Anh chị em rất thân mến,
Vào một buổi chiều tối năm 431, cả một góc trời của thành phố Ê-phê-sô bừng sáng rực rỡ, kèm theo những tiếng reo hò mừng rỡ khôn tả của đám đông dân chúng khi Công đồng Chung Ê-phê-sô chính thức bế mạc. Công chúng hồ hởi đốt đuốc sáng rực để cung nghinh các vị nghị phụ về nơi nghỉ ngơi của mình. Họ vui mừng khôn xiết vì biết rằng các nghị phụ, qua giây phút lịch sử của Công đồng, đã đi đến một định tín oai hùng: Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa.
Lẽ dĩ nhiên, chân lý này không phải do các ngài tự mình khám phá ra, nhưng đã được ơn Chúa Thánh Thần soi sáng và hiệp thông mật thiết với Đức Giáo hoàng trong một Công đồng Chung để tuyên phong tín điều đó như một chân lý đức tin bất biến. Đối với chúng ta ngày nay, xem ra không có gì khó khăn lắm để tin kính Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa; thế nhưng vào thời kỳ của các nghị phụ, việc chấp nhận điều đó hoàn toàn không hề dễ dàng. Chứng cớ là đã có rất nhiều tiếng nói phản đối, thậm chí có một vị Giám mục tên là Nét-tô-ri-ô đã thẳng thừng khước từ và lạc đạo cho rằng Đức Maria chỉ là mẹ của ông Giêsu miền Na-za-rét – tức là mẹ của một con người lịch sử, tách rời hoàn toàn ra khỏi bản tính Thiên Chúa. Ông ta lập luận: Một con người thì chỉ có thể sinh ra làm mẹ của một con người. Người ta rơi vào lạc giáo, đi đến sự sai lầm hiểm nghèo chỉ vì quá dựa dẫm vào sự khôn ngoan nông cạn của loài người mà từ chối khước từ sự khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa.
Ngược lại, nơi những tâm hồn bé nhỏ, nơi những con người đơn sơ và nghèo hèn, từ lâu họ đã mặc nhiên tin rằng Đức Maria là Mẹ Đức Giêsu Kitô, mà Đức Giêsu Kitô thì đã được tuyên xưng là Ngôi Hai Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật. Do đó, không thể nào phân chia hay tách rời bản tính Thiên Chúa và bản tính loài người nơi một ngôi vị linh thánh duy nhất như vậy.
Theo dòng thời gian, Giáo hội ngày càng nhận thức rõ nét hơn nơi Đức Maria tước hiệu Mẹ Thiên Chúa thật cao cả và vô cùng xứng hợp. Bằng không, người ta sẽ không thể nào lý giải nổi tại sao Đức Maria lại được đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội. Có người nào sinh ra dưới trần gian này lại không mắc tội tổ tông truyền? Nếu có một ai không mắc tội tổ tông, thì công lao cứu chuộc của Chúa Giêsu không thể áp dụng cho người đó. Làm sao có thể tưởng tượng nổi có một con người lại đứng bên lề của công cuộc cứu thế, bên ngoài mầu nhiệm Thiên Chúa làm người để cứu chuộc nhân loại ??? Thế nhưng, mọi sự trở nên sáng tỏ khi chúng ta hiểu rằng: Đức Maria từ muôn thuở đã được Thiên Chúa tuyển chọn, bao bọc, gìn giữ và ân thưởng trước bằng công nghiệp nhập thể và chịu chết của Đức Giêsu Kitô. Chúa đã bảo vệ Đức Maria ngay từ khi thành hình trong dạ mẹ mình, khiến Mẹ không một giây phút nào phải nằm dưới quyền thống trị của ma quỷ.
