Đức Lêô XIII – Đức Gioan Phaolô II
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI
ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE
2000
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 2
Các chữ tắt
CA Centesimus Annus Bách Chu Niên
GS Gaudium et Spes Vui mừng và hy vọng
LE Laborem exercens Lao động của con người
MM Mater et Magistra Mẫu Sư
OA Octogesima Adveniens Bát Thập Niên
PP Populorum Progressio Phát triển các dân tộc
PT Pacem in terris Hòa bình trên thế giới
QA Quadragesimo Anno Tứ Thập Niên
RH Redemptor Hominis Đấng Cứu Chuộc con người
RN Rerum Novarum Tân Sự
SRS Sollicitudo Rei Socialis Quan tâm đến vấn đề
xã hội
TN Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền
VS Veritatis Splendor Chân lý sáng ngời
GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT 3
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 4
GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT
Ý NGHĨA CỦA SƯU TẬP NÀY
Trung tâm Nghiên cứu và Hành động Xã hội gọi tắt là
CERAS (Centre de Recherche et Action Sociales) có sáng kiến
giới thiệu ở đây một số văn bản chính yếu của “luận văn về
xã hội của Giáo hội Công giáo”, đó cũng là điều tự nhiên.
Trung tâm, đã được các cha dòng Tên thành lập hơn tám mươi
năm qua, có tập trung nghiên cứu rộng rãi, phổ biến dưới
những hình thức khác nhau – và cũng đôi khi góp phần khi
được thôi thúc, những kết quả mình làm ra ? Dù sao, cho tới
nay, Trung tâm vẫn đã chưa thử tập hợp các bản văn lại thành
tạp như ta thấy trong cuốn sách này. Tác phẩm này coi trọng
phần diễn giải, kèm theo hoàn cảnh xuất hiện của mỗi văn
bản này. Thỉnh thoảng có thành viên này kia đã mạo hiểm
tổng hợp lại “giáo huấn“ hoặc “học thuyết “ chứa đựng trong
những tài liệu này : chúng ta biết đó là công việc của cha
Jean Villain (Giáo huấn về xã hội của Giáo hội, 3 quyển,
Spes, Paris, 1953 và 1954), của Jean-Yves Calvez và Jacques
Perrin (Giáo hội và Xã hội Kinh tế – Giáo huấn về xã hội của
các Đức giáo hoàng, Aubier, Paris, 1959 và tập bổ sung năm
1963) và của cha Pierre Bigo (Học thuyết xã hội của Giáo hội,
Presses Universitaires de France, Paris, 1965). Còn ý nghĩa của
tác phẩm mới xuất bản năm 1985 này là gì ?
GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT 5
Vài lý do để thực hiện
Lý do đầu tiên hiện lên trong tâm trí cũng là lý do đơn
giản và mạnh nhất, đó là : Vào một thời điểm mà xã hội và
Giáo hội đều cảm thấy bấp bênh, giữa những xáo trộn ảnh
hưởng tới những cấu trúc xã hội (như gia đình, kinh tế, chính
trị, quốc tế), trong một giai đoạn cuối thế kỷ khi mà khoa học
với lý tính, các hệ ý thức phi lý và các tôn giáo dấn mình
trong một cuộc đấu tranh không thương xót mà hệ quả là
những xã hội cục bộ và xã hội phổ quát hoặc đi vào trật tự,
hoặc hỗn loạn, vào một thời điểm như thế quả là đúng lúc,
thậm chí là cấp bách, cần phải đưa ra những chuẩm mực của
không ngoan cho việc lèo lái các xã hội nhân loại. Tập luận
văn về xã hội của Giáo hội Công phải chăng là một trong
những nhân tố góp phần tích cực nhất cho nỗ lực phám phá
kiên trì, được thực hiện dần theo những thách đố của lịch sử,
con đường nhỏ hẹp, không phải là những giấc mộng trơ trọi
của lý trí khoa học và kỹ thuật lạnh lùng và cũng không phải
là những thể hiện dai dẳng những điều không tưởng thuộc đủ
mọi thể tính, nhưng là một cái gì đó hiện thực và của con
người ? Nhưng lý do hết sức tổng quát này có lẽ không đủ
thanh minh cho điều chủ yếu hình thành quyển sách đặc biệt
này.
