Đức Lêô XIII – Đức Gioan Phaolô II
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI
ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE
2000
THÔNG ĐIỆP TỨ THẬP NIÊN
Về việc xây dựng trật tự xã hội
15-05-1931
GIỚI THIỆU
Được thiết đặt như một cột mốc lớn thứ hai về giáo
huấn hiện đại của Giáo hoàng về vấn đề xã hội, thông điệp
kỷ niệm bốn mươi năm thông điệp Tân Sự (ngày 15-05-1931)
– như những chữ đầu bằng La ngữ của nó nói rõ – thực hiện
đường hướng mà, từ thập kỷ này đến thập kỷ sau, đã nhiều
lần được các Đức Giáo hoàng kế tiếp nhau tiếp nối. Hành
động này của Đức Giáo hoàng, cố ý làm tăng giá trị của một
truyền thống tuy chỉ mới đây, tự nó có ý nghĩa gần như về
giáo lý, ý nghĩa sẽ không bị phủ nhận mà trái lại còn được
xác nhận qua các văn kiện Mater et Magistra, Octogesima
adveniens hay Laborem exercens : giáo thuyết xã hội của
Giáo Hội tiếp nối bằng cách đổi mới, thích nghi nhằm đáp
ứng những yêu cầu xuất phát từ những hoàn cảnh tiến triển,
với “vấn đề xã hội” đang biến dạng. Đó là lý do giải thích tại
sao có những điểm khác nhau cũng như giống nhau từ văn
kiện này đến văn kiện kia có thể được diễn giải một cách hợp
pháp và phong phú.
Bốn mươi năn sau “Tân sự”, có nhiều biến cố đã xảy ra
trong cựu và tân thế giới, đặc biệt là Thế Chiến thứ nhất và
cuộc Cách Mạng Nga, những đảo lộn đã thúc đẩy chuyển
biến kinh tế và xã hội của thời hiện đại. Toàn bộ “trật tự xã
hội” được người ta ý thức, đã chịu đựng cuộc rung chuyển
này. Do đó, đề tài của thông điệp mới được mở rộng từ vấn
TỨ THẬP NIÊN 87
đề công nhân đến “việc xây dựng trật tự xã hội”. Những vấn
đề được bàn đến dưới tiêu đề chính thức này có nguồn gốc từ
lịch sử, nhưng chúng được Đức Piô XI nắm bắt trong thời sự
của thời gian của thập niên ba mươi.
Từ cuộc khủng khoảng lớn về kinh tế đến sự lên của
chủ nghĩa phát xít.
Bối cảnh kinh tế. Ngày mà mọi người vẫn còn biết đến
đánh dấu sự sụp đổ tài chính của Wall Street ngày 12-24/10/
1929- cho ta một cái mốc ý nghĩa. Sau nhiều năm thịnh đạt,
thế giới công nghiệp Mỹ đã hứng chịu cuộc khủng hoảng lớn
về kinh tế và hai năm sau, châu âu cũng gánh hậu quả. Hàng
triệu người bị thất nghiệp. Chiến tranh thế giới đã đánh một
đòn chí tử vào sự phát triển công nghiệp đồng thời thúc đẩy
việc hoàn thiện các phương pháp và dẫn đến tình trạng các
chính phủ can thiệp vào như người tổ chức. Nhưng ở Châu Âu
đã có nhiều đổ nát và, còn hơn thế nữa, trong những năm 20,
những khủng hoảng chuyển đổi sản xuất, những sự tập trung
công nghiệp. Trên thế giới, cán cân năng động công nghiệp
từ nay nghiêng về phía Hoa Kỳ và Nhật Bản.
Bối cảnh xã hội, nổi bật trước mắt bởi nạn thất nghiệp.
Tuy nhiên, từ đầu thế kỷ phong trào nghiệp đoàn công nhân
đã phát triển trên thế giới : từ năm 1914-1915 đến 1920, số
người tham gia đã vượt lên ở Pháp từ sáu trăm ngàn thành
viên đến hai triệu, ở Anh từ bốn lên đến tám triệu, ở Đức từ
tám trăm ngàn lên đến hai triệu rưỡi, ở Mỹ từ hai lên đến bốn
triệu. Phong trào bắt đầu lan rộng tới những địa hạt xã hội
mới, như giới các viên chức. Nhưng, kể từ năm 1920, phong
trào nghiệp đoàn này bị khuấy động bởi những cuộc tranh
luận kịch liệt đến nỗi bị đổ vỡ hoàn toàn giữa những người
theo hướng cách mạng và những người chủ trương cải cách.
Đối với chiều hướng cải cách, do quan tâm đến thực tế, được
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 88
các nghiệp đoàn Đức, Ý, Anh và Mỹ lựa chọn. Các nghiệp
đoàn này ở trong Liên Hiệp nghiệp đoàn quốc tế. Ngược lại,
đảng Cộng Sản Liên Xô có lập trường đi theo tổ chức Quốc
Tế Nghiệp Đoàn Đỏ; nó đã gây ra cuộc chia cắt năm 1921 tổ
chức CGT Pháp (Tổng Liên Đoàn Lao Động Pháp) và kéo
theo phần CGTU (Tổng Liên Đoàn Lao Động Thống Nhất) ly
khai theo cách mạng. Ở Pháp, tổ chức CFTC (Liên Đoàn Công
Nhân Kitô hữu Pháp), thành lập năm 1919, góp phần du nhập
một đường hướng đa nguyên nghiệp đoàn; trên phạm vi quốc
tế và trước hết ở châu Âu, nó ở trong Liên Đoàn Quốc Tế
những Công Đoàn Kitô giáo. Sau cùng cũng nên nhớ rằng tổ
chức Lao Động Quốc Tế được thành lập bởi hiệp ước
Versailles, có liên hệ với các công đoàn, đặc biệt một cách
gián tiếp qua văn phòng Lao Động Quốc Tế do Albert Thomas
lãnh đạo tích cực.
Từ bối cảnh chính trị, chúng ta chỉ lấy ra những khía
cạnh quyết định nhất đối với vấn đề xã hội. Trong lãnh vực
kinh tế, nhà nước can thiệp vào mạnh mẽ hơn xưa; trong
phạm vi xã hội, sự can thiệp đó đặc biệt rõ hơn nữa. Đây là
thời kỳ mà ở châu Âu các chính phủ mạnh mẽ sẽ dùng quyền
lực áp đặt trên những chương trình khẳng định một ý chí xã
hội. Sự việc ấy xảy ra ở ý với chủ nghĩa Phát-xít của
Mussolini, người vừa mới áp đặt năm 1930 chủ trương đồng
nghiệp đoàn của nhà nước, tập hợp giới trẻ và tổ chức thành
những công trình lao động lớn, đồng thời đưa ra giải pháp
được nhận thấy như là một thứ quốc gia chủ nghĩa. Ở Bồ Đào
Nha, Salazar nắm chính quyền, và Dollfuss ở Áo – cả hai
người Công Giáo này đều dựa vào giáo thuyết “Bốn Mươi
Năm” (Quadragesimo anno). Chủ nghĩa Quốc Xã, bị coi là một
mối nguy đe doạ gần kề hơn cả, đang lên cao ở nước Đức.
Cuối cùng, không được quên, dù năm 1929 đến 1931 là thời
tạm lắng dịu, cuộc bách hại tôn giáo đang hoành hành ở
TỨ THẬP NIÊN 89
Mêxicô. Chúng tôi đã lưu ý đến ảnh hưởng quốc tế của Liên
Xô, ảnh hưởng được nhận thấy qua trung gian những đảng
Cộng Sản khác nhau. Trong toàn thể bối cảnh đó, Đức Piô XI
áp dụng, ở nơi nào xem ra có thể áp dụng được, một chính
sách thoả thuận với các Nhà nước, chẳng hạn như ở nước Ý
theo hiệp ước Latran (1929) để hợp thức hoá vị thế của quyền
Giáo hoàng, hoà bình về chính trị – tôn giáo đối với ngài là
một trong những điều kiện của hoà bình xã hội.
Sự tiến triển của các ý thức hệ xã hội ló hiện trong
những dự án chính trị hữu khuynh lẫn tả khuynh tỏ hiện bộ
mặt xã hội chủ nghĩa, và đã hoặc sẽ đi theo đường lối chuyên
chế, thậm chí độc tài. Kể từ hội nghị Tours, có sự phân biệt rõ
ràng giữa chủ nghĩa Công Sản và những khuynh hướng xã hội
chủ nghĩa khác. Những khuynh hướng này còn chia rẽ nhau, ở
Pháp cũng như ở Đức, giữa những quan điểm lý thuyết hoặc
(dùng) bạo lực và cách mạng (như Kautsky, Benoit Malon,
Georges Sorel), hoặc đạo đức hơn và có xu hướng nhân vị
(như Jules Guesde, Henri de Man). Trào lưu xã hội chủ nghĩa
này có một cái gì đó thu hút một số người công giáo xã hội. Ở
cực kia của thang âm ý thức hệ, chủ nghĩa tân-tự do cũng có
những nhà tư tưởng ở Hoa kỳ và ở Châu Âu: ít bảo thủ hơn
những người tự do chủ nghĩa cựu trào, họ phê phán gay gắt
mọi hình thức độc quyền và, dĩ nhiên, hình thức kinh tế chỉ
huy. Sự cạnh tranh của tất cả những học thuyết này, hoặc
nhắm tới một trật tự xã hội hoặc nhằm một quan điểm toàn
cục, cũng giải thích toàn thể cái khung mà tiêu đề của thông
điệp này của Đức Piô Xi loan báo.
Đức Piô XI và tư tưởng xã hội công giáo
Trong số những hiệu quả tích cực phát sinh từ thông
điệp Tân sự phải kể đến, ngoài những thể hiện mặt xã hội
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 90
như phong trào nghiệp đoàn Kitô giáo, tác dụng kích thích tư
duy. Một trong những nơi quan trọng của nó là chuỗi các Tuần
lễ xã hội ở Pháp. Nhưng,trên thế giới, có rất nhiều trường
phái tư tưởng xã hội công giáo ra sức làm việc, một số trường
phái cũng tổ chức các “tuần lễ” của họ: Ý, Tây Ban Nha, Bỉ,
Anh, Chilê, Nam Tư… Chúng truyền thông cho nhau. Đây là
thời điểm của “khoa xã hội công giáo” đích thực. Dựa trên
những nguyên tắc căn bản chung, những đặc trưng khác biệt
thì tùy theo bối cảnh của miền và những hình thức của kinh
nghiệm xã hội. Hai trong số những trường phái này ghi dấu
cách trực tiếp hơn sự biên tập thông điệp Bốn mươi năm.
Đức Piô XI đã nghĩ đến một thông điệp xã hội từ thời
gian đầu của triều đại Giáo hoàng của ngài. Khi Ngài cho là
thời giờ đã đến, ngài trao phó việc biên tập dự thảo thông
điệp cho cha Von Nell Breuning, linh mục trẻ dòng Tên người
Đức gần gũi với những môi trường cộng đoàn theo khuynh
hướng tự do. Vị này cảm hứng từ giáo huấn của vị đồng sự, là
cha P. Gundlach, giáo sự tại Rôma. Phần lý thuyết hơn của
thông điệp Bốn Mươi Năm lấy hứng từ giáo huấn này. Nhưng
Đức Giáo hoàng còn mời cha Desbuquois (phong trào Hành
động bình dân, Pháp) và có lẽ cả những chuyên viên khác
đóng góp cách nhìn của họ về những vấn đề xã hội: một cái
nhìn với tình tiết rõ ràng hơn nằm ở phần thứ ba của văn kiện.
Cha Miller (Bỉ) hẳn là chấp bút cuối cùng sau bảy hay tám lần
biên tập trung gian.
Dù có những diễn biến mà ngày nay người ta biết đến
về việc biên tập thông điệp, Đức Piô XI quả vẫn là người
khởi xướng thông điệp, rất quan tâm đến những chuyển biến
xã hội và tương lai của chúng, ngài đã thấy sự cần thiết phải
điểm lại tình hình một cách chính xác. Ngài muốn cổ võ và
củng cố phong trào xã hội Công giáo, và khuếch trương nó
TỨ THẬP NIÊN 91
dựa trên một thực hiện khác của Giáo hội lúc ấy đang cao trào
trở lại: phong trào công giáo tiến hành, mà thông điệp Bốn
Mươi Năm nhiều lần nhắc đến (chúng ta nhớ lại rằng Thanh
Lao Công (JOC) được khai sinh ở Bỉ năm 1926). Người ta cũng
có thể ghi nhận rằng, dựa trên những trích dẫn từ Thánh
Phaolô, một thần học về nhiệm thể nổi rõ trong bản văn, là
thời sự lúc bấy giờ. Còn về hoạt động trực tiếp của vị Giáo
hoàng Rôma, ngày nay người ta biết rằng Đức Piô XI tự tay
mình đã thêm vào một đoạn về các đồng nghiệp đoàn (số 98-
103), đàng sau văn phong mang tính chất rất La-mã đoạn văn
ấy chứa đựng một sự lên án gay gắt đối với chủ thuyết đồng
nghiệp đoàn của Mussolini. Theo lời kể lại, ông này đã tỏ ra
hết sức bất bình.
Lý thuyết và thực hành trong kinh tế của văn kiện này
Thông điệp Bốn mươi năm mở đầu bằng phần thứ nhất,
tưởng niệm thông điệp xã hội đầu tiên và đánh giá những hoa
quả của nó. Đức Piô XI vui mừng về sự năng động của phong
trào Công giáo xã hội, là nơi mà các giáo dân và Linh mục đã
triển khai “khoa học xã hội Công giáo” và đã đem ra thi hành.
Ngài nhấn mạnh đến những hiệu quả của nó về mặt não trạng
(số 25) nhưng trong cả hoạt động của các chính phủ để phát
triển một luật pháp xã hội (số 27-31) và đặc biệt nơi hành
động của chính những người trực tiếp liên quan, nhất là trong
những hiệp hội và nghiệp đoàn (số 32-71). Chính phong trào
này mở ra những phong trào mới mẻ mà ngay nay phải giải
quyết.
Phần thứ hai, nặng về học thuyết, đem lại phần đóng
góp nền tảng và những xác định về đời sống kinh tế và xã
hội : quyền sở hữu, những quan hệ giữa Tư bản và lao động,
sự thăng tiến giai cấp Vô sản, đồng lương đúng đắn và cuối
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 92
cùng về toàn thể trật tự xã hội. Lối tiếp cận lý thuyết đó, như
ta đã thấy, tương ứng với những toan tính muốn hệ thống hoá
xuất phát từ kinh nghiệm suy tư xã hội của các trường phái và
các giáo sư của chúng. Ở mức độ riêng của mình, thông điệp
thực sự canh tân, dù cho nó xác định mình chỉ tiếp nối, thông
điệp Tân Sự. Nó có tính quyết định đối với một vài cuộc tranh
luận nổi lên giữa những người Công giáo.
Với một cách thế mà ngày nay phải ngạc nhiên, chỉ ở
trong phần thứ ba mới có phân tích những hoàn cảnh, một sự
phân tích vẫn còn rất thích đáng : những biến đổi của thế giới
công nghiệp và của hệ thống Tư bản chủ nghĩa, những
chuyển biến của Chủ nghĩa xã hội, tình trạng của phong hóa.
Ba chương này, nói cho đúng, trộn lẫn trong đó phân tích và
phê phán luân lý, và dẫn đến những chọn lựa, đồng thời đưa
ra những phương thuốc chữa trị: không chấp nhận sự độc tài
kinh tế của những kẻ độc quyền, của những liên minh độc
quyền hay của Nhà Nước; thuận với việc khôi phục một sự
cạnh tranh lành mạnh và tự do dưới sự theo dõi của chính
quyền; không chấp nhận chủ nghĩa xã hội, mâu thuẫn với
Kitô giáo, thuận với những hành động xã hội; không chấp
nhận “sự sụp đổ các linh hồn” phát xuất từ trào lưu giải – Kitô
giáo (déchristianisation) của đời sống xã hội, thuận với việc
hợp lý hóa cuộc sống này theo tinh thần Kitô giáo dựa trên
đức ái. Phần cuối nhấn mạnh đến vai trò của phong trào Công
giáo tiến hành.
Sự đón nhận và hậu thế của thông điệp
“Bốn mươi năm”
Trong những môi giới không Công giáo, tài liệu này,
một tài liệu phonh phú, cương quyết, đôi khi gay gắt làm xáo
trộn các ý thức hệ và đả kích các thực hành, được đón nhận
TỨ THẬP NIÊN 93
cách lịch sự tuy khó chịu thì đúng hơn. Trái lại, những người
Công giáo dấn thân nhất vào hành động xã hội và tông đồ
nhận thấy ngay tính cách quan trọng và ý nghĩa của thông
điệp, và thông điệp Bốn Mươi Năm đã trở thành hiến chương
đích thực của họ trong hai mươi năm (cho đến thông điệp “Mẹ
và Thày”). Nó được phổ biến thành hàng trăm ngàn bản trong
một quốc gia như nước Pháp, được nghiên cứu, bình giải trong
vô số các nhóm nghiên cứu và các cuộc họp của các chiến sĩ
Công giáo tiến hành. Lùi lại theo thời gian, dường như vài chủ
đề nổi tiếng đã chiếm một vị thế kể đến không chỉ trong Giáo
hội, nhưng còn như là những nhân tố gợi hứng cho sự tiến
triển của ngành lập pháp trong xã hội trong những nước dân
chủ:
– nhân đạo hóa lao động và những điều kiện của lao
động – người ta nhớ lại câu nói danh tiếng: “Vật chất trơ ỳ
xuất xưởng nên cao cả, trong khi con người tại đó nên hư
hỏng và mất phẩm giá” (146) ;
– những yếu tố cần thiết để xác định đồng lương đúng
đắn (số 70-82) –“người công nhân không được lãnh nhận
trong tình bác ái những gì phải trả cho anh ta theo lẽ công
bằng”;
– nguyên tắc phụ túc: các cá nhân, rồi đến những “đoàn
thể trung gian” mọi loại phải có khả năng đảm lấy trách
nhiệm của mình theo trình độ của mình, chứ không để họ trở
nên tha hóa vì Nhà Nước – “Sẽ phạm phải một bất công trầm
trọng, đồng thời sẽ làm rối trật tự xã hội gây tác hại ghê gớm,
nếu như rút khỏi những tập đoàn cấp thấp hơn, những nhiệm
vụ mà họ có khả năng tự mình thi hành, để giao cho một tập
thể rộng lớn hơn, và cấp cao hơn” (số 86).
-vai trò của những hiệp hội và nghiệp đoàn, và đặc biệt
là sự phân biệt giữa chúng và Nhà Nước.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 94
Hẳn là, tính chất mập mờ của đồng nghiệp đoàn do
thông điệp Bốn Mươi Năm đề xướng, dù cho đã sẵn có những
thận trọng đối với chủ nghĩa Nhà Nước phát xít ở Ý, đã có thể
và vẫn còn có thể dùng để biện minh cho những chế độ dộc
đoán cố ý áp đặt đường lối của họ để hòa giải các giai cấp
đối kháng. Tuy có đón nhận cách rộng rãi hơn di sản của
phong trào công nhân, cả thông điệp “Mẫu Sư“ (Mater et
Magistra) và thông điệp (Laborem exercens) đều không dùng
lại khái niệm theo ý nghĩa này.
Về phần các kết luận cứng rắn về chủ nghĩa Xã hội,
ngay cả khi không phải là Mác-xít :
– “Chủ nghĩa Xã Hội Tôn giáo, chủ nghĩa Xã hội Kitô
giáo là những điều mâu thuẫn” (130) – sẽ phải đợi đến những
phân biệt của đức Gioan XXIII giũa các phong trào lịch sử và
các ý thức hệ và những quy tắc cho sự hợp tác trong đối thoại
của Đức Phaolô VI ( thông điệp Bát Thập Niên), chúng mới
có thể được bỏ qua một cách chính thức.
Cuối cùng trong một đời sống xã hội và kinh tế ngày
càng trở nên phức tạp hơn, một thông điệp xã hội ngày nay
có dám liều lĩnh dấn sâu vào chi tiết của những chọn lựa hay
không ? Tuy vậy, những tài liệu sau này của các Đức Giáo
hoàng và của công đồng trích dẫn dồi dào thông điệp “Bốn
muơi năm” , là thông điệp được thiết lập cách mãnh liệt và
dứt khoát như cột mốc dựa trên một lý thuyết tìm kiếm sự cỡi
mở và thích ứng với các thực tại lịch sử.
TỨ THẬP NIÊN 95
DÀN BÀI
Dẫn nhập :
Vận hội của thông điệp “Tân Sự”. Những điểm chính
yếu của thông điệp. Nội dung của thông điệp hiện nay
(số 1-16).
I.Những hoa trái của thông điệp “Tân Sự” (17)
1.Công trình của Giáo Hội về lãnh vực giáo thuyết và về
lãnh vực áp dụng (18-26).
2.Hành động của nhà nước (27-31).
3.Hành động của chính những người quan tâm đến vấn
đề. Các hiệp hội công nhân. Các hiệp hội giữa những
lòng giai cấp khác. Các hiệp hội chủ nhân (32-41)
Tân Sự : hiến chương vĩ đại của những người lao động
( 42-43)
II.Học thuyết của Giáo Hội
Về kinh tế và xã hội (44-47)
1.Về quyền sở hữu. Đặc tính cá nhân và xã hội của
quyền sở hữu. Những nghĩa vụ về quyền sở hữu.
Quyền hạn của nhà nước. Những nghĩa vụ liên quan
đến thu nhập khi tạm nghỉ việc.( những tiêu đề chứng
minh sự công nhận quyền sở hữu (48-57).
2.Tư bản lao động. Những tham vọng vô căn cứ của Tư
bản. Những tham vọng vô căn cứ của người lao động.
Nguyên tắc phân phối công bình (58-64).
3.Sự nổi lên của tầng lớp vô sản. Việc đạt tới quyền sở
hữu của người vô sản (65-69).
4.Đồng lương chính đáng. Đặc tính cá nhân và xã hội
của người lao động. Ba điểm cần xem xét : sinh kế của
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 96
người công nhân và gia đình của họ; hoàn cảnh của xí
nghiệp; những đòi hỏi của công ích (70 – 82).
