Các bạn trẻ thân mến,

Đã đi đến những ngày cuối của chặng đường phụng vụ linh thiêng, thiết tưởng không còn quá sớm để mỗi người chúng ta cùng nhìn lại xem trong 5 tuần lễ vừa qua, mình đã sống Mùa Chay thánh như thế nào? Chúng ta nhìn lại không phải là để tự mãn đong đếm xem mình đã làm được những công trạng gì, mà là để kiểm chứng xem bản thân đã thực sự đón nhận và đem Lời Chúa vào đời sống ra sao.

Bài Tin Mừng hôm nay tuy chỉ khắc họa ngắn gọn về thái độ cầu nguyện của hai con người cùng lên đền thờ (cầu nguyện vốn mới chỉ là 1/3 những bổn phận đạo đức chúng ta thực hành trong Mùa Chay, bên cạnh việc hãm mình và chia sẻ bác ái); thế nhưng, nếu xét cho thật tường tận dưới lăng kính đức tin, thì tinh thần cầu nguyện đích thực cũng chính là cốt lõi của tinh thần hãm mình, và cũng chính là cái nôi của tinh thần bố thí, sẻ chia.

Nếu nói rằng người thứ nhất – vị Pharisêu – lên đền thờ để cầu nguyện, thì quả thật rất đáng tiếc bởi anh ta thực chất chưa hề cầu nguyện. Tại sao vậy? Bởi vì:

  • Thứ nhất, cầu nguyện bản chất là để tôn vinh, ca ngợi và chúc tụng Thiên Chúa. Điển hình như Kinh Lạy Cha, đó chính là tâm tình thảo hiếu của người con khi cảm nghiệm sâu sắc về sự tốt lành và tình yêu thương vô bờ bến của cha mình.

  • Thứ hai, cầu nguyện là để cảm tạ tri ân Chúa. Tâm tình này giống như lời kinh Tiền Tụng mà chúng ta vẫn nghe trong mỗi Thánh lễ: “Tuy Chúa không cần chúng ta ca tụng, nhưng việc chúng ta cảm tạ Chúa lại đem lại ơn cứu độ cho chúng ta…”. Lời ngợi khen không làm tăng thêm sự vinh hiển vốn đã tuyệt đối của Chúa, nhưng mỗi lần dâng lời cảm tạ là một lần chúng ta làm giàu cho chính bản thân mình, giúp ta ngày càng gắn bó mật thiết và đặt trọn niềm tin tưởng vào Ngài.

Chúng ta cảm tạ vì đã cảm nghiệm sâu xa muôn vàn hồng ân mà Thiên Chúa đã tuôn đổ dạt dào. Các bài Tin Mừng theo Thánh Gioan trong những ngày vừa qua đã tường thuật rất rõ: Dù Chúa Giêsu có giảng dạy thuyết phục cách nào, có thực hiện biết bao phép lạ nhãn tiền đi chăng nữa, người Do Thái thời đó vẫn cứng lòng không chịu tin. Quả thật, đức tin không phải là một điều dễ dàng có được bằng lý trí thuần túy. Đầu óc phàm nhân của chúng ta dù có thông minh, siêu việt đến mấy cũng không cách nào tự mình hiểu và tin nổi mầu nhiệm một Thiên Chúa Ba Ngôi, không thể tự tin được việc Ngôi Hai hạ mình xuống thế làm người, trở nên giống con người chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi… Những mầu nhiệm vĩ đại đó và muôn vàn ơn lành khác sẽ hoàn toàn vượt quá tầm nhận thức nếu không có tình thương quan phòng của Thiên Chúa, Đấng đã chủ động ban Thần Trí để mở lòng, trợ giúp chúng ta tin kính.

Hơn nữa, cảm tạ là thái độ sống đạo mà Chúa hằng mong ước nơi con cái. Chúng ta chắc hẳn vẫn nhớ câu chuyện về mười người phong cùi được Chúa chữa lành, nhưng rốt cuộc chỉ có duy nhất một người người ngoại đạo biết quay trở lại sấp mình tạ ơn Ngài. Chúa Giêsu đã chạnh lòng buồn bã vì điều đó. Chín người kia tuy cũng được lành sạch về mặt thể xác, nhưng tâm hồn họ vẫn hoàn toàn trống rỗng vì chưa biết cảm tạ, chưa biết mở lòng đón nhận chính Thiên Chúa vào cuộc đời.