Lý do thứ hai có tính thực tế hơn : ngày nay người ta
khó tự kiếm được một bản văn quan trọng nào đó về luận
thuyết xã hội của Giáo hội. Những văn bản gần đây nhất vẫn
có sẵn đó, nếu không có nơi các hiệu sách, nơi mà do quy
luật thị trường, những ấn bản cũ quá hơn một năm nhường
chỗ cho những sách mới nhất, thì ít nữa là nơi các nhà xuất
bản, là nơi dù gì thường cũng chỉ lưu kho những sách có thể
bán hết. Còn những văn bản đã nên cổ điển, thì không thể
tìm thấy nơi nào khác bên ngoài các thư viện – và đối với
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 6
những tài liệu liên quan đến chúng ta, chỉ có thể có nơi những
thư viện đã chuyên biệt hóa ! Người ta có thể tìm được trong
các hiệu sách một diễn văn của đức Gioan-Phaolô II. Để tìm
những bản văn của Công đồng Vatican II thì phải chạy tới một
nhà xuất bản nào đó. Và chỉ từ nơi thư viện người ta mới
“chộp” được một thông điệp của đức Piô XI, và hơn nữa, của
đức Lêo XIII ! Vì thế công trình này muốn thu thập lại thành
một quyển những tài liệu quan trọng nhất, xuất hiện trong
suốt thế kỷ sau cùng này từ đức Lêo XIII đến đức Gioan-
Phaolô II, làm nên tập luận văn về xã hội của Giáo Hội.
Như thế, dự phóng của công trình này không hoàn là
độc đáo. Georges Michon đã từng thu tập từ năm 1928, dưới
tực đề “Les documents pontificaux sur la démocratie et la
société moderne” (những tài liệu giáo hoàng về sự dân chủ và
xã hội ngày nay), một sưu tập gồm năm mươi bản văn xuất
bản từ 1790 (đức Piô VI) đến 1925 (đức Piô XI) (nhà xuất bản
Rieder, Paris). Công chúng nói tiếng Pháp sau cuộc chiến
tranh thế giới thứ hai có tập “Encycliques et Messages sociaux”
(Những thông điệp và tín điệp xã hội) do ông Henri Guitton
thu tập (Librairie allez,Paris, 1948). Đến lượt nhà xuất bản La
Croix du Nord (Lille, 1954) đã đưa ra một sưu tập các tài liệu
giáo hoàng về các vấn đề xã hội, đuợc đức hồng y Chille
Liénart viết lời mở đầu ; và sau đó ít lâu, vào năm 1957 rồi
năm 1961, cha André Deroo xúc tiến làm một sưu tập tương
tự tập chú về các vấn đề giáo dục, trường học và sự giải trí
(cũng nơi nhà xuất bản đó), một tập khác dành cho các vấn
dề dân sự và và chính trị (tác giả tự xuất bản). Năm sau nhà
xuất bản Bonne Rousse đã ấn hành một tập, do cha Rémy
Munch thu tập và trình bày và đức cha Pietro Pavan giới thiệu,
đó là, các thông điệp xã hội (les encycliques sociales), tức
năm mươi bản văn từ đức Lêô XIII (Rerum novarum), Piô XI
(Quadra gesimo anno), Piô XII (những tín điệp qua truyền
GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT 7
thanh về lễ Hiện xuống năm 1941 và Giáng sinh năm 1942)
và Gioan XXIII (Mater et Magistra, mới xuất hiện lúc ấy) Sau
cùng ông Henri Guitton tái xuất bản năm 1966 tuyển tập của
mình, với hai bản văn bổ xung của đức Gioan XXIII (Mater et
Magistra và Pacem in terris) và hai bản khác của đức Phaolô
VI (Ecclesiam suam và diễn văn đọc tại Liên Hiệp Quốc). Kể
từ đó, theo điều chúng tôi biết, ở Pháp chưa có ấn phẩm nào
về những sưu liệu quí giá này được thực hiện. Đã hai mươi
năm trôi qua, nhiều biến cố xã hội và chính trị diễn ra và Giáo
hội cũng có nhiều lần bày tỏ quan điểm của mình : chúng ta
hãy nhìn tới Công đồng Vaticanô II và hiến chế mục vụ về
“Giáo hội trong thế giới ngày nay”, hoặc hơn nữa, những sự