Nếu Đức Maria không phải là Mẹ Thiên Chúa, thì chúng ta cũng không thể nào hiểu được tại sao trên đời này lại có một người thiếu nữ mang thai và sinh hạ con cái mà vẫn giữ trọn ơn trinh khiết vẹn tuyền. Không một ai có thể hiểu được nếu đó hoàn toàn chỉ là một con người phàm trần bình thường !!! Nhưng vì thai nhi trong dạ Mẹ chính là Ngôi Hai, là Thiên Chúa thật, Đấng không cần đến những quy luật tự nhiên như con người phàm trần cần, thì việc Ngài gìn giữ Mẹ mình được thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần và sinh con mà vẫn trọn đời đồng trinh là điều hoàn toàn khả dĩ và dễ hiểu dưới nhãn quan quyền năng.
Một con người sinh ra như tất cả mọi người, thì khi nằm xuống, thân xác sẽ dần chịu cảnh mục nát hủy hoại dưới lòng đất để chờ đợi ngày Đức Kitô trở lại lần thứ hai trong vinh quang để được Ngài cho phục sinh… Còn đối với Đức Maria (Giáo hội không khẳng định Mẹ có trải qua cái chết thể lý hay không, điều đó không nằm trong các tín điều; tín điều chỉ công bố với chúng ta rằng: Đức Maria sau khi hoàn tất cuộc hành trình dương thế đã được Thiên Chúa rước cả xác lẫn hồn về trời), vì Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, nên việc Mẹ được thăng thiên là điều vô cùng tự nhiên và hợp lý. Bởi lẽ, làm sao có thể chấp nhận câu chuyện người Con về trời ngự bên hữu Chúa Cha cả hồn lẫn xác, còn người Mẹ đã từng chín tháng mười ngày cưu mang, sinh hạ, dưỡng nuôi và chia sẻ trọn vẹn mọi đau khổ tủi nhục trong cuộc đời trần thế của Con, lại phải chịu cảnh thối rữa, hủy hoại dưới nấm mồ sâu được?.
Cho nên, nếu không có tín điều Đức Maria Mẹ Thiên Chúa làm điểm tựa, thì mọi tín điều khác về Mẹ sẽ lập tức bị lung lay, mất đi nền tảng căn bản và trở nên không thể hiểu hay không thể chấp nhận được.
Điều đó đã rõ ràng và thật là cao quý đối với Thiên Chúa. Phải, việc này vô cùng đẹp lòng Thiên Chúa, vì Ngài là Đấng khôn ngoan và toàn năng, đã tuyển chọn một người mẹ trần gian thực sự để cho Con Một của Ngài là Ngôi Hai Thiên Chúa được trở nên một con người hoàn toàn, mà người mẹ ấy vẫn gìn giữ được vẹn nguyên sự thánh thiện và nét đẹp tuyệt vời từ thuở ban đầu.
Thiên Chúa thật cao cả, nhưng đặc biệt cao cả hơn khi Ngài hạ mình chọn một con người mỏng dòn như chúng ta để trở nên Mẹ của Con Một Ngài – điều đó quả thật vượt quá mọi sự tưởng tượng của trí uệ phàm nhân! Thiên Chúa lại đi tìm kiếm một con người – một người thiếu nữ thôn quê vô danh trong một ngôi làng nhỏ bé vô danh – để đặt làm Mẹ của Đấng Chí Ái. Thiên Chúa đã làm người để nâng loài người chúng ta lên làm con cái Thiên Chúa!!! Thử hỏi, làm sao lý trí tự nhiên có thể thấu suốt được những mầu nhiệm vĩ đại dường ấy ???
Tuy nhiên, nếu Đức Maria làm Mẹ Thiên Chúa chỉ để tôn vinh Thiên Chúa, chỉ để lo liệu một người mẹ thể lý cho Con Một Ngài, thì mầu nhiệm Nhập thể xem ra vẫn chưa trọn vẹn. Bởi vì trong chương trình của Thiên Chúa, Ngài chọn Đức Mẹ và nâng Mẹ lên hàng thánh thiện tuyệt đối bên cạnh Đức Kitô là để Mẹ tiếp tục yêu thương, tiếp tục góp phần vào trong công trình cứu chuộc nhân loại. Đứng dưới chân thập giá năm xưa, Chúa Giêsu đã trăn trối: “Thưa Bà, đây là con của Bà… Hỡi con, đây là Mẹ của con”.
