“Từ thuở ban đầu” là từ giây phút Thiên Chúa có ý định tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài, có nam có nữ. Họ được gọi để chung sống với nhau, để trở nên một xương thịt và “điều gì Thiên Chúa đã kết hợp thì loài người không được phân ly” (Mt 19,6).
Trong quá trình chung sống, vợ chồng có đủ chuyện vui buồn. Ngay thời nguyên tổ, Adong đã nhận “thịt nàng bởi thịt tôi, xương nàng bởi xương tôi”, thế mà đến một lúc lại đổ tội cho nhau !!! Tội lỗi vào trong thế gian và chia rẽ con người, sự chia rẽ là hậu quả của tội lỗi. Điều này không có trong chương trình tốt đẹp của Thiên Chúa. Tôi nhắc lại lời Thiên Chúa nói: “Từ thuở đầu, không có thế đâu”.
Không được phân ly. Nhưng tại sao dưới thời Môsê lại có chuyện đó ? Phải chăng tại ông Môsê ? Chúa Giêsu nói: “Vì các ông lòng chai dạ đá, nên Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu, không có thế đâu” (Mt 19,8)…
Khi Chúa Giêsu đến trong thế gian thì lý do mà Môsê phải nhượng bộ đã không còn tồn tại. Trước kia đưa ra đủ thứ lý do, nhưng kể từ khi Đức Kitô đến trong thế gian để cứu độ con người, đặc biệt là thăng tiến đời sống gia đình trong đó có phẩm giá của người phụ nữ : Ngài đã nâng hôn nhân lên hàng bí tích, sự kết hợp giữa người nam và người nữ là hình ảnh của Đức Kitô và Hội Thánh. Quá thánh thiện nên từ nay không có chuyện li dị nữa.
Tôi bắt đầu bằng điều đó để khẳng định rằng trong chương trình của Thiên Chúa, người nữ được yêu thương, được tôn trọng. Không còn li dị theo cách ông Môsê nói: “Nếu vợ có điều gì đó không làm đẹp lòng chồng thì người chồng hãy viết một giấy li dị, rồi trao cho nó”. Nhưng qua lời giảng dạy của Chúa Giêsu, Ngài đã mang lại cho người nữ phẩm giá thuở ban đầu. Ai nghi ngờ điều đó thì hãy nhìn vào cách thức Thiên Chúa đã tuyển chọn Đức Maria, để thấy người nữ đã được Thiên Chúa ưu tuyển ra sao.
Để cụ thể, tôi chia bài nói chuyện làm hai phần, một phần dựa vào tông thư “Phẩm giá người phụ nữ” của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gửi nhân Năm Thánh Mẫu (15/08/1987): tôi chỉ xin trích một đoạn để thấy rằng quả thật nơi Chúa Giêsu, Con Một Thiên Chúa xuống thế làm người, Thiên Chúa đã tôn trọng, đã đề cao phẩm giá của người phụ nữ. Nếu Chúa Giêsu đã làm điều đó, Hội Thánh cũng phải như vậy và tất cả chúng ta cũng phải đi vào con đường đó. Phần thứ hai tôi dựa vào một lá thư khác, cũng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II (29/06/1995), thư gửi cho người phụ nữ dịp Hội nghị Quốc tế lần thứ tư về Phụ Nữ tại Bắc Kinh, tháng 9 năm 1995.
Với tông thư Năm Thánh Mẫu, tôi đề cập rất gọn, hoàn toàn dựa vào Kinh thánh. Còn trong thư thứ hai có tính suy niệm, để nhận thức được sự cao cả của người phụ nữ trong các chức năng khác nhau.
Rất nhiều điều để nói về thái độ của Chúa Giêsu đối với người phụ nữ. Có được thái độ như Ngài (bây giờ chúng ta gọi là thái độ đứng đắn, nghiêm túc, trân trọng, kính trọng) đối với phụ nữ vào thời ấy là chuyện hiếm hoi, lạ lùng. Thời nay có phẩm giá người phụ nữ, có những hiệp hội tranh đấu cho quyền người phụ nữ, có luật bình đẳng giới… xã hội thời của Chúa Giêsu không có chuyện đó.
