Ngày 06/09/2003, lúc 10 giờ sáng, tại nhà thờ Chánh tòa, Đức Giám mục giáo phận dâng thánh lễ tạ ơn về 50 năm hiện diện tại Việt-nam của dòng Tiểu muội Chúa Giê-su, đồng tế với các cha trong giáo hạt Đà Lạt.

Nhân dịp này, chúng tôi xin sơ lược giới thiệu với mọi người đôi nét về một hội dòng có trụ sở chỉ ở cách nhà thờ Chánh tòa “ba kinh Kính Mừng đi bộ đọc chậm” (1), hội dòng của những chị em mà nụ cười luôn nở trên môi như ta thấy nơi tượng Hài nhi Giê-su, sở hữu đặc biệt của các chị.

Trước hết phải nói đến cha Charles de Foucauld, người mà các anh chị em tiểu đệ, tiểu muội âu yếm gọi là “Anh”. Chính ngài là người đã nói: “Tôi mơ ước một cái gì thật đơn sơ, không đông người, giống như các cộng đoàn sống rất giản dị thời giáo hội sơ khai, sống đời Na-da-rét trong sự cần lao và việc chiêm ngắm Chúa Giê-su” (2). Mơ ước đó chính là nguồn gốc và tinh thần này chính là luật sống của 19 “gia đình”, trong đó có một “gia đình” đã được hình thành từ năm 1909, bảy năm trước khi cha Charles de Foucauld qua đời. Ngài đã bị sát hại ngày 01-12-1916 tại Taimanrasset, nước Algérie, nơi sa mạc Phi-châu.

Dòng Tiểu muội Chúa Giê-su được thành lập năm 1939, do chị Magdeleine (Ma-đa-lê-na), người đã được thúc đẩy bởi gương tông đồ nhiệt thành của cha Charles de Foucauld, đã chờ đợi và vượt qua nhiều thử thách về gia đình và sức khỏe, cuối cùng đã được Thiên Chúa nhận lời cho đến đất Hồi giáo, đi sâu vào sa mạc Sahara theo dấu vết của vị tông đồ Chúa Giê-su.

Dòng chính thức được hình thành ngày 08 tháng Chín năm 1939, trong sa mạc, giữa những người du mục. Năm 1947, dòng được nâng lên bậc dòng giáo phận, và đến năm 1964 trở thành dòng giáo hoàng. (3)

Tháng 01 năm 1953 (4), trong chuyến đi đầu tiên của chị Magdeleine đến Việt-nam, chị đã ghé Đà-lạt với mục đích thành lập một nhà sống giữa đồng bào Thượng (Đà-lạt lúc ấy à một trung tâm truyền giáo cho đồng bào Thượng).

Trích nhật ký của chị Magdeleine:

“Ngày 08-01-1953. Sài Gòn – Đà Lạt. Chúng tôi kiếm được mấy chỗ ngồi trong một chiếc xe vận tải chở gạo đồng thời là xe thơ, để đến Đà-lạt. Xe thường bị dừng lại để kiểm soát. Phong cảnh tuyệt đẹp. Con đường đi vào một khu rừng rậm. Chúng tôi đến Đà Lạt khoảng 7 giờ tối. Các cha đón tiếp chúng tôi một cách rất nồng hậu. Chúng tôi tạm trú trong một ngôi biệt thư trống…”

“Ngày 11-01-1953. Đà-lạt – Kala, làng N’Krot. Chúng tôi bị giằng co giữa đôi bên: một bên là cha Parrel ở Đà Lạt muốn chúng tôi lưu lại Đà-lạt, và bên kia là cha Dournes, người đang chia xẻ cuộc sống của đồng bào Thượng, lại muốn chúng tôi mở nhà tại Di-linh, ở Kala, làng N’Krot…”

Cuối cùng thì chị Magdeleine đã chọn thành lập Huynh đoàn N’Krot trước, năm 1953.