5.Thiết lập trật tự xã hội. Sự hợp tác của những đoàn thể
nghề nghiệp. Thiết lập một nguyên tắc hướng dẫn đời
sống kinh tế ( 83 – 106 )
III.Những biến chuyển sâu sắc nổi lên kể từ thời Đức Lêô XIII
1.Những biến đổi về chế độ kinh tế. Nền độc tài kinh tế.
Những hậu quả tai hại của nó. Các phương thuốc chữa
trị (107 – 118).
2.Biến chuyển của chủ nghĩa xã hội. Đảng phái bạo
động hay chủ nghĩa Cộng sản. Đảng phái ôn hoà hơn
hay chủ nghĩa xã hội, khoan nhượng hơn; người ta có
thể thoả hiệp với nó chăng ? Quan niệm của nó rất trái
ngược với chân lý Kitô giáo. Công giáo và chủ nghĩa
Xã hội là những hạn từ mâu thuẩn nhau. ” Chủ Nghĩa
xã hội giáo dục “. Những người công giáo chuyển qua
chủ nghĩa xã hội. Lời mời gọi trở lại ( 199 – 137 )
3.Cải cách phong hoá. Chế độ kinh tế hiện thời và sự sụp
đổ các linh hồn. Những nguyên nhân của sự dữ. Các
phương thuốc chữa trị : hợp lý hoá theo tinh thần Kitô
giáo và vai trò của đức ái (138 – 148)
Kết luận :
Một nhiệm vụ khó khăn. Phương pháp theo đuổi. Mong
cho mọi người hiệp nhất và hợp tác với nhau chặt chẽ (149 –
159)
TỨ THẬP NIÊN 97
Lời mở đầu
1.- Bức thông điệp RN đã xuất hiện được bốn mươi năm
rồi. Thế giới công giáo chuẩn bị mừng kỷ niệm một cách hết
sức long trọng. Ai cũng đầy lòng biết ơn tòa thánh vì ăn kiện
đáng ghi nhớ này. Một văn kiện minh chứng lòng nhiệt thành
của Đức Tiên Giáo hoàng đối với giáo mục của Ngài. Một
văn kiện rất quan trọng đã được chuẩn bị từ trước, trong bao
bức thông điệp khác : về gia đình, về phép hôn phối, về nền
tảng xã hội nhân quyền, về nguồn gốc chính quyền, về
những mối tương quan giữa giáo hội và xã hội quốc gia, về
nghĩa vụ công dân của giáo dân, về cách biện bác chủ nghĩa
xã hội, về các tà thuyết do chủ nghĩa tự do cá nhân và bao
nhiêu tài liệu khác, giãi bày lý tưởng xã hội của ngài.
Nhưng bức thông điệp “RN” trổi vượt mọi văn kiện
khác, vì hai lý do: thứ nhất vì là một bức thông điệp rất hợp
thời, không đời nào cần thiết bằng đời ta bây giờ. Thứ hai vì
bức thông điệp ấy giải quyết mọi vấn đề đời sống cộng đồng
nêu lên. Là những vấn đề tóm tắt trong “vấn đề xã hội.”
- Một bức thông điệp rất hợp thời.
2.- Thế kỷ mười chín xế chiều, sự phát triển kinh tế, sự
tiến hóa của kỹ nghệ ở hầu hết các dân tộc đã phân chia xã
hội thành hai giai cấp. Giai cấp này gồm thiểu số, nhưng toàn
những người giầu sang tha hồ hưởng dụng mọi sáng kiến khoa
học tiên tiến. Giai cấp kia gồm đa số, nhưng toàn công nhân
khốn cực, không thoát được cảnh bần cùng. Tình trạng thê
thảm ấy, kẻ dư của thì chịu đựng một cách rất dễ dàng, họ
cho rằng : Đó là hậu quả không tránh được của những luật
kinh tế tự nhiên. Nên họ lầm tưởng công cuộc bác ái san bằng
được mọi bất công, mà những pháp luật nhân tạo thường bỏ
mặc và nhiều khi lại còn che chở nữa.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 98
3.- Nhưng công nhân đã quá khổ cực, vì tình trạng ấy.
Sau một thời gian cam chịu, họ quyết trút bỏ gánh nặng nề ấy,
không muốn gánh vác lâu hơn nữa.
Người thì sôi nổi lên vì những lời thúc đẩy họ chỗi dậy,
mà đảo lộn xã hội từ ở tận nền móng. Người thì không chịu
trôi theo những phong trào ấy, vì họ đã được giáo dục theo
đạo Chúa Kitô. Nhưng dầu sao họ cũng đồng ý về một điểm
khẩn cấp là “phải cải hóa xã hội tận cội rễ”.
4.- Đó cũng là ý chí của bao nhiêu kitô hữu, của giáo sĩ
hay giáo dân đã đem lòng bác ái dũng cảm mà tìm trăm ngàn
phương cách, làm giảm bớt sự khốn cực bất công của dân
chúng. Họ không chịu nhận sự chênh lệch quá đỗi trong cách
phân công chia của, như là sự tự nhiên Thiên Chúa vô cùng
khôn ngoan đã tiền định cho nhân loại. Thành ra họ cứ thành
thực tìm những môn thuốc linh nghiệm hoặc để sửa chữa
những tệ đoan của xã hội hiện tại, hoặc để đề phòng cho xã
hội khỏi lâm vào những tai hại khủng khiếp hơn nữa.
5.- Nhưng lý trí con người mù mịt yếu đuối. Những
người thiện chí hoặc bị xua đuổi như thể họ chỉ là những nhà
cách mạng đáng sợ; hoặc bị chia rẽ vì có sự bất đồng ý ngay
giữa họ, nên họ cứ lưỡng lự giữa những lập trường khác nhau.
Như vậy họ không biết phải chọn lấy đường nào ? Trong
những sự mâu thuẫn khiến mọi người không ai đồng ý với ai
thì hòa bình thế giới lâm nguy. Thành ra lần nữa họ đưa mắt
nhìn về Tòa thánh Phêrô là kho lẫm chân lý, tự nhiên phát ra
những lời cứu chuộc hằng chảy tràn khắp thiên hạ. Một phong
trào rộng lớn chưa bao giờ từng thấy, lôi cuốn họ về với
“Đấng đại diện Chúa Kitô ở dưới thế”. Vô số người trí thức,
kỹ nghệ, công nhân tha thiết đòi hỏi những nguyên tắc vững
chắc, họ có thể thích dụng để thoát khỏi mọi sự thắc mắc mà
đứng một mình không ai giải quyết được.
TỨ THẬP NIÊN 99
6.- Vì trí khôn ngoan Đức Giáo hoàng đã gẫm thế sự
trước mắt Chúa lâu năm, Ngài cũng cầu vấn bao nhiêu nhân
vật lỗi lạc, Ngài cũng chăm chú tìm hiểu vấn đề đủ mọi mặt.
Rồi ý thức sứ vụ tông đồ Ngài đảm nhiệm; thì Ngài mới sợ
nếu im tiếng mãi là tỏ mình chểnh mảng trong phận sự.
Ngài dùng linh quyền giáo huấn Chúa đã uỷ thác cho
mà quyết định ban huấn dụ này cho giáo hội Chúa Kitô nói
riêng, và cho toàn thể nhân loại nói chung.
7.- Ngày 15 tháng 5 năm 1891, tiếng Tòa Thánh mà cả
thế giới đã mong nghe từ lâu, đã vang dội khắp cả thiên hạ;
một tiếng vang không chút run rẩy trước thời cuộc gay go, mà
lại không yếu đi chút nào vì tuổi tác cao; một tiếng vang
mạnh bạo đã định hướng mới cho cả nhân loại phải noi theo
trên địa vực xã hội hiện tại.
- Học thuyết xã hội gồm tắt trong bức thông điệp
RN.
8.- Anh em thừa biết học thuyết khả kính, đã được giãi
bầy trong bức thông điệp “RN” rồi chứ ! Bức thông điệp ấy
thật đáng ghi nhớ muôn đời.
Đại Đức Tiên giáo hoàng, động lòng trước thân phận
bao nhiêu người hạ lưu trong xã hội, nói được là đa số; nhưng
dầu vô tội cũng phải sống trong cảnh khốn cực đầy rủi ro.
Ngài dũng cảm quyết chí bênh vực công nhân tội nghiệp
sống trơ trọi, không ai bảo hộ mà lại bị thời thế vô tình đẩy
vào tay những chủ nhân vô nhân đạo, chỉ biết cạnh tranh đua
giầu khoe sang. Ngài chẳng tin tưởng ở chủ nghĩa tự do, và
cũng không hy vọng nơi chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tự do đã
tỏ mình hoàn toàn bất lực, không giải quyết được vấn đề xã
hội. Còn chủ nghĩa xã hội lại đề nghị một giải pháp còn tệ
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 100
hơn cả tật nạn nó tìm sửa chữa. Vì nó mà xã hội nhân loại
càng ngày càng lâm nguy.
9.- Vậy căn cứ vào giáo quyền và thiên chức đặc biệt
Ngài được Thiên Chúa uỷ cho, là bảo vệ tôn giáo và mọi
quyền lợi liên quan đến tôn giáo, thì Ngài đã tin chắc rằng
vấn đề xã hội không thể nào giải quyết được một cách phải
lẽ “ngoài ảnh hưởng giáo hội và tôn giáo, nhờ những nguyên
tắc bất di bất dịch của đạo nghĩa chính trực, và đạo Chúa
mạc khải”. Đức Tiên Giáo hoàng đem hết linh quyền vững
chắc của Ngài mà ấn định và tuyên bố công nhiên :
1) Nghĩa vụ và quyền lợi riêng của chủ nhân và công
nhân : của tư bản và cần lao trong xã hội.
2) Phận sự riêng của giáo hội, của chính phủ và của
mọi công nhân, trong việc giải quyết vấn đề xã hội tương
tranh này.
Tiếng của Ngài đã vang dội khắp thiên hạ không phải là
vô ích đâu.
10.- Thiên hạ nghe đến thì cảm phục tạ ơn. Giáo dân
phục quyền giáo hội đã đành. Nhưng còn bao nhiêu người
khác, hoặc vô tín ngưỡng, hoặc đã lạc đường chính, cũng đã
nêu lên vấn đề kinh tế xã hội, trong phạm vi tìm hiểu
(speculation) và pháp lý.
Mừng nhất là các công nhân kitô hữu. Họ cảm thấy giáo
quyền trổi vượt mọi thế quyền trên mặt đất, đã thông cảm và
bênh vực quyền lợi của họ. Những người vị tha đã tìm cải
thiện công nhân từ lâu, nhưng đã bị chế nhạo, ngờ vực, nhiều
khi lại bị phản đối công khai nữa, nay đã lại phấn khởi lên.
Bức thông điệp đã được ai nấy đua nhau đón nhận một
cách long trọng nghiêm chỉnh. Đến nỗi dân nào nước ấy cũng
TỨ THẬP NIÊN 101
tìm trăm cách kỷ niệm hằng năm bằng những lễ ghi ơn lừng
lẫy.
11.- Những huấn thị của Đức Lêô XIII thì rất cao thượng
và khả kính; nên mới được thiên hạ đồng thanh nghênh tiếp
như thế. Nhưng tiếc thay cũng đã từng có những nhà trí thức,
gồm có cả giáo dân, náo động bất mãn. Người thì sinh lòng
hồ nghi, người thì vấp ngã trước một học thuyết mới lạ như
vậy. Những ngẫu nhiên do chủ nghĩa tự do dựng lên, đều bị
lật đổ. Bức thông điệp ấy không quản ngại gì đến những
thành kiến quá khứ. Còn đối với tương lai nó khởi xướng một
phong trào chưa có ai nghĩ tới. Những người còn giữ óc tồn
cổ, thì đều khinh chê học thuyết xã hội, và những học thuyết
cao siêu này. Kẻ khác thì cảm phục lý tưởng xã hội của Đức
giáo hoàng là một lý tưởng rực rỡ, nhưng lại cho rằng chỉ là
một ảo tưởng không thể nào thực hành được. Ai cũng có thể
mong chờ, nhưng không ai hy vọng thực hiện nó được.
Mục đích bức thông điệp mới.
12.- Vì thế anh em khả kính đang khi thế giới náo nhiệt
mừng lễ “đệ tứ thập chu niên” của bức thông điệp “RN”,
thấy các công nhân kitô hữu ở khắp tứ phương tuôn đến thành
thánh Lamã, thì Ta thừa dịp rất thuận tiện này mà nhắc lại
những ân huệ phi thường mà bức thông điệp ấy đã đem lại
cho cả nhân loại nói chung. Học thuyết canh tân kinh tế xã
hội của Đức Lêô XIII thì thật vĩ đại, nên đã bị bao người ngờ
vực cảnh cáo. Vậy kèm theo sau. Ta sẽ bênh vực và giảng
giải một vài điểm chính chưa được hiểu rõ. Sau hết, Ta sẽ
luận xét chế độ kinh tế hiện tại và phi bác chủ nghĩa xã hội.
Đã định rõ tệ đoan xã hội ngày nay phát nguồn tại đâu, thì Ta
sẽ chỉ vạch đường lối duy nhất, ai cũng phải theo để tu bổ lại
xã hội cận kim, tức là cải tạo phong tục thế giới theo lý tưởng
phúc âm.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 102
Bức thông điệp này sẽ chia ra làm ba phần tùy theo các
vấn đề Ta mới nêu lên. Rồi Ta sẽ dành toàn thư để tìm một
giải pháp hợp lý hợp thời.
- NHỮNG HIỆU QUẢ BỞI BỨC THÔNG ĐIỆP “RN”
- Trước khi nhập đề tìm giải quyết điều thứ nhất theo
ý Ta đã định, Ta không khỏi quên lời thánh Ambrôsiô khuyên
rằng : Trọng nhất trong những phận sự của Ta là tạ ơn Chúa
liên lỉ. Nhớ đến những ân huệ quý hóa bức thông điệp của
Đức Lêô XIII đã đem lại cho giáo hội và cả nhân loại; trước
tiên Ta phải đội ơn Chúa không ngừng, dầu chỉ muốn lược
thảo những ân huệ đó sơ qua, thì thật Ta cũng phải thuật lại
lịch sử xã hội, trải qua bốn mươi năm vừa rồi. Nhưng Ta có
thể tóm tắt mọi điểm chính, tùy theo ba phương dược, mà Đức
tiên giáo hoàng đã đề nghị để hoàn tất công việc canh tân xã
hội, ngài đã đảm nhiệm.
- Sự can thiệp của giáo hội.
- Trước tiên Đức Lêô XIII đã định rõ những điều thế
giới có quyền đòi ở giáo hội. Ngài viết: (x. RN 13)
- a) Phần lý thuyết:
Những tài liệu quý giá này, giáo hội không bao giờ bỏ
hoang đâu. Mà cứ khai khẩn mãi, để gây thái bình cho xã hội.
Đức Lêô XIII, và những giáo hoàng kế tiếp Người đã dùng
lời nói và bút mực mà nhiệt thành truyền bá học thuyết kinh
tế xã hội tóm tắt trong bức thông điệp “RN”; các ngài không
bao giờ ngừng thúc đẩy dân nước thực hành và áp dụng học
thuyết ấy, vào thời thế hoàn cảnh xã hội hiện tại. Lúc nào các
ngài cũng tỏ lòng nhiệt thành và tỏ tình nghĩa phụ tử với
những người bần cùng yếu đuối. Vì các ngài là chúa chiên
TỨ THẬP NIÊN 103
dũng cảm, thì các ngài cũng mạnh sức bảo vệ các dân đen.
Theo bản ý của tòa thánh, cũng đã không thiếu gì những giám
mục sáng suốt nhiệt thành vừa trình bày giải pháp vừa áp
dụng học thuyết xã hội của Đức Lêô XIII cho các dân nước
đều hưởng lợi.
- Bởi thế ta không ngạc nhiên gì khi thấy bao người trí
thức, giáo sĩ và giáo hữu hết sức quý chuộng và nhiệt tâm
phổ biến những kỷ luật kinh tế xã hội của giáo hội tùy theo
những đòi hỏi của thời thế. Mục đích của họ là áp dụng vào
những trường hợp hằng thay đổi. Những nguyên tắc bất di bất
dịch của giáo hội về đời sống cộng đồng của nhân loại.
- Lấy bức thông điệp của Đức Lêô XIII làm căn bản
và tỏa sáng học thuyết xã hội công giáo, hiện ra và phát triển
càng ngày càng phong phú hơn. Những người ưu tú, đêm
ngày lưu tâm đến việc tối hệ trọng này, buộc ta phải gọi họ là
những người phụ tá của giáo hội. Học thuyết xã hội này
không giam kín vào những trường học mờ tối đâu, trái lại nó
đã ra mặt trận chiến đấu công khai. Một bằng cớ rõ ràng là
những công trình vĩ đại của các đại học công giáo, các hàn
lâm viện, các chủng viện các hội nghị thường gọi là “những
tuần lễ khảo cứu về xã hội” đã được tổ chức không biết bao
lần rồi và đã kết quả bất ngờ. Thêm vào đó là những hội học,
những sách vở báo chí muôn mặt đã được phổ biến khắp nơi
một cách rất hợp thời.
Bức thông điệp của Đức Lêô XIII hữu ích như vậy,
không phải là hết đâu. Những bài học đó, đã dần dần tiêm
nhiễn luôn cả tâm hồn những người thiện chí không được hân
hạnh hợp nhất với giáo hội, vì chưa phục quyền duy nhất của
Người.
- Như vậy những nguyên tắc giáo hội đã đề cập về xã
hội, đã dần dần hóa nên sản nghiệp chung của nhân loại. Ta
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 104
hết sức mừng rỡ, khi thấy những chân lý vĩnh cửu, Đức Tiên
Giáo hoàng đã công bố mỗi ngày một được đề cập và bảo vệ
ráo riết hơn trong các sách vở báo chí công giáo và không
công giáo, và trong cả các quốc hội và tòa án.
Hơn thế nữa, sau một cuộc thế chiến kinh khủng, các
nhà chính trị ở các cường quốc đã quyết định cải tạo đời sống
xã hội để xây dựng hòa bình thế giới cho kiên cố. Vậy những
nguyên tắc họ đề cập để tu bổ lại nền cần lao cho công bằng
và bác ái, đều giống những nguyên tắc và huấn dụ của Đức
Lêô XIII, đến nỗi ta có cảm tưởng rằng : những nguyên tắc ấy
bởi bức thông điệp “RN” trích ra. Thực sự bức thông điệp ấy
đáng ghi nhớ. Ta có thể áp dụng vào nó, lời tiên tri của Isaia
đã nói : “Đó là một biệt hiệu đã được dựng lên cho các dân
nước thiên hạ”.
- b) Phần thực hành.
- Những nguyên tắc Đức Lêô XIIIb đã đề cập đến, ai
cũng đã tìm hiểu sâu rộng trong phạm vi lý thuyết, và nhờ đó
đã tiêm nhiễm tâm trí xã hội. Nhưng quý hơn nữa là những
nguyên tắc ấy đã được áp dụng vào thực tế. Trước hết bao
người thiện chí đã nỗ lực nâng cao địa vị sinh hoạt của các
công nhân. Dầu giai cấp lao động càng ngày càng thêm đông,
dầu đại kỹ nghệ ngày một phát triển thêm, giới lao động cũng
không chiếm lấy được một địa vị khả quan hơn trong xã hội.
Nên công nhân vẫn trơ trọi mà lại bị khinh chê nữa. Ta nói về
giới lao động mà các linh mục triều hay tu dòng đã tìm giải
phóng không cứ gì những công việc mục vụ mà họ gánh vác
từ trước dưới quyền chỉ dẫn của các giám mục; những linh
mục ấy đã tận tâm với các công nhân, thì công nhân hưởng
lợi rất nhiều, vì linh mục bền chí, thì tinh thần công giáo của
công nhân lại cao lên. Nhờ đó, công nhân mới ý thức chức
vụ. Họ ý thức phận sự và quyền lợi giai cấp của họ. Họ lại đủ
TỨ THẬP NIÊN 105
năng lực mà tiến bước trên đường công lý, tiến triển, đến nỗi
họ đứng dậy hướng dẫn được anh em đồng nghề.
Kết quả là các công nhân kiếm được sinh kế dồi dào và
vững chắc hơn. Theo lời Đức Tiên Giáo hoàng khuyên nhủ,
không những các việc bái ái từ thiện được phát triển, mà lại
theo ý sở nguyện của giáo hội, nhờ sự hấp dẫn của các linh
mục. Ta đã thấy những công cuộc ủng hộ và viện trợ công
nhân càng ngày càng được thiết lập nhiều, và đoàn tụ đủ mọi
người nông dân và lao động…
- Sự can thiệp của chính quyền.
- Chính quyền đã bị chủ nghĩa tự do chế ngự trong
phạm vi bảo vệ trật tự và luật pháp. Đức Lêô XIII mạnh bạo
phá vỡ những biên giới chật hẹp ấy. Ngài công bố rằng :
chính quyền phải lợi dụng luật pháp và mọi cơ cấu xã hội để
thiết lập một hiến pháp và một nền hành chánh đủ năng lực
để phát triển sự thái bình công và tư. Đã đành chính quyền
phải nhường chỗ cho từng cá nhân và từng gia đình đủ quyền
tự do hành động. Nhưng với hai điều kiện cần thiết ; thứ nhất
là giữ công ích nguyên vẹn; thứ hai là giữ quyền bất khả xâm
phạm của tư nhân. Đã đành chính quyền phải bảo vệ cả cộng
đồng xã hội, nhưng chính quyền cũng phải bảo vệ từng công
dân tự nhiên hợp với nhau thành cộng đồng xã hội. Vậy trong
việc bảo vệ từng công dân, chính quyền phải săn sóc riêng
những người bần cùng và yếu đuối (x. RN 19).
