ĐỀ TÀI 1: Bổn phận rao giảng Tin Mừng của các Giáo Hội tại Á Châu
– Hiện nay, các Giáo Hội trong các nước ở Á Châu cần phải đồng hành với nhau, cùng nhau tiến bước đến Năm Ngàn Thứ Ba và phải loan báo Chúa Kitô, bằng lời nói vàbằng việc làm, không những cho những Đồng bào Á Châu của mình, mà còn cho tất cả các dân tộc của toàn thế giới.
– Trước hết, các Giáo hội Á Châu phải cùng nhau đi với Chúa Giêsu Kitô như các môn đệ thành Êmau đã làm:
“Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Trong lúc họ đang trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ ” (Lc 24,14-15).
” Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giêsu làm như còn phải đi xa hơn nữa. Họ nài ép Người rằng: ” Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.” Bấy giờ, Người ở lại với họ ” (Lc 24,28-29).
để xin Ngài mở lòng trí mình ra cho Lời Chúa:
” Bấy giờ Đức Giêsu nói với hai ông rằng: ” Ôi, những kẻ tối dạ, những lòng chậm tin vào lời các ngôn sứ! Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao? ” Rồi bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh ” (Lc 24,26-27).
” Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất ” (Lc 24,31).
để mỗi người chúng ta sốt sắng nhiệt thành yêu mến Chúa và yêu mến các linh hồn vì Chúa:
” Họ nói với nhau: ” Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Lc 24,32);
thấy được ý nghĩa luôn luôn mới mẻ của Lời Chúa:
” Vì anh em đã được tái sinh, không phải do hạt giống mục nát, mà do hạt giống bất diệt, nhờ Lời Thiên Chúa hằng sống và tổn tại mãi mãi, vì mọi phàm nhân đều như cỏ và tất cả vinh quang của họ cũng đều như hoa cỏ; cỏ thì khô héo, hoa thì tàn rụng; Lời Chúa vẫn tổn tại đến muôn thuở muôn đời. Đó chính là Lời đã được loan báo cho anh em như một Tin Mừng ” (1 Pr 1,23-25);
và đem Lời Chúa áp dụng vào trong nhiều hoàn cảnh hiện tại khác nhau ở Á Châu
” Anh em hãy đem Lời Chúa ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình ” (Gc 1,22).
– Các Giáo Hội Á Châu cũng phải cầu nguyện với Chúa Giêsu Kitô để Ngài làm cho Á Châu được nhận biết Ngài trong việc bẻ bánh như là căn nguyên của sự sống và của mọi sự sung mãn được tặng ban cho mọi dân tộc.
– Các Giáo Hội Á Châu hãy tìm cách đi theo Thánh Linh:
” Tôi xin nói với anh em là hãy sống theo Thánh Linh ” (Gl 5,16).
– Chúa Thánh Linh đã soi sáng những nhà hiền triết và những vị thánh của Á Châu
trong việc tìm kiếm chân lý hoàn hảo và sự sống sung mãn.
– Chúa Thánh Linh đã làm cho các dân tộc Á Châu có thể nhận ra sự hiện diện của Ngài và hưởng dùng sự hiện diện nầy
bằng những tia sáng chân lý trong các triết học và các tôn giáo của họ.
– Các Giáo Hội Á Châu ao ưóc đồng hành với Giáo Hội Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Đồ:
– Giáo Hội thời các Tông Đồ với những lời giáo huấn của chính Chúa Kitô;
– Giáo Hội thời các Thánh Phụ với di sản thần học và thiêng liêng quý báu;
– Giáo Hội thời các nhà truyền giáo vĩ đại của Âu Đông và của Á Châu;
– Giáo Hội của các vị thánh và của các nhà thần học thời Trung Cổ;
– Giáo Hội của sự canh tân và đỗi mới, được hướng dẫn bởi các Công Đồng Trente, Vatican I, Vatican II.
– Trong khi trung thành với Thiên Chúa của mình, các Giáo Hội Á Châu vẫn tìm cách đồng hành với tất cả mọi dân tộc Á Châu anh em của mình, kết hiệp với đời sống của họ, với những nền văn hóa chung của các dân tộc anh em nầy.
– Các dân tộc Á Châu đều liên kết với nhau trong một vận mệnh chung, một số phận chung.
– Các dân tộc Á Châu đều có nhiều yếu tố tôn giáo và thiêng liêng, cần thiết cho Giáo Hội trong việc hoàn thành sứ mạng của mình.
– Với các dân tộc Á Châu, Giáo Hội muốn chia sẻ sự giàu sang vô tận của ơn cứu độ do Chúa Giêsu Kitô mang lại.
– Các Giáo Hội Á Châu muốn thích hợp với những nền văn hóa và những tập tục xã hội của những dân tộc mình.
– Các Giáo Hội Á Châu muốn rửa sạch những điều nầy khỏi những gì nghịch lại với Tin Mừng của Chúa Kitô để Tin Mừng nầy khỏi trở nên xa lạ trên miền đất Giáo Hội đang sống và để cho Giáo Hội, trong khi kết hợp với Chúa Kitô, nhận lấy cho mình ” những vui mừng và hy vọng, những đau khỗ và lo âu của dân chúng.”
ĐỀ TÀI 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH ĐỊA LÝ, TÔN GIÁO VÀ VĂN HÓA, XÃ HỘI, CHÍNH TRỊ, KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
1. Về mặt địa lý
– Thật khó nói rõ được những nước nào trong lục địa Á Châu nầy.
– Lục địa Á Châu có thể được xem như là một giải đất rộng, gồm các nước Trung Đông, các nước vùng Vịnh, các nước Nam Á,các nuớc Trung Tâm Á Châu, các nước Đông Nam Á, nước Xibêria Á Châu, các nước Viễn Đông.