cỗ võ của Đức Phaolô VI về những vấn đề phát triển các dân
tộc (populorum progressio) và một số khía cạnh khác của xã
hội hiện đại (Octogesima adveniens), hoặc gần đây hơn sự
quan tâm của đức Gioan-Phaolô II về các mặt khác nhau của
quyền con người trong xã hội chính trị, trong lao động v.v…
Vì thế, sau gần hai mươi năm gián đoạn, có lẽ cần tiếp tục
phát huy sáng kiến tốt đẹp của những vị đi trước chúng tôi.1
Sau cùng , cũng nên lưu ý đến một lý do khác nữa và là
nền tảng nhất, đó là : cái lý do thiết thân với chính dự phóng
của một tác phẩm loại ấy, là ý nghĩa của một sưu tập các bản
văn. Thu thập lại những bản văn tản mác và có khi đã quá lỗi
thời như vậy để mà làm gì ? Chúng ta có thể còn rút tỉa được
gì không từ thông điệp Rerum Novarum của đức Lêô XIII,
xuất bản từ năm 1891 và đề cập điều kiện sống làm việc của
1 Cũng nê Người lưu ý đến tác phẩm sau đây thuộc hàng công trình
khoa học cơ bản : A.F.UTz, La doctrine social de l’Eglise à travers les
siècles, Học thuyết về xã hội của giáo hội qua các thế kỷ (những tài
liệu giáo hoàng từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX, văn bản gốc và chuyển
dịch). 4 quyển. Bâle-Rome, Herder et Paris, Beachesne 1970.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 8
công nhân trong xã hội công nghiệp thời đó, một xã hội
chẳng có liên hệ bao nhiêu đến xã hội chúng ta hôm nay ?
Nếu như tác phẩm này chỉ nhằm lưu trữ cách nào đó một sưu
tập các tài liệu cổ, thì đối với chúng ta lý do đó không đủ
mạnh, mặc dầu việc ấy là hợp pháp và dù sao cũng có ích.
Nhưng việc lưu trữ tự nó không là lý do : nó chỉ có lý khi đó
như là công việc để ghi nhớ và phương thế giúp cho con
người hình thành nên chính mình bởi việc ghi nhớ này. Vả
chăng trong suy nghĩ của Kitô hữu hôm nay, quả có rất ít lãnh
vực thường xuyên cậy nhờ đến ký ức. Kể từ khi xuất hiện,
ngày 15 /5/1891, thông điệp Rerum Novarum đã có nhiều lần
mừng kỷ niệm, và trong những dịp đó, đã có những tài liệu
canh tân cũng nội dung và tín điệp trung tâm đó: biến cố
nguyện thuỷ đúng là thời điểm sáng lập. Quadraagesismo
Anno, Octogesima Adveniens là các diễn văn của ngày
15/5/1971, dù dược canh tân nhiều, chúng cũng nằm trong ý
định được viết ra trong một “truyền thống”, nghĩa là biểu lộ
một cách thức xử sự, suy nghĩ và hành động đã bén rễ từ xa
xưa, bao gồm toàn bộ di sản của một quá khứ và luôn làm cho
các hiện tại được nên phong phú; với lý do ấy truyền thống
cũng là một bảo đảm cho tương lai! Thu hoạch những điểm
chính yếu từ lập luận văn về xã hội của Giáo Hội Công giáo
trong thời điểm hiện nay của xã hội lịch sử nhân loại không
phải là một việc đạo đức muốn quay về lại với một số vết tích
của một thời đaị nào đó đã qua đi: nhưng trước hết, đó là để
giúp cho hết thảy những ai muốn đi vào một truyền thống sinh
động, truyền thống của Giáo Hội của Đức Kitô ngày hôm nay
trong thế giới. Có quá đáng hay không khi ta so sánh công
việc thu hoạch ở vào cuối thế kỷ XX này, những chứng nhân
chính của diễn từ về xã hội của Giáo Hội, với công việc thâu
tập, ở thế kỷ XXI, trong những “sưu tập kinh điển”, trình bày
những cách thức hành động trong một xã hội thần quyền,
GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT 9
thậm chí so sánh với việc thâu tập, trong những thế kỷ đầu
công nguyên, tức sách “thánh” của các cộng đoàn tiên khởi?
