tập Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á, chúng ta nên làm gì và làm cách nào để giúp mọi người tiếp cận Tông Huấn ?

BÀI ĐỌC THÊM

NIÊN BIỂU CÁC THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC

Kể từ ngày Đức Giáo Hoàng Phaolô VI công bố Tự sắc Mối quan tâm của Tông Tòa (Apostolica Sollicitudo) 16.9.1965, cho đến nay đã có 19 khóa họp Thượng Hội Đồng Giám Mục. Khóa họp thứ 20 sẽ được tổ chức vào tháng 10. 2001. Sau đây là đề tài của các khóa họp :

  1. Khóa họp chung thường lệ lần thứ I từ ngày 29.9 đến 29.10.1967 với đề tài “Duy trì và củng cố sự toàn vẹn, sức mạnh, sự phát triển và sự nối kết về giáo thuyết và lịch sử của đức tin Công giáo”.
  2. Khóa học chung ngoại lệ lần thứ I từ ngày 11 – 28.10.1969 với đề tài “Sự hợp tác giữa Tòa thánh và các Hội đồng Giám mục”.
  3. Khóa họp chung thường lệ lần thứ II từ ngày 30.9 đến 6.11.1971 với đề tài “Thừa tác vụ Linh mục và Công lý trên thế giới”.
  4. Khóa họp chung thường lệ lần thứ III từ ngày 27.9 đến 26.10.1974 với đề tài “ Loan báo Tin Mừng trong thế giới hiện nay”. Tông huấn “Loan báo Tin Mừng” (Evangelii Nuntiandi) được Đức Phaolô VI công bố ngày 18.12.1975.
  5. Khóa họp chung Thường lệ lần thứ IV từ ngày 30.9 đến 29.10.1977 với đề tài “Việc dạy Giáo lý trong thời đại chúng ta”. Tông huấn “Dạy Giáo lý” (Catechesi Tradendae) được Đức Gioan Phaolô II ban hành ngày 16.10.1979.
  6. Khóa họp riêng dành cho Hà lan với đề tài “Tình trạng Mục vụ ở Hà Lan” từ ngày 14 – 31.1.1980.
  7. Khóa họp chung thường lệ lần thứ V từ ngày 26.9 đến 25.10.1980 với đề tài “Gia đình Kitô giáo”. Tông huấn “Gia đình” (Familiaris consortio) được Đức Gioan Phaolô II ban hành ngày 22.11.1981.
  8. Khóa họp chung thường lệ lần thứ VI từ ngày 29.9 đến 29.10.1983 với đề tài “Hòa giải và Thống hối trong Sứ vụ của Giáo Hội”. Tông huấn “Hòa giải và Thống hối” (Reconciliatio et Paenitentia) được Đức Gioan Phaolô II ban hành ngày 2.12.1984.
  9. Khóa họp chung ngoại lệ lần thứ II từ ngày 25.11 đến 8.12.1985 với đề tài “Kỷ niệm 20 năm ngày bế mạc Công đồng Vatican II”.
  10. Khóa họp chung thường lệ lần thứ VII từ ngày 1– 30.10.1987 với đề tài “Ơn gọi và Sứ mạng của người giáo dân trong Giáo Hội và Thế giới”. Tông huấn “Người Kitô hữu giáo dân” (Christifideles laici) được Đức Gioan Phaolô II ban hành ngày 30.12.1988.
  11. Khóa họp chung thường lệ lần thứ VIII từ ngày 30.9 – 28.10.1990 với đề tài “Huấn luyện Linh mục trong hoàn cảnh hiện nay”. Tông huấn “Mục tử cho thế giới” (Pastores dabo vobis) được Đức Gioan Phaolô II ban hành ngày 25.3.1992.
  12. Khóa họp riêng dành cho Châu Âu lần thứ I từ ngày 28.11 đến 14.12.1991 với đề tài “Để trở nên chứng nhân của Đức Kitô, Đấng giải thoát chúng ta”.
  13. Khóa họp riêng dành cho Châu Phi từ ngày 10.4 đến 8.5.1994 với đề tài “Giáo Hội Châu Phi và Sứ mạng truyền giáo hướng về năm 2000: Chúng con sẽ là nhân chứng của Thầy (Cv1,8)”. Tông huấn “Giáo Hội tại Châu Phi” (Ecclesia in Africa) được Đức Gioan Phaolô II ban hành ngày 14.9.1995.
  14. Khóa họp chung thường lệ lần thứ IX từ ngày 2– 29.10.1994 với đề tài “Đời sống thánh hiến và Sứ mạng của nó trong Giáo Hội và Thế giới”. Tông huấn “Đời sống thánh hiến” (Vita consecrata) được Đức Gioan Phaolô II ban hành ngày 25.3.1996.
  15. Khóa họp riêng dành cho Liban từ ngày 26.11 – 14.12.1995 với đề tài “Đức Kitô là nguồn Hy vọng của chúng ta: Được liên kết và đổi mới trong Chúa Thánh Linh để nên chứng nhân cho tình yêu của Ngài”. Tông huấn “Niềm hy vọng mới cho Liban” được Đức Gioan Phaolô II ban hành ngày 10.5.1997.
  16. Khóa họp riêng Châu Mỹ từ ngày 16.11 đến 12.12.1997 với đề tài “Gặp gỡ Đức Giêsu Kitô hằng sống: con đường dẫn tới hoán cải, hiệp thông và liên đới tại Châu Mỹ”. Đức Gioan Phaolô II ban hành Tông huấn “Giáo Hội tại Châu Mỹ” (Ecclesia in America)
  17. Khoá họp riêng Châu Á từ ngày 19.4 đến 14.5.1998 với đề tài “Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ với sứ mệnh thương yêu và phục vụ Châu Á: ‘Ta đến để chúng được sống và sống dồi dào’ (Ga 10,10). Tông huấn “Giáo Hội tại Châu Á (Ecclesia in Asia) được Đức Gioan Phaolô II ban hành ngày 6.11.1999.
  18. Khóa họp riêng Châu Đại Dương từ ngày 22.11 đến ngày 12 .12.1998 với đề tài “Đức Giêsu Kitô và các dân tộc Châu Đại Dương: Bước theo Ngài, công bố Sự Thật và sống Sức sống của Ngài”.
  19. Khóa họp riêng Châu Âu lần thứ II từ ngày 1 đến 23.10.1999 với đề tài: “Đức Giêsu Kitô hằng sống trong Giáo Hội, nguồn Hy vọng của Châu Âu”. Sứ điệp Thượng Hội Đồng : “Chúng tôi hân hoan làm chứng nhân cho Tin Mừng của niềm Hy vọng tại Châu Âu” (We joyfully witness to the “Gospel of Hope” in Europe)
  20. Khóa họp chung thường lệ lần thứ X từ ngày 30.9 đến ngày 27.10.2001 với đề tài “Giám mục: người phục vụ Tin Mừng Đức Giêsu Kitô cho niềm hy vọng của thế giới”.

Con Thiên Chúa đã ra đời,
Đơn sơ khiêm tốn làm người Á Châu.
Từ đây Nước Chúa khởi đầu,
Thấm vào thế giới như dầu loang nhanh.

TÔNG HUẤN GIÁO HỘI TẠI CHÂU Á

Chương I :

BỐI CẢNH Á CHÂU

Châu Á là nơi khai sinh của Đức Giêsu và cũng là nơi Chúa Giêsu lập Giáo Hội. Châu lục lớn nhất này chiếm hai phần ba dân số thế giới. Đây cũng là chiếc nôi của các tôn giáo lớn của thế giới và là nơi phát sinh nhiều truyền thống tâm linh khác.

Các dân tộc Châu Á đang sống trong một bối cảnh kinh tế xã hội và chính trị rất đa dạng, đồng thời phải đối mặt với biết bao vấn đề khó khăn phức tạp như sự chênh lệch giàu nghèo, vấn đề di cư, sự hình thành các đô thị khổng lồ – môi trường thuận lợi cho các tệ nạn và tội ác.

Giáo Hội đã kiên trì rao giảng Tin Mừng qua nhiều giai đoạn lịch sử và ngày nay, tuy sống trong một môi trường phức tạp như vậy, Giáo Hội luôn tin tưởng vào tâm tình đạo đức truyền thống của các dân tộc này, luôn biết tôn trọng và khao khát các giá trị tâm linh, lúc nào cũng đang trên đường đi tìm Đấng Tuyệt Đối. Giáo Hội nhìn thấy Thiên Chúa đang mở ra những chân trời mới của một nhân loại đang sẵn sàng đón nhận Tin Mừng.
Nhóm Biên Soạn

Đề Tài 2 Những đặc điểm của Châu Á (Số 5,6,7,8,9)

MỤC ĐÍCH YÊU CẦU

Giúp các thành phần Dân Chúa biết những đặc điểm của Châu Á về các phương diện tôn giáo, văn hóa, kinh tế , chính trị…

TIẾP CẬN CHỦ ĐỀ
Là một châu lục đa dạng về tôn giáo, văn hóa, kinh tế, chính trị, Châu Á chứa đựng biết bao điều huyền bí làm nên kho tàng phong phú vô tận mà nhân loại muốn khám phá.

Là người Á Châu, chúng ta càng phải hiểu biết hơn về lục địa mà chúng ta đang sống để biết quý trọng, bảo tồn, phát huy những giá trị cao quý của Châu Á, để biết cách giới thiệu Tin Mừng.

HỌC HỎI TÔNG HUẤN

  1. Hỏi : Tại sao ta cần phải hiểu biết về các thực tế xã hội, văn hóa, kinh tế, chính trị của Châu Á ?
    Thưa : Ta cần phải hiểu biết về các thực tế xã hội, văn hóa, kinh tế, chính trị của Châu Á vì cũng như nơi Đức Giêsu Nazareth, Thiên Chúa đã nhận lấy những yếu tố đặc thù của bản tính nhân loại, kể cả việc thuộc về một dân tộc nhất định và một xứ sở nhất định, thì Giáo Hội cũng sống và hoàn thành sứ mạng của mình trong những hoàn cảnh cụ thể của Châu Á.

7.Hỏi : Châu Á có những thực tại tôn giáo và văn hóa nào ?
Thưa : – Về Tôn giáo : Châu Á là chiếc nôi của các tôn giáo lớn trên thế giới, như Do Thái Giáo, Kitô Giáo, Hồi Giáo và Ấn Độ Giáo. Đó cũng là nơi khai sinh của nhiều truyền thống tâm linh khác như Đạo Phật, Đạo Lão, Đạo Khổng, Đạo Bái Hoả (Zoroastrianism), Đạo Giaina (Jainism), Đạo Sikh và Thần Đạo (Shintoism).

– Về văn hóa : Người Á Châu rất yêu chuộng các giá trị như : tôn trọng sự sống, từ bi với mọi loài, gần gũi thiên nhiên, hiếu thảo với cha mẹ, tôn kính người cao tuổi và tổ tiên, ý thức sâu sắc về cộng đoàn. Cách riêng, họ coi gia đình là nguồn sức mạnh đem lại sự sống, là một cộng đoàn liên kết chặt chẽ và có ý thức liên đới cao.

  1. Hỏi : Hiện tình kinh tế và xã hội của Châu Á như thế nào ?
    Thưa : – Về kinh tế : Một số quốc gia đã phát triển cao, một số quốc gia khác đang phát triển thông qua các chính sách kinh tế hữu hiệu và một số khác nữa đang sống trong cảnh bần cùng, được xếp vào số các nước nghèo nhất trên địa cầu.

-Về xã hội : Các xã hội Á Châu đang thay đổi nhanh chóng kéo theo những hiện tượng tích cực và tiêu cực như sự xuất hiện của các đô thị khổng lồ, việc di dân, du lịch, vấn đề gia tăng dân số, truyền thông đại chúng, cũng như tình trạng nghèo đói triền miên và nạn bóc lột con người.

  1. Hỏi : Đâu là những thực tế chính trị của Châu Á ?
    Thưa : Tại Châu Á ngày nay tình hình chính trị rất phức tạp với đủ mọi ý thức hệ, từ những hình thức chính phủ dân chủ đến những hình thức cai trị thần quyền, các chế độ độc tài quân sự và các ý thức hệ vô thần.
  2. Hỏi : Tình hình Giáo Hội tại Châu Á như thế nào ?
    Thưa : – Trong quá khứ, mặc dù đã hiện diện từ nhiều thế kỷ và đã có rất nhiều nỗ lực tông đồ, nhưng ở nhiều nơi, Giáo Hội vẫn bị coi là xa lạ đối với người Á Châu, thậm chí đối với một số người, Giáo Hội còn bị coi là đã liên kết với các chính quyền thực dân.

– Trong hiện tại : Nhờ sức thúc đẩy của Công đồng Vaticanô II, Giáo Hội tại Châu Á nhận thấy mình đang sống giữa những con người tỏ ra rất khát khao Thiên Chúa. Giáo Hội biết rằng khát vọng ấy chỉ có thể được thoả mãn hoàn toàn bởi Đức Giêsu Kitô, Tin Mừng của Thiên Chúa cho hết mọi dân tộc.

THẢO LUẬN VÀ ỨNG DỤNG

Anh chị biết gì về các tôn giáo lớn và các thể chế chính trị tại Châu Á ?
Những đặc điểm của Châu Á ảnh hưởng như thế nào trên đời sống Giáo Hội tại Việt nam nhất là trong sinh hoạt giáo xứ và cộng đoàn của anh chị ?

BÀI ĐỌC THÊM

VÀI NÉT VỀ CHÂU Á

Châu Á là một châu lục lớn nhất thế giới. Diện tích 44,390 triệu km2. Số dân 3,251 tỷ, chiếm hơn 60% dân số thế giới. Là một lục địa có những địa hình xung khắc nhau, Châu Á có núi Everest cao nhất thế giới (8.848m), và Biển Chết chìm sâu 394m dưới mức nước biển. Các nền văn hóa lớn của Châu Á là : Đông Á với Trung Hoa, Hàn Quốc và Nhật Bản ; Nam Á với Ấn Độ, Pakistan và Sri Lanka ; Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia… Các quốc gia thuộc Châu Á gồm có: Ấn Độ, Afghanistan, Ả Rập thống nhất, Arập Xêút, Armenia, Azerbaijan, Bahrain, Bangladesh, Bhutan, Brunei, Campuchia, Kuwait, Triều Tiên, Cyprus, Georgia, Jordan, Hàn Quốc, Indonesia, Đông Timor, Iraq, Iran, Israel, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Lào, Liban, Malaysia, Maldives, Mông cổ, Myanmar, Nepal, Nhật Bản, Oman, Pakistan, Philippines, Qatar, Singapore, Sri Lanka, Syria, Tajikistan, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Macao, Turkmenistan, Uzbekistan,Việt Nam, Yemen,

Trong các quốc gia ở Châu Á, tổng sản lượng quốc dân GNP cao nhất là Nhật Bản với 4.089,0 tỷ đô la/năm, thu nhập đầu người là 32.380 đôla Mỹ. Thu nhập của các nước thấp nhất là Mông cổ, Lào, Armênia, Kyrgyzstan, Nepal… khoảng 180-280/năm. Bình quân thu nhập đầu người của VIỆT NAM là 300 đôla Mỹ/năm. (Bước vào thế kỷ 21– báo cáo về tình hình phát triển thế giới 1999/2000 Ngân hàng thế giới – NXB Chính Trị Quốc Gia)

Giữa đau thương, giữa hy sinh,
Vẫn tươi muôn vẻ, vẫn xinh muôn màu.
Những tiềm năng của Á Châu,
Nâng hy vọng của hoàn cầu lên cao.

