Đức Lêô XIII – Đức Gioan Phaolô II

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI

ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE

2000

 

THÔNG ĐIỆP TÂN SỰ (Rerum Novarum)

Về hoàn cảnh của giới công nhân 15.05.1891

 

GIỚI THIỆU

Sau một thế kỷ xuất hiện kể từ ngày 15.05.1891, thông

điệp Tân Sự của Đức Lêô XIII về hoàn cảnh của giới công

nhân được coi như một giáo huấn nguyên thủy về xã hội của

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 18

Giáo Hội. Nói về nguồn gốc lịch sử luôn là một việc khó

khăn, bởi lẽ trước đó bắt buộc phải có một vài lời mở đầu nào

đó mà về sau người ta bộc lộ ra cách thích thú. Và chính nhân

danh những lý giải sau này mà thời điểm độc đáo ấy mới

được công bố. Đề cập đến “Vấn đề xã hội”, là vấn đề mà rất

nhiều người khác đã rành rẽ từ 50 năm qua hay hơn nữa, vị

“Giáo Hoàng của giới công nhân” – như người ta gọi ngài đó,

đã làm, đã mang lại, đã khai mở được điều gì?

ĐỈNH CAO CUỘC CÁCH MẠNG ĐẦU TIÊN

Công nghiệp phát triển theo một nhịp độ cấp số nhân,

nghĩa là với một tốc độ ngày càng tăng, hoặc thậm chí bùng

nổ. Nếu như cuộc phát triển nầy đã khởi sự từ cuối thế kỷ

XVIII, nếu như đã dấn sâu cách rõ ràng từ giữa thế kỷ XIX,

thì dù không phải là không trải qua những khủng hoảng kinh

tế ít nhiều mang tính chu kỳ, nó cũng đã lan rộng một cách

quyết định về cuối thế kỷ. Năm 1891, dù là thời điểm suy

thoái, sản lượng than và thép của thế giới vẫn tăng trưởng hết

mớc, và các lò luyện Thomas cũng vẫn tạo nên một bước

nhảy vọt về kỷ thuật cho công nghiệp luyện gang thép. Giao

thông đường sắt đã xuyên qua những dãy núi Alpes và mạng

lưới của nó nối kết những thành phố Châu Au cũng như nó đi

xuyên suốt nước Mỹ. Những thương thuyền của các nước lớn

ở Châu Au ngày càng phát triển, nhằm tìm kiếm hàng hóa

đồng thời với những cuộc chinh phục thuộc địa. Điện tín giúp

chi việc truyền thông nhanh chóng ở khắp nơi và điện năng

bắt đầu được sử dụng trong ngành vận chuyển, luyện kim,

hóa học, chiếu sáng đô thị. Các Nhà nước giảm sút những

ngân hàng thế lực. Năm 1889, để kỷ niệm 100 năm cuộc

Cách mạng Pháp, tháp Eiffel được dựng lên trong dịp Triển

lãm Quốc tế.

TÂN SỰ 19

Hành động đó của một nền công nghiệp đã đạt đến

đỉnh cao có mặt trái của nó về xã hội: vấn đề công nhân.

Những cuộc cách mạng của thế kỷ (1848, Công Xã 1871) và

những cuộc bãi công với biểu tình bạo động (Anzin năm

1884, Decazaville cuối năm 1886, Fourmier 1/5/1891, không

những bạo loạn (Chicago 1886) làm mọi người, nhất là các

nhà cầm quyền, ý thức sự hiện hữu, hoặc hơn nữa, bản chất

và qui mô của vấn đề. Bởi lẽ, thực ra những nước công

nghiệp phát triển nhất vẫn giữ những ưu thế nông nghiệp và

những người có chức quyền trong các nước ấy ít thấy được

dân số nông nghiệp chủ chốt đã bắt đầu giảm đi.

Phong trào công nhân, về phần mình, phát triển về ý

thức, về tổ chức, về truyền thống, và các nhà xã hội theo

Proudhon, Lassale hay Marx đề nghị với phong trào những chủ

thuyết của họ. Phong trào nghiệp đoàn của công nhân phát

triển. Nước Anh là thành phần tiên phong với các Hiệp hội

doanh nghiệp, là những hiệp hội tiếp tục một truyền thống

kết liên cổ điển mang tinh thần cải cách, dấn mình vào hệ

thống mới và chẳng bao lâu sẽ vào môi trường chính trị. Ở

Hoa Kỳ, các các Hiệp sĩ lao động qui tụ lên đến bảy trăm

ngàn thành viên vào năm 1886 và Liên Hiệp Lao Động Hoa

Kỳ, được thành lập cùng một năm, vượt quá hàng trăm ngàn.

Ở Châu Âu, kẻ đi đầu trong phong trào này là nghiệp đoàn

Đức, mà ba khuynh hướng của nó hợp nhất tại Hội Nghị

Gotha (1875) và qui tụ ba trăm ngàn thành viên. Ở Pháp, CGT

(Tổng Liên Đoàn Lao Động) xuất hiện năm 1895 từ vô số

tranh luận giữa những người theo chủ thuyết cải cách và

những người theo chủ thuyết tập đoàn và từ sự mở rộng tự do

tương đối mà luật pháp cho phép năm 1884.

Cuối cùng giờ của nghiệp đoàn quốc tế đã điểm trong

thập niên cuối cùng của thế kỷ.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 20

Dưới áp lực này, đã thấy thấp thoáng xuất hiện những

thành tựu xã hội hoặc thậm chí những yếu tố pháp luật xã

hội.

KITÔ HỮU VÀ PHONG TRÀO CÔNG NHÂN NGAY TRƯỚC THỜI ĐIỂM THÔNG ĐIỆP TÂN SỰ.

Vấn đề xã hội đã là đối tượng của sự quan tâm của các

Kitô hữu và những người của Giáo Hội ngay trước khi Đức

Lêô XIII lên tiếng kêu gọi mạnh mẽ. Hẳn là, nếu người ta

nhìn toàn thể Giáo Hội trong phần tư cuối cùng của thế kỷ,

người ta sẽ có ấn tượng rằng nỗi sợ hãi đối với những cuộc

cách mạng bạo lực và một ý chí muốn khôi phục lại trật tự xã

hội vẫn còn được quan niệm dựa trên một mô hình ưu thế về

nông nghiệp, gây hậu quả là tiếng kêu báo động của một thế

hệ các nhà xã hội Kitô hữu đầu tiên đã không thành công.

Dường như Giáo Hội, dù đối lập với các Nhà Nước thế tục về

vấn đề chính trị, từng bước trong thực tế thực hiện một liên

minh với giới tư sản thống trị. Đứng trước thái độ này, phong

trào công nhân tỏ ra cứng rắn trong chủ trương bài giáo sĩ.

Tuy nhiên, đã có những tiếng nói từng trong những

nhân vật cấp cao của Công giáo kể từ năm 1848. Hồng Y

Bonald ở Lyon Đức Ông Von Ketteler ở Mayence, Hồng Y

Manning ở Machester, Hồng Y Gibbons ở Baltimor đã phê

phán nghiêm khắc những cơ cấu kinh tế, đã gán cho tình trạng

vô sản hóa. Hơn thế nữa, các ngài, một mực nhất quán, còn

khuyến khích những phong trào hành động và suy nghĩ do

những nhóm giáo dân thiểu số đảm trách, những kẻ bị người

ta gọi là “những Kitô hữu xã hội” ở Đức, Áo, và Thụy Sỹ,

“những người công giáo xã hội” ở Pháp, Ý và Tây Ban Nha.

TÂN SỰ 21

Về phương diện lý thuyết hay học thuyết nổi lên trong

đó gương mặt của Đức ông Ketteler: nổi bật là do diễn thuyết,

thậm chí do sự gặp gỡ với lý thuyết gia xã hội chủ nghĩa như

Lassalle, những bài diễn từ, những thư từ của Ngài và tác

phẩm “La question ourière et le christianisme” (1864. Vấn đề

công nhân và Kitô giáo) đặt lại vấn đề cơ cấu xã hội phát sinh

bởi chủ thuyết tư bản tự do và đề ra phương thức pháp lý và

đường lối những người công nhân chịu trách nhiệm về những

vấn đề của riêng mình – đặc biệt là về những hợp tác xã sản

xuất. Một môn đệ của Ketteler, là Vogelsang mang tư tưởng

của ngài vào nước Áo phổ biến qua báo chí. Các vị này có

nét đặc trưng của khuynh hướng nghiệp đoàn.

Do một trùng hợp ngẫu nhiên các tình huống kỳ lạ mà

họ kể lại, những người công giáo xã hội nước Pháp cũng có

biết tư tưởng của Ketteler ở thời điểm Công Xã Paris, là một

cú sốc làm cho họ ý thức mãnh liệt về vấn đề xã hội. Từ chỗ

đó xuất hiện những tên tuổi như: René de la Tour du Pin,

nghiêng về một lý thuyết gia phê bình chủ nghĩa tư bản và đề

xướng sự can thiệp của Nhà Nuớc, như Albert de Mun, là một

khuôn mặt diễn giả lớn tại nghị viện (đấu tranh cho luật về

công nghiệp đoàn, cho luật về giới hạn lao động của người

phụ nữ hoặc cho dự án Hội Nghị Lao Động Quốc Tế) và là

người sáng lập công trình những câu lạc bộ công nhân công

giáo; như Leon Harmel, là một người theo thuyết dân chủ –

khác với những người trước ông – và là người chủ động trong

xí nghiệp – hợp tác xã của ông và trong những cuộc hành

hương của công nhân do ông dẫn về Rôma. Tuy nhiên người

ta cũng nêu ra ở Pháp một phong trào khác của những người

công giáo quan tâm đến vấn đề xã hội, đó là “trường Angers”

(đức ông Freppel và “Hiệp hội công giáo các ông chủ miền

bắc”) không đề xướng một dự án chống cách mạng xã hội

nhưng đề xướng một kế hoạch tiến hành tự do trong tinh thần

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 22

bác aí Kitô giáo; họ trách cứ những người đi trước thiếu thái

độ thực tế trước những nhu cầu của nền kinh tế.

Đức Cha Pecci, tức Đức Lêô XIII tương lai, vào giai

đoạn mà Ngài còn làm Giám Mục Pérousse, đã ưu tư đến tình

cảnh khốn cùng của công nhân và đã lấy vấn đề xã hội như

là chủ đề cho những thư mùa chay. Khi lên ngôi Giáo Hoàng,

từ rất sớm Ngài đã bày tỏ ý định muốn công bố chủ đề quan

tâm của Ngài và người ta tìm thấy những dấu vết của chủ đề

đó trong rất nhiều lần can thiệp của Ngài. Năm 1882, Ngài

thiết lập ở tại một “ủy ban thân thiện” cho chủ định này, bao

gồm các nhân vật lỗi lạc trong đó có Đức Cha Mermilold Vị

này, là Giám Mục lưu vọng ở Genève, đã từng có những cuộc

gặp gỡ quốc tế không chính thức giữa những người công giáo

và Kitô giáo xã hội: những đề tài chung được khai sáng. Ủy

ban này phổ biến nhiều đề tài đó trong cùng năm đó, về

quyền sở hữu và những quyền hạn riêng tư của người sở hữu,

của người lãnh đạo và của những người lao động về những đề

tài này tránh xa xu hướng tự do.

Chung quanh Đức Cha Mermilled, những cuộc gặp gỡ

được phát huy rộng lớn và, để phối hợp những nghiên cứu

của các nhóm Quốc gia của Rôma, Francfort và Paris, các

thành viên của các nhóm đó thiết lập tạo nên Liên hiệp

Fribuorg. Tổ chức này có 60 thành viên vào hôm trước buổi

xuất hiện thông điệp “Tân sự”, và đã đề cập đến rất nhiều

vấn đề: cơ chế công nghiệp đoàn, chế độ, đồng nghiệp đoàn,

tổ chức ngành công nghiệp, vấn đề ruộng đất, tiền lương, bảo

hiểm cho công nhân, quy chế quốc tế về sản xuất công

nghiệp.

TÂN SỰ 23

ĐỨC LÊÔ XIII VÀ VIỆC BIÊN TẬP THÔNG ĐIỆP “TÂN SỰ”

Tầm vóc trí thức và chính trị to lớn của Đức Lêô XIII

đột ngột trổi vượt vào một thời điểm mà kết cục (ngỏ ra) của

“vấn đề Rôma” dường như đã giam hãm trong một thời gian

khá lâu các vị Giáo hoàng trong lãnh vực thu hẹp Vatican. Từ

thời đại của ngài, Đức Lêô XIII đã nhận thức những vấn đề

chủ chốt: hình thái mới mẻ của các Nhà Nước, và của các mối

quan hệ của chúng, vấn đề công nhân trong thế giới công

nghiệp. Ngài cũng nhận thấy những vận may mới: những

phương tiện truyền thông dễ dàng, vai trò ưu thế về đạo đức

mà Giáo Hội có thể đảm đương,sự tập trung hữu hiệu về

Rôma. Về căn bản, tư tưởng của Rôma là cổ điển, thậm chí

bảo thủ: người ta không nhân nhượng trên “chính đề” về mặc

học thuyết. Nhưng trong lãnh vực áp dụng, tức “giả thuyết”,

đòi hỏi phải có thái độ cởi mở và mềm mỏng, thậm chí táo

bạo nữa. Có không mấy người công giáo Pháp đón nhận

thông điệp của Đức Giáo Hoàng đòi hỏi “liên minh” với Nhà

Nước Cộng Hòa, một năm sau thông điệp Tân sự. Nhưng, ở

Âu Châu và Hoa Kỳ những Kitô hữu tiên phong tìm kiếm nền

công bình về mặc xã hội được mọi người nhanh chóng biết

rằng Giáo Hoàng Rôma ủng hộ. Đặt biệt là Liên Hiệp

Fribourg.

Bốn biến cố góp phần làm cho thông điệp được chín

muồi. Từ Hoa Kỳ, Đức Hồng Y Gibbons đến biện hộ một

cách thành công ở Rôma lý do hiện hữu của tổ chức Các Hiệp

Sĩ lao động, là công đoàn đấu tranh chống độc quyền và bị

kết án là thành lập hội kín. Ơ Luân đôn, Đức Hồng Y

Manning tham gia trực tiếp vào cuộc thương lượng dẫn đến

chấm dứt được đình công ngày 04/11/1889 và thỏa mãn

những yêu sách của các công nhân bến tàu, Đức Lêô XIII

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 24

theo dõi sát sao sự can thiệp này. Ở Bá Linh, năm 1890 hoàng

đế Guillaume, lấy lại ý tưởng của Suisse Gaspard Decurtiw

muốn triệu tập một hội nghị quốc tế về lao động, yêu cầu

Đức Giáo Hoàng ủng hộ. Cuối cùng, từ năm 1885, Léon

Harmel dẫn đến hành đô vĩnh cửu nhiều đoàn tàu hành hương

toàn công nhân gồm hàng ngàn người Đức Giáo Hoàng “của

họ” tiếp kiến.

Thông điệp được mọi người chờ mong đã chín muồi

suy tư và trong hoàn cảnh khẩn trương đó. Công việ soạn thảo

bản văn trải qua bốn lần biên tập: lần đầu tiên năm 1890 do

cha Liberatore, dòng Tên người Ý, học trò môn xã hội và

chính trị của vị thầy nổi danh d’Azeglio và là thành viên của

liên hiệp Fribourg lần thứ hai do Đức Hồng Y Zigliaria, được

cha Liberatore và Hồng Y Mazella duyệt lại; cuối cùng, giai

đoạn thứ tư, bản dịch Latinh của Đức Cha Volpini vẫn còn

nhận được những sửa chữa quan trọng, chẳng hạn như phần

chen thêm về những cộng đoàn ly khai. Giữa dự thảo đầu tiên

có tính rất đồng nghiệp đoàn và những bản biên tập cuối

cùng này đã có thêm vào phần nhấn mạnh đến tính chất tự

nguyện và tự do của những hiệp hội nghề nghiệp. Đức Lêô

XIII xem ra gắn bó với một bản biên tập khá độc lập đối với

các trường phái khác nhau, mặc dù Ngài có liên hệ với Liên

Hiệp Fribourg.

TỪ CHUẨN ĐOÁN ĐẾN THUỐC CHỮA ĐÍCH THỰC

Cấu trúc của thông điệp về “hoàn cảnh của giới công

nhân” khá đơn giản: sau phần mô tả về “căn bệnh xã hội”

trong vài đoạn văn sắc bén, và một chương phê bình về thứ

“thuốc chữa sai lầm” là xã hội chủ nghĩa, dẫn đến những hậu

quả tai hại, bất công tự nền tảng vì chối bỏ quyền tư hữu cốt

yếu đối với bản tính con người, và vì nó tổ chức cách sai lạc

TÂN SỰ 25

những tương quan giữa Nhà Nước, gia đình và của cải; kế đến

là phần chính yếu dài được tổ chức quanh ba kẻ can dự thiết

yếu để thuyên chữa căn bệnh xã hội này: Giáo Hội lo giáo

huấn và hành động (số 12-24), Nhà Nước can thiệp nhằm đạt

đến công ích (số 25-35), các hiệp hội nghề nghiệp (chủ và

thợ) phải tổ chức môi trường xã hội số 36-43). Phần kết là lời

mời gọi nhắm tới các thành phần (tác nhân) xã hội khác nhau.

Lời mở đầu của thông điệp “Tâm Sự” nói với một ngữ

điệu trực tiếp và với một mật độ mà ngày nay vẫn tạo ra một

âm vang tiên tri cho lời kêu gọi của Đức Lêô XIII, âm vang

mà người ta sẽ thấy một sức mạnh mẽ tương tự chẳng hạn như

trong thông điệp “Phát triển các dân tộc” nói về sự phát triển.

Cũng trong chính lời mở đầu của các tài liệu như thế mà Giáo

Hội sẽ thường xuyên được nhắc nhở tại sao và nhân danh cái

gì mà mình nói (Giáo Hội lên tiếng). Nền tảng và giải đoạn

lịch sử chất chồng chéo lên nhau. Những can thiệp lịch sử của

Giáo Hội là những “hành động” cũng như là những biểu thức

giáo thuyết đi từ nguyên tắc đến thực hành. Lịch sử của thông

điệp “tâm sự” cho thấy rõ một hành động của Giáo Hoàng như

thế nẩy sinh bắt đầu từ “những gì Thánh Thần nói với Giáo

Hội” qua một số phần tử của mình, dù họ thiểu số.