Công trình này chắc chắn không có tham vọng lập nên một
luận văn kinh điển về xã hội của Giáo Hội. Chí ít các tác giả
mong muốn góp phần của mình vào một công việc tập thể
nhờ đó toàn thể Giáo Hội ý thức được mình là ai-và mình
không là gì-qua những gì Giáo Hội đã nói(và không nói), đã
làm(và không làm). Nếu việc thu tập này quan trọng như thế,
thì cũng còn phải biết về việc phải thâu tập lấy cái gì và thâu
tập như thế nào.
Vài chọn lựa trong khi hình thành tác phẩm…
Thực ra vấn đề đầu tiên là lựa chọn những chất liệu cho
việc thâu tập. Vấn đề lại dẫn tới một vấn đề lớn hơn: luận văn
về xã hội của Giáo Hội bắt đầu từ đâu, kết thúc ở đâu? Đức
Gioan Phao lô II, trong chuyến du hành đến Mêxicô vào tháng
Giêng năm 1979, đã bày tỏ một quan điểm rất thoáng đạt về
vấn đề đó. Trong khi nói về giáo huấn về xã hội của Giáo
Hội và sự triển khai giáo huấn đó ”bằng một suy tư chín chắn
có liên hệ tới những hoàn cảnh đang thay đổi của thế giới,
dưới sự thôi thúc của Tin mừng” (diễn từ nói với các công
nhân ở Monterrey), người còn xem giáo huấn đó được hình
thành “dưới ánh sáng của Lời Chúa và giáo huấn của Huấn
quyền đích thực, bắt đầu từ sự việc những kitô hữu hiện diện
giữa những hoàn cảnh đang đổi thay của thế giới, đến việc
liên hệ đến những thách đố nảy sinh từ đó” (bài nói chuyện
với các thành viên của Hội Đồng Giám mục Châu Mỹ La
Tinh, ở Puebla). Vì thế luận văn về xã hội của Giáo Hội
không là của riêng của các chuyên gia tài năng hay của một
vài vị quyền thế đặc biệt trong Giáo Hội. Nó là của chung của
hết mọi người. Mọi người đều góp phần hình thành nó cách
này hay cách khác: người chiến sĩ Công giáo Tiến Hành cũng
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 10
như vị giáo sư luân lý xã hội, người tình nguyện của tổ chức
Cứu Trợ công giáo cũng như nhà ngoại giao của Toà Thánh.
Thông thường nhất nó là một ngàn lẻ một lối diễn tả mà nhờ
đó các thành viên của Giáo hội bày tỏ nhiêu thái độ khác
nhau – về gia đình, về kinh tế, về ý thức hệ, về chính trị….
Trong bản luận văn đa dạng này, không có chi lạ khi
thấy nhiều tiếng nói có vẻ trái ngược nhau. Tại sao lại không
thể như thế? Do các tác giả của chúng, người thuộc về tầng
lớp xã hội này, kẻ thuộc tầng lớp xã hội kia, người thuộc
quốc gia “phát triển”, kẻ thuộc quốc gia “đang phát triển”,
người thuộc quốc gia theo chính sách đa nguyên kẻ thuộc
quốc gia sống dưới chế độ độc tài, người thuộc thế giới văn
hoá Đức, Pháp kẻ thuộc Anglo-Saxon chẳng hạn, cho nên,
chúng ta không được mong đợi điều gì khác ngoài những gì
các diễn văn về xã hội phản ánh từ những cảm nhận dị biệt
hợp pháp đó. Không hề có một luận văn về xã hội nào, kể cả
trong Giáo Hội , mà không bị điều kiện hoá như vậy và có lẽ
uổng công nếu mơ có được một diễn từ nào vượt trên mọi
điều kiện bằng cách này hay bằng cách khác. Ngay cả những
đề xuất trang trọng nhất và có thẩm quyền nhất – đặc biệt của
các Đức Giáo Hoàng – đều có dấu tích của những ảnh hưởng
trí thức khác nhau, mà người ta thường có thể xác định và
nhận ra được. Về mặt này, người ta biết các Giáo Hoàng,