2. Về mặt tôn giáo và văn hóa
– Lục địa Á Châu rộng rãi nầy là mẹ của nhiều sắc dân và của nhiều dân tộc, là nơi có của nhiều tôn giáo hoàn cầu lớn, do kết quả của người Á Châu tìm tòi lâu ngày về ý nghĩa và về vận mạng của nhân loại và của vũ trụ.
– Một vài hệ thống tôn giáo, triết học, xã hội, ngữ học, và một vài tỗ chức được lịch sử công nhận là sâu sắc nhất và hoàn chỉnh nhất, là do các vị quân tử Á Châu, những vị thánh hiền và những người có những thị kiến tôn giáo từ những thời xa xưa.
– Những vị nầy đã hướng dẫn những vận mạng của hàng triệu triệu người qua nhiều thế kỷ và nhiều thiên niên kỷ.
– Do-Thái-giáo, mặc dầu ít được đại diện tại Á Châu, thật sự là một tôn giáo toàn cầu, dạy cho nhân loại biết về Thiên Chúa tạo hóa và nhân lành, về nhân vị con người có tự do, có phẩm giá, nhưng dù vậy, vẫn cần phải được Thiên Chúa cứu chuộc cho khỏi tội lỗi, về thế mạt.
– Ấn-Độ-giáo kiên trì đi tìm kiếm thực tại cuối cùng, tìm kiếm Tuyệt Đối, tìm kiếm cách giải thoát con người khỏi tất cả mọi hình thức của sự dữ, bằng con đường tìm hiểu vô vị lợi và sự tận tâm. Tôn giáo nầy nhấn mạnh về sự thinh lặng, sự chiêm ngắm, sự từ bỏ và sự bất bạo động.
– Phật-giáo tìm cách chỉ dẫn cho cá nhân một con đường nằm ngoài cái thực tại hiện sinh đau khỗ bằng cách giới thiệu Tám Con Đường Cao Quý, Bát Chính Đạo, dẫn đưa con người đến sự giải thoát hoàn toàn. Tôn giáo nầy nhấn mạnh về lòng từ bi như là một đức tính trước.
-Trong nhiều nước, ảnh hưởng của những tư tưởng lớn về đạo Chúa và về thần bí của Khỗng-giáo và Lão-giáo đã thay đỗi tôn giáo nầy. Đối với hai đạo nầy, những quan hệ hài hòa trong xã hội có một sự quan trọng lớn lao.
– Hồi-giáo được nổi bật trong giáo lý về Thiên Chúa độc nhất, Đấng tạo dựng muôn loài, Đấng đầy lòng nhân lành và tha thứ.
Mọi người phải hoàn toàn vâng phục những lệnh truyền của Thiên Chúa bằng đời sống vâng phục, cầu nguyện, bố thí, chay tịnh và đi hành hương tại La Mecque.
– Tôn giáo Cổ Truyền nhìn toàn vũ trụ như là một thực thể, thế giới hữu hình gổm muôn loài và con người, và thế giới vô hình gổm các thần linh; hai thế giới hữu hình và vô hình nầy đều thấm nhập vào nhau, kết hợp chặt chẽ với nhau. Tôn giáo Cổ Truyền nầy nhấn mạnh về sự hiệp thông và hòa hợp với Thượng Đế, với các thần linh, với thiên nhiên, với các thành viên bà con trong gia đình, trong bộ lạc và trong bộ tộc của mình.
– Sự giàu sang to lớn nhất mà lục địa Á Châu có được, là do lục địa nầy có những dân tộc có những nền văn hóa phong phú và rất lâu đời, thường được biết đến vì những thói quen giản dị, khéo léo, và vì đức tính bền đỗ và can đảm của mình.
– Các giá trị tôn giáo và văn hóa như yêu thích tìm kiếm triết lý,yêu thích chiêm niệm,yêu thích sự đơn giản, sự từ bỏ mình, sự thinh lặng, sự bất bạo động…, những điều nầy là những đặc điểm mạnh mẽ của các dân tộc Á Châu.
– Ý nghiã sâu xa của tôn giáo, tình yêu gia đình, sự kính trọng sự sống, lòng từ bi đối với tất cả mọi loài, tình yêu thiên nhiên và muốn sống gần gủi với thiên nhiên, lòng kính trọng đối với cha mẹ, đối với các người trưởng, đối với ông bà tỗ tiên, ý thức đời sống cộng đoàn, tất cả những điều trên đây đem lại sức mạnh cho các dân tộc Á Châu.
– Lịch sử của Á Châu được nỗi bật bởi sự hiện diện của nhiều tôn giáo.
– Mặc dầu thỉnh thoảng có những sự căng thẳng và ngay cả những cuộc chiến tranh, Á Châu đã tỏ ra có một mức độ cao trong sự bao dung tôn giáo và chung sống hòa bình.
– Luôn luôn tại Á Châu, có sự đối thoại căn bản giữa các tôn giáo, một ý thức thích nghi với nhau, một sự ao ước làm giàu cho nhau.
– Mặc dù có những tiến trình về hiện đại hóa và tục hóa, các tôn giáo ở Á Châu vẫn tỏ ra có sức sống và khả năng để đỗi mới, như xảy ra trong các phong trào canh tân.
– Những nhóm nầy đi đến sự hiệp nghị với nhau trong hiện tại nhiều hơn là trong quá khứ.
– Cũng có những dấu hiệu cho thấy các dân tộc Á Châu trên mọi con đường sống của mình, nhất là giới trẻ, khao khát sâu xa về những giá trị thiêng liêng.
– Hiện tượng nầy cũng làm xuất hiện nhiều phong trào mới về tôn giáo.
– Ý thức của người Á Châu lớn mạnh lên.
– Cái ý nghĩa “mình là Á Châu ” lớn mạnh lên trong các dân tộc Á Châu.
– Điều nầy có được là nhờ có một sự ý thức được chia sẻ với nhau về sự phong phú và sự khác nhau của những nền văn hóa Á Châu, về một gia tài chung về tôn giáo và văn hóa, kinh nghiệm đã sống dưới chế độ thực dân, sự sở hữu chung những giá trị tôn giáo.