- Ta không dám chối rằng, trước khi bức thông điệp
của Đức Lêô XIII xuất hiện, thì bao chính phủ cũng đã cung
cấp những sự cần thiết thượng khẩn của giới lao động rồi; họ
đã bài xích những tai hại các công nhân dầu vô tội cũng đã
phải chịu từ trước. Nhưng chỉ có khi nào tòa thánh can thiệp,
tiếng Đức Giáo hoàng vang dội khắp thiên hạ, là khi ấy các
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 106
nhà cầm quyền ý thức sứ vụ và tận tâm hiệp lực mới bắt đầu
thực hành một chính sách xã hội rộng rãi hơn.
- Những định lý của chủ nghĩa tự do đã từ lâu năm
làm cho chính quyền tỏ ra bất lực. Vậy đang lúc những định lý
giả dối này bắt đầu lung lay, bức thông điệp RN hiện ra. Ngay
từ ở trong đại chúng, một phong trào mãnh liệt bùng nổ, vừa
đòi hỏi vừa ủng hộ một chính sách xã hội hiệu lực hơn. Chính
quyền lại được những giáo dân ưu tú mạnh sức chống đỡ, vì
chính họ đã đề cập bộ luật mới này trong các quốc hội xưa
nay. Hơn nữa, nhờ bao linh mục thấu triệt học thuyết xã hội
của Đức Lêô XIII can thiệp, thì mới có nhiều luật lệ xã hội
được đưa ra cho các quốc hội phê chuẩn. Cũng vì các linh
mục ấy ân cần thúc đẩy, những luật lệ ấy đã được thi hành
vẹn toàn.
- Nhờ những người thiện chí tận tâm hiệp lực như
vậy, một bộ pháp luật mới đã xuất hiện. Đời trước không ai
biết đến, ngày nay ai cũng hưởng lợi. Những quyền lợi bất
khả xâm phạm công nhân đã có sẵn, vì nhân phẩm hay chức
vị kitô hữu của họ, được tôn trọng cho cân xứng. Những điều
luật bảo vệ giới lao động ấy, thì bao quát cả địa vị sinh hoạt
của công nhân nam nữ; tuổi trẻ, sức khỏe, năng lực, gia đình,
nhà ở, xưởng máy, tiền lương và bảo hiểm những sự rủi ro
của cần lao.
- Ta không nói được những điều luật ấy lúc nào và
nơi nào cũng hoàn toàn thích ứng với những nguyên tắc Đức
Lêô XIII đề cập. Nhưng không ai chối được rằng bức thông
điệp RN đã có ảnh hưởng đến. Thành ra sự cải thiện địa vị
sinh hoạt của công nhân, phần lớn là do bức thông điệp quý
giá của Đức Lêô XIII, là một bức thông điệp đáng ghi nhớ
muôn đời.
TỨ THẬP NIÊN 107
- Sự cộng tác của chủ nhân và công nhân.
- Đức Tiên Giáo hoàng lại sáng suốt chứng minh rằng
: chính các chủ nhân và công nhân có thể góp phần hiệu
nghiệm trong việc giải quyết vấn đề xã hội, nhờ những công
cuộc vừa để nâng đỡ kẻ bần cùng vừa tìm hòa giải hai giai
cấp. Trong những công cuộc ấy, cần thiết nhất theo ý Ngài là
những nghiệp đoàn hoặc riêng cho công nhân, hoặc chung
cho cả công nhân và chủ nhân. Đức Giáo hoàng viết vài lời
hoặc ca tụng hoặc củng cố những hội đoàn ấy. Ngài định
nghĩa bày tỏ lý do, sự hợp thời, quyền lợi, nghĩa vụ và các
luật lệ vốn điều khiển những tổ chức như vậy.
Những huấn thị này quả thực là rất hợp thời. Thời kỳ
đó, ở nhiều quốc gia, chính quyền thụ hưởng chủ nghĩa tự do,
nên ác cảm với những hội đoàn bảo vệ lao động, nhiều khi
họ lại phản đối công khai nữa. Họ tình nguyện chuẩn y ủng
hộ những hội đoàn tương đương được sáng lập trong những
giai cấp xã hội khác. Nhưng nhất định chối không cho lao
công hợp đoàn, đó là một thái độ bất công rõ ràng, vì quyền
họp đoàn là quyền tự nhiên của con người mà họ chối không
cho lao động là kẻ cần phải họp đoàn mới tự cứu mình khỏi bị
những người mạnh quyền áp bức.
Ngay trong những giới công giáo, những cố gắng hợp
đoàn của công nhân cũng bị tình nghi là những mưu mô của
phái xã hội và bọn cách mạng.
- a) Hội đoàn lao công
- Những huấn lệnh uy quyền của Đức Lêô XIII, đã có
công phá mọi trở lực, giải tán mọi tình nghi. Nhưng vinh hạnh
nhất là theo những huấn lệnh ấy, bao nhiêu người lao công
kitô hữu đã đua nhau tổ chức nghiệp đoàn, theo lời Đức Lêô
XIII đã chỉ dạy cho. Nhờ đó họ giữ lại trên đường chính
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 108
những công nhân bị lôi cuốn quyết ghi tên vào những tổ chức
do chủ nghĩa xã hội lập ra rồi tự đắc chỉ có họ mới bảo vệ và
ủng hộ người bần cùng, kẻ bị áp bức.
- Về việc lập các hội đồng công nhân kitô hữu, bức
thông điệp “RN” có câu rằng: (RN 42,43).
Đâu đâu cũng có linh mục hợp tác với giáo dân lập các
nghiệp đoàn nói trên. Các ngài đáng khen vì đông mà lại rất
tận tâm với học thuyết của Đức Lêô XIII mà họ đã quyết thực
hành. Nhờ những hội đoàn ấy, có cả một thế hệ công nhân
kitô hữu được huấn luyện chu đáo, tìm hòa nhịp trong đời
sống những đòi hỏi công nghề với những tín ngưỡng công
giáo của họ. Nhờ đó họ được đủ sức mạnh để bảo vệ phận sự
và quyền lợi thế tục của họ một cách cương quyết vừa thích
hợp với công lý. Họ lại đem lòng thành thực hợp tác với các
giai cấp xã hội khác để phục hưng lại xã hội theo lý tưởng
phúc âm.
Học thuyết và huấn lệnh của Đức Lêô XIII nhờ đó mà
được thực hiện theo trăm ngàn thể thức tùy thời thế hoàn
cảnh đòi hỏi bắt buộc. Chỗ này thì chỉ lập ra một tổng hội
theo đuổi mục đích của Đức Lêô XIII đề cập, nơi khác vì
hoàn cảnh cần lao chuyên biệt, hội đoàn này thì bảo vệ
quyền lợi và bổn phận công nhân trong phạm vi cần lao; hội
đoàn kia thì lại chuyên lo tổ chức việc công nhân nâng đỡ
nhau trong phạm vi kinh tế. Còn về tôn giáo và luân lý hay
những sự cần tương đương như vậy thì có những hội đoàn
khác chuyên lo.
- Tổ chức thứ hai này ưu thắng hoặc ở những chỗ luật
pháp kinh tế hay xã hội nghiêm khắc bắt buộc, hoặc ở những
chỗ công nhân phải đối phó với những phong trào phá rối trật
tự bằng một mặt trận thống nhất, cấm ngặt không được lập
nghiệp đoàn lao công kitô hữu công khai. Trong những trường
TỨ THẬP NIÊN 109
hợp ấy, công nhân công giáo hầu như bắt buộc phải nhập vào
những nghiệp đoàn trung lập, nhưng tôn trọng công bằng bác
ái và quyền tự do sống theo lương tâm và luật giáo hội. Các
giám mục phải kiểm soát và quy định các hội đoàn ấy có
thích hợp với thời thế hoàn cảnh, mà có nguy hiểm gì cho đạo
công giáo chăng. Nếu có đủ điều kiện các ngài có quyền
rộng phép cho các công nhân công giáo nhập vào tùy theo
những luật lệ và những huấn lệnh của Đức Piô X, Đức Tiên
Giáo hoàng khả kính của chúng ta. Theo những huấn lệnh ấy,
điều cần thiết nhất là bên cạnh các công đoàn này, phải lập
những hội đoàn công giáo luôn luôn tận tâm huấn luyện công
nhân cho họ chóng trở nên những kitô hữu thấu đạo, thông
luân lý, và hằng tiêm nhiễm tinh thần phúc âm vào mọi hành
động sinh hoạt của họ. Nhờ vậy các hội đoàn kia có lẽ sẽ gây
ảnh hưởng rộng ra ngoài cả phạm vi đời sống riêng của các cá
nhân.
- b) Những hội đoàn hành động trong các giai cấp khác.
- hơn thế nữa, những huấn dụ khôn ngoan, những
huấn lệnh rõ rệt của Đức Lêô XIII về quyền tự do hội họp,
đã được thích dụng trong những giai cấp không phải là lao
động. Bức thông điệp của ngài đã gây dịp rất thuận tiện cho
bao nhiêu hội đoàn hữu ích khác được thành lập và phát triển
mạnh trong giới nông dân. Giới trung lưu và nhiều tổ chức
tương đương khác, hằng dung hòa nguồn lợi kinh tế với phận
sự giáo dục con người.
- c) Công đoàn chủ nhân.
- Nhưng ta không thể nào nói thế, về các hội đoàn
chủ nhân hay chủ nghiệp mà Đức Tiên Giáo hoàng đã hết sức
mong ước. Ta cũng rất tiếc vì những hội đoàn ấy còn hiếm
quá. Cái đó không phải là chỉ lỗi tại người ta đâu. Về đàng ấy
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 110
đời ta đầy những trở lực chẳng mấy ai thắng nổi. Ta biết
những trở lực ấy, mà lại lượng giá cho cân xứng nữa. Nhưng
ta cũng mong ước những trở lực ấy trong một ngày gần đây sẽ
tan đi. Ta đón mừng và thành thực ca tụng những cố gắng
hùng dũng của bao người thiện chí, đáng rút kinh nghiệm về
đàng ấy. Chắc thể nào chẳng bao lâu nữa, họ sẽ được hái quả
tốt đẹp hơn cả những hoa quả họ đang mong.
Bức thông điệp RN là hiến chương của lao
động.
- Những ân huệ bởi bức thông điệp RN Ta chỉ lược
qua vậy thôi, không diễn tả hết được. Những hiệu quả vô số
và quan trọng do bức thông điệp ấy gây nên chứng tỏ rõ rằng
chủ nghĩa xã hội của Đức Lêô XIII không phải chỉ là một ảo
tưởng rực rỡ nhưng không ai thực hành được đâu. Đó là một
lý tưởng rất đẹp. Đức Tiên Giáo hoàng đã rút sẵn ở trong
nguồn sống của phúc âm, một học thuyết hiệu lực có lẽ chưa
giải quyết hết mọi vấn đề xã hội hiện tại, nhưng ít nhất cũng
giảm bớt được tai hại của một xã hội tương tranh kịch liệt gây
nên. Bức thông điệp của Đức Lêô XIII là một hạt giống đã
được gieo rắc một phần nào trong những đồng ruộng phì
nhiêu. Bằng chứng rõ ràng là những hiệu quả rất đẹp mà nhờ
ơn Chúa giáo hội và cả nhân loại đã gặt hái trong 40 năm vừa
qua.
- Với thời gian, bức thông điệp RN đã dần dần hiện ra
là hiến chương của mọi hành động công giáo trong phạm vi
xã hội. Ai khinh thường bức thông điệp được cả thế giới long
trọng kỷ niệm năm nay, thì rõ ràng là kẻ khinh thường những
sự mà họ chưa biết. Hoặc kẻ ấy chưa hiểu những điều tai đã
nghe, hoặc là người hiểu biết hết, nên đáng bị kết án là kẻ
vong ân và bất công.
TỨ THẬP NIÊN 111
Cũng với thời gian, đã có những đoạn trong bức thông
điệp, hoặc bị người ta hồ nghi không biết phân giải thế nào,
hoặc khiến người ta hoang mang không biết áp dụng làm sao
cho hợp lý. Thỉnh thoảng cũng đã từng có những cuộc bàn
luận sôi nổi giữa giáo dân về những vấn đề đó. Ngoài ra
những đòi hỏi của đời ta bây giờ, những biến cố lớn đã xảy ra
trong phạm vi quốc tế cũng buộc ta lên tiếng, hoặc để chỉ lối
áp dụng học thuyết xã hội của Đức Lêô XIII, hoặc bổ khuyết
những quan điểm còn thiếu, Vậy cứ theo sứ vụ tông đồ buộc
ta phải phụng sự toàn thể nhân loại, ta hân hạnh nhân dịp rất
thuận tiện này để giải quyết những điều còn khắt khe và giải
đáp những vấn đề mới được nêu lên.
- HỌC THUYẾT CÔNG GIÁO VỀ VẤN ĐỀ KINH TẾ
VÀ XÃ HỘI.
- Trước khi nhập đề ta đã nhấn mạnh vào nguyên tắc
chính Đức Lêô XIII đã đề cao rằng : Ta có quyền mà lại có
phận sự đem cả thiên chức uy linh của Ta, để giải quyết
những vấn đề thuộc phạm vi kinh tế và xã hội.
Đã đành sứ vụ riêng của giáo hội không phải chỉ là dẫn
đưa nhân loại đến hạnh phúc tạm gửi chóng qua đời này. Giáo
hội phải đưa nhân loại đến hạnh phúc trường sinh. Hơn thế,
giáo hội không sao nhận mình có quyền tham gia vào những
việc thuộc về thế tục. Thật ra, để giải quyết những vấn đề
kinh tế xã hội về phương diện kỹ thuật chuyên môn, giáo hội
không những thiếu phương tiện mà lại thiếu luôn cả năng lực.
Nhưng dầu thể nào mặc lòng, giáo hội không thể nào sao
nhãng sứ vụ Thiên Chúa đã giao uỷ cho, mà không tham gia
vào tất cả mọi phạm vi đời sống có liên quan đến chân lý. Ta
có phận sự duy trì những chân lý của phúc âm. Ta buộc nhặt
phải tuyên bố, giải nghĩa, rao giảng luân lý nữa, về đủ mọi
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 112
phương diện, bất cứ Ta gặp phải trở lực nào. Vậy không ai
chối được tổ chức xã hội và kinh tế tự nhiên liên quan với
luân lý. Nên ta có quyền can thiệp vào, ít nhất là về phương
diện ấy. Quả thật, phạm vi kinh tế và phạm vi luân lý thì khác
nhau xa. Mỗi phạm vi cũng có những nguyên tắc khảo cứu và
hành động riêng biệt. Nhưng phân tích kinh tế học và luân lý
đến nỗi luân lý không còn ảnh hưởng gì đến kinh tế là lầm to.
Đã đành những luật lệ kinh tế thì căn cứu vào thiên nhiên và
những năng lực hồn xác của con người. Nhờ đó kinh tế học
mới cho ta biết rõ những vật đích kinh tế theo đuổi, mà năng
lực cá nhân không sao đạt tới được. Trong những vật đích ấy,
nó lại theo đuổi những mục tiêu nào, rồi quyết thực hành
những mục tiêu ấy bằng cách nào ? Đằng khác lý trí căn cứ
vào thiên nhiên, bản tính cá nhân và xã hội của con người để
cho ta biết cứu cánh tuyệt đối, mà tạo hóa đã định cho nhân
loại phải theo đuổi trong cả phạm vi kinh tế nữa.
- Nhưng chỉ luân lý mới buộc chúng ta phải theo đuổi
những mục tiêu trực tiếp thiên nhiên và nhất là Tạo hóa đã
định cho mỗi phạm vi hành động của ta, rồi minh phối những
mục tiêu ấy tự nhiên hòa hợp với nhau, theo cứu cánh tuyệt
đối ai cũng phải đạt tới trong đời sống của mình. Trung thành
theo đuổi cứu cánh này, tất cả mục tiêu riêng loài người quyết
đạt tới bằng những hành động cá nhân hoặc xã hội hay kinh
tế, sẽ tự nhiên ăn khớp với nhau khôn khéo lạ lùng. Nhờ vậy
loài người sẽ tiến dần dần hầu như đi từng bước một trên
đường đưa tới tuyệt đỉnh cao thượng muôn vật hằng hướng
đến : Tức là Thiên Chúa; đối nội là Đấng hoàn hảo tuyệt mỹ;
đối ngoại (tức là đối với nhân loại) là nguồn phúc vô tận tuyệt
đối ai cũng mong tới.
TỨ THẬP NIÊN 113
Quyền tư hữu
- Bây giờ ta nhập đề. Trong những điều ta quyết bàn
giải, điều thứ nhất là quyền tư hữu.
Anh em thân mến, anh em thừa biết Đức Tiên Giáo
hoàng đáng nhớ đã bênh vực quyền tư hữu khỏi mọi tà thuyết
xã hội đời trước phá tan. Ngài đã chứng tỏ một cách hùng hồn
và rõ ràng : Bài trừ quyền tư hữu này thì thay vì gây ích lợi
cho giai cấp lao động, chỉ là gây tai hại không tả xiết. Nhưng
dầu sao cũng không thiếu người bỏ vạ cho Tòa thánh và cả
giáo hội, mà kêu trách rằng: Đức Tiên Giáo hoàng đã bênh
vực và cứ bênh vực mãi kẻ giầu sang mà bỏ mặc kẻ bần cùng
vô sản. Thật là một điều lăng mạ không ai chịu được.
Mặt khác, chính giáo dân bất đồng ý về cách giải nghĩa
quan niệm của Đức Lêô XIII về quyền tư hữu. Vậy thiết
tưởng ta phải rửa nhục cho giáo hội đã bị cáo gian vì học
thuyết xã hội của Đức Lêô XIII, là học thuyết chính thức của
giáo hội, rồi ta phải cải chính những điều đã bị giải thích trái
sự thực.
Quyền tư hữu có tư cách cá nhân và xã hội.
- Một điều ai cũng phải nắm chắc là Đức Lêô XIII và
các nhà thần học, đều giải thích giáo lý dưới sự linh ứng và
kiểm duyệt của giáo hội. Các ngài không bao giờ chối và
không bao giờ bài bác hai tính cách tự nhiên của mọi quyền tư
hữu, bất cứ quyền ấy gây lợi ích riêng cho từng công nhân,
hay chỉ quy về công ích của toàn dân. Trái lại ai cũng đồng ý
công nhận rằng, quyền tư hữu thì bởi thiên nhiên, tức là bởi
Tạo hóa phú ban cho nhân loại. Nhân loại hưởng dụng quyền
ấy theo hai mục đích. Thứ nhất là để mọi người tìm kế sinh
nhai và cấp đủ sự cần cho cả gia quyến; thứ hai là để mọi của
cải Tạo hóa cấp chung cho nhân loại, nhờ quyền tư hữu nói
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 114
trên được mưu ích thực sự cho từng người. Nên trong thực
hành xã hội phải duy trì trật tự tự nhiên và liệu cho có quy
cách vững vàng.
Cho nên có hai chướng ngại ai cũng phải cẩn thận tránh
xa : chối hay cứ giảm mãi tính cách xã hội và công chính của
quyền tư hữu, là xa vào chủ nghĩa cá nhân khốc hại. Trái lại,
chối hay cứ giảm mãi tư cách tư nhân của quyền sở hữu lại là
sa vào chủ nghĩa tập sản (hay cộng sản) không kém khốc hại.
Nếu không sa vào hoàn toàn thì ít nhất cũng là thông phần sai
lạc của có.
Không khéo tránh hai chướng ngại đó, thì thế nào cũng
phải quy về phong trào luân lý, pháp luật hay xã hội hiếu tân,
mà chính ta đã cảnh cáo ngay từ lúc mới lên ngôi giáo hoàng.
Yêu cầu mọi người và nhất là những kẻ mới trôi theo
phong trào cải tân, (làm ơn chú trọng điểm ấy). Họ vô lý khi
quở trách giáo hội đã mặc các nhà thần học truyền bá quan
niệm tha dân xưa về quyền tư hữu, đang lúc họ hấp tấp đề
nghị một quan niệm sai lạc, mà họ vô ý thức giới thiệu là
quan niệm kitô hữu chính đáng.
Phận sự kèm theo quyền tư hữu.
- Bàn tán về những sự xích mích do quyền tư hữu và
phận sự kèm theo nó, mà không muốn ngoại đề, thì ta phải
nhắc lại nguyên tắc căn bản chính Đức Lêô XIII đã nhấn
mạnh từ trước : quyền tư hữu không thể nào hòa lẫn với thể
cách dùng quyền ấy. Phận sự tôn trọng sở hữu của từng
người, do đức công bằng thường gọi là công bằng giao hoán
(justice commutative) bắt buộc. Cũng do một nhân đức ấy, mà
mọi người cấm không được vượt qua quyền lợi riêng mà
chạm đến quyền lợi kẻ khác. Mặt khác, phận sự buộc các chủ
sản dùng quyền sở hữu của họ cho hợp lý; thì do các nhân
TỨ THẬP NIÊN 115
đức khác, chứ không bởi đức công bằng nói trên mà ra. Vì
thế, dầu phận sự dùng của cho hợp lý buộc ngặt thì cũng
không ai căn cứ vào pháp luật, để cưỡng bách người ta tuân
giữ nó được; thành ra tìm đồng nhất quyền sở hữu và cách
dùng sở hữu riêng, là lầm to. Nhưng lầm to hơn nữa là quyết
bài trừ quyền tư hữu, nguyên vì lý do người ta đã dùng quyền
trái lý, hay cứ bỏ hoang những sở hữu của họ. Trái lại, một
việc hữu ích đáng khen là tận tâm hiệp lực tránh xa mọi xích
mích là đồng ý với nhau tìm bảo vệ học thuyết xã hội của
giáo hội cho vẹn toàn. Rồi mải miết tìm phân minh những bổn
phận chủ sở hữu phải đảm nhiệm đối với xã hội, là định giới
hạn quyền tư hữu không thể nào vượt qua cả trong cách
hưởng sở hữu. Nhưng tìm giảm bớt tính cách tư nhân của
quyền sở hữu này đến nỗi trong thực hành không còn tư nhân
nào đòi quyền ấy được nữa, đó thật là lỗi lầm và hại lớn.
Chính quyền quốc gia.