đấng thì cậy nhờ đến trường phái tư tưởng này kia của Ý hay
Pháp, chẳng hạn, đấng thì nhờ vào tư tưởng của một tác giả
Đức nào đó, tuỳ theo sự đào tạo mà chính các ngài đã từng
hấp thụ và tuỳ xu hướng trí thức mà các ngài đã theo. Như
vậy người ta có thể xây dựng lại dễ dàng cái khởi nguyên
phát sinh các thông điệp Rerum Novarum, Quadragesimo
anno…
Trong tác phẩm này, chúng ta chỉ giữ lại những tư liệu
nào từ luận văn xã hội của Giáo hội có tầm phổ quát, tỏ bày
GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT 11
những phân định, chọn lựa và khuynh hướng chính và xuất
phát từ những người có thẩm quyền đặc biệt cao nhất trong
Giáo hội (các Đức Giáo Hoàng, các Nghị Phụ, các thành viên
của một Thượng Hội Đồng hoàn vũ, lãnh đạo một Bộ của Tòa
Thánh). Chính một số trong những tài liệu đó mà chúng ta sẽ
trình bày trong quyển sách này, đồng thời ước mong rằng sẽ
có những công trình tương tự dần dà được thực hiện, chẳng
hạn sẽ lấy lại những tư liệu thuộc phạm vi khu vực trong bới
cảnh những Hội thánh địa phương. Có ai lại không thấy ích
lợi, chẳng hạn như, của việc rút tỉa từ diễn văn xã hội của
hàng giám mục Pháp kể từ cuộc chiến tranh thế giới lần thứ ?
Luận văn hoàn vũ chỉ có thể hiểu được cách trọn vẹn
khi đặt liên hệ với các luận văn địa phương khác nhau, trong
khung cảnh ấy nó mới có vị trí đúng đắn của mình.
Sưu tập này trình bày mười bảy tài liệu chính yếu. Ngoài
thông điệp danh tiếng Rerum Novarum của Đức Lêô XIII
(1891) và thư của Thánh bộ về Công Đồng gởi Đức cha
Lienart (1929) giải thích về một điểm đặc biệt về thông điệp
đó, chúng ta còn thấy bốn tài liệu xuất bản trong những năm
từ 1931 đến 1941 bởi Đức Piô XI và Piô XII, đó là:
Quaragesimo anno có tầm mức hoàn vũ (1931); Mit
brennender Sorge, nói về chủ nghĩa quốc gia của Đức quốc
Hitler (1937) ; Divini Redemtoris, về chủ nghĩa cộng sản vô
thần (1937) ; sứ điệp trên truyền thanh của Đức Piô XII, đang
giữa thời chiên, kỷ niệm năm mươi năm thông điệp Rerum
novarum (1941). Kế đến … cách quãng hai mươi năm mới lại
thấy một giai đoạn huy hoàng với những bản văn bàn về vấn
đề quan trọng này: Đức Gioan XXIII (với Mater et Magistra,
năm 1961 và Pacem in terris năm 1963), Công Đồng Vatican II
(với Gaudium et Spes và Dignitatis humanae năm 1965), Đức
Phaolô VI (Populorum progressio năm 1967 và Octogesima
adveniens năm 1971) và cuối cùng là Thượng Hội Đồng Giám
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 12
Mục thế giới (với Justitia in mundo năm 1971) là những tác
giả của những tài liệu với một tầm nhìn rộng lớn trong Giáo
hội và về những quan hệ của Giáo hội với xã hội hiện nay.
Chắc chắn những tài liệu này cho thấy những ảnh hưởng của
chúng chưa chấm dứt. Cuối cùng chúng ta cũng lấy nhiều bản
văn tài liệu của Đức Gioan Phaolô II. Mười năm sau và tiếp
nối liên tục những tài liệu trước đó, chúng đã mang lại một
nét đổi mới, nhờ chính bản thân con người của Đức Giáo
Hoàng đương kim, “vốn đến từ phía Đông”, chúng diễn đạt
bằng một thứ ngôn ngữ độc đáo trong Giáo hội mà cho đến
nay chủ yếu mang đậm màu sắc của phương Tây.