– Gia tài Á Châu về sự khôn ngoan được chứa đựng trong các sách của những nhà sáng lập vĩ đại các tôn giáo, của những người biết suy nghĩ và của những bậc thánh hiền, chẳng hạn như Đức Khỗng Tử, và của những lợi ích kinh tế chung.
3. Về mặt xã hội, chính tri, kinh tế và phát triển
– Dù xưa cũ, Á Châu vẫn đổng thời là một lục địa rất trẻ. Hơn 60 phần trăm dân chúng là giới trẻ.
Những người trẻ nầy tạo nên hy vọng và tương lai của Á Châu.
– Một thế hệ mới của những nhân công lành nghề, của những nhà khoa học, của các kỷ sư tăng thêm mỗi ngày và làm cho thấy trước được sẽ có những điều tốt cho sự tiến bộ của Á Châu.
– Trên những bình diện khác nhau, các dân tộc Á Châu đã bắt đầu làm việc chung và cọng tác với nhau để xây dựng một Á Châu tốt đẹp hơn.
– Trên bình diện chính quyền, các tổ chức như Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á ( ASEAN ), Hội Vùng Nam Á ( SARC ) và các hiệp hội kinh tế và văn hóa đã góp phần làm cho các dân tộc Á Châu được tiến bộ.
-Trên bình diện không phải của chính quyền, nhiều sáng kiến tư đang làm cho số phận của những người nghèo được khả quan.
– Dẫu nếu những dấu hiệu của thời đại đôi khi khác nhau tại nước nầy qua nước khác tại Á Châu, nhưng đâu đâu cũng nhận ra được những khuôn mẫu chung.
– Trong tất cả Á Châu, có một ý thức cầm quyền các dân tộc để thay đỗi những cấu trúc bất công trong xã hội. Người ta hành động để cho có một nền công bình xã hội lớn hơn, để cho được tham gia một cách quan trọng hơn vào chính quyền và vào kỷ nghệ, để cho có sự bình đẳng của những vận may trong giáo dục và trong công ăn việc làm, và cũng để cho có được một sự hưởng dùng công bình những tài sản của quốc gia.các dân tộc càng ngày càng ý thức về phẩm giá của mình và về những quyền của con người, về những quyền lợi pháp lý của mình, v.v…
– Các thiểu số chủng tộc, xã hội và văn hóa từ lâu thụ động, nay ý thức được mình có thể trở thành những tác nhân làm thay đỗi xã hội.
– Thánh Thần của Thiên Chúa thật sự làm việc để biến đỗi xã hội nói chung và đặc biệt là trong việc làm cho dân chúng ao ước đạt đến sự sung mãn của sự sống.
– Các bình diện khác nầy của lục địa Á Châu như sự phát triển xã hội kinh tế, tình hình chính trị và hậu quả thế nào, thì khó diễn tả ra hơn.
-Trong lãnh vực phát triển, các hoàn cảnh trên lục địa Á Châu thì khác nhau đến đỗi không thể nào sắp xếp lại thành một loại độc nhất. Vài nước Á Châu thì hết sức phát triển, còn các nước khác thì còn trong giai đoạn phát triển nhờ các nền chính trị kinh tế thực hiện được. Trong một vài trường hợp, một sự phát triển như vậy đã làm mất đi những giá trị xã hội và tôn giáo truyền thống.
– Tuy vậy, cũng có một vài quốc gia Á Châu đã có thể thích nghi những nguyên tắc nầy vào hệ thống kinh tế hiện đại và vào đời sống chính trị mà không gặp những kết quả trái ngược. Còn một số quốc gia khác thì ít may mắn hơn trong lãnh vực phát triển và còn nằm trong những nước nghèo nhất trên thế giới. Trong quá trình phát triển, chủ nghĩa vật chất và tục hóa cũng lấn đất, đặc biệt là trong những trung tâm thành thị. Những ý thức hệ nầy tàn phá các giá trị xã hội và tôn giáo cổ truyền, đe dọa những nền văn hóa lớn của Á Châu với một sự thiệt hại không lường được.
– Không được đánh giá thấp mục tiêu của những phương tiện truyền thông xã hội trong những thay đỗi mau chóng đã xảy ra trên lục địa Á Châu.
– Thấy trước những ảnh hưởng của những phương tiện truyền thông xã hội, ĐGH Phaolô VI đã xem những phương tiện nầy như một phương thế rất hiệu lực trong việc biến đỗi xã hội (Octogesima adveniens, 20).
– Nơi nào mà những phương tiện truyền thông đã đóng góp rất tích cực vào việc phát triển trong nhiều nước ở Á Châu, thì những hiệu quả tốt đẹp đôi khi có thể bị cân bằng lại bởi sự kiện là những phương tiện nầy có thể được xử dụng bởi những kẻ có trực tiếp liên quan đến.
– Trong một số trường hợp, những phương tiện truyền thông bị kiểm soát bởi các thế lực uy quyền chính trị, kinh tế và ý thức hệ.
-Vì những phương tiện truyền thông xã hội có thể đôi khi là một phương thế xâm chiếm văn hóa, tàn phá những giá trị tôn giáo và gia đình cổ truyền của Á Châu, sự giáo dục và sự đào tạo về cách xử dụng truyền thông xã hội là điều rất quan trọng (ĐGH Gioan Phaolô II, Lettre aux Délégués, FABC, 1990).
– Một số yếu tố xã hội kinh tế quyện lẫn vào nhau xung quanh những yếu tố tích cực ảnh hưởng đến sự thay đỗi trong lục địa Á Châu.
– Mặc dầu đã có nhiều thập niên độc lập, đã có những kế hoạch kinh tế và một sự phân chgia đổng đều một phần lớn các tài nguyên tự nhiên và nhân loại, nhiều chính phủ Á Châu đã không thành công ngay cả việc tạo cho dân nước mình những điều kiện tối thiểu cho cuộc sống con người.