 

TÔNG HUẤN GIÁO HỘI TẠI CHÂU Á

Chương II : ĐỨC GIÊSU CỨU TINH MỘT MÓN QUÀ GỬI TẶNG CHÂU Á

Chương 2 & Chương 3 là những suy tư thần học làm nền tảng cho những đường hướng mục vụ ở các chương sau.

Đức Giêsu Kitô vừa là quà tặng Giáo Hội nhận được, vừa là món quà để chia sẻ. Giáo Hội nhận được từ tay Thiên Chúa để thông chia cho toàn thể nhân loại.

Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa làm người, Ngài đã mặc khải trọn vẹn về Chúa Cha và chương trình cứu độ của Chúa Cha cho nhân loại. Ngài còn mặc khải cho con người biết rõ phẩm giá tuyệt vời của mình. Với sứ mạng khôi phục lại sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và loài người, cũng như giữa con người với nhau, Ngài đã muốn quy tụ mọi con cái Thiên Chúa thành một gia đình yêu thương. Là Đấng Cứu Độ duy nhất, Ngài đã hoàn thành chương trình cứu độ phổ quát của Chúa Cha. Ngài đã chết trên thập giá và phục sinh vinh hiển, để nhân loại được tha thứ tội lỗi và được hòa giải với Chúa Cha.

Giáo Hội không ngừng nỗ lực nói với Châu Á rằng : mọi giá trị đích thực của các truyền thống, các tôn giáo và văn hóa… đều đạt tới mức sung mãn và hoàn thành nơi Đức Kitô. Cũng chính Ngài là Tin Mừng cho bất cứ ai đang đi tìm ý nghĩa của cuộc đời và sự thật của con người.
Nhóm Biên Soạn

Đề Tài 3 (06/01/2002)

Đức Giêsu Kitô, món quà Thiên Chúa gửi tặng nhân loại xuất thân từ Châu Á
(số 1, 10)

Mục đích yêu cầu
Giúp mọi người hiểu biết Đức Giêsu Kitô là người Châu Á và là món quà lớn nhất mà Thiên Chúa tặng cho các dân tộc Á Châu.

TIẾP CẬN CHỦ ĐỀ
– Người ta chọn những món quà quý giá, hợp với sở thích và nhu cầu để trao tặng cho nhau, qua đó người tặng muốn bày tỏ tình yêu và sự quý trọng của mình. Đón nhận món quà là muốn kết thân.

– Trước một Châu Á có rất nhiều người khao khát Thiên Chúa, Giáo Hội muốn chia sẻ món quà cao quý nhất cho mọi người là niềm tin vào Đức Giêsu Kitô, niềm tin đã làm cho Giáo Hội sống và sống dồi dào.

HỌC HỎI TÔNG HUẤN

11.Hỏi : Tại sao nói rằng Châu Á có một vị trí đặc biệt trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa?
Thưa : Vì ngay từ đầu, Thiên Chúa đã mặc khải và thực hiện ý định cứu độ của Ngài tại Châu Á. Ngài hướng dẫn các tổ phụ Ápraham, Isaác, Giacóp và kêu gọi ông Môsê đưa dân Ngài đi về miền đất tự do. Rồi Ngài ngỏ lời với dân được chọn ấy thông qua nhiều ngôn sứ, thủ lãnh, vua chúa và cả những phụ nữ kiên vững trong đức tin. Cuối cùng, khi thời gian tới hồi viên mãn, Ngài đã sai Con Một của Ngài đến, là Đức Giêsu Kitô Cứu Thế làm một người Á Châu.

12.Hỏi : Thái độ của Đức Giêsu Kitô đối với mảnh đất quê hương tại Châu Á của Ngài như thế nào?

Thưa : Đức Giêsu Kitô đã tha thiết yêu thương mảnh đất ấy. Ngài đã lấy lịch sử, khổ đau và hy vọng của dân tộc ở đó làm lịch sử, khổ đau và hy vọng của mình. Ngài yêu quý dân tộc Do Thái và đón nhận những truyền thống và di sản của họ.

  1. Hỏi : Tại sao Tông Huấn gọi Đức Giêsu Kitô là món quà lớn nhất mà Giáo Hội có thể tặng cho Châu Á ?
    Thưa : Vì Giáo Hội muốn cống hiến sự sống mới đã tìm được nơi Đức Giêsu Kitô cho hết mọi dân tộc tại Châu Á, khi thấy họ đang đi tìm một sự sống viên mãn, để họ cũng có thể sống hiệp thông đối với Chúa Cha và Con Ngài là Đức Giêsu Kitô, trong quyền năng Chúa Thánh Thần.
  2. Hỏi : Các khó khăn tại Châu Á có làm nản lòng Giáo Hội tại Châu Á trong việc chia sẻ món quà đức tin ấy không ?
    Thưa : Không. Những thách đố đặt ra cho các nỗ lực phúc âm hoá càng thôi thúc Giáo Hội Á Châu tìm cách thông truyền đức tin mà chính mình đã kế thừa từ các Tông đồ, cũng là đức tin mà chính Giáo Hội Á Châu đang kiên trung gìn giữ cùng với Giáo Hội toàn cầu.

15.Hỏi: Ai có nhiệm vụ chia sẻ món quà đức tin cho người khác?
Thưa : Chia sẻ chân lý của Đức Giêsu Kitô cho người khác là nghĩa vụ cao cả của tất cả những ai đã nhận được ơn đức tin. Vì thế, mọi người Công Giáo Á Châu đều có bổn phận làm chứng cho đức tin và cho đời sống Kitô hữu, đó là cách phục vụ cao cả nhất cho anh chị em mình và cũng là cách đáp trả ý muốn của Thiên Chúa.

THẢO LUẬN VÀ ỨNG DỤNG

  1. Việc nhận biết Đức Giêsu Kitô là người Á Châu có làm cho anh chị cảm thấy hân hạnh và gần gũi Ngài hơn không? vì sao?
  2. Đức tin là món quà lãnh nhận để chia sẻ, anh chị và cộng đoàn của anh chị cảm nhận và sống như thế nào ?
  3. Học hỏi, cầu nguyện và suy nghĩ để lãnh hội Chân Lý vĩnh cửu là Đức Giêsu Kitô, trong các việc này, anh chị thường thiếu sót việc nào ? lý do tại sao ?

BÀI ĐỌC THÊM

CHÚNG TÔI KHÔNG THỂ KHÔNG NÓI RA
(Cv 4,20)

Trong sự tôn trọng mọi xác tín tôn giáo và mọi cảm nhận, trước tiên chúng ta phải xác định rõ ràng niềm tin của chúng ta vào Đức Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của con người, niềm tin mà chúng ta đón nhận như ân huệ từ trên ban xuống, trong khi chúng ta chẳng có công trạng gì.

Đức Kitô đã tuyên bố Ngài là Con Thiên Chúa, kết hiệp mật thiết với Chúa Cha, và các môn đệ cũng nhìn nhận như vậy, Ngài đã xác nhận lời Ngài nói bằng những phép lạ và bằng việc sống lại từ cõi chết. Giáo Hội cống hiến Tin Mừng cho con người, đó là một chứng từ có tính ngôn sứ đáp ứng những đòi hỏi khát vọng của trái tim con người, và vẫn mãi mãi là “Tin Mừng”. Giáo Hội không được phép từ bỏ việc loan báo rằng Chúa Giêsu đã đến mặc khải dung mạo của Thiên Chúa, qua thập giá và phục sinh, Ngài đã đem lại ơn cứu độ.

Tại sao phải truyền giáo ? Nhờ niềm tin và kinh nghiệm của Giáo Hội, chúng tôi xin trả lời rằng sự giải phóng đích thực là đón nhận tình yêu của Đức Kitô. Nơi Ngài, và chỉ nơi một mình Ngài, chúng ta được giải thoát khỏi mọi tha hóa và lầm lạc, khỏi ách nô lệ của quyền lực tội lỗi và cái chết. Đức Kitô đích thực là sự “bình an của chúng ta” (Ep 2,14) và “tình yêu Đức Kitô thúc bách chúng ta” (2 Cr 5,14) đem lại ý nghĩa và niềm vui cho mọi người.

Cũng như thánh Phaolô, chúng ta được Thiên Chúa “ban cho ân sủng này là loan báo cho các dân ngoại sự phong phú khôn lường của Đức Kitô” (Ep 3,8). Cuộc sống mới trong Ngài là Tin Mừng cho con người thuộc mọi thời đại : mọi người đều được mời gọi và được chuẩn bị đến lãnh nhận cuộc sống đó. Thực sự mọi người đều tìm kiếm cuộc sống đó, dù đôi khi không rõ ràng, và mỗi người đều có quyền nhận biết và đạt tới ân huệ cuộc sống đó. Giáo Hội và mọi Kitô hữu trong Giáo Hội không được che giấu hay giữ riêng cho mình sự sống mới và sự phong phú mà họ đã nhận được do lòng nhân từ Thiên Chúa để truyền thông cho tất cả mọi người.

Do đó sứ vụ truyền giáo không chỉ phát xuất do lệnh truyền chính thức của Chúa Cứu Thế, mà còn do đòi hỏi sâu xa hơn của đời sống Thiên Chúa nơi chúng ta. Những ai gia nhập Giáo Hội Công Giáo phải tự coi mình như những người được đặc ân và do đó càng phải dấn thân làm chứng, bằng niềm tin và đời sống, chứng tá này là việc phục vụ anh chị em mình và là lời đáp trả cho Thiên Chúa, phải nhớ rằng : Địa vị cao trọng của mình không phải do công đức riêng mà là do đặc ân của Đức Kitô …
(Sứ vụ Đấng Cứu Thế – Redemptoris Missio – số 11)

Một niềm son sắt nêu cao,
Lòng tin rực sáng đặt vào Giêsu.
Là quà Thiên Chúa trao cho,
Cũng là tiếng gọi tự do đáp lời.

21 đề tài học hỏi Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu: Đề Tài 4

(08/01/2002). Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Thế duy nhất và phổ quát (số 11,12 & 14)

Mục đích yêu cầu

Làm sáng tỏ tính duy nhất lịch sử và tính phổ quát của ơn cứu độ mà Đức Giêsu Kitô mang lại cho hết mọi người.

TIẾP CẬN CHỦ ĐỀ

Một vị anh hùng cứu dân tộc khỏi ách nô lệ của ngoại bang nhưng tầm ảnh hưởng chỉ giới hạn trong một thời gian và không gian nhất định.

Duy một mình Đức Giêsu mới cứu mọi người khỏi nô lệ tội lỗi và cái chết đời đời, hoà giải con người với Thiên Chúa, mở đường cho mọi người hiệp thông với Chúa Ba Ngôi. Đối với Giáo Hội, Ngài là Đấng Cứu Thế duy nhất và phổ quát.

HỌC HỎI TÔNG HUẤN :

  1. Hỏi : Vì sao Đức Giêsu Kitô xứng danh là Đấng Cứu Thế ?
    Thưa : Sau khi mối quan hệ giữa Đấng Tạo Hoá và thụ tạo bị tội nguyên tổ cắt đứt, Đức Giêsu Kitô đã thi hành ý muốn của Cha Ngài là hoà giải toàn thể nhân loại với Chúa Cha bằng lời nói và việc làm của mình, nhất là bằng đau khổ, cái chết và sự sống lại. Nhờ đó Thiên Chúa đã ban ơn cứu độ cho nhân loại. Cho nên, Đức Giêsu xứng danh là Đấng Cứu Thế của chúng ta theo nghĩa đầy đủ nhất của từ ngữ này.
  2. Hỏi : Vì sao Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Thế duy nhất ?
    Thưa : Vì là Lời trọn vẹn của Chúa Cha, nên Đức Giêsu Kitô đã cho chúng ta biết Thiên Chúa và ý định cứu độ của Ngài một cách đầy đủ nhất. Ngài đã từng nói : “Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14,6), “Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” và “Chúa Cha đang ở trong Thầy, chính Ngài làm công việc của mình” (Ga 14,10). Chỉ trong con người Đức Giêsu, ta mới thấy lời cứu độ của Thiên Chúa tỏ hiện cách đầy đủ. Vì thế, vào thời sơ khai của Giáo Hội, thánh Phêrô dám tuyên bố : “Ngoài Đức Giêsu Kitô ra, không ai đem lại ơn cứu độ ; vì dưới gầm trời này, không có một Danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào Danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,12).
  3. Hỏi : Vì sao Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Thế phổ quát ?
    Thưa : Vì Đức Giêsu Kitô, qua mầu nhiệm chết và sống lại, là sự hoàn thành viên mãn của tất cả tạo vật, của tất cả lịch sử và tất cả những người khao khát sống sung mãn. Do đó, tất cả mọi người, ngay cả đối với những người không minh nhiên tuyên xưng niềm tin vào Ngài như là Vị Cứu Thế, thì ơn cứu độ vẫn đến từ Đức Giêsu Kitô như một hồng ân qua sự thông ban Chúa Thánh Thần.
  4. Hỏi : Vì sao Đức Giêsu Kitô là một con người cá biệt lại đóng một vai trò phổ quát như thế ?
    Thưa : Tuy Đức Giêsu và hoạt động cứu độ của Ngài có mặt trong lịch sử vào một thời điểm và một không gian nhất định, nhưng vì chỉ có mình Ngài là Chúa Con, Đấng Trung Gian duy nhất, đã hoàn tất chương trình cứu độ phổ quát của Chúa Cha, nên Ngài đã trở thành trung tâm và cùng đích của lịch sử.
  5. Hỏi : Sự kiện Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế duy nhất và phổ quát có ý nghĩa như thế nào đối với các dân tộc Á Châu ?
    Thưa : Khi chiêm ngắm Đức Giêsu trong bản tính nhân loại của Ngài, các dân tộc Á Châu sẽ tìm được câu trả lời cho những vấn nạn sâu xa nhất của mình, sẽ thấy những niềm hy vọng của mình được thực hiện, sẽ thấy phẩm giá mình được nâng cao và nỗi thất vọng bị chế ngự.