Chúa Giêsu trước khi vinh hiển về cùng Chúa Cha đã khẳng định Đức Maria phải trở nên Mẹ của Hội Thánh, trở nên Mẹ của chúng ta và là Mẹ của từng người một, bởi vì Ngài biết phận người chúng ta luôn cần có một người Mẹ – một người Mẹ thánh thiện, một người Mẹ đầy quyền năng hằng ở bên cạnh để chuyển cầu cho chúng ta trước tòa Chúa Giêsu. Điều này đã được chứng minh ngay trong cuộc đời công khai của Chúa (chẳng hạn như tại tiệc cưới Ca-na, dù Chúa Giêsu nói rằng “giờ của con chưa đến”, nhưng vì lời đại diện cầu bầu của Đức Mẹ, Ngài đã làm phép lạ hóa nước thành rượu ngon, và nhờ dấu lạ đó các tông đồ đã tin vào Ngài). Vai trò hiền mẫu của Đức Mẹ là dành cho toàn bộ chương trình cứu thế; và tiến trình ấy vẫn chưa chấm dứt, nó vẫn đang được tiếp diễn liên lỉ cho tới ngày Đức Kitô trở lại trần gian lần thứ hai. Bao lâu Chúa chưa trở lại, thì công cuộc cứu chuộc vẫn tiếp tục; và bao lâu công cuộc cứu chuộc còn tiếp tục, thì vai trò của Đức Mẹ, tình thương của Đức Mẹ và sự cầu bầu thần thế của Mẹ vẫn luôn đồng hành, che chở bên cạnh mỗi người chúng ta.
Biết được hồng ân lớn lao như vậy, làm sao chúng ta có thể chạy đến gần bên Mẹ, làm sao để đưa đức tin của chúng ta đến gặp gỡ Mẹ? Nếu không tỉnh thức ý thức, đôi khi lòng mộ mến của chúng ta đối với Đức Mẹ sẽ dễ rơi vào chỗ hời hợt, chưa trọn vẹn. Chúng ta cần nhớ rằng: Ý muốn của Thiên Chúa khi ban Đức Mẹ cho nhân loại là để Mẹ dẫn đưa chúng ta đến với Thiên Chúa. Nếu chúng ta không biết dừng lại bên Mẹ để để Mẹ cầm tay dắt đến với Chúa, thì chúng ta chưa hoàn thành trọn vẹn thánh ý Ngài.
Để trợ giúp cho sự yếu đuối của chúng ta, một cách rất lạ lùng và đơn sơ, Giáo hội đã trao ban cho đoàn con chuỗi kinh Mân Côi. Trong khi chúng ta suy niệm các mầu nhiệm tóm lược toàn bộ lịch sử cứu độ, tóm lược các sách Tin Mừng và chương trình cứu thế của Thiên Chúa, thì môi miệng và tâm hồn chúng ta lại liên lỉ nhắc đi nhắc lại lời của sứ thần truyền tin năm xưa, lời xin vâng đáp trả của Đức Mẹ, lời chúc tụng của bà I-sa-ve và lời khẩn cầu đạo đức của Hội Thánh. Khi chúng ta đến với Đức Mẹ qua kinh Mân Côi, chúng ta luôn quy hướng và tuyên xưng vai trò trung tâm của Chúa Giêsu. Do đó, đến với Đức Mẹ chính là con đường ngắn nhất để đến gần gũi với Chúa Giêsu, và chính Chúa Giêsu sẽ chuyển cầu những lời kinh, những ý nguyện thiết tha đó lên Đức Chúa Cha.
Chính vì kinh Mân Côi mang một ý nghĩa và giá trị thiêng liêng to lớn như thế, nên Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã thiết tha mong muốn toàn thể Hội Thánh hãy sống Năm Thánh Mân Côi (kéo dài từ lễ Mân Côi năm 2002 đến lễ Mân Côi năm 2003). Ngài nhìn thấy có hai vấn đề sống còn đang đe dọa trực tiếp đến nhân loại lẫn Giáo hội hôm nay, đòi buộc đoàn con phải chạy đến ẩn nấp dưới tà áo Mẹ, nhờ Mẹ chuyển cầu cùng Chúa:
Thứ nhất, cầu nguyện cho hòa bình thế giới: Anh chị em chỉ cần mở tivi, lật trang báo ra là ngày nào cũng đập vào mắt những tin tức chém giết, chiến tranh, khủng bố và máu chảy loang lổ khắp nơi. Dường như mọi nỗ lực ngoại giao của con người đã đi vào ngõ cụt, và Đức Giáo hoàng chỉ cho chúng ta một vũ khí thiêng liêng: Hãy cậy trông vào chuỗi kinh Mân Côi.
Thứ hai, cầu nguyện để bảo vệ định chế Hôn nhân và Gia đình: Đứng trước hiện trạng suy đồi đạo đức của đời sống gia đình ngày nay, mấy ngày vừa qua, có một luồng thông tin được loan báo làm cho cả thế giới phải sửng sốt và khiến những người thiện chí phải phẫn nộ phản đối, đó là các thí nghiệm nhân bản vô tính con người! Thật là một điều khủng khiếp và xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa! Trước hiểm họa thời đại đó, Đức Giáo hoàng thiết tha kêu gọi chúng ta hãy bám chặt lấy kinh Mân Côi.
Để giúp người Kitô hữu bước vào kinh Mân Côi một cách trọn vẹn hơn, Đức Thánh Cha đã ban tặng thêm cho Giáo hội Năm mầu nhiệm Sự Sáng. Vì chính Đức Kitô đã tuyên bố “Ta là ánh sáng thế gian”, nên chúng ta cần đón nhận nguồn sáng ấy để vững vàng bước đi trên con đường của Ngài. Năm mầu nhiệm Sự Sáng bao gồm:
Thứ Nhất: Đức Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Gio-đan.
Thứ Hai: Đức Chúa Giêsu làm phép lạ tại tiệc cưới Ca-na.
Thứ Haii: Đức Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng và kêu gọi ăn năn sám hối.
Thứ Tư: Đức Chúa Giêsu biến hình trên núi.
Thứ Năm: Đức Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể.
Mỗi sự kiện đều khơi gợi lên một cách sâu sắc vai trò cứu thế của Chúa Giêsu; và trong chính vai trò ấy, chúng ta luôn bắt gặp sự hiện diện âm thầm, kín đáo nhưng đầy yêu thương của Đức Mẹ. Chuỗi kinh Mân Côi giúp tâm trí chúng ta quy hướng hoàn toàn về Đức Kitô, để Ngài dâng hiến những tâm tình, ước nguyện của chúng ta lên Đức Chúa Cha. Chắc chắn Chúa Cha sẽ dủ lòng đón nhận tất cả vì công nghiệp vô biên của Con Một Ngài và nhờ lời chuyển cầu thần thế của Hiền Mẫu Maria.
Thật tuyệt hảo biết bao nếu với tâm tình của những người con thảo trong lòng Hội Thánh, chúng ta hân hoan đón nhận những chân lý mạc khải này và đem ra thực hành trong đời sống. Xin Chúa ban cho tất cả chúng ta trong năm mới 2003 này được tràn đầy ơn thiêng, biết mở lòng đón nhận Lời Ngài, tuân giữ giáo huấn của Giáo hội, đem hết tình mến ra để sống, để thực hiện, để loan báo và chia sẻ với tha nhân xung quanh. Được như vậy, cha tin chắc rằng năm mới này sẽ thực sự là một năm hồng phúc và bình an cho tất cả chúng ta.
Amen.