– Khi suy nghĩ về tình trạng nầy, ĐGH Gioan Phaolô II nhận xét rằng: ” Tôi nghĩ đến sự bóc lột nhân công, sự loại bỏ một số lớn người có những thành công trong một xã hội tiến bộ, sự thiếu bảo đảm xã hội, nạn mù chữ, sự dùng ma túy và ” những cái thiên đàng giả tạo ” khác, sự truyền bá những trò đánh bạc và bạo lực, nạn thối nát mà người ta gặp trong những thành phố lớn, những điều kiện sống không xứng đáng với con người mà hằng triệu người phải chịu đựng trong những miền ngoại ô đông đúc của những trung tâm thành phố.” ( ibid. )
– Nhiều nước Á Châu loay hoay trong vòng lẩn quẩn của sự dinh dưõng không đúng, của sự thiếu dinh dưỡng, của sự bùng nỗ không kiểm soát về dân số và của sự thành-thị-hóa không có kế hoạch cùng tất cả những tệ nạn xã hội và luân lý kèm theo; thêm vào đó, là những vấn đề chính trị.
– Trong nhiều nước Á Châu, hơn 50% dân chúng sống dưới mức nghèo đói.
– Tại Á Châu, có một số lớn những người bất lơị về thể lý, những người đui, điếc và những người mang bệnh truyềnn nhiễm.
– Dẫu sự kính trọng đối với người nữ, những giây liên lạc chặt chẽ trong gia đình, sự săn sóc những người già lão và tình yêu đối với trẻ em là những giá trị được ăn rễ sâu xa trong Á Châu, nhưng một số phụ nữ đôi khi cũng bị đối xử như những người hạng hai và chịu sự kỳ thị dưới nhiều hình thức khác nhau.
– Nạn mãi dâm phụ nữ được tỗ chức, và ngay cả nạn mãi dâm trẻ em, tăng lên trong một vài miền của Á Châu.
– Một tình trạng nguy hiểm như vậy xem ra tăng lên trong một vài nước, với hầu như có sự thừa nhận của xã hội nói chung và có sự đổng ý của những quyền bính tôn giáo và chính trị.
– Tình hình chính trị trên lục địa Á Châu cũng khác nhau như những kích thước xã hội và kinh tế của nó. Nhiều màu sắc ý thức hệ tạo thành cảnh tượng chính trị ở Á Châu.
– Có những hình thức thần quyền của chính quyền công nhận một tôn giáo công khai của Nhà Nước và đưa ra những hệ thống pháp luật hạn chế quyền tự do tôn giáo
– Một vài quốc gia, dẫu không tỏ ra rõ ràng mình là thần quyền, nhưng trong tất cả mọi khía cạnh thực tiễn của đời sống hằng ngày, hạn chế những nhóm thiểu số vào loại những công dân hạng hai, hưởng được ít quyền căn bản của con người.
– Trong những quốc gia khác của Á Châu, tự do tôn giáo bị khước từ. Những kẻ tin đạo, sống trong hoàn cảnh nầy, bị coi là những kẻ phản bội tỗ quốc; họ bị bắt bớ và phải trốn lánh.
– Những sự tiêu diệt một giống người, đày dân chúng đi thật xa, bắt buộc phải theo những nền văn hóa và những luật lệ ngoại lai, diệt trừ hoặc bãi bỏ những tiếng nói bất đổng hay chỉ trích, một vài chính quyền vẫn còn thi hành những điều nầy.
– Trong một số trường hợp, tình trạng đáng buổn nầy thật sự đang tiếp diễn. Hoàn cảnh chính trị nầy gây cản trở cho việc phát triển toàn diện con người.
– Trong cùng một lúc, nhiều nước ở Á Châu được nỗi bật bởi sự tham nhũng …
– Những yếu tố nầy không thể nào mà không dẫn đến những tình thế tranh chấp như người ta chứng kiến tại Á Châu trên bình diện miền, quốc gia và quốc tế…
– Đàng khác, sự phát triển không có kế hoạch và không được kiểm soát của nhiều nước ở Á Châu dẫn đến một sự rối loạn về sinh thái…
– Nhiều nước tại Á Châu gánh chịu nặng nề món nợ quốc tế làm cho lợi tức quốc gia phải dùng để trả nợ, vì thế, không còn hoặc còn ít phương tiện để lo phát triển kinh tế quốc gia và an sinh xã hội mà đất nước họ rất cần.
– Sự hiện-đại-hóa đất nước có khi không tương xứng với những nhu cầu căn bản của dân chúng.
– Trong những điều kiện như trên, những người nghèo lại càng gặp khó khăn hơn nữa.
– Tình hình như vậy dễ gây xáo trộn về văn hóa, xã hội và dân số.
ĐỀ TÀI 3: SỰ CỨU RỖI TRONG CHÚA GIÊSU KITÔ ĐƯỢC ĐEM ĐẾN CHO CÁC DÂN TỘC Á-ĐÔNG
– Những thực-tại điạ lý, tôn giáo, văn hóa, xã hội, chính trị, kinh tế và phát triển nầy của Á Châu là những hoàn cảnh sống động và là những toàn cảnh trong đó, sứ mạng cứu rỗi của Giáo Hội phải thể hiện.
– Chính trong ngay vùng Á Châu nầy, với những tài nguyên, những sức mạnh và những thách đố của nó, mà các đồ đệ của Chúa Giêsu Kitô được sai đến, để làm thế nào cho tất cả các dân tộc Á Châu có được sự sống và được sự sống dồi dào, nghĩa là, có sự sống vừa theo chiều kích bề ngang cũng như vừa theo chiều kích hướng thượng.
– Như đồ đệ của Chúa Kitô đã làm, các phần tử của Giáo Hội phải dùng quyền năng do Thập Giá của Chúa Kitô phát xuất ra để tiếp cận với những hoàn cảnh của Á Châu.