THẢO LUẬN VÀ ỨNG DỤNG

  1. Đức Giêsu Kitô đáp ứng những khát vọng sâu xa nhất của các dân tộc Á Châu như thế nào ?
  2. Anh chị làm gì để lương dân nhận biết Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Thế duy nhất và phổ quát trong bối cảnh xã hội và văn hóa Việt Nam hôm nay ?

BÀI ĐỌC THÊM

TÍNH DUY NHẤT VÀ TÍNH PHỔ QUÁT THUỘC MẦU NHIỆM CỨU ĐỘ CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ

Thuyết chối bỏ tính duy nhất và tính phổ quát cứu độ của mầu nhiệm Chúa Kitô cũng được nêu ra. Một lập trường như thế không có cơ sở Kinh Thánh. Thực sự, chân lý về Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, là Chúa và là Đấng Cứu Thế duy nhất, Đấng qua biến cố nhập thể, tử nạn và phục sinh của Ngài, đã đem lịch sử cứu độ tới chỗ viên mãn, và lịch sử cứu độ được viên mãn trong Ngài và lấy Ngài làm trung tâm, chân lý đó phải được tin vững vàng như là một yếu tố kiên định của đức tin Giáo Hội.

Tân Ước minh chứng sự kiện này cách minh bạch: “Chúa Cha đã sai Con của Ngài đến làm Đấng cứu độ thế gian” (1 Ga 4,14), “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian” (Ga 1,29). Trong bài diễn từ trước Thượng Hội đồng, thánh Phêrô, khi biện minh sự chữa lành cho một người què từ lúc mới sinh nhân danh Chúa Giêsu, đã tuyên bố: “Ngoài Ngài ra không ai đem lại ơn cứu độ, vì dưới gầm trời này, không có một Danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta nhờ vào Danh đó mà được cứu độ’ (Cv 4, 12). Hơn nữa, Thánh Phêrô còn nói rằng Chúa Giêsu Kitô “là Chúa mọi người”, “là quan xét kẻ sống và kẻ chết”, và như vậy “phàm ai tin vào Ngài thì sẽ nhờ Danh Ngài được ơn tha thứ” (Cv 10, 36.42.43).

Thánh Phaolô khi ngỏ lời với cộng đoàn Côrintô, viết: “Thật thế, mặc dầu người ta cho là có những vị thần ở trên trời hay dưới đất – quả thật thần cũng lắm, mà chúa cũng nhiều – nhưng đối với chúng ta, chỉ có một Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo thành vạn vật và là cùng đích của chúng ta, và cũng chỉ có một Chúa là Đức Giêsu Kitô, nhờ Ngài mà muôn vật được tạo thành, nhờ Ngài mà chúng ta được hiện hữu” (1 Cr 8, 5-6). Hơn nữa, Thánh Gioan tông đồ tuyên bố: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì không phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả thật, Thiên Chúa sai Con của Ngài đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Ngài mà được cứu độ” (Ga 3, 17-17). Trong Tân Ước, ý muốn cứu độ phổ biến của Thiên Chúa liên kết chặt chẽ với sự trung gian của Chúa Kitô mà thôi: “Chúa muốn cho mọi người được ơn cứu độ và nhận biết chân lý. Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và con người, đó là một con người, Đức Giêsu Kitô Đấng tự hiến và làm giá chuộc mọi người” (1 Tm 2, 4-6).

Chính vì ý thức có một ơn cứu độ phổ quát do Chúa Cha ban cho qua Đức Giêsu Kitô trong Thần Khí (x. Ep 1, 3-14), mà các người Kitô hữu đầu tiên đã đương đầu với dân Do Thái, minh chứng cho sự viên mãn của ơn cứu độ vượt quá lề luật và cũng do ý thức đó họ chạm trán với thế giới ngoại đạo ở thời đại của họ, một thế giới đặt niềm mong đợi sự cứu rỗi nơi nhiều đấng cứu thế. Mới đây, Huấn Quyền Giáo Hội đã nhắc lại di sản đức tin này: Giáo Hội tin rằng Đức Kitô, Đấng đã chết và sống lại cho mọi người (x. 2 Cr 5, 15) có thể nhờ Thần Khí của Ngài ban cho con người ánh sáng và sức mạnh, để con người có thể đáp lại thiên chức cao cả nhất của mình, vì dưới gầm trời này, không có một Danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào Danh đó mà được cứu độ (x. Cv 4, 12). Cũng vậy, Giáo Hội tin rằng đầu mối, trung tâm và cùng đích của toàn thể nhân loại gặp được trong Chúa và Thầy của Giáo Hội.
(Dominus Jesus – Phần III)

Ngoài Con Một của Chúa Cha,
Ai cho ta được xứng làm người con ?
Giêsu, ôi Chúa Chí Tôn,
Riêng mình Chúa mới ban ơn cứu đời.

21 đề tài học hỏi Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu: Đề Tài 5

(09/01/2002). Đề tài 5 : Đức Giêsu Kitô mặc khải trọn vẹn sự thật về con người (số 13)

Mục đích yêu cầu

Giúp cho mọi người nhận biết rằng thân phận con người được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể và con người được thông hiệp với Thiên Chúa như người Cha và mọi người là anh em với nhau.

TIẾP CẬN CHỦ ĐỀ

Con người luôn đi tìm câu giải đáp cho những vấn đề căn bản của đời người : Con người phát xuất từ đâu và hướng về đâu ? Sự thiện và tội ác là gì ? Đâu là nguyên nhân và mục đích của đau khổ ? Đâu là con đường dẫn tới hạnh phúc thật ? Cái chết, sự phán xét và thưởng phạt sau cái chết là gì ?

Con người đã cố gắng giải đáp những vấn nạn trên qua các tôn giáo, các triết thuyết và các ý thức hệ chính trị xã hội, nhưng vẫn chưa tìm được một giải đáp tối ưu. Giáo Hội Công Giáo tin rằng Đức Giêsu Kitô là câu giải đáp mà mọi người mong đợi.

HỌC HỎI TÔNG HUẤN :

  1. Hỏi : Đức Giêsu Kitô tỏ cho con người biết rõ về thân phận làm người như thế nào ?
    Thưa : Nhờ mầu nhiệm nhập thể, Đức Giêsu Kitô trả lại hình ảnh của Thiên Chúa nơi con cháu Ađam đã bị tội nguyên tổ làm cho sai lệch. Ngài đã cứu con người khỏi ách nô lệ tội lỗi, cho con người thông dự vào mầu nhiệm phục sinh, được nhận lãnh Thánh Thần để có thể gọi Thiên Chúa là Cha, và với tính cách là nghĩa tử của Thiên Chúa, được dành cho hưởng phúc vinh quang.

22.Hỏi : Cuộc sống làm người của Đức Giêsu dạy chúng ta điều gì ?
Thưa : Đức Giêsu đã dành trọn cuộc sống làm người của Ngài cho việc yêu mến và phục vụ Chúa Cha cũng như loài người, nên Ngài dạy ta đi theo con đường của Ngài là đón nhận tình yêu và đáp lại bằng chính tình yêu của mình, ngay cả khi phải đau khổ nhiều.

  1. Hỏi : Đức Giêsu đã khôi phục sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người như thế nào ?
    Thưa : Thông qua hy tế thập giá của Đức Giêsu Kitô, Chúa Cha đã ban cho loài người ơn hoà giải với Ngài. Trong Đức Giêsu Kitô, nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, chúng ta mới biết được Thiên Chúa luôn hiện diện giữa chúng ta, thậm chí kết hợp với mỗi người và mọi người trong mọi hoàn cảnh cuộc đời.
  2. Hỏi : Đức Giêsu đã thiết lập mối hiệp thông giữa con người với nhau như thế nào ?
    Thưa : Đức Giêsu làm cho mọi người vượt lên trên mọi chia rẽ để có thể sống với nhau như anh chị em khi cùng nhìn nhận một người Cha duy nhất ở trên trời. Đức Giêsu là sự bình an của chúng ta, quy tụ tất cả mọi con cái Thiên Chúa thành một gia đình yêu thương.

THẢO LUẬN VÀ ỨNG DỤNG

  1. Mầu nhiệm nhập thể của Con Thiên Chúa làm sáng tỏ thân phận con người ở những điểm nào ?
  2. Làm thế nào kính trọng mỗi người và mọi người, vì ai cũng có giá trị cao cả là được Thiên Chúa tạo dựng và được Đức Giêsu Kitô cứu chuộc ?

BÀI ĐỌC THÊM

CHÚA KITÔ, CON NGƯỜI MỚI

Thực vậy, mầu nhiệm về con người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể. Bởi vì Ađam con người đầu tiên đây là hình bóng của Ađam sẽ đến, là Chúa Kitô. Chúa Kitô – Ađam mới, trong khi mặc khải về Chúa Cha và tình yêu của Ngài, đã cho con người biết rõ về chính con người và tỏ cho họ biết thiên chức rất cao cả của họ. Bởi vậy, không lạ gì khi những chân lý đã nói đều tìm thấy nguồn gốc của chúng và đạt tới tột điểm nơi Chúa Kitô.

Là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình (Cl 1,15) chính Ngài là con người hoàn hảo đã trả lại cho con cháu của Ađam hình ảnh Thiên Chúa đã bị tội nguyên tổ làm sai lệch. Bởi vì nơi Ngài, bản tính nhân loại đã được mặc lấy chứ không bị tiêu diệt, do đó chính nơi chúng ta nữa bản tính ấy cũng được nâng lên tới một phẩm giá siêu việt. Bởi vì chính Con Thiên Chúa khi nhập thể, một cách nào đó đã kết hợp với tất cả mọi người. Ngài đã làm việc với bàn tay con người, đã suy nghĩ bằng trí óc con người, đã hành động với ý chí con người, đã yêu mến bằng quả tim con người. Sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria, Ngài đã trở nên một người như chúng ta, giống chúng ta mọi sự ngoại trừ tội lỗi

Là Chiên vô tội, Ngài tự ý đổ máu ra để cho chúng ta được sống, và chính trong Ngài, Thiên Chúa đã hòa giải chúng ta với Thiên Chúa và hòa giải giữa chúng ta với nhau, cũng như đem chúng ta ra khỏi ách nô lệ của tội lỗi, do đó mỗi người chúng ta có thể nói như Thánh Tông đồ rằng “Con Thiên Chúa đã yêu thương tôi, lại hiến thân cho tôi nữa” (Gl 2,20) Chịu đau khổ cho chúng ta, không những Ngài nêu gương để chúng ta theo vết chân Ngài, nhưng còn mở ra con đường mới để nếu chúng ta theo, thì sự sống và cái chết sẽ được thánh hóa và có một ý nghĩa mới. (Hiến chế Mục vụ về Giáo Hội trong thế giới hôm nay: Vui Mừng và Hy Vọng – số 22)

Hy sinh cứu độ mọi người,
Chúa cho ta sống cuộc đời tin yêu.
Dù khi đau khổ thật nhiều,
Được làm con Chúa là điều vinh quang.

 

TÔNG HUẤN GIÁO HỘI TẠI CHÂU Á

Chương III :

CHÚA THÁNH THẦN LÀ ĐỨC CHÚA VÀ LÀ ĐẤNG BAN SỰ SỐNG

Chúa Thánh Thần đã tác động ngay từ khi tạo dựng, Ngài liên tục hoạt động trong lịch sử trên phạm vi thế giới và vũ trụ. Ngài mặc khải chương trình của Chúa Cha trong Cựu ước. Ngài có vai trò quan trọng ngay từ giây phút đầu tiên của Ngôi Lời nhập thể, và luôn can thiệp vào cuộc đời và sứ mạng của Đức Giêsu.

Ngài cũng hoạt động như thế trong Thân Thể của Đức Kitô là Giáo Hội, để Giáo Hội hiểu biết sự thật về Đức Kitô, hầu trở nên một cộng đoàn chứng nhân và truyền giáo.

Nhưng Chúa Thánh Thần không hoạt động riêng biệt. Mọi việc Ngài làm đều nhằm thúc đẩy Giáo Hội cộng tác vào việc hoàn thành chương trình của Chúa Cha và hoàn tất công cuộc cứu độ của Đức Kitô trên trần gian.

Tại Châu Á, Chúa Thánh Thần đã hoạt động từ thời các tổ phụ và liên tiếp cho đến ngày nay, nhằm mục đích củng cố việc làm chứng đức tin. Ngài tạo ra các cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa Chúa Cứu Thế và các Dân tộc để giúp họ nhận ra Thiên Chúa chân thật và Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế được Ngài sai đến.

Giáo Hội Á Châu cầu xin Chúa Thánh Thần đến, và sẵn sàng hoạt động theo sự soi sáng và thúc đẩy của Ngài.

21 đề tài học hỏi Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu: Đề Tài 6

(10/01/2002). Chúa Thánh Thần trong chương trình cứu chuộc của Đức Kitô (số 15,16)

MỤC ĐÍCH YÊU CẦU

Nhìn nhận sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi các lý tưởng và việc làm cao đẹp đều hướng về Đức Giêsu và ơn cứu độ do Ngài mang đến.

TIẾP CẬN CHỦ ĐỀ

Người ta thường nói “đạo nào cũng tốt” nhưng những yếu tố tốt đẹp ấy đều do Chúa Thánh Thần hướng dẫn để muôn dân đón nhận Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô.

HỌC HỎI TÔNG HUẤN :

  1. Hỏi : Tại sao ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính : “Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống” ?
    Thưa : Tân Ước mặc khải Chúa Thánh Thần là Ngôi vị Thiên Chúa, là tình yêu liên kết giữa Chúa Cha và Chúa Con. Nhờ sức mạnh tình yêu đó mà Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ từ hư không, cho nên Chúa Thánh Thần được coi là nguồn sống của mọi thụ tạo.
  2. Hỏi : Vì sao có thể nói Chúa Thánh Thần đang điều khiển dòng lịch sử của thời đại và canh tân bộ mặt trái đất ?
    Thưa : Chúa Thánh Thần vẫn tiếp tục gieo các hạt giống chân lý vào các dân tộc, tôn giáo, văn hoá và tư tưởng của họ, để giúp con người, cá nhân và tập thể, hoạt động chống lại sự dữ và phục vụ sự sống cũng như tất cả những gì tốt đẹp.
  3. Hỏi : Chúa Thánh Thần đóng vai trò nào trong sự nhập thể của Ngôi Lời ?
    Thưa : Việc Nhập Thể của Con Thiên Chúa được coi là công trình cao cả nhất của Chúa Thánh Thần : “Thật vậy, Đức Giêsu Kitô được thụ thai và sinh ra, đó chính là công trình vĩ đại nhất mà Chúa Thánh Thần đã làm nên trong lịch sử sáng tạo và cứu chuộc : đó là ân huệ cao cả nhất, ơn kết hợp hai bản tính, cội nguồn sinh ra mọi ơn khác”.
  4. Hỏi : Có được tách biệt hoạt động của Chúa Thánh Thần với hoạt động của Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế không ?
    Thưa : Không. Chúa Thánh Thần không thay thế Đức Kitô. Bất cứ điều gì Chúa Thánh Thần làm được trong tâm hồn con người, trong lịch sử các dân tộc, trong các nền văn hoá và trong các tôn giáo, đều để chuẩn bị cho Tin Mừng và chỉ có thể hiểu được khi quy chiếu về Đức Kitô. Chúa Thánh Thần có mặt trong công trình sáng tạo và trong lịch sử là để đưa ta hướng về Đức Giêsu Kitô, vì nơi Đức Kitô, công trình sáng tạo và lịch sử được cứu chuộc và hoàn thành.

