Trong mùa vọng năm nay, Đức thánh cha Bênêđictô XVI đã có hai cuộc gặp gỡ các người trẻ : với các chủng sinh thuộc 3 đại chủng viện miền nam Italia ngày 29/11 và với các sinh viên 12 đại học tại Rôma ngày 11/12. Ngài mời gọi các chủng sinh hãy luôn tìm gặp Chúa Kitô và khuyến khích các sinh viên học hỏi, nghiên cứu và noi gương thánh Phaolô.

Vâng lời Đức Thánh Cha, chúng ta cùng triển khai một vài điều qua hai bài Kinh Thánh vừa được công bố.

Trước hết, qua đoạn thư thứ hai gửi giáo đoàn Côrintô (2Cr 4,7-15), dựa vào sức mạnh của lời Chúa, Thánh Phaolô đưa ra những lời khuyên cho các Giáo đoàn của ngài hãy chiêm ngắm Mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô, đặc biệt trong Thánh lễ mà chúng ta cử hành trên Bàn thờ hôm nay, nhân lễ Giổ Tổ, kính hai thánh Philipphê Minh và Simon Hòa. Đây chính là Mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô đã chịu đau khổ, chịu chết cho chúng ta. Ngài chính là hạt giống bị mục nát đi để có thể nảy mầm, sinh lộc, đâm bông và mang lại nhiều hoa trái, như Thánh Gioan ghi lại (Ga 12,44-46). Sự chết và Phục sinh của Đức Kitô cũng đem lại sự sống đời đời cho tất cả những ai tin yêu Ngài.

Đó là Mầu nhiệm, là nền tảng của mọi Kitô hữu, là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy các tông đồ, các thánh Tử Đạo trong đó có các thánh Tử đạo Việt nam để các ngài khao khát được trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu.

Quả thật như Chúa Giêsu nói : “Ai phụng sự Ta hãy theo Ta”, thì người môn đệ của Chúa là đi theo Ngài, muốn trở nên giống Ngài phải “mang trong mình cái chết của Đức Giêsu Kitô”, nên “đồng hình đồng dạng với Ngài trong cái chết của Ngài” (Pl 3,10). Thánh Phaolô thổ lộ tâm tình : “chúng tôi chịu khổ cực tư bề, phải long đong, bị bắt bớ, bị quật ngã, … luôn luôn nộp mình chịu chết…”.

Chúa Giêsu nói thêm : “Ai ghét mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ được nó trong cuộc sống đời đời”, chỉ khi chúng ta biết đón nhận cái chết, những đau khổ, những vết thương của Chúa Giêsu trong cuộc đời mình, thì chúng ta mới dám từ bỏ những gì là riêng tư để chúng ta đón nhận được sự sống đời đời của Chúa.

Thánh Phaolô xác tín rằng “mang trên thân xác mình cái chết của Đức Kitô thì chúng tôi để cho sự sống của Đức Kitô được tỏ hiện trong thân xác yếu hèn của chúng tôi”. Ngài nói tiếp trong thư gửi cho Timôthê : “Đây là điều đáng tin cậy : Nếu ta cùng chết với Đức Kitô, thì ta sẽ được sống lại với Ngài ; nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Ngài…” (2Tm 2,11t). Và như vậy thì các thánh tử đạo thấy rõ sự sống của Chúa Giêsu đang ở trong các ngài, các ngài không bao giờ tuyệt vọng không thấy bị bỏ rơi hay bị đi vào cõi tiêu diệt, nhưng chính khi hiến thân như thế thì các ngài thấy mình được đi vào cõi sống trường sinh.