Rốt cuộc sưu tập này chính là một thư viện nhỏ. Những
yếu tố cấu thành nên nó rất là khác biệt nhau, chúng ta sẽ cẩn
thận nhớ điều ấy. Khác biệt do thời đại, và do những hoàn
cảnh chi phối công việc soạn thảo chúng. Khác biệt do của
những tác giả khác nhau và do khả năng cảm nhận riêng của
mỗi người. Khác biệt do những tác giả này thuộc các cấp
thẩm quyền khác nhau. Giáo Hoàng, đôi khi là cả tập thể
Giám mục – ít tính cá nhân hơn, tính tập thể nhiều hơn, và
cũng vì thế phải chấp nhận tất yếu có nhiều quan điểm. Khác
biệt còn bởi thể loại văn chương riêng của từng tài liệu: có
khi là một “Hiến chế” (ngay cả khi nó có tính mục vụ chứ
không mang tính giáo thuyết), có khi là một “tuyên ngôn công
đồng”, khi là một “thông điệp” hết sức trang trọng, khi chỉ
đơn giản là một “tâm thư cá nhân và công khai” gửi cho một
vị chức sắc cấp cao của Giáo hội, khi là một sứ điệp trên
truyền thanh hoàn vũ, hay chỉ là diễn văn gửi cho một tổ chức
quốc tế. Những bản văn này, một số thì tương đối vắn gọn,
một số khác khá nhiều thì dài hơn. Là thư viện thì không
thuần nhất được! Vậy phải diễn giải sưu tập này như thế nào?
GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT 13
Vài chuẩn mực giúp cho việc đọc…
Bởi vì vấn đề đặt ra là làm sao để có được một toàn thể
kết cấu mạch lạc gồm nhưng bản văn vốn không thuần nhất.
Sự thống nhất của chúng nằm ở chỗ nào? Câu trả lời cổ điển
mà ta đã biết viện tới một “Giáo huấn về xã hội của Giáo
hội” nằm trong những tài liệu khác nhau, đã có từ bao giờ và
vẫn có thường xuyên. Đức Phaolô VI đã có đề cập tới giáo
huấn ấy trong điệp thư gửi Đức Hồng y Roy, mời gọi các cộng
đoàn Kitô hữu hãy “múc lấy nhưng nguyên tắc suy tư, những
chuẩn mực phán quyết và nhưng chỉ dẫn hành động trong
giáo huấn về xã hội của Giáo hội như đã được soạn thảo
trong quá trình lịch sử và đặc biệt trong kỷ nguyên công
nghiệp này kể từ thời điểm lịch sử của sứ điệp của Đức Lêô
XIII” (Octogesima adveniens, số 4). Đức Gioan Phaolô II, tám
năm sau tại Puebla, cũng nhắc lại điều đó khi người nói: “vì
thế, học thuyết xã hội này không những chứa đựng những
nguyên tắc để suy tư, mà còn bao gồm cả những chuẩn mực
để phán quyết và chỉ dẫn cho hành động”. Đọc lướt nhanh
sưu tập này chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra quả thực là Giáo Hội
đã liên tục dựa vào một số nguyên tắc, được rút ra một cách
dễ dàng từ những tài liệu khác nhau, nhằm liên kết chúng lại
với nhau và nhờ đó tạo nên một văn bản nào đó và nếu có
thể nói được, có tính chất xuyên suốt mọi diễn văn trước đây.