  • Thứ ba, cầu nguyện cũng đồng nghĩa với việc xin lỗi Chúa. Khi thành tâm nhìn lại chính mình, ta sẽ lập tức nhận ra bản thân đang mang vô vàn tội lỗi, từ trong lời nói, việc làm, ý tưởng cho đến những điều thiếu sót, dửng dưng đối với tha nhân… Việc can đảm chạy đến với Chúa, khiêm tốn thú nhận mọi lầm lỗi của mình và khẩn cầu lòng thương xót của Ngài chính là một tâm tình vô cùng thánh thiện.

  • Thứ tư, cầu nguyện còn là tâm tình khẩn nguyện. Đó là việc nài xin Chúa thương ban ơn trợ lực, chỉ bảo đường đi nước bước và nâng đỡ sự yếu đuối của chúng ta trước những cám dỗ cuộc đời.

Nhìn lại người biệt phái, anh ta đến đền thờ mang danh nghĩa cầu nguyện nhưng thực chất chỉ để tự phụ, tâng bốc bản thân. Anh ta tự mãn cho rằng mọi việc mình làm đều tốt đẹp, mọi danh vọng, tiền tài anh ta có đều do tự sức mình tạo ra… Trong thế giới của anh ta, hoàn toàn không có chỗ đứng cho Thiên Chúa; tất cả chỉ tồn tại một cái tôi ích kỷ vĩ đại và không còn nhìn thấy bất cứ điều gì khác. Cái tôi ấy lớn đến mức khi nhìn sang người anh em bên cạnh, anh ta lập tức buông lời xét đoán, hạ nhục họ xuống để nâng mình lên. Điều đó thật dễ hiểu theo tâm lý kiêu ngạo của người đời, muốn mình được tôn vinh thì tốt nhất là dẫm đạp lên người khác… Kết cục, anh ta bước vào đền thờ cầu nguyện nhưng tâm hồn lại hoàn toàn trống rỗng, chẳng nhận được gì.

Ngược lại, khi bước ra về, tâm hồn anh ta lại càng trở nên nặng nề hơn, tội cũ không được tha mà lại còn mang thêm vào mình vệt nhơ của tội kiêu ngạo, xét đoán. Thật ra, nhìn một cách khách quan, chung quy con người chúng ta cũng rất dễ sa ngã vào những lỗi lầm ấy, cho nên chúng ta đừng vội vàng đứng ngoài để kết án người biệt phái này. Đây chính là một lời cảnh tỉnh nghiêm khắc mà Chúa muốn gửi đến để mỗi bạn trẻ biết quay trở lại đối diện với chính con người thật của mình.

Các bạn trẻ thân mến,

Chúng ta đã thật sự quy hướng cuộc đời về Chúa để tôn vinh Ngài chưa? Cha nghĩ rằng chúng ta mới chỉ tôn vinh Ngài trên đầu môi chóp lưỡi, còn để sống được điều đó trong thực tế cuộc sống thì lại là một thử thách rất lớn. Cha xin chia sẻ một trải nghiệm thực tế: Khi đến tham dự các đám tang, dường như những lời than vãn, kể lể bi lụy của những người thụ tang đã vô tình làm lu mờ đi hình ảnh một Thiên Chúa là Cha nhân từ. Người ta không còn nhận ra bóng dáng của người Cha hiền hậu đang dang rộng vòng tay yêu thương để đón người con trở về sau khi đã hoàn tất cuộc hành trình lữ thứ trần gian – một cuộc hành hương tuy nhiều vất vả nhưng luôn có bàn tay Chúa dắt dìu. Người ta quên mất rằng cái chết đối với người Kitô hữu thực chất chính là cánh cửa cuối cùng để bước vào sự sống vĩnh cửu; thay vào đó, họ chỉ còn thấy sự đau khổ, hình phạt, mù mịt và mất mát…