Khi bắt đầu có những ơn gọi Việt-nam, chị Magdeleine nghĩ đến một nơi để làm nhà tập cho chị em. Mặt khác, ơn gọi Tiểu muội đòi buộc mỗi Miền phải có một Huynh đoàn gọi là nhà thờ phượng, một “trung tâm nhỏ của sự cầu nguyện, thờ lạy, hồi tâm, nơi chị em đến để tĩnh tâm trong bầu khí của một nhóm nhỏ thinh lặng… Chừng nào mà trong mỗi Miền chưa có trung tâm dành riêng cho sự cầu nguyện và thờ lạy, thì chúng ta khó có thể làm cho chung quanh mình ý thức hoàn toàn thế nào là ơn gọi chiêm niệm giữa đời của Huynh đoàn…” (chị Magdeleine viết).

Thế là tháng 6 năm 1955, chị Anne-Josephe trở lại Đà-lạt để tìm nơi thành lập một Huynh đoàn có thể đáp ứng hai sứ mạng này. Tìm kiếm ngang dọc, cuối cùng, cha Parrel (lúc ấy là cha sở Đà-lạt) đồng ý cho chị em một miếng đất đằng sau nhà thờ để xây dựng Huynh đoàn này.

Trích nhật ký của Miền Việt-nam năm 1955:

“Để xây dựng nhà Đà-lạt, trong túi chúng tôi chỉ có 2.000 frs. Khi biết được quân đội đang cho những căn nhà tiền chế bằng gỗ mà họ dùng làm trại lính trước đây, chúng tôi liền đến xin, và vài ngày sau người ta báo sẽ cho chúng tôi một căn nhà. Nhưng mảnh đất mà cha Parrel đã cho chúng tôi còn rất hoang dã, cần nhiều công sức khai phá để có thể dựng lên trên đó ngôi nhà tiền chế của quân đội. Chúng tôi cầu cứu sự giúp đỡ, và biết bao người đã đáp lại lời cầu cứu của chúng tôi một cách rất quảng đại. Chị Marryvonne xin đến trọ tại nhà các chị Nữ tử bác ái, và ban ngày thì đến làm việc với thợ để dựng căn nhà…”

Ngày 23/09/1955, Huynh đoàn nhà tập hoàn tất và bắt đầu đón tiếp hai tập sinh đầu tiên.

Ngày 10/04/1979, chị em nghe theo tiếng gọi ra đi để đồng hành với anh chị em nghèo, đến các vùng kinh tế mới. Nhà Đà-lạt tạm đóng cửa, giao cho Tòa Giám mục sử dụng.

Ngày 10/10/1988, chị em trở về lại.

50 năm dòng Tiểu muội Chúa Giê-su tại Việt-nam, 48 năm hiện diện tại Đà-lạt, khuôn mặt và sứ mạng của chị em tại đây hầu như không thay đổi: vẫn là ngôi nhà gỗ tiền chế của quân đội ngày xưa, vẫn là nơi đón tiếp chị em tập sinh đến tập bước vào đời tu Tiểu muội, tập khám phá một chút Thiên Chúa là ai và mình là gì… Để rồi công trình này được tiếp tục suốt đời, đón tiếp chị em trong Miền đến “nạp nhiên liệu” cho ngọn lửa của mình, để có những cuộc gặp gỡ “lòng kề lòng”, những điều mà Đấng là Tình Yêu muốn “dụ dỗ” hay “nói khó” với từng chị em…

Và không chỉ dành riêng cho chị em Tiểu muội, nơi đây cũng đón tiếp tất cả những ai muốn tìm một bầu khí thinh lặng, hồi tâm, cầu nguyện, chầu Thánh Thể.

Đó là sứ mạng riêng của chị em sống tại đây. Nhưng bên cạnh đó, chị em vẫn mang sứ mạng chung của ơn gọi Tiểu muội qua việc “chia ngọt xẻ bùi”, sống với bạn bè, hàng xóm láng giềng, với anh chị em đồng nghiệp, kiếm sống bằng công việc lao động tay chân, ngày lại ngày mang đến trước Chúa Giê-su Thánh Thể những vui buồn sướng khổ của tất cả những ai Chúa đặt để trong ngày sống của chị em.

“Nguyện danh Chúa được chúc tụng đến muôn đời” (Tv. 112, 2)