Anh chị em thân mến,
Thánh lễ hôm nay mang rất nhiều ý nghĩa. Trước hết, dâng Chúa Giêsu vào đền thánh là một mặc khải : Đức Kitô là “vinh quang của Israel”, “Đấng cứu độ và là Ánh Sáng muôn dân”. Thanh tẩy người mẹ cho thấy Đức Maria là mẹ thật của Chúa Giêsu.
Trung tín với lề luật, Con Một Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật cũng được đưa đến đền thờ dâng cho Chúa để thuộc về Người và phải chuộc lại bằng một đôi chim câu ; người mẹ đã mang thai bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, là Đấng Vô Nhiễm nguyên tội mà vẫn đến đền thờ làm lễ tẩy uế sau thời gian ở cữ… Tất cả những điều đó để thực hiện lời Thiên Chúa : Ngài trở nên giống anh em mình mọi đàng (lẽ dĩ nhiên ngoại trừ tội lỗi).
Đây còn được gọi là Lễ Nến, ánh sáng được thắp lên là hình ảnh của Chúa Giêsu, là “Ánh Sáng thế gian”. Ngoài ra, từ năm 1997, lễ này là dịp cầu nguyện đặc biệt cho những người sống đời thánh hiến, dâng mình cho Chúa.
Để hiểu được phần nào những ý nghĩa trên, chúng ta nhờ vào các bài Kinh Thánh, nhìn vào các nhân vật đã được tường thuật trong bài Phúc Âm Thánh Luca, sẽ giúp chúng ta dễ nhớ và dễ suy nghĩ hơn.
Niềm hy vọng thánh thiện trông thấy Đấng Cứu Thế của Dân Chúa, được biểu lộ thật xúc tích nơi con người cụ Simêon. Chỉ trong mấy dòng ngắn ngủi, Kinh Thánh đã 3 lần xác nhận : Đây là người công chính và đầy Thánh Thần. Cụ được gặp gỡ Đấng Mêssia vuợt lên trên sự mong ước của mình, chẳng những trông thấy mà cụ còn được bồng ẳm Ngài trong tay, được nhìn ngắm và được nói tiên tri về sứ mạng của Đấng Mêssia.
Thưa anh chị em,
Ở mọi thời, dưới nhiều cách thức, Dân Chúa luôn tràn đầy Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa vẫn hiện diện và hoạt động trong Hội Thánh, trong cộng đồng nhân loại với sự tác động của Chúa Thánh Thần. Nếu tin vào điều đó sẽ làm được những việc mà chúng ta thường sợ hãi, yếu đuối, thiếu tin tưởng, thiếu phó thác… Nhìn vào cụ Simêon để thấy Chúa luôn ban cho Hội Thánh muôn vàn hồng ân rất cao cả, đặc biệt là hồng ân loan báo về Đức Kitô, hồng ân tiếp nối sứ mạng cứu độ của Đức Kitô.
Bà Anna (gọi là tiên tri vì bà tràn đầy Thánh Thần), điểm đặc biệt là sau thời kỳ chung sống với chồng, bà đã ở trong đền thờ, gặp gỡ Thiên Chúa trong cầu nguyện và phụng vụ, một hình ảnh rất đẹp … 84 tuổi, được gặp gỡ Đấng Cứu Thế. Tuy Kinh Thánh không nói thêm, nhưng có thể hiểu điều đã nói với Simêon cũng nói cho Anna là cả hai cảm thấy đã đến lúc bình an ra đi không luyến tiếc, ra đi với tất cả niềm vui sướng, hân hoan về với Thiên Chúa của mình.
Còn Đức Mẹ và thánh Giuse rất ngỡ ngàng, hết biến cố này đến biến cố khác xảy ra để giới thiệu, để mặc khải về con trẻ Giêsu. Dù là cha mẹ, nhưng không phải trong chốc lát có thể hiểu hết về con của mình. Đứng trước mỗi biến cố, dù rất ngạc nhiên nhưng luôn biết đón nhận, tin tưởng, tích lũy và suy niệm trong lòng.
Niềm tin của chúng ta đòi hỏi phải có sự chiêm ngắm, lắng nghe, cầu nguyện, thực hành như chính Đức Maria và thánh Giuse, niềm tin đó còn phải được lớn lên, được kiện toàn ; tin thì phải đón nhận và sống lời Chúa.
Dù đã “xin vâng” rất quả quyết, nhưng không vì vậy mà cuộc đời Đức Mẹ trôi chảy theo chữ xin vâng (biến cố năm 12 tuổi đã chứng minh điều đó). Biết rằng là Mẹ Đấng Cứu Thế nhưng cũng phải đón nhận lưỡi gươm xuyên thủng lòng mình. Trong lúc chiêm ngưỡng những sự lạ lùng về những lời tiên tri nói về Chúa Giêsu, Đức Maria cảm nghiệm ngay đây cũng là lời mời gọi Mẹ tham dự vào mầu nhiệm khổ nạn của Con mình, dấn thân để cùng con thực hiện ý muốn và chương trình của Thiên Chúa. Không chỉ dâng người con , Đức Mẹ còn dâng chính cuộc đời mình cùng với con duy nhất để thuộc về Thiên Chúa.