– Chúa Giêsu Kitô đã mang lấy những gánh nặng của tất cả mọi dân tộc của mọi thời đại, đã cứu chuộc và thánh hóa mọi dân tộc, để cho tất cả mọi người và mọi dân tộc đuợc rỗi.
– Đây là nguồn gốc đem lại quyền năng và hứng khởi cho Giáo Hội.
– Một cách khiêm nhượng, Giáo Hội muốn mang lấy trên mình những gánh nặng của cuộc sống và vác lấy những gánh nặng đó với những người anh chị em của mình, và đem đến để cho Chúa Giêsu Kitô cứu chuộc bằng cái chết cứu độ và sự sống lại của Ngài.
– Sự chết và sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô làm cho tâm hồn các đồ đệ của Ngài ở Á Châu tràn đầy hy vọng và sức mạnh để họ tự canh tân mình, và nhờ thế, họ canh tân lục địa Á Châu.
– Giáo Hội ở Á Châu, mặc dầu là một đoàn chiên nhỏ về số lượng, nhưng vẫn muốn mang lấy những thực tại, những tiềm năng và những hy vọng của Á Châu (x.GS, 1).
– Thiên Chúa đã sai Con mình đến trần gian để trần gian được sống. Á Châu là một phần của ” trần gian ” nầy, nơi đây, Con Thiên Chúa tiếp tục hiện diện: ” Con Thiên Chúa ở ngay trong trái tim của lịch sử nhân loại như Đấng Cứu Chuộc. Ơn cứu Chuộc thấm nhuần tất cả lịch sử nhân loại, gồm cả phần lịch sử xảy ra trước Chúa Kitô và chuẩn bị cho tương lai thế mạt của con người. Đó là chính luồng sáng ” chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng ” (Ga 1,5). Uy quyền của Thập Giá của Chúa Kitô và của sự Phục Sinh của ngài thì luôn luôn mạnh hơn mọi sự dữ mà con người có thể sợ hoặc phải sợ. ” ( ĐGH Gioan Phaolô II, Entrez dans l’espérance, tr.318 )
– Chúa Giêsu Kitô là Tin Mừng Cứu Độ của Thiên Chúa ban cho trần gian.
– Đức tin cho ta biết Chúa Giêsu Kitô là Con Thật của Thiên Chúa, đã được Thiên Chúa sai đến trần gian để cứu chuộc nhân loại.
– Chúa Giêsu Kitô đã đến để cho tất cả các dân tộc được sự sống của Thiên Chúa và được một cách dồi dào.
– Chúa Giêsu Kitô đã đến từ Thiên Chúa, nhưng Ngài cũng đã đến từ lục địa Á Châu.
– Chúa Giêsu Kitô là một con người của lục địa Á Châu, một con người đã trải qua những kinh nghiệm của những điều kiện và những thực tại của Á Châu.
– Tại Á Châu, Ngài đã sinh ra khó nghèo trong một hang bò lừa.
– Từ Á Châu, Ngài đã chạy trốn qua Phi-Đông. Cuộc sống của Ngài đã bị đe dọa ngay lúc vừa mới chào đời.
– Trên đất Á Châu, Ngài đã sống bằng lao lực cực khổ của hai bàn tay thợ mộc.
– Đến đâu, Ngài đem ơn lành đến đó.
– Đi rao giảng Tin Mừng, Ngài không biết mỏi mệt.
Ngài rao giảng Tin Mừng về Nước Thiên Chúa, nước bình an hạnh phúc giữa Thiên Chúa với tất cả mọi người, không trừ ai, với tất cả mọi dân tộc, không trừ dân tộc nào.
– Trong Chúa Giêsu Kitô, có đầy tràn sự sống, sự thật và sự tốt lành.
– Trong Chúa Giêsu Kitô, mọi hy vọng và mọi ao ước của trái tim con người đều được thỏa mãn.
– Tất cả những ước muốn thiêng liêng của con người để được chữa lành, để được sung mãn, để được tự do, để được công bình, để được sống phẩm giá con người, để được sống trong tình yêu, tất cả những ước muốn cao quý nầy đều được thực hiện đầy đủ trong Chúa Giêsu Kitô.
– Cũng chính trong Chúa Giêsu Kitô mà sự giải thoát cuối cùng mới thực hiện được, sự giải thoát khỏi mọi thứ ngu dốt, khỏi mọi tội lồi, khỏi mọi ích kỷ. Những thứ nầy, chính là nguyên nhân của mọi tội lổi.
– Chúa Giêsu hoàn thành tất cả những điều trên nầy bằng việc hoàn toàn dâng hiến thân mình cho Thiên Chúa Cha qua sự tự hạ mình xuống bằng vâng phục, và vâng phục ngay cả bằng sự chết.
– Sự phục sinh của Chúa Giêsu bảo đảm cho chúng ta là Thiên Chúa Cha đã đóng ấn trên sứ mạng của Chúa Giêsu Kitô đối với nhân loại, một sứ mạng đem lại ơn cứu chuộc và ơn cứu rỗi đến cho mọi dân tộc trên khắp hoàn cầu.
– ĐGH Gioan-Phaolô II dạy chúng ta rằng: ” Trong Ngôi Lời của Mạc Khải, Thiên Chúa đã cho biết về Ngài một cách đầy đủ:
Ngài đã nói cho nhân loại biết Ngài là ai. Chính sự Mạc Khải mà Thiên Chúa cho biết về Ngài nầy, là lý do căn bản làm cho
Giáo Hội tự bản tính mình là truyền giáo. Giáo Hội không thể nào không loan báo Tin Mừng, nghĩa là không thể nào không loan báo sự sung mãn của chân lý mà Thiên Chúa đã cho chúng ta biết về chính Ngài ” (Redemptoris Missio, 5).
– Chúa Giêsu Kitô không phải chỉ là sự sung mãn của Mạc Khải của Thiên Chúa, nhưng Ngài còn là sự sung mãn của mạc khải cho từng người một.