- Về vấn đề sở hữu này mọi người phải nhắm hai mục
đích. Quyền tư hữu có tính cách tư nhân và xã hội; cho nên ai
cũng phải dùng trực tiếp để gây tư lợi gián tiếp để gây ích lợi
chung cho cả cộng đồng xã hội. Vậy hễ khi nào có sự khẩn
cấp, mà lại luật tự nhiên vẫn lu mờ không rõ, thì các nhà cầm
quyền trong xã hội, phải can thiệp định rõ phận sự của từng
công dân đối với công ích. Trong những trường hợp đó, chính
quyền phải tìm hiểu những đòi hỏi của công ích, rồi ấn định
công dân phải dùng sở hữu làm sao cho thích hợp với luật tự
nhiên và lệnh Tạo hóa. Đức Lêô XIII sáng suốt dạy rằng :
Thiên Chúa đã uỷ việc định hạn sở hữu cho lý trí lỗi lạc của
từng người và cho những cơ cấu xã hội của từng dân tộc. Thể
cách hưởng dụng quyền tư hữu, cũng như một chế độ xã hội
phải thay đổi theo thời thế hoàn cảnh, nên không nói được là
sự bất di bất dịch đâu. Điểm ấy lịch sử làm chứng rõ ràng, và
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 116
chính ta đã nhấn mạnh trong một bài diễn văn khác : (diễn
văn cho công giáo tiến hành Ý, 16.3.1926) Ta nói rằng :
“Những thể cách hưởng dụng quyền tư hữu đã biến hóa luôn
từ thể cách thô sơ của các dân mường mọi xưa” và còn được
duy trì ở một vài địa phương, trải qua thể cách tộc trưởng, sang
đến thể cách độc tài, phong kiến đế vương vừa rồi, cho đến
những thể cách rất phức tạp của xã hội cận kim. Nhưng dầu
sao, ta không nói được trong phạm vi ấy chính quyền định làm
gì cũng được đâu. Bất cứ lúc nào quyền tư hữu là quyền tự
nhiên và quyền truyền gia sản theo lời thừa kế phải tuân giữ
vẹn toàn. Quyền ấy không chính phủ nào bãi bỏ được, vì con
người có trước, xã hội có sau; gia đình lại là xã hội có trước,
xã hội dân chính mới có sau không những trong lý thuyết mà
lại trong cả thực tế nữa. Cũng vì thế mà Đức Lêô XIII đã nói
quyết rằng : chính phủ không sao làm kiệt quệ quyền tư hữu
của từng công dân vì bắt thuế quá nặng. Quyền tư hữu là
quyền thiên tạo chứ không chỉ là một quyền nhân tạo đâu,
thành ra chính quyền điều khiển được người ta lợi dụng
quyền ấy làm sao cho nó hòa hợp với công ích. Nhưng chính
quyền không sao bãi bỏ nó được. Hễ khi nào chính quyền tìm
dung hòa quyền tư hữu với công ích, thì chẳng những không
đáng gọi là kẻ thù nghịch các chủ sản, mà lại đáng được các
chủ sản nhận thực là bạn hữu ân cần cứu thoát quyền tư hữu,
vốn được Thiên Chúa quan phòng dựng nên để giúp ích cho
nhân loại khỏi gây bao thiệt hại nguy khốn và tự tiêu diệt dần
dần. Nhờ vậy, chính quyền không đàn áp quyền tư hữu đâu,
mà cứ bảo vệ nó. Thay vì làm cho nó sút kém chính quyền
tăng lực cho nó.
Phận sự đối với hoa lợi tiêu dụng được.
- Loài người không ai có quyền tiêu dụng phần hoa
lợi thừa dư tùy ý sở nguyện. Phần hoa lợi nói đây gồm tất cả
TỨ THẬP NIÊN 117
phần hoa lợi còn dư sau khi mình đã cấp đủ sự cần cho đời
sống luôn luôn cân xứng với địa vị. Trái lại, kẻ giàu sang
buộc ngặt phải thí của, làm việc từ thiện, tỏ mình rộng rãi
theo lời Thánh Kinh và các tiến sĩ hội thánh không ngừng
giảng dạy.
Vậy căn cứ vào những nguyên tắc thánh Thomas thường
hay đề cập, ta có thể kết luận rằng : Những người nào có
phần lợi thừa dư mà đem góp vào một xí nghiệp đang phát
triển gây dịp cho công nhân tìm việc lĩnh lương phải chăng,
mà lại sản xuất những đồ hữu ích thật, thì những người ấy
thực hành luật bố thí, làm việc từ thiện một cách rất đáng
khen và rất thích hợp với những đòi hỏi của đời ta, ấy là thực
hành đức quảng đại thực lòng.
Quyền sở hữu chính đáng căn cứ vào đâu
- Theo những phong tục di truyền và phổ biến khắp
nơi, theo các huấn thị của Đức Tiên Giáo hoàng Leo XIII,
những lý do chính tự nhiên phát sinh quyền sở hữu của bất cứ
người nào, thì có hai : tiên chiếm một đồ vật còn vô chủ; lao
công để biến hóa một vật liệu nào thành một đồ vật hữu ích
có giá trị. Quả thật, không cứ gì những dư luận vô lý bay bổng
tiên chiếm những đồ hoang chưa nhập sở hữu của ai hết,
không phải là sự bất công đâu, “tiên chiếm giả đắc”. Mặt
khác, lấy một đồ vật thuộc sở hữu của mình, rồi xuất công
biến hóa thành đồ vật hữu ích và thêm giá trị, cũng là đủ mà
đòi toàn quyền đến sản phẩm ấy.
a) Tư bản và cần lao
40. Kẻ làm mướn, tức là làm việc cho một người hứa trả
công và cấp sẵn đủ vật liệu, thì khác hẳn. Ta phải áp dụng
cho kẻ ấy những lời tuyên bố của Đức Lêô XIII đã quyết
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 118
rằng : không ai chối cãi được phúc lợi của các dân tộc đều
phát nguồn từ ở cần lao. Ta nhận thấy rằng : Những sản phẩm
mênh mông đủ thứ làm cho các dân nước ngày càng phong
phú hơn, há chẳng phải do bàn tay lao động phát xuất ư ? Dầu
họ làm bằng tay hay nhờ những máy móc tăng lực cho, ta
cũng phải công nhận những sản vật ấy là công nghiệp của họ.
Ai cũng phải nhận rằng: không dân nào thoát khỏi sự bần
cùng và sự khốn cực, nếu dân nước ấy không động viên toàn
lực để hợp tác vào cần lao; bằng cách lao tâm chỉ huy, hay
bằng cách lao động thực hành đủ mọi công việc cần thiết.
Đàng khác những năng lực sản xuất kia, chắc thể nào cũng sẽ
vô hiệu quả, nếu Tạo hóa dựng nên muôn vật không tỏ lòng
quảng đại mà tiềm tàng trong thiên nhiên đủ nguyên liệu và
nguyên lực. Ngoài ra cần lao là gì, há chẳng phải là xuất đủ
mọi năng lực tâm trí và thể xác, hoặc để cải hóa muôn vật
trong thiên nhiên cho hữu ích hơn, hoặc để hưởng dụng
những sự vật ấy làm khí cụ thích ứng với công việc mình
quyết thực hành ư ?
- Vậy luật thiên nhiên vốn bày tỏ ý Tạo hóa cho nhân
loại noi theo, ép buộc ai nấy cũng phải chia sản phẩm của
thiên nhiên cho thích hợp với những nhu cầu chính đáng của
nhân loại, theo một tổ chức thứ tự hoàn hảo. Luật ấy không
sao thực hành được, nếu chúng ta chối quyền sở hữu. Vật nào
chủ ấy. Thành ra ngoài trường hợp công nhân dùng vật liệu
riêng mà làm việc, thì sự cộng tác giữa người có tư bản và
người cần lao làm việc là sự tối cần. Thiếu sự cộng tác này,
bên nào cũng ra vô hiệu lực. Những lời Đức Lêô XIII đã nói
quyết rằng : cần lao thiếu tư bản, tư bản thiếu cần lao cũng
thành vô ích cả hai. Phải hiểu như vậy.
Vì vậy, dồn vào tư bản hay vào cần lao, những công
hiệu do cả hai hợp tác gây nên, là một lầm lỗi lớn. Tư bản
cảnh cáo cần lao là vô ích, cần lao cảnh cáo tư bản là vô
TỨ THẬP NIÊN 119
dụng, đằng nào cũng là phạm đến công bằng. Vì cả hai tư bản
và cần lao hợp tác chặt chẽ thân mật với nhau thì mới có công
hiệu.
b) Những đòi hỏi vô lý của tư bản
42. Quả thật phần hoa lợi mà xưa nay, tư bản đòi làm
phần riêng thì đã quá nhiều. Nó đòi luôn sản phẩm và cả hoa
lợi nữa, chỉ nhường cho cần lao đủ tiền lương bổ sức và
truyền nòi là một sự bất công. Người ta quyết rằng luật kinh
tế thì bất di bất dịch. Nó buộc tư bản chồng chất trong tay cả
vốn liếng, và buộc cần lao phải kéo lê một đời sống bấp bênh
trong cảnh thiếu thốn bần cùng không ai tránh được. Nhưng
cũng may mà thực tế không thích hợp với những lý thuyết mà
chủ nghĩa tự do bởi trường Manchester khởi xướng từ trước.
Nhưng dầu sao, nền kinh tế xã hội đã không ngừng hướng
chiều về những lý thuyết khốc hại đó. Bởi thế không còn ai
ngạc nhiên được, khi thấy những huấn lệnh và những tà
thuyết ấy bị phản đối kịch liệt từ ở những người không thuộc
giai cấp lao công. Vì những tà thuyết ấy công nhận không
được vươn mình lên một địa vị sinh hoạt khả quan hơn nữa.
c) Những đòi hỏi vô lý của cần lao.
43. Đối lại bao người trí thức thiện chí nhập vào phe lao
động để thúc họ đả phá luật kinh tế giả tạo kia, để áp dụng
một luật luân lý cũng hư ảo: Sản phẩm và hoa lợi trừ phần cần
thiết để hoàn giao và tu bổ lại tiền vốn đã tiêu xuất, phần còn
lại đương nhiên là của công nhân. Đó cũng là một đòi hỏi vô
lý và sai lầm. Nhưng còn một đòi hỏi vô lý hơn nữa, là đòi hỏi
của chủ nghĩa xã hội đòi phải trao lại cho chính phủ hay quốc
hữu hóa tất cả mọi khí cụ sản xuất.
Nhưng dầu không nói rõ đòi hỏi kia sai lầm ở chỗ nào,
có lẽ nó nguy hại hơn, vì nó sẽ đánh lừa những người thiếu
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 120
kinh nghiệm và hay mê tín. Nó là một nọc độc ai thụ hưởng
cũng bị say mê. Cả những người kịch liệt chống trả chủ nghĩa
xã hội, đã liều mình niếm thử nó.
Một nguyên tắc chính đáng, phải áp dụng vào
việc phân chia hoa lợi.
- Những tà thuyết bành trướng mãi, thì rất có thể ngăn
đường đưa đến công bằng và hòa bình vĩnh viễn. Nên bất cứ
bên nào, tư bản và lao công cũng đã cần đến những huấn thị
sáng suốt của Đức Tiên Giáo hoàng: “Dầu đã phân chia từng
sở hữu riêng, hoàn cầu vẫn mưu ích chung cho toàn thể nhân
loại”. Chính Ta mới nhắc lại nguyên tắc ấy rằng: Để mưu ích
chung cho nhân loại một cách vững chắc và thứ tự. Tạo hóa
mới đặt quyền tư hữu làm phương tiện phân công chia của. Bỏ
nhãng nguyên tắc căn bản này là liều mình lạc xa đường
chính.
- Vậy phân chia sản phẩm và hoa lợi lung tung, không
phải là phương cách thực hiện ý Tạo Hóa tiền định cho thích
hợp với những hoàn cảnh hay thay đổi của nhân loại. Nền
kinh tế xã hội càng ngày càng phát triển, sản phẩm càng ngày
càng dư thừa. Nên phải lo phân chia hoa lợi làm sao cho từng
cá nhân, và đủ mọi giai cấp xã hội hưởng phần công ích theo
lời Đức Lêô XIII đã giảng dạy: cho công ích toàn thể xã hội
được tôn trọng thật sự. Công bằng xã hội cấm giai cấp này
không được làm khó dễ để cho giai cấp kia thông phần hoa
lợi cho cân xứng. Giai cấp này hay giai cấp kia cũng lỗi luật
chí thánh này như nhau: kẻ giầu sang vì tiền của nhiều nên
không cần lo xa. Nếu họ xét đó là một tình trạng tự nhiên
chính đáng mà dành hết hoa lợi làm của riêng, không nhường
phần nào cho công nhân, thì họ lỗi đến công bằng nói trên.
Kẻ vô sản thì khác, họ tức tối cực điểm vì tình trạng quá bất
TỨ THẬP NIÊN 121
công kia là phải …, nhưng họ cũng mắc lỗi hoặc vì họ chỉ lo
quyền lợi giai cấp mới ý thức của họ, mà quyết dồn vào trong
tay mình sản phẩm luôn với cả hoa lợi do công việc của họ đã
gây nên, vì làm như vậy, họ lên án và quyết bài trừ mọi sở
hữu và mọi nguồn lợi tự nhiên có trong xã hội. Theo ý họ
không cứ gì bản tính và vai trò những tư bản ấy trong đời sống
nhân loại, cũng phải bài trừ vì là công hiệu của cần lao. Về
vấn đề ấy Thánh Phaolô đã có câu: “Ai không làm việc thì kẻ
ấy không đáng ăn”. Bao nhiêu người cứ căn cứ vào câu đó
mà chứng tỏ quyền riêng của lao công. Nhưng ai lại không
thấy là vô lý, là ngoại đề. Trong câu ấy, Thánh Phaolô chỉ lên
án những người tránh những việc đáng lẽ họ có thể làm mà
lại phải làm nữa, mà cứ đòi ăn như thường. Người thúc đẩy ta
cứ ân cần với phận sự, dùng năng lực hồn xác để gây ích lợi
tư và công, kẻo bắt người ta phải vác lên vai một gánh nặng
là cấp sự cần cho ta, đang lúc ta có thể tự túc, và lo thỏa mãn
sự cần riêng. Ta không thể nào căn cứ vào câu ấy, mà tuyên
bố rằng : Chỉ có một quyền sở hữu chính đáng, là quyền sở
hữu bởi cần lao gây nên.
Thành ra một việc thượng khẩn, ai cũng phải đảm nhận:
Trước là trả công cho từng người cách xứng đáng, sau là tổ
chức sự phân chia hoa lợi theo những đòi hỏi của công ích và
đức công bằng xã hội. Cảnh thê thảm của một xã hội giai cấp
dành hết của cải trong tay kẻ giầu sang, và mặc kẻ bần cùng
đói rách, là tang chứng rõ ràng trước mắt kẻ còn thiện chí, xã
hội đang tiến triển nhưng cũng đã lạc đường chính, nên đang
ở một tình trạng trầm trọng nguy hiểm.
Phục hưng lại giới vô sản..
46. Mục đích Đức Tiên Giáo hoàng ý thức mục vụ đã
theo đuổi, là phục hưng lại giới vô sản trong xã hội. Đó là một
phận sự thượng khẩn, ta phải thúc đẩy anh em tận tình lo thi
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 122
hành. Về phận sự ấy ta phải tha thiết nhấn mạnh, vì ta nhận
thật những huấn lệnh của Đức Tiên Giáo hoàng đã bị khinh
bỏ, hoặc bị người ta cố tình im lặng không nói đến, hoặc vì
người ta ý thức phận sự, nhưng tưởng là quá nặng nề không ai
thực hành được mà lại không ai có quyền trốn tránh không
chịu nhận được.
- Cảnh khốn cực ấy, đời Đức Lêô đã kinh khủng thật.
Đời ta bây giờ nó giảm bớt nhiều. Nhưng không phải vì thế
mà những huấn lệnh của Đức Tiên Giáo hoàng vô giá trị, hay
không còn hợp thời nữa đâu. Thú thật địa vị của giới lao công
đã khả quan hơn. Thân phận công nhân đã trăm bề dễ chịu
hơn. Nhất là trong những quốc gia tân tiến và tiến bộ, công
nhân đời ta không thể nào nói được, họ cùng một địa vị khốn
cực và bần cùng như nhau. Nhưng mặt khác, đang lúc kỹ thuật
và công nghệ lần lượt xâm chiếm các tân quốc gia và các
nước viễn đông, thì ta cũng thấy cảnh bần cùng của đa số
công nhân vô sản lan rộng và kêu lên thấu trời. Thêm vào đó
lại có hằng hà sa số nông dân sống chật hẹp khó khăn, và
không chút hy vọng làm chủ ruộng họ cày cấy. Nên không lo
liệu gấp và hiệu nghiệm họ sẽ lần lượt nhập vào số kẻ bần
cùng, và làm cho giới vô sản tăng số mãi không cùng.
- Giới vô sản và kẻ bần cùng, quả thật khác nhau xa.
Nhưng dầu sao kẻ giầu sang thiểu số mà lại sở hữu rộng lớn,
đang sống giữa cảnh đa số kẻ vô sản, là một tang chứng rõ
ràng, những sản phẩm do đại kỹ nghệ phát xuất dư dật, chưa
được phân chia cho công bằng, và chưa được áp dụng vào
những nhu cầu riêng biệt của từng giai cấp xã hội.
Phục hưng giới vô sản bằng cách mở đường cho họ
chiếm lấy được một sở hữu.
TỨ THẬP NIÊN 123
Bởi thế cho nên chúng ta phải hết sức cổ động và dùng
trăm phương ngàn cách, để tài sản hiện đang nằm trong tay sẻ
tư bản, được giảm bớt cho hợp công lý hơn, và tràn vào giới
lao động cho phải chăng. Không phải để công nhân được bớt
lao công mà sống an nhàn hơn đâu. Chim có cánh để mà bay,
người ta có tay để mà làm. Nhưng để công nhân đủ sống, đủ
dành tiền lập tư sản và dần dần nhờ họ sáng suốt tổ chức sản
nghiệp riêng, thì họ đối phó lại được với những đòi hỏi của
đời sống và những sự cần cho gia đình dễ dàng hơn. Như vậy
họ sẽ bớt phần lo xa, không còn sống bấp bênh là thân phận
riêng của giới vô sản. Họ sẽ đầy đủ phương tiện đề phòng và
thoát khỏi mọi sự rủi ro mà đời sống của họ vẫn không thiếu.
Rồi đến lúc chết họ sẽ yên trí vì thân nhân còn sống nhờ
công việc của họ chắc được đủ cho đời sống.
Những quan điểm ấy, trong bức thông điệp “RN” đã
được công bố công khai và hiển nhiên. Chính Ta lại tha thiết
nhấn mạnh trong bức thông điệp này. Ai cũng phải tin chắc
rằng không dựa vào những quan điểm ấy mà để thực hành
trong xã hội, mỗi người tùy theo tài lực riêng, thì ta sẽ không
bao giờ cứu được trật tự xã hội, hòa bình thế giới và an ninh
nhân loại khỏi bị những lực lượng cách mạng đang mạnh tiến
xung phong.
Định tiền lương cho thích hợp với công lý.
49. Những huấn lệnh ấy, chỉ có thể thực hiện nếu các
công nhân hiện vô sản dư điều kiện và nhờ một đời sống tiết
kiệm, lập được một sở hữu riêng, theo lời Đức Tiên Giáo
hoàng mà chính ta không ngừng nhắc lại cho thế giới. Vậy
nếu họ không căn cứ vào tiền công họ nhận lĩnh hằng tháng,
thì họ sẽ căn cứ vào đâu mà tổ chức đời sống tiết kiệm ấy.
Những người chỉ có công nhật mà bảo vệ mạng sống và tìm
đủ sự cần, nếu số tiền lương không đủ thì sẽ lấy gì mà lập tài
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 124
sản ? Cho nên ta phải bàn luận về vấn đề đồng lương phải
chăng, họ có quyền được hưởng. Theo ý Đức Lêô XIII vấn
đề ấy rất quan trọng. Vậy ta hãy tìm giải quyết vấn đề ấy
bằng cách giải nghĩa và tùy theo sự cần, giảng giải rõ hơn
những học thuyết và những huấn lệnh của ngài.
Trước Ta hãy nhắc qua, sự lầm lỗi nguy hiểm của những
người nào mưu ý bãi bỏ giao kèo công lao, vì tưởng nó là bất
công, để thay thế nó bằng giao kèo xã hội. Những người ấy
phạm đến danh giá của Đức Tiên Giáo hoàng Leo XIII. Bức
thông điệp “RN” không những công nhận giao kèo công lao
là hợp lý, mà lại giảng giải những điều luật cần thiết cho nó
thích hợp với công lý hơn.
- Nhưng dầu sao để thích hợp với hoàn cảnh xã hội
hiện tại, ta đề nghị bổ khuyết giao kèo công lao kia bằng
những điều kiện ta có thể mượn lấy của giao kèo xã hội này.
Điều ấy đã được áp dụng vào rất nhiều trường hợp khác nhau
dưới nhiều hình thức khác nhau, mà gây lợi nhiều không
những cho cần lao mà lại cho cả tư bản nữa. Tỉ dụ như công
nhân và lao động đã được kêu mời tham gia vào sở hữu căn
bản của công ty mướn họ. Họ tham gia vào hành chính và chia
phần hoa lợi công ty của họ thâu góp được.
- Đức Lêô XIII đã rất thích đáng nhắc lại rằng : “Ta
không sao định số tiền lương phải chăng, theo một nhận xét
duy nhất mà quên bỏ những nhận xét khác, có lẽ quan trọng
hơn”. Ngài nói để định số tiền lương phải chăng, ta phải chú
tâm đến đủ mọi phương diện. Như vậy, ngài đã kết án cho
những người tự đắc giải quyết được vấn đề rất phức tạp này,
theo một luật mực hay một tỉ lệ nhất định. Ngoài ra luật mực
kia, tỉ lệ này hoàn toàn sai lầm.
Kẻ không chút ngần ngại theo thành kiến đã phổ biến
hầu hết khắp nơi mà định giá công lao và việc trả công đúng
TỨ THẬP NIÊN 125
theo hoa lợi nó gây nên, thì đều lầm to. Nhờ vậy họ kết luận
rằng : Công nhân toàn quyền đòi tất cả hoa lợi bởi công việc
họ gây nên thì hại lớn. Đọc lại những lời ta đã nói về những
mối tương quan cần thiết giữa tư bản và cần lao, thì ai cũng đủ
rõ.