Lý thuyết làm nền cho suy tư của thông điệp “Tâm sự”

là lý thuyết về luật tự nhiện và về quyền tự nhiên, có hình

thức học thuyết Thánh Tôma, học thuyết đã được phục hồi

danh dự nhưng được lấy lại và được đổi mới bởi Taparelli và

Liberatore qua khoa xã hội chính trị. Luật tự nhiên là dấu tích

của Thiên Chúa ghi khắc vào mọi lương tâm con người, dấu

bao gồm một tiếng gọi làm sự thiện và hiểu biết những

nguyên lý đạo đúc phổ quát. Sự hiểu biết luật này có thể đã

bị mờ nhạt đi vì tội lỗi, nhưng khó bị hủy diệt. Mạc khải tỏ

cho ta biết Thiên Chúa hồi như thế nào bản tính con người

và làm sáng tỏ trở lại luật này, bằng cách thổi vào Thánh

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 26

Thần tình yêu. Đó là lý do tại sao Giáo Hội và phải nói về

bản tính con người và về luật tự nhiên. Nói chung quyền tự

nhiên là sự khách thể hóa luật này. Những luật do con người

ban bố phải hợp với quyền này. Một số thực tại thuộc về tự

nhiên (phù hợp và thiết yếu với bản tính con người: như gia

đình, xã hội dân sự, sở hữu, làm việc, lập hội …

Cùng một sơ đồ nền tảng sử dụng ở đây sẽ được dùng

trong mọi tài liệu Tòa Thánh và sau đó đến Công Đồng

Vatican II những nét đậm tính Kitô học hơn chỉ được đưa vào

dần dần trong giáo huấn luân lý, và xã hội. Với thông điệp

Tân sự, sự tham chiếu rõ ràng đến Đức Kitô xuất hiện khi đề

cập đến mầu nhiệm sự dữ (bất công bạo lực), khi đưa các giá

trị trở về Tin mừng, và nhất là khi bàn về sự nghèo khó và

sau cùng khi nói về đức bác ái. Nhưng mọi phẩm chất và đức

tính thuộc bình diện xã hội, mọi nguyên tắc được nhắc lại –

hiệp nhất, công bình, huynh đệ – đều được nhuộm sắc Tin

mừng.

Còn về những đề tài chính yếu của thông điệp Tân

sự, đó là những đề tài đã từng được nhiều trường phái xã hội

quan tâm: quyền sỡ hữu, chủ nghĩa tư bản, lương bổng sự can

thiệp của nhà nước về kinh tế, lập những hiệp hội (nghiệp

đoàn hay công đoàn). Một số trong những vấn đề này đã được

tranh luận giữa những người công giáo xã hội, mà một vẫn

còn nổi tiếng do một lỗ hổng rất nhỏ có trong bản biên tập

sau cùng: các nghiệp đoàn hay công đoàn “hỗn hợp”, bao

gồm cả chủ nhân và người làm công, hay người ta có thể chấp

nhận những cộng đoàn của người làm công, của công nhân?

Việc khai mở thận trọng cho những loại nghiệp đoàn sau sẽ

tạo cơ hội khai sinh ra phong trào nghiệp đoàn Kitô giáo, và

rồi sau này, cho những người công giáo tham gia vào phong

trào nghiệp đoàn phi Tôn giáo. Qua đó họ sẽ tham gia hoàn

TÂN SỰ 27

toàn một cách có tổ chức vào phong trào công nhân mà ban

đầu việc tham gia đó đã từng bị bác bỏ.

MỘT TIẾNG VANG THOÁNG CHỐC VÀ MỘT HẬU THẾ TRƯỜNG KỲ

Với một nội dung ôn hoà, nhưng sắc sảo và chính xác,

tấn công vào các vấn đề và xuất phát từ cấp cao nhất của

Giáo hội, thông điệp liền gây được một tiếng vang xa trong

giới báo chí. Bức thông điệp được một số tuyên ngôn của các

đảng phái xã hội đánh giá cao trong khi một số khác tuyên bố

rằng nó đã phá đổ hẳn bức tường ngăn cách giữa Giáo hội và

thế giới hiện đại. Đức Lêô XIII đã trả lại cho Giáo hội uy tín

vốn có đã đánh mất và làm trổi dậy mối thiện cảm đối với

Giáo hội.

Một số phản ứng của các nhà xã hội hay tự do có tính

luận chiến hơn: họ cho rằng đó là mưu mẹo mới nhằm tái

dựng lại nền thần quyền và sự quay lại thời trung cổ, chối từ

tự do… Những người ôn hoà cuối cùng đã tự hỏi về áp dụng

của thông điệp: đây là một tín điều nghiêm túc hay là những

khai mào cần được mở rộng?

Những người công giáo và Kitô hữu xã hội hiển nhiên

đón nhận trong hân hoan thông điệp Tân sự, và chính họ bảo

đảm cho thông điệp được chuyển lưu cho hậu thế. Tuy nhiên

có những chia rẽ tái xuất hiện giữa các trường phái. Nhưng,

nhất là, những Kitô hữu này vẫn cón là số ít và hành động

của họ được xã hội chậm thấy, và giáo huấn xã hội chậm

được đưa vào việc đào tạo Linh mục và giáo dân. Chủ nghĩa

tư bản tự do của giới chủ nhân chỉ chuyển dịch cách uể oải

trước những sự việc táo bạo đó. Những người công giáo xã

hội xuất thân từ những giai cấp giàu có trong một thời gian dài

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 28

tiếp xúc một cách khó khăn và vụng về với những công nhân

mà họ muốn huấn luyện để đảm nhận lấy trách nhiệm của

họ. Bốn mươi năm sau, Đức Piô XI, trước khi thấy những hoa

quả do thông điệp Tân sự mang lại, đã ghi nhận về chính

những người công giáo như sau: “Những người qua gắn bó với

quá khứ coi khinh thứ triết học xã hội mới mẻ này, những tâm

trí rụt rè e ngại bước lên những tần cao như thế ; những người

khác, tuy vẫn ngưỡng mộ lý tưởng chói sáng này, nhưng cho

rằng nó hão huyền viễn vông và có thể mong ước thực hiện

nó, nhưng lại không hy vọng thực hiện được gì”.

Một sự nảy mầm quả là chậm chạp! Tuy vậy chính

Thông điệp Tân sự là tài liệu mà người Công giáo ngày nay

luôn phải tra cứu đi ngược lên khi họ muốn chỉ rõ nguồn gốc

của một hành động này, khiến hành động mà qua đó toàn thể

Giáo Hội đã được thúc đẩy phải nắm bắt vấn đề xã hội ngay

giữa lòng thế giới hiện đại.

DÀN BÀI

  1. Những quan hệ giữa chủ và thợ được thay đổi.
  2. Một tình trạng bất hạnh và khốn cùng không thích

đáng.

VẤN ĐỀ TIÊN QUYẾT : LẬP TRƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA XÓA BỎ QUYỀN SỞ HỮU TƯ NHÂN. NHỮNG HẬU QUẢ TAI HẠI CỦA NÓ

  1. Chủ đề xã hội chủ nghĩa. Những sai lầm của nó.

TÂN SỰ 29

  1. Công nhân mất hết mọi hy vọng khuyếch trương di

sản của mình.

  1. Con người có một quyền sở hữu tự nhiên, bền vững

và thường tồn.

  1. Con người phải thống trị địa cầu.
  2. Tư hữu (sở hữu tư nhân) và tặng phẩm địa cầu chung

cho con người.

  1. Những mối liên hệ giữa sở hữu và lao động.
  2. Những mối liên hệ giữa sở hữu và cuộc sống gia

đình.

  1. Gia sản.
  2. Quyền lực dân sự phải bảo vệ xã hội gia đình.
  3. Những hậu quả tai hại của sở hữu tập thể.

QUYỀN ĐƯỢC ĐỀ CẬP ĐẾN ĐỀ TÀI NÀY CỦA GIÁO HỘI VÀ GIÁO HỘI BẢO ĐẢM THỰC HIỆN MỘT CÁCH CÓ HIỆU QUẢ.

  1. Sự cần thiết phải nại đến tôn giáo và Giáo Hội.
  2. Chấp nhận những khác biệt và không đồng đều về

điều kiện.

  1. Hai giai cấp không là kẻ thù của nhau. Tư bản và lao

động.

  1. Những nghĩa vụ công bình của công nhân và của

chủ nhân.

  1. Đồng lương đúng đắn.
  2. Hữu nghị giữa mọi người.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 30

  1. Sử dụng chung của cải. Một nghĩa vụ của đức ái.
  2. Nghèo túng không là điều sỉ nhục.
  3. Còn xa hơn tình hữu nghị, tình yêu thương huynh đệ.
  4. Những định chế Kitô giáo canh tân các xã hội.
  5. Giáo Hội kêu mời sống theo nhân đức.
  6. Giáo Hội nâng đỡ những giai cấp bị thua thiệt bằng

những định chế của đức ái.

VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC

  1. Hành động chung của mọi người.
  2. Phục vụ công ích.
  3. Tư cách công dân thông thường và sự công bình

phân phối.

  1. Chính quyền, người gìn giữ sự cứu độ công cộng và

tư riêng.

  1. Can thiệp của Nhà nước để bảo vệ người lao động
  2. Bảo vệ phong hóa và những tư hữu (sở hữu tư

nhân).

  1. Tiên báo những cuộc đình công.
  2. Tôn trọng nhân phẩm. Bảo đảm sự nghỉ ngơi cuối

tuần.

  1. Xác định những điều kiện và thời gian lao động.
  2. Giám sát việc quy định một đồng lương đúng đắn.
  3. Phát triển tinh thần sở hữu.

CÁC NGHIỆP ĐOÀN

  1. Anh hưởng tốt lành của chúng trong xã hội.
  2. Những xã hội riêng tư với cùng đích hạn hẹp.
  3. Nhà nước không thể ngăn cấm những xã hội tư

riêng.

TÂN SỰ 31

  1. Trường hợp của các Dòng tu.
  2. Sự chọn lựa khó khăn của những công nhân Kitô

hữu trong một số hiệp hội.

  1. Các Tổng nghiệp đoàn Kitô Giáo
  2. Tổ chức của các nghiệp đoàn đó.
  3. Hoạt động của các nghiệp đoàn đó.
  4. Tính hữu ích của các nghiệp đoàn đó đối với toàn xã

hội.

LỜI KHUYẾN DỤ CUỐI CÙNG

  1. Để thiết lập những nền phong hóa Kitô Giáo.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 32

 

THÔNG ĐIỆP TÂN SỰ

  1. Những tương quan giữa chủ và thợ đã thay

đổi

Canh tân xã hội ! một tham vọng mãnh liệt đã xâm

chiếm xã hội và sách động quần chúng từ lâu ! Nó bùng nổ

trong phạm vi chính trị. Nhưng không kíp thì chày, nó cũng

phải chuyển sang phạm vi kinh tế xã hội, là một phạm vi liên

quan mật thiết với đời sống công dân hơn.

Thực thế, kỹ nghệ đã tiến bộ; phương pháp sản xuất đã

hoàn toàn đổi mới; những mối liên hệ giữa chủ nhân và công

nhân cũng đã đổi khác hẳn. Sản phẩm thì thu dồn vào tay một

thiểu số, còn phần đa số thì lâm vào cảnh cơ cực. Công nhân

ý thức nhân phẩm của mình. Tình nghĩa đồng nghề thắt chặt

giới lao động thân thiết hơn. Lại thêm vào đó, nền phong hóa

mỹ tục đã suy đồi rất nhiều. Xã hội tránh sao được những

cuộc xung đột kinh khủng sắp bùng nổ.

Đâu đâu con người cũng rối trí phân vân, sợ hãi đợi chờ

! Tang chứng rõ ràng là bao quyền lợi trọng yếu phải xung

đột nhau rồi! Ai ý thức tình trạng xã hội hiện tại, thì không

khỏi bận lòng lo lắng. Nào các nhà bác học thông minh; nào

các bậc hiền nhân lịch lãm; nào dân chúng hội thảo tìm giải

pháp; nào những luật sư sáng suốt hội đồng với các nhà chính

trị trứ danh. Ai cũng băn khoăn: thật không vấn đề nào phức

tạp và khẩn thiết bằng vấn đề này.

Vậy anh em thân mến, vì quyết mưu ích cho giáo hội và

gây hạnh phúc cho thiên hạ, Ta đã viết biết bao thông điệp tối

TÂN SỰ 33

hệ trọng rồi. Tỉ dụ như: “Chủ quyền chính trị”. “Tự do của con

người”. “Hiến pháp xã hội theo đạo Thiên Chúa”.

Giải quyết những vấn đề ấy và những vấn đề khác liên

quan đến xã hội, Ta đã cố hết sức liệu cho thích thời mà phi

bác những quan niệm sai lầm và giả dối. Hiện nay Ta tìm giải

quyết vấn đề “Thân phận lao động” căn cứ vào cùng một

nguyên tắc và nhắm vào cùng một mục đích Ta đã bàn về

vấn đề lao động rất nhiều lần tùy theo trường hợp, nhưng chỉ

bàn sơ qua thôi. Trong bức thông điệp này, Ta nghe theo sứ

vụ tông đồ của Ta mà nêu lên vấn đề ấy lần nữa, để tìm cách

giải quyết một cách tường tận và quang minh hơn. Trước nhất,

Ta sẽ nhắc lại những nguyên tắc căn bản, sau đó Ta sẽ đề

nghị một giải pháp hợp với chân lý và công bình.

Vấn đề lao động thì rất phức tạp và đầy nguy hiểm, nên

khó giải quyết. Phức tạp vì ta khó minh định quyền hành và

bổn phận, vốn làm quy tắc cho sự giao thiệp giữa chủ nghiệp

và người vô sản: giữa chủ nhân và công nhân.

Vấn đề lại càng nguy hiểm vì cứ sự thường bọn hiếu

động thì xảo quyệt. Họ lợi dụng những mâu thuẫn ấy để phát

động quần chúng và gieo mầm cách mạng, nên họ giải nghĩa

vấn đề một cách sai lạc. Há chẳng phải là nguy hiểm lắm sao

!

  1. Một hoàn cảnh bất hạnh và khốn khổ không đáng

Nhưng dầu sao, Ta tin chắc ai cũng đồng ý với Ta rằng:

Phải dùng những biện pháp khẩn cấp và hiệu nghiệm để cứu

trợ những giai cấp hạ lưu trước đã. Họ là phần đa số mà lại

lâm vào cảnh cơ bần túng thiếu.

Lý do thứ nhất, là vì thế kỷ trước đã phế bỏ các nghiệp

đoàn mà đời nào cũng đã từng có, để bảo vệ quyền lợi của

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 34

giới lao động. Hiện nay họ sống trơ trọi không đoàn thể nào

bênh vực họ được.

Lý do thứ hai, mọi nguyên tắc và mọi tình nghĩa đạo

đức cũng đều bị loại ra khỏi pháp luật và các cơ cấu của chính

phủ.

Kết quả, công nhân cô lập lại lần lần không còn được ai

bảo vệ nữa.

Ngày qua tháng lại, họ nhận thực mình tùy thuộc các

chủ nhân bất công. Họ không sao chịu được. Các chủ nhân lại

cạnh tranh tham của tham lợi quá đỗi, tuy họ phải chịu, nhưng

oan ức và đầy căm hờn…

Thêm vào cái nạn ấy, họ bắt buộc phải vay tiền. Nhưng

kẻ có vốn cho vay thì đòi nặng lãi. Họ trả làm sao được. Biết

bao phen giáo hội đã lên án những người ăn lãi tham tiền.

Nhưng người ta dùng hết mánh khóe này đến mánh lới kia để

cứ cho vay nặng lãi mãi.

Lại còn một tật nạn xã hội nữa. Sản phẩm kỹ nghệ và

thương mại dồn vào trong tay một thiểu số đại tư bản. Đó là

một ách đè nặng trên vai người vô sản giống như ách nô lệ

ngày xưa.

Vấn Nạn Tiên Quyết: Đề Xuất Của Chủ Nghĩa Xã Hội Nhằm Hủy Bỏ Quyền Tư Hữu – Những Hậu Quả Tai Hại.

  1. Luận đề chủ nghĩa xã hội. Những sai lạc

Tật nạn xã hội là thế ! chủ nghĩa xã hội quyết sửa chữa

bằng cách xúi giục kẻ nghèo nổi cơn căm hờn, rồi trả thù trả

TÂN SỰ 35

oán kẻ giầu sang. Họ chủ trương hủy bỏ quyền sở hữu của

từng cá nhân, họ cấm không cho ai lập sản nghiệp riêng. Mọi

tài sản phải tịch thu làm tài sản chung của xã hội. Còn quyền

quản trị tài sản ấy, họ quyết trao lại cho từng thị xã hay từng

quốc gia… Đã di chuyển quyền sở hữu cho xã hội; đã phân

phối sản phẩm và hoa lợi cho công nhân đều bằng nhau, họ tự

đắc là đã tìm được phương thuốc thần tiên chữa được tật nạn

xã hội hiện tại.

Đem thi hành chủ nghĩa ấy thể nào cũng không chấm

dứt được cuộc giai cấp tương tranh hiện tại. Thợ thuyền lại bị

thiệt hại nữa là khác. Vả lại chủ nghĩa xã hội nói trên bất

công vì nó phạm đến quyền chính đáng của sản chủ; làm sai

chức vụ tự nhiên của quốc gia; rồi đảo lộn phá triệt lâu đài xã

hội.

  1. Giới lao động mất mọi hy vọng nới rộng gia

sản

Người làm việc, thợ làm nghề, ai cũng chỉ nhắm đến

một mục đích và chỉ một duyên cớ rõ rệt là tìm tài sản, lập sở

hữu riêng, rồi đòi toàn quyền hưởng dụng. Nếu công nhân hy

sinh sức khỏe nghị lực làm cho kẻ khác, tựu chung là để tìm

sự nuôi thân và thỏa mãn nhu cầu đời sống của mình. Họ

mong rằng : Nhờ công việc làm, họ sẽ lãnh tiền lương, mà lại

tự do sử dụng số tiền ấy tùy ý mình. Đó là quyền tuyệt đối và

chính đáng của họ.

Nhiều khi vì nhịn ăn nhịn tiêu, công nhân dành dụm

được một ít vốn, rồi muốn chắc chắn giữ lại mãi, họ đem tậu

một đám ruộng chẳng hạn. Tất nhiên đám ruộng ấy là của họ.