– Sự sung mãn của tính Đức Chúa Trời ngự trị một cách hạnh phúc trong Chúa Giêsu Kitô, như nhận xét của thánh Phaolô: ” Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời ” (Cl 1,19-20).
– Trong Chúa Giêsu Kitô, nhân loại đạt đến mức cao cả nhất của mình.
– Chúa Giêsu Kitô là sự định nghĩa mới mẻ, dứt khoát và hoàn hảo của từng người một, nghĩa là, Ngài cũng là sự mạc khải viên mản của con người, như Công Đồng Vatican II đã nhận xét rất đúng: ” Đó chính là phẩm chất và sự cao quý của mầu nhiệm của con người, mầu nhiệm mà Mạc Khải kitô-hữu làm sáng ngời lên trước mắt các tín hữu. Chính qua Đức Kitô và trong Đức Kitô, bí nhiệm của sự đau khổ và của sự chết được sáng ngời lên, bí nhiệm mà nếu không có Tin Mừng của ngài, sẽ đè bẹp chúng ta ” (Gaudium et Spes, 22).
– ĐGH Gioan-Phaolô II nhắc lại sự kiện là ý nghĩa tối hậu của con người được trở nên rõ ràng trong Chúa Giêsu Kitô qua sự chết và sự phục sinh của Ngài: ” Chúa Kitô Cứu Thế mạc khải con người cho chính con người một cách hoàn toàn…Con người muốn tự hiểu chính mình cho đến tận cùng thâm sâu…thì phải tiếp cận với Chúa Kitô…Sự cứu chuộc được thực hiện nhờ phương thế của Thập Giá đã dứt khoát mang lại cho con người sự phẩm giá của mình và ý nghĩa cuộc đời của họ trong trần gian ” (Redemptor hominis, 10).
– Chúa Giêsu Kitô là Con của Thiên Chúa Cha, đã được Ngài sai đến để đem sự sống và sự viên mãn đến cho nhân loại.
– Danh từ truyền thống của hành động nầy gọi là ” Sự Cứu Chuộc “.
– Chúa Giêsu là sự khôn ngoan của Thiên Chúa ban cho loài người được rỗi, như lời tuyên xưng của thánh Phaolô: ” Trong khi người Do-Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy-lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đớng đinh, điều mà người Do-Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do-Thái hay Hy-lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa ” (1 Cr 1, 22-24).
– Theo Mạc Khải kitô-hữu, Chúa Giêsu Kitô là Đàng, là Sự Thật và là Sự Sống.
– Nói cách khác, mọi sự cứu rỗi phải đến từ Chúa Giêsu Kitô, phải đi ngang qua Chúa Giêsu Kitô, phải ở trong Chúa Giêsu Kitô.
– Chỉ có Chúa Giêsu Kitô là Vị Trung-Gian.
– Nhưng điều nầy không gây trở ngại cho những hình thức khác của sự trung gian cứu rỗi: ” Sự trung gian độc nhất và phổ quát của Đức Kitô, không bao giờ là một chướng ngại trên con đường dẫn đưa đến Thiên Chúa, nhưng là con đường được chính Thiên Chúa vạch ra. “(Redemptor Missio, 5).
– Sự trung gian cứu rỗi của Chúa Giêsu Kitô không loại trừ những hình thức trung gian khác, vì thế, những hình thức trung gian nầy, tùy theo những mức độ và tùy theo những hình thức khác nhau, có thể thông phần vào Sự Trung Gian duy nhất và độc nhất của Chúa Giêsu Kitô.
– Hiểu được như vậy, những hình thức trung gian nầy mang một ý nghĩa mới và một giá trị mới.
– Nhưng phải công nhận rằng những hình thức trung gian nầy không có một giá trị song song hoặc một sự bổ túc cho Sự Trung Gian của Con Thiên Chúa .
– Hiện nay, có những môn Kitô-học khác nhau. Tuy những môn Kitô-học nầy có một giá trị tích cực, là giúp chúng ta ” đọc lại ” bốn sách Tin Mừng và những sách Tân-Ước, và giúp chúng ta áp dụng Lời Chúa vào hiện tại. Những môn Kitô-học nầy chú ý đến những gì mà Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô có liên quan quan đến vấn đề xã hội. Và sự ” đọc lại ” Tin Mừng là điều giúp chúng ta thoát khỏi cơn mê ngủ về mặt thiêng liêng và về mặt bác ái xã hội, hoặc làm cho chúng ta không tự mãn, không đắc chí trong việc trình bày con người của Đức Kitô; nhưng ở đây, các môn Kitô-học nầy lại căn cứ trên một chương trình xã hội, chính trị và văn hóa để ” đọc lại ” Tin Mừng, và sự ” đọc lại ” nầy là một sự bất công đối với đức tin.
– Lịch sử dạy cho chúng ta bài học rằng những sự đọc Tin Mừng lại như thế sẽ chóng đi xa rời đức tin vì bị những ý thức hệ dẫn dắt.
– Các Sách Tin Mừng cần phải được đọc lại với các Thánh Tông Đồ, với Giáo Hội sơ khai, với Huấn Quyền của Giáo Hội, với
các nền văn hóa và các dân tộc của lục địa Á Châu, nhưng không bao giờ được đọc theo một chiều, gọi là chiều ” hội nhập văn hóa” thụ động, giống như con sông nhỏ ” hội nhập ” vào con sông lớn, nhưng phải đọc theo chiều ” Tin Mừng thấm nhập vào văn hóa ” và rửa tội cho văn hóa.