Các tông đồ ở bên Chúa Giêsu, biết Ngài thánh thiện, đạo đức, thái độ của Ngài đối với mọi người thật tốt lành. Thế nhưng chỉ cần thấy Chúa Giêsu nói chuyện với một người đàn bà, lập tức các ông phản ứng: “Họ ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ” (Ga 4,27). Chỉ nói chuyện, nói chuyện bên bờ giếng giữa thanh thiên bạch nhật, vậy mà họ ngạc nhiên ! Chỉ qua một sự việc, chúng ta nhận ra Chúa Giêsu quả thật là con người cách mạng tiên phong trong vấn đề tôn trọng nhân phẩm và quyền của người phụ nữ. Trong khi mọi người coi thường, ngay cả những tông đồ, những người gần gũi với Chúa Giêsu. Điều đó cũng cho thấy thái độ của con người thời ấy.
Tiếp tục câu chuyện, ta thấy Chúa Giêsu khéo léo đặt câu hỏi và hạ mình xin bà giúp đỡ. Qua đó, từng bước Ngài giúp bà khám phá và tin vào Ngài. Rồi gì nữa? Bà vui mừng vì gặp được một người, không những giúp bà nhận ra chân lý mà còn tôn trọng nhân phẩm của bà. Để rồi bà cũng trở nên tông đồ, một nhà truyền giáo, vì như lời Phúc Âm : sau đó bà về làng, kể cho mọi người sự kiện bà gặp Ông Giêsu, Ông đã nói những điều thánh thiện, những điều khôn ngoan… người ta đã tin và tìm đến với Chúa Giêsu.
Trong câu chuyện Chúa Giêsu chữa người đàn bà bị còng lưng, Phúc Âm viết: “Trông thấy bà Đức Giêsu gọi lại và bảo : Này bà, bà đã được giải thoát khỏi tật nguyền” (Lc 13,12). Tôi nhấn mạnh thái độ của Chúa Giêsu. Người đàn bà này không tự tìm đến để xin Chúa Giêsu chữa bệnh, nhưng Chúa Giêsu nhìn thấy bà tàn tật, đi lại khó nhọc, thấy bà như một nô lệ, chỉ nhìn xuống đất chứ không thể thẳng lưng nhìn trời cao hay nhìn được những cái đẹp… Chúa Giêsu đã cảm thương và chính Ngài đi bước đầu, đã gọi và chữa lành tật nguyền cho bà.
Với câu chuyện Chúa Giêsu chữa lành bệnh cho mẹ vợ ông Simon, hành động Ngài sẵn sàng đến bên một bà góa là chuyện lạ, vì những bà góa thường sống cô đơn, nhất là lúc này bà đang lên cơn sốt, có thể xem như bị sự khống chế của ma quỷ. Phúc âm thuật lại: “Người lại gần, cầm lấy tay bà mà đỡ dậy ; cơn sốt dứt ngay” (Mc 1,31). Cũng là đến thăm, cũng là chữa bệnh, nhưng với một cụ già thì với cử chỉ của Chúa Giêsu, có thể nói trước khi được chữa lành thân xác bà đã được chữa bệnh tinh thần khi đón nhận được cử chỉ, cung cách mà Chúa Giêsu dành cho bà. Phêrô chắc đã có dịp nói với bà về Chúa Giêsu, và lẽ dĩ nhiên hết lòng ca ngợi về những phép lạ Ngài làm. Đấng vĩ đại đó giờ đây đến với bà, lại gần, cầm lấy tay và nâng bà dậy. Đó là cử chỉ thật nhẹ nhàng và chắc chưa bao giờ bà nhận được một cử chỉ như vậy.
Nhớ lại câu chuyện người phụ nữ bị bệnh băng huyết (Mc 5,25-34), chúng ta thấy thái độ của Chúa Giêsu không như đối với một người phạm tội. Vì theo luật, người đàn bà bệnh băng huyết bị coi là ô uế, trước khi đến với thầy tư tế để được thanh tẩy thì không được xuất hiện công khai. Dù không được phép, nhưng vì đã quá đau khổ, quá cực nhọc và do sự thúc đẩy bởi niềm tin vào Ông Giêsu, bà sẵn sàng chấp nhận hậu quả xảy ra (nếu có) nên bà xuất hiện, xuất hiện như một tội phạm.
Chúa Giêsu đã đối xử thế nào ? Ngài nói: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh” (Mc 5,34).