Miếng đất công nhân mua được là phần sở hữu của họ không

kém số tiền họ được kiếm được vì công việc họ đã làm.

Quyền sở hữu động sản hay bất động sản quả thật là thế.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 36

Vậy đổi quyền sở hữu cá nhân, thành quyền sở hữu

đoàn thể theo chủ nghĩa xã hội đề nghị và hết sức hô hào, kết

quả là làm cho số phận công nhân phải bấp bênh không có gì

bảo đảm chắc chắn. Trước vì họ không còn tự do hưởng dụng

tiền công của họ, sau vì họ mất cả hy vọng và khả năng tăng

thêm gia nghiệp và nâng cao đời sống của họ…

  1. Con người có quyền tư hữu tự nhiên,

bền vững và vĩnh cửu

Liều thuốc chủ nghĩa xã hội đề nghị, là thuốc độc trái

ngược với công lý nữa. Điều ấy rất hệ trọng. Vì quyền sở hữu

cá nhân là quyền bất khả xâm phạm của con người…

Về phương diện ấy, con người khác hẳn mọi con vật vô

ý thức. Con vật thì không tự trị lấy mình. Tự nhiên nó sống

theo hai bản năng thiên nhiên cấp sẵn cho; bản năng duy trì

mạng sống; bản năng điều khiển hành động.

Vì những bản năng ấy, bất sứ sinh vật nào cũng đủ kích

thích và hạn chế mọi cử động cần thiết. Bản năng thứ nhất

cho chúng tự bảo tồn và tự vệ; bản năng thứ hai lại cho chúng

biết sinh sống theo bản tính và truyền nòi giống nữa. Nhờ đó

các sinh vật dùng những vật đang có và vừa tầm của chúng

một cách thuận lợi khôn khéo. Chúng không vượt qua mức

sống cảm giác sự cần và hưởng dụng mọi sự vật thích hợp với

nhu cầu hiện tại. Con người nhân tính thì khác hẳn các quan

năng của con vật, con người có đầy đủ nhưng hoàn hảo hơn.

Nhờ đó con người hưởng dùng được các sự vật hữu hình.

Nhưng dầu con người có cơ thể hoàn hảo hơn cơ thể vạn vật,

cơ thể ấy không phải là “cả nhân tính” của nó đâu. Cơ thể

thua kém nhân tính, và có chăng chỉ là để tòng phục nhân tính

tự do hưởng dùng và điều khiển nó, từ ở bên trong. Đặc tính

làm cho ta trổi lên hẳn, làm cho ta thành người khác mọi con

TÂN SỰ 37

vật một trời một vực là “lý trí”. Vì đặc tính ấy, con người lại

có đặc quyền không những được dùng các ngoại vật theo tư

cách chung của muôn loài trong thiên nhiên, mà lại con người

được tôn lên làm bá chủ muôn vật, dầu những vật đã dùng rồi

không còn nữa hay những vật còn lưu tồn sau khi đã dùng. Đó

là quyền vĩnh viễn bất khả xâm phạm của con người.

  1. Con người phải thống trị trái đất

Càng tìm hiểu nhân tính này kỹ hơn thì càng thấy chức

quyền đặc biệt của con người sáng tỏ. Thật là một chân lý

hiển nhiên không ai chối được. Nhờ con người có trí thông

minh, thì mới tìm hiểu và bao quát muôn vật. Nhận thức

những điều hiện tại, con người đã sáng suốt nhận chân những

điều ấy liên kết với quá khứ và cả tương lai nữa. Cũng nhờ có

lý trí mà con người quản trị được đủ mọi hành động hồn xác

của mình. Đã đành, con người ý thức mình cũng phải phục

luật muôn thuở của Tạo Hóa dẫn đạo vũ trụ: mình không kém

muôn vật tự nhiên nằm trong khuôn khổ của Đấng Quan

Phòng cai quản hoàn cầu. Nhưng luật Tạo Hóa mình ý thức,

thì mình quyết phục hay bất phục tùy ý. Việc Đấng Quan

Phòng, thì con người hợp tác hay bất hợp tác vào, cũng tự do.

Kết quả việc hay dở thế nào, con người chịu trách nhiệm hết.

Cho nên ai cũng có quyền tự chọn những điều thích hợp,

những ngoại vật cần thiết để cấp cho đời sống của mình đủ

mọi nhu cầu hoặc hiện tại hoặc tương lai. Vì vậy quyền con

người làm bá chủ muôn vật, bao quát các sản vật bởi thiên

nhiên phát xuất và cả thiên nhiên làm nguồn vô tận của mọi

sản phẩm, vốn phải cấp sự cần cho hậu vận nữa. Sự cần của

đời sống con người hằng nảy ra thì cũng hằng thêm bớt, tới lui

và đổi mới mãi. Hôm nay mãn nguyện, ngày mai lại nảy ra

bao đòi hỏi mới lạ. Muốn có đủ cấp cho mọi giờ mọi khắc, tất

thiên nhiên phải cho con người tùy nghi sử dụng một cảnh địa

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 38

vững chắc trường cửu. Nhờ vậy con người mới đủ phương tiện

sinh sống bảo đảm. Mà nguồn của cải vô tận cần thiết này,

ngoài thiên nhiên với những sản phẩm của nó, thật không chỗ

nào có nữa.

Đừng có nói, quyền làm bá chủ thiên nhiên này là của

quốc gia: còn cá nhân chỉ nhờ quốc gia phù hộ từng công dân.

Nói vậy là vô lý. Con người có trước, quốc gia mới có sau.

Quốc gia được thành lập thì con người đã nhận bởi thiên

nhiên, cái quyền sống và quyền bảo vệ mạng sống của mình

từ lâu.

  1. Quyền tư hữu và nguồn lợi của trái đất

dành chung cho mọi người

Cũng đừng đối kháng lại rằng : quyền tư hữu chính

đáng là quyền của Tạo Hóa, đã nhường lại cho toàn thể nhân

loại hưởng dùng thiên nhiên làm của chung, nên không người

nào được lấy một phần nào làm của riêng. Tạo hóa nhường

quyền chiếm cứ thiên nhiên cho cả nhân loại là đúng. Đừng

có hiểu sai là Tạo Hóa cấm không cho ai lập tài sản riêng, hay

là cứ từng người mặc ý hưởng dụng sự cần một cách lộn xộn.

Ý nghĩa chính là Tạo Hóa không định trước phần riêng từng

ai; một là cứ để từng người và từng dân tộc tổ chức mọi sự và

hoạch định lấy sản nghiệp cần thiết theo lẽ khôn ngoan của

họ.

Ngoài ra, dù đã chia ra thành tư sản, thiên nhiên vẫn

giúp ích chung cho mọi người. Không phàm nhân nào mà

không sống nhờ lợi tức thiên nhiên. Ai không có phần sản thổ

riêng, thì người ấy lấy cần lao thế lại. Quả thật, cần lao là

phương pháp phổ thông khắp nơi để cung ứng mọi nhu cầu

đời sống. Người thì làm lụng ngay ở trong đám ruộng, sở vườn

mình hưởng hoa lợi. Người thì lao động theo nghề nghiệp sở

TÂN SỰ 39

hay xưởng máy của người khác, rồi lãnh nhận tiền công đổi

chác với sản phẩm thiên tạo hay nhân tạo cần thiết.

Những nhận xét trên đều chứng minh rằng : “Quyền tư

hữu hoàn toàn hợp lý đương nhiên”. Đã đành rằng, thiên

nhiên sản xuất dồi dào đủ mọi sự vật cần thiết cho con người

bảo tồn và phát triển sinh mạng cho hoàn thiện. Nhưng thiên

nhiên cứ là thiên nhiên thì chẳng ích lợi bao nhiêu cho con

người. Con người nhờ cần lao mà biến hóa thiên nhiên; cầy

đất cấy ruộng chẳng hạn, thì thiên nhiên mới hữu ích.

Vậy hễ người nào đã lao tâm lao lực khiến thiên nhiên

hóa thành những đồ dùng hữu ích cho mình, thì sản phẩm hữu

ích đó, tất nhiên cũng thành phần gia sản riêng của người ấy

nhờ cần lao con người in vào thiên nhiên một mảnh hình hài

nào đó là của mình. Thành ra cứ theo công lý, sản phẩm mang

hình hài của người nào, cũng thuộc về quyền sở hữu của

người ấy. Ai xâm phạm quyền ấy bất cứ bằng cách nào, cũng

phạm đến công bằng và hành động bất hợp pháp.

  1. Mối liên hệ giữa tư hữu và lao động

Điều ấy thì vững và hiển nhiên. Ta khỏi ngạc nhiên sao

được khi thấy người ta chủ trương những quan niệm hủ lậu mà

phản đối lại rằng : cá nhân có quyền dùng đất ruộng và

hưởng hoa màu nhưng đâu có quyền làm chủ đất ruộng họ đã

tạo lập hay phần điền thổ họ đã cầy cấy. Sao họ không thấy

lý luận như thế là cướp công mồ hôi nước mắt của nông dân.

Đám ruộng ấy nông dân đã khéo léo đào lên trộn xuống, nên

nó biến tính hẳn; trước thì hoang vu sau thành thuần thục;

trước thì hoa lợi chẳng bao nhiêu sau thì hoa lợi mới phì nhiêu.

Công việc làm cho đất ruộng đổi lạ thế, tự nhiên bám chắc

với đất, lẫn lộn với ruộng, đến nỗi công lao của nông dân, đất

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 40

ruộng của thiên nhiên dính líu cùng nhau không thể nào chia

rẽ ra được.

Vậy công lý làm sao mà rộng phép cho những người lạ

chiếm lấy và hưởng dùng mảnh đất mà nông dân đã cấy cầy

và vun tới bằng mồ hôi nước mắt của họ được.

“Quả” thì theo “nhân”, sản phẩm thì theo người sản xuất

ra nó, đúng là lẽ công bằng.

Vậy kết luận Ta xin nhấn mạnh ba điều :

  1. Toàn thể nhân loại cổ kim đã giải quyết vấn đề cho

hợp lý. Luật thiên nhiên là căn bản ưu tiên, ta phải noi theo

để phân công chia của và hoạch định quyền tư hữu. Không

phải vì những dư luận trái ngược của một nhóm người quá

khích mà ta phải vi phạm đến lý đương nhiên.

  1. Phong tục đời nào, nước nào cũng hợp lý.

Ai cũng thừa nhận tình trạng nhân loại đòi quyền tư hữu

thì rất phù hợp nhân tính của con người, và là điều kiện cần

thiết cho đời sống xã hội luôn luôn ôn hòa và thịnh đạt. Pháp

luật chính phủ hoạch định, thì phải hợp công lý thì mới có giá

trị. Vậy nó hợp lý hay chăng là nhờ nó tự ở luật thiên nhiên

phát ra. Đã hợp lý thì tất nhiên pháp luật nhân tạo kia phải xác

định nhân quyền tư hữu và nếu có lẽ cần thì bảo vệ quyền ấy

bằng cả quyền lực nữa.

  1. Sau hết, Đạo Chúa mạc khải lại châu phê và chuẩn y

quyền tư hữu của con người. Dầu có ai chỉ mưu ý muốn lấy

của kẻ khác, thì kẻ ấy cũng mắc tội rồi. Đừng có lòng tham

vợ con, nhà cửa ruộng đất, nô tì, bò lừa hay bất cứ vật gì của

người khác.

TÂN SỰ 41

  1. Mối liên hệ giữa tư hữu và đời sống gia đình

Tuy nhiên quyền tư hữu đã ghi khắc trong bản tính từng

người ngay từ bẩm sinh. Kíp đến lúc con người nam nữ trưởng

thành, thì kết hôn và ăn ở chung đụng trong cảnh gia đình. Vì

những bổn phận mới của họ, thì quyền tư hữu càng vững bền

hơn nữa. Chắc chắn rằng: con người đứng tuổi rồi, thì tự do

chọn lấy địa vị nhân sinh thích hợp nhất với xu hướng bản

thân. Người thì theo Lời Chúa Kitô khuyên mà chọn ở bậc

độc thân. Người thì theo luật tự nhiên mà ở bậc đôi bạn.

Nhưng không nhân luật nào bãi bỏ được quyền kết hôn, tự

nhiên ai cũng đã có từ nguyên sơ. Cũng không ai xa được

mục đích chính, do Thiên Chúa tiền định cho bậc đôi bạn :

“Hãy lớn lên và sinh sản cho đông”. Đấy gia đình được gây

dựng như thế. Gia đình nghĩa là một xã hội thân gia. Một xã

hội bé nhỏ, đành vậy. Nhưng hiện thực có trước xã hội dân

chính. Thành ra xã hội dân chính phải thừa nhận những nghĩa

vụ và những gia quyền tuyệt nhiên biệt hẳn với quốc gia.

Những quyền hành Ta đòi hỏi cho từng cá nhân, căn cứ

vào luật thiên nhiên, thì ta phải chuyển lại cho những người

kết hôn, thành một gia đình. Những nhân quyền nói trên thoạt

khi đã hóa thành những gia quyền, thì tất nhiên thêm mạnh và

đòi hỏi nhiều hơn. Gia đình há chẳng phải là người nam nữ

hợp nhất sinh con mà thành “Một người” hoàn hảo hơn và

hiệu lực hơn sao !

  1. Di sản gia đình

Thiên nhiên buộc gia trưởng những bổn phận hồn xác là

nuôi dưỡng và giáo dục con cái là phản ảnh của cha mẹ. Con

cái kéo dài đời sống cha mẹ, nên thiên nhiên thúc đẩy cha

mẹ phải lo liệu cho con cái một tương lai đủ sự cần ; tạo lập

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 42

một gia nghiệp đầy đủ cho họ đương đầu với mọi phúc họa có

lẽ xảy ra.

Vậy gia trưởng chỉ có thể xây dựng sản nghiệp kia, do

sự thu hoạch, làm chủ mọi sản phẩm hoặc thường xuyên,

hoặc nhờ người xuất công tạo ra, để rồi di chuyển cho con cái

bằng cách thừa kế. Theo lời Ta đã nói trên, gia đình không

kém xã hội dân chính và là một xã hội thực sự, có quyền

riêng, thường gọi là gia quyền. Bởi thế trong phạm vi rộng

hẹp, tùy theo mục đích nó nhắm đến, gia đình nào cũng được

hưởng quyền lợi riêng không kém quyền xã hội dân chính.

Có thế, thì gia đình mới có thể lựa chọn và hưởng dụng được

những sự cần thiết để bảo tồn và thi hành quyền tư chủ riêng

của mình. Ta nói : không kém xã hội dân chính, ít nữa là phải

bằng. Vì theo lý đương nhiên, gia đình có trước, quốc gia có

sau. Còn trong thực tế quyền sở hữu của gia đình có trước,

chính quyền xã hội quốc gia cũng có sau.

Do đó gia đình phải hưởng dụng quyền lợi thì mới làm

trọn phận sự cần thiết. Giả như cá nhân và các gia đình tự

nhiên có trước, phải nhập vào xã hội quốc gia có sau, thì tất

nhiên họ phải được chính quyền ủng hộ và bảo vệ ! nếu lẽ ra

thay cho được ủng hộ gia đình bị ngăn trở; nếu lẽ ra thay cho

được bảo vệ gia đình bị truất bớt, thì tất nhiên gia đình phải

trốn xa chứ không tìm nhờ xã hội nữa.

  1. Quyền bính dân sự phải bảo vệ xã hội gia

đình

Như vậy chính quyền độc tài mưu trí đến tận cả gia

đình, thì thật là lầm lỗi lớn và tai hại nhiều. Trái lại, hễ gia

đình nào lâm vào cảnh tuyệt vọng, tự mình tìm giải thoát mà

không được, thì phận sự chính quyền phải giơ tay giúp đỡ, vì

đương nhiên gia đình là một phần tử của xã hội. Cũng một lẽ

TÂN SỰ 43

ấy, hễ có gia đình nào phạm đến quyền lợi gia đình khác, về

những điều căn bản hệ trọng, thì chính phủ phải can thiệp để

phục hồi quyền bất khả xâm phạm của mọi công dân. Làm

vậy không phải là tiếm quyền của công dân mà chỉ là làm

trọn phận sự che chở bênh vực quyền lợi gia đình cho hợp lý.

Chính quyền cũng không nên can thiệp vào nội bộ của gia

đình.

Thiên nhiên đặt giới hạn không chính phủ nào vượt qua

được. Gia quyền không thể bãi bỏ đi được, cũng không thể

nào bị quốc gia thu đoạt hết. Lý do là vì nguồn gốc gia quyền,

chính là nguồn gốc đời sống con người. Con cái là thành phần

sinh sống của cha mẹ. Chúng kéo dài đời sống của cha mẹ.

Nói đúng ra, chúng không trực tiếp gia nhập và giao thiệp với

xã hội dân chính đâu. Chúng trực tiếp sinh ra trong gia đình và

là thành phần của gia đình, rồi nhờ đó gián tiếp họ mới gia

nhập vào xã hội dân chính. Con cái tự nhiên là thành phần

sống động của phụ thân, nên họ ở dưới quyền giám hộ của

phụ mẫu; cho đến khi nào họ đứng tuổi dùng được quyền ý

chí tự do của họ cho xứng vị con người. (TH. Toma 2a, 2ae X

đoạn 12). Vì vậy, đem quyền bảo trợ của chính phủ, thế vào

quyền bảo trợ của cha mẹ là làm tan vỡ những mối tương

quan căn bản của gia đình.

“Kẻ xướng lên chủ nghĩa xã hội đã đi ngược lại với

công lý tự nhiên.”

  1. Hậu quả tai hại của sở hữu tập thể

Chủ nghĩa xã hội gây bao thiệt hại ngay trong xã hội

dân chính. Chủ nghĩa xã hội bất công một cách hiển nhiên,

không ai là không thấy rõ! Thuyết ấy còn gây nên biết bao

thiệt hại. Trước thì gây hỗn loạn giữa các tầng lớp xã hội. Nó

xiềng xích công dân vào vòng nô lệ nhục nhã ghê tởm, nên

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 44

mới mở cửa cho công dân tha hồ giận ghét nhau, sinh lòng bất

mãn và căm hờn.

Hơn nữa, những công dân dù tài năng lỗi lạc, cũng mất

luôn sự kích thích làm việc. Họ không phấn khởi lên, thì sự

sản xuất sẽ khô cạn ngay từ ở nguồn gốc.