Tính cách tư nhân và xã hội của cần lao.
Cần lao không kém tư bản, cũng có tính cách tư nhân và
xã hội. Đó là một điều ta nên nhớ không bao giờ quên. Nhất
là khi nói đến những công nhân làm mướn. Điều ấy thì quá
hiển nhiên. Mọi cố gắng hành động chung của nhân loại,
không thể nào kết quả được, nếu thiếu những điều kiện sau
đây:
Xã hội phải có quy tắc, thành một tổ chức tinh xảo; trật
tự và quy luật xã hội phải bảo đảm mọi cần lao. Những nghề
nghiệp rất phức tạp đều liên hệ với nhau. Nên phải hòa nhịp
và bổ khuyết nhau.
Nhờ một trí tuệ minh mẫn, cần lao và tư bản phải hòa
hợp với nhau, trở thành một cơ quan hành động duy nhất.
Bởi thế ta không thể nào định giá công thợ cho hợp lý,
và trả lương công nhân cho phải lẽ. Nếu ta coi thường hai tính
cách tư nhân và xã hội của cần lao.
Ba điểm chính đáng quan trọng.
a) Kế sinh nhai và gia đình người.
- Vì hai tính cách tự nhiên của cần lao, ta có thể khấu
trừ những nguyên tắc quan hệ về thể thức trả công và tỉ lệ
phải chăng của nó.
Trước phải trả công thợ cho đủ sống và nuôi gia đình.
Đã đành tất cả thân nhân của người thì cũng phải tùy sức góp
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 126
phần vào việc cấp sự cần cho gia đình họ, như ta thường thấy
ở hầu hết các gia đình nông dân, và rất nhiều gia đình công
nhân hay thương nghiệp. Nhưng cấm ngặt không được bắt tuổi
trẻ còn thơ dại, đàn bà nhu mì, làm việc quá sức. Các bà mẹ
phải lo việc nhà, lo tề gia nội trợ hay các việc khác liên quan
đến gia đình. Vì tiền lương gia trưởng thiếu các bà mẹ phải lo
việc giáo dục đàn con, và các bổn phận khác, mà đi tìm một
sinh kế riêng, quả thật là một việc lộng hành đáng kết án
nghiêm trị.
Vậy ta phải dùng đủ mọi phương tiện cho các gia trưởng
lao động được trả công vừa đủ cho họ đảm nhận những phận
sự chính đáng của họ đối với gia đình. Tình trạng xã hội kỹ
nghệ hiện tại rất bất tiện, để hoàn tất phận vụ ấy. Nhưng
công bằng xã hội bắt buộc ai nấy phải tận tâm với việc canh
tân xã hội, cho mọi công nhân trưởng thành lĩnh được số
lương cân xứng với địa vị của họ. Về phương diện ấy, ta thành
thực tán tạ những người đã có nhã ý khôn ngoan và hữu ích,
tìm trăm phương nghìn cách, hoặc để định giá công thợ theo
những đòi hỏi của một gia đình hằng mở rộng thêm đông
(nhờ vậy gia đình càng thêm đông, thì gia trưởng càng được
tăng lương), hoặc là để cung cấp những sự cần bất thường do
thời thế hoàn cảnh gây nên bất ngờ.
b) Tình trạng thành bại của xí nghiệp.
- Trong việc định giá công thợ, ta lại phải chú tâm
đến tình trạng thành bại của xí nghiệp và những người phụ
trách nữa. Đòi tăng lương mãi sẽ là một sự vô lý, trong những
trường hợp xí nghiệp lâm nguy. Làm như vậy là đưa xí nghiệp
đến bại hoại và khiến công nhân lại thất nghiệp nữa. Nhưng
nếu xí nghiệp lâm nguy bại hoại vì ban quản trị uể oải và xao
nhãng, hoa lợi sút kém vì kẻ phụ trách chẳng lo mở mang
công việc về phương diện kinh tế và kỹ thuật; thì họ không
TỨ THẬP NIÊN 127
thể nào hạ giá công thợ vì cớ phải cứu xí nghiệp. Đàng khác,
nếu tài chính không đủ mà trả công phải chăng cho thợ
thuyền, hoặc vì xí nghiệp phải nạp thuế quá nặng và vô lý,
hoặc vì xí nghiệp gặp cản trở vô cớ nên phải bán sản phẩm
hạ giá, thì những người nào bắt thuế kia hay làm cản trở này,
đều vi phạm công lý và mắc phải tội không tha thứ được. Lý
do là vì lỗi bất công của họ, công nhân không đòi được tiền
lương phải chăng mà tự nhiên họ có quyền đòi, và nhiều khi
vì bắt buộc họ phải nhận tiền lương quá hạ đối với phận sự họ
gánh vác.
Bởi thế tất cả chủ nhân và công nhân phải đồng tâm
nhất trí, tìm thắng vượt mọi sự khó khăn và mọi trở lực. Chính
quyền lại phải giúp họ thành công dễ dàng, nhờ một chính
thể khôn ngoan đắc lực ủng hộ họ. Nhỡ ra không ai thoát khỏi
cơn khủng hoảng kinh tế này, thì họ phải nêu lên vấn đề giải
tán xí nghiệp, và tìm cách khác bổ túc cho công nhân vô tội
mà lại bị hại lớn. Trong trường hợp nghiêm trọng ấy, chủ
nhân và công nhân phải đoàn kết chặt chẽ thân mật, và đồng
tâm trong tình nghĩa phúc âm, thì mới hành động một cách
hiệu nghiệm và kết quả.
c) Những đòi hỏi của công ích.
Để định giá công thợ, ta phải tuân cứ những đòi hỏi của
công ích nữa. Trên kia ta đã nhấn mạnh điều đó. Công nhân
và lao động đủ tiền cấp sự cần khẩn thiết, và dành một phần
lập tư sản vừa phải, thì lợi cho công ích biết bao ! Nhưng còn
một quan điểm nữa không kém quan trọng, mà ngày nay thật
không ai bỏ phớt được. Ta có ý nói rằng : cần lao phải tổ chức
trong nước làm sao cho tất cả mọi công dân làm việc được và
muốn làm việc, thì tìm được công ăn việc làm cách dễ dàng.
Tổ chức này phần lớn tùy thuộc tiền lương phải chăng công
nhân lãnh nhận được. Nếu số tiền lương ấy hợp lẽ phải, thì
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 128
nước sẽ không thiếu gì việc làm cho công nhân. Số tiền lương
quá hạ, thì trái lại, công nhân không tìm đâu được cho có
công ăn việc làm. Ngoài ra cũng không ai chối được, tiền
lương hoặc quá cao, hoặc quá thấp cũng gây dịp cho một tệ
đoan xã hội, thường gọi là nạn thất nghiệp. Tệ đoan xã hội ấy
đời ta bây giờ thì phổ thông rất nhiều. Vì nó mà đa số công
nhân bị thiệt, chìm đắm trong cảnh khốn cực, lại không ngừng
mưu gian làm ác nữa. Họ khiến cả những dân nước phong phú
phải bị tiêu diệt dần dần. Lúc nào họ cũng làm lung lay trật tự
xã hội an ninh quốc gia và hòa bình thế giới. Cứ tăng gia hay
giảm bớt công thợ vô lý nguyên vì lợi ích tư nhân, mà không
quản gì đến công ích, là một sự vô lý mà lại phạm đến công
bằng xã hội. Trái lại mọi người phải đồng tâm nhất trí để thiết
lập một chính sách lương bổng cho công nhân vừa dễ tìm việc
làm, vừa dễ thỏa mãn những nhu cầu chính đáng của một đời
sống xứng vị con người.
- Muốn chóng được kết quả, ta còn phải dung hòa
tiền lương của từng giai cấp công nhân, mà lại nhớ một điều
mật thiết liên hệ với vấn đề ấy, tức là định giá phải chăng của
một sản phẩm cần thiết và thuộc về đủ mọi chi nhánh kinh tế,
canh nông, kỹ nghệ… những chỗ nào nền kinh tế được tổ
chức cân bằng, thì chỗ ấy mọi hành động phức tạp của con
người sẽ hòa nhịp và bổ khuyết nhau thành một cơ thể duy
nhất, đủ bộ phận chuyên biệt nhưng thuận hòa nâng đỡ nhau.
Cơ thể kinh tế xã hội chỉ hoàn bị, khi nó cấp đủ nhu cầu cho
toàn dân và cho từng người, về phương diện canh nông và kỹ
nghệ. Tổ chức xã hội kinh tế phải tìm những phương tiện cần
thiết để đạt tới mục đích cần thiết ấy. Nhưng sản phẩm canh
nông và kỹ nghệ sản xuất phải đủ, để cho các công dân sống
xứng vị con người và vươn mình lên một địa vị sinh hoạt và
văn hóa khả quan. Một đời sống đủ sự cần về vật chất nếu
TỨ THẬP NIÊN 129
không có gì cản trở, sẽ rất thuận tiện cho mọi người đua nhau
sống đạo đức và tiêu dùng tiền của cho khôn ngoan.
Phục hưng lại quy tắc xã hội.
56. Những điều ta giãi bày từ trước chỉ liên quan đến sự
chia của phân công cho từng cá nhân cho hợp lý. Trực tiếp thì
không liên quan gì tới quy tắc xã hội, mà Đức Lêô XIII đã tận
tâm quyết phục hưng lại, theo đạo tự nhiên và nhất là theo
đạo phúc âm tuyệt đối cao thượng. Để tăng cường cho phong
trào ngài đã nêu lên, để hoàn tất công việc cần phải thực
hiện, để giúp các gia đình hưởng lợi và hái hoa quả tốt đẹp do
công việc ấy làm nẩy nở ra, thì ta phải chú tâm tới hai việc
cần thiết này : thứ nhất là cải tạo mọi cơ cấu xã hội, thứ hai là
cải thiện phong hóa mỹ thuật.
Cải tạo mọi cơ cấu xã hội.
a) Phận sự chính phủ quốc gia.
Đã nêu lên vấn đề cải tạo mọi cơ cấu xã hội, tự nhiên ta
phải nhắc đến phận sự chính phủ. Đã đành chính phủ can
thiệp thì không chắc đã giải quyết vấn đề ấy một mình được.
Nhưng từ khi cá nhân chủ nghĩa toàn thắng, các phong trào xã
hội xưa kia đã lập ra bao nhiêu đoàn thể bảo vệ đời sống đủ
mọi phạm vi một cách điều hòa và hiệu nghiệm. Trên mặt
trận xã hội chỉ còn tư nhân và chính phủ tương tranh với nhau
mà thôi. Chế độ xã hội bị thiên lệch; quốc gia chịu thiệt khôn
xiết kể; các hội đoàn kia ngừng hoạt động. Chính phủ phải
thay thế vào đó; nó phải cúi lưng dưới bao gánh nặng và bao
trách nhiệm, nó không thể nào gánh lấy một mình.
Đành rằng lịch sử làm chứng, không ai hồ nghi được.
Tình trạng xã hội đã biến đổi nhiều. Có bao nhiêu việc xưa
kia các hội đoàn tư nhân phụ trách được, nhưng bây giờ chỉ
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 130
những tổ chức cộng đồng rộng lớn mới đảm nhiệm nổi.
Nhưng dầu sao có một nguyên tắc xã hội học rất quan trọng
không thể thay đổi, và cũng không lay chuyển được : Có
những trọng trách tư nhân đủ năng lực và phương cách gánh
vác. Cất những trọng trách khỏi tư nhân và giao uỷ hết cho
chính phủ là lỗi đến công bằng xã hội. Cùng một lẽ ấy, cất
khỏi những hội đoàn tư nhân các trọng trách họ gánh vác
được, mà trao lại cho những tổ chức cộng đồng vừa rộng rãi
vừa cao lớn, là đảo lộn cả quy tắc xã hội, và gây bao thiệt hại
cho quốc gia. Chính phủ can thiệp vào vấn đề xã hội,thì chỉ
có quyền nâng đỡ công dân, chứ không có quyền chi phối
hay phá hoại đời sống tự nhiên của họ.
- Bởi thế cho nên, chính phủ phải nhường cho các hội
đoàn tư nhân những phận sự họ đảm nhận được. Chính phủ
chi phối những phận sự ấy thì làm sao lãng những việc quan
trọng chính quyền phải đảm nhiệm. Hay hơn là nhường cho
công dân những công việc, công dân làm được; để hoàn tất
những công việc chỉ có chính phủ mới làm được một cách tự
do mạnh mẽ hiệu nghiệm hơn. Tức là chỉ huy, kiểm soát, thúc
đẩy hay thắng hãm những hành động dân sự, tùy theo hoàn
cảnh thời thế bắt buộc. Nhưng nhà cầm quyền nên tin chắc
rằng: quy tắc xã hội càng hoàn hảo, các hội đoàn càng làm
việc theo đúng phận sự bổ túc chính phủ, thì chính phủ càng
mạnh quyền và càng được uy tín, rồi mọi công vụ càng dễ
tiến triển và gây hạnh phúc hơn.
b) Cộng tác riêng của các liên đoàn công nghệ.
58. Vật đích đầu tiên chính phủ và các công dân ưu tú
cần phải theo đuổi là tận tâm chấm dứt những sự tương tranh
giữa các giai cấp xã hội, và luôn luôn cố gắng gây nên, cùng
thúc đẩy tinh thần đoàn kết chặt chẽ thân mật giữa các nhà
chuyên nghiệp.
TỨ THẬP NIÊN 131
Cho nên chính sách xã hội phải chân thực tu bổ lại các
liên đoàn công nghệ.
Quả thực tình trạng xã hội hiện là tình trạng căng thẳng,
nên bấp bênh và hằng lung lay. Lý do là vì xã hội căn cứ vào
các giai cấp đầy những tham vọng và những căm hờn kình
địch nhau, nên lúc nào chiến tranh cũng có thể bùng nổ bất
ngờ. Nghiệm như lời Đức Tiên Giáo hoàng đã nói, cần lao
không phải là đồ mua bán. Nó thông phần nhân cách của
công nhân. Người ta không thể nào đổi việc làm lấy tiền
lương, theo lối thị trường. Nhưng dầu sao, đời ta bây giờ luật
“cung cầu” cũng được áp dụng vào cần lao, nên xã hội bị chia
thành hai giai cấp, thành hai phe; kẻ mướn thợ và kẻ làm
mướn. Cuộc bàn tán giữa đôi bên, mở rộng như một bãi chiến
trường cho kẻ thù địch kịch liệt đánh nhau. Thật là một cảnh
lộn xộn đưa xã hội đến bại hoại. Nên ai cũng thấy rõ, phải tìm
một giải pháp thượng khẩn và hiệu nghiệm. Vậy không có
giải pháp nào hiệu nghiệm để chữa hẳn tệ đoan kinh khủng
này, bằng cách cải hóa hai giai cấp tương tranh kia, thành
những tổ chức chuyên nghiệp hoàn bị. Các công nhân nhập
vào những tổ chức ấy, sẽ không còn được nhận hay bị từ
chối, tùy theo địa vị của họ đối với nền cần lao, bèn là tùy
theo những hành động xã hội, họ tự nhiên phải tham gia. Tỉ
dụ như những người cùng một khu vực, thường kết thành một
thị xã thể nào, thì những người cùng một công nghệ hay cùng
một chức nghiệp tự nhiên cũng hướng về cùng một tổ chức
chuyên nghiệp thể ấy. Đó là một xu hướng hiển nhiên, đến
nỗi các nhà xã hội học thường cho là những cơ quan có lẽ
không thiết yếu, nhưng ít nhất cần thiết của xã hội.
- Thánh TÔMA nói : Trật tự vốn nảy ra bởi những yếu
tố khác nhau, nhưng xếp đặt điều hòa theo một nguyên tắc
duy nhất. Vậy tất cả mọi công dân là yếu tố của xã hội được
hiệp lại với nhau theo một nguyên tắc duy nhất, thì xã hội mới
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 132
có quy tắc tuyệt đẹp. Nguyên tắc duy nhất đó, là tăng gia sản
xuất mỗi người theo nghề nghiệp riêng, hay là một lòng
phụng sự cởi mở thành thực, nhất thống mọi hành động riêng
của các chủ nhân và công nhân. Hay nói rộng ra, về đủ mọi
chức nghiệp, nguyên tắc ấy sẽ là công ích, mà tất cả mọi
chức nghiệp phải gây dựng theo năng lực riêng và bằng
những minh phối đủ mọi hành động của chúng. Sự minh phối
này sẽ càng tăng cường và càng hiệu nghiệm, thì tư nhân và
các chức nghiệp sẽ càng trung thành và tiến triển hơn trong
phạm vi chuyên biệt của họ.
Suy đến những điều nói trên ta phải kết luận rằng:
những liên công nghệ kia, đối nội thì phải đề cao ích lợi
chung của từng công nghệ trên hết. Những đối ngoại, quan
trọng nhất là liệu thể nào cho những hành động chung luôn
luôn quy về công ích quốc gia. Còn những vấn đề do ích lợi
riêng của từng chuyên nghệp gây nên, nhất là những vấn đề
thuộc về lợi ích của các chủ nhân hay lợi ích của các công
nhân; tỉ dụ như lúc bên này phải đề phòng khỏi bị bên kia
lạm dụng hay làm hại, thì bên nào bên nấy sẽ bàn luận riêng
để tìm giải pháp cho từng vấn đề một.
- Ta cần gì phải nhắc lại những huấn dụ của Đức Lêô
XIII về các chính thể. Ai cũng còn nhớ. Vậy những huấn dụ
đó ta rất có thể áp dụng vào những liên đoàn công nghệ, phải
lập ra trong đủ mọi chi nhánh chuyên biệt. Ta nói: có thể áp
dụng, vì phạm vi xã hội có phần nào giống nhưng cũng có
phần khác hẳn phạm vi chính trị. Ý Ta rằng: trong phạm vi
chuyên nghiệp cũng như trong phạm vi chính trị, dân chúng
có quyền tự do nhận chính thể này hay chính thể khác, miễn
là mọi đòi hỏi công bằng và công ích được tuân giữ, tôn
trọng.
TỨ THẬP NIÊN 133
Những dân cư cùng một thành thị, quyết theo đuổi một
mục đích chung, thì đã có thói quen lập những hội đoàn thích
hợp với mục đích ấy. Rồi ai cũng tự do nhập hội hay đứng ở
ngoài tùy ý. Vậy những người cùng một chuyên nghiệp cũng
thế. Họ có quyền tự do hội họp, để thực hành những công
việc liên hệ với chuyên nghiệp của họ. Đức Tiên Giáo hoàng
đã diễn tả một cách tuyệt bút, rõ rệt và tỉ mỉ, những hội đoàn
ấy phải tổ chức như thế nào. Ta chỉ cần nhấn mạnh thêm vào
một điều rất quan trọng: loài người ai nấy cũng tự do lập hội
tư nhân, và tổ chức nội quy hay định luật tùy theo mục đích
riêng của từng đoàn. Vậy quyền tự do lập hội trong một chi
nhánh chuyên nghiệp gồm cả quyền lập những liên hội mở
rộng cho những nghề nghiệp khác nhau. Mong những hội
đoàn tư nhân đã được thiết lập và đang kết quả tốt đẹp, mở
đường cho những liên đoàn ta mới nhắc đến và căn cứ vào
những nguyên tắc xã hội học công giáo, tận tâm hiệp lực lập
ra càng sớm càng hay.
Đề cao một nguyên tắc chính đáng chỉ dẫn được
mọi hành động kinh tế.
- Còn một việc khẩn cấp nữa, cũng liên hệ với những
việc kể trên: xã hội không thể nào xây dựng được trên nền
tảng giai cấp tương tranh. Cùng một lẽ ấy, nền kinh tế không
thể nào bền vững trên luật tự do cạnh tranh. Tất cả mọi lầm
lỗi của kinh tế cá nhân học khoa, từ ở nguồn gốc ấy mà ra, là
một ảo tưởng. Kinh tế học khoa này, vì quên bỏ hay chưa biết
tính cách xã hội và luân lý của kinh tế, đã lầm tưởng rằng:
chính quyền phải bỏ mặc kinh tế phát triển theo luật riêng của
nó, mà không bao giờ can thiệp cưỡng bách bất cứ bằng cách
nào. Luật cung cầu hay tự do cạnh tranh, là một điều luật
vững chắc chỉ dẫn kinh tế mạnh mẽ hơn trí tuệ minh mẫn của
bất cứ ai. Áp dụng luật tự do cạnh tranh một cách điều độ
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 134
phải chăng, thật là một sự hợp lý và hữu ích. Nhưng luật ấy
không sao làm luật mực căn bản cho một nền kinh tế công
bằng. Những biến cố đã xảy ra, từ khi thế giới tuân theo chủ
nghĩa cá nhân thiệt hại đó, chứng minh điều ấy quá rõ rệt.
Thành ra, không việc gì khẩn cấp cho bằng lập lại cả nền kinh
tế trên một nguyên tắc công bằng và hiệu nghiệm hơn. Luật
kinh tế độc tài vừa mới thay thế luật kinh tế cá nhân, cũng
không thể nào đóng vai chính này được. Luật kinh tế độc tài,
tự nhiên vô độ và cường bạo. Muốn gây lợi ích cho nhân loại,
nó phải tìm sẵn một ngoại cương, và một năng lực chỉ huy, tự
nhiên nó không có. Vậy, để nghiêm ngặt chỉ huy những lực
lượng kinh tế vô độ này, ta phải đề cao những nguyên tắc cao
quý hơn, tức nguyên tắc công bằng và bác ái xã hội. Công
bằng xã hội phải tẩm nhiễm tận gốc mọi cơ cấu xã hội và đời
sống xã hội nhân quần. Bằng chứng rõ ràng nó có hiệu
nghiệm và ảnh hưởng sâu rộng, là nó tạo ra một quy tắc pháp
luật và xã hội thấm nhập luôn cả nền kinh tế.