Vậy thánh Phaolô nói : “chúng tôi mang trên thân xác mình cái chết của Đức Giêsu Kitô, để sự sống của Chúa được tỏ hiện nơi chúng tôi”, thì chúng ta cũng phải sẵn sàng chịu chết để sự sống hoạt động nơi anh em, có nghĩa là sự sống của Đức Kitô được trao ban cho chúng ta qua cái chết của Ngài, để chúng ta được sống. Khi trở nên giống Ngài, trở nên môn đệ của Ngài, trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài, thì chúng ta phải chấp nhận hy sinh, chịu chết thì mới đem sự sống đến cho tha nhân. Đó chính là mục đích, là lý tưởng của các môn đệ của Chúa…

Dù thánh Phaolô là con người nói thẳng nói thật : “anh em hãy bắt chước tôi như tôi bắt chước Đức Kitô” (1Cr 11,1 ; Pl 3,17 ; 1Tx 1,6…), nhưng ngài vẫn ý thức rằng : “chúng tôi là bình sành dễ vỡ” (x. 2Cr 4,7). Theo Chúa, hiến thân và chết cho Chúa không phải do sức lực của con người, nhưng do bởi sức mạnh phát sinh từ Thiên Chúa, do quyền năng của Thiên Chúa, còn mình chỉ là bình sành dễ vỡ mà thôi.

Trong chính sự khiêm tốn mới có sức mạnh, trong sự nhận thức mình yếu hèn mới được Chúa ban nguồn trợ lực, khi thấy mình bị trói buộc thì chính Thiên Chúa mới mở tay cho chúng ta.

 Đặc biệt, hôm nay chúng ta suy niệm một đôi điều hình ảnh các thánh Tử đạo Việt nam, trong đó có thánh Philipphê Minh và Simon Hòa.

1. Trước hết, tôi muốn nói với anh chị em điều này : Chủng viện là vườn ươm, nơi đây phải trở nên một môi trường của sự hợp nhất, không còn phân biệt Nam Bắc, tuổi tác, văn hóa, chủng tộc… Vì chính nơi này là nơi chúng ta, những người được đào luyện, đã được lãnh Bí tích Rửa tội, là Kitô hữu, vì Kitô hữu là nền tảng để chúng ta được lãnh nhận ơn sủng qua các Bí tích. Theo lịch sử, thánh Philipphê Minh là người sinh ở Cái mơn, miền Nam ; thánh Simon Hòa sinh ra ở Nhu Lý, miền Trung. Tôi suy nghĩ đơn sơ, hai ngài sống ở hai vùng đất khác nhau, là tấm gương cho chúng ta biết xóa bỏ những hàng rào trở ngại, ngăn cách, phân biệt, để nên hiệp nhất, thân thiết với nhau.

Khi sống chung, nhiều khi phải chấp nhận những khác biệt của anh em, như anh em phải chấp nhận sự khác biệt của chúng ta. Có lúc chúng ta sẽ là Simon vác Thánh giá đỡ cho Chúa, nhưng cũng có lúc chúng ta là lính Rôma, đặt Thánh giá nặng nề trên lưng anh em mình. Cuộc sống chung nào cũng vậy, cũng sẽ là một cuộc tử đạo, hy sinh rất nhiều. Do đó, tôi khuyên các chủng sinh, hãy học với hai Vị Quan thầy của mình bài học về sự hiệp nhất, về sự chịu đựng với ý thức, với tất cả lòng quảng đại, chỉ qua thập giá của Đức Kitô chúng ta mới được ơn cứu độ.

Thánh Philipphê Minh coi lý hình như bạn, coi những người hại mình là người thân thiết. Vậy chúng ta là những người bạn, cùng tuyên xưng một đức tin, là đồng đạo, cùng lý tưởng, tại sao lại không thể coi nhau như “thân thiết” trong một lý tưởng là Đức Giêsu Kitô. Hãy cố gắng hết sức suy nghĩ về điều này.

2. Hãy luôn sống bác ái : Thánh Philipphê Minh và Simon Hòa không muốn làm phiền hà, không muốn ai phải chịu thiệt hại, đó là một điểm chung trong đời sống của các ngài. Khi được một gia đình bao bọc trong cuộc bách hại, Thánh Philipphê Minh thấy không thể để gia đình này phải chịu liên lụy, ngài ra trình diện và nhận mình là người quan quân đang tìm bắt. Thánh Simon Hòa cũng vậy, ngài không muốn vợ con đến tìm thăm vì sợ bị ảnh hưởng đến người thân. Tất cả chỉ vì lòng yêu thương của các ngài dành cho tha nhân. Chúng ta được mời gọi theo gương các ngài để lòng yêu thương không cho phép chúng ta làm phiền hà, gây thiệt hại về mọi sự liên quan đến tha nhân.