Sau hết, chủ nghĩa xã hội muốn có sự bình đẳng giữa

mọi công dân. Quả thật là một ảo tưởng, vì theo ý họ đề nghị,

sự bình đẳng xã hội chỉ thực hiện ra trong sự thiếu thốn nghèo

nàn và cùng quẫn.

Căn cứ vào những lý lẽ Ta mới chưng ra, chủ nghĩa xã

hội, chủ trương quyền sở hữu đoàn thể, mà chối quyền tư

hữu; phải bài xích triệt để vì kết quả nó khốc hại cho chính

những người nó muốn cứu vớt. Nó lại trái ngược với mọi

quyền lợi thiên nhiên của từng cá nhân. Nó làm sai lạc chức

trách của quốc gia và phá rối an ninh công cộng. Thế nên, ai

thành thực muốn xây hạnh phúc cho thế tục, phải căn cứ vào

nền tảng tự nhiên của xã hội mà hết sức tôn trọng quyền tư

hữu của từng người.

=> Giáo Hội Có Quyền Đề Cập Đến Đề Tài, Và Giáo Hội Vững Tin Thực Hiện Điều Đó Một Cách Có Hiệu Quả.

 

  1. Cần phải nhờ đến tôn giáo và Giáo Hội

Bây giờ ta hãy tìm cho ra phương dược chân chính ai

cũng đang mong mỏi chờ đợi. Ta bàn đến vấn đề này với một

lòng tin vững chắc vì giải quyết vấn đề ấy, là việc chính thức

thuộc về linh quyền của Ta. Vấn đề xã hội hiện nay sôi nổi

cực độ. Không tìm giải pháp ở tôn giáo và giáo hội, thì không

ai giải quyết được một cách hiệu nghiệm. Vậy không ai bằng

TÂN SỰ 45

Ta được Thiên Chúa uỷ trọng trách bảo tồn đạo thánh và phân

phát cho nhân loại những ân huệ cao quý của giáo hội. Nếu

Ta cứ im tiếng trước vấn đề quan trọng này, thì Ta sẽ đáng bị

thế giới kết án là Ta coi thường sứ vụ.

Lẽ cố nhiên một vấn đề trọng đại như thế, thì đòi sự

hợp tác hành động và cố gắng của bao người khác nữa : Tức

là sự hợp tác chặt chẽ thân mật của các chính phủ, các chủ

nhân, các nhà phú quý và các giới lao công nữa. Số phận của

thế giới lao công sẽ may rủi phúc họa, tùy theo vấn đề xã hội

được giải quyết như thế nào ? Nhưng Ta quả quyết rằng : dầu

nhưng người ấy hành động mạnh đến đâu đi nữa, chắc chắn

họ cũng sẽ thất bại, nếu họ khinh thường quan niệm của giáo

hội.

Duy chỉ có giáo hội tìm được trong phúc âm, những giải

pháp hiệu nghiệm; hoặc để giải quyết vấn đề xã hội tương

tranh, hoặc để cho vấn đề ấy bớt phần gay gắt cứng cỏi. Giáo

hội không những tỏa sáng cho thế gian bằng những huấn từ

rực rỡ, mà lại cố gắng cải thiện đời sống của mọi người theo

lời Chúa giảng dậy. Giáo hội chỉ có mục đích là thiết lập

những tổ chức đặc biệt bác ái để cải thiện số phận của mọi

giai cấp cực khổ. Giáo hội hết sức khao khát và mong ước cho

mọi giai cấp trong xã hội đều đồng tâm cộng lực tìm giải

quyết vấn đề lao công một cách lương hảo chừng nào hay

chừng nấy. Đàng khác, giáo hội quan niệm rằng : Pháp luật và

chính quyền phải tùy theo chừng mực và sự khôn ngoan, mà

góp một phần vào việc giải quyết vấn đề khắt khe này.

  1. Chấp nhận những khác biệt và bất bình

đẳng

Sự bất đồng xã hội và sự đau khổ là những hiện tượng

không tránh được.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 46

Đó là nguyên tắc thứ nhất ta phải đề cập. Ai cũng phải

thú nhận rằng : nhân tính chung của toàn thể nhân loại, dầu

phát triển mãi cũng không sao làm cho mọi người trưởng

thành ngang nhau. Trong xã hội dân chính, chủ nghĩa xã hội

lại quyết san phẳng mọi người là lầm to.

Mọi cố gắng ngược với thiên nhiên thể nào cũng ra vô

ích. Vậy chính thiên nhiên làm nẩy nở ra trong con người

những sự khác nhau mà lại sâu kín nữa; Tỉ dụ sự khác nhau về

trí tuệ, tài năng, sự tinh xảo, sức khỏe và nghị lực, toàn là

những sự khác nhau cần thiết; vốn phải gây nên những bất

đồng xã hội. Hơn thế nữa, sự bất đồng ấy cũng hữu ích nhiều,

hữu ích cho từng cá nhân, hữu ích cho cả đoàn thể.

Đời sống xã hội đòi những tổ chức phức tạp và đặt ra

những nhiệm vụ khác nhau nữa. Loài người tự nhiên buộc

phải phân công chia việc với nhau, là vì người nào người ấy

khác địa vị nhân sinh. Về phương diện cần lao, dầu loài người

chưa mắc vào tội nguyên tổ cũng đã thấy mình phải làm việc,

chứ không phải cứ ở không suốt đời đâu. Nhưng thời kỳ chưa

mắc phải tội, loài người tình nguyện lao tâm lao động là một

phận sự êm dịu nhẹ nhàng. Đã phạm tội rồi, ai cũng nhận

thấy cần lao là một án phạt, mà lại có kèm theo bao nhiêu sự

đau khổ nữa. Kinh thánh nói : “Vì con mà đất bị nguyền rủa.

Từ nay trở đi, con sẽ phải làm ăn vất vả khó nhọc hằng ngày

cho đến mãn đời thì mới kiếm được từ ở trong đất đủ cơm

bánh nuôi thân”.

Cũng vì vậy, đời sống con người bị bao tai ương tràn

ngập giầy xéo không ngừng mà lại không ai thoát được. Vì

hậu quả bởi những tội lỗi gây ra, nên chua cay đắng xót đè

nặng trên con người cho đến hơi thở cuối cùng.

Vậy đau khổ là “bạc phận” của nhân loại. Dầu giẫy dụa

cố gắng hoạt động ráo riết, dùng tài năng hay tài lực, tự nhiên

TÂN SỰ 47

con người cũng không thoát khổ bao giờ. Nếu có người tự đắc

là cứu nhân loại khỏi sự đau khổ; nếu có ai hứa cho kẻ nghèo

một đời sống không chút công lao nhọc nhằn, mà toàn sự an

nhàn, thì người ấy chỉ lừa dối dân đen, đặt cạm bẫy cho họ

mắc vào, và gây những tai họa kinh khủng hơn tình trạng khổ

sở hiện tại. Ta nên ngẫm thế sự, y như thế sự hiện ra, mà tìm

phương dược chữa nạn xã hội ở chỗ khác…

  1. Hai giai cấp không phải là thù địch.

Tư bản và lao động

Trong tình trạng xã hội hiện tại, điều lầm lỗi nguy hiểm

nhất là tưởng rằng : hai giai cấp xã hội trí thức và lao động

bẩm sinh thù ghét nhau. Vì thiên nhiên đã cấp sẵn võ khí cho

kẻ giầu sang, người bần cùng; tự nhiên chiến đấu với nhau

trong một trận kịch liệt không ngừng. Tưởng như vậy là phi lý

và sai lầm. Sự thật ở một chủ nghĩa hoàn toàn đối lập. Thân

thể ta chẳng hạn, thì gồm đủ bộ phận khác nhau, nhưng luôn

luôn hòa hợp với nhau đến nỗi kết thành một con người cân

xứng hẳn hoi. Xã hội cũng vậy. Thiên nhiên định có hai giai

cấp khác nhau, nhưng bẩm sinh phải hòa hợp với nhau trong

một thế quân bình hoàn hảo. Giai cấp nào cần cho giai cấp ấy.

Không thể nào có tư bản nếu không có cần lao, cũng không

thể nào có cần lao nếu không có tư bản. Bên nào bên ấy hòa

hợp với nhau, xã hội mới có trật tự và mỹ lệ. Trái lại cứ xung

đột nhau mãi thì xã hội hỗn độn và tranh đấu dã man…

Vậy để hòa giải hai giai cấp xã hội tương tranh kia; để

diệt trừ tật nạn ấy từ cội rễ, thì những cơ cấu kitô hữu, không

thiếu gì phương dược linh nghiệm diệu kỳ.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 48

  1. Bổn phận công bằng của công nhân

và của chủ nhân

Trước hết học thuyết xã hội với cả những hệ thống tín

điều hợp lệ nhất mà giáo hội phải duy trì và giải thích, thì rất

hiệu lực để làm cho kẻ giàu sang người bần cùng thuận hòa

với nhau. Hiệu lực vì thức tỉnh hai giai cấp xã hội nói trên với

những bổn phận họ phải đảm nhận đối với nhau.

Trổi vượt mọi nghĩa vụ khác, là những nghĩa vụ bởi đức

công bằng mà ra.

Trong những nghĩa vụ ấy, phải đề cập rõ những nghĩa

vụ của hạng người bần cùng và lao động. Tóm lại họ phải

hoàn tất đầy đủ và thành thực những công việc họ đã đảm

nhận, lúc ký giao kèo họ tự do, nhưng họ cũng phải theo công

lý. Thợ thuyền không được gây thiệt hại cho tài sản hay bản

thân chủ nhân. Hễ khi nào thợ thuyền đòi hỏi chủ nhân điều

gì, thì họ không được dùng võ lực hay phản loạn. Thợ thuyền

lại phải đủ sáng suốt mà bài bác những người hư đốn, thường

thuyết những điều dối trá, khiến họ nuôi dưỡng những kỳ

vọng quá đáng và tin theo những lời hứa hão huyền thường

hay kết liễu bằng những hối tiếc phũ phàng và tan gia bại sản.

Còn kẻ giàu sang và nghiệp chủ không được coi thợ

thuyền như thể là kẻ nô lệ. Họ phải kính trọng nhân phẩm tự

nhiên, và nhất là nhân phẩm kitô hữu của họ.

Thủ công xét theo lý đương nhiên và giáo lý đạo Chúa

Kitô không phải là sự nhục đâu. Trái lại, thủ công là một vinh

dự vì là sinh kế cần thiết cho người nuôi dưỡng và phát triển

mạng sống của mình. Điều nhục nhã phạm nhân đạo là coi

thợ thuyền như thể họ chỉ là dụng cụ thu lợi, vì chỉ đánh giá

họ tùy theo năng lực bắp thịt chân tay.

TÂN SỰ 49

Đạo thánh Chúa lại buộc chủ nhân tôn trọng quyền lợi

thiêng liêng và chức phẩm phần hồn của công nhân nữa. Chủ

nhân phải làm thế nào để công nhân đủ thời giờ làm trọn

phận sự tôn giáo, để công nhân khỏi bị dỗ dành và sa vào

trụy lạc, để cho công nhân khỏi mất tinh thần gia tộc và

những tập quán sống tiết kiệm. Chủ nhân cũng bị cũng bị cấm

ngặt không được bắt công nhân làm những việc quá sức,

không hợp với tuổi tác và chủng tính nam nữ của từng người.

  1. Lương bổng cân xứng

Nhưng phận sự chính của các chủ nhân là trả công từng

người cho cân xứng. Thế nào là trả công cho cân xứng ? Vấn

đề ấy phải giải quyết về mọi phương diện khác nhau, nhưng

cũng cần thiết. Nói rộng ra, chủ nhân và tài gia phải nhớ rằng

: “Lợi dụng tình trạng nghèo khó túng cực hay đầu cơ bần khổ

của công nhân, là phạm đến giáo luật và pháp luật”, nên là

một việc đáng kết án. Cướp công mồ hôi của công nhân là tội

ác thấu trời. “Kìa hãy xem, chính tiền lương mà các bạn đã

bóc lột của những thợ gặt lúa trong đồng ruộng các bạn, đã

kêu lên, và những tiếng ca thán của thợ gặt đã thấu đến tai

Chúa vạn quân” (Gac 5,4).

Sau hết, kẻ giầu sang phải thận trọng kiêng dè mọi bạo

động, mọi mưu gian, mọi thủ đoạn ăn lời quá độ. Những việc

ấy đều đang kết án, vì phạm đến kẻ nghèo đã hết sức sống

tiết kiệm. Kẻ nghèo ở trong tình trạng ấy lại không tài nào tự

vệ được. Lý do dễ hiểu là tiền vốn của người càng ít ỏi thì

càng quý trọng.

Vậy Ta xin hỏi rằng : phục những điều luật ấy há chẳng

phải là đủ mà chấm dứt cuộc xung đột giữa công nhân và chủ

nhân ư ! Thưa đủ, không những để chấm dứt mà lại để diệt

trừ nguyên nhân của nó nữa.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 50

  1. Tình thân ái giữa mọi người

Được Chúa Kitô dạy dỗ và hướng dẫn, giáo hội lại

nhắm vào mục đích cao siêu hơn nữa. Giáo hội đề cập đến

một hệ thống huấn giới hoàn bị hơn, vì tận tình trông mong

thắt chặt hai giai cấp xã hội bằng những giây thân ái siêu việt

khiến đôi bên thân nghĩa với nhau.

Không ai hiểu đời sống thế tục và định giá của nó cho

phải chăng, nếu kẻ ấy không ngẫm đến cuộc đời hằng sống

của con người. Đã bài trừ sự sống đời đời của con người,

không còn ai nghĩ ra được một quan niệm xác đáng về phúc

lợi đời sống tạm gửi hiện tại. Hơn thế nữa, cả vũ trụ nên như

một bài toán không ai giải đáp được. Chúng ta lìa bỏ đời sống

tạm gửi này thì mới bắt đầu sống thật sự. Đó là một chân lý

thiên nhiên, nên đạo Chúa Kitô mới tôn lên làm một tín điều

vững chắc. Tất cả đạo thánh Chúa xây cất chân lý tôn giáo,

trên nền tảng bất di bất dịch ấy.

Quả thật, chúng ta được Chúa dựng nên không phải là

để hưởng phúc lợi phù vân chóng qua của đời này, mà là để

hưởng phúc lợi hằng hữu trên trời. Chúng ta được Thiên Chúa

ban toàn quyền đến thế gian, không phải vì là quê chính vĩnh

cửu của ta đâu, một vì là quê tạm, là chốn đọa đày ta phải tạm

ở.

Bất cứ anh em tiền của dư hay thiếu, điều đó cũng

không quan hệ gì đến phúc lợi trường sinh mà ai cũng mong

đến. Điều quan trọng là anh em hưởng dụng tiền của như thế

nào ? Dầu công việc của Chúa Cứu thế đã hoàn tất rồi, những

sự khổ phiền vẫn còn pha lẫn với những thú vui đời sống hiện

tại. Theo ý Chúa Kitô, những sự khổ phiền ấy, khích lệ kitô

hữu sống thánh thiện, lập công, đến nỗi không người nào hy

vọng đến phúc lợi trường sinh được; nếu người ấy không vui

TÂN SỰ 51

lòng bước theo những bước chân đẫm máu của Chúa Giêsu

Kitô. Ta khổ thân với Người thì mới hiển trị với Người. Ngoài

ra ta càng vui lòng chọn lấy thánh giá và mọi hình khổ đời

sống gây nên, thì ta càng thấy mọi nỗi thống khổ bớt phần

cay nghiệt. Hơn thế nữa, để giúp ta cam chịu khổ ở đời,

không những Người nêu gương cho ta bắt chước, mà Người lại

ban thêm những ơn Thánh Sủng nữa và hứa thưởng công từng

người trên cõi trường sinh. Khoảng khắc ngắn ngủi nhẹ nhàng

ta chịu đau khổ ở dưới thế, đối với giải thưởng vĩnh phúc

trường sinh, thật chẳng thấm vào đâu”.

Vì thế kẻ phú quý đời này phải biết trước rằng : “Dầu

tiền của nhiều, họ cũng không tránh được sự đau khổ, mà

cũng không thêm phần ích lợi gì, để mua chuộc phúc lợi đời

sau. Nói đúng hơn tiền của đối với đời sau chỉ là một trở ngại.

Họ nên run sợ trước những lời Chúa Giêsu đặc biệt đe dọa kẻ

giầu trong phúc âm. Ngày Chúa tái hiện phán xét mọi người

thì họ phải rành mạch tính sổ với Người, về cách đã dùng tiền

của, họ được hưởng dư.

  1. Của cải phải được sử dụng chung.

Bổn phận bác ái

Kèm theo đây là những nguyên tắc dùng tiền của, do

triết lý phác qua. Những nguyên tắc ấy chỉ có giáo hội toàn

quyền giải nghĩa minh bạch và đưa từ phạm vi “lý thuyết”

sang phạm vi “thực hành”. Điều căn bản ai cũng phải nhớ, là

phân biệt quyền sở hữu bất khả xâm phạm và thể cách dùng

tiền của cho phải lẽ.

Quyền tư hữu – (Ta nhấn mạnh điều ấy trong đoạn trên)

là quyền tự nhiên bất khả xâm phạm của con người. Dùng

quyền ấy đối với con người sống trong một xã hội không

những là một việc hợp pháp mà lại là một sự tối cần nữa.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 52

Quyền tư hữu dành của riêng là quyền hợp pháp và hưởng

dụng quyền ấy trong đời sống là một sự cần thiết nữa. Nhưng

hỏi rằng : Phải dùng tiền của như thế nào cho phải lẽ ? Thì

giáo hội không ngần ngại quả quyết rằng : Trong phạm vi ấy

con người phải nhận thực chân lý này: không ai nhận được

các ngoại vật trong thiên nhiên là của mình. Các ngoại vật ấy

đều là của chung, nên dầu mình có bao nhiêu, nếu mình thấy

ai là kẻ túng thiếu thì mình phải tình nguyện phân chia với họ

tùy theo sự túng thiếu của họ.

Bởi thế, Thánh Phaolô có câu : Divitibus hujus saeculi

praecipe, facile tribuere, communicare : Hãy bảo kẻ giầu có ở

thế gian này phải phân chia của cải cho rộng tay (Thomas 2a

2ae 2.66 đoạn 2). Đã hẳn không ai buộc lấy của cải cần thiết

cho mình, hay cho gia đình đủ sống, mà cứu độ anh em đồng

loại. Cũng không ai bắt buộc giảm bớt những của cải tiện nghi

và thích đáng với địa vị nhân sinh của mình. “Thật ra không ai

bắt ai phải ăn ở trái ngược với những tiện nghi của xã hội”.

