Anh chị em thân mến,
Ba bài Kinh Thánh vừa nghe cũng đã được đọc trong thánh lễ an táng Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II mà anh chị em vừa cùng tham dự qua cầu truyền hình. Dưới ánh sáng của Lời Chúa và với chúc thư của Đức Thánh Cha, chúng ta cùng suy niệm.
Bài đọc I trích sách Tông Đồ Công Vụ : “… Chính Người – Đức Giêsu Kitô – đã được Thiên Chúa đặt làm quan án, xét xử kẻ sống và kẻ chết”.
Ngay từ đầu triều đại Giáo Hoàng, Đức Thánh Cha đã không ngớt giảng dạy về “Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc con người” là Đấng Cứu Độ duy nhất. Hướng về Đại Năm Thánh 2000, cách riêng khi hướng về Châu Á, trong Tông Huấn Ecclesia in Asia, ngài đã chọn đề tài : “Đức Giêsu Kitô Đấng Cứu Độ : sứ mạng yêu thương và phục vụ của Người tại Châu Á : để cho chúng được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).
Chữ “Amen” mà trong một cố gắng rất lớn, Đức Thánh Cha đã thưa ngay sau khi kết thúc lời nguyện hiệp lễ của thánh lễ cuối cùng vào tối 02/4/2005, khiến chúng ta nhớ đến Đức Giêsu sau khi chịu các cực hình đã thốt lên “mọi sự đã hoàn tất”. Rồi Ngài gục đầu tắt thở (x. Ga 19).
Tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ duy nhất đòi hỏi chúng ta phải thật lòng, thật sự sống và chết cho Ngài. Vì trong bài thánh thư, thánh Phaolô viết cho Timôthê : “Hãy nhớ đến Đức Giêsu Kitô, Đấng đã sống lại từ cõi chết, Đấng xuất thân từ dòng dõi Đavít, như tôi vẫn nói trong Tin Mừng tôi loan báo. Vì Tin Mừng ấy, tôi chịu khổ, tôi còn phải mang cả xiềng xích như một tên gian phi… Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người…” (2 Tm 2,8-13)
Đức Thánh Cha viết chúc thư từ 1979 vào dịp tĩnh tâm. Hàng năm, ngài đều viết thêm hoặc sửa đổi ; chúc thư 1980 ghi : “Hôm nay, tôi ước mong chỉ thêm vào điều này là : mỗi người phải nhớ đến viễn tượng của sự chết, phải chuẩn bị ra trình diện chính mình trước mặt Thiên Chúa và Đấng Phán Xét, Đấng đồng thời cũng là Đấng Cứu Chuộc và là Cha. Cả tôi cũng liên tục nghĩ đến điều này, để phó thác giờ phút quyết định ấy cho Mẹ Chúa Kitô và là Mẹ của Giáo Hội, Mẹ của niềm hy vọng của tôi”.
“Hôm 13 tháng 5 năm 1981, ngày xảy ra vụ ám sát Giáo Hoàng trong buổi triều yết chung tại quảng trường Thánh Phêrô, Thiên Chúa đã cứu tôi khỏi chết cách lạ lùng. Chính Đấng là Cứu Độ Duy Nhất của sự sống và sự chết cách nào đó, đã kéo dài cuộc sống ấy và đã cho tôi sự sống khác. Từ lúc đó, tôi càng thuộc về Ngài hơn nữa. Tôi hy vọng Ngài giúp tôi nhận ra phải tiếp tục sứ vụ mà tôi đã được kêu gọi ngày 16/10/1978. Tôi xin Ngài gọi tôi khi Ngài muốn. ‘Dù sống dù chết, chúng ta thuộc về Thiên Chúa. Chúng ta là của Ngài’ ( Rm 14,8). Tôi cũng hy vọng rằng bao lâu tôi còn được mời gọi để thi hành sứ vụ của Thánh Phêrô trong Giáo Hội, Lòng Thương Xót của Thiên Chúa sẽ cho tôi sức mạnh cần thiết cho sứ vụ này” (chúc thư 2000)
Đức Thánh Cha luôn qui hướng về Thiên Chúa khi thi hành sứ vụ. Trong những lúc khó khăn, ngài luôn xác tín rằng “sống hay chết là do Chúa” và hoàn toàn phó thác. Ngài qua đời vào chính ngày lễ kính Lòng Thương Xót của Chúa, ngày lễ mà ngài đã thiết lập năm 2000 khi phong thánh cho thánh nữ Maria Faustina.