Vả lại, những nguyên tắc này cũng được tương đối đơn giản
và giới hạn : phẩm giá của nhân vị phải được bảo vệ trong
mọi hoàn cảnh ; những chiều kích cộng đồng của đời sống
con người, từ đó đưa tới các hình thức đời sống gia đình, nghề
nghiệp, chính trị, phải được ưu tiên khuyến khích (sống đoàn
kết, những quan hệ biết chia sẻ vai trò của các tổ chức trung
gian và luôn thực hành tinh thần bổ trợ) ; tìm đến công ích
trong mọi hoàn cảnh (điều này giả thiết phải có đối thoại và
tranh luận, và loại trừ vũ lực – trừ trường hợp phải chống áp
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 14
bức và chiền tranh chính đáng) . Nhờ một vài nguyên tắc như
thế đó soi sáng, chúng ta có thể đề cập tới các lãnh vực khác
nhau của đời sống và giải đáp thoả đáng những vấn đề về tư
hữu và lương bỗng chính đáng, về nghiệp đoàn và kế hoạch
hoá về quyền con người và những đòi hỏi của trật tự xã
hội,… Nhưng có thể xảy ra nguy cơ về một sự thiếu quan tâm
đối với các thực tại lịch sử và về một hệ thống khép kín và cô
lập với môi trường ; một nguy cơ nữa là duy tâm chủ nghiã
xuất phát từ một quan điểm Kitô giáo về thế giới, tỏ ra rất khó
chịu đối với những gì kết thành mạng các thực tại xã hội có
tính lịch sử và đột biến. Vả lại trong một thời gian khoảng
mươi lăm năm, và dưới ảnh hưởng của các Nghị phụ công
đồng nhạy cảm với thực trạng đầy những đột biến này, nói
chung người ta đã tránh dùng từ ngữ “học thuyết xã hội của
Giáo Hội” hoặc có dùng thì cũng hết sứ thận trọng.
Do đó, trước tiên không phải chính trên tầm mức của
một “học thuyết” xã hội của Giáo hội, theo nghiã chặt chẽ,
mà ta ra sức tìm kiếm sự thống nhất giữa các diễn văn về xã
hội của Giáo hội, chúng vốn được khai sinh ở mỗi thời điểm
lịch sử riêng biệt và đặc trưng. Nếu không muốm loại trừ tính
độc đáo của chúng, chúng ta phải quan tâm các chiều kích
chính trị và lịch sử của từng tài liệu một ! Những ý kiến của
Giáo hội về vấn đề xã hội không có tính vĩnh hằng không
cần màng tới bất kỳ một địa điểm, một thời điểm nào. Trái lại,
chúng đã được soạn thảo vào những thời điểm xác định, đó
là: tình trạng của giới công nhân ở Tây Âu và Hoa Kỳ vào
cuối thế kỷ XIX, những chính thể độc tài quốc xã Đức hay
cộng sản Xô – Viết năm 1937, sự hợp tác quốc tế năm 1963
và năm 1967, những nỗ lực hòa giải cấp thời giữa mọi người
và mọi quốc gia năm 1980… Đây không phải là một cách đọc
các diễn văn xã hội rất đa dạng của Giáo hội mà lại có thể rút
ngắn việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử. Hơn nữa, điều có lẽ quan
GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT 15
trọng đối với chúng ta là phải đặt trước mỗi tài liệu chọn lọc
một chỉ dẫn vắn tắt về lịch sử, giúp người đọc có một hiểu
biết cơ bản về tài liệu đó bằng các đặt biệt nhắc lại : bối
cảnh, sự khai sinh, nội dung chính của nó và cuối cùng là cái
ảnh hưởng trực tiếp, cũng như tầm vang dội xa hơn của nó.
Không chỉ là một “ứng dụng cơ hội” của một học thuyết cơ
bản, luận văn về xã hội của Giáo hội còn là một việc làm lịch
sử được Giáo hội mong muốn và đề cao, và được biện luận
theo những nguyên tắc hợp thời, trong từng hoàn cảnh, với
những đóng góp mới mẻ.