Tâm trạng của người đàn bà chắc hẳn nhiều lo lắng, bà nghĩ không ai biết mình trước khi bà can đảm chạm đến áo Chúa Giêsu, nếu vậy cũng không ai biết bà đã phạm luật nặng. Nhưng được khỏi bệnh thì cũng sợ, vì người ta biết và sẽ kết án mình phạm luật. Mà phạm luật thì mọi người sẽ kết luận bà không hết bệnh, vì Chúa Giêsu không chữa lành những người tội lỗi như bà !!! Cho nên khi Chúa Giêsu lên tiếng, Ngài thấu hiểu tâm tình vừa vui mừng vừa sợ hãi của bà, Ngài nói: “Lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi bệnh hoàn toàn”. Lời Chúa Giêsu nói với bà không chỉ là chữa bệnh nhưng còn đi sâu vào tâm hồn bà, vừa làm cho bà hết bệnh, vừa tăng thêm niềm tin, giúp bà đón nhận được sự bình an và có thể nói bà được ngước mặt lên với mọi người.
Trong bối cảnh của câu chuyện, thánh Máccô đã lồng vào phép lạ Chúa Giêsu cứu chữa con gái ông trưởng hội đường. Cũng vậy, trong phép lạ này, chúng ta để ý thái độ của Chúa Giêsu đối với một bé gái. Một bé gái trong xã hội Do Thái không có ý nghĩa gì, không được quan tâm hay để ý tới… Nhưng khi nghe được sự việc, Chúa Giêsu tức khắc hành động. Ngài đên bến, cầm lấy tay em bé và nói: “Thalitha kum, nghĩa là : Này bé, Thầy truyền cho con: chỗi dậy đi” (Mc 5,41).
Cũng chữa bệnh, cũng làm cho người chết sống lại, nhưng dường như nơi mỗi người, Chúa Giêsu tìm ra một cách thức, đề ra một tâm tình… Tâm tình hay cách thức nào cũng phù hợp với hoàn cảnh của người đó. Không những hết bệnh về thể lý mà còn đem lại cho họ một sức sống, một sức mạnh tinh thần.
Khi nói tới câu chuyện em bé gái, chúng ta nhớ tới câu chuyện Chúa Giêsu làm phép lạ cho người con trai của bà góa thành Naim (Lc 7,11-16).
Bây giờ, tôi luôn bị đánh động mỗi khi nói đến phép lạ này, đầu óc không thể quên những gì mà tôi cùng 23 linh mục đã được thấy khi hành hương Đất Thánh. Chúng tôi hy vọng khi thăm làng Naim sẽ thấy còn điều gì để gợi lại khung cảnh thời Chúa Giêsu. Nhưng khi đến nơi, chúng tôi chỉ thấy một nhà nguyện nhỏ, không có Thánh lễ, không người chăm sóc và như bị bỏ hoang. Cách nhà nguyện khoảng 30 – 40 mét có một đền thờ Hồi giáo, phải nhờ người của đền thờ giúp mở cửa nhà nguyện khi có khách hành hương viếng thăm (đương nhiên phải có thù lao khi được họ mở cửa cho vào)…
Trong nhà nguyện còn một bức tranh diễn tả về phép lạ Chúa Giêsu cho con trai bà góa sống lại. Điều này khiến chúng tôi cảm nhận, dường như nơi ngôi làng này, 2000 năm sau tiếp tục thể hiện hình ảnh một bà góa. Vì nơi bà góa Naim chúng ta thấy 3 điểm: một bà góa đã là tình trạng đáng thương ; bà mất đứa con trai là một điều đáng thương nữa; đứa con trai đó lại là đứa con duy nhất, là tất cả lẽ sống của bà nay cũng đã bị cướp mất đi.
Một đám tang từ trong thành đi ra cùng với mấy người khiêng quan tài, chắc họ thuộc số ít người quen biết hay thân nhân. Chúa Giêsu cùng với các môn đệ của Ngài đi vào thành. Cứ lẽ thường khi đi ngang qua, nếu tốt lắm thì ngã mũ chào rồi đường ai nấy đi, bà góa cũng chẳng quen biết Chúa Giêsu… Nhưng Chúa Giêsu lại không như vậy, vừa trông thấy bà, Ngài chạnh lòng thương và nói: “Bà đừng khóc nữa”. Chính thái độ này cho thấy Chúa Giêsu thật sự quan tâm đến bà. Ngài không coi bà như một kẻ vô danh, nhưng như vừa nói, Ngài thấy ngay đó là bà góa, một bà góa chỉ có đứa con đã chết, đứa con trai duy nhất… từng điều một đã đánh động Chúa Giêsu và Ngài mang đến cho bà sự an ủi.