(Thomas 2a 2ae Q.32 anh 6).

Nhưng đã liệu cho mình đủ sự cần và tiện nghi , nếu

còn phần dư, ai cũng bắt buộc dành để thí cho kẻ khó. “Phần

của dư là phần bố thí”. (Lc 11,41).

Đó là bổn phận bắt buộc ai cũng phải thi hành, trong

những trường hợp tối cần, là bổn phận do lẽ công bằng bắt

buộc. Nhưng thường ngày chỉ là do bổn phận bác ái, nên

không có luật pháp nào buộc giữ trọn phận sự ấy.

Tự nhiên luật pháp và xử đoán của Chúa Giêsu, Chúa

chúng ta, trổi vượt luật pháp và xử đoán của thế gian. Vậy

Chúa Giêsu đã dùng trăm phương ngàn cách để thúc đẩy ta

làm việc phúc đức từ thiện. Người rằng : “Cho thì có phúc hơn

là nhận”. Cũng theo Chúa Kitô : thí hay trối của cho kẻ khó,

thì sẽ được coi là thí hay trối của cho Chúa. Hễ khi nào anh

TÂN SỰ 53

em bố thí của cho kẻ hèn kém nhất trong anh em, ắt là chúng

con thí cho Ta vậy. Tín điều ấy tóm tắt lại trong vài câu rằng:

– Chúa khoan hồng ban dư dật mọi ơn huệ hồn xác cho ai, thì

kẻ ấy phải dùng để thánh hóa bản thân và cấp đủ sự cần cho

đời sống mình trước, rồi sau phải đóng vai quản lý Chúa quan

phòng, để cứu đỡ kẻ khác.

– bởi thế kẻ nào có tài hùng biện thì phải nói cấm

không được im tiếng.

– Kẻ giầu có nhiều tiền thì chớ để sự nhân từ tê cóng

trong lòng họ.

– kẻ có thiên tài quản trị thì phải cẩn thận phân chia

quyền hành chánh và mọi ân huệ do quyền ấy nảy ra cho cả

đồng bào.

  1. Bần cùng không phải là một điều ô nhục

Còn những người bần cùng thì nên học với giáo hội

rằng : theo sự phán đoán của chính Thiên Chúa, sự bần cùng

không phải là một sự ô nhục. Đổ mồ hôi mà kiếm ăn cũng

không phải là hổ ngươi đâu. Chính Chúa Kitô đã nêu gương

cho anh em bắt chước. Dầu đã giầu có vô cùng, Người cũng

tự ý làm người bần cùng để cứu nhân loại. Dầu Người là Con

Thiên Chúa, cùng một thiên tính với Thiên Chúa, Người cũng

hân hạnh khi được thiên hạ đón nhận là con của một người

thợ mộc. Hơn thế nữa, phần lớn cuộc đời của Người đã hủy

phí trong những việc làm công. Dân chúng thắc mắc rằng : há

chẳng phải Ông là con Maria đó ư !

Những kẻ nào hằng nhìn ngắm mẫu gương Con Chúa

nhập thể, thì mới dễ dàng am hiểu những bài học kèm theo

đây. Nhân phẩm chân chính, giá trị tuyệt đối của con người,

thì hoàn toàn ở một đời sống nết na đức hạnh. Đức hạnh là cơ

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 54

nghiệp chung của mọi người phàm; đức hạnh lại vừa sức mọi

người bất phân kẻ sang người hèn, người giầu kẻ khó. Bất cứ

người nào có đức hạnh và công nghiệp thì người ấy mới đáng

hưởng phúc trường sinh. Chúa Kitô thường gọi kẻ nghèo là kẻ

có phúc; Người tha thiết kêu mời mọi người đau khổ khóc lóc,

hãy đến cùng Người thì sẽ được Người an ủi.

Người lại ôm ấp kẻ phàm hèn hay bị áp bức một cách

âu yếm hơn. Những tín điều ấy hẳn làm hạ tính kiêu hãnh của

hạng phú gia và dạy cho họ tỏ lòng khoan dung đối với kẻ

bạc phận, vừa nâng đỡ họ lúc thiếu can đảm không còn chịu

đựng khổ cực của họ ; vừa giúp họ hứng tâm lên lúc họ ngã

lòng. Những tín điều ấy lại thâu ngắn sự xa cách đã do tính

kiêu ngạo gây nên giữa kẻ sang người nghèo. Nếu loài người

đem ra thực hành trong xã hội, thì Ta sẽ khỏi phải mất công

mà khiến bên nào bên ấy tình nguyện bắt tay nhau và hợp ý

hợp lòng trong một tình nghĩa duy nhất và hiệu nghiệm.

  1. Hơn cả tình nghĩa bạn bè là tình huynh đệ

Đoàn kết trong tình nghĩa bạn bè thật chưa đủ. Giá

người ta tuân theo luật Phúc âm thì họ sẽ đoàn kết với nhau

trong tình kitô hữu huynh đệ. Đôi bên sẽ thông cảm, loài

người ai nay cũng bởi Thiên Chúa dựng sinh. Nên Thiên Chúa

vừa là cha chung, vừa là cứu cánh chung, và là cứu cánh duy

nhất của nhân loại. Vì chỉ có một mình Thiên Chúa mới có thể

thông cho loài người một chân phúc tuyệt đối hoàn hảo. Chúa

Giêsu lại cứu chuộc và phục chức làm con Chúa cho mọi

người được hoàn toàn như nhau. nên có một tình nghĩa huynh

đệ buộc họ lại với nhau, và với Chúa Giêsu là Chúa họ, và là

anh trưởng đông em. Primogenitus in multis fratibus. Họ cũng

sẽ được biết, mọi của cải thế tục, mọi kho tàng thánh sủng

đều là của toàn thể nhân loại. Chỉ những kẻ bất xứng là

không thừa hưởng những của quý trên trời. Nếu anh em là

TÂN SỰ 55

con Chúa, thì anh em cũng là kẻ thừa kế; thừa kế của Thiên

Chúa, đồng kế thừa của Chúa Giêsu Kitô.

Đó là tóm tắt lại những quyền hành và những nghĩa vụ

của nhân loại, hiểu theo học thuyết công giáo. Giá như toàn

thể nhân loại nghe theo và thi hành những bài học quí hóa ấy,

ắt phúc âm sẽ được ưu thắng trong xã hội. Thiên hạ sẽ hoàn

hảo trong một thời gian rất ngắn, cho mọi người hiển nhiên

thông hưởng.

  1. Những cơ chế công giáo canh tân các xã hội

Tuy nhiên giáo hội chỉ bảo phương dược, nhưng giáo

hội cũng ra tay chữa bệnh nữa.

Giáo hội tận tâm với sứ mệnh giáo huấn nhân loại theo

các nguyên tắc giáo lý của mình. Đó là nguồn mạch chảy

nước sống, mà Giáo hội tìm phân phát cho loài người.

Nhờ những hành động của các Giám mục hợp tác với

các linh mục, giáo hội phổ biến khắp nơi những ơn ích, bởi

nguyên tắc và học thuyết nói trên tự nhiên phát sinh ra.

Rồi giáo hội cố sức len lỏi vào các tâm hồn; cố sức thu

phục ý chí từng người hầu cho ai nấy cũng tòng phục và

nương theo đạo thánh Chúa.

Về điểm chính tối quan trọng này là điểm thâu tóm lại

mọi quyền lợi bị xã hội hiện tại vi phạm, thì giáo hội hành

động, nói được là độc quyền.

Các lợi khí giáo hội thường dùng để cảm hóa tâm hồn

người ta, thì đều do Chúa Giêsu phú ban và cũng toàn là lợi

khí tuyệt đối thần hiệu. Chỉ những lợi khí ấy mới thấu nhập

tận các ngách thầm kín của lòng người.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 56

Chỉ những lợi khí ấy mới có thể khiến lòng người tuân

theo mệnh lệnh của nghĩa vụ, chế ngự các dục vọng, bằng

những mối tình nầng nàn tha thiết đủ sức hùng dũng đạp

phẳng được mọi trở lực ngăn cản bước tiến trên con đường

đức hạnh.

Duyệt qua các gương mẫu giáo hội để lại khi xưa, thì ta

sẽ rõ. Những hiện tượng lịch sử, chúng ta lược thảo lại đây,

toàn là những hiện tượng không ai chối cãi được.

Quả thực mọi cơ cấu xã hội dân chính đời xưa, đã được

đạo thánh Chúa, tường tận hoán cải.

Nhờ giáo hội cải tạo, trình độ văn minh của nhân loại đã

được nâng cao, nói được là một việc cải tử hoàn sinh, hiệu lực

đến nỗi xã hội vươn mình lên một mức sống trọn lành, trải

qua lịch sử trước sau chưa bao giờ thấy.

Sau hết chính Chúa Giêsu là nguồn gốc mọi ơn thánh

sủng, nên Người cũng là cùng đích. Mọi sự đều bởi Người mà

ra, thì mọi sự cũng phải quy về Người.

Thật vậy phúc âm phổ biến khắp thiên hạ rồi; các dân

thiên hạ được nghe tin Ngôi Hai nhập thể, thì cả thiên hạ mới

được cứu rỗi.

Thân thế của Chúa Giêsu là Con Chúa vừa là con người,

đã ảnh hưởng đến khắp xã hội. Xã hội lại được đức tin, giáo

lý và luật pháp của Chúa Giêsu thấm nhuận hết.

Bởi vậy, xã hội ngày nay có thể chữa lành được, nhưng

chỉ bằng một phương được là trở về với đời sống và các cơ

cấu đạo Chúa Kitô.

Ai quyết phục hưng lại một đoàn thể đang suy đồi, thì

các kẻ ấy phải nhắc lại cho những đoàn viên nhớ buổi đầu

đoàn thể ấy được khai sanh để làm gì ? bất cứ đoàn thể nào

TÂN SỰ 57

còn hoàn thiện, ắt là vì đoàn thể ấy đã trung thành theo đuổi

và đạt tới mục đích mà kẻ lập đoàn đã nhắm tới, nên mọi

hành động và mọi cử chỉ của các đoàn viên đều quy về mục

đích đã gây dựng đoàn thể họ. Lạc xa mục đích ấy thì cả đoàn

thể sẽ tan rã và đi đến chỗ chết. Trái lại, phục hưng lại mục

đích ấy thì cả đoản thể sẽ lại kết hợp và sống lại.

Áp dụng những nguyên tắc tâm lý trên vào xã hội dân

chính, thì tất phải thích dụng riêng cho giai cấp công dân còn

phải sống nhờ cần lao và cũng là đa số.

  1. Giáo Hội mời gọi sống nhân đức

Xin đừng lầm tưởng giáo hội đã quá bề bộn với phận sự

săn sóc các linh hồn, nên chỉ lơ đễnh đời sống vật chất tạm

gửi này. Riêng về giai cấp lao động giáo hội rất ân cần tìm

cách cứu thoát họ khỏi sự bần cùng cơ cực và gây dựng cho

họ một đời sống khả quan hơn. Mọi cố gắng của giáo hội hiện

nay đều quy về mục đích ấy.

Quả thực giáo hội góp một phần hiệu lực vào công việc

đó. trước là vì những lời nói và việc làm của giáo hội đã hấp

dẫn mọi người trở về với luân thường đạo hạnh. Khi mà

phong hóa mỹ tục công giáo được tôn trọng thì tự nhiên có

một phần ảnh hưởng rất hiệu lực đến nền thịnh vượng vật

chất của nhân loại. Một đời sống nết na đức hạnh, thì hằng

kéo ơn Chúa xuống, là nguyên nhân và nguồn mạch của mọi

phúc lợi : Nhân loại cũng nhờ đó mà thắng hãm lòng tham

của, ham lợi, toàn là những tệ đoan xã hội tự nhiên gây chán

ngán và cay đắng ngay giữa sự phong phú. Vì tuân theo phong

hóa đạo thánh thì ai cũng tìm sống đơn sơ, dùng lương thực

đạm bạc và tiết kiệm để bù vào sở đắc ít ỏi ! Như thế người ta

mới lánh xa những thói xấu tự nhiên, tiêu phá những tài sản

lớn nhỏ và làm tan nát những gia nghiệp phong phú.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 58

  1. Giáo Hội nâng đỡ giai cấp thua thiệt

qua những tổ chức từ thiện

Sau nữa giáo hội trực tiếp gây hạnh phúc cho những giai

cấp xấu số, thiết lập và viện trợ những tổ chức từ thiện để

cứu vớt họ khỏi cảnh khốn cùng. Trong những cố gắng cứu

dân độ thế này, giáo hội đã nổi tiếng đến nỗi thù địch cũng

phải cảm phục ngợi khen.

Kìa xem các giáo đoàn tiên khởi, có lòng tương ái nồng

nàn tha thiết đến nỗi bao người triệu phú đã hy sinh cả gia sản

để cứu trợ kẻ bần cùng. Bởi thế giữa thời kỳ đó không ai là

kẻ bần khổ giữa các giáo đoàn Kitô hữu. Các tông đồ uỷ việc

thí của hàng ngày cho các thầy phó tế, là một giáo chức được

lập ra để chuyên lo việc ấy. Chính Thánh Phaolô, dù bận trí

vướng lòng vào việc săn sóc các giáo đoàn tiên khởi, thì

người cũng không ngần ngại vượt biển trèo núi để thân hành

cứu trợ các kitô hữu thanh bần. Hễ lần nào các kitô hữu hội

họp thì họ cũng tình nguyện dâng cúng phần cứu trợ như thế.

Phần của cứu trợ này được Tertullien thường gọi là “của lưu

trữ đạo đức” vì đã quen dùng để nuôi dưỡng hay chôn cất

những người cơ bần, những người nam nữ mồ côi nghèo túng,

tôi tớ già cả, nạn nhân chìm tầu.

Cái gia sản mà giáo hội kính cẩn dành riêng cho đại gia

đình kẻ bần cùng, từ từ được lập ra như thế, giáo hội còn lo xa

hơn nữa mà liệu trăm cách cứu trợ kẻ nghèo, nhưng không

bắt họ phải mang tiếng nhục nhã là kẻ chìa tay ăn xin. Mẹ

chung của hai hạng người phú bần ấy, đã khôn khéo lợi dụng

những lòng hăng hái yêu thương mà chính người đã tạo dựng

khắp nơi, để lập ra các tu viện, các hội đoàn công giáo từ

thiện và vô số cơ quan hữu ích khác, để hầu hết những kẻ

khốn cùng được cứu trợ và giúp đỡ.

TÂN SỰ 59

Đã đành thời kỳ này cũng như thời kỳ xưa không thiếu

người theo gót tha nhân mà lấy lòng bác ái kỳ diệu ấy làm

một khí giới chống trả giáo hội. Các chính phủ ngày nay cũng

ra luật lập việc cứu trợ cho các dân đen, rồi tự đắc họ thay thế

được mọi công cuộc bái ái của giáo hội. Nhưng lòng bác ái

đạo Chúa Kitô gây dựng, thì hy sinh vị tha, hầu cho anh em

đồng loại được nhờ, thật không một tổ chức nào của thế tục

thay thế được.

Chỉ có giáo hội mới nảy ra lòng bác ái cao siêu ấy vì nó

từ ở trong Thánh Tâm từ bi khoan hậu của Chúa Kitô phát ra,

nếu lạc xa Chúa Kitô ắt là lạc xa giáo hội của Người vậy.

VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC

  1. Hành động chung của tất cả mọi người

Tuy nhiên muốn cho công cuộc kết quả theo ý sở

nguyện. Giáo hội cần phải nhờ những tổ chức trần thế nữa.

Tất cả mọi người bận trí về vấn đề phú bần và thành thực tìm

giải pháp, đều nhằm chung một mục đích, và cộng tác với

nhau chặt chẽ, mỗi người trong phạm vi riêng của mình. Công

cuộc này như in ảnh Chúa quan phòng quản trị thế giới.

Chúng ta đã nghiệm rằng : sự thường những công việc

và những biến cố tùy thuộc nhiều nguyên cớ khác nhau, cũng

là kết quả bởi những nguyên cớ do hành động phối hợp với

nhau.

Vậy, để giải quyết vấn đề phú bần này, ta có thể đòi

những gì ở các chính phủ quốc gia ? Khi nói về chính phủ

quốc gia là không có ý chỉ riêng những chính phủ hợp pháp,

được thiết lập do dân nọ nước kia mà thôi. Ta có ý chỉ bất cứ

chính phủ nào xứng với quy điều của thiên nhiên giáo lý của

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 60

Chúa và cả những huấn từ Ta đã tuyên bố, đặc biệt trong bức

thông điệp “hiến pháp kitô hữu của xã hội quốc gia”.

  1. Phục vụ công ích

Quốc trưởng nào cũng phải nhờ luật pháp và chế độ

quốc gia, để góp phần chung vào việc giải quyết các vấn đề,

nghĩa là họ phải hành động thế nào cho hiến pháp và tổ chức

hành chánh gây nên sự thịnh vượng toàn quốc và riêng cho

từng công dân. Vì đó là vai chính của mọi chính khách khôn

ngoan và phận sự riêng của các nhà cầm quyền.

Vậy quốc gia thịnh vượng bởi những gì ?

– Thưa bởi thuần phong mỹ tục : những gia đình căn cứ

vào nền trật tự và luân lý, Một đời sống tôn giáo thành thực,

Một lòng tôn trọng đức công bằng, Một tổ chức thâu thuế

phải lẽ, phân chia công vụ vô tư lợi, một tổ chức công thương

tân tiến, canh nông thịnh lợi, và các ngành tương đương cần

phải mở mang để tăng thêm tiện nghi phúc lợi cho toàn dân.

Quả thực đó là những phương tiện chính phủ dùng để

mưu ích cho đủ mọi giai cấp xã hội nói chung và cho giai cấp

lao động bớt phần cực khổ nói riêng. Chính phủ toàn quyền

đến việc đó, không phải sợ ai chỉ trích vì đã can thiệp vào

việc kẻ khác. Chính vì nhiệm vụ chính quyền phải phụng sự

công ích.

Dĩ nhiên những lợi ích chung do chính quyền lưu tâm và

gây nên, càng tăng lên thì người ta càng ít cần đến những

phương tiện khác mà sửa chữa số phận của phái lao động.