THẢO LUẬN VÀ ỨNG DỤNG

  1. Tại sao có thể nói rằng những gì là chân thiện mỹ trong các tôn giáo và các văn hoá đều do hoạt động của Chúa Thánh Thần ?
  2. Đề nghị giải thích câu nói sau đây của Công đồng Vaticanô II : “Những kẻ vô tình không nhận biết Phúc Âm của Chúa Kitô và Giáo Hội của Ngài, nhưng nếu thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa, và được tác động của ơn thánh, họ cố gắng chu toàn thánh ý của Thiên Chúa trong công việc mình theo sự hướng dẫn của lương tâm, thì họ có thể được cứu rỗi” (Hiến chế về Giáo Hội, số 16).
  3. Anh chị đã làm gì để bảo tồn và phát huy hoa trái của Chúa Thánh Thần trong đời sống của mình như “yêu thương, vui tươi, bình an, kiên nhẫn, nhân hậu, tử tế, tốt lành, tin cậy nhau, dịu dàng và tiết độ” (Gl 5,22-23) ?

BÀI ĐỌC THÊM

SỨ MẠNG CỦA CHÚA CON VÀ CHÚA THÁNH THẦN

Đức Kitô, Đấng đã trao Thần Khí trên Thập giá (x Ga 19,30) với tư cách là Con Người và Chiên Thiên Chúa, một khi sống lại, đi đến với các Tông Đồ để thổi hơi vào các ông với quyền năng như được nói trong thư gửi tín hữu Rôma (x. Rm 1,4). Đức Kitô sống lại, như thể khai mạc một cuộc tạo thành mới, “mang” Thánh Thần đến cho các Tông đồ. Ngài đem Thánh Thần đến cho các ông với điều kiện là Ngài phải ra đi, có thể nói Ngài ban Thánh Thần cho các ông xuyên qua những thương tích khi Ngài chịu đóng đinh trên thập giá, Ngài cho các ông thấy bàn tay và cạnh sườn Ngài. Chính nhờ hiệu quả của việc chịu đóng đinh mà Ngài nới với các ông : Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.

Như vậy là có sự liên hệ mật thiết giữa việc sai Chúa Con với việc sai Chúa Thánh Thần đến. Việc sai Chúa Thánh Thần đến (sau tội nguyên tổ) không thể có được nếu không có Thập giá và sự phục sinh. “Nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em” (Ga 16,7). Cũng có một sự liên hệ mật thiết nữa giữa sứ mạng của Chúa Thánh Thần và sứ mạng của Chúa Con trong công trình cứu chuộc. Sứ mạng của Chúa Con, theo một nghĩa nào đó, được hoàn tất trong việc cứu chuộc. Sứ mạng của Chúa Thánh Thần phát xuất từ việc cứu chuộc. “Người lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em” (Ga 16,15). Việc cứu chuộc được hoàn tất đầy đủ bởi Chúa Con như là Đấng được xức dầu, đã đến và đã hành động bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần, đã tự hiến mình làm tế phẩm tối thượng trên cây Thập giá. Việc cứu chuộc này cũng còn được tiếp tục hoàn thành trong lòng trí con người, trong lịch sử thế giới bởi Chúa Thánh Thần là “Đấng Bảo Trợ khác”. (Đức Gioan Phaolô II, Thông điệp về Chúa Thánh Thần, số 24 ngày 18.5.1986)

Chúa hà Hơi Thở thần linh,
Dựng nên vũ trụ, tác sinh muôn loài.
Thánh Thần mở lối, sáng soi,
Giúp ta mến Chúa, yêu người anh em. Nhóm Biên Soạn

21 đề tài học hỏi Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu: Đề Tài 7

(11/01/2002). Sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội ( số 17,18)

Mục đích yêu cầu

Giúp mọi thành phần Dân Chúa khám phá sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội.

TIẾP CẬN CHỦ ĐỀ

“Không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thánh Thần của Thiên Chúa” (1 Cr 2,11). Thánh Thần mặc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa, biết Đức Kitô là Ngôi Lời hằng sống, nhưng Thánh Thần lại không nói về mình. Vì thế chúng ta phải tìm hiểu Chúa Thánh Thần hiện diện và hoạt động trong Giáo Hội như thế nào.

HỌC HỎI TÔNG HUẤN :

  1. Hỏi : Chúa Thánh Thần đóng vai trò gì trong tương quan giữa Đức Giêsu và Giáo Hội ?
    Thưa : Chúa Thánh Thần luôn giữ gìn mối hiệp thông giữa Đức Giêsu và Giáo Hội bằng việc hướng dẫn Giáo Hội hiểu biết trọn vẹn sự thật về Đức Giêsu, làm cho Giáo Hội có khả năng tiếp tục sứ mạng của Đức Giêsu và làm cho các tín hữu được Thiên Chúa nhận làm dưỡng tử để thừa hưởng ơn cứu độ.
  2. Hỏi : Chúa Thánh Thần làm gì để xây dựng Giáo Hội ?
    Thưa : Chúa Thánh Thần làm những việc này :

– Một là khi ban cho Giáo Hội những đoàn sủng và ân huệ khác nhau, Chúa Thánh Thần giúp Giáo Hội càng ngày càng lớn lên trong sự hiệp thông như một thân thể do nhiều bộ phận làm nên.
– Hai là Chúa Thánh Thần quy tụ mọi dân tộc với những tập quán, những nguồn tài nguyên và khả năng khác nhau vào trong Giáo Hội để Giáo Hội trở nên dấu chỉ của sự hiệp thông toàn thể nhân loại dưới quyền thủ lãnh của Chúa Kitô.

  1. Hỏi : Đâu là điều quan trọng nhất mà Chúa Thánh Thần luôn nhắc nhở Giáo Hội ?
    Thưa : Chúa Thánh Thần luôn nhắc nhở Giáo Hội rằng Giáo Hội không phải là cùng đích của chính mình ; dù Giáo Hội có là gì hay có làm gì đi nữa, thì Giáo Hội hiện hữu là để phục vụ Chúa Kitô và công cuộc cứu độ trần gian.
  2. Hỏi : Chúa Thánh Thần có vai trò gì trong sứ mạng của Giáo Hội tại Châu Á ?
    Thưa : Chúa Thánh Thần vẫn luôn hoạt động nơi các Kitô hữu Á Châu để củng cố chứng tá đức tin của họ giữa các dân tộc, giữa các nền văn hoá và các tôn giáo của lục địa rộng lớn này và khơi dậy một sự khao khát “nước hằng sống” mà chỉ có Đức Kitô mới có thể thỏa mãn.
  3. Hỏi : Giáo Hội Á Châu cần cầu xin điều gì đặc biệt với Chúa Thánh Thần ?
    Thưa : Giáo Hội tại Châu Á xin Chúa Thánh Thần tiếp tục chuẩn bị các dân tộc Á Châu để họ gặp gỡ, đối thoại và nhận biết Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế hầu đón nhận ơn cứu độ.

THẢO LUẬN VÀ ỨNG DỤNG

  1. Anh chị hãy giải thích vì sao thánh Phaolô nói rằng :
    – “Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, khiến chúng ta được kêu lên : Ápba ! Cha ơi !” (Rm 8,15b)
    – “Không ai có thể nói ‘Đức Giêsu là Chúa’ nếu người ấy không ở trong Thần Khí” (1 Cr 12,3b)
  2. Tông huấn Giáo Hội tại Châu Á nhận định rằng “ngày càng có nhiều giáo dân được huấn luyện tốt hơn, nhiệt tình và đầy ơn Thánh Thần, nhận thức sâu sắc hơn ơn gọi riêng của mình trong cộng đoàn Giáo Hội…” Anh chị hãy minh họa bằng những ví dụ cụ thể ?

BÀI ĐỌC THÊM

CHÚA THÁNH THẦN LÀM CHO GIÁO HỘI
NÊN ĐỀN THỜ CỦA THIÊN CHÚA HẰNG SỐNG
(2 Cr 6,16).

Hồng ân Thiên Chúa được ủy thác cho Giáo Hội. Chính nơi Giáo Hội, Thiên Chúa cho chúng ta hiệp thông với Đức Kitô, nghĩa là được nhận lãnh Chúa Thánh Thần. Đấng bảo đảm cho chúng ta được sống đời đời, củng cố đức tin và làm chiếc thang đưa chúng ta lên tới Thiên Chúa…Vì ở đâu có Giáo Hội, thì ở đó có Thánh Thần của Thiên Chúa ; và ở đâu có Thánh Thần của Thiên Chúa thì ở đó có Giáo Hội và mọi thứ ân sủng (T. Irênê)

Chúa Thánh Thần là “nguyên lý của mọi hành động tác sinh và thật sự cứu độ trong từng thành phần của Thân Thể”. Bằng nhiều cách, Ngài xây dựng toàn thân trong bác ái, bằng Lời Thiên Chúa, “Lời có khả năng xây dựng” (Cv 20,32), bằng bí tích Thánh tẩy, tạo nên Thân Thể Đức Kitô, bằng các bí tích giúp các chi thể lớn lên và được chữa lành, bằng ân sủng được trao ban cho các tông đồ, ân sủng vượt trên các ân sủng khác” (GH 7), bằng các nhân đức, giúp các tín hữu hành động theo sự lành, và cuối cùng bằng những “đặc sủng” giúp các tín hữu “có đủ khả năng sẵn lòng đảm nhận các công việc và nhiệm vụ khác nhau, để mưu ích cho việc canh tân, xây dựng và phát triển Hội Thánh” (GH 12 ; TĐ 3)
(Sách Giáo lý Giáo Hội Công Giáo số 797-798)

Thánh Thần dạy dỗ mọi điều,
Sớm hôm giục giã, mai chiều ủi an.
Phải nhờ ơn sức Ngài ban,
Mới tin được Chúa, mới loan được Lời.

TÔNG HUẤN GIÁO HỘI TẠI CHÂU Á

Chương IV :
ĐỨC GIÊSU CỨU THẾ :
MỘT QUÀ TẶNG CẦN LOAN BÁO

Đứng trước một trào lưu muốn “tương đối hóa” chính Chúa Giêsu, Tông Huấn nhấn mạnh tới việc phải ưu tiên giới thiệu Đức Giêsu Kitô trong công tác phúc âm hóa : “Không có việc Phúc âm hóa thực sự nếu không công bố danh tính, giáo lý, cuộc đời, các lời hứa, Nước Trời và mầu nhiệm của Đức Giêsu Nazareth là Con Thiên Chúa”.

Người dân Châu Á, tuy có nhiều truyền thống và tôn giáo khác nhau, nhưng luôn có chung một niềm “khao khát được biết sự thật về Thượng Đế, về con người” và về “những giá trị bảo đảm cho sự phát triển toàn vẹn con người”. Vì thế Giáo Hội càng thấy mình có nhiệm vụ phải loan báo Tin Mừng.

Nhưng đây là một công việc không đơn giản. Làm thế nào để luôn tôn trọng tự do của con người, luôn kính trọng và quý mến các tôn giáo, trong khi vẫn phải tôn trọng hoạt động của Chúa Thánh Thần, vẫn phải loan báo Tin Mừng một cách rõ ràng và nguyên vẹn.

Hội nhập văn hóa giúp giải quyết vấn đề trên. Giáo Hội vừa phải khám phá lại diện mạo của Đức Kitô đồng thời tìm ra những phương cách nhờ đó con người Á Châu có thể nắm bắt được ý nghĩa cứu độ phổ quát của mầu nhiệm Đức Giêsu và Giáo Hội của Ngài. Nhóm Biên Soạn

21 đề tài học hỏi Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu: Đề Tài 8

(12/01/2002). Giáo Hội tại Châu Á có nhiệm vụ loan báo Tin Mừng (số 19,20)

Mục đích yêu cầu

Giúp mọi thành phần Dân Chúa :
– Ý thức trách nhiệm phải loan báo Chúa Giêsu Kitô.
– Khám phá ra những cách thức mới để loan báo Tin Mừng.

Tiếp cận chủ đề
Tin Mừng là tin vui cần được loan báo cho mọi người và mọi dân tộc. Tuy nhiên, muốn có kết quả tốt đẹp, Giáo Hội tại Châu Á cần phải xác định động cơ, tinh thần và thái độ của người loan báo Tin Mừng.

HỌC HỎI TÔNG HUẤN :

  1. Hỏi: Vấn đề lớn đặt ra cho Giáo Hội Á Châu hiện nay là gì ?
    Thưa : Vấn đề lớn đặt ra cho Giáo Hội Á Châu hiện nay là làm sao chia sẻ cho anh chị em Á Châu của mình món quà cao quý nhất là Tin Mừng Đức Giêsu Kitô.
  2. Hỏi : Động cơ nào thúc đẩy Giáo Hội tại Châu Á loan báo Đức Giêsu Kitô ?
    Thưa : Giáo Hội loan báo Đức Giêsu Kitô không phải do óc bè phái hay do tinh thần chiêu mộ tín đồ, cũng không phải bởi sự trịch thượng nào. Giáo Hội rao giảng Tin Mừng vì vâng theo mệnh lệnh của Chúa Kitô, bởi biết rằng ai cũng có quyền được nghe Tin Mừng của Thiên Chúa.
  3. Hỏi : Giáo Hội phải loan báo Tin Mừng theo tinh thần nào?
    Thưa : Giáo Hội luôn loan báo Tin Mừng với sự tôn trọng và quý mến đầy yêu thương đối với những người nghe. Loan báo mà vẫn tôn trọng các quyền lương tâm thì không xâm phạm tự do của con người, vì đức tin luôn đòi hỏi mỗi người phải có sự hưởng ứng tự nguyện. Tuy nhiên, tôn trọng không có nghĩa là loại bỏ bổn phận công khai loan báo Tin Mừng một cách nguyên vẹn.
  4. Hỏi : Giáo Hội tại Châu Á phải có thái độ nào với các tôn giáo khác ?
    Thưa : Giáo Hội phải có thái độ kính trọng và yêu mến các tôn giáo, sự kính trọng gồm hai khía cạnh : một đàng tôn trọng những con người đang tìm kiếm những giải đáp cho các vấn nạn sâu xa nhất của cuộc sống, đàng khác tôn trọng hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi các xã hội, văn hoá và tôn giáo Á Châu.
  5. Hỏi : Khi loan báo Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Tinh duy nhất, Giáo Hội tại Châu Á gặp những khó khăn nào ?
    Thưa : Giáo Hội tại Châu Á gặp những khó khăn này :

– Một là một số tín đồ của các tôn giáo lớn tại Châu Á cảm thấy khó nhìn nhận Đức Giêsu là hiện thân duy nhất của Thần Minh ;
– Hai là nhiều người Á Châu ngộ nhận Đức Giêsu như là người tây phương xa lạ, dù Ngài đã sinh ra trên mảnh đất Á Châu;
– Ba là phải làm sao giới thiệu Đức Giêsu cho các dân tộc Á Châu theo những mô hình văn hoá và những cách tư duy của họ.