Chúng ta phải học cách tôn vinh Thiên Chúa ngay trong chính những thất bại của đời mình. Chính những đổ vỡ, những góc tối trong cuộc đời lại là những biến cố, những khoảng lặng tuyệt vời mà Chúa quan phòng cho phép xảy ra, để chính vào những giây phút ngặt nghèo đó, chúng ta mới chịu hồi tâm, suy nghĩ và nhìn lại hành trình sống của mình. Có những nỗi đau khổ, những sự hiểu lầm, hay thậm chí là những lời kết án oan uổng từ người đời; đau thì chắc chắn có đau, nhưng nếu biết nhìn bằng con mắt đức tin, đó lại là một hồng phúc giúp ta nên thánh. Chúng ta đã bao giờ cảm nghiệm được giá trị thiêng liêng đó chưa?

Chắc chắn chúng ta phải tha thiết xin Chúa ban cho mình một tinh thần khiêm tốn hơn và một đức tin mạnh mẽ hơn, để nhận ra rằng trong mọi khoảnh khắc của cuộc đời luôn có Chúa hiện diện và hành động. Đó chính là động lực thúc đẩy người thu thuế dám tiến bước vào đền thờ.

Thử hỏi, cuộc đời của người thu thuế này có được sống trên nhung lụa, có giàu sang phú quý hay nắm giữ quyền lực trong tay không?… Nếu mọi sự đều suôn sẻ, tốt đẹp theo kiểu thế gian, chắc chắn anh ta đã không có cơ hội tìm đến đền thờ để cúi đầu đấm ngực ăn ăn! Anh ta ngồi ở bàn thu thuế, hằng ngày phải gánh chịu những ánh mắt khinh miệt, đầy căm phẫn của người qua đường. Khi đến đền thờ, người ta có cử chỉ đạo đức là dâng cúng tiền của làm lễ vật, nhưng với anh, ngay cả đền thờ cũng khước từ vì họ coi đồng tiền của nghề thu thuế là thứ dơ bẩn, anh không được phép góp phần vào của lễ thánh. Lúc nào anh cũng phải sống trong nỗi nhục nhã vì bị bỉu môi, bị khinh bỉ là kẻ tiếp tay cho ngoại bang và bóc lột đồng bào mình…

Thế nhưng, chính những giây phút tủi nhục ấy lại là khoảng thời gian Chúa để cho anh tỉnh táo nhìn lại, giúp anh nhận ra tất cả vinh hoa phú quý trần gian chỉ là phù vân giả tạo. Anh chạy đến với Chúa, không dám tiến lên phía trên mà chỉ dám đứng nép mình ở cuối nhà thờ, cúi đầu sâu, đấm ngực ăn ăn và thốt lên lời kinh tự đáy lòng: “Lạy Chúa, xin thương xót con vì con là kẻ tội lỗi”.

Và kết quả là anh đã được ra về trong sự công chính, tội lỗi được tha thứ hoàn toàn và trở thành một con người mới. Đó chẳng phải là điều mà mỗi bạn trẻ chúng ta đang khát khao tìm kiếm trong Mùa Chay này hay sao?

Bản thân cha cũng như các bạn, cha cũng luôn ao ước có được ơn hoán cải đại phúc đó; và muốn như vậy, chúng ta không còn con đường nào khác là phải chạy đến với Chúa, vì chỉ ở nơi Ngài, chúng ta mới tìm thấy ơn tha thứ vẹn toàn.

Hôm nay, khi chọn bài trích thư của Thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-sô nói về sứ mạng của những người mục tử đối với đoàn chiên, cha chỉ muốn cộng đoàn cùng dừng lại suy niệm một câu duy nhất, bởi đó cũng chính là sứ điệp cốt lõi của Mùa Chay năm 2003 này: “Cho thì có phúc hơn là nhận”.