TÂN SỰ 61

  1. Tư cách công dân chung và tổ chức tư pháp

phân phối

Nhưng đây còn một nhận xét chú trọng đến vấn đề ta

đang thảo luận ! xã hội tồn tại vì một lý do duy nhất và liên

hệ tới tất cả mọi công dân lớn nhỏ phú bần. Theo luật tự

nhiên bần dân cũng như phú gia đều là công dân bình quyền

như nhau: nghĩa là bần dân cũng là phần tử hiện thực và sống

động kết thành những gia đình, và nhờ đó kết thành toàn thể

quốc gia. Nói cho đúng, ở bất cứ nước nào bần nhân kể như

là đa số. Lo một hạng công dân mà lãng quên mọi hạng khác,

thì tất là phi lý. Chính vì lý do đó mà chính quyền nhất định

phải dùng những biện pháp thích hợp để bảo vệ mạng sống

và quyền lợi của phái lao động. Lỗi phận sự ấy là lỗi công

bằng tuyệt đối vốn buộc rằng của ai phải trả cho kẻ ấy. Về

điểm ấy Thánh Thomas có câu đầy ý nghĩa : phần tử và toàn

thể nói được là một. Thành ra cái gì là của toàn thể cũng nói

được là của từng phần tử vậy. (2a 2ae 61 đoạn 1,2).

Bởi thế, trong những nghĩa vụ hệ trọng và phức tạp,

chính quyền phải đảm nhận để gây công ích cho đúng phép,

nghĩa vụ trọng nhất là săn sóc công dân đủ mọi giai cấp, theo

những luật lệ ráo riết của công bình xã hội thường gọi là

“phân công” thưởng phạt hợp lý.

Tất cả mọi công dân không trừ người nào, đều phải góp

phần vào của chung. Đàng khác của chung tất nhiên lại phải

hưởng dụng để mọi công dân chia phần lợi. Tuy nhiên, phần

góp của từng cá nhân không thể như nhau và cũng không thể

bằng nhau được. Bất cứ chế độ và chính thể xã hội phải thay

đổi thể nào, thì công dân không bao giờ ở cùng một địa vị

ngang nhau được. Công dân khác địa vị và giai cấp là lẽ sống

còn của xã hội, thiếu điều đó không ai nghĩ ra một quan niệm

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 62

xác đáng về xã hội được nữa. Dầu thế nào mặc lòng, trong xã

hội phải có những người quản trị lập pháp, xử đoán, rồi giải

quyết vấn đề bình loạn; hoặc theo lời cố vấn, hoặc theo lối tự

quyết hạ lệnh. Dĩ nhiên những người ấy chiếm được một địa

vị cao hơn, và giữ ngôi độc tôn, vì họ phụ trách công ích một

cách trực tiếp. Trái lại công dân, góp phần vào công ích, tùy

theo nghề nghiệp, chẳng còn phương tiện nào hiệu lực cho

bằng.

Nhưng dầu họ chỉ gián tiếp ủng hộ công ích, họ cũng đã

góp phần rất lớn vào phúc lợi chung của xã hội. Công ích nói

đây tự nhiên phải giúp công dân hoàn thiện đời sống trước

đã, nên không ai chối được của chung trước hết thuộc về luân

lý và tinh thần. Nhưng hễ xã hội nào tổ chức tinh xảo, công

ích cũng phải bao quát một phần vật chất dư dật. Dầu vật chất

chỉ có ích bề ngoài, cũng phải có đủ, thì con người mới dễ

sống đạo đức được. Vậy trong việc sản xuất đồ vật hữu ích

này, công nhân ở xưởng máy, nông phu ở đồng quê, nói được

là người hiệu lực nhất. Hơn nữa, năng xuất của họ dồi dào

đến nỗi Ta buộc lòng nói quyết rằng : Quốc gia phú cường

hay sa sút, hoàn toàn tùy theo năng lực công nhân và nông

phu.

Vì thế, lẽ công bằng buộc chính phủ phải tận tâm chăm

lo cho phái lao động.

Chính phủ phải liệu thế nào cho phái lao động được

hưởng phần lợi do các của cải của họ cung cấp cho xã hội: họ

phải có nhà ở, quần áo và đồ dùng để cho đời sống họ bớt

phần khó nhọc và thiếu thốn; thành ra chính phủ phải ủng hộ

mọi công cuộc có tính cách cải thiện đời sống công nhân,

hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp.

Chính phủ ân cần với phận sự ấy, không những sẽ

không gây thiệt hại cho ai, mà trái lại sẽ mưu ích chung cho

TÂN SỰ 63

các công dân, vì chẳng có gì giúp cho dân nước an thịnh ,

bằng trù liệu thể nào cho những người sản xuất đủ đồ dùng

cần thiết cho xã hội, cũng thoát khỏi cảnh muôn phần túng

cực.

  1. Công quyền giữ gìn lợi ích công cộng và riêng tư

Trật tự xã hội theo lời Ta đã nói trên : cấm chính phủ

không được chi phối cá nhân và gia đình. Đúng ra thì cả hai

phải đủ tự do hành động trong mọi phạm vi không đụng chạm

công ích và không làm hại cho kẻ khác. Nhưng dầu sao chính

quyền cũng có phận sự phải săn sóc toàn thể và các thành

phần của xã hội. Toàn thể, vì Tạo hóa uỷ việc bảo tồn quốc

gia cho chính quyền. Vận mạng dân nước không những là quy

tắc tối thượng mà còn là nguyên nhân và lý do tồn tại của

chính quyền. Thành phần, vì theo luật tự nhiên, không những

chính quyền phải mưu ích cho những người hiện đang hành

quyền, mà lại phải bảo tồn phúc lợi cho cả công dân phục

quyền nữa. Về điểm ấy, triết lý và giáo lý Chúa Kitô đều

đồng ý. Ngoài ra, mọi quyền bính đều bởi Thiên Chúa, và chỉ

thông phần quyền uy tối thượng của Người. Bởi thế, những

người được Chúa uỷ quyền thì phải hành quyền ấy theo

gương Chúa, là Cha nhân lành, cùng một lòng săn sóc từng

con vật, cũng như Người trông nom cả vũ trụ. Thành ra hễ khi

nào lợi ích chung hay lợi ích riêng của một giai cấp bị xâm

phạm hay lâm nguy, mà không thấy phương cách nào khác để

cứu trợ thì tất nhiên phải yêu cầu chính phủ can thiệp.

  1. Quốc gia can thiệp để bảo vệ người lao động

Điều kiện cần thiết cho tổ quốc và từng công dân được

cứu trợ, là tổ chức trật tự và an ninh ở khắp nơi. Phận sự toàn

diện là :

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 64

  1. a) Quy định mọi chi tiết trong gai đình theo Đạo thánh

Chúa và luật tự nhiên;

  1. b) Bắt mọi công dân tôn trọng và noi giữ tôn giáo;
  2. c) Tận tâm bảo vệ thuần phong mỹ tục trong đời sống

công và đời sống tư;

  1. d) Kính cẩn tuân giữ công bằng và không bao giờ để

cho một giai cấp nào áp bức một giai cấp khác mà không bị

trừng phạt;

  1. e) Sinh trưởng và giáo dục những thế hệ cường tráng để

chống đỡ, và nếu cần bảo vệ non sông nữa.

Bởi vậy nếu phái lao động làm dở dang với công việc,

tổ chức đình công vô lý, làm rối cuộc trị an nếu tinh thần thích

nới lỏng giữa đám công nhân; nếu tôn giáo bị giầy xéo trong

giai cấp lao động, vì chủ nhân làm ngăn trở cho họ khó trọn

phận sự đối với Thiên Chúa; nếu trai gái chung lộn hay xảy ra

những cuộc khiêu dâm khác, làm bại hoại phong hóa trong

xưởng máy; nếu chủ nhân ức bách thợ thuyền quá độ và bất

công, lại bắt họ gánh vác những ách nô lệ gian ác trái ngược

với nhân phẩm của họ; nếu chủ nhân bắt họ làm những việc

quá sức không đúng tuổi tác, không hợp chủng tính nam nữ

của họ, thì trong trường hợp đó chính quyền buộc phải dùng

luật pháp mà can thiệp tùy theo công lý chỉ dạy. Lý do bắt

buộc luật pháp can thiệp, cũng ấn định giới hạn can thiệp của

luật pháp: Nghĩa là ngoài sự ngăn ngừa tai hại và sửa chữa cơn

bệnh, luật pháp phải dừng lại, không được làm gì hơn. Trong

bất kỳ vi phạm nào, chính quyền phải tôn trọng mọi quyền lợi

chính đáng. Phận sự chính phủ là bảo tồn quyền lợi công dân,

hoặc ngăn đón chớ để ai phạm đến, hoặc xử phạt kẻ đã lỗi

phạm.

TÂN SỰ 65

Tuy nhiên chính phủ bênh vực quyền lợi cá nhân, thì

phải đặc biệt chú trọng đến kẻ yếu hèn và bần cùng. Hàng

phú gia đủ tiền của bảo vệ mạng sống, cần gì phải có chính

quyền che chở nữa. Trái lại, hạng dân đen đâu có tiền quan

bạc nén mà tránh được những nỗi bất công ! Họ cần nhờ

chính phủ bảo vệ thì mới thoát nạn xã hội được. Vì vậy chính

phủ phải chú trọng đến hạng người lao công một cách ân cần

hơn, vì họ ở bậc đa số những người vô sản phận bạc.

  1. Bảo vệ phong tục và các quyền tư hữu

Vì công ích đòi hỏi, ta nên bàn giải riêng về vấn đề

quan trọng sau đây :

Trước hết, pháp luật quốc gia phải ủng hộ và bênh vực

quyền tư hữu một cách đặc biệt. Thiên hạ ngày nay bồng bột

trôi theo những dục vọng sôi nổi. Việc khẩn cấp chính phủ

phải đảm nhiệm là buộc dân tôn trọng nghĩa vụ không bao

giờ phạm đến.

Ai cũng cố sức vươn mình lên một địa vị khả quan,

nhưng không ai ra khỏi biên giới công bằng được. Trái lại,

dùng võ lực mà cướp đoạt tài sản của kẻ khác, việc cớ bình

đẳng mơ hồ là những hành động bị công lý lên án, bị công

kích cự tuyệt. Đã hẳn, số công dân tìm cải hóa thân phận

bằng những công việc liêm chính, tránh mọi sự bất công vẫn

là đa số. Nhưng cũng không thiếu gì công dân bị những tà

thuyết nhồi sọ, ham chuộng những sự kỳ lạ, nên cứ dùng mọi

phương cách gây loạn mà lôi cuốn bạn bè đến bạo động. Khi

ấy chính phủ phải dùng đến quyền riêng để can thiệp. Giam

cấm những tay chủ động xúi giục dân chúng, chính phủ mới

che chở những công tục khỏi bị phá hoại, và bảo vệ những sở

hữu hợp pháp khảo bị cướp bóc.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 66

  1. Phòng ngừa các cuộc đình công

Vì công việc nhiều khi kéo dài mãi, rất đỗi nặng nề,

tiền lương trả công lại quá hạ, thì thường xảy ra những đồng

mưu đình chỉ công việc giữa hàng công nhân. Họ đình công.

Vậy trong trường hợp đó, chính phủ phải điều trị những

tai hại rất thường và nguy hiểm ấy. Những cuộc đình công ấy

quả thật gây thiệt hại lớn cho cả chủ nhân và công nhân. Hơn

thế nữa những cuộc ấy làm ngưng trệ việc thương mại, và hại

đến công ích xã hội rất nhiều. Vì những cuộc đình công nói

trên thường hóa thành những vụ bạo động và hỗn loạn, nên

sự an ninh quốc gia lâm nguy là sự thường.

Bởi thế giải pháp hiệu nghiệm và hữu ích hơn là chính

phủ lập luật, để dự phòng tai hại và ngăn ngừa nó trước để nó

khỏi phát ra. Như vậy, chính phủ khôn khéo bài trừ đủ mọi lý

do thường hay gây nên sự xung đột giữa chủ và thợ.

  1. Tôn trọng phẩm giá con người.

Bảo đảm việc nghỉ ngơi hằng tuần.

Công nhân còn rất nhiều quyền lợi đòi chính phủ phải

hết sức bảo vệ. Trước hết là những lợi ích phần hồn. Mạng

sống thể xác, dù quý báu đáng chuộng đến đâu đi nữa, cũng

không phải là cùng đích đời người. Nó chỉ là đường lối và

phương tiện đưa người đến sự chân thực thiện mỹ, cần thiết

cho phần hồn được hạnh phúc hoàn hảo; chính phần hồn của

con người là giống Chúa và mang lấy hình ảnh của Chúa đã in

sâu vào mình ta. Chính vì phần hồn mà con người giữ được

chủ quyền. Thiên Chúa phú ban khi ra lệnh cho nhân loại

khôi phục thiên hạ mà khiến cả bốn bể năm châu phải cấp sự

cần cho : “Hãy sinh sôi cho đông và chinh phục cả hoàn cầu.

TÂN SỰ 67

Hãy cai trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời, cùng loài

cầm thú ở khắp mặt đất”.

Về phương diện này mọi người đều bình quyền như

nhau, kẻ giầu người khó, chủ tớ, vua tôi không có chỗ nào

khác nhau. Hết thảy đều chỉ một chúa tể như nhau. Không ai

phạm đến chức phẩm con người mà không mắc phải tội vạ.

Chức phẩm ấy được chính Thiên Chúa tôn trọng, cũng không

ai được cản trở con người tiến đến sự hoàn thiện đối ứng cùng

đời sống trường sinh trên thiên đàng. Hơn nữa chính con

người bị cấm không được phế bỏ nhân phẩm của mình, mà hạ

giá linh hồn đến bậc nô lệ. Nhân phẩm không phải chỉ là một

chức quyền. Ai cũng tùy ý tôn trọng hay khinh thường đâu.

Đó là chức vụ, buộc con người lại với Chúa, ai cũng phải kính

cẩn đảm nhiệm.

Vì chức vụ bất khả xâm phạm này, ngày Chúa nhật con

người bắt buộc phải nghỉ ngơi và ngừng tay làm. Ngày nghỉ

này không phải là một ngày an nhàn cho mình ở nhưng vô

ích; hay theo ý nguyện của đa số, cho mình tha hồ thỏa mãn

dục vọng, phung phí tiền lương. Ngày ấy cần phải thánh hóa,

đúng theo đạo Chúa dạy. Được tôn giáo thánh hóa, chúa nhật

công nhân nghỉ việc để dưỡng sức và tạm quên những mối lo

thường ngày. Ngày ấy cũng gây dịp cho công nhân hứng tâm

lên, suy gẫm đến những lẽ sống siêu nhiên.

Đó là đặc tính và lý do tại sao con người buộc phải nghỉ

ngày thứ bảy. Chính Thiên Chúa đã biên ghi điều ấy trong bộ

luật Cựu ước rằng : Hãy nhớ thánh hóa ngày thứ bảy. Đã hoàn

tất công việc tạo thiên lập địa mà dựng nên con người rồi,

Thiên Chúa làm gương bí nhiệm nghỉ ngơi : ngày thứ bảy, đã

hoàn tất công việc Thiên Chúa an nghỉ…

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 68

  1. Xác định điều kiện và thời giờ làm việc

Về những quyền lợi vật chất và phần xác chính phủ

phải cư xử thế nào?

Trước hết chính quyền phải cứu giới lao công, khỏi tay

những người mưu trí bóc lột; Họ chẳng phân biệt con người

với bộ máy, nên cứ lợi dụng công nhân làm đồ thỏa mãn

tham vọng quá đáng của họ. Bắt công nhân làm việc đến nỗi

thần trí họ phải đần độn, thân xác hao mòn kiệt quệ; là một

thái độ bất nhân, công lý và nhân đạo không thể dung tha

được.

Năng lực hoạt động của con người cũng có hạn, không

kém bản thân nó. Năng lực ấy tự nhiên có thể tăng lên vì thói

quen và sự tập luyện. Nhưng thể nào cũng phải có những giờ

rảnh rang nghỉ việc. Tỉ dụ như giờ làm việc mỗi ngày không

được vượt quá chừng mực làm việc của công nhân. Nhưng giờ

nghỉ phải xếp đặt tùy theo công việc nặng nhẹ; công nhân

khỏe yếu thể nào; cũng phải thùy theo từng nơi và thời tiết.

Những công nhân đêm ngày bới đất tìm tòi mỏ khí thu dấu

như đá, sắt, đồng thì làm một công việc khó nhọc và hại cho

sức khỏe. Vậy việc làm càng mệt nhọc thì những giờ làm

càng phải rút ngắn.

Cũng nên xét tùy theo thời tiết nữa. Tỉ dụ có những

công việc mùa này thì dễ, mùa kia hoặc không ai chịu được,

hoặc có người làm nhưng phải vất vả vô cùng.

Sau nữa có việc đàn ông khỏe mạnh, người trai tráng

làm được; thì không ai bắt đàn bà hay thiếu nhi phải làm, nhất

là các thiếu nhi – điều này rất quan trọng – cấm không được

vào xưởng mày nào, trước khi sinh lực phần xác, phần hồn và

luân lý được mở mang điều hòa. Quên điều ấy thiếu nhi sẽ

TÂN SỰ 69

như cây cỏ non tàn úa sớm, vì lúc còn nhỏ đã đi làm, nên

không được giáo dục cẩn thận.

Cũng có công việc không hạp với tính tự nhiên của phụ

nữ, vốn được Tạo hóa uỷ cho họ việc tề gia nội trợ. Ngoài ra

các công việc vốn bảo toàn danh dự của nữ giới và thích hợp

với nhiệm vụ tự nhiên giới này, là giáo dục con cái và phát

triển gia nghiệp.

Vậy cứ luật chung, thời hạn nghỉ việc phải tính theo sức

lực công nhân phải hao tổn, nên cần tu bổ lại. Quyền nghỉ

hàng ngày và đình chỉ công việc chúa nhật là điều kiện phải

ghi chú công khai hay mặc nhiên trong giao kèo giữa chủ và

thợ. Bản giao kèo nào không thừa nhận điều kiện ấy thì phải

kể như bất nhân, vì không chủ nào ép buộc công nhân và

không công nhân nào hứa được sẽ phạm đến bổn phận con

người đối với Chúa và đối với nhân phẩm của mình !