- Còn bác ái xã hội phải nên như hồn sống của xã tắc,
do chính quyền lập ra bênh vực và bảo vệ đắc lực. Chính
quyền càng nhường cho kẻ khác những việc không phải là
việc riêng mình, thì càng thuận bề dễ dàng làm trọn phận sự
tối hệ này.
Còn một điều đáng ghi nhớ : về phương diện kinh tế,
các dân nước hỗ tương, tùy thuộc và liên kết mật thiết với
nhau. Nên họ phải trao đổi ý kiến và tận tâm hiệp lực với
nhau để nhờ những giao kèo và những cơ cấu khôn ngoan,
mà gây dựng một nền công tác giao dịch hữu ích có lợi nhiều
trong phạm vi kinh tế vạn quốc.
Vậy tu bổ lại mọi thành phần của cơ thể xã hội, phục
hưng lại trong phạm vi kinh tế một nguyên tắc chỉ huy công
bằng, thì tổ chức xã hội sẽ lại hoàn bị, và đáng được ta áp
TỨ THẬP NIÊN 135
dụng vào nó những lời vàng ngọc Thánh Phaolô đã nói riêng
về nhiệm thể Chúa Kitô rằng: “Nguyện xin Người chiếu theo
nguồn vinh hiển phong phú Người mà ban cho anh chị em
dũng lực của Chúa Thánh Linh, để anh chị em đủ sức cải hóa
lòng trí theo ý Chúa.”
Mới đây ai cũng thấy xuất hiện một tổ chức đặc biệt
vừa có tư cách nghiệp đoàn, vừa có tư cách hợp tác xã. Vì tổ
chức ấy có liên hệ với mục đích bức thông điệp này, nên
thiết tưởng ta phải nhắc đến và thêm một vài nhận xét thích
nghi.
Chính phủ công nhận tổ chức nghiệp đoàn ấy, là một tổ
chức hợp pháp. Nhờ đó tổ chức nghiệp đoàn này hầu như độc
quyền, để đại diện các chủ nhân và công nhân: để ký kết
những giao kèo hay những điều ước chung về đủ mọi vấn đề
cần lao. Ai muốn thì tùy ý gia nhập hay đứng ở ngoài nghiệp
đoàn cũng được. Về đàng ấy nói được, nghiệp đoàn này là
một tổ chức tự do. Vì, về đàng khác, nó có tư cách bắt buộc.
Các nhân viên đủ mọi chuyên nghiệp, thoạt khi đã nhập vào
thì phải nộp tiền nguyệt liễm. Họ cũng bắt buộc chịu đủ mọi
đảm phụ đặc biệt bất cứ họ là chủ nhân hay là công nhân.
Hơn thế nữa, mọi giao kèo cần lao nghiệp đoàn ký kết, cũng
buộc chung tất cả các nhân viên. Dầu sao ta cũng nhận thực,
đã có lời công nhiên tuyên bố rằng: nghiệp đoàn pháp lý này
không bải bỏ những công đoàn đã có sẵn.
- Các nghiệp hội nhập vào tổ chức ấy, kết tinh nên
bởi những đại diện nghiệp đoàn chủ nhân hay công nhân,
cùng một chức nghiệp hay một công nghệ. Họ được chứng
nhận là những cơ quan hay những cơ cấu của chính phủ, để
điều khiển và minh phối những hành động riêng của từng
nghiệp đoàn khi những hành động ấy liên hệ tới những lợi ích
chung. Các cuộc đình công hay đồng giải công đều cấm ngặt.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 136
Các nhân viên xích mích điều gì không sao đồng ý được, thì
ban chấp hành nghiệp đoàn can thiệp và toàn quyền giải
quyết vấn đề.
Một tổ chức như vậy, dầu ta chỉ diễn tả sơ qua, cũng đủ
rõ là một tổ chức có ích lợi nhiều. Những điểm chính là : cộng
tác điều hòa giữa các giai cấp, những hành động và tổ chức
của chủ nghĩa xã hội được loại bỏ; quyền chỉ huy êm đẹp của
một ban chấp hành chuyên biệt.
Nhưng đã nêu lên một vấn đề quan trọng thể ấy, ta nên
căn cứ vào những nguyên tắc kể trên, và những nguyên tắc
kèm theo sau, mà nhận rằng: không thiếu người có thiện chí
lo ngại, vì sợ chính quyền vùi lấp những sáng kiến tư nhân,
thay cho cứ đứng ở ngoài bênh vực và ủng hộ đắc lực. Người
ta lại e rằng: tổ chức ấy dần dần sẽ hóa nên một tổ chức viên
chức chính trị. Dầu nó hữu ích nhiều như ta vừa mới nói, nó
rất có thể sai mục đích mà phụng sự những chủ nghĩa chính trị
riêng biệt, thay vì thành tâm gây dựng một đời sống xã hội
điều hòa hơn.
- Ngoài ra theo thiển ý của ta, để gây dựng một đời
sống xã hội điều hòa đáng mong thể ấy, và gây lợi ích chung
của cộng đồng xã hội; trước hết và trên hết ta cần phải có ơn
Chúa ban dồi dào rồi mới cần đến sự hợp tác chặt chẽ của tất
cả mọi người còn thiện chí. Vật đích cao siêu ta đang nêu
khởi, cũng phải có sự cộng tác của những người chuyên môn
về kỹ thuật, chuyên nghiệp về xã hội, và hơn thế nữa, phải
căn cứ vào học thuyết và những thực hành của Thiên Chúa
giáo, không phải do công giáo tiến hành thân hành chỉ huy:
(công giáo tiến hành không trực tiếp tham gia vào những hành
động nghiệp đoàn hày chính trị) bèn là do những người đã
được công giáo tiến hành huấn luyện theo những nguyên tắc
xã hội công giáo, bởi vậy đã sẵn sàng trở nên những cán bộ
TỨ THẬP NIÊN 137
thực hành và truyền bá học thuyết xã hội ấy, dưới quyền chỉ
dẫn của giáo hội. Phải, giáo hội trong phạm vi kinh tế xã hội
ta mới diễn tả, cũng như trong đủ mọi phạm vi đời sống liên
hệ với luân lý, cũng không thể nào quên nhãng hay bỏ phớt
qua sứ mạng gìn giữ và rao giảng chân lý Thiên Chúa đã uỷ
cho. Nhất là lúc các vấn đề luân lý được nêu lên và được giải
quyết.
- Phục hưng lại nền phong hóa mỹ tục.
Ngoài ra những điều ta mới nhắc lại về việc tu bổ và
hoàn tất quy tắc xã hội, sẽ không bao giờ thực hiện được, nếu
ta không phục hưng lại nền thuần phong mỹ tục. Điều ấy lịch
sử cũng chứng minh không ai từ chối được. Xưa kia đã có một
xã tắc, dầu không hoàn bị, nhưng cũng thích hợp với thời thế
hoàn cảnh và những nguyên tắc của đạo lý tự nhiên. Xã tắc
ấy đã biến mất từ lâu. Không phải vì nó không đủ sức biến
hóa cho thích hợp với những hoàn cảnh và những nhu cầu
mới đâu. Lý do chính hoặc là vì con người theo tính vị kỷ
cứng cỏi không chịu mở cửa cho số người ngày càng thêm
đông, tình nguyện xin gia nhập vào tổ chức của họ; hoặc là vì
loài người bị những lý thuyết tự do quyến rũ làm mê ảo, hay
những tà thuyết khác, khiến họ trục xuất mọi xã tắc, không
còn chịu tùng phục bất cứ quyền bính nào nữa.
Vậy ta chỉ còn một điều cần giải bày nữa, diễn tả chế
độ kinh tế hiện tại, và chủ nghĩa xã hội mà ta không ngừng
phi bác nó. Rồi luận xét đôi bên theo công lý. Đã khám phá
ra lý do của mọi tệ đoan hiện tại, thì ta sẽ đề nghị phương
dược cần thiết nhất và hiệu lực nhất, tức là cải tạo phong tục.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 138
III. NHỮNG BIẾN CỐ LỚN ĐÃ XẢY RA TỪ THỜI
ĐỨC LÊÔ XIII
Nền kinh tế biến chuyển
66. Kể từ Đức Lêô cho đến bây giờ, nền kinh tế và chủ
nghĩa xã hội đã biến đổi tận cội rễ.
Nền kinh tế đã biến đổi là một hiện tượng lịch sử quá
hiển nhiên. Anh em thừa biết chế độ kinh tế mà Đức Tiên
Giáo hoàng đáng ghi nhớ trong bức thông điệp RN, đã có
kiến thức hơn hết là chế độ tư bản và cần lao bổ khuyết nhau:
người thì xuất vốn, người thì làm công. Ngài nói rất đúng
rằng: tư bản không cần lao, cần lao thiếu tư bản, thỉ cả hai
cũng không thể nào có được.
Chế độ tư bản vốn tính không hư ác, nhưng đã hư hỏng
nhiều. Chế độ ấy được Đức Lêô XIII hết sức tìm tu bổ lại
theo công lý. Tự nhiên nó không đáng kết án đâu. Nó hư ác
không phải vì nguyên tắc căn bản. Nó hư đi dần dần, vì người
tư bản mướn thợ thuyền để xí nghiệp và chế độ kinh tế gây
lợi ích riêng, nên họ không quản gì đến nhân cách của công
nhân, tính cách xã hội của cần lao, và những đòi hỏi của công
bằng và công ích. Đó là phạm đến quy tắc tự nhiên của xã
hội.
Đàng rằng, hiện nay chế độ ấy không được thực hiện
noi theo ở khắp mọi nơi. Hiện có một chế độ khác nữa hấp
dẫn một phần quan trọng nói được là phần đa số của nhân
loại. Tỉ dụ như trong giới canh nông, biết bao người còn sinh
sống nguyên vì những công việc liêm chính xứng đáng.
Những chế độ kinh tế ấy cũng không thiếu sự trắc trở đáng lo
Đức Tiên Giáo hoàng đã nhắc đến, và chính ta cũng đã lược
qua trong thư này.
TỨ THẬP NIÊN 139
Nhưng từ khi bức thông điệp của Đức Lêô XIII được
phát hành, vì thế giới được kỹ nghệ hóa nhiều, thì chế độ tư
bản ngày càng ảnh hưởng sâu rộng. Nó dần dần xâm chiếm
và ăn sâu vào tình trạng kinh tế xã hội hiện tại. Cả những
người đứng ở ngoài cũng thụ hưởng nhiều, thụ hưởng cả phần
ích và phần họa của nó nữa. Thành ra nó ghi khắc vào thế
giới ngày nay, những tính cách riêng của nó.
Vì thế lược thảo những biến cố lớn đã xảy ra từ đời Đức
Lêô XIII đến bây giờ không những là giúp ích cho những
người thụ hưởng đại kỹ nghệ mới và chế độ tư bản mà thôi,
mà lại mưu ích cho cả nhân loại nữa.
Nền kinh tế độc tài nhường chỗ cho chủ nghĩa tự do
cạnh tranh.
- Đặc điểm của đời ta bây giờ không phải chỉ là sự tập
trung những quyền hành mạnh lớn, thành một quyền kinh tế
trong tay một số ít người, không phải là chủ nhân, mà chỉ là
thụ thác hay quản lý, tùy ý sử dụng.
Chuyên quyền ấy mạnh nhất ở những người tích trữ và
độc tài cầm giữ tiền bạc. Số tiền được thu lại, họ vừa định
cách dùng, vừa phân phát hoàn toàn theo ý muốn. Nhờ đó
trong cơ thể kinh tế, họ là quả tim phát máu, họ là nguồn sống
còn. Không được họ đồng ý, không ai còn thở được.
Chuyên quyền kinh tế và tài chánh tập trung trong tay
một số ít người như thế, là đặc điểm nền kinh tế xã hội hiện
tại. Nó là kết quả tự nhiên của một chủ nghĩa cạnh tranh hoàn
toàn tự do, không có chừng hạn. Kẻ mạnh quyền đứng vững,
còn kẻ khác đều ngã thua. Kẻ mạnh quyền sự thường là
những ai? Thưa sự thường là những người vô lương tâm, và
tranh đấu luôn bằng võ lực, tâm lý.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 140
Chuyên quyền kinh tế và tài chánh, tự nhiên thúc đẩy
kẻ cầm nó trong tay, mưu đồ cướp luôn cả chính quyền, theo
ba giai đoạn: thứ nhất là họ lo sao cho được độc quyền về
kinh tế. Thứ hai họ nhảy vào chiến trường chính trị. Đã lấy
chính quyền rồi, họ mới dùng những thủ đoạn và sức mạnh
của nó để tiếp tục tranh đấu trong phạm vi kinh tế. Thứ ba là
sự tranh đấu dữ dội ấy chuyển sang phạm vi quốc tế: hoặc các
chính phủ dùng quyền và góp sức với nhau để mở mang
nguồn lợi kinh tế của những người thuộc thẩm quyền của họ,
hoặc chính phủ tự đắc họ mạnh sức rộng quyền về kinh tế để
giải quyết mọi vấn đề chính trị, theo lợi ích riêng của họ.
Hậu quả khốc hại.
- Những hậu quả khốc hại do chủ nghĩa cá nhân áp
dụng và kinh tế đã gây nên, thì anh em thừa biết và không
ngừng cảnh cáo: chế độ tự do cạnh tranh đã tự tiêu, thay thế
nó bây giờ chế độ kinh tế độc tài mới xuất hiện. Trước đây
người ta chỉ tham lợi, bây giờ họ lại tham quyền. Đời sống
kinh tế đã trở nên hung ác, vô tình, cứng cỏi thật là kinh
khủng. Lại thêm vào đó những phận sự riêng của chính
quyền, đều lẫn lộn với những hành động kinh tế. Nguy nhất
là chính quyền suy đồi. Thay cho trị dân một cách cao thượng,
vô vị lợi và khách quan theo những đòi hỏi của công ích và
công bằng; các chính phủ chỉ còn là nô lệ, là khí cụ vô ý thức
phụng sự mọi dục tình và mọi tham vọng của Tư Lợi. trong
phạm vi quốc tế, thì từ ở nguồn duy nhất này lại chia ra hai
dòng khác nhau : trước là chủ nghĩa chủng tộc quốc gia, hay
chủ nghĩa kinh tế độc tài; sau (cũng đáng ghét và thiệt hại
lớn) là chủ nghĩa quốc tế, hay chủ nghĩa tiền bạc quốc tế độc
tài. Tức là, chỗ nào có lợi, chỗ ấy mới là quê tôi.
TỨ THẬP NIÊN 141
Phương dược hiệu nghiệm để chữa tệ đoan.
- ta nên chữa tệ đoan kinh khủng này bằng những
phương dược nào ? trong phần thứ hai bức thông điệp này, ta
đã chỉ dạy rõ ràng. Ta chỉ cần nhắc lại những điểm chính sau
đây: chế độ kinh tế hiện tại căn cứ vào tư bản và cần lao. Vậy
ta hãy áp dụng vào hai yếu tố căn bản ấy, những nguyên tắc
lý trí và xã hội học công giáo. Nhận thực và thực hành những
nguyên tắc tắc ấy vào sự cộng tác giữa cần lao và tư bản, thì
mới giải quyết vấn đề theo công lý. Không muốn vấp phải
hoặc vào cá nhân chủ nghĩa, hoặc vào chủ nghĩa xã hội, ta lại
phải đề cập hai tính cách cá nhân và xã hội của tư bản và của
cần lao. Tư bản phải đối đãi với cần lao và cần lao phải đối
đãi với tư bản theo đúng luật công bằng giao hoán, nhờ đức
bái ái của Chúa Kitô bổ khuyết không ngừng. Chế độ tự do
cạnh tranh lại phải thực hành trong những chừng hạn của công
lý. Chuyên quyền kinh tế lại phải thân thiết tùng phục chính
quyền trong đủ mọi phạm vi chính quyền phải can thiệp. Sau
hết các cơ cấu của từng xã hội quốc gia, phải cải hóa mọi sự
giao dịch giữa nhân loại, theo những đòi hỏi của công ích, tức
là công bằng xã hội. Nhờ vậy nền kinh tế rất quan trọng trong
đời sống xã hội sẽ quay về với sự chính trực và thế quân bình
tự nhiên của xã tắc.
Những biến chuyển của chủ nghĩa xã hội.
70. chủ nghĩa xã hội, mà Đức Lêô XIII đã nhắm đến
trong bức thông điệp RN cũng biến chuyển nhiều. Nói được
là không kém chế độ kinh tế. Đời Đức Tiên Giáo hoàng, chủ
nghĩa xã hội còn thống nhất. Về phần học thuyết nó rất rõ
ràng, về phần tổ chức nó thành một cơ thể duy nhất. Nhưng từ
đó, nó đã chia làm hai phe, không những tương phản nhau mà
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 142
nhiều khi lại kình địch nhau kịch liệt. Nhưng phe nào, cũng
giữ tư cách phản giáo mà chủ nghĩa ấy có sẵn ngay từ đầu.
a) Phe quá khích hay là cộng sản.
Phe thứ nhất cũng thuộc về chủ nghĩa xã hội đã biến
chuyển luôn với chế độ kinh tế tư bản, mà quy về cộng sản.
Cộng sản trong lý thuyết cũng như trong thực hành, không
những ngấm ngầm mà lại công khai, không những theo một
đường lối quanh co, mà lại theo một đường lối thẳng băng,
bằng những phương pháp hiệu lực kể luôn cả võ khí, để
quyết theo đuổi và đạt tới hai vật đích rõ ràng:
Gây sự giai cấp tương tranh kịch liệt, bài trừ mọi quyền
sở hữu. Nó quyết đấu tranh cho đến khi đạt chiến thắng.
Không có việc gì nó không dám làm. Không có sự gì nó kính
trọng. Chỗ nào nó đã chiếm lấy chính quyền, nó tỏ mình là dã
man và vô nhân đạo đến cực độ. Ai chưa thấy thì không dám
tin. Những việc nó làm toàn là những việc kỳ khôi kinh
khủng. Những sự bách hại, những bại hoại nó đã chồng chất
ở miền đông Âu Châu và ở miền Viễn đông, chứng tỏ điều
ấy rõ ràng. Kinh nghiệm hằng ngày, như ai cũng thừa biết,
cũng làm chứng cộng sản là kẻ thù địch của giáo hội và
Thiên Chúa nữa. Thiết tưởng ta không cần nói dài về tính
cách vô nhân đạo và bất công của cộng sản, cho các tín hữu
của giáo hội ý thức. Nhưng ta rất ưu sầu khi thấy kẻ cầm
quyền vô tư lự, hầu như cứ khinh thường một tai họa lớn như
thế và cứ thụ động chẳng làm gì để ngăn cản những tà thuyết
cộng sản truyền bá khắp nơi, và những việc hung ác sát nhân
nó thường dùng toàn là những sự ghê tởm đưa xã hội đến bại
hoại. Nhưng đáng kết án hơn cả là những người biếng nhác
thụ động, không bài trừ hay cải hóa những tình trạng bất công
làm cho đại chúng tức tối cực điểm, và như vậy cứ mở đường
cho đảo lộn và phá hoại cả xã hội.
TỨ THẬP NIÊN 143
b) Phe điều độ, còn giữ tên chủ nghĩa xã hội.
- Phe còn giữ tên là chủ nghĩa xã hội, thì quả thật nó
điều độ hơn. Nó nhất định không dùng võ lực. Nhưng sự
thường nó không loại ra hẳn hai vật đích cộng sản hằng theo
đuổi, tức là sự giai cấp tương tranh và sự bãi bỏ quyền sở hữu.
Hai vật đích đó, chủ nghĩa xã hội cũng theo đuổi, nhưng một
cách điều độ và êm dịu hơn.
Hơn thế nữa, hầu như chủ nghĩa xã hội vừa khiếp sợ
những nguyên tắc nó khởi xướng, vì kinh khủng vì cộng sản
áp dụng những nguyên tắc ấy một cách quá hung bạo, nên nó
dần dần thiên về học thuyết xã hội công giáo, và càng ngày
càng bước đến gần.
Ta không khỏi ngạc nhiên khi thấy rất nhiều đòi hỏi của
chủ nghĩa xã hội thật giống như những yêu cầu chân chính
của những người tận tâm tìm cải hóa xã hội theo học thuyết
công giáo.
Về hai vật đích cộng sản theo đuổi, nó điều độ và êm
dịu hơn. Các giai cấp tương tranh mà bỏ óc kình địch và oán
giận nhau, tất nhiên sẽ quay về việc tranh luận tử tế, tìm phân
công chia lợi cho công bằng. Việc ấy chưa nói được là hòa
bình và hạnh phúc xã hội ai cũng mong ước, nhưng dầu sao
cũng là một bước đầu tiên trên đường đưa tới sự cộng tác giữa
các chuyên nghiệp.
Kẻ quyết bài trừ quyền tư hữu, cũng bớt phần hung
hăng. Họ không còn đòi giữ các khí cụ sản xuất độc quyền
nữa, một chỉ đòi lại cho xã hội quyền ưu tiên mà phe tư bản
đã cướp lấy và dành riêng một cách vô lý. Quả thật quyền ưu
tiên đó không phải là của tư bản, mà bèn là của chính quyền.
Cứ mãi như vậy, chắc có ngày chủ nghĩa xã hội điều độ này
sẽ không khác chủ nghĩa xã hội công giáo bao nhiêu. Ta phải
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 144
nhận thực rằng có những thứ của cải phải dành cho cộng
đồng xã hội, vì những của cải ấy ban cho chủ nhân một
chuyên quyền kinh tế mạnh. Vì nó gây nguy cho công ích, thì
không nên cho chủ nhân cầm trong tay.
Những yêu cầu và những khiếu nại ấy, thích hợp với
công lý, không có điều gì trái ngược với chủ nghĩa chân chính
của công giáo, nhưng cũng không nói được là quan điểm
riêng của chủ nghĩa xã hội. Những kẻ không đòi hỏi điều gì
khác, thì thật là không có lý do nào mà nhập vào phe xã hội.
Đàng khác anh em chớ lầm tưởng các phe đảng không
cộng sản, nhưng cũng tuyên xưng chủ nghĩa xã hội, đều biên
ghi điều ấy trong chương trình riêng, hay đều đồng ý thực
hiện điều ấy trong hành động của họ. Nói rộng ra, các phe
đảng ấy chỉ đồng ý về một điểm không bài trừ sự giai cấp
tương tranh và quyền tư hữu, mà chỉ làm cách nào cho hai
điều đó bớt phần thiệt hại thôi.