Trong cuộc đời mỗi người cũng có những chữ xin vâng, nhưng chữ xin vâng này đòi hỏi mỗi ngày phải được lập lại, phải thâm sâu hơn, phải sắc nét hơn.
Nhìn đến Chúa Giêsu, Ngài vâng lời Chúa Cha, bỏ ngôi trời để làm người, Ngài chấp nhận hoàn toàn thân phận con người. Đó là một sự nhiệm mầu mà chúng ta gọi là Mầu Nhiệm Nhập Thể, không thể diễn tả, chỉ biết chiêm ngắm, cầu nguyện và đón nhận.
Điều đó cho thấy phải chấp nhận thân phận của cuộc sống, chấp nhận thế giới, chấp nhận nhân loại này, phải yêu thương, đồng hành, cộng tác, gắn liền với nó nếu muốn vâng lời Chúa Cha để cứu độ nhân loại. Cho nên ơn gọi Kitô hữu của chúng ta, của mọi người là làm người ở giữa loài người. Chúa không cầu nguyện cho chúng ta ra khỏi thế gian, nhưng ở trong thế gian mà “không thuộc về thế gian”.
Đồng thời con trẻ đó được mạc khải là vinh quang của Israel, không phải vinh quang của một đất nước hùng cường hay vinh quang cai trị, mà vinh quang của một con trẻ xuống thế làm người để chịu chết trên thánh giá. Đó là vinh quang đích thực, vinh quang cứu độ và trở nên ánh sáng cho muôn dân.
Ơn cứu độ là cho mọi người, sẽ thiếu sót nếu chúng ta chỉ nhận lãnh Đức Kitô – ơn cứu độ – cho mình mà không đưa Ngài đến với người khác.
“Đây là Ánh Sáng của muôn dân”. Nến được làm phép, được chúng ta kiệu, nhưng khi thắp lên hãy nhớ đó là hình ảnh của Đức Kitô, hãy để nến đó soi chiếu gương mặt của mình, gương mặt Kitô hữu, gương mặt của người mang lấy Đức Kitô, là người bạn, là người có Đức Kitô, thay thế Đức Kitô.
Con người chúng ta phải trong sáng, trung thực để ánh sáng Đức Kitô được chiếu soi cho người chung quanh, không dửng dưng với những người hàng ngày chúng ta gặp, đối diện, nói chuyện. Giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ, giáo dân, mỗi người có một chỗ đứng, một ơn gọi, nhưng đều là ơn gọi sống và đem Đức Kitô đến cho mọi người.
Một trong những ý nghĩa nổi bật là việc dâng mình, Đức Thánh Cha muốn đây là lễ đặc biệt cho những nguời sống đời dâng hiến, Ngài nói : “Đời sống thánh hiến là dấu chỉ cho thế giới về một đời sống khác”. Tự câu đó không thôi đã nói lên rất nhiều. Nói chung, trong cuộc sống người ta thích hưởng thụ, vì cái chết dường như chờ đợi mọi người (dịch bệnh, tai nạn, chiến tranh…), muốn hưởng thụ phải có nhiều tiền, nhiều quyền… Sự hiện diện của người tu sĩ giữa trần gian là một dấu hiệu nói lên cuộc đời con người không phải chỉ ở trần thế này.
Nếu chỉ có đời sống trần thế này thì tu sĩ cũng là con người, cũng có một thể xác, cũng có những ham muốn… tại sao họ không lấp đầy ham muốn đó mà lại khước từ cách tự nguyện, vui vẻ. Tự bản chất đời sống thánh hiến đã là một lời rao giảng.
Có rất nhiều điều phải nói về đời sống thánh hiến, nhưng tôi chỉ xin thêm điều này : Hãy sống đời thánh hiến cách lạc quan, yêu đời, vì không những thấy được lý tưởng và ý nghĩa của cuộc đời, mà còn thấy rõ giá trị của đau khổ, của cái chết. Chớ gì những ai sống đời tu trì biết đón nhận ân sủng, niềm vui đặc biệt đó và diễn tả trong cuộc sống, nơi con người, trong cộng đoàn nhỏ bé của mình.
Ngày lễ hôm nay đòi hỏi chúng ta hãy thắp lên “Nến” Đức Kitô, phải để ánh sáng Đức Kitô soi chiếu cuộc đời mình. Dù chẳng là gì, nhưng từ ánh sáng Đức Kitô chúng ta cũng trở nên ánh sáng. Xin Chúa cho chúng ta trong Năm Thánh Truyền Giáo này hiểu được mỗi người có một sứ mạng và để thi hành sứ mạng đó, Chúa đã kêu gọi chúng ta. Nhiều ơn gọi khác nhau nhưng ơn gọi nào cũng tràn đầy Thánh Thần, tràn đầy ân sủng. Với Thánh Thần và ân sủng đó, chúng ta cũng trở nên ánh sáng thế gian