  1. Chăm lo việc ấn định một lương bổng công bằng

Bây giờ ta chuyển sang một điểm quan trọng khác cũng

thuộc về vấn đề này : Muốn giải quyết điểm ấy, mà tránh

được mọi sự quá đáng, thì trước hết ta phải định nghĩa cho

đúng. Phải trả công thợ thế nào cho phải chăng ? Kẻ thì rằng :

về tiền công, thì chủ thợ tự ý thỏa thuận; chủ trả tiền thợ

đúng theo giao kèo thì đôi bên không phải thắc mắc gì nữa.

Họ chỉ phạm lỗi công bình khi chủ trả tiền thiếu, hay khi thợ

không làm trọn công việc theo đúng với bản giao kèo. Trong

trường hợp này không ai ngoài chính phủ phải can thiệp để

bảo vệ quyền lợi đôi bên.

Kết luận như vậy, không ai là thẩm phán chính trực

nhận được vô điều kiện… vấn đề trả công thợ rất phức tạp.

Giải pháp nói trên, thì nông cạn mà lại quên lãng một điều

mà là điểm chính: làm việc, là xuất lực kiếm kế sinh nhai, để

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 70

cấp đủ sự cần cho đời sống, và nhất là để duy trì mạng sống

của mình; “con sẽ đổi bát mồ hôi lấy bát cơm” vì thế cần lao

có hai đặc điểm tự nhiên :

a) Nhân cách: Cần lao bầy tỏ nhân cách của con người:

năng lực sản xuất, phụ tùy bản thân con người. Nó ở dưới chủ

quyền của người động viên, hưởng dụng và lĩnh nhận nó để

bổ khuyết bản thân, và mưu cho đời sống riêng của mình.

b) Cần thiết: Cần lao lại cần thiết, vì con người phải

dùng những hiệu quả bởi công việc đã làm ra, để duy trì

mạng sống là một phận sự Tạo hóa buộc ai nấy phải đảm

nhận. Lệnh Tạo Hóa thì tuyệt đối, ai cũng phải tuân phục. Vì

cần lao bày tỏ nhân cách phù thuộc chủ quyền của công

nhân, thì tất nhiên công nhân tự do giảm bớt định giá tiền

lương chủ phải trả công cho. Người quyết chí xuất công, thì tự

do đòi tiền lương nhiều hay ít, có lẽ lại không đòi hỏi đồng

nào hết.

Nhưng cần lao cần thiết để duy trì mạng sống, ai cũng

nhớ không quên. Sự thực hai đặc điểm nhân cách và cần thiết

của cần lao, có thể phân tách trong lý trí, nhưng trong thực tế

thì cả hai đi đôi với nhau. Bảo tồn sinh mạng là một bổn phận

bắt buộc. Ai phạm đến thì phải mắc tội. Đã nhận bổn phận ấy

lẽ cố nhiên, ai cũng có quyền tìm kiếm những sự vật cần thiết

để nuôi thân. Mà kẻ nghèo thường phải lấy gì để sinh sống ?

Họ chỉ biết nhờ tiền công làm lụng vất vả mà có.

Cho nên chủ thợ cứ giao ước với nhau tùy ý họ. Họ cứ

thỏa thuận với nhau về số tiền công phải có bao nhiêu. Nhưng

trên mọi ý định của họ, có một điều luật công bằng tự nhiên

vừa cao hơn, vừa lâu dài hơn mà họ không được phế bỏ. Luật

ấy định giá tiền công phải đủ cho những công nhân tiết kiệm

và liêm chính được nuôi sống cho xứng nhân vị con người.

Giá như công nhân vì tình trạng khốn cực hay vì sợ mắc phải

TÂN SỰ 71

họa ghê hơn, buộc lòng phải nhận những điều kiện khắt khe

do chủ nhân hay người thuê mình đưa ra, thì người bị áp bức

chịu thiệt, là một tội ác công lý không thể nào tha được.

Trong những trường hợp này, và những trường hợp khác

tương đương; về những chi tiết định công nhật, săn sóc sức

khỏe công nhân trong xưởng máy … chính quyền khó can

thiệp cho thích nghi và hiệu nghiệm, vì đó là những hoàn

cảnh tùy theo thời tiết và từng nơi, thành ra nên dành quyền

can thiệp và giải quyết cho các nghiệp hội hay nghiệp đoàn ta

sẽ nói kèm theo đây.

Không tin ở những hội đoàn ấy, thì hãy tìm phương

pháp khác để bảo vệ quyền lợi công nhân, và nếu cần hãy

kêu đến chính phủ xin trợ lực bảo vệ.

  1. Khai triển tinh thần sở hữu

Công nhân lãnh lương vừa phải sẽ lo thỏa mãn sự cần

riêng và cấp đủ nhu cầu cho gia đình, nếu là người khôn

ngoan thì sẽ sinh sống tiết kiệm nữa. Nghe theo lời thiên

nhiên ngấm ngầm khuyên bảo người công nhân sẽ dành dụm

ít tiền của để một ngày kia được tạo ra một gia nghiệp phải

chăng.

Quả thật, ai cũng đủ rõ, muốn giải quyết được vấn đề

này cho có hiệu quả, thì trước hết ta phải nhận quyền tư hữu

là một quyền căn bản bất khả xâm phạm. Pháp luật phải hết

sức ủng hộ, đánh thức, đề cao tinh thần sở hữu trong đủ mọi

tầng lớp xã hội lao động. Nó sâu rộng chừng nào thì hay

chừng nấy !

Kết quả này mà thu được, thì nó sẽ là một nguồn lợi

quý hóa biết bao.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 72

Trước thì sự phân công chia của chắc được công bằng

hơn. Vì những cuộc đảo lộn xã hội kịch liệt hiện tại, thì xã hội

bị chia ra làm hai giai cấp cách nhau một vực một trời. Một

giai cấp thì thế lực mạnh mẽ vì giầu sang quá đỗi có toàn

quyền đến công thương, cho nên những nguồn phú quý đều

quy tụ về với họ, nên họ dành riêng đủ mọi mối lợi. Ngoài ra,

họ cầm sẵn trong tay những then chốt của nền hành chánh

quốc gia. Còn giai cấp kia thì thu hợp lại đa số những người

yếu nhược bần cùng, chỉ cùng chung một lòng oán hận, lúc

nào cũng sẵn sàng nổi lên để quấy rối.

Vậy ta biết thúc đẩy lòng dân phấn khởi lên vì hy vọng

mai này, sẽ được một phần đất sở hữu riêng, ắt các vực sâu

đã phân chia giai cấp phú quý và giai cấp bần cùng sẽ được

lấp đầy dần dần, và hai giai cấp hiện kình địch nhau sẽ lại

thân thiện với nhau.

Lại nữa, thiên nhiên sẽ sản xuất hoa màu công ích gấp

trăm ngàn lần. Theo bản tính con người khai khẩn một nguồn

lợi để làm sở hữu riêng, thì càng hăng hái và siêng năng làm

việc hơn. Nhiều khi họ để cả lòng trí vào đám đất đã cày cấy,

vì đám đất ấy hứa cho họ và cả gia đình những sự thiết dụng

và cả một ít sự thư thái nữa. Ai cũng thấy lòng siêng năng

hăng hái kia mang lại bao kết quả tốt đẹp hơn, tức là đất thêm

phần phì nhiêu, quốc gia lại thêm phần phong phú.

Còn một kết quả nữa : phong trào tản cư đi chỗ khác sẽ

ngừng lại, hẳn không ai tình nguyện bỏ quê cha đất tổ để

sang ở những xứ lạ, nếu kẻ ấy đã có đủ kế sinh nhai nơi quê

nhà.

Cuối cùng, thì có một điều kiện cần thiết cho mọi người

được hưởng trong thực tế những lợi ích Ta mới diễn tả bằng

bút mực :

TÂN SỰ 73

“Đừng để quyền tư hữu hao mòn vì phải đóng thuế nhiều

và quá nặng”.

Quyền tư hữu bởi luật thiên nhiên, chớ không phải bởi

luật nhân tạo lập ra. Nên chính quyền không thể nào bãi bỏ

được. Chính quyền chỉ được gia giảm cách dùng quyền ấy và

cho nó hòa hợp với công ích. Thành ra chính quyền đi ngược

lại với chân lý và nhân đạo, khi lấy cớ phải đóng thuế, mà bắt

sở hữu tư nhân phải đóng quá nặng.

CÁC NGHIỆP ĐOÀN

  1. Anh hưởng tốt của nghiệp đoàn trong xã

hội

Sau hết chính phủ và thợ cũng có thể góp một phần

trong việc giải quyết vấn đề này nhờ các công cuộc hiệu

nghiệm do họ tổ chức để nâng đỡ hạng người túng thiếu và

thân thiện hóa hai giai cấp xã hội…

Trong những công cuộc đó, có những hội tương tế; có

những hội đoàn tư nhân sáng lập để cứu giúp công nhân, có

những hội bảo trợ nhi đồng nam nữ…

Nhưng đứng đầu là các nghiệp đoàn bao quát đủ mọi

công cuộc từ thiện có thể lập ra được.

Xưa kia tổ tiên ta đã thụ hưởng phước thiện của các

nghiệp đoàn ấy. Trước hết, nghiệp đoàn đem lại cho công

nhân bao nhiêu phúc lợi, sau nữa có bao nhiêu thành tích

chứng minh rằng nghiệp đoàn đã làm các mỹ nghệ phát triển

rực rỡ và thịnh đạt.

Ngày nay lớp hậu tiến được giáo dục sâu rộng hơn, biện

pháp được khai trương thêm mãi; những đòi hỏi của đời sống

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 74

càng ngày càng phức tạp hơn. Cho nên các nghiệp đoàn phải

tổ chức lại cho thích hợp với những hoàn cảnh mới của đời

sống. Ta hân hạnh thấy đâu đâu bao công đoàn được lập ra

theo mục đích ấy, hoặc riêng cho công nhân, hoặc mở rộng

cho cả chủ nhân tham gia vào. Mong rằng các hội đoàn ấy sẽ

càng tăng thêm và hành động càng đắc lực thêm.

Vấn đề công đoàn này biết mấy lần được Ta nêu lên.

Kèm theo đây là chỉ giải thêm vài điều : Thứ nhất các công

đoàn ấy cần thiết và hợp thời; thứ hai là những hội đoàn hợp

pháp luật; thứ ba, cách tổ chức chương trình hành động phải

như thế nào.

  1. Những hội tư có mục đích hạn hẹp

Kinh nghiệm dạy rằng : năng lực sản xuất của con người

thì có chừng hạn. Nên ai cũng thấy cần phải chung lưng đấu

cật cùng anh em. Thánh Kinh lại rằng : Hai người ở với nhau

còn hơn mỗi người ở một mình. Ở chung với nhau thì phúc lợi

bao nhiêu. Người này ngã thì được người kia nâng đỡ; lại câu

này nữa : người được anh em nâng đỡ thì vững như một cái

thành kiên cố. Xu hướng tự nhiên ấy là cái mầm tự nhiên nảy

ra trong xã hội dân chính trước, rồi trong xã hội cứ nảy thêm

các đoàn thể khác, tuy nhỏ hẹp và kém hoàn hảo, nhưng

cũng là hội đoàn chính thức.

Các hội đoàn nhỏ này thì khác xã hội lớn kia, ở nhiều

chỗ phụ thuộc mục đích của chúng.

Mục đích xã hội dân chính, thì bao quát các công dân ý

thức công ích. Mọi người có phận sự gây dựng, và từng người

có quyền hưởng phần nhiều ít tùy theo tỷ lệ công tác của họ.

Xã hội này gọi là “công” vì nó hợp tất cả mọi người

thành một dân nước. Trái lại, các hội đoàn được lập ra trong

TÂN SỰ 75

xã hội ấy toàn là những hội tư. Hội tư, vì mục đích trực tiếp là

mưu ích riêng cho các hội viên. Một hội tư thì được lập ra vì

một mục đích tư, như khi đôi ba người chung hợp nhau để

buôn bán.

  1. Quốc gia không thể cấm cản các hội tư

Các hội tư này, là thành phần của xã hội dân chính, nên

chỉ tồn tại được trong xã hội ấy. Nói vậy là nói chung, nói

theo tính cách riêng của chúng, nên không ai kết luận được

rằng : chính phủ toàn quyền từ chối không cho thành lập.

Quyền lập hội tư, là quyền tự nhiên của con người. Xã

hội dân chính lại được lập ra để bảo vệ quyền tự nhiên của

con người, chứ không phải là để phế bỏ nó. Thành ra hễ xã

hội dân chính cấm công dân không được lập hội tư, thì xã hội

ấy chỉ diệt mình thôi. Vì tất cả mọi hội công và mọi hội tư đều

cùng chung một nguồn gốc là tính hợp quần của nhân loại.

Quả thật, có những trường hợp buộc pháp luật phải cấm

không cho lập những hội tư này. Tỉ dụ như xét theo điều lệ,

có những hội tư theo đuổi một mục đích trái ngược với sự

minh chính, sự công bằng, hay an ninh quốc gia. Đối với

những hội đó, chính phủ phải cấm không cho thành lập. Và

nếu đã thành lập chính phủ có quyền giải tán. Nhưng dầu sao,

chính phủ cũng phải can thiệp một cách rất khôn ngoan.

Chính phủ phải tránh mọi hành động vốn vi phạm quyền lợi

của các công dân, và không được lấy cớ bảo vệ công ích mà

quyết định những điều trái lý.

Công dân chỉ bắt buộc phục luật khi luật ấy hợp với

chính lý, và đạo vĩnh cửu của Thiên Chúa.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 76

  1. Trường hợp các dòng tu

Đến đây Ta phải nhắc đến những giáo đoàn hay dòng tu

đủ thứ do lòng đạo đức của tín hữu lập ra dưới quyền giáo hội

chuẩn y. Lịch sử từ xưa đến nay vẫn minh chứng các dòng tu

nam nữ kia, đã rưới ra bao ân ích cho nhân loại. Cứ lẽ tự nhiên

mà xét, thì các dòng tu đã được lập ra vì những mục đích

đứng đắn, và do đó đã căn cứ vào luật tự nhiên. Về mặt tôn

giáo, các tu viện kia chỉ thuộc về giáo quyền của hội thánh

thôi. Thành ra chính phủ không lẽ nào mà đòi quyền đến các

dòng tu. Huống chi đòi quyền quản trị. Trái lại, chính phủ có

phận sự tôn trọng, bảo vệ, và nếu cần lại bênh vực nữa.

Nhưng lạ thay ! việc mới xảy ra thì lại trái ngược hết. Ở

nhiều dân nước, chính phủ đã nhúng tay vào nội bộ các tu

viện, và chồng chất hết sự bất công này trên sự bất công kia.

Nào là bắt tu sĩ phải theo luật đời; nào là truất tư cách pháp

nhân của họ, nào là tước đoạt hết tài sản. Đáng lẽ những tài

sản ấy, phải được công nhận là sở hữu của giáo hội : mọi tu sĩ

có phần quyền đến lại thêm quyền của những ân nhân đã

định thể thức hưởng dụng, và quyền lợi của nạn nhân được

nâng đỡ bằng những tài sản ấy.

Cho nên Ta ưu sầu nhưng cũng buộc lòng phải lên án

những cuộc cưỡng đoạt bất công và tai hại đó. Thật là một

việc vô lý, vì đang lúc chính quyền cấm cách các giáo đoàn

kitô hữu này thì lại xác nhận các hội tư kia là hợp pháp.

Quyền mà họ không chịu ban cho những người thuận hòa, chỉ

sống vì ích lợi chung, sao họ lại rộng rãi nhường cho bao

người mưu toan làm hại cho cả tôn giáo lẫn quốc gia?

TÂN SỰ 77

  1. Công nhân kitô hữu khó chọn lựa trước một

số hội đoàn

Quả thực, suốt trong lịch sử nhân loại chưa có đời nào

các hội tư được thành lập nhiều và đủ mọi mục đích, nhất là

các nghiệp đoàn, bằng đời ta bây giờ. Ở đây, ta không cần tìm

cho ra các hội đoàn ấy bởi đâu mà có, mục đích là gì và

thường theo đuổi mục đích bằng cách nào . Nhưng đây là một

dư luận : – một dư luận không thiếu chứng cớ – các hội đoàn

ấy được chỉ huy ngấm ngầm do những người cùng một lệnh

kín, ngược lại với danh nghĩa kitô hữu, và gây bao nguy hại

đến an ninh quốc tế. Các hội đoàn ấy đã chiếm đoạt được mọi

xí nghiệp rồi, thì hễ công nhân nào từ chối không chịu gia

nhập, thì công nhân ấy phải sống túng cực, để đền tội ngỗ

nghịch ấy. Trong trường hợp đó, công nhân công giáo chỉ có

hai đường lối, mà lại bắt buộc chọn lấy một : một là nhập vào

những hội đoàn ấy, là mối nguy hiểm lớn cho đức tin của họ;

hai là tổ chức những hội đoàn riêng, để cùng nhau góp sức và

mạnh bạo trút ách bất công kia không ai chịu được.

Thật không ai là người tận tâm cương quyết cứu đỡ

công ích tối cao của nhân loại khỏi tai nạn kinh khủng ấy, mà

còn hồ nghi được, họ phải chọn đường thứ hai.

  1. Những công đoàn công giáo

Bởi vậy, Ta phải cả tiếng ca tụng lòng nhiệt thành của

một số đông kitô hữu đã ý thức những đòi hỏi của thời cuộc,

mà lại dò dắt tình thế kỹ lưỡng, để tìm ra một con đường

chính đáng, mà đưa giai cấp lao động đến một trình độ cao

hơn. Họ đã đứng dậy để bênh vực giai cấp lao động. Họ tìm

trăm ngàn phương cách để nâng cao sự thịnh đạt cá nhân và

gia đình của công nhân. Họ tìm phương liệu kế quy định cho

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 78

đúng phép công bằng những mối liên lạc giữa chủ và thợ. Họ

không ngừng nhắc nhủ và củng cố đôi bên tuân giữ phận sự

và đạo phúc âm, toàn là những điều luật giúp con người bác

bỏ những sự quá khích, tập cho con người sống điều độ lại,

duy trì sự hòa thuận giữa các dân nước được êm thấm. Nương

theo lý tưởng ấy, thì bao nhiêu người tài đức lỗi lạc hay tổ

chức những hội nghị, cho họ tiện dịp trao đổi ý kiến, chung

sức góp lực và ấn định những chương trình hành động rất hợp

thời. Còn bao nhiêu người khác thì đua nhau lập ra những

công đoàn theo từng ngành chuyên nghiệp để quy tụ các

công nhân. Họ lại giúp lời chỉ giáo, giúp tài chính và tính liệu

cho các bạn đồng nghệ luôn luôn có công ăn việc làm, hẳn

hoi hiệu lực.