3. Chủng viện là nơi gieo trồng hạt giống đức tin. Nơi này, anh em được bồi bổ về giáo lý, kinh nguyện, phụng vụ, Thánh lễ, những công việc hằng ngày. Làm sao từ nơi đây, chúng ta có một đức tin mãnh liệt làm chúng ta yêu mến Chúa, để dù sống trong hoàn cảnh nào, trong đấng bậc nào, chúng ta vẫn luôn kiên vững trong lòng yêu mến, trông cậy và phó thác vào Thiên Chúa. Đức tin là sức mạnh, là ánh sáng soi đường, là niềm hy vọng, là niềm vui cho chúng ta trong đời sống truyền giáo.

Các ngài đã trở nên gương mẫu đức tin, đức tin không phải là điều gì trừu tượng, nhưng phải được cụ thể hóa bằng những hành vi trong đời sống. Không ai có thể chối bỏ hành vi tử đạo lại không phải là một hành vi đức tin cao trọng nhất. Không phải mọi người đều được ơn tử đạo, chỉ có những con người có đức tin mạnh mẽ mà Chúa ban cho mới có thể chịu chết vì Đức Giêsu Kitô như thế. Lắng nghe, suy niệm Lời Chúa và mang ra thực hành, kết hợp với Chúa trong Bí tích Thánh Thể sẽ hun đúc, sẽ nung nấu lòng tin của chúng ta nên mạnh mẽ.

4. Hai vị thánh bổn mạng chủng viện : một người là linh mục, một người là giáo dân để thấy rằng giữa linh mục và giáo dân phải hiệp thông với nhau. Linh mục được đào tạo để chăm sóc giáo dân, giáo dân muốn được củng cố phải có Mục tử hướng dẫn ; mối tương quan không thể tách rời. Khi còn trong chủng viện phải thấy rõ điều đó, được đào tạo thành Linh mục để chăm sóc đoàn chiên như lòng Chúa mong muốn chứ không phải để làm gì khác. Mục tử phải có đàn chiên là giáo dân trong các giáo xứ mà chúng ta được giao nhiệm vụ coi sóc. Người chủng sinh hằng ngày phải hướng về lý tưởng, trong lời cầu nguyện phải hướng về đoàn chiên mà mình sẽ được trao phó sau này trong chức linh mục, phải trở nên thánh thiện và giúp giáo dân trở nên thánh thiện.

Ngược lại, giáo dân nên thánh không chỉ cho các giáo dân khác, nhưng còn là gương sáng cho hàng linh mục. Nên thánh không chỉ dành riêng cho bậc tu trì, nhưng dành cho hết mọi người. Dù là linh mục hay giáo dân, nếu biết chu toàn những trách nhiệm của mình thì chúng ta trở nên thánh thiện trước mặt Chúa. Trong gia đình, vợ chồng sống chung thủy với nhau, không chỉ làm gương cho con cái, nhưng còn làm gương cho các linh mục biết trung thành với ơn gọi, với Thiên Chúa.

Xin Chúa chúc lành cho các Linh mục, các cựu học viên, các chủng sinh, ứng sinh và cho hết những ai thiện chí. Noi gương hai thánh Bổn mạng, qua lời thánh Phaolô và với Lời Chúa dạy, xin Chúa đốt lên trong lòng chúng ta ngọn lửa của đức tin được lãnh nhận qua Bí tích Rửa tội. Xin cho chúng ta được lòng yêu mến chân thành, biết hiệp nhất trong Hội Thánh, biết đón nhận và noi theo gương sáng của các linh mục, các giáo dân, để đời sống chúng ta mỗi ngày trở nên thánh thiện hơn cho chính mình và cho tha nhân.

Lm. Trần Ngọc Liên