Nhắc đến câu chuyện người đàn bà xứ Canaan đến xin Chúa Giêsu cứu đứa con bị quỷ ám (Mt 15,21-28), Chúa Giêsu nói: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Israen mà thôi”, Ngài lấy ví dụ: “không thể lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con”. Bà cũng đủ sự khiêm nhường, kiên nhẫn, coi mình là lũ chó con cũng được ăn những vụn trên bàn chủ rơi xuống. Chúa Giêsu đáp lại: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật, bà muốn sao thì sẽ được vậy”.
Nhớ lại câu chuyện cảm động về người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, mọi người xung quanh đều sẵn sàng sỉ nhục, sẵn sàng kết án, sẵn sàng ném đá chị ta. Riêng một mình Chúa Giêsu: “Tôi không lên án chị đâu, thôi chị về đi và từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8,11).
Đơn sơ lược qua một số đoạn Phúc âm, chúng ta không thể diễn tả hết tâm tình của Chúa Giêsu. Có thể các bà sẽ hỏi : “đối với phái nam thì sao ?” Tôi không dám nói nhiều, dường như phái nam bị Chúa trách nhiều hơn, nhiều lắm, ở nhiều đoạn Chúa còn có những cử chỉ, những lời nói rất mạnh, ngay Thánh Phêrô cũng bị gọi là Satan (x. Mt 16,23).
Điều học được trong phần này là: các bà hãy tin rằng nếu trước đây Chúa Giêsu đã có một thái độ rất nhân từ, thông cảm và hiểu biết đối với người phụ nữ, thì không lý do gì Ngài lại không tiếp tục như vậy, vì “Đức Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay và như vậy mãi đến muôn đời” (Dt 13,8). Xin đừng có ý nghĩ thời nay nhiều tội lỗi, thời nay con ngươi quên Thiên Chúa… nên Chúa không còn những tâm tình đó đối với phụ nữ. Hoàn toàn không thể như vậy được.
Trong phần thứ hai thì thú thật, bắt chước các Đức Giáo Hoàng tôi sẽ yên tâm hơn, tôi cũng chỉ biết trở lại với Lời Chúa, với Công Đồng và giáo huấn của Hội Thánh. Giờ đây, tôi cũng muốn thay mặt Đức Giáo Hoàng, thay mặt Giáo phận, thay mặt những người chồng, người con để nói lên lòng biết ơn. Tôi đọc trích đoạn lời Đức Thánh Cha và có một vài giải thích:
“Cám ơn chị, hỡi người nữ – Mẹ, (đối tượng đầu tiên, những người làm mẹ) vì chị tiếp nhận trong lòng chị người con với niềm vui và sự cực nhọc của một kinh nghiệm duy nhất. Do niềm vui và sự cực nhọc, chị nói với người con ấy rằng, Chúa vui mừng vì nó mà chị trở nên người hướng dẫn những bước đi đầu tiên của đứa con, nâng đỡ sự lớn lên của nó. Và trên con đường đi của cuộc sống, nó nhìn vào chị như định hướng cho cuộc đời mình (những người làm mẹ, với thái độ sẵn sàng đón nhận thai nhi, đã đủ để Hội Thánh, đủ để loài người biết ơn. Niềm vui của người mẹ đón nhận bào thai với tình yêu thương, và chắc chắn kèm theo nhiều vất vả, nhiều lo lắng, nhiều hy sinh. Từ giây phút đó, đã có thể chuẩn bị tương lai của đứa con. Không biết sẽ ra sao, nhưng chính người mẹ cưu mang, nuôi dưỡng, định hướng cho nó. Định hướng như thế nào ? Là trên hành trình cuộc đời của người con luôn có một người yêu thương, một người dẫn đường. Ngay từ giây phút đó, người mẹ trở nên công cụ tuyệt hảo của Thiên Chúa để góp phần vào việc xây dựng thế giới nhân loại).