“Hãy chăn dắt các chiên con, chiên mẹ của Ta”. Chắc chắn Đức Thánh Cha luôn chiêm niệm lời này, vì lời này chính Chúa Giêsu đã nói với Phêrô và tất cả các đấng kế vị Phêrô.
“Vào ngày 16/10/1978, khi mật nghị các Hồng Y chọn Gioan Phaolô II, Giám Mục Ba Lan thì Hồng y Stefan Wyszynski đã nói với tôi : Nhiệm vụ của Tân Giáo Hoàng sẽ là dẫn đưa Giáo Hội vào Ngàn Năm Thứ Ba” (chúc thư năm 2000). Hồng y Stefan Wyszynski vừa là cha, vừa là thầy của ngài, Đức Cố Giáo Hoàng bao giờ cũng nói về vị này cách rất kính trọng.
Được bầu chọn kế nhiệm thánh Phêrô năm 1978, để bước vào ngàn năm thứ ba đến nay đã phải trải qua 22 năm, đối với một Giáo Hoàng việc này thật khó khăn. Ghi lại điều đó trong chúc thư, ngài cho chúng ta thấy : ngài tin rằng mình được Chúa chọn để đưa Giáo Hội bước vào thiên niên kỷ mới, ngài đã hết sức chu toàn sứ mạng và khi đã thi hành xong, ngài về với Chúa.
“Chúng ta nhớ lại biến cố khai mạc Đại Năm Thánh 2000 : Đêm 24/12/1999, Cửa Đồng tiêu biểu của Đại Năm Thánh tại đền thờ thánh Phêrô được mở ra, sau đó là các đền thờ thánh Gioan Latêranô, nhà thờ Đức Bà Cả trong ngày đầu năm và đền thờ thánh Phaolô ngoại thành vào ngày 18/01. Biến cố cuối cùng xét về tính cách đại kết của nó, đã để lại ấn tượng trong ký ức của tôi cách đặc biệt” (chúc thư năm 2000).
Đức Thánh Cha khai mạc Đại Năm Thánh 2000 với tất cả ý thức là làm theo lệnh Chúa, phải đưa dân Chúa vượt qua thời kỳ khó khăn để bước vào một thời đại mới.
Ngài là người đã dự 4 khóa của Công Đồng Vaticanô II, dự 20 khóa họp Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới (chính ngài chủ tọa 15 khóa).
Tôi còn nhớ khi được tham dự Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu để chuẩn bị bước vào Năm Thánh 2000, Đức Hồng Y Tổng thư ký hỏi ai là người đã tham dự tất cả các Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới, Đức Thánh Cha đã cầm cây gậy khua lên và cả hội trường vỗ tay rất lâu. Quả thật ngài tham dự đầy đủ, ngài vừa là người chuẩn bị, điều hành và cũng là người kết thúc, nhưng trên hết, ngài là linh hồn của các Thượng Hội Đồng Giám Mục, vì ngài luôn hiện diện, đó là điều người ta không thể nào hiểu được (mỗi Thượng Hội Đồng kéo dài khoảng một tháng).