Hãy nhìn vào hai con người cùng đến đền thờ: Người biệt phái sẽ không bao giờ tìm thấy hạnh phúc đích thực, bởi vì anh ta hoàn toàn không biết “cho đi”. Việc anh ta đóng thuế, làm các nghĩa vụ lề luật… đó mới chỉ là bổn phận sòng phẳng, chưa phải là hiến dâng. Còn người thu thuế, thoạt nhìn chúng ta có cảm giác anh ta suốt đời chỉ biết thu gom, tích trữ cho bản thân chứ chẳng cho đi điều gì. Tuy nhiên, đến một thời điểm định mệnh, anh nhận ra việc vơ vét ấy chẳng mang lại giá trị gì cho linh hồn, anh suy nghĩ và quyết định đến với Chúa để bắt đầu một cuộc hoán cải tận căn.

Câu chuyện này làm cha gợi nhớ đến một giai thoại đẹp về Thánh Hiê-rô-ni-mô. Trong một đêm mừng Chúa Giáng Sinh, khi ngài đang sốt sắng quỳ suy niệm bên hang đá Bê-lem, Chúa Giêsu Hài Đồng đã hiện ra và hỏi ngài: “Hiê-rô-ni-mô, ngươi có yêu mến Ta không? Nếu yêu mến Ta thì ngươi làm cái gì, cho Ta cái gì nào?…”. Thánh nhân liền thưa dâng hiến cho Chúa mọi công trình nghiên cứu, sách vở, tài sản và cả cuộc đời tu trì của mình. Thế nhưng, Chúa Giêsu đều lắc đầu và nói: “Vẫn chưa đủ!”. Thánh nhân ngơ ngác hỏi Ngài còn điều gì nữa, lúc bấy giờ Chúa mới ôn tồn bảo: “Ta xuống thế gian làm người là để ngươi trao cho Ta một thứ quan trọng nhất: Hãy cho Ta tội lỗi của ngươi nữa”. Người thu thuế trong bài Tin Mừng đã thấu triệt được bí mật thiêng liêng đó. Anh biết rằng Chúa đến trần gian không phải vì chính Ngài, mà là vì từng người tội lỗi trong chúng ta. Chúa đến là để gánh lấy, để tha thứ và đón nhận con người tội lỗi mà thế gian có thể đang nghiêm nét mặt kết án, bởi với Chúa: “Ta không kết án con đâu…”.

Cho thì hạnh phúc hơn nhận, nhưng trong thực tế đời sống, người trẻ chúng ta đã thực sự cho đi được bao nhiêu? Hay ngược lại, chúng ta luôn đặt ra những yêu sách, đòi hỏi để vơ vét về cho mình thật nhiều? Để rồi dần dần, chúng ta cay đắng khám phá ra một sự thật phũ phàng: Chúng ta quá ích kỷ, tham lam, luôn muốn gom góp mọi sự về cho cái tôi của mình; và thậm chí, ngay cả khi chúng ta có bố thí hay cho đi một chút gì, thì sâu bên trong vẫn ngầm chứa những hậu ý, những toan tính để mong người khác sẽ… đền đáp lại cho mình. Bản chất nguyên thủy của con người được Thiên Chúa tạo dựng hoàn toàn không ích kỷ như thế, chính tội lỗi đã làm biến dạng và hoen ố lòng người.

Đức Thánh Cha đã khẳng định: Cho đi thì hạnh phúc hơn; và việc cho đi thực chất không phải là một điều gì đó quá khó khăn, vượt quá sức người, vì yêu thương và ban phát vốn là bản chất, là khuynh hướng tự nhiên của con người khi được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Tự cốt lõi, sự sống của chúng ta là sự thông hiệp vào nguồn sống tình yêu của Đấng Tạo Hóa; ấy thế mà khi chúng ta đóng kín lòng không biết cho đi, điều đó chứng tỏ đang có một căn bệnh, một sự bất ổn nghiêm trọng xảy ra trong đời sống tâm linh của chúng ta.