THẢO LUẬN VÀ ỨNG DỤNG

Tôn trọng tự do của người khác có mâu thuẫn với việc loan báo Tin Mừng không ?
Tại sao loan báo Tin Mừng không phải là chiêu mộ tín đồ theo tinh thần phe phái ?
Loan báo Tin Mừng là một sứ vụ, anh chị đã dùng những cơ hội nào để nói về Đức Giêsu hay Kitô giáo (trong các dịp như : hiếu hỷ, giỗ chạp, hoạn nạn, lúc trò chuyện v.v…) ?

BÀI ĐỌC THÊM
SỨ MẠNG TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI

Do chính sứ mạng, “Giáo Hội đồng hành với toàn thể nhân loại và cùng chia sẻ số phận với thế giới. Giáo Hội như men và hồn của xã hội loài người. Xã hội này được mời gọi đổi mới trong Đức Kitô và trở thành gia đình của Thiên Chúa. Nỗ lực truyền giáo đòi hỏi sự kiên nhẫn. Nỗ lực đó bắt đầu bằng việc rao giảng Tin Mừng cho các dân tộc và các nhóm người chưa tin vào Chúa Kitô, tiếp đến là thiết lập những cộng đoàn Kitô hữu thật sự “là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa trên trần gian”, và thành lập những Giáo Hội địa phương. Nỗ lực ấy phải dẫn đến một tiến trình hội nhập văn hóa, nhằm mục đích làm cho Tin Mừng nhập thể trong nền văn hóa các dân tộc, công cuộc này cũng thường gặp thất bại. “Đối với con người các đoàn thể hay dân tộc, Giáo Hội chỉ tiếp xúc và thâm nhập dần dần và như thế đảm nhận họ vào hưởng sự sung mãn công giáo”.
(Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo Hội, số 6)

Được ơn biết Chúa cứu đời,
Ta chia sẻ với khắp nơi mọi nhà.
Tạ ơn lòng Chúa thương ta,
Ra đi loan báo Chúa là Cứu Tinh.

Nhóm Biên Soạn

21 đề tài học hỏi Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu: Đề Tài 9

(13/01/2002). Cần hội nhập văn hóa để loan báo Tin Mừng
(SỐ 21)

Mục đích yêu cầu
Giúp mọi người quan tâm tìm hiểu văn hóa để áp dụng vào việc loan báo Tin Mừng.

Tiếp cận chủ đề
“Văn hoá là phương cách đặc thù mà mỗi cá nhân và mỗi dân tộc dựa vào để tổ chức các quan hệ của mình với thiên nhiên, với anh chị em đồng loại, với bản thân mình và với Thiên Chúa. Văn hoá bao gồm toàn bộ sinh hoạt của con người, sinh hoạt của trí tuệ và tình cảm, việc tìm kiếm ý nghĩa cho cuộc đời, các phong tục tập quán và luân lý của con người”. Vì thế, Hội Nhập Văn Hóa là con đường mà các nhà truyền giáo phải đi theo để giới thiệu Đức tin Kitô giáo và làm cho đức tin này trở thành một phần gia sản văn hoá của một dân tộc.

HỌC HỎI TÔNG HUẤN :

  1. Hỏi : Vì sao giữa phúc âm hoá và hội nhập văn hoá có liên quan mật thiết và tự nhiên với nhau ?
    Thưa : Có hai lý do :
    Một là Tin Mừng về Nước Thiên Chúa đến với những con người đã có liên hệ sâu xa với một nền văn hoá ;
    Hai là không thể xây dựng Nước Thiên Chúa mà không sử dụng một số yếu tố lấy từ các nền văn hoá nhân loại.
  2. Hỏi : Tiến trình gặp gỡ giữa Tin Mừng và các nền văn hoá khác nhau của thế giới mang lại những kết quả nào ?
    Thưa : Có những kết quả sau đây : Một mặt các chân lý và giá trị của Tin Mừng đổi mới các nền văn hoá ấy từ bên trong ; mặt khác những yếu tố tích cực có sẵn trong các nền văn hoá ấy, một khi đã được tinh lọc và đổi mới nhờ ánh sáng Tin Mừng, sẽ trở thành những cách diễn tả chính xác đức tin duy nhất của Kitô giáo.
  3. Hỏi : Khi loan báo Tin Mừng, Giáo Hội có quan tâm đến văn hoá của người nghe không ?
    Thưa : Khi cống hiến cho người khác Tin Mừng cứu độ, Giáo Hội cố gắng tìm hiểu văn hoá của họ, nghĩa là tìm biết não trạng và tâm hồn của người nghe, những giá trị và tập quán, những vấn đề và trở ngại cùng những hy vọng và ước mơ của họ. Từ đó, Giáo Hội mới có thể bắt đầu cuộc đối thoại cứu độ.
  4. Hỏi : Người Á Châu khi đón nhận niềm tin Kitô giáo có đánh mất tư cách là người Á Châu không ?
    Thưa : Không. Những người Á Châu khi đón nhận niềm tin Kitô giáo có thể an tâm rằng, những giá trị văn hóa tích cực của mình không những được bảo tồn mà còn được thăng tiến. Hơn nữa, những hy vọng và ước mơ, những lo âu và hy vọng của họ chẳng những được Đức Kitô ôm ấp lấy mà chúng còn trở thành phương tiện để đón nhận đức tin từ Chúa Thánh Thần.

THẢO LUẬN VÀ ỨNG DỤNG

  1. Anh chị hãy nêu ra một vài phong tục tập quán, lễ hội Việt Nam có thể phù hợp với Tin Mừng ?
  2. Những hình thức nào trong thi ca và nghệ thuật Việt Nam giúp trình bày Tin Mừng một cách sống động ? Anh chị đã áp dụng những điều ấy chưa ?

Bài đọc thêm

CẦN HỘI NHẬP VĂN HÓA ĐỂ LOAN BÁO TIN MỪNG

Trong quá khứ đã có nhiều sự ngập ngừng và lỗi lầm trong việc làm cho đời sống và sứ điệp Tin Mừng thấm nhập vào văn hóa ở Châu Á. Nhưng chúng tôi xác tín hơn bao giờ hết rằng sự đối thoại với các người Á Châu thuộc các tín ngưỡng khác đang trở nên càng ngày càng quan trọng. Chúng tôi cũng khuyến giục mọi người hết sức tôn trọng văn hóa và truyền thống của các dân tộc chúng tôi, và ước mong rằng tính cách phổ quát của Giáo Hội, căn bản của sự khác biệt trong sự hợp nhất của đức tin có thể giúp người Á Châu vẫn giữ tính cách thực sự Á Châu trong khi vẫn hoàn toàn trở nên những thành phần của thế giới hiện đại và của gia đình nhân loại duy nhất.

Chúng tôi cũng hứa hẹn sẽ phát huy một nền thần học địa phương và làm tất cả những gì chúng tôi có thể làm được, để đời sống và sứ điệp của Tin Mừng được nhập thể hơn bao giờ hết vào các nền văn hóa phong phú và lâu đời của Châu Á, ngõ hầu trong tiến trình cần thiết của hiện đại hóa và phát triển, Kitô giáo tại Châu Á có thể góp phần phát huy những gì “thực sự nhân bản trong những nền văn hóa đó”. (Đại Hội Đồng Giám Mục Á Châu năm 1970 tại Manila Tuyên ngôn và Quyết nghị)

Chúa cao cả muôn trùng
Sinh làm người Châu Á.
Muốn rao giảng Tin Mừng,
Cần Hội Nhập Văn Hóa.

Nhóm Biên Soạn

21 đề tài học hỏi Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu: Đề Tài 15

(19/01/2002).
Đối thoại đại kết và đối thoại liên tôn giáo
(số 30,31)

MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
Giúp hiểu biết và thực hiện việc đối thoại đại kết và đối thoại liên tôn giáo.

TIẾP CẬN CHỦ ĐỀ :
Trước những thách đố tại Châu Á, Giáo Hội cần thấy phải cổ võ việc đối thoại với những anh em cùng tin vào Đức Giêsu Kitô, để đạt đến sự hiệp nhất như lời Ngài cầu nguyện “xin cho tất cả nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha để họ cũng ở trong Chúng Ta” (Ga 17,21). Đồng thời Giáo Hội cũng ý thức sứ mạng đến với muôn dân của mình bằng việc đối thoại với tín đồ thuộc các truyền thống tôn giáo khác để giới thiệu cho họ biết Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Độ trọn vẹn.

HỌC HỎI TÔNG HUẤN
67. Hỏi : Vì sao đối thoại đại kết giữa những người cùng tin nhận Đức Giêsu Kitô có một tầm quan trọng đặc biệt ?
Thưa : Vì trong khi nhiều người Á Châu luôn tìm kiếm sự hoà hợp và thống nhất qua tôn giáo và văn hoá của họ thì sự chia rẽ giữa các Kitô hữu là một phản chứng đi ngược lại tinh thần Đức Giêsu Kitô, và là một gương xấu gây trở ngại lớn cho công việc phúc âm hóa.

  1. Hỏi : Muốn cho công cuộc đại kết đạt kết quả thì phía người Công Giáo phải làm gì ?
    Thưa : Muốn cho công cuộc đại kết được đích thực và có kết quả, thì phía người Công Giáo cần phải có một số thái độ căn bản : Một là phải biểu lộ lòng bác ái, muốn cộng tác mỗi khi có thể với tín hữu các Giáo Hội và các Cộng Đồng khác. Hai là trung thành với Giáo Hội Công Giáo, dù vẫn không làm ngơ hay phủ nhận những khuyết điểm của một số thành phần trong Giáo Hội. Ba là phải có óc phân định để biết đánh giá tất cả những gì là tốt đẹp và đáng ngợi khen. Bốn là phải chân thành ước ao được thanh tẩy và được đổi mới.
  2. Hỏi : Thượng Hội Đồng có những đề nghị gì để cổ võ việc đối thoại đại kết ?
    Thưa : Thượng Hội Đồng đã đưa ra những đề nghị sau đây :
    Một là các Hội Đồng Giám Mục quốc gia Châu Á hãy mời các Giáo Hội Kitô khác tham gia công cuộc cầu nguyện và tham khảo bàn bạc để tìm cách xây dựng những cơ cấu và tổ chức mới mang tính đại kết, giúp đẩy mạnh sự hiệp nhất các Kitô hữu. Hai là tổ chức tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất đạt được kết quả hơn. Ba là các Giám Mục nên thành lập và chủ trì các trung tâm đại kết dành để cầu nguyện và trao đổi. Bốn là cần phải đưa việc đào tạo về công cuộc đối thoại đại kết vào trong chương trình học của các chủng viện, các nơi đào tạo và các cơ sở giáo dục.
  3. Hỏi : Theo quan điểm Kitô giáo, đối thoại liên tôn giáo có ý nghĩa gì ?
    Thưa : Theo quan điểm Kitô giáo, đối thoại liên tôn giáo không chỉ là một cách để giúp các bên biết nhau và làm giàu cho nhau, nhưng đó còn là một cách biểu hiện sứ mạng “đến với lương dân” của Giáo Hội.
  4. Hỏi : Muốn đối thoại liên tôn giáo có kết quả, người Kitô hữu phải có những điều kiện nào ?
    Thưa : Muốn dấn thân vào các cuộc đối thoại liên tôn giáo mà không gặp bất trắc quá mức, nhưng hy vọng gặt hái được những hoa trái tốt đẹp, thì Kitô hữu phải đắm mình trong mầu nhiệm Đức Kitô và sống hạnh phúc trong cộng đoàn đức tin, phải biết sống cởi mở, tôn trọng và thông cảm với người khác trong những dị biệt của họ, đồng thời phải có tấm lòng dịu dàng và khiêm tốn như Đức Kitô.

THẢO LUẬN VÀ ỨNG DỤNG
1. Tại sao Tông Huấn lại đặt “đối thoại đại kết” trước rồi mới đến “đối thoại liên tôn giáo” ?
2 Trong tuần lễ cầu cho sự hiệp nhất các Kitô hữu, anh chị sống như thế nào và có sáng kiến gì để đạt được kết quả tốt đẹp ?
3. Những cơ hội thuận lợi nào giúp chúng ta đối thoại với anh em Phật Giáo, và các tôn giáo khác ?

BÀI ĐỌC THÊM

TINH THẦN HIỆP NHẤT LÀ TINH THẦN HÒA GIẢI

Không thể có phong trào hiệp nhất chính danh mà không có sự hoán cải tâm hồn. Thật vậy, những ước vọng hiệp nhất bắt nguồn và chín mùi nhờ sự đổi mới tâm hồn, từ bỏ chính mình và bác ái một cách hết sức quảng đại. Vì thế phải nguyện xin Chúa Thánh Thần, ban cho chúng ta ơn thành thật quên mình, khiêm nhượng và hiền hòa trong khi phục vụ, quảng đại trong tình huynh đệ đối với tha nhân. Vị Tông đồ dân ngoại đã nói : “Tôi đây tù nhân trong Chúa, tôi khẩn khoản nài xin anh em, hãy tiến bước đàng hoàng theo ơn gọi mình đã được với tất cả lòng khiêm nhượng và hiền hậu, hãy nhẫn nại chịu đựng nhau trong đức ái, hãy lo lắng duy trì sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần trong mối dây hòa bình” (Ep 4,1-3). Lời khuyên nhủ ấy trước tiên liên hệ đến những ai được nhắc lên chức thánh để tiếp tục sứ mạng Chúa Kitô, Ngài đến giữa chúng ta “không phải để được hầu hạ, nhưng để hầu hạ người ta” (Mt 20,28).