– Một vấn đề như thế, hiện nay, đang có tại Á Châu, như Hội Đồng Giám Mục Á Châu ( FABC ) có công nhận trong các tài liệu của mình: ” Không phải là một bí mật gì về việc có những vấn nạn căn bản đã nồi lên về duy-nhất-tính của Đức Giêsu Kitô trong lịch sử cứu độ, và về cái gọi là “huyền thoại về duy-nhất-tính kitô-hữu ” (For All The Peoples of Asia, FABC, trg XXI). ” Những thần-học-gia nầy có thể là thiểu số, nhưng là một thiểu số rộn ràng. Nguồn hứng bên trong, đường chính yếu và động lực để thi hành sứ mệnh kitô-hữu – là những điều nối kết chặt chẽ với sự xác quyết về duy-nhât-itính và trung-tâm-tính của Đức Kitô, Đấng Cứu Độ – phải được bảo toàn. ” (FABC Papers, số 59 ).
– Khi thích nghi đức tin kitô-hữu vào những nền văn hóa Á Châu, chúng ta không muốn đề cao một Đức Giêsu Kitô từng phần, hoặc một Đức Giêsu Kitô bị thu hẹp vào những kích thước nhân loại và văn hóa.
– Trong khi các khoa Kitô-học Á Châu phải diễn tả Đức Giêsu Kitô cho người Á Châu, và điều nầy đã được những người khác đã làm trong hai mươi thế kỷ hiện hữu của Giáo Hội, thì tất cả các khoa Kitô-học phải lượng giá theo đức tin của các Thánh Tông Đồ, theo Giáo Hội Tông Truyền và theo chứng từ của Tin Mừng.
– Không một Kitô-học nào có óc môn phái hoặc bị chia ra từng phần, có thể chống lại với Đức Giêsu Kitô thật sự của các Sách Tin Mừng.
– Đức Giêsu Kitô không chỉ được xem như một người cải tổ xã hội, một kẻ giải phóng chính trị, một tôn sư của một linh đạo nào đó, một vị anh hùng bênh vực quyền con người, hoặc một kẻ đem lại sự giải thoát cho những ai sống bên lề xã hội.
– Đức Giêsu Kitô hơn thế nhiều. Ngài là Con của Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ duy nhất của trần gian, hôm qua, hôm nay và mãi mãi muôn đời
ĐỀ TÀI 4: LOAN BÁO TIN MỪNG TẠI Á CHÂU
1. Nguồn gốc Tông Đồ của Kitô-giáo tại Á Châu
– Thánh Phaolô viết cho giáo đoàn Galata: ” Nhưng khi thời gian đến hổi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con Mình tới, sinh làm con một người đàn bà, , và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử ” (Gl 4,4-5).
– Chính tại Á Châu mà Chúa Giêsu Kitô đã sinh ra về phần xác thịt.
– Chính tại Á Châu mà Chúa Giêsu đã rao giảng Tin Mừng, mà Ngài đã đau khỗ, đã chết, đã sống lại, đã gởi Chúa Thánh Thần đến với các môn đệ của mình, đã sai các môn đệ của mình đi khắp tận cùng thế giới loan báo Tin Mừng và đã quy tụ những cộng đoàn tín hữu.
– Lịch sử truyền bá Phúc Âm bắt đầu từ Giêrusalem ngày lễ Hiện Xuống. Cộng đoàn kitô-hữu đầu tiên đã được thành lập lúc đó. Từ Giêrusalem, cộng đoàn đầu tiên nầy lan đến Antiôkia. Từ Antiôkia, đi về hướng đông và hướng tây.
– Một số Công Đổng đầu tiên nhóm họp tại Á Châu.
– Nhiều Thánh phụ là người Á Châu.
– Phần nhiều các truyền thống đầu tiên về phụng vụ, các tòa thượng phụ đều có nguồn gốc ở Á Châu.
– Chính tại Á Châu mà các thánh Tông đồ loan báo Tin Mừng và thành lập những Giáo Hội đầu tiên như các Giáo Hội Giêrusalem và Antiôkia.
– Theo truyền thống thì các nước Mêsôtamia và Babilônia ( Canđê ) được hai thánh tông đổ Battôlômêô và Tôma đến rao giảng Tin Mừng.
– Cũng theo truyền thống thì sau khi thành lập Giáo Hội Babilônia, thánh Batôlômêô đến miền Tây-nam Ấn-Độ bằng đường bộ và rao giảng Tin Mừng tại đây. Thánh Tôma thì đến miền Nam Ấn-Độ bằng đường thủy và thành lập Giáo Hội Malabar, vùng bờ biển, vào những năm 50 sau Chúa Giêsu Kitô.
– Truyền thống theo đó thánh tông đổ Tôma thành lập cộng đoàn kitô-hữu trên vùng bờ biển Malabar ở Nam Ấn-Độ thì chắc chắn hơn là truyền thống về thánh Batôlômêô.
– Dẫu không có chứng cứ lịch sử hoàn toàn hiển nhiên, sự hiện diện của một cộng đoàn kitô-hữu ở tại vùng biển Malabar vào cuối thế kỷ thứ nhất, chứng minh được viiẹc thánh Tôma đã đặt chân đến đây.
– Lại nữa, phụng vụ, ngôn ngữ phụng vụ, cách tỗ chức Giáo Hội, nền thần học và linh đạo tại Malabar bị ảnh hưởng rất nhiều bởi Giáo Hội Á Châu Syri.
2. Bành trướng truyền giáo
– Cộng đoàn tín hữu Syri lúc bấy giờ hoạt động truyền giáo không những hướng về Nam Á Châu, mà còn đi vào tân Trung Á, cho đến Trung-Hoa.
– Giữa thế kỷ thứ tư và thứ bảy, lướt thắng nhiều trở ngại địa dư và chính trị, họ mang Tin Mừng đến miền đát rộng bao la của Turkistan, Mông-Cỗ và Trung-Hoa. Giáo Hội Syri nầy thật là một Giáo Hội đầy lửa, có lòng nhiệt thành truyền giáo hăng say.
– ” Tấm bia của Hsianfu ” được tìm thấy năm 1625 ở trên Bắc nước Trung-Hoa với những dòng chữ Trung-Hoa và Syri, cho thấy có dấu hiệu sự truyền bá Kitô-giáo tại Trung-Hoa bởi các nhà truyền giáo Syri ở Á Châu.