Có cách nào giải hòa với chủ nghĩa xã hội chăng ?
- Vì vậy chỗ nọ chỗ kia cũng có người quyết đoán
một cách vô lý hay nêu lên vấn đề rằng: những nguyên tắc
chủ nghĩa xã hội đã êm dịu đi mà biến dần, thì chủ nghĩa xã
hội công giáo cũng phải biến dần cho điều độ hơn, để có thể
đón tiếp chủ nghĩa xã hội trên một đường lối chung trung bình
hơn, thật không thiếu gì những kitô hữu lầm tưởng như vậy.
Họ tưởng hấp dẫn được phe xã hội về với họ, nhưng uổng
công. Ai muốn làm tông đồ ngay giữa các đảng viên chủ
nghĩa xã hội thì phải đề cao và truyền bá chân lý của đạo
công giáo công khai đầy đủ vẹn toàn, không khi nào thiện
cảm với tà thuyết nào. Nếu họ thành thực tuyên xưng đạo
phúc âm, thì trước hết họ phải trình bày cho các đảng viên
chủ nghĩa xã hội rằng: Những khiếu nại của họ càng thích
TỨ THẬP NIÊN 145
hợp với công lý thì càng được đức tin công giáo bảo vệ mạnh
mẽ, và càng chắc được chủ nghĩa bái ái của đạo công giáo
thêm sức nhiệm cho họ được thỏa mãn trong thực hành.
Về hai mục đích: giai cấp tương tranh và bài trừ quyền
tư hữu, chủ nghĩa xã hội đã biến dần và êm dịu đi. Nhưng ta
đâu có nói được rằng về hai vật đích ấy chủ nghĩa xã hội
không còn đáng trách điều gì. Chủ nghĩa ấy đã bỏ óc phản
tôn giáo Chúa Kitô chưa ? Đó là vấn đề khiến bao tín hữu kitô
còn ngần ngại.
- Bao tín hữu nhận thực rằng: họ không sao loại ra hay
bãi bỏ những nguyên tắc xã hội của đạo công giáo. Nên họ
đưa mắt nhìn về tòa thánh tha thiết thỉnh cầu ta giải quyết vấn
đề cho họ biết rõ. Chủ nghĩa xã hội đã cải tà quy chính, thì đã
đủ thành thực cho các tín hữu trung thành với học thuyết xã
hội công giáo được nhập đảng họ chưa ? Ta chiều theo tình
cha con không muốn cho họ nóng ruột đợi chờ. Nên ta quyết
định như sau: chủ nghĩa xã hội bất phân phạm vi học thuyết,
lịch sử hay thực hành, dầu đã quay về với chân lý và công
bằng một phần nào, như ta vừa mới nói. Nhưng cũng không
thể được đồng nhất với học thuyết xã hội công giáo, vì quan
niệm xã hội của nó trái nghịch với quan niệm công giáo một
trăm phần trăm.
Về quan niệm xã hội nói chung, quan niệm tư cách xã
hội của con người nói riêng; chủ nghĩa xã hội trái hẳn với
công giáo.
Theo quan niệm công giáo, con người có tư cách xã hội
mà lại được sống ở dưới thế, cứu cánh là phải sống trong xã
hội dưới quyền tối cao của Thiên Chúa, là phương pháp đào
tạo và phát triển đủ mọi tài năng hồn xác của mình, để tán tạ
và làm vinh danh Đấng dựng nên mình, rồi tận tâm với nghề
nghiệp và sứ mệnh riêng, hầu cho được hưởng phúc đời này
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 146
và đời sau. Chủ nghĩa xã hội thì khác hẳn. Nó không biết gì
đến cứu cánh cao thượng ấy là cứu cánh của tư nhân và xã
hội. Nó đặt cứu cánh cộng đồng nhân quần, ở chỗ gây dựng
các điều kiện cần thiết cho ai nấy cũng được khoan khoái
thảnh thơi.
- Một nhận xét : cần lao tổ chức cho mọi người cộng
tác vào, theo tài theo sức, thì hiệu lực hơn là bỏ mặc từng
người làm việc lẻ tẻ. Vậy chủ nghĩa xã hội căn cứ vào đó mà
kết luận rằng: mọi hành động kinh tế cần phải quốc hữu hóa,
mà đặt dưới quyền chỉ huy của xã hội, nhất là về phương diện
vật chất: vì theo ý họ đó là mục đích duy nhất của nền kinh
tế, và là một sự cần thiết. Nên theo chủ nghĩa xã hội, về đủ
mọi việc có liên quan với sự sản xuất, thì mỗi một tư nhân
phải đặt mình trong tay xã hội và quyết tòng phục.
Hơn thế nữa, phải chiếm hữu những tài sản rộng lớn
gồm đủ mọi phúc lợi đời sống có thể gây ra được. Điểm ấy
tối quan trọng nên con người phải hy sinh những của quý hơn
là của phần hồn, kể luôn quyền tự do để hiến toàn thân lệ
thuộc một tổ chức sản xuất khổng lồ và hợp lý trí hơn.
Tổ chức xã hội sản xuất này, phạm đến phẩm cách đặc
biệt của tư nhân. Nhưng phần thiệt hại này đối với những
phúc lợi đủ thứ, mà xã hội sản xuất và phân phát cho tư nhân,
cũng chẳng thấm vào đâu. Tư nhân áp dụng những phúc lợi
do xã hội, gây nên cho nhu cầu và sở thích riêng thì sung
sướng biết bao.
- Lý tưởng xã hội, mà chủ nghĩa xã hội mong đến,
một đàng không thể nào thực hiện được ngoài sự áp bức cực
độ của chính quyền; mặt khác cũng mặc ai nấy sống giả dối
tung hoành, vì không còn chính quyền nào là chân thực. Lý
do là không chính quyền nào căn cứ vào những phúc lợi vật
TỨ THẬP NIÊN 147
chất thế tục được. Quyền bính chân chính chỉ do Thiên Chúa,
vừa là nguyên lý vừa là cứu cánh của muôn vật thụ sinh.
Tín đồ công giáo, đảng viên xã hội, là hai danh hiệu
mâu thuẫn với nhau.
Chủ nghĩa xã hội như bất cứ tà thuyết nào khác có phần
sai, nhưng cũng có phần đúng (các Đức Giáo hoàng cổ kim
đều xác nhận điều đó).
Nhưng dầu sao nó ăn cứ vào một quan niệm xã hội sai
lạc, không thể nào hòa giải với quan niệm của đạo công giáo
xác đáng.
Hòa hợp chủ nghĩa xã hội với tôn giáo, và nhất là công
giáo là một mâu thuẫn khó giải quyết được. Không ai là đảng
viên chủ nghĩa xã hội và đồng thời giữ chức vị kitô hữu kiểu
mẫu được.
Chủ nghĩa xã hội tái giáo dục tuổi thanh niên.
- Những điều ta mới nhắc lại, và còn công nhiên công
bố tại đây, đều phải áp dụng vào một tổ chức mới của chủ
nghĩa xã hội. Tổ chức ấy chưa mấy ai biết rõ, nhưng nó bành
trướng mạnh trong bao phe đảng thiên về chủ nghĩa xã hội
hiện tại.
Nó cải hóa mọi tâm hồn và cả những thuần phong mỹ
tục nữa. Mượn sức nhiệm của một tình nghĩa bè bạn giả mạo,
nó hấp dẫn tuổi thanh niên nói riêng. Nhưng nó cũng tìm tẩm
nhiễm đại chúng để đào tạo một con người xã hội hóa theo
chủ nghĩa của nó.
Trong bức thông điệp “Thầy Chí Thánh” ta đã giảng giải
về những nguyên tắc căn bản của một nền giáo dục Kitô hóa.
Vậy ta không thể nào bỏ dịp này nữa, mà không chứng tỏ
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 148
điều hiển nhiên này: mọi quan điểm và mọi thực hiện của
chủ nghĩa xã hội về đàng giáo dục, đều trái ngược với
nguyên tắc và tiêu chuẩn nền giáo dục của Chúa Kitô.
Tất cả những người nào không chịu góp sức nhiệt tâm
mạnh bạo, chống trả những nguy nan do chủ nghĩa xã hội gây
nên, thì hoặc giả vờ khinh thường, hoặc thành thực không biết
những nguy nan kinh khủng ấy. Nên phận sự của ta là tiên
báo cho họ biết những nguy nan đang đe dọa những người ấy,
mà nói quyết rằng:
“Nền giáo dục mới của chủ nghĩa xã hội, thì cha đẻ là
chủ nghĩa cá nhân tự do: người thừa kế là cộng sản Nga xô”.
Những kitô hữu đã nhập vào chủ nghĩa xã hội.
- Sự thật có vậy, thì anh em đoán được ta ưu sầu biết
bao, khi thấy một số đông con yêu của ta rời bỏ chủ nghĩa
công giáo mà nhập vào hàng ngũ chủ nghĩa xã hội. Ta không
sao tin được ! lòng tin của họ còn toàn vẹn, ý chí của họ còn
chính trực. Trong số tín hữu đó, người thì công khai ghi tên và
tuyên xưng chủ nghĩa xã hội nói trên, người thì trôi theo nó,
người thì bị bắt buộc công khai hay ngấm ngầm phải nhập vào
các phe đảng xã hội.
Vì tình nghĩa cha con, ta hết sức lo âu và hằng tự hỏi,
tìm hiểu làm sao mà họ đã xa vào cái trụy lạc ấy. Ta đã nghe
vang dội bên tai những lời họ nói chữa mình rằng: giáo hội và
các tín hữu hằng đi sát với kẻ giầu sang mà chẳng lo gì đến
công nhân, chẳng làm gì để cứu họ. Nên họ không có phương
cách nào để bảo vệ quyền lợi của họ, ngoài phương cách
nhập vào chủ nghĩa xã hội.
Thê thảm thay ! đời nào cũng đã từng có, và đời ta bây
giờ vẫn còn bao nhiêu người dầu tự đắc là kitô hữu, dầu còn
ghi nhớ luật công bằng và bác ái cao siêu của phúc âm; họ
TỨ THẬP NIÊN 149
không những bắt buộc phải trả cho từng người, những cái là
của họ, mà lại phải cứu đỡ anh em túng thiếu như là cứu trợ
chính Chúa Kitô, ấy thế mà họ vẫn cứ một lòng áp bức công
nhân vì tư lợi.
Hơn thế nữa, cũng có kẻ lạm dụng đạo thánh để che
khuất những sự bất công của họ, và thuận bề bác bỏ những
khiếu nại chính đáng của công nhân làm việc cho họ. Thái độ
độc ác này Ta sẽ không ngừng kết án. Chính vì họ mà giáo
hội vô tội đã bị cảnh cáo và mang tiếng là một tổ chức thông
đồng với phe tư bản, không động lòng trắc ẩn trước sự ân cần
và công lao của những người dân đen sống cực khổ không
hưởng chút phúc lợi ở dưới thế. Thật là một nhận xét vô lý,
một vụ bỏ vạ ! tang chứng rõ ràng là :
Bức thông điệp ta mừng lễ kỷ niệm, cũng là một bằng
chứng rực rỡ; đó là một vụ bỏ vạ, một sự lên án bất công, làm
nhục cho giáo hội và học thuyết xã hội quý hóa của giáo hội
nữa.
Tha thiết kêu mời tín hữu quay về đường chính.
- Nhưng Ta không thể nào im tiếng và ngã lòng vì vụ
bỏ vạ kia. Ta hết sức ưu sầu như một người cha lạc mất đàn
con, Ta cũng không xua đuổi hay loại bỏ những con cái thân
yêu đã bị lừa dối và lôi cuốn xa lạc chân lý và sự cứu rỗi. Trái
lại với một lòng kính cẩn và hết sức nhiệt tâm, ta tha thiết kêu
mời họ trở về với giáo hội. Ước gì họ lắng tai nghe tiếng của
Ta! ước gì họ chóng hồi tâm lại mà trở về nhà cha mà họ đã
đành tâm bỏ đi. Ước gì họ bền tâm vững chí tiếp tục giao
chiến trong hàng ngũ của các tín hữu, nghe tiếng Đức Lêô
XIII khuyên nhủ không ngừng, mà phục hưng lại xã hội theo
tinh thần của giáo hội, và luôn luôn đoàn kết chặt chẽ trong
sự công bằng và bác ái xã hội. Họ phải tin chắc rằng: Ở dưới
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 150
thế hạnh phúc không lúc nào hoàn hảo bằng lúc chúng ta
đứng cạnh Chúa Kitô là người giầu sang tuyệt đối, đã muốn
sống bần cùng cho chúng ta thông phần giầu sang của Người;
là trong thời tuổi trẻ Người đã sống thiếu thốn, luôn luôn đầu
tắt mặt tối làm việc và chịu vất vả để chúng ta thêm sức dồi
dào bởi trái tim Người đầy yêu thương phát ra; Sau hết là
Người sẽ không thiên vị người nào, mà đòi hỏi nhiều ở những
kẻ có nhiều và thưởng phạt ai nấy tùy theo công nghiệp của
họ.
Cải thiện phong hóa.
- Nhưng ta hãy xét mọi việc cho tường tận hơn. Ta sẽ
thấy rõ ràng công việc cải tạo xã hội ai cũng mong ước không
thể nào hoàn thành, nếu không phục hưng lại tinh thần kitô
hữu trong đời sống trước đã. Các nhà kinh tế chuyên môn, đa
số đã mất tinh thần phúc âm từ lâu. Tội nghiệp họ cố gắng
xây dựng nền kinh tế, nhưng thay cho xây dựng nó trên nền
đá kiên cố, trái lại họ chỉ xây dựng nó trên bãi cát.
Ta mới đưa mắt lược qua chế độ kinh tế hiện tại. Nhưng
cũng đủ mà nhận thực các tệ đoan của nó. ta đã luận xét chủ
nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội muôn mặt. Những chủ nghĩa
ấy dầu dưới hình thức điều độ hơn cả, cũng vẫn xa cách phúc
âm một vực một trời.
Vì thế Ta mượn lời Đức Tiên Giáo hoàng mà nói: Duy
chỉ có một phương dược sửa chữa xã hội, là dẫn nó về với
những cơ cấu và đời sống của phúc âm.
Chỉ phúc âm mới đủ hiệu lực mà giải phóng xã hội khỏi
vấn vương vào những sự hay hư là cỗi rễ đủ mọi tính hư.
Loài người mê ảo vì bận trí vướng lòng vào thế gian
phù vân chóng qua. Chỉ có phúc âm mới đưa họ về chân
TỨ THẬP NIÊN 151
minh, mà khiến họ đưa mắt nhìn lên trời. Ai chối được xã hội
ngày nay không cần đến phương dược linh nghiệm ấy?
Các linh hồn bại hoại, là ác quả của chế độ kinh tế
hiện tại.
- Loài người phần đa số xúc động, chỉ vì những biến
cố, những phá hoại, những tệ đoan thế tục. Nhưng so sánh
cho kỹ những tệ đoan ấy, với những bại hoại của các linh
hồn, nào có ra gì.
Nói cho đúng, tình trạng xã hội kinh tế ngày nay là trở
lực kinh khủng nhất, khiến loài người phần đông không chu
toàn được việc khẩn cấp hơn cả, là việc rỗi linh hồn.
Vì ta kế vị Chúa Chiên đã cứu chuộc họ bằng Máu
Thánh Người, Ta phải chăm nom săn sóc họ. Vậy nhìn đến
cảnh thê thảm của họ, ta không khỏi động lòng thông cảm.
Nhớ mục vụ của ta, nhớ tình cha con ràng buộc ta lại với họ,
ta không ngừng tìm phương pháp cứu họ, và liệu sao cho mọi
người thiện chí, cũng không ngừng lao tâm cương quyết cải
hóa mọi sự theo công bằng và bác ái. Chinh phục thiên hạ
bằng những tổ chức tăng gia sản xuất mãi, mà mất linh hồn thì
nào có ích gì ! Dạy bảo họ những nguyên tắc kinh tế ngay
thẳng, mà cứ để họ lạc xa đường chính; vì những tham vọng
ích kỷ mê hoặc, cũng là vô ích. Biết đạo thánh Chúa mà hành
động trái ngược với luật thánh Người, há chẳng phải là gây
một thiệt hại lớn ư !
Nguyên do tệ đoan.
- đời sống xã hội và kinh tế, càng lạc xa Chúa Kitô thì
các công nhân cũng càng chối Thiên Chúa. Tâm hồn của họ
đầy những tham vọng mê man, là ác quả của tội nguyên tổ,
đã phá trật tự Thiên Chúa đặt sẵn giữa các năng lực hồn xác
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 152
của con người. Vì tội ấy loài người trôi theo những dục vọng
đê hèn, mà ra ưa quý những của cải phàm hèn hay hư mà coi
thường những của cải siêu nhiên vĩnh cửu. Lòng khao khát
tiền của, và thế sự, thì phát nguyên từ đó. Con người cũng
không đời nào cho nó thỏa mãn được.
Trái lại vì nó mà đời nào lòng người cũng khuynh
hướng về sự lỗi luật Chúa, giầy đạp quyền lợi anh em dưới
chân. Nhưng dưới chế độ kinh tế hiện tại, lòng người vốn yếu
đuối thì lại càng sa ngã nhiều hơn nữa. Tình trạng kinh tế và
mọi cơ cấu đã lập ra đảng này, thì hằng lung lay. Những người
phụ trách thì đêm ngày lo chống đỡ. Kết quả một số đông
người càng ngày càng chai đá không quản gì đến lương tâm,
một cứ hết thử phương pháp này, lại thử đến phương pháp kia;
quyết tăng gia hay bảo vệ hoa lợi họ đã vất vả thâu góp cho
khỏi vì vận hạn mà họ phải mất hết trong chốc lát. Những hoa
lợi ai cũng dễ dàng thâu góp, vì tự do buôn bán thường hấp
dẫn bao nhiêu người, bỏ sự sản xuất, chuyên lo trao đổi sản
phẩm, vì đó là một phương cách làm ích lợi nhiều. Một sự đầu
cơ vô hạn, làm cho giá mọi sản phẩm cứ lên xuống mãi theo
sở thích và tham vọng của họ. Sự sản xuất dầu được tổ chức
khôn ngoan đến đâu đi nữa, thì cũng không sao theo kịp.
- Pháp luật đáng lẽ phải tổ chức tư bản cho có sự hợp
tác, cho mọi người hưởng lợi điều hòa, lại chia với nhau phần
thiệt hại rủi may. Nhưng thật sự pháp luật gây dịp cho những
sự lạm quyền đáng trách, chẳng còn mấy ai ý thức trách
nhiệm. Tội lỗi đến công bằng là sự thường, mà lương tâm ai
nấy cũng không bị cắn rứt bao nhiêu. Vì có đại chúng chịu
vậy, ít khi phản đối, nên người ta tha hồ lừa dối nhau, vì phạm
công lý là việc đáng kết án nghiêm ngặt. Chính kẻ cầm
quyền chỉ huy những tổ chức kinh tế chung lại đồng mưu
phạm đến những lời cam đoan của họ, khinh thường quyền lợi
những kẻ đặt hết tin tưởng vào họ. Vì tư lợi riêng, họ khiến
TỨ THẬP NIÊN 153
dân đen mất cả phần vốn mà người ta đã mất công dành dụm.
Ta còn nói gì nữa về những người kinh doanh nhiều, không
phân biệt những việc chính tà, phải trái, mà xúi giục những
dục vọng của dân chúng tin ở họ, rồi lạm dụng dân chúng để
gây lợi riêng.
Chỉ một kỷ luật luân lý được chính quyền nâng đỡ mới
đề phòng hay tu bổ lại những tổn thất ấy. Nhưng, tội nghiệp
từ trước đến giờ kỷ luật ấy không biết bao phen đã nhu
nhược. Chế độ kinh tế mới đã xuất hiện ngay trong lúc chủ
nghĩa duy lý được truyền bá và đâm rễ sâu khắp mọi nơi. Kết
quả nền kinh tế mới cũng thụ hưởng và loại bỏ luân lý luôn.
Luân lý bị loại ra, thì dần dần kinh tế bị mọi tham vọng phàm
hèn tha hồ xâm chiếm.
Từ đó loài người đa số chỉ còn lo mở mang tài sản bằng
đủ mọi phương kế chính tà. Họ đặt lợi riêng lên trên hết mọi
sự. Dầu những tội ác kinh khủng nhất, phạm đến quyền lợi
anh em, họ cũng thản nhiên nhúng tay vào.
Những kẻ mở đường đưa đến trụy lạc ấy, đã không
thiếu người bắt chước noi theo sự gian ác của họ, kẻ thì theo
vì ngạc nhiên trước sự thành công vĩ đại của họ, kẻ thì theo vì
cảm phục đời sống xa hoa kiêu hãnh của họ, kẻ thì lương tâm
non nớt ngần ngại, nhưng cũng theo vì bị chê cười nhạo báng,
kẻ thì đấu tranh nhưng vì không dám dùng những phương kế
bất lương, nên đã bị họ diệt trừ đánh bại.
Những ban chấp hành phụ trách kinh tế đã bãi bỏ luân
lý thì tất nhiên công nhân dần dần cũng bãi bỏ. Cấp trên cấp
dưới cùng sa vào trụy lạc. Giới công nhân càng chống suy
đồi, vì càng thấy đa số chủ nhân không quản gì đến phần hồn
khinh thường những phúc lợi cao thượng họ còn noi theo, mà
chỉ dùng họ như thể họ là những khí cụ vô ý thức.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 154
Ai cũng khiếp sợ khi thấy những tệ đoan đe dọa những
xưởng lớn ngày nay, về luân lý công nhân, nhất là công nhân
tuổi trẻ; về nết na đức hạnh của phụ nữ ! ai cũng khiếp sợ,
khi thấy chế độ cần lao hiện tại gây bao trở lực cho đời sống
gia đình, hoặc vì hoàn cảnh khốc hại, cửa nhà công nhân phải
ở, hoặc vì gia đình công nhân bị phân tán, không giữ được sự
ấm cúng cần thiết. Ai cũng khiếp sợ khi thấy những trở lực
lớn lao ngăn cấm công nhân không còn thánh hóa được ngày
chủ nhật và lễ trọng. Ai cũng khiếp sợ khi thấy công nhân và
các dân đen xưa kia có lý tưởng công giáo rất cao, mà ngày
nay đã mất cả tinh thần kitô hữu, vì quá bề bộn về việc cơm
bánh thường ngày. Theo ý Chúa quan phòng không cứ gì tội
nguyên tổ đối với con người, cần lao phải là phương kế mở
mang phần xác, vật chất và tinh thần. Nhưng với tổ chức kinh
tế vô đạo kia, cần lao chỉ còn đưa nhân loại đến trụy lạc.