Lời chứng sau đây của Thánh Gioan vốn còn giá trị trước những lỗi lầm hủy hoại hiệp nhất : “Nếu ta nói rằng mình vô tội, ta kể Ngài là kẻ dối trá và lời của Ngài không ở trong chúng ta” (1 Ga 1,10). Vậy, chúng ta hãy khiêm nhường xin lỗi Chúa và xin lỗi những anh em ly khai, cũng như chúng ta tha kẻ có nợ chúng ta. Hết mọi Kitô hữu hãy luôn nhớ là càng cố gắng sống trong sạch hơn theo Tin Mừng, thì càng cổ võ và thực hiện sự hiệp nhất các Kitô hữu cách hữu hiệu hơn. Càng kết hiệp mật thiết với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần thì họ càng dễ dàng thắt chặt tình tương thân tương ái với nhau hơn. (Sắc lệnh về hiệp nhất, số 7)

ĐỐI VỚI CÁC TÔN GIÁO KHÁC

Giáo Hội Công Giáo không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo đó. Với lòng kính trọng chân thành, Giáo Hội xét thấy những phương thức hành động và lối sống, những huấn giới và giáo thuyết kia, tuy rằng có nhiều điểm khác với chủ trương mà Giáo Hội duy trì, nhưng cũng thường đem lại ánh sáng của Chân Lý, Chân lý chiếu soi cho hết mọi người. Tuy nhiên Giáo Hội rao giảng và có bổn phận phải kiên trì rao giảng Chúa Kitô, “Đấng là Đường, là Sự thật và là Sự sống” (Ga 14, 6), nơi Ngài, con người tìm thấy đời sống tôn giáo sung mãn và nhờ Ngài, Thiên Chúa giao hòa mọi sự với mình. Vì thế Giáo Hội khuyến khích con cái mình nhìn nhận, duy trì và cổ võ cho những thiện ích thiêng liêng cũng như luân lý và những giá trị xã hội văn hóa của các tín đồ các tôn giáo ấy mà vẫn là chứng tá của đức tin và đời sống Kitô giáo.

(Tuyên ngôn về liên lạc của Giáo Hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, số 2)

Muốn cảm thông đối thoại,
Phải bác ái chân thành.
Lắng nghe và tôn trọng,
Biết đổi mới chính mình.

Tông huấn Giáo Hội tại Châu Á

Chương VI : PHỤC VỤ THĂNG TIẾN CON NGƯỜI

Châu Á là lục địa đông dân nhất, nhưng đa số lại là những người nghèo khổ và bị áp bức. Giáo Hội mời gọi con cái mình hiệp thông với họ không những trong niềm tin mà ngay trong cuộc sống, nghĩa là dấn thân vào việc thăng tiến con người cách toàn diện và thực sự.

Giáo Hội không làm nhiệm vụ tổ chức xã hội, nên không đưa ra những giải pháp chuyên môn nhằm giải quyết các vấn đề xã hội. Nhưng Giáo Hội có một học thuyết xã hội với những nguyên tắc hướng dẫn nhằm phát triển con người không những về mặt kinh tế, xã hội… mà còn về mặt bảo vệ, thăng tiến phẩm giá con người, ưu tiên là người nghèo, như : bảo vệ sự sống, chăm sóc sức khỏe, đề cao giáo dục, xây dựng hòa bình, ngăn chặn những tiêu cực của việc toàn cầu hóa, giảm hoặc xóa nợ các nước nghèo, bảo vệ môi trường. Tóm lại là nhằm tiếp cận với mọi người để cùng nhau xây dựng một nền văn minh tình thương. Nhóm Biên Soạn

21 đề tài học hỏi Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu: Đề Tài 16

(21/01/2002). Sống Tin Mừng bằng phục vụ thăng tiến con người
(số 32,33)

MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
Giúp mọi người ý thức tầm quan trọng của việc phục vụ thăng tiến con người – Am tường học thuyết xã hội của Giáo Hội.

TIẾP CẬN CHỦ ĐỀ :
Con người là con đường mà Giáo Hội phải đi qua, giống như Đức Giêsu được Chúa Cha sai đến là để phục vụ và cứu rỗi nhân loại. Giáo Hội cũng được Chúa Giêsu ủy thác sứ mạng phục vụ và thăng tiến con người, nhưng Giáo Hội không đưa ra những giải pháp mang tính kỹ thuật mà chỉ trình bày những phương hướng nhằm tổ chức đời sống cá nhân và cộng đồng.

HỌC HỎI TÔNG HUẤN :

  1. Hỏi : Tại sao Giáo Hội lưu tâm đến việc phục vụ thăng tiến con người ?
    Thưa : Bởi vì Giáo Hội được mời gọi sống hiệp thông với mọi người nên Giáo Hội có sứ mạng xây dựng một nền văn minh tình thương, dựa trên các giá trị phổ quát như hoà bình, công lý, liên đới và tự do, là những giá trị chỉ được thực hiện mỹ mãn nơi Đức Kitô.
  2. Hỏi : Để xây dựng nền văn minh tình thương, Giáo Hội đưa ra đường lối nào ?
    Thưa : Đường lối của Giáo Hội là phải có can đảm xây dựng một tình liên đới mới, phải có khả năng đưa ra những sáng kiến tân tiến và hữu hiệu để khắc phục tình trạng kém phát triển có hại cho nhân phẩm cũng như tình trạng phát triển quá độ, giản lược con người thành một đơn vị kinh tế.
  3. Hỏi : Đường lối này được trình bày ở đâu ?
    Thưa : Đường lối này được trình bày trong học thuyết xã hội của GH, trong đó Giáo Hội đưa ra một số các nguyên tắc để suy nghĩ, các tiêu chuẩn để phê phán và các chỉ dẫn để hành động nhằm phục vụ sự phát triển đích thực và toàn diện con người.
  4. Hỏi : Theo học thuyết xã hội của Giáo Hội, sự phát triển đích thực và toàn diện phải như thế nào?
    Thưa : Sự phát triển mà Giáo Hội cổ võ vượt xa những vấn đề kinh tế và kỹ thuật. Sự phát triển này phải khởi đầu và kết thúc với sự tôn trọng con người toàn vẹn, đã được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và được Thiên Chúa ban cho một phẩm giá cũng như các quyền bất khả nhượng.
  5. Hỏi : Tình trạng nhân quyền trên thế giới hiện nay như thế nào ?
    Thưa : Hơn năm mươi năm sau ngày long trọng công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, nhiều dân tộc vẫn còn là nạn nhân của những hình thức bóc lột, đã biến họ thành nô lệ thực sự cho những người quyền thế hơn, cho một ý thức hệ, cho quyền lực kinh tế, cho những hệ thống chính trị đàn áp, cho chủ nghĩa khoa học kỹ thuật thống trị hay sự xâm nhập của các phương tiện truyền thông đại chúng.

THẢO LUẬN VÀ ỨNG DỤNG

  1. Tông Huấn xác định nhiệm vụ của Giáo Hội là phục vụ thăng tiến con người, anh chị có cảm nghĩ gì ?
  2. Phần đông tín hữu Việt Nam chưa biết đến giáo huấn xã hội của Giáo Hội. Theo anh chị, phải làm gì để học thuyết đó được tiếp cận với mọi người ?
  3. Anh chị có nhận định gì về tình trạng lạm dụng sức lao động trẻ em và tình trạng công nhân làm việc quá tải mà lương bổng rất thấp tại một số quốc gia cũng như tại Việt Nam hiện nay ?

BÀI ĐỌC THÊM
MỐI QUAN TÂM XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI

Mối quan tâm xã hội của Giáo Hội hướng đến một sự phát triển đích thực về con người và xã hội nhằm tôn trọng và thăng tiến tất cả mọi chiều kích của con người luôn được bày tỏ bằng nhiều cách rất khác biệt. Trong những năm vừa qua, một trong những phương thế can thiệp đặc biệt là Huấn quyền của các Đức Giáo Hoàng, khởi đầu với Thông điệp Rerum Novarum của Đức Lêo XIII như là điểm qui chiếu. Huấn quyền thường xuyên đề cập đến vấn đề xã hội và đôi khi công bố những văn kiện xã hội khác nhau vào những dịp kỷ niệm của thông điệp đầu tiên này. Qua những thông điệp này các Đức Giáo Hoàng nêu cao các phương diện mới mẻ của học thuyết xã hội của Giáo Hội. Như vậy, khởi từ phần đóng góp danh tiếng của Đức Lêo XIII, được phong phú hóa bởi những đóng góp liên tiếp của Huấn quyền, ngày nay học thuyết này trở thành một phần của giáo thuyết được cập nhật hóa. Cũng giống như Giáo Hội, học thuyết này hình thành dần dần trong sự toàn vẹn của lời được Đức Giêsu Kitô mặc khải (x. MK 4) và nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần (x. Ga 14,16; 16, 13-15) để đọc các biến cố được diễn ra trong dòng lịch sử. Như thế, bằng sự nâng đỡ của suy luận lý trí cũng như của các khoa học nhân văn Giáo Hội tìm cách hướng dẫn con người đáp lại ơn gọi của mình như là những người xây dựng có trách nhiệm đối với xã hội trần thế.

(Quan tâm đến vấn đề xã hội – số 1 – Sollicitudo Rei Socialis)

Nhờ ơn cứu độ tràn đầy
Nước Trời rực sáng đời này đời sau.
Nào cùng phấn khởi bên nhau,
Dựng xây trần thế đẹp màu Phúc âm.

Nhóm Biên Soạn

21 đề tài học hỏi Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu: Đề Tài 17

(22/01/2002).
Những lãnh vực cơ bản của việc thăng tiến con người

(số 34,35,36,37)

MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
Giúp mọi tín hữu ý thức và nắm bắt được những vấn đề căn bản trong công cuộc phát triển con người, để có thể phát huy tiềm năng đóng góp vào việc thăng tiến con người.

TIẾP CẬN CHỦ ĐỀ :
Con người ngày càng văn minh, giàu mạnh thì sự sống đáng lý càng được trân trọng và bảo vệ tốt hơn, con người có nhiều điều kiện phát triển hơn. Nhưng trái lại, chúng ta thấy sự sống vẫn bị chà đạp ở nhiều nơi, bằng nhiều cách, con người vẫn gặp nhiều khó khăn để phát triển. Tại sao thế ? Đâu là vấn đề căn bản trong công cuộc phát triển con người ?

HỌC HỎI TÔNG HUẤN :

  1. Hỏi : Trong việc thăng tiến phẩm giá con người, Giáo Hội dành ưu tiên cho những hạng người nào ?
    Thưa : Giáo Hội quan tâm đặc biệt đến những người nghèo, những người di cư, những dân bản xứ và bộ tộc, phụ nữ và trẻ em. Giáo Hội cũng lưu ý đến số phận những người đang bị kỳ thị vì văn hoá, màu da, chủng tộc, giai cấp, tình trạng kinh tế, hay vì cách suy nghĩ của mình.
  2. Hỏi : Riêng đối với phụ nữ, Tông Huấn khuyên nhủ Giáo Hội tại Châu Á nên làm gì ?
    Thưa : Giáo Hội tại Châu Á nên làm nổi bật phẩm giá và tự do của người phụ nữ một cách rõ ràng và hiệu quả hơn, bằng cách khuyến khích phụ nữ tham gia vào đời sống Giáo Hội, và luôn mở ra cho các phụ nữ nhiều cơ hội lớn hơn để họ có mặt và hoạt động trong sứ mạng yêu thương và phục vụ của Giáo Hội.
  3. Hỏi : Tại sao công cuộc phát triển con người phải bắt đầu bằng việc phục vụ chính sự sống?
    Thưa : Vì sự sống con người là kết quả hành vi sáng tạo của Thiên Chúa và là món quà tặng cho mọi người, Giáo Hội xác tín rằng, sẽ không có tiến bộ thật sự, không có xã hội văn minh thật sự, không có sự thăng tiến nhân bản thật sự, nếu không biết tôn trọng sự sống con người, nhất là sự sống của những kẻ chưa có khả năng nói để tự vệ
  4. Hỏi : Thái độ của Giáo Hội tại Châu Á đối với việc chăm sóc sức khoẻ như thế nào ?
    Thưa : Giáo Hội tại Châu Á cam kết dấn thân nhiều hơn nữa vào việc chăm sóc người đau bệnh, vì đây là một phần quan trọng trong sứ mạng đem Tin Mừng cứu độ của Đức Kitô đến cho con người cả xác hồn, nhất là tại những nơi thiếu sự chăm sóc y tế sơ đẳng do tình trạng nghèo đói và bị gạt ra bên lề xã hội.
  5. Hỏi : Giáo dục trong các trường Công Giáo đóng vai trò nào trong việc thăng tiến con người ?
    Thưa : Giáo dục trong các trường công giáo tạo một môi trường cho các học sinh không chỉ tiếp thu những môn học chính của học đường mà còn nhận được một sự đào tạo nhân bản toàn diện dựa trên giáo huấn của Đức Kitô.

THẢO LUẬN VÀ ỨNG DỤNG
1. Khi nghe Đức Giáo Hoàng thiết tha kêu gọi mọi người tôn trọng và bảo vệ sự sống, anh chị làm gì để hưởng ứng lời kêu gọi của Ngài ? Theo anh chị, phải bảo vệ và phát triển sự sống bằng cách nào ?
2. Trong ba lãnh vực : chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và xây dựng hoà bình mà Tông Huấn mời gọi mọi người tham gia, anh chị tâm đắc đến vấn đề nào ? Tại sao ?

BÀI ĐỌC THÊM

TÍNH BẤT KHẢ XÂM PHẠM CỦA NGÔI VỊ

Tính bất khả xâm phạm của ngôi vị, phản ánh tính tuyệt đối bất khả xâm phạm của chính Thiên Chúa, được biểu lộ trước tiên và căn bản nơi tính bất khả xâm phạm cuộc sống con người. Dĩ nhiên, thật chính đáng khi nói đến những quyền của con người, chẳng hạn quyền được khỏe mạnh, quyền cư trú, quyền được lao động, có gia đình, được giáo dục… Nhưng thật là sai lầm, ngày nay người ta thường lẫn lộn như thế khi nói đến quyền con người mà lại không cương quyết bảo vệ quyền được sống như là quyền đầu tiên, nguồn gốc và là điều kiện của các quyền khác của con người.

Giáo Hội không bao giờ chấp nhận những vi phạm đến quyền sống của mọi người, quyền này đã và đang bị xúc phạm do tư nhân hay do chính các nhà cầm quyền. Chủ thể của quyền này là con người, trong suốt quá trình phát triển của nó, từ khi hình thành trong bào thai cho đến khi chết tự nhiên, và trong mọi tình trạng, dù đau yếu hay mạnh khỏe, què quặt hay bình thường, giàu có hay nghèo khổ. Công đồng Vaticanô II đã nhấn mạnh: “Tất cả những gì đi ngược với chính sự sống, như giết người dưới bất cứ hình thức nào, diệt chủng, phá thai, giết chết cách êm dịu, hoặc tự tử cố ý. Tất cả những gì xâm phạm đến sự toàn vẹn của con người, như cắt bỏ một phần thân xác, hành hạ thân xác hoặc tâm trí, làm áp lực tâm lý; tất cả những gì xúc phạm đến nhân phẩm, như những cảnh sống thấp kém dưới mức độ phải có của con người, giam cầm vô cớ, lưu đày, nô lệ, mãi dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ con; kể cả những tình trạng làm việc nhục nhã khiến cho công nhân hoàn toàn trở thành dụng cụ cho lợi lộc, chứ không được coi như con người tự do và có trách nhiệm: tất cả những điều nói trên và những điều tương tự đều thực sự ô nhục. Và trong khi làm thối nát nền văn minh nhân loại, thì tất cả những điều trên lại càng bôi nhọ chính những kẻ chủ động hơn là bôi nhọ những kẻ phải chịu sự nhục nhã, đồng thời cũng xúc phạm nặng nề đến danh dự của Đấng Tạo hóa” (MV 27) (Tông huấn Kitô hữu Giáo dân, 38).