– Phần đông những nhà truyền giáo đầu tiên và các giám mục nầy là những tu sĩ; những nhà truyền giáo khác, là những nhà buôn và những kitô-hữu thường.
– Họ dùng Sách Thánh để dạy dân chúng. Họ dùng các dấu hiệu tượng trưng của Phật-giáo, Khổng-giáo, Lão-giáo để trình bày đức tin kitô-hữu, và như vậy, họ làm cho người ta hiểu được sứ điệp kitô-hữu trong chính văn hóa của mình.
– Đến thế kỷ thứ mười ba, các tu sĩ Phanxicô thử nghiệm truyền giáo tại Á Châu. Vị truyền giáo danh tiếng nhất lúc bấy giờ là là Gioan Môntêcôvinô tai Trung-Hoa.
– Người kế vị Gioan Môntêcôvinô là Gioan Marignoli. Vị nầy đi qua Ấn-Độ và thiết lập tại đây vài cộng đoàn kitô-hữu.
– Tuy những cuộc bắt đạo đã tiêu diệt những cộng đoàn kitô-hữu do các tu sĩ Phanxicô lập nên, nhưnng gương anh dũng của các nhà truyền giáo nầy và tình yêu của họ đối với Chúa Giêsu Kitô và dân ngoại, đáng được ca tụng và gây hứng cho những người đi sau.
– Dù các cộng đoàn kitô-hữu do các thừa sai Phanxicô thành lập, đã bị tiêu diệt vì những cuộc bắt bớ, nhưng sự anh hùng của những nhà truyền giáo nầy, cũng như tình yêu của họ đối với Chúa Giêsu Kitô, đáng được chúng ta khen ngợi và bắt chước.
3. Những chứng từ truyền giáo nổi bật tại Á Châu
– Trong thế kỷ XIII, những nhà hàng hải, những nhà thám hiểm, những quân lính đánh thuê, những doanh thương, những công ty thương mại mang trong mình tinh thần thám hiểm, sở thích phiêu lưu và sự ham muốn lợi lộc.
– Trước hết là Marco Polo và Vasco de Gama ( 1498 ).
– Họ đi thám hiểm tìm thuộc cho những triều đình của các nước Bổ-Đaổ-Nha, Tây-Ban-Nha, Hòa-lan, Pháp và Anh.
– Họ đã đi đến được hầu hết tất cả các nước ở Á-Đông.
– Giai đoạn lúc nầy cũng là giai đoạn lớn lao về truyền giáo.
– Với sự bành trướng thuộc địa và với sự thành lập các trung tâm thương mãi tại Á Châu, các vị truyền giáo bắt đầu đặt chân đến nhiều nơi tại Á Châu. Các dòng Phan xicô, Dòng Tên, Dòng Đa-minh, Dòng Âucutinô, Dòng Kín, Dòng Thêatinoô thành lập các tu viện tai Á Châu giữa những măm 1510 và 1640.
– Thánh Phanxicô Xavie là vị truyền giáo lớn nhất hiện đại. Trong vòng 10 năm, ngài đã thành lập những Giáo Hội dọc theo bờ biển của Tây-Ấn, từ Goa đến Mũi Comorien, tai Sri Lanka, tại quần đảo Mã-Lai, và cuối cùng tại Nhật-Bản. Tại đây, ngài áp dụng những phương pháp khác với những phương pháp mà ngài đã dùng để dạy những ngư phủ ở miền Nam-Ấn. Sự thánh thiện trong suốt của ngài, những hoạt động không biết mệt của ngài, đời sống cầu nguyện sự không bao giừo ngừng dạy giáo lý của ngài, đó là những lý do đem lại sự thành công cho ngài trên con đường truyền giáo.
– Con đường truyền giáo do thánh Phanxicô Xavie vạch ra, cũng được những nhà truyền giáo sáng chói, thông minh và thánh thiện theo đuổi tại Á Châu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII.
– Chúng ta thấy các nhà truyền giáo Alexandre Valignano, Matteo Ricci, Ferdinand Verbiest, Adam Schall, Bento de Gomes và Vincent Lebbe, tại Trung Hoa cũng như tại Nhật Bản, đã tìm cách đối thoại với các nền văn hóa và các tôn giáo của các nước nầy, và làm sao cho Phúc Âm, phụng vụ và ngôn ngữ thần học được các dân tộc bản quốc hiểu thấu.
– Những cố gắng như vậy cũng đã được thực hiện tại Ấn Độ do những vị truyền giáo quan trọng không kém, như Robert de Nobili, Constant Beschi và Jean de Britto. Những vị truyền giáo nầy tìm cách áp dụng Kitô-giáo vào hệ thống các giai cấp tại Ấn Độ.
– Tương tự như thế, nhà truuyền giáo Alexandre de Rhodes cũng đã thực hiện tại Việt Nam.
– Những cố gắng quan trọng để loan báo Tin Mững cũng đã được thực hiện bởi nhà truyền giáo Rodolphe Aquaviva và các bạn của mình tại triều đình Mông Cỗ Akbar. Mặc dầu những cố gắng nầy đã thất bại, nhưng tầm quan trọng của chúng cho tương lai là điều không thể chối cải được.
– Những công cuộc của nhà truyền giáo Joseph Vaz, một linh mục Ấn Độ dòng Oratoire, được xem như là vị tông đổ của Sri Lanka, đã làm nhiều chuyện để đem đức tin công giáo vào quốc gia nầy, mặc dầu bị thực dân Hòa Lan bắt bớ.
-Tin Mừng được đưa vào Đại Hàn do một giáo dân tên là Phêrô Ly, và các bạn giáo dân của ông ta. Bởi thế, nét đặc biệt của Đạo Kitô tại Đại Hàn là do những giáo dân thành lập.
Linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang







