Anh chị em thân mến,
– Năm 1615, cha Francesco Busomi (Dòng Tên) rao giảng ở Đàng Trong.
– Năm 1627 Cha Alexandre de Rhodes giảng đạo ở Đàng Ngoài, ngài đã ghi lại trong nhật ký : “Ngày 12/03. chúng tôi rời Macao để đến Viễn Đông truyền giáo. Chúng tôi gặp nhiều may mắn, mưa thuận gió hòa, nhưng đến ngày 18/03 một trận bão lớn dữ dội, người ta có cảm giác ma quỷ hiện hình để quấy phá (ngài cũng có ý nói quấy phá công cuộc truyền giáo bắt đầu ở Đàng Trong). Thật lạ lùng, từ nửa đêm đến rạng sáng, trời không còn mưa bão, gió và biển yên lặng, chúng tôi cập vào một bến gọi là Cửa Bạng. Hôm đó là ngày 19/03, lễ thánh Giuse, chúng tôi muốn đặt địa danh này là Cửa thánh Giuse (bản đồ do ngài vẽ có ghi chú cửa Bạng ở Thanh Hóa là Cửa thánh Giuse), chúng tôi bắt đầu việc rao giảng Tin Mừng. Vài ngày sau, có hai người cùng với gia đình xin được rửa tội, một trong hai người mang tên thánh Giuse, người kia mang tên thánh Inhaxiô để nhớ thánh Inhaxiô Lôyôla là đấng sáng lập dòng Tên”.
– Ngày 14/02/1670, công nghị đầu tiên của Đông Dương tại Phố Hiến do Đức Cha Lambert de la Motte chủ sự, đã chọn thánh Giuse làm Quan Thầy của Giáo Hội được nảy sinh tại vùng đất này, trong đó có câu : “Không ai khởi sự một điều gì trọng đại liên hệ đến vấn đề tôn giáo mà lại không chạy đến cùng vị thánh Cả này…”. Sau công nghị vài hôm, ngày 19/02/1970, Đức Cha Lambert de la Motte chính thức lập Hội Dòng Mến Thánh Giá và chọn thánh Giuse làm thánh Quan Thầy của Hội Dòng.
– Ngày 23/12/1673, Đức Giáo Hoàng Clêmentô X phê chuẩn việc chọn thánh Giuse là Quan Thầy của Giáo Hội Việt Nam.
– Trong thư chung của HĐGM Việt Nam 10/11/1997, không cần phải xác định lại thánh Giuse là Quan Thầy của Giáo Hội, nhưng một cách khéo léo, nhắc cho chúng ta tước hiệu đó, ở phần kết ghi : “ Nguyện xin ân sủng của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng anh chị em, và xin thánh Cả Giuse là quan thầy Giáo Hội Việt Nam luôn phù hộ cho chúng ta…”
– Chúng ta cũng không quên cầu nguyện cho Đức Cha Batôlômêô, Giám Mục Thánh Hóa, ngài đã nhận Giáo Phận Đà Lạt ngày 19/03/1975, trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, chúng ta sẽ hiểu khi chỉ cần nhớ lại một tâm sự của ngài : “Tôi về nhận Địa Phận này giống như thánh Giuse nhận Đức Maria về nhà mình” (nghĩa là nhận trong đức tin, còn những gì bên ngoài dường như đi ngược lại hết), cũng chẳng ngạc nhiên khi một năm sau, trong thánh lễ 19/03, cũng tại nhà thờ Chánh Tòa này, ngài quỳ và với giọng xúc động, một mình ngài đọc lời kinh dâng Giáo Phận cho thánh Giuse.
– Năm 1870, Đức Giáo Hoàng Piô IX công bố thánh Giuse là thánh Bổn Mạng của Giáo Hội toàn cầu.
Một vài nét để xác định chúng ta thật sự tin tưởng vào thánh Giuse, sự tin tưởng đó chưa bao giờ làm chúng ta phải thất vọng. Thánh Giuse vẫn hiện diện trong Hội Thánh cách rất âm thầm, bao nhiêu đền thánh, bao nhiêu ngôi nhà thờ, bao nhiêu đại giáo đường được dựng lên để kính thánh Giuse. Chúng ta nhìn đến ngài với cái nhìn tin tưởng, thương mến và khẩn nguyện. Khi chọn thánh Giuse là quan thầy của Giáo Hội toàn cầu, Giáo Hội Việt Nam, Giáo Phận Đà Lạt, của Hội Dòng MTG, của giới gia trưởng, thì chúng ta muốn nói gì và ý nghĩa của việc chọn lựa đó có giá trị gì ?
Tôi rất tiếc không đủ khả năng để diễn đạt chiều sâu của ý nghĩa đó, chỉ mạo muội gợi lên hai điều.
- Khi nói đến Bổn Mạng, người ta nghĩ đó là Vị cầu bầu, bênh vực, chăm sóc cho mình. Khi nói thánh Giuse là bổn mạng của Giáo Hội Việt Nam, chúng ta muốn nói rằng Ngài là Đấng cầu bầu trước tòa Chúa cho Giáo Hội Việt Nam, ngài là Đấng bênh vực cho Giáo Hội Việt Nam, ngài là Đấng trạng sư cho Giáo Hội Việt Nam. Trong chương trình cứu thế, Thiên Chúa đã chọn và đặt thánh Giuse chứ không phải một người nào khác (lẽ dĩ nhiên có Đức Maria trong sứ mạng làm mẹ). Không cần phải học cao hiểu rộng, không cần phải biện luận lâu dài, chúng ta chỉ xác định ngài với tư cách là cha của Chúa Giêsu và là chồng của Đức Maria thì đủ có thần thế cầu bầu, bênh vực cho chúng ta trước tòa Chúa.
- Khi nói thánh Giuse làbổn mạng, cũng muốn nói ngài là gương mẫu cho chúng ta nhìn vào để học đời sống của ngài, để bắt chước đi theo con đường của ngài. Nói tới thánh Giuse thì có nhiều điều để nói, nhưng chúng ta chỉ có thể nói một hai điều.
– Chọn ngày 01/05 để kính thánh Giuse lao động, Giáo Hội muốn nói tính cách lao động trong cuộc đời thánh Giuse mang một ý nghĩa rất đặc biệt. Phải nói rằng dường như ngoài lao động, thánh Giuse không làm một việc gì khác (chính trị, xã hội …), từ đó cho thấy việc làm của chúng ta trong chương trình của Thiên Chúa mang một ý nghĩa đạo đức, góp phần vào trong chương trình cứu độ của Chúa. Chính Chúa Giêsu cũng học thánh Giuse và cũng là một con nguời lao động. Nói về thánh Giuse người ta chỉ biết đó là “bác thợ mộc”, còn nói về Chúa Giêsu là “con ông thợ mộc và cũng là thợ mộc”. Thợ mộc gắn liền với con người của Giuse (ở Nagiarét, chỉ cần nói “bác thợ mộc” sẽ hiểu ngay đó là ông Giuse), thợ mộc đã trở nên chính cuộc sống của cha Chúa Giêsu, của một con người mà Thiên Chúa đã tuyển chọn (qua Kinh Thánh chúng ta thấy ngài bởi dòng tộc Đavít để trở nên cha của Chúa Giêsu và chồng của Đức Maria). Cho nên việc lao động của Giuse không phải chỉ để sinh sống nhưng còn để cho gia đình đó được sinh sống, được sống xứng đáng, phù hợp với hình ảnh con cái Chúa, được sống cách trong sáng bởi chính sự lao động của mình, bởi chính lao lực của mình, bởi chính trí tuệ của mình. Việc lao động của thánh Giuse còn là thứ lao động phục vụ, chắc chắn ngài đón tiếp mọi người, vì đã gắn bó với nhiệm vụ thì ngài hết lòng thực hiện nhiệm vụ đó.
Đó là chưa nói đến việc lao động của Chúa Giêsu, lao động của một thiên Chúa nhập thể làm người, lao động mà thánh Giuse, cha của Ngài, dạy bảo, tập luyện cho Ngài. Có thể nói việc lao động của thánh Giuse là kết hợp và góp phần mình vào trong Mầu Nhiệm Nhập Thể. Giáo Hội muốn chọn thánh Giuse là bổn mạng của giới lao động để chúng ta hãy nhìn vào đó để đừng ăn không ngồi rồi, hay không làm mà đòi ăn, làm ít đòi ăn nhiều… tất cả những điều đó làm biến chất, làm mất đi hình ảnh con người của chúng ta,
– Thánh Giuse là con người lao động nhưng không gì ngăn cản ngài là con người nội tâm. Chúng ta phải học nơi thánh Giuse để biết lắng nghe nhiều hơn nói, để biết làm hơn là sai khiến, chờ đợi. Trong toàn bộ Phúc Âm không thấy thánh Giuse nói một lời nào, nhưng trong các biến cố đặc biệt của Chúa Giêsu, thánh Giuse vẫn luôn có mặt và bao giờ ngài cũng lắng nghe và làm theo tiếng nói của Chúa cách trọn vẹn : Chúa bảo đón Đức Maria, thánh Giuse đón ; Chúa bảo lên đường, thánh Giuse lên đường ; Chúa bảo đem Chúa Giêsu chạy trốn, ngài đem Giêsu chạy trốn ; Chúa bảo đem Giêsu về, ngài đem Giêsu về… nếu muốn theo thánh Giuse, chúng ta phải bỏ đi thái độ lắng nghe Lời Chúa nhưng rồi biến đổi Lời Chúa để phù hợp với những nhu cầu, sở thích của mình, để biện minh cho những hành vi của mình. Phải loại bỏ con người của mình, để lời Chúa thấm nhập và hướng dẫn chúng ta.
Thánh Têrêsa Giêsu (Têrêsa Cả, Têrêsa cải tổ Dòng Kín), là một vị thánh rất sâu sắc trong đời sống chiêm niệm, nhưng vẫn khuyên các chị em hãy lấy thánh Giuse làm mẫu gương cho đời sống chiêm niệm, đời sống cầu nguyện của mình, làm việc nhưng luôn kết hợp mật thiết với Chúa, luôn lắng nghe và làm theo lời Chúa.
Tất cả chúng ta, những vị gia trường, những người mang tên thánh Giuse, ai cũng có lý do để nhận thánh Giuse làm bổn mạng của mình. Nếu nhận ngài là thánh bổn mạng thì phải tin rằng ngài tiếp tục cầu bầu trước mặt Thiên Chúa cho chúng ta, ngài hiểu chúng ta, ngài thấu hiểu đời sống chúng ta (đời sống hôn nhân, đời sống gia đình, đời sống tu trì), ngài bắt gặp được tất cả, vì cách này hay cách khác những điều đó đã thể hiện trong cuộc đời của ngài.
Nhưng đàng khác cũng phải nhìn vào gương của ngài, gương của một con người luôn làm việc tận tuỵ, làm trong sứ mạng mà Chúa đã trao phó, làm trong cầu nguyện, làm trong tinh thần phục vụ anh em … Thử hỏi một con người như vậy lẽ nào lại không gắn bó mật thiết với Chúa, lẽ nào lại không sống bình an, lẽ nào lại không phải là con người phục vụ và mang lại hạnh phúc cho người khác.

Tam Linh lược ghi.