104 chuyến tông du đến 130 nước, để xây dựng hòa bình, xây dựng ơn gọi và phẩm giá hôn nhân gia đình, xây dựng giới trẻ, nỗ lực xây dựng sự hòa giải và trọng tâm của sự hòa giải là biết yêu thương tha thứ … ngài đã không ngần ngại xin lỗi những xúc phạm đến anh chị em. Ngài yêu mến Linh mục, yêu mến tu sĩ, yêu mến bệnh nhân, yêu mến người già, đặc biệt yêu mến giới trẻ… chúng ta không thể kể hết được. Trong thời gian tới, sẽ có cơ hội và bầu khí thuận lợi hơn để học hỏi những gì ngài để lại.
Mặc dù có cảm giác ngài là người đứng trên cao để điều khiển Giáo Hội toàn cầu trong hơn 26 năm qua và cũng có những quyết định cứng rắn, nhưng ngài không làm việc một mình : “Trong hơn 20 năm, khi tôi chu toàn sứ vụ thánh Phêrô, giữa lòng Giáo Hội – in medio Ecclesiae – làm sao tôi không thể ấp ủ những kỷ niệm đầy lòng biết ơn đối với tất cả các Giám mục trên thế giới mà tôi đã gặp trong những lần thăm viếng ‘viếng Mộ các Thánh Tông Đồ’ – ad limina Apostolorum. Tôi cảm nghiệm được sự cộng tác tốt đẹp và phong phú của bao nhiêu vị Hồng y, Tổng Giám mục, giám mục, bao nhiêu linh mục, tu sĩ nam nữ và cuối cùng là rất, rất nhiều giáo dân trong giáo triều, trong tòa Giám quản Rôma và cả ngoài môi trường ấy … rất nhiều kitô hữu không Công giáo, rabbi Do-thái-giáo của thành Rôma, nhiều đại diện của những tôn giáo ngoài Kitô giáo, bao nhiêu đại diện về văn hóa, khoa học, chính trị và giới truyền thông xã hội trên thế giới…”
“Khi giờ cuối cùng của đời tôi dần đến, tôi nghĩ đến… mọi môi trường… tới Krakow… tới Rôma, tới mọi người mà Chúa đã trao phó cho tôi… Với tất cả mọi người, tôi chỉ muốn nói một câu : Xin Chúa trả công bội hậu cho anh chị em” (di chúc năm 2000).
Khi giờ phút cuối cùng của ngài đến, Đức Thánh Cha đọc một thông điệp cho vị thư ký của ngài, trong đó ngài nói : “Cha rất hạnh phúc và các con cũng nên vui mừng. Đừng khóc. Hãy cùng cầu nguyện trong niềm vui”.
Vị thư ký riêng cho biết thêm những chi tiết về giây phút sau cùng của Đức Thánh Cha như sau : “Đức Thánh Cha chết quay mặt về phía cửa sổ trong khi ngài cầu nguyện và điều đó chứng tỏ cách nào đó ngài còn sáng suốt”. “Một lúc ngắn ngủi trước khi chết, Đức Thánh Cha giơ tay lên trong một cử chỉ rõ ràng muốn ban bình an, dường như ngài nhận thức sự hiện diện của các tín hữu tại quảng trường Thánh Phêrô, những người trong giờ phút đó đang cầu nguyện cho ngài qua các kinh Mân Côi”.
“Ngay sau khi lời nguyện kết thúc, Đức Thánh Cha trong một cố gắng rất lớn đã thưa Amen. Một lúc sau thì ngài ra đi”.
Tôi nghĩ rằng không phải chỉ những người ở quảng trường thánh Phêrô, mà tất cả mọi người trên thế giới trong những ngày qua đã luôn qui hướng về ngài.
Tôi muốn kết thúc phần chia sẻ này bằng cách lập lại lời đã nói đầu thánh lễ, xin anh chị em ghi nhớ lời ngài đã viết trong chúc thư : “Sau khi tôi chết đi, tôi xin có những thánh lễ và những lời cầu nguyện cho tôi” (chúc thư 1990).
Tam Linh lược ghi