Nước Trời như thể viên men,
Trộn ba đấu bột, dậy nên một lần.
Hy sinh ta gắng góp phần,
Tin Mừng rồi sẽ thấm dần khắp nơi.
Nhóm Biên Soạn

21 đề tài học hỏi Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu: Đề Tài 18

(23/01/2002). Những lãnh vực mới cần quan tâm
(số 38,39,40,41)

MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
Giúp mọi tín hữu nhận ra được những vấn đề mới đang tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của con người và xã hội Châu Á. Đó là việc xây dựng hòa bình, toàn cầu hóa, nợ nước ngoài và môi trường.

TIẾP CẬN CHỦ ĐỀ :
Theo Tông Huấn, sự phát triển con người phải là đích thực và toàn diện, nghĩa là bao gồm nhiều chiều kích : kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, môi sinh và tôn giáo, nhưng Tông Huấn chỉ đề cập đến một vài lãnh vực mới có tầm quan trọng đáng lưu tâm trong xã hội Á Châu hiện nay.

HỌC HỎI TÔNG HUẤN :

  1. Hỏi : Lập trường của Giáo Hội trong việc xây dựng hoà bình trên thế giới và riêng tại Châu Á như thế nào ?
    Thưa : Giáo Hội nhấn mạnh tới cách giải quyết các xung đột bằng thương lượng và phi quân sự, và mong các quốc gia từ bỏ chiến tranh, không còn coi đó như là phương cách để đạt cho được những yêu sách hay là phương thế để giải quyết các bất đồng. Riêng tại Châu Á, Giáo Hội tỏ ra rất quan ngại về việc chạy đua mua sắm các vũ khí có sức hủy diệt tập thể, cho nên Giáo Hội kêu gọi chấm dứt chế tạo, mua bán và sử dụng các vũ khí hạt nhân, hoá học và sinh học, đồng thời thúc giục những người đã từng gài mìn hãy tham gia công tác phục hồi và tái thiết.
  2. Hỏi : Thượng Hội Đồng có nhận định gì về tiến trình toàn cầu hoá ?
    Thưa : Về mặt kinh tế, toàn cầu hoá có nhiều hiệu quả tích cực, nhưng cũng gây thiệt hại cho người nghèo, vì đẩy các quốc gia nghèo hơn ra ngoài lề các quan hệ kinh tế và chính trị thế giới. Về mặt văn hóa, các xã hội Á Châu mau chóng bị lôi kéo vào một nền văn hoá toàn cầu chủ trương tiêu thụ vừa tục hoá vừa duy vật, làm xói mòn các giá trị truyền thống gia đình và xã hội.
  3. Hỏi : Giáo Hội tại Châu Á cần phải làm gì, trước tiến trình toàn cầu hóa ?
    Thưa : Giáo Hội kêu gọi cần phải “toàn cầu hóa mà không gạt bỏ ai ra ngoài lề”, và làm sao cho học thuyết xã hội của Giáo Hội có ảnh hưởng cần thiết trên việc hình thành các tiêu chuẩn đạo đức và pháp lý trong việc chuẩn mực hóa các thị trường tự do của thế giới cũng như trong việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội.
  4. Hỏi : Vì sao Tông Huấn kêu gọi giảm nhẹ tình trạng nợ nần quốc tế ?
    Thưa : Vì nợ nước ngoài ngăn cản sự phát triển khiến nhiều người bị buộc phải sống trong những điều kiện hết sức ô nhục đối với phẩm giá con người. Thật vậy, nhiều nước tại Châu Á buộc lòng phải cắt giảm chi tiêu cho các nhu cầu của cuộc sống như lương thực, sức khoẻ, nhà ở và giáo dục, hầu có thể trả các món nợ họ đang mắc với các tổ chức tiền tệ và các ngân hàng thế giới.
  5. Hỏi : Tông Huấn nói gì về môi trường ?
    Thưa : Tông Huấn nhận thấy rằng hiện nay môi trường đang bị hủy hoại nặng nề vì nhiều người chỉ coi trái đất và những tiềm năng của nó như những đối tượng tiêu thụ và sử dụng tức thời. Vì thế, Tông Huấn nhắc lại ý muốn của Đấng Tạo Hoá là con người phải đối xử với thiên nhiên không phải như một kẻ khai thác tàn bạo, mà như một người quản lý thông minh và có trách nhiệm, không phải chỉ vì ích lợi của mình mà còn là ích lợi của các thế hệ tương lai.

THẢO LUẬN VÀ ỨNG DỤNG
1. Trước những ảnh hưởng tiêu cực của các phương tiện thông tin và giải trí, anh chị phải làm gì để bảo vệ các giá trị truyền thống của gia đình xã hội Việt Nam ?
2. Thiên nhiên đang bị khai thác và phá hủy trầm trọng, môi trường hôm nay bị ô nhiễm nặng nề, chúng ta phải làm gì và có sáng kiến nào để khắc phục tình trạng trên ?

BÀI ĐỌC THÊM

THÁCH ĐỐ CỦA GIÁO HỘI TRONG THẾ KỶ 21

Chúng ta bị thách đố phải bảo đảm một cách cơ bản, với niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh Thánh Thần của Đức Giêsu, rằng mỗi cá nhân, mỗi gia đình, cộng đồng, quốc gia, khu vực đều có chỗ và có tiếng nói của riêng mình trong một xã hội đang toàn cầu hóa. Giáo Hội quan tâm đến những hiện tượng kinh tế và những hiện tượng xã hội khác chỉ vì chúng có ảnh hưởng sâu sắc đến con người. Giáo hội không thể định đoạt chiều hướng phát triển, cũng không thể ngăn chận người ta đừng đánh mất bản sắc văn hóa trong cao trào bùng nổ thông tin. Dẫu sao Giáo Hội cũng phải tuyên bố cách không mệt mỏi về quyền thiết yếu của mọi con người có liên quan đến việc tự do thực hành tôn giáo mà mình chọn lựa và quyền có được những phương tiện để thực hành điều đó.

Một Giáo Hội thực sự là Giáo Hội phổ quát khi Giáo Hội đó đích thực ở giữa người nghèo. Trong Tông thư Ngàn năm thứ ba đang đến, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã lưu ý với chúng ta rằng điều kiện cần thiết cho việc chuẩn bị đón mừng Năm Thánh 2000 phải là nhấn mạnh đến sự chọn lựa ưu tiên của Giáo Hội đứng về phía người nghèo và những kẻ bị bỏ rơi.

Châu Á với những đối kháng xã hội và với đà chuyển biến nhanh chóng về mặt kinh tế, cũng phải đối mặt với sự thách đố nơi con số đông đảo những nhóm nghèo về kinh tế hoặc bị loại trừ về mặt xã hội. Giáo Hội ở Châu Á, và quả thực toàn thể Giáo Hội, trên con đường hướng tới thế kỷ 21, phải hiện thực hóa tình yêu ưu tiên của mình đối với người nghèo. Yêu nghĩa là nên giống với người mình yêu.

(Phát biểu của Đức Hồng y Roger Etchegaray trong cuộc thảo luận về “Giáo Hội Á Châu trong thế kỷ 21” tổ chức tại Pattaya-Thái Lan từ ngày 25 đến 31.8.1997.)

Giữa lòng dân tộc mến yêu,
Chung niềm hy vọng, chung điều băn khoăn.
Hy sinh ta gắng góp phần,
Tin Mừng rồi sẽ thấm dần khắp nơi.

Tông huấn Giáo Hội tại Châu Á

Chương VII : NHỮNG NGƯỜI LÀM CHỨNG CHO TIN MỪNG

Mọi thành phần Dân Chúa : Các mục tử, các người sống đời thánh hiến và trong các Hội truyền giáo, giáo dân, đặc biệt là gia đình và giới trẻ, tất cả phải có bổn phận là rao giảng Tin Mừng. Nhưng chỉ có thể rao giảng Tin Mừng thực sự nếu các Kitô hữu biết lấy đời sống mình làm chứng tá đi đôi với sứ điệp mà mình rao giảng.

Nhất là ngày nay trên thế giới người ta tin tưởng vào chứng nhân hơn thầy dạy, tin vào hành động hơn lý thuyết.

Điều này càng đúng trong bối cảnh Á Châu hiện nay, nơi người ta dễ bị thuyết phục bởi đời sống thánh thiện hơn là bởi lý luận, nơi có nhu cầu đối thoại bằng “cuộc sống và bằng tấm lòng”, nơi cần được trao đổi bằng chính những kinh nghiệm tôn giáo.

Ở những nơi nào người Kitô hữu không được loan báo Tin Mừng bằng lời, thì họ vẫn luôn có thể loan báo bằng chính cuộc sống của họ.

Những người làm chứng kiểu này cách tuyệt vời chính là các vị tử đạo, đó là những chứng nhân đức tin.

Đối với những ai e ngại chữ tử đạo, sợ nó gợi lên căm thù thì xin biết cho rằng các vị mang danh tử đạo luôn sống bác ái yêu thương cao độ cả khi bị hành hình. Như thế các vị đã “đem lại một bộ mặt nhân bản cho ngay cả cái chết tàn bạo nhất”.
Nhóm Biên Soạn

21 đề tài học hỏi Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu: Đề Tài 19

(24/01/2002). Mọi thành phần Dân Chúa đều là chứng nhân cho Tin Mừng (số 42,43,44)

MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
Giúp mọi thành phần Dân Chúa xác tín rằng : họ được sai đi làm chứng cho Tin Mừng bằng chính cuộc sống của mình.

TIẾP CẬN CHỦ ĐỀ
“Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ” (Mc 16,15). Đó là lệnh truyền của Đức Giêsu Kitô và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã khẳng định lại trong Thông điệp Redemptoris Missio : “Không một tín hữu nào, không một cơ chế nào của Giáo Hội có thể tránh né nhiệm vụ tối thượng thiết yếu là rao giảng Đức Kitô cho mọi dân tộc”.

HỌC HỎI TÔNG HUẤN :

  1. Hỏi : Để cho việc rao giảng sứ điệp Tin Mừng có sức thuyết phục các Kitô hữu cần phải làm gì ?
    Thưa : Các Kitô hữu cần lấy đời mình làm chứng tá đi đôi với sứ điệp mà mình rao giảng, vì con người hôm nay tin tưởng các chứng nhân hơn là thầy dạy, tin vào kinh nghiệm hơn là bài vở, tin vào cuộc sống và hành động hơn là lý thuyết.
  2. Hỏi : Những ai có trách nhiệm chính yếu đối với sứ mạng cứu độ mà Đức Kitô trao cho Giáo Hội ?
    Thưa : Trách nhiệm chính yếu đối với sứ mạng cứu độ mà Đức Kitô tin tưởng trao cho Giáo Hội thuộc về Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục là những người kế vị các Ngài.
  3. Hỏi : Các giáo sĩ thông phần trách nhiệm như thế nào trong sứ mạng của Giáo Hội ?
    Thưa : Các giáo sĩ sẽ làm chứng mạnh mẽ cho Tin Mừng ngay trong các cộng đoàn mà họ đang chăn dắt, bằng đời sống cầu nguyện, phục vụ nhiệt tình và hạnh kiểm gương mẫu.
  4. Hỏi : Đâu là những nét chứng tá đặc biệt của những người sống đời thánh hiến ?

Thưa : Những người sống đời thánh hiến có những nét chứng tá đặc biệt này :

– Một là cho thấy ai cũng được mời gọi nên thánh,
– Hai là nêu gương sáng cho cả người Kitô hữu lẫn người ngoài Kitô giáo về lòng yêu thương xả thân vì mọi người,
– Ba là làm chứng về sự ưu việt của Thiên Chúa và đời sống vĩnh cửu trong một thế giới mà ý thức về sự hiện diện của Thiên Chúa thường bị suy giảm,
– Bốn là khi sống thành cộng đoàn họ làm chứng về các giá trị của tình huynh đệ Kitô hữu và sức mạnh biến đổi của Tin Mừng.

  1. Hỏi : Các Dòng tu và hiệp hội tông đồ được mời gọi góp phần vào việc truyền giáo như thế nào ?
    Thưa : Trong bối cảnh hiệp thông với Giáo Hội toàn cầu, các Giáo Hội Châu Á được mời gọi gửi các nhà truyền giáo thuộc Các Dòng tu và hiệp hội tông đồ của mình ra đi, dù chính mình cũng còn đang cần những thợ làm vườn nho.

Thảo luận và ứng dụng
1. Anh chị nghĩ mình phải sống như thế nào để có thể làm chứng cho Tin Mừng Chúa Kitô, trong môi trường cụ thể của mình ?

  1. Công đồng nhắc lại mọi người đều có trách nhiệm truyền giáo. Anh chị có ý thức và thực hiện sứ mạng truyền giáo của anh chị như thế nào ?

BÀI ĐỌC THÊM

SỰ CỘNG TÁC CỦA MỌI THÀNH PHẦN DÂN CHÚA TRONG VIỆC LOAN BÁO TIN MỪNG

Vì toàn thể Giáo Hội là truyền giáo và vì công việc rao giảng Tin Mừng là nhiệm vụ căn bản của Dân Chúa, nên Công đồng mời gọi mọi người canh tân tự thâm tâm mình, để khi đã tích cực ý thức trách nhiệm riêng trong việc truyền bá Tin Mừng, mọi người góp phần vào công cuộc truyền giáo cho muôn dân. Tất cả các Kitô hữu vì là chi thể Chúa Kitô hằng sống, được tháp nhập và nên giống Ngài nhờ bí tích Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể nên họ có bổn phận phải cộng tác vào việc phát triển và bành trướng Thân Thể Ngài, để Thân Thể này được sung mãn càng sớm càng hay.