Nhìn vào thế giới hiện đại mà giới trẻ đang sống hôm nay, dường như mọi trào lưu, mọi phương tiện truyền thông đều đang ra sức cổ xúy cho lối sống hưởng thụ cá nhân và xu hướng tự đề cao cái tôi. Đứng trước sức hút mãnh liệt đó, người trẻ Kitô hữu phải có đủ sự khôn ngoan và lòng can đảm để biết dừng lại. Để làm được điều này, Đức Thánh Cha dẫn đường cho chúng ta: Hãy nhìn ngắm Đức Kitô, yêu mến Đức Kitô, chạy đến với Đức Kitô và quảng đại hiến dâng trọn vẹn cuộc đời mình cho Ngài; chính lúc bấy giờ, chúng ta sẽ được biến đổi để trở thành một con người biết sống cho đi. Chỉ khi biết hy sinh, tiêu hao vì người khác theo khuôn mẫu của Đức Kitô, chúng ta mới được chính sự sống phục sinh của Ngài biến đổi triệt để. Mọi biện pháp, nỗ lực tự thân của con người chúng ta suy cho cùng cũng chỉ như những hạt cát dã tràng; sức mạnh và sự biến đổi đích thực của chúng ta chỉ có thể được tìm thấy nơi Đức Kitô mà thôi.

Nghi thức sám hối và thống hối chiều nay không nhằm mục đích nào khác ngoài việc trợ giúp cho mỗi bạn trẻ được trực tiếp gặp gỡ và mở rộng toang cánh cửa tâm hồn cho Đức Kitô hiện diện. Hãy để Ngài yêu thương, ôm ấp và ban ơn hoán cải đại phúc; bấy giờ, trong tâm hồn chúng ta sẽ không còn chỗ cho sự ích kỷ, mà chỉ còn duy nhất tình yêu thương mà thôi. Tình yêu cứu độ của Ngài vô cùng mạnh mẽ, dư sức biến đổi con người tội lỗi đầy thương tích của chúng ta, đó là một chân lý không thể nào nghi ngờ. Đức Kitô đã yêu thương chúng ta bằng một tình yêu tuyệt đối, và chính vì yêu, Ngài đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, tự hủy mình ra không để có thể đồng hành, ghé vai gánh đỡ khi chúng ta còn là những tội nhân khốn khổ.

Là những người tội lỗi, chắc chắn nếu không ý thức mình có tội thì cha và các bạn đã không quy tụ về đây trong buổi chiều hôm nay. Chúa đang hiện diện một cách vô cùng đặc biệt giữa cộng đoàn giới trẻ với tư cách là một Thiên Chúa đã hạ mình làm người, trở nên bạn đồng hành và chọn vị trí là người rốt hèn nhất trong xã hội, để không còn một tội nhân nào cảm thấy sợ hãi, lạc lõng hay tìm cách lảng tránh Ngài. Vậy thì người trẻ chúng ta còn sợ hãi điều gì, còn ngại ngùng chi nữa mà không chạy đến bên tòa giải tội?

Có thể đâu đó trong tâm hồn chúng ta vẫn còn một cánh cửa khuất tất nào đó đang bị khép quá chặt, khiến tiếng Chúa gõ cửa suốt bao năm tháng qua vẫn chưa thể bước vào: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta…”. Các bạn trẻ ơi, đừng dửng dưng, đừng trì hoãn thêm nữa, hãy can đảm mở toang cánh cửa lòng mình ra để đón rước Chúa vào. Hãy luôn khắc ghi hình ảnh người thu thuế tội lỗi bước vào đền thờ với một nỗi sầu buồn, khắc khoải, để rồi sau giây phút sám hối linh thánh, Chúa đã cất đi gánh nặng và trả lại cho anh tất cả niềm hân hoan, sự bình an và hạnh phúc vẹn tròn.

Đó cũng chính là hồng ân tuyệt vời mà mỗi người trẻ chúng ta sẽ được lãnh nhận một cách sống động qua Bí tích Hòa Giải. Khi rời ngôi thánh đường này để trở về nhà, chúng ta sẽ là những con người mới – những con người tràn ngập niềm vui cứu độ, hạnh phúc và tình yêu bao la của Thiên Chúa.