Trong xưởng máy, muôn vật thiên nhiên đều thêm giá
trị, Nhưng loài người trái lại, chỉ hư đi và suy đồi mãi.
PHƯƠNG DƯỢC
Hợp lý hóa kinh tế theo đạo Chúa Kitô.
- Bao lâu sự khủng bố các linh hồn nói trên còn tồn
tại, thì bấy lâu mọi cố gắng cải thiện xã hội sẽ bị thất bại.
Phương dược linh nghiệm duy nhất, là trở về với phúc âm,
thực hành những lời hằng sống của Chúa Kitô, Đấng đã nói
rằng: “Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời Ta nói không thể nào qua
được”.
Những nhà xã hội học chuyên môn, tha thiết đòi hỏi sự
hợp lý hóa kinh tế để cải tạo xã hội hiện tại. Nền kinh tế ấy
ta cũng quyết tu bổ lại, nhưng nó sẽ không bao giờ hoàn bị,
nếu ta không khiến mọi hành động của nhân loại phát triển
TỨ THẬP NIÊN 155
điều hòa và quy về tổ chức vĩ đại của Chúa, mà đáng lẽ loài
người phải bắt chước và phải thực hành tùy theo sức.
Tổ chức ấy chính là tổ chức hoàn bị mà giáo hội không
ngừng nhắc đến và cũng là tổ chức lý trí tự nhiên đòi hỏi.
Trong tổ chức ấy, Thiên Chúa vừa là căn nguyên, vừa là
cứu cánh tuyệt đối của mọi hành động thụ tạo. Muôn vật
trong thiên nhiên cũng chỉ là phương tiện, ta phải hưởng dụng
điều độ để bước tới cứu cánh đời sống. Trong tổ chức những
nghề nghiệp gây lợi không bị hạ giá đâu. Trái lại, thay cho
khinh bỉ những nghề nghiệp và cho rằng đối với phẩm cách
nhân loại là bất xứng; thì ta xác nhận những nghề nghiệp ấy
rất thích hợp với thánh ý Chúa đã dựng nên loài người để làm
việc, và dùng việc làm để cấp đủ mọi sự cần cho đời sống.
Như vậy kẻ sản xuất không cấm tăng gia sản riêng, trái lại,
công lý ban phép cho những người nào mưu ích cho xã hội
thêm phong phú cũng được hưởng phần công ích do họ gây
nên để sống xứng với địa vị của họ. Chỉ có một điều kiện là
họ phải thêm giầu theo luật thánh Chúa. Họ phải tôn trọng
quyền lợi của anh em, họ phải tiêu dụng của cải theo luật đức
tin và lý trí chỉ dạy.
Giả như mọi người tuân theo những luật sống này,
không những sự sản xuất mà lại cả những sự thâu góp và tiêu
dụng của cải ở dưới thế ngày nay đã rất lộn xộn, cũng sẽ kíp
trở về trật tự và sự phân phối của công lý.
Trong thực tế, tính vị kỷ là sự nhục nhã và tội trọng nhất
của đời ta, sẽ phải nhượng bộ trước luật êm dịu và mạnh sức
của một tổ chức điều độ do công giáo gây nên. Luật ấy bảo
rằng: trước hết hãy tìm nước Chúa và sự công lý, rồi chắc thể
nào Chúa cũng sẽ ban dư dật đủ mọi của cải thế tục. Vì đó là
lời Chúa đã hứa công khai, hợp với lòng vô cùng khoan dung
quảng đại của Người.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 156
Vai trò quan trọng của đức bác ái.
- Những cố gắng cải tạo xã hội nói trên, muốn chắc
thành công, thì phải căn cứ vào luật bác ái, vốn bảo đảm sự
trọn lành.
Bao nhà cách mạng trứ danh cũng thiếu khôn ngoan và
lầm to, vì họ bắt buộc ai nấy cũng phải tuân cứ luật công bằng
giao hoán, rồi kiêu hãnh khinh thường sự hợp tác của đức bác
ái.
Đành rằng đức bác ái cũng không thể nào thay thế cho
đức công bằng được.
Không ai lấy cớ thực hành đức bác ái, mà chối những
phận sự đức công bằng bắt buộc ai cũng phải đảm nhận.
Nhưng dầu mọi người ở dưới thế được thỏa mãn theo đúng
quyền lợi, phạm vi bác ái cũng còn rộng rãi, nói được là vô
bờ bến. Thực hành đức công bằng một cách tỉ mỉ, thì có lẽ xã
hội sẽ không còn lý do nào cho các giai cấp tương tranh.
Nhưng đức công bằng vẫn không đủ sức nhiệm mầu khiến
mọi người đồng tâm nhất trí. Vậy tất cả mọi cơ cấu quyết gây
dựng hòa bình, và sự cộng tác giữa loài người, dầu tổ chức
tinh xảo bao nhiêu, chỉ hiệu lực và đứng vững, khi mọi công
dân thật đồng tâm với nhau ở trong tâm hồn. Kinh nghiệm dạy
rằng thiếu sự đồng tâm ấy, bất cứ tổ chức nào cũng không kết
quả được.
Sự cộng tác chặt chẽ thân mật giữa nhân loại, cùng
chung theo đuổi công ích, không thể nào có được, nếu loài
người không ý thức rằng: họ chỉ là phần tử của một gia đình
rộng lớn cùng một cha cả trên trời. Họ chỉ là thành phần của
nhiệm thể Chúa Kitô, mà từng người hân hạnh được làm chi
thể. Như vậy nhỡ ra có ai đau khổ, thì toàn thân thể xã hội
cũng mới chia phần đau khổ.
TỨ THẬP NIÊN 157
Nhờ đó kẻ giầu sang người cầm quyền đã quen lãnh
đạm với những anh em tội nghiệp và xấu số từ lâu, mới tỏ
lòng thông cảm và nẩy ra lòng bác ái thực sự. Họ sẽ động
lòng thương lắng nghe sự khiếu nại hợp lý của dân. Họ sẽ
động lòng dung tha những lầm lạc hay lỗi lầm của các dân
bần cùng.
Đàng khác các công nhân sẽ thành thực bỏ lòng căm
hờn hay ghen tương, mà các nhà chuyên môn xúi giục các
giai cấp xã hội kình địch nhau đã gây nên. Họ sẽ tình nguyện
đóng vai trò tân xã hội mà Chúa quan phòng đã chỉ định cho.
Họ sẽ cho vai trò xã hội của họ là rất quan trọng, bởi họ đã
hiểu rằng: mọi người đều có một phận sự thì đều góp thêm
phần hữu ích vào công ích. Họ sẽ noi gương theo gót Chúa
Kitô, Đấng bẩm sinh là con Chúa, nhưng đã không ngại đóng
một vai công nhân ở đời và rất hân hạnh vì được gọi là “con
bác thợ mộc”.
Công việc thì rất nặng nề.
- Tinh thần phúc âm lại tỏa ra khắp thiên hạ, là một
tinh thần điều độ và bác ái, thì ta mới hy vọng và vững tâm hy
vọng, xã hội sẽ được phục hưng lại như ta hằng tận tâm mong
ước : hòa bình Chúa Kitô sẽ hiện ra trong nước Chúa Kitô.
Sự phục hưng và hòa bình ấy là mục đích ta đã theo
đuổi ngay từ lúc mới được tin sẽ được tấn phong giáo hoàng,
và ta vẫn cương quyết thực hành mục đích ấy với cả một lòng
cha ân cần săn sóc đoàn con. Anh em cũng theo ý Thánh Linh
Chúa, mà hợp tác với ta chỉ huy giáo hội của Chúa. Vậy xin
anh em góp một phần với ta trong công việc khẩn cấp và cần
thiết đời ta với một lòng hăng hái nhiệt thành khả kính. Ta
thành thực tán tạ anh em và tất cả những linh mục và những
giáo hữu là cộng tác viên hùng dũng của anh em, vì họ càng
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 158
ngày càng góp một phần rất lớn và rất đáng khen trong công
cuộc vĩ đại ấy. Họ là những con thân yêu nhất của ta; những
nhân viên của công giáo tiến hành đã tình nguyện hiến thân
với ta, để giải quyết vấn đề xã hội, tùy theo giáo hội do Thiên
Chúa lập ra đã có quyền và phận sự lo đến.
Ta tha thiết yêu cầu những người ấy, trong Chúa Kitô
đừng tiếc gì công lao, đừng để trở lực nào thắng họ, và ngày
một tỏ mình dũng cảm hơn, sức lực mới mẻ hơn. Công việc ta
đề nghị rất nặng nề. Ta thừa biết trong đủ mọi giai cấp xã hội,
cấp trên, cấp dưới họ sẽ phải thắng biết bao trở lực. Nhưng
chớ ngã lòng. Đặc tính riêng của các kitô hữu, là xông pha
vào những trận chiến nguy hiểm; hoàn tất những công việc
lớn, cho xứng danh hiệu là tinh binh của Chúa Kitô, và hằng
theo sát Người.
Đã đặt hết tin tưởng ở Chúa Kitô toàn quyền mở rộng
đường cứu rỗi cho cả nhân loại, chúng ta hãy tùy theo sức, để
ủng hộ những linh hồn tội nghiệp đã lạc xa Chúa… Chúng ta
hãy cứu họ khỏi những thế tục đã xâm chiếm tâm hồn họ, và
ta hãy tập cho họ quen hướng về những của quý đời sau.
Công việc ấy có thể hoàn thành dễ hơn ta thường tưởng
tượng. Dầu những người trụy lạc, cũng giữ trong lòng như một
ngọn lửa âm ỉ dưới bóng tro tàn những năng lực siêu nhiên lạ
lùng, chứng tỏ họ tự nhiên là những tâm hồn kitô hữu.
Phương chi những người lầm lạc vì hoàn cảnh, hay bị lừa dối,
tất còn giữ trong lòng một nguồn lực mãnh liệt hơn nữa.
- Ngoài ra đời ta bây giờ không thiếu những điểm tốt
khiến ta mừng rỡ và tin chắc rằng: xã hội sắp được chỉnh đốn
trong Chúa Kitô. Tỉ dụ như những tổ chức công nhân kitô hữu
đang xuất hiện, nhất là phong trào thanh niên lao công kitô
hữu đang xiết chặt hàng ngũ vì đã đáp lời Chúa gọi, và hằng
ôm ấp trong lòng một tham vọng quý hóa, là khôi phục lại
TỨ THẬP NIÊN 159
cho Chúa Kitô một tâm hồn anh em đồng nghề. Ta cũng hết
sức mừng rỡ, khi thấy bao người trong các ban chấp hành
những tổ chức công nhân đã hy sinh tư lợi, để thành tâm gây
phúc lợi cho anh em. Họ đã quyết chí hòa giải những khiếu
nại hợp lý của công nhân, với lợi ích chung của công nghệ họ
phụ trách. Dầu bị tình nghi, dầu gặp phải bao trở lực họ cũng
bền tâm theo đuổi mục đích cao siêu ấy. Sau hết những thanh
niên tài trí lỗi lạc, hay khá giầu sang, sắp chiếm lấy một địa vị
khả quan trong giới công chức xã hội cũng đã càng ngày càng
đông và càng mải miết tìm hiểu vấn đề xã hội hiện tại. Họ là
một mối hy vọng rực rỡ, vì nay mai chắc chắn họ sẽ tận tâm
với phận sự cải hóa xã hội.
Đường lối nên theo.
- Anh em đáng kính, như vậy thời thế hoàn cảnh vạch
sẵn cho ta đường lối phải bước đi. Như mấy đời trước, đời ta
cũng bị tục hóa theo tha dân. Muốn hấp dẫn mọi giai cấp xã
hội đã chối Chúa chóng được trở về đường chính, anh em
phải tuyển mộ và huấn luyện ngay ở giữa họ một số người
thông cảm tâm trí của họ, xu hướng của họ, để làm phụ tá cho
giáo hội, mà lại đối đãi với họ trong một tình nghĩa huynh đệ
thiết tha. Những tông đồ ưu tiên, những tông đồ trực tiếp của
giới lao động sẽ là công nhân, những tông đồ của giới kỹ
nghệ hay thương mại sẽ là những người chuyên về kỹ nghệ
hay thương mại.
Những tông đồ giáo dân thuộc giới lao động, hay chủ
nghiệp này, chính anh em và các linh mục phục quyền anh
em, sẽ phải ân cần tìm kiếm, khôn ngoan tuyển lựa, đào tạo
và giáo huấn. Linh mục lại phải đảm nhiệm một trọn trách rất
tinh tế. Các chủng sinh đang dọn mình phụng sự giáo hội,
cũng phải tận tâm học hiểu những nguyên tắc xã hội của hội
thánh. Còn những người được anh em lựa chọn để trực tiếp
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 160
phụ trách mục vụ ấy, sẽ phải có óc công bằng rất tinh tế, đủ
sức nhiệm để vững tâm chống cự những khiếu nại quá khích
bất công của bất cứ ai, lại phải nổi tiếng là người điều độ và
khôn ngoan tránh được đủ mọi sự quá khích. Hơn thế nữa, họ
cần thấm nhuần lòng bác ái của Chúa Kitô. Chỉ đức bác ái
mới mạnh sức và đủ êm dịu để chinh phục tâm trí người ta
cho công bằng và chính nghĩa. Kẻ bền chí theo đường lối ấy
đã thành công nhiều rồi. Không ai hồ nghi được đó là đường
lối ai cũng phải dũng cảm bước chân theo.
Còn những linh mục được lựa chọn để đảm nhiệm trọng
trách ấy, thì ta tha thiết yêu cầu họ hãy tận tâm huấn luyện
những cộng tác viên của họ. Để hoàn tất công việc linh mục
và tông đồ ấy, trước hết họ phải dùng mọi phương tiện, do
nền giáo dục công giáo cung cấp cho họ.
Giáo dục thanh niên.
Hội đoàn kitô hữu.
Hội học về những huấn lệnh của đức tin.
Hơn hết họ phải tôn trọng và chuyên dùng những cuộc
tĩnh tâm, là phương thế linh nghiệm nhất để cải thiện đời sống
cá nhân và xã hội, Ta đã nói rồi, và ta nhắc lại nữa: họ phải
dùng phương kế ấy để huấn luyện các cộng tác viên của họ.
Những cuộc tĩnh tâm này rất hữu ích cho giáo dân, và
nhất là cho công nhân. Vì thế ta tha thiết yêu cầu anh em hãy
tổ chức những cuộc tĩnh tâm ấy là trường học đào tạo tinh
thần, trong lò lửa nồng nàn của Thánh Tâm Chúa Giêsu đầy
tình yêu. Từ ở những trường học ấy, không những xuất ra
những giáo dân kiểu mẫu, mà lại là những tông đồ chân
chính, chuyên môn làm việc trong đủ mọi giai cấp xã hội.
Từ ở những trường học ấy như các tông đồ xưa, từ ở
nhà tiệc ly, họ sẽ xuất ra với một đức tin mạnh mẽ, với một ý
TỨ THẬP NIÊN 161
chí anh hùng chống được đủ mọi sự bắt bớ, vì chỉ còn một
mối lo là xuất công mở nước Chúa Kitô cho rộng.
Không bao giờ bằng bây giờ giáo hội cần những tinh
binh kitô hữu ấy, để tận tâm hiệp lực bảo vệ gia đình khỏi
những tai hại sẽ phải xảy ra. Nếu họ khinh bỉ học thuyết Phúc
âm, để mặc chế độ hiện tại giầy đạp đạo tự nhiên và đạo
thánh Chúa, rồi tiến triển mãi. Giáo hội Chúa Kitô được xây
đắp trên những nền tảng bất di bất dịch, dầu hỏa ngục cũng
không thắng nổi, nên Người không thấy gì đáng là khiếp sợ.
Giáo hội cũng có kinh nghiệm quá khứ bảo đảm tương
lai. Dầu những cơn giông tố dữ dội nhất, trải qua lịch sử giáo
hội cũng đã thắng vượt hết, mà lại thắng một cách vô cùng vẻ
vang.
Nhưng giáo hội là một người mẹ âu yếm đàn con. Khi
thấy đoàn con lâm nguy, về những cơn giông tố đang đe dọa
ức triệu người phải thiệt hại lớn, thì giáo hội sốt ruột và xót
dạ. Nhỡ ra những cơn giông tố ấy bùng nổ, thì bao nhiêu
người sẽ bị thiệt hại về phần hồn, và bao nhiêu linh hồn được
Chúa Giêsu cứu chuộc bằng giá máu Người sẽ phải bại hoại.
Vì thế, ta phải dùng trăm nghìn phương cách để đề
phòng cho nhân loại khỏi sa vào những tai ương ấy. Mọi công
việc, mọi cố gắng, mọi kinh nghiệm liên lỉ nhiệt tâm của ta,
thảy đều quy về mục đích ấy.
Nhờ ơn Chúa giúp, do chúng ta cầm trong tay thân phận
loài người tương lai được, chúng ta đừng để con cái thế gian tỏ
mình khôn ngoan hơn chúng ta; đã nhờ ơn Chúa toàn ái phú
ban, mà trở nên con cái của ánh sáng.
Quả thật, ta thấy họ rất khôn ngoan, tuyển lựa và huấn
luyện cán bộ, để truyền bá tà thuyết của họ, làm cho phong
trào của họ ngày một mở rộng hơn, trong đủ mọi tầng lớp xã
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 162
hội và ở đủ mọi địa phương trên hoàn cầu. Hễ khi nào họ
phải giao chiến với giáo hội, ta thấy họ quên bỏ mọi sự xích
mích riêng, để xiết chặt hàng ngũ và tận tâm hiệp lực theo
đuổi mục đích của họ bằng cách thống nhất lực lượng.
Giáo dân phải đoàn kết và cộng tác với nhau một cách
chặt chẽ thân mật.
- Giáo dân nhiệt thành không quản gì công lao khó
nhọc để gây dựng bao công cuộc vĩ đại, hoặc trong phạm vi
xã hội kinh tế, hoặc trong phạm vi văn hóa và tôn giáo. Điều
ấy ai cũng đã rõ. Nhưng vì những lực lượng công giáo đã quá
phân tán, thì những công cuộc đáng khen kia đâm ra yếu lực
và thiếu hiệu quả.
Vậy ta yêu cầu mọi người thiện chí, hãy đoàn kết lại
chặt chẽ dưới quyền chỉ huy của các chúa chiên phụ trách
giáo hội. Nhờ vậy họ mới ra mặt trận thánh thiện và ôn hòa
của Chúa Kitô; giao chiến và toàn thắng. Yêu cầu mọi người
phục quyền giáo hội, sống dưới ánh sáng của giáo hội, cũng
ra giao chiến, tùy theo năng lực, tài sức riêng, địa vị riêng, để
góp một phần vào việc canh tân xã hội, mà chính Đức Lêô
XIII trong bức thông điệp RN đã nêu khởi.
Không chút thiên vị những ý kiến riêng, một cứ sẵn
sàng bỏ luôn những ý kiến sáng suốt hơn cả, vì công ích đáng
quý hơn.
Họ phải đề cao hơn hết và ở khắp mọi nơi nước Chúa
Kitô, làm cho Chúa Kitô hiển trị khắp thiên hạ.
Vì Chỉ có Chúa Kitô đáng được vinh danh toàn trị muôn
đời. Vậy để toàn thể anh em và các con yêu quý hợp lại trong
đại gia đình công giáo, Chúa đã uỷ cho ta phụ trách, luôn luôn
đủ sức hoàn tất công việc ấy;
TỨ THẬP NIÊN 163
Để các công nhân và các lao động công giáo, ta yêu
quý riêng vì được Chúa quan phòng uỷ thác cho ta săn sóc
làm một với chủ nhân, được luôn luôn tận tâm với phận sự;
Ta hân hạnh đem hết tình cha con, ban phép lành tòa
thánh.
Tại Lamã, gần tòa thánh Phêrô, 15,3,1931.
Năm thứ 10 ta được thụ phong giáo hoàng.
Piô XI.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 164
MỤC LỤC
THÔNG ĐIỆP TỨ THẬP NIÊN
Giới thiệu thông điệp
Đức Piô XI và tư tưởng xã hội công giáo
Lý thuyết và thực hành trong kinh tế của văn kiện này
Sự đón nhận và hậu thế của thông điệp “Bốn mươi năm”
i. Một bức thông điệp rất hợp thời
ii. Học thuyết xã hội gồm tắt trong bức thông điệp RN
iii. Mục đích bức thông điệp mới
DANH MỤC NHỮNG CHỦ ĐỀ TỔNG QUÁT
I. Những hiệu quả bởi bức thông điệp “RN”
Sự can thiệp của giáo hội
Sự can thiệp của chính quyền
Sự cộng tác của chủ nhân và công nhân
Bức thông điệp RN là hiến chương của lao động
II. Học thuyết công giáo về vấn đề kinh tế và xã hội
Quyền tư hữu
Chính quyền quốc gia
Quyền sở hữu chính đáng căn cứ vào đâu
Một nguyên tắc chính đáng, phải áp dụng vào việc phân chia hoa lợi
Đề cao một nguyên tắc chính đáng chỉ dẫn được mọi hành động kinh tế
III. Những biến cố lớn đã xảy ra từ thời Đức Lêô XIII
Nền kinh tế biến chuyển
Những biến chuyển của chủ nghĩa xã hội
Cải thiện phong hóa
IV. Phương dược
Hợp lý hóa kinh tế theo đạo Chúa Kitô
Vai trò quan trọng của đức bác ái