Cám ơn thứ hai, cám ơn chị hỡi người nữ – vợ, chị liên kết cách không thể hủy được vận mạng của chị với vận mạng một người nam trong một quan hệ trao ban cho nhau để phục vụ sự hiệp thông và sự sống (cám ơn vì chính người vợ làm cho tương quan với một người nam trở nên duy nhất và phong phú. Trở nên hình ảnh sự kết hợp giữa Đức Kitô và Hội Thánh của Người. Người vợ đã đóng góp vào việc hình thành Hội Thánh tại gia),
Cám ơn chị, hỡi người nữ – con và người nữ – chị, chị mang vào gia đình của chị rồi trong cảnh phức tạp của đời sống xã hội, những phong phú của sự nhạy cảm sự trực giác của chị lòng quản đại của chị và sự kiên nhẫn của chị (người mẹ và con gái giúp bầu khí gia đình nên hiền hòa, nhẹ nhàng và có thể nói, được chăm sóc, được lo lắng từ những chi tiết nhỏ. Đừng tưởng rằng hạnh phúc gia đình chỉ có từ những chuyện lớn lao, nhưng hạnh phúc gia đình có thể được xây đắp từ những điều rất nhỏ, là bàn tay dịu hiền biết chăm sóc bữa ăn, là nụ cười đem lại sự an ủi, là sự quảng đại dễ dàng tha thứ… nhiều điều không mấy ai biết để ghi nhớ, để cám ơn. Xin cám ơn những người nữ con và người nữ chị).
Cám ơn chị người nữ – lao động, chị dấn thân vào trong các lãnh vực thuộc đời sống xã hội, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, chính trị, để góp phần không thể thay thế được vào việc xây dựng một nền văn hóa có khả năng liên hợp lý trí và tình cảm v.v… (tôi muốn dừng lại ở một điều: sống trong một xã hội chỉ biết lo vơ vét cái lợi riêng cho mình, không thấy nói nhiều đến sự quan tâm, sự hy sinh … Ví dụ từ 4h sáng đã có những người nữ lao công đẩy xe quét rác, để rồi chúng ta thấy đường sá sạch sẽ, và khi thấy sạch sẽ tự nhiên thấy yêu đời hơn… Người nữ lao động đã đóng góp rất nhiều điều trong âm thầm nhưng rất hiệu quả ).
Cám ơn chị người nữ – thánh hiến, bước theo người nữ cao cả nhất là Mẹ Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể. Chị tự mở lòng đón nhận tình yêu của Chúa cách hết sức ngoan ngoãn và trung thành, nhờ vậy chị giúp Giáo Hội và toàn thể nhân loại dâng lên Chúa lời đáp trả có tính hiền thê, lời đáp trả đó diễn tả cách kỳ diệu sự hiệp thông Chúa muốn thiết lập với loài thọ tạo của Người (trong đời sống tận hiến, đời sống tu sĩ, người nữ diễn tả sự hy sinh, sự từ bỏ, sự hiến dâng cho Chúa tất cả, để người khác cảm nghiệm được tình yêu thương của Thiên Chúa đối với con người. Nếu không có những chứng tá như vậy để nâng tâm hồn chúng ta lên với Chúa, người ta chỉ sống “tà tà”, người ta chỉ nghĩ đến đời sống vật chất với những cái thường nhật mà quên đi ơn gọi cao cả và siêu nhiên).
Cám ơn chị người nữ chỉ vì chị là phụ nữ, không cần tước hiệu nào khác vì chị là phụ nữ nhờ sự nhạy cảm riêng, nữ tính của chị làm giàu cho sự hiểu biết về thế giới và góp phần có một chân lý trọn vẹn về mối tương quan của con người. (thường chúng ta cố ý diễn tả sự hiện diện của người phụ nữ, đó là điều tôi sẽ chia sẻ trong Thánh lễ, để chúng ta luôn nhìn vào gương của Chúa Giêsu).
Chúng ta sẽ trở lại với câu chuyện của bà góa thành Naim, để thấy vai trò người phụ nữ trong chương trình muôn thuở của Thiên Chúa; ca ngợi người nữ trong gia đình qua sách Đức Huấn ca, và thư của thánh Phaolô nói đến nét đẹp đích thực của phụ nữ là ở những nhân đức…
Thú thật, tôi vui mừng được có cơ hội nhìn lại ơn gọi và sứ mạng của người phụ nữ, để chính mình cũng biết cám ơn Chúa về những việc lạ lùng Ngài đã làm mà chúng ta không bao giờ khám phá hết được. Đươc gặp mặt ở đây, chúng ta có cơ hội để nói lên điều đó và lẽ dĩ nhiên, tôi không thể kết thúc bằng lời nào khác hơn là “Cám ơn các bà”.
TL lược ghi