Các giám mục về mặt khác, thì không ngừng khuyến

khích và đem uy quyền bảo trợ những hành động ấy. Nhận

lệnh giám mục và dưới quyền che chở của giáo phẩm, cũng

có những linh mục, hoặc ở bậc tu trì, hoặc ở bậc triều cũng

tận tâm hiệp lực, để cấp đủ sự cần phần hồn cho các đoàn

viên.

Sau hết, thì không thiếu những hạng người công giáo có

tiền ức bạc triệu, đã tự ý kết nghĩa bạn bè với các công nhân

và không quản tổn hao, để thành lập và khuếch trương các

công đoàn ở khắp đó đây. Công nhân nhờ đó mà hưởng phần

sung túc ngay từ bây giờ, và đến khi họ lão thành thì họ được

hy vọng an nghỉ xứng đáng.

Những hành động đủ mọi mục đích và rất phấn khởi

này đã thực hiện giữa các dân tộc, những phúc lợi vĩ đại ai

cũng biết đến. Nên ta không cần dài lời đi sâu vào từng chi

tiết. Đối với ta, đó là việc tiên báo cho thế giới một tương lai

rực rỡ. Ta hy vọng các nghiệp đoàn kia cứ tuần tự phát triển

trong sự khôn ngoan cần thiết cho mọi tổ chức nhân tạo, sẽ

TÂN SỰ 79

kết quả rất tốt đẹp. Mong chính quyền luôn luôn bảo vệ

những tổ chức hợp pháp này mà không bao giờ nhúng tay vào

việc nội trị của chúng, và không bao giờ động đến những

động lực mật thiết là lẽ sống của chúng.

Sự sống cốt ở một nội lực phát ra, mà lại dễ tiêu đi, khi

gặp phải những ngoại hưởng bất hợp.

  1. Tổ chức nghiệp đoàn

Lẽ dĩ nhiên nghiệp đoàn phải có tổ chức và kỹ thuật,

vừa khôn ngoan vừa cẩn trọng thì hành động mới duy nhất,

nhân viên mới đồng tâm nhất trí. Vậy nếu ta nhận thực rằng :

công dân tự do hội họp, ắt công dân tự do đặt ra cho hội đoàn

của họ những điều lệ và những quy định hợp với mục đích họ

quyết theo đuổi. ta thiết tưởng rằng : Ta khó an định những

phương thức rõ ràng và chắc chắn về những điều lệ và những

quy định đó. Mọi sự đều tùy thuộc đặc tính của từng dân, từng

nước; tùy theo những điều thí nghiệm và lịch lãm; tùy theo

mọi công việc; tùy theo thương mại khuếch trương nhiều hay

ít; và cũng còn tùy theo thời thế hoàn cảnh nữa. toàn là những

điều cần thiết phải xét kỹ.

Đại cương ta chỉ nói được rằng : mực thước chung và

bền vững ai cũng phải tuân theo, là mỗi nghiệp đoàn phải

được tổ chức và chỉ huy làm sao cho các nhân viên tìm đủ

phương tiện cần thiết để bước tới mục đích họ theo đuổi một

cách mau chóng và dễ dàng hơn cả. Mục đích ấy là cho mỗi

người thêm phúc lợi hồn xác và tăng gia sản xuất chừng nào

hay chừng ấy.

Nhưng lẽ cố nhiên mục đích đầu tiên ai cũng phải nhắm

tới là cải thiện đời sống nhân viên. Về mặt luân thường đạo

hạnh. Mục tiêu này là quy tắc căn bản của nền kinh tế xã hội.

Khinh thường điều ấy, thì các nghiệp đoàn kia không chóng

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 80

thì chày sẽ suy đồi, và xuống cùng một hàng với các hội hè

vô tôn giáo. Quả thực công đoàn cho các nhân viên sung mãn

về vật chất mà lại thiếu lương thực phần hồn, thì nào có ích gì

cho thợ thuyền hằng liều mình mất linh hồn.

Khôi phục cả thiên hạ mà phải mất linh hồn nào có ích

gì! Theo Chúa Kitô ta phải đặt điểm này phân rõ Kitô hữu và

tha dân: tha dân thì tham của phàm trần, còn anh em thì hãy

tìm nước Chúa, còn mọi sự khác thì sẽ được ban thêm dư dật.

Vậy đã lấy lòng tin ở Chúa làm khởi điểm, ta phải dành

phần chính chương trình cho việc học đạo lý, để cho ai nấy

hiểu rõ phận sự của mình đối với Chúa. Những điều phải tin,

những điều phải trông cậy, toàn là những điều phải dạy cho

công dân rất kỹ lưỡng. Phải săn sóc họ một cách rất đặc biệt

cho họ khỏi nhiễm các tà thuyết và tật xấu. Ta hãy lo cho

công nhân thành thật kính thờ Chúa. Luôn luôn đề cao lòng

đạo đức và nhất là trung thành giữ ngày Chúa nhật và các

ngày lễ trọng. Mong công nhân tôn kính và mến phục Hội

Thánh là thân mẫu chung của các Kitô hữu; mong họ tuân giữ

luật Giáo Hội, năng chịu các Phép Bí Tích là những nguồn

mạch thiên hiệu, cho họ rửa sạch mọi vết nhơ và được thánh

hóa nữa.

  1. Chương trình hành động của nghiệp đoàn

Khi đã đặt tôn giáo làm nền tảng luật pháp xã hội thì ta

rất dễ dàng ấn định những mối tương quan cần thiết cho các

nhân viên luôn luôn hòa thuận và thịnh đạt trong xã hội.

Phận vụ thì khác nhau, nhưng phải phân phối thế nào

cho thuận tiện để mưu ích chung, và liệu cho khỏi sự chênh

lệch hại đến sự “đồng tâm nhất trí” của mọi tầng lớp xã hội.

Việc tối cần là phân công cho sáng suốt, phân minh kẻo có

người phải chịu sự bất công. Phần của chung phải quản trị cho

TÂN SỰ 81

thanh liêm, phần lương trợ cấp cho mọi người lại phải tiền

định tùy theo công nghiệp và tài trí của từng người.

Quyền lợi và phận sự của các chủ nhân, cũng phải được

dung hòa hoàn toàn với quyền lợi và bổn phận của công

nhân.

Trong những trường hợp chủ nhân hay công nhân bị

thiệt hại cách nào, thì ta mong điều lệ công hội có khoản uỷ

thác cho các nhân viên khôn ngoan và liêm chính hơn cả, lấy

tư cách trọng tài mà phân xử điều xích mích.

Lại phải tiên liệu làm sao cho công nhân không bao giờ

thiếu việc làm, và lập sẵn một phần vốn tích trữ, để đề phòng

khỏi những tai nạn bất ngờ thường xảy ra trong xí nghiệp đã

đành; mà lại phải đề phòng khi bệnh tật, tuổi già và những

khi thất cơ lỡ vận nữa.

Thi hành những luật lệ kể trên, nếu người ta thật lòng

thì cũng đủ cho hạng người nghèo hèn ấm no và thư thái đôi

phần.

Nhưng các nghiệp đoàn công giáo còn có thể góp phần

rất quan trọng vào nền thịnh vượng chung. Xét quá khứ và

phỏng đoán tương lai, không phải là táo bạo đâu. Đời này thay

thế cho đời kia, nhưng mọi sự xảy ra cùng giống nhau lạ lùng.

Chúa quan phòng xếp đặt mọi việc để cho loài người luôn

luôn hướng về cứu cánh Người đã tiền định ngay trong lúc tạo

thiên lập địa.

Thời kỳ giáo hội mới phôi thai, người ta hay tố cáo giáo

dân tiên khởi, toàn là những kẻ bần cùng, chỉ sống nhờ của

bố thí hay lao công vất vả. Dầu sao bổn đạo thời kỳ đó thiếu

thốn, không quyền thế nào, họ cũng khiến được kẻ giầu

người sang thông cảm thân phận họ. Ai cũng cảm phục các

kitô hữu siêng năng, cần mẫn, thuận hòa, nêu gương công

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 82

bằng và nhất là bác ái. Trước cảnh đời sống trọn lành, những

phong tục thuần mỹ như thế, mọi thành kiến đều biến tan;

tiếng nhạo cười im phắc, tín ngưỡng dị đoan mê ảo dầu đã lâu

đời bao nhiêu cũng lần lượt điêu tàn, trước những lẽ chân

thực của đạo Chúa Kitô.

  1. Lợi ích của công đoàn cho toàn thể xã hội

Vấn đề lao động ngày nay sôi nổi. Không biết lý trí tự

nhiên có giải quyết được hay không? Giải pháp người ta sẽ

ứng dụng sẽ gây ảnh hưởng rất quan trọng đến vạn quốc.

Những vấn đề lao động rất có thể nhờ công nhân kitô

hữu giải quyết dễ dàng và hợp lý được. Họ chỉ cần họp thành

những đoàn thể linh động và được chỉ huy rất khôn ngoan rồi

nhịp bước theo đường tổ tiên đã theo từ trước mà tìm cứu rỗi

cho mình và cho các dân tộc.

Dầu người ta thành kiến nhiều, bị dục vọng lôi cuốn, thì

bao giờ lòng công bình và chân thành cũng không bị những ý

định quỷ quái dập tắt hẳn, và không kíp thì chầy họ sẽ đồng

lòng cảm phục yêu quý những đoàn thể lao động kia, là

những đoàn người chuyên cần và khiêm tốn, đặt công chính

trên tư lợi và trọng kính nghĩa vụ trên hết mọi sự.

Nhờ đó, thế giới sẽ lại hưởng một đặc ân khác nữa.

Những công nhân hiện đang khinh đạo thánh Chúa, hay đang

trôi theo những tục lệ mà đạo thánh Chúa bài xích thì sẽ hồi

tâm lại mà hy vọng thân phận của họ có thể đổi mới được.

Sự thường họ ý thức ngay không cần suy nghĩ lâu ngày

lâu tháng, họ đã bị đánh lừa bằng những lời hứa hão huyền và

những tổ chức bề ngoài dối trá. Theo cách cư xử của những

chủ bất nhân ham lợi tham của, thì họ hiểu ngay mình chỉ

được quý trọng tùy theo những năng lực mưu ích gây lợi cho

TÂN SỰ 83

chủ. Còn cho các hội đoàn đã lung lạc quyến rũ họ nhập vào

họ chẳng thấy đâu là nghĩa bác ái, là tình thương yêu. Trái lại

họ chỉ gặp sự bất hòa, kình địch nhau là sự thường hay xẩy ra,

trong giới khổ cực, ngạo mạn và vô thần. Tâm hồn chán nản

thể xác kiệt quệ ai lại không mong cởi ách tủi nhục ấy.

Nhưng họ cũng không dám hoặc vì tự ái hoặc sợ túng thiếu.

Vậy, đối với những công nhân ấy, những nghiệp đoàn

công giáo sẽ là một phương tiện hữu ích bất ngờ. Thấy họ

ngần ngại thì các nghiệp đoàn ấy cần niềm nở đón tiếp họ và

thành thực bênh vực che chở họ.

LỜI KHÍCH LỆ CUỐI CÙNG

  1. Để tái lập những phong tục kitô giáo

Vậy chắc anh em đã được thấy rõ vấn đề khắt khe này

cần phải bàn tán và giải quyết thế nào.

Mong người nào có phận nấy, sẽ kíp bắt tay vào việc

kẻo vì chậm thuốc mà cơn bệnh đã quá trầm trọng rồi, khó

mà thuyên giảm được.

Yêu cầu các nhà chính trị, dùng quyền pháp luật và cơ

cấu xã hội mà bảo vệ công nhân.

Yêu cầu các kẻ giầu và các chủ nhân tỉnh thức lại với

phận sự. Yêu cầu các công nhân, ý thức số phận nguy cấp

của họ mà tiếp tục đòi quyền lợi của họ theo đường ngay và

nẻo chính.

Theo lời Ta tuyên bố ngay từ trang đầu: Chỉ có Đạo

Thánh Chúa mới trừ diệt tật nạn từ tận gốc. Vậy ai cũng phải

thú nhận rằng điều cần thiết nhất ta phải thực hiện ngay là

phục hưng phong hóa Kitô hữu trong đời sống. Thiếu điều

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 84

kiện này dầu những phương tiện hiệu nghiệm nhất do trí

thông minh người phàm bày vẽ được cũng sẽ khó đưa lại

những kết quả hữu ích.

Còn giáo hội sẽ không bao giờ ngừng hành động tùy

theo tài lực. Những hành động ấy càng được tự do khuếch

trương thì càng chắc hiệu lực nhiều.

Điều Ta mong nhất là tất cả những ai có phần trách

nhiệm đến công ích sẽ hiểu rõ điều này. Mong hàng giáo

phẩm tận tâm hiệp lực và dùng đủ mọi phương tiện họ nhiệt

thành nghĩ ra được, để tuân theo huấn thị và gương tốt của anh

em mà tái huấn mọi giai cấp xã hội, cho thích hợp với luật

Phúc Âm về đời sống công giáo.

Chớ gì các giáo sĩ, theo quyền hạn mình mà nỗ lực cứu

dân độ thế, nhất là chăm chú vun trồng trong chính mình họ

và làm trổ sinh nơi các kẻ khác, bất phân kẻ sang người hèn,

đức bác ái của Phúc Âm là nhân đức chỉ huy và làm nảy sinh

các nhân đức khác.

Quả thực muốn cứu giúp các dân tộc, cần nhất là làm

cho đức bác ái lan tràn thiên hạ. Ta nhấn mạnh vào điều đó.

Đức bác ái của đạo thánh Chúa gồm tóm cả Phúc Âm, và

luôn luôn khiến người sẵn sàng hy sinh để cứu giúp anh em

đồng loại.

Nhân đức này là môn thuốc hiệu nghiệm để trị tính kiêu

hãnh của người đời và diệt trừ lòng tự ái quá độ. Chính là

nhân đức mà thánh Phaolô diễn tả thiên vụ và tính cách siêu

nhiên rằng: Đức bác ái thì kiên nhẫn, hòa nhã, không tìm tư

lợi. Đức bác ái chịu mọi sự đau khổ và chịu đựng mọi căm

hờn.

TÂN SỰ 85

Để bảo đảm ân huệ Chúa sẽ ban dồi dào, và tỏ lòng

nhân ái, Ta hân hạnh ban phép lành Tòa Thánh cho toàn thể

anh em giáo sĩ và tín hữu trong Chúa.

Ban bố tại Lamã gần Đền Thờ Thánh Phêrô

ngày 15.5.1891.

Lêô XIII.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 86

MỤC LỤC

THÔNG ĐIỆP TÂN SỰ

Giới thiệu thông điệp

Đỉnh cao cuộc cách mạng đầu tiên

Kitô hữu và phong trào công nhân ngay trước thời điểm thông điệp tân sự

Đức Lêô XIII và việc biên tập thông điệp “Tân sự”

Từ chuẩn đoán đến thuốc chữa đích thực

Một tiếng vang thoáng chốc và một hậu thế trường kỳ

Vai trò của nhà nước

Các nghiệp đoàn

  1. Những tương quan giữa chủ và thợ đã thay đổi
  2. Một hoàn cảnh bất hạnh và khốn khổ không đáng

Vấn nạn tiên quyết : Đề xuất của chủ nghĩa xã hội nhằm hủy bỏ quyền tư hữu. Những hậu quả tai hại

  1. Luận đề chủ nghĩa xã hội. Những sai lạc
  2. Giới lao động mất mọi hy vọng nới rộng gia sản
  3. Con người có quyền tư hữu tự nhiên, bền vững và vĩnh cửu
  4. Con người phải thống trị trái đất
  5. Quyền tư hữu và nguồn lợi của trái đất dành chung cho mọi người
  6. Mối liên hệ giữa tư hữu và lao động
  7. Mối liên hệ giữa tư hữu và đời sống gia đình
  8. Di sản gia đình
  9. Quyền bính dân sự phải bảo vệ xã hội gia đình
  10. Hậu quả tai hại của sở hữu tập thể

Giáo Hội có quyền đề cập đến đề tài, và Giáo Hội vững tin thực hiện điều đó một cách có hiệu quả

  1. Cần phải nhờ đến tôn giáo và Giáo Hội
  2. Chấp nhận những khác biệt và bất bình đẳng
  3. Hai giai cấp không phải là thù địch. Tư bản và lao động
  4. Bổn phận công bằng của công nhân và của chủ nhân
  5. Lương bổng cân xứng
  6. Tình thân ái giữa mọi người
  7. Của cải phải được sử dụng chung. Bổn phận bác ái
  8. Bần cùng không phải là một điều ô nhục
  9. Hơn cả tình nghĩa bạn bè là tình huynh đệ
  10. Những cơ chế công giáo canh tân các xã hội
  11. Giáo Hội mời gọi sống nhân đức
  12. Giáo Hội nâng đỡ giai cấp thua thiệt qua những tổ chức từ thiện

 

Vai trò của Nhà Nước

  1. Hành động chung của tất cả mọi người
  2. Phục vụ công ích
  3. Tư cách công dân chung và tổ chức tư pháp phân phối
  4. Công quyền giữ gìn lợi ích công cộng và riêng tư
  5. Quốc gia can thiệp để bảo vệ người lao động

 

  1. Bảo vệ phong tục và các quyền tư hữu
  2. Phòng ngừa các cuộc đình công
  3. Tôn trọng phẩm giá con người. Bảo đảm việc nghỉ ngơi hằng tuần.
  4. Xác định điều kiện và thời giờ làm việc
  5. Chăm lo việc ấn định một lương bổng công bằng
  6. Khai triển tinh thần sở hữu

 

Các nghiệp đoàn

  1. Ảnh hưởng tốt của nghiệp đoàn trong xã hội
  2. Những hội tư có mục đích hạn hẹp
  3. Quốc gia không thể cấm cản các hội tư
  4. Trường hợp các dòng tu
  5. Công nhân kitô hữu khó chọn lựa trước một số hội đoàn
  6. Những công đoàn công giáo
  7. Tổ chức nghiệp đoàn
  8. Chương trình hành động của nghiệp đoàn
  9. Lợi ích của công đoàn cho toàn thể xã hội

 

Lời khích lệ cuối cùng

  1. Để tái lập những phong tục kitô giáo