Đức Lêô XIII – Đức Gioan Phaolô II

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI

ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE

2000

 

THÔNG ĐIỆP TỨ THẬP NIÊN

Về việc xây dựng trật tự xã hội

15-05-1931

GIỚI THIỆU

Được thiết đặt như một cột mốc lớn thứ hai về giáo

huấn hiện đại của Giáo hoàng về vấn đề xã hội, thông điệp

kỷ niệm bốn mươi năm thông điệp Tân Sự (ngày 15-05-1931)

– như những chữ đầu bằng La ngữ của nó nói rõ – thực hiện

đường hướng mà, từ thập kỷ này đến thập kỷ sau, đã nhiều

lần được các Đức Giáo hoàng kế tiếp nhau tiếp nối. Hành

động này của Đức Giáo hoàng, cố ý làm tăng giá trị của một

truyền thống tuy chỉ mới đây, tự nó có ý nghĩa gần như về

giáo lý, ý nghĩa sẽ không bị phủ nhận mà trái lại còn được

xác nhận qua các văn kiện Mater et Magistra, Octogesima

adveniens hay Laborem exercens : giáo thuyết xã hội của

Giáo Hội tiếp nối bằng cách đổi mới, thích nghi nhằm đáp

ứng những yêu cầu xuất phát từ những hoàn cảnh tiến triển,

với “vấn đề xã hội” đang biến dạng. Đó là lý do giải thích tại

sao có những điểm khác nhau cũng như giống nhau từ văn

kiện này đến văn kiện kia có thể được diễn giải một cách hợp

pháp và phong phú.

Bốn mươi năn sau “Tân sự”, có nhiều biến cố đã xảy ra

trong cựu và tân thế giới, đặc biệt là Thế Chiến thứ nhất và

cuộc Cách Mạng Nga, những đảo lộn đã thúc đẩy chuyển

biến kinh tế và xã hội của thời hiện đại. Toàn bộ “trật tự xã

hội” được người ta ý thức, đã chịu đựng cuộc rung chuyển

này. Do đó, đề tài của thông điệp mới được mở rộng từ vấn

TỨ THẬP NIÊN 87

đề công nhân đến “việc xây dựng trật tự xã hội”. Những vấn

đề được bàn đến dưới tiêu đề chính thức này có nguồn gốc từ

lịch sử, nhưng chúng được Đức Piô XI nắm bắt trong thời sự

của thời gian của thập niên ba mươi.

Từ cuộc khủng khoảng lớn về kinh tế đến sự lên của

chủ nghĩa phát xít.

Bối cảnh kinh tế. Ngày mà mọi người vẫn còn biết đến

đánh dấu sự sụp đổ tài chính của Wall Street ngày 12-24/10/

1929- cho ta một cái mốc ý nghĩa. Sau nhiều năm thịnh đạt,

thế giới công nghiệp Mỹ đã hứng chịu cuộc khủng hoảng lớn

về kinh tế và hai năm sau, châu âu cũng gánh hậu quả. Hàng

triệu người bị thất nghiệp. Chiến tranh thế giới đã đánh một

đòn chí tử vào sự phát triển công nghiệp đồng thời thúc đẩy

việc hoàn thiện các phương pháp và dẫn đến tình trạng các

chính phủ can thiệp vào như người tổ chức. Nhưng ở Châu Âu

đã có nhiều đổ nát và, còn hơn thế nữa, trong những năm 20,

những khủng hoảng chuyển đổi sản xuất, những sự tập trung

công nghiệp. Trên thế giới, cán cân năng động công nghiệp

từ nay nghiêng về phía Hoa Kỳ và Nhật Bản.

 

Bối cảnh xã hội, nổi bật trước mắt bởi nạn thất nghiệp.

Tuy nhiên, từ đầu thế kỷ phong trào nghiệp đoàn công nhân

đã phát triển trên thế giới : từ năm 1914-1915 đến 1920, số

người tham gia đã vượt lên ở Pháp từ sáu trăm ngàn thành

viên đến hai triệu, ở Anh từ bốn lên đến tám triệu, ở Đức từ

tám trăm ngàn lên đến hai triệu rưỡi, ở Mỹ từ hai lên đến bốn

triệu. Phong trào bắt đầu lan rộng tới những địa hạt xã hội

mới, như giới các viên chức. Nhưng, kể từ năm 1920, phong

trào nghiệp đoàn này bị khuấy động bởi những cuộc tranh

luận kịch liệt đến nỗi bị đổ vỡ hoàn toàn giữa những người

theo hướng cách mạng và những người chủ trương cải cách.