Vì thế tất cả con cái Giáo Hội phải tích cực ý thức trách nhiệm của mình đối với thế giới, phải hun đúc cho mình có tinh thần thực sự công giáo và phải hy sinh góp sức vào công việc rao giảng Tin Mừng. Tuy nhiên, mọi người phải biết rằng bổn phận đầu tiên và quan trọng nhất đối với việc truyền bá đức tin là sống sâu xa đời sống Kitô hữu. Vì chính khi nhiệt thành phụng sự Thiên Chúa và bác ái đối với tha nhân, họ mang lại cho toàn thể Giáo Hội một cảm hứng tinh thần mới và làm cho Giáo Hội xuất hiện như một dấu chỉ nổi lên giữa các dân, là “ánh sáng thế gian” (Mt 5,14) và là “muối đất”. Chứng cứ đời sống này sẽ đem lại kết quả dễ dàng hơn, nếu cùng được thực hiện chung với nhóm Kitô giáo khác, theo tiêu chuẩn của Sắc lệnh về Hiệp Nhất (Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của GH, số 35,36)

Việc chúng ta góp tay vào,
Việc toàn dân Chúa, chứ nào riêng ai.
Mỗi người tùy sức tùy tài,
Tùy theo cảnh ngộ, ta thời góp công.
Nhóm Biên Soạn

21 đề tài học hỏi Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu: Đề Tài 21

(26/01/2002). Những phương thế đặc biệt để loan báo Tin Mừng
(số 48,49)

MỤC ĐÍCH YÊU CẦU : Xác định tầm quan trọng của các phương tiện truyền thông đại chúng và việc làm chứng bằng hy sinh mạng sống là những phương thế hữu hiệu nhất để loan báo Tin Mừng tại Châu Á này.

TIẾP CẬN CHỦ ĐỀ :
Các phương tiện truyền thông xã hội vì có khả năng đạt tới mọi người một cách dễ dàng nên có thể là những dụng cụ rất thích hợp để rao giảng Tin Mừng.

Gương sáng của các vị tử đạo là lời chứng hùng hồn và có sức thu hút nhất trong việc truyền bá đức tin Kitô giáo.

HỌC HỎI TÔNG HUẤN :

  1. Hỏi : Trong kỷ nguyên toàn cầu hoá hiện nay, các phương tiện truyền thông xã hội đã trở nên quan trọng như thế nào tại Châu Á ?
    Thưa : Các phương tiện truyền thông xã hội đóng một vai trò rất đặc biệt trong việc hình thành khuôn mặt thế giới, hình thành các nền văn hoá và các suy tư ; vai trò đó đã đưa tới những thay đổi nhanh chóng và rộng rãi trong các xã hội Á Châu.
  2. Hỏi : Vai trò của các phương tiện truyền thông xã hội trong việc phúc âm hoá như thế nào ?
    Thưa : Các phương tiện truyền thông xã hội ngày càng có ảnh hưởng nhiều hơn, ngay tại những vùng xa xôi của Châu Á, nên chúng có thể hỗ trợ rất nhiều cho công cuộc loan báo Tin Mừng tới hết mọi miền của lục địa. Vậy Giáo Hội cần khám phá những cách thế để tận dụng mọi phương tiện truyền thông đại chúng vào kế hoạch mục vụ và hoạt động mục vụ, nhờ thế, sức mạnh của Tin Mừng có thể đến và tiếp xúc một cách rộng rãi với từng cá nhân cũng như với toàn cả các dân tộc, đưa các giá trị của Nước Trời thâm nhập vào các nền văn hóa của Châu Á.
  3. Hỏi : Vì sao các vị tử đạo là mẫu gương của việc làm chứng cho Tin Mừng ?
    Thưa : Vì những lý do này :
    – Một là những ai đã đổ máu mình ra vì Đức Kitô đều đã làm chứng cách cao cả nhất về giá trị đích thực của Tin Mừng ;
    – Hai là về phương diện tâm lý, tử đạo là bằng chứng hùng hồn nhất cho thấy chân lý của đức tin, vì đức tin có thể giúp các ngài giữ được tâm hồn khoan dung tha thứ và thanh thản ngay cả trước cái chết tàn bạo nhất.
  4. Hỏi:Các vị tử đạo đã để lại cho chúng ta những bài học gì?
    Thưa : Các vị tử đạo mãi mãi là chứng nhân bất khuất làm chứng cho sự thật mà các Kitô hữu cũng được mời gọi loan báo, đó là sức mạnh của thập giá Chúa Kitô. Máu các vị tử đạo Á Châu bây giờ và mãi mãi là hạt giống hứa hẹn một sự sống mới cho Giáo Hội tại mọi miền của châu lục này.
  5. Hỏi : Đâu là lời nhắn nhủ cuối cùng của Tông Huấn đối với các môn đệ của Đức Kitô tại Châu Á ?
    Thưa : Các môn đệ của Đức Kitô tại Châu Á phải quảng đại hết lòng trong nỗ lực chu toàn sứ mạng đã nhận được từ nơi Chúa, Đấng đã hứa ở với họ cho đến tận thế. Tin tưởng vào Thiên Chúa, Giáo Hội Á Châu hân hoan hành hương tiến vào Ngàn Năm thứ ba. Niềm vui lớn lao của Giáo Hội Á Châu là được chia sẻ với các dân tộc đông đảo của Châu Á món quà vĩ đại mà mình đã nhận được, đó là tình thương của Đức Giêsu Cứu Thế. Ước vọng tha thiết của Giáo Hội Á Châu lúc này là được tiếp tục sứ mạng phục vụ và yêu thương, để tất cả mọi người được sống và sống dồi dào.

THẢO LUẬN VÀ ỨNG DỤNG

  1. Giáo Hội có những phương tiện truyền thông để rao giảng Tin Mừng, anh chị có biết và sử dụng chưa ? (như : Radio, Internet, Điện thoại, sách báo…)
  2. Anh chị đã biết tiểu sử của 117 vị thánh tử đạo Việt Nam chưa? vị thánh nào đánh động anh chị nhất ?

BÀI ĐỌC THÊM

Gương bà Thánh Anê Lê Thị Thành (Bà Thánh ĐÊ)

Thánh nữ tiên khởi của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.

Nhìn lại lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, số chị em phụ nữ góp chứng cho đức tin không phải là ít. Tuy nhiên, tinh thần kiên cường bất khuất vì đức tin Kitô giáo của Thánh nữ Anê Lê Thị Thành là một mẫu gương hiếm có.

Anê Lê Thị Thành sinh khoảng năm 1781 tại làng Bái Điền, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá. Năm 17 tuổi, cô kết hôn với anh Nguyễn Văn Nhất và sống với nhau rất hạnh phúc, thuận hoà, sinh hạ được hai trai tên Đê, Trân và bốn gái: Thu, Năm, Thiên, Nụ. Hai ông bà sống hiền lành đạo đức, rất quan tâm đến việc giáo dục con cái. Cô Lucia Nụ, con gái út, cung khai khi giáo quyền thẩm vấn trong việc điều tra phong thánh như sau: “Thân mẫu chúng tôi rất chăm lo việc giáo dục các con. Chính người dạy chúng tôi đọc chữ và học giáo lý, sau lại dạy cách tham dự thánh lễ và xưng tội rước lễ. Người không để chúng tôi biếng nhác việc xưng tội. Khi chúng tôi lơ là, người thúc giục chúng tôi bằng được mới thôi. Người cho chúng tôi nhập hội Con Đức Mẹ, vào ban thiếu nữ thưa kinh ở nhà thờ”.

Một người con khác, cô Anna Năm cũng xác minh: “Song thân chúng tôi chỉ gả các con gái cho những thanh niên đạo hạnh. Sau khi tôi kết hôn, thân mẫu thường đến thăm chúng tôi và khuyên bảo những lời tốt lành. Có lần người dạy tôi: “Tuân theo ý Chúa con lập gia đình là gánh rất nặng. Con phải ăn ở khôn ngoan, đừng cãi lời cha mẹ chồng. Hãy vui lòng nhận thánh giá Chúa gởi cho”. Bà Anê Đê thật là tấm gương sáng về đạo hạnh cho các bà mẹ Công Giáo.

Từ bác ái đến tử đạo.

Ông bà Đê có lòng bác ái hay thương giúp người, nhất là trọng kính và sốt sắng giúp đỡ các linh mục gặp khó khăn trong thời cấm đạo. Chính đức ái đó đã đưa bà Đê đến phúc tử đạo.

Tháng 3.1841 đời vua Thiệu Trị, có bốn linh mục hiện diện tại làng Phúc Nhạc, cha Berneux Nhân ở nhà ông Tổng Phaolô Thức, cha Galy Lý ở nhà ông Trùm Cơ, cha Thành ở nhà bà Đê và cha Ngân ở một nhà khác.

Một người tên Đề theo giúp cha Thành muốn lập công và tham tiền đã mật báo tin các linh mục trú ẩn cho quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh. Chính quan Tổng đốc đích thân chỉ huy 500 lính đột xuất bao vây làng Phúc Nhạc vào đúng sáng ngày lễ Phục Sinh (14.4.1841). Quan truyền tập trung giáo dân lại để quân lính lục soát từng nhà. Hai cha Thành và Ngân may mắn trốn thoát kịp. Cha Nhân vừa dâng lễ xong vội rời nhà trọ, sang trốn trên gác bếp nhà phước Mến Thánh Giá, nhưng vô tình để gấu áo ra ngoài kẽ ván nên bị bắt trước hết. Cha Lý được ông Trùm Cơ đưa sang vườn nhà bà Đê ở sát bên. Bà Đê chỉ cho cha đường mương khô ở sau vườn cạnh một bụi tre: “Xin cha ẩn dưới rãnh này, Đức Chúa Trời gìn giữ thì cha thoát, bằng không cha và con đều bị bắt”.

Nói xong bà cùng con gái Lucia Nụ lấy rơm và cành khô che phủ lên. Nhưng quân lính đã trông thấy cha chạy qua vườn nhà bà, nên họ đến bắt cha Lý và bà Đê, chủ nhà. Ông Trùm Cơ, bốn hương chức trong làng và hai nữ tu Mến Thánh Giá là Anna Kiêm và Anê Thanh cũng bị bắt. Tất cả bị trói mang gông điệu ra đình làng. Nhà bà Đê bị lục soát, thóc lúa, đồ dùng, tiền bạc đều bị lính lấy hết. Khi bị bắt, bà Đê rất sợ hãi, nhưng khi điệu bà ra đình thì gương mặt bà lại vui tươi không còn vẻ sợ sệt gì nữa.

Mặc áo hoa hồng
Quân lính áp giải các nạn nhân về Nam Định. Họ phải đi suốt đêm rất cực nhọc. Bà Đê sức yếu, không chịu nổi gông quá nặng, phải có người nâng đỡ nhiều lần. Tới thành Nam bà bị giam chung với hai nữ tu. Sáu ngày sau ra trước công đường, quan toà bắt bà chối đạo, bà đáp: “Tôi chỉ tôn thờ Thiên Chúa, không bao giờ tôi bỏ đạo Chúa muôn đời…”.

Các quan truyền đánh đòn bà. Lúc đầu lính đánh bằng roi, sau dùng củi lớn quật vào chân bà. Bà không nản lòng, khi chồng bà đến thăm, bà giải thích vì sao bà được kiên tâm như vậy: “Họ đánh đập tôi vô cùng hung dữ, đến đàn ông còn không chịu nổi, nhưng tôi đã được Đức Mẹ giúp sức, nên tôi không cảm thấy đau đớn”.

Đến thẩm vấn lần thứ hai, thứ ba, thấy bà Đê vẫn một lòng trung kiên, quân lính được lệnh vừa đánh vừa lôi bà bước qua Thánh Giá. Nhưng bà sấp mình xuống đất, kêu lớn tiếng rằng: “Lạy Chúa, xin thương giúp con, con không bao giờ muốn chối bỏ lòng tin Chúa, nhưng vì con là đàn bà yếu đuối, nên họ dùng sức mạnh để cưỡng bức con đạp lên Thập Giá”.

Lần tiếp theo ra trước toà, quan cho túm tay áo lại rồi thả rắn độc vào trong áo, nhưng bà Đê đã giữ được bình tĩnh cách lạ lùng. Bà đứng yên không hề nhúc nhích nên rắn không cắn, chỉ lượn vài vòng rồi bò ra. Các quan truyền đánh bà dữ hơn nữa rồi giam trong ngục. Nhưng bà đã kiệt sức, đi không nổi phải có người dìu. Một nhân chứng tên Đang, về sau cho biết: “Bà Anê Đê đã bị đánh đập tàn bạo đến nỗi thân mình bà đầy máu mủ. Tuy vậy, bà vẫn vui vẻ, và còn muốn chịu khó hơn nữa”. Quả thật bà đã thể hiện trọn vẹn mối phúc thứ tám:

“Tin yêu Chúa tể muôn trùng,
Tan vàng nát ngọc chữ trung một lòng”.

Cô Lucia Nụ đến thăm mẹ trong ngục, thấy y phục thân mẫu loang lổ máu, cô thương mẹ khóc nức nở, bà an ủi con bằng những lời tràn trề lạc quan : “Con đừng khóc, mẹ mặc áo hoa hồng đấy, mẹ vui lòng chịu khổ vì Chúa Giêsu, sao con lại khóc ?”.

Bà còn khuyên: “Con hãy về chuyển lời mẹ bảo với anh chị em con coi sóc việc nhà, giữ đạo sốt sắng, sáng tối đọc kinh xem lễ, cầu nguyện cho mẹ vác Thánh Giá Chúa đến cùng. Chẳng bao lâu mẹ con ta sẽ đoàn tụ trên nước Thiên Đàng”.

Ngoài những cực hình tra tấn nặng nề và ăn uống kham khổ, bà còn phải chịu thêm nỗi đau đớn của bệnh kiết lỵ. Hai nữ tu tận tâm săn sóc bà, các linh mục gởi thuốc, đến thăm, ban bí tích giải tội, xức dầu và giúp bà. Trong giờ hấp hối, người ta thường nghe bà cầu nguyện: “Lạy Chúa! Chúa đã chịu chết vì con, con hết lòng theo thánh ý Chúa. Xin Chúa tha mọi tội lỗi cho con”.

Cuối cùng bà dâng lời sau hết: “Giêsu Maria Giuse! Con xin phó linh hồn và thân xác con trong tay Chúa, xin ban ơn cho con được tuân theo ý Chúa trong mọi sự”.

Bà Anê Đê đã về Nhà Cha trên trời trong tinh thần thánh thiện ấy. Hôm đó là ngày 12.7.1841, sau 3 tháng bị giam cầm hy sinh vì đức tin. Bà hưởng thọ 60 tuổi.

Theo tục lệ, người lính cho đốt ngón chân bà để biết chắc nạn nhân không còn sống. Họ tẩm liệm thi hài vào quan tài do nhà chung đem tới, rồi an táng tại pháp trường Năm Mẫu. Sáu tháng sau, giáo hữu cải táng về Phúc Nhạc.

Ngày 02.5.1909, Đức Giáo Hoàng Piô X đã suy tôn Chân Phước cho bà Anê Lê Thị Thành. Và ngày 19.6.1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã suy tôn bà lên bậc hiển thánh. Bà thực xứng danh là gương mẫu và là Bổn mạng các bà mẹ Công Giáo Việt Nam.

Kìa xem lúa đã chín vàng,
Hãy nghe tiếng Chúa gọi vang núi đồi.
Nguyện cầu đi, hỡi người ơi,
Cho lòng đáp lại lời mời yêu thương.

Nhóm Biên Soạn