Chính ở chỗ này – trong công trình “luôn có những
đóng góp mới mẻ” này – mà ta nên tìm mối thống nhất và
liên kết cơ bản của những tài liệu được trình bày ở đây và của
truyền thống mà hết thảy chúng cùng bày tỏ. Điều đó có
nghĩa là luận văn về xã hội của Giáo hội không phải đơn
thuần là một học thuyết trí thức, được xây dựng một lần cho
tất cả, nhưng là một dấn thân cho từng lần tùy theo hoàn cảnh;
luận văn này là một hành động tiến hành. Không phải là một
hành động bất kỳ nào. Đức Phaolô VI đã nói rõ cách rất chính
xác điều mà công trình và là hành động của luận văn này
muốn diễn tả, khi người mời gọi mỗi kitô hữu, mỗi cộng đoàn
kitô hữu và toàn thể Giáo hội hãy trở nên kẻ biết “phân
định”. “Trước những hoàn cảnh rất dị biệt đó, chúng ta khó
có thể nói một lời duy nhất, như đưa ra một giải đáp có giá trị
phổ quát. Đó không là tham vọng và càng không phải là sứ
mệnh của chúng ta. Phân định những lựa chọn và dấn thân
phù hợp là việc của từng cộng đoàn Kitô hữu…” (Octogesima
adreiriens số 4). Nhiều lần trong thư gủi Đức Hồng Y Roy,
Giáo hòang của Công đồng nói đến sự cần thiết phải có một
“phân định tinh tế” (số 15), một “phân định thận trọng” (31
& 35), một “phân định trong lương tâm” (49). Việc phân định
này có những quy luật của nó, và Đức Phaolô VI đã nhắc lại
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 16
nhiều quy luật, những quy luật cốt yếu nhất, trong cùng bức
thư ấy : phân tích một cách khách quan những hoàn cảnh, làm
sáng tỏ dưới ánh sáng của Tin mừng, tham khảo giáo huấn
của Giáo hội về xã hội, đối thoại với mọi người thiện chí và
với các anh em kitô hữu khác, hiệp thông với các Giám mục
hữu trách (4).
Chỉ với điều kiện đó, một luận văn xã hội mới có thể
được gọi là “luận văn về xã hội của Giáo hội”. Khi ấy nó sẽ
góp phần một cách thuyết phục vào một công việc của con
người, đó không gì khác hơn là chiêm ngắm và nói lên điều
gì đó về chính Đấng Khôn ngoan đang hành động cai quản
thế giới chúng ta- Đấng Khôn ngoan của Thiên Chúa, Khôn
ngoan của Con Người – và nhờ đó làm nên lịch sử của mình…
***
Luận văn về xã hội của Giáo hội Công giáo đã 100 tuổi
: Hẳn là luận văn về xã hội của Giáo hội đã không phải đợi
đến thời của Đức Lêô XIII mới khởi sự được công bố ; nó đã
có từ xưa cùng lúc với chính Giáo hội. Nhưng, bắt đầu từ Đức
Lêô XIII nó mới có hình thức phát biểu hiện đại, và điều đó
chắc chắn là một trong những biểu hiện nổi bật nhất của sức
sống của Giáo hội ngay giữa lòng thế giới ngày nay. Ai cũng
biết Giáo hội đã trải qua những nỗi khó khăn như thế nào,
trong khi xuất hiện thực tại nên gọi cho đúng là “thời hiện
đại” hay “tính hiện đại”trong sự tiến hóa của nhân loại. Người
ta nhớ lại những co cụm và thái độ lửng lờ của Giáo hội, đặc
biệt hơn là vào cuối thế kỷ XVIII và trong suốt thế kỷ XIX :
Những động thái ấy hẳn là được biện minh như thế nào đó khi
đứng trước thái độ của rất nhiều đầu óc gọi là “hiện đại” và
trước thái độ ngạo mạn của họ tấn công Tôn giáo và Giáo hội,
nhưng phản ứng đó cũng là dấu của sự khước từ không muốn
TÂN SỰ 17
để mất những lợi thế đã giành được từ những thời đại xa xưa
và không chấp nhận rằng nhân loại và thế giới vẫn tiếp tục
tiến triển. Một trăm năm sau, trong khi kỷ niệm bách chu niên
thông điệp Rerum Novarum đang đến gần, không ngạc nhiên
sao được trước vai trò và vị trí mà Giáo hội lại đạt được giữa
lòng các xã hội dân sự, cũng như cái uy thế tinh thần của
đấng kế vị thánh Phêrô, chẳng hạn, đối với toàn thế giới ?
Luận văn về xã hội của Giáo hội trong suốt thế kỷ này đối
với nhiều người là cả một truyền thống sống động và qua đó
còn là một cái gì hơn thế nữa. Đọc lại những chứng nhân của
truyền thống ấy phải chăng là đã đón nhận Thần Khí của
nó… ?
Denis MAUGENEST
Giám đốc Viện Nghiên cứu xã hội
Viện Đại học Công giáo Paris.