Đối với chiều hướng cải cách, do quan tâm đến thực tế, được

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 88

các nghiệp đoàn Đức, Ý, Anh và Mỹ lựa chọn. Các nghiệp

đoàn này ở trong Liên Hiệp nghiệp đoàn quốc tế. Ngược lại,

đảng Cộng Sản Liên Xô có lập trường đi theo tổ chức Quốc

Tế Nghiệp Đoàn Đỏ; nó đã gây ra cuộc chia cắt năm 1921 tổ

chức CGT Pháp (Tổng Liên Đoàn Lao Động Pháp) và kéo

theo phần CGTU (Tổng Liên Đoàn Lao Động Thống Nhất) ly

khai theo cách mạng. Ở Pháp, tổ chức CFTC (Liên Đoàn Công

Nhân Kitô hữu Pháp), thành lập năm 1919, góp phần du nhập

một đường hướng đa nguyên nghiệp đoàn; trên phạm vi quốc

tế và trước hết ở châu Âu, nó ở trong Liên Đoàn Quốc Tế

những Công Đoàn Kitô giáo. Sau cùng cũng nên nhớ rằng tổ

chức Lao Động Quốc Tế được thành lập bởi hiệp ước

Versailles, có liên hệ với các công đoàn, đặc biệt một cách

gián tiếp qua văn phòng Lao Động Quốc Tế do Albert Thomas

lãnh đạo tích cực.

Từ bối cảnh chính trị, chúng ta chỉ lấy ra những khía

cạnh quyết định nhất đối với vấn đề xã hội. Trong lãnh vực

kinh tế, nhà nước can thiệp vào mạnh mẽ hơn xưa; trong

phạm vi xã hội, sự can thiệp đó đặc biệt rõ hơn nữa. Đây là

thời kỳ mà ở châu Âu các chính phủ mạnh mẽ sẽ dùng quyền

lực áp đặt trên những chương trình khẳng định một ý chí xã

hội. Sự việc ấy xảy ra ở ý với chủ nghĩa Phát-xít của

Mussolini, người vừa mới áp đặt năm 1930 chủ trương đồng

nghiệp đoàn của nhà nước, tập hợp giới trẻ và tổ chức thành

những công trình lao động lớn, đồng thời đưa ra giải pháp

được nhận thấy như là một thứ quốc gia chủ nghĩa. Ở Bồ Đào

Nha, Salazar nắm chính quyền, và Dollfuss ở Áo – cả hai

người Công Giáo này đều dựa vào giáo thuyết “Bốn Mươi

Năm” (Quadragesimo anno). Chủ nghĩa Quốc Xã, bị coi là một

mối nguy đe doạ gần kề hơn cả, đang lên cao ở nước Đức.

Cuối cùng, không được quên, dù năm 1929 đến 1931 là thời

tạm lắng dịu, cuộc bách hại tôn giáo đang hoành hành ở

TỨ THẬP NIÊN 89

Mêxicô. Chúng tôi đã lưu ý đến ảnh hưởng quốc tế của Liên

Xô, ảnh hưởng được nhận thấy qua trung gian những đảng

Cộng Sản khác nhau. Trong toàn thể bối cảnh đó, Đức Piô XI

áp dụng, ở nơi nào xem ra có thể áp dụng được, một chính

sách thoả thuận với các Nhà nước, chẳng hạn như ở nước Ý

theo hiệp ước Latran (1929) để hợp thức hoá vị thế của quyền

Giáo hoàng, hoà bình về chính trị – tôn giáo đối với ngài là

một trong những điều kiện của hoà bình xã hội.

Sự tiến triển của các ý thức hệ xã hội ló hiện trong

những dự án chính trị hữu khuynh lẫn tả khuynh tỏ hiện bộ

mặt xã hội chủ nghĩa, và đã hoặc sẽ đi theo đường lối chuyên

chế, thậm chí độc tài. Kể từ hội nghị Tours, có sự phân biệt rõ

ràng giữa chủ nghĩa Công Sản và những khuynh hướng xã hội

chủ nghĩa khác. Những khuynh hướng này còn chia rẽ nhau, ở

Pháp cũng như ở Đức, giữa những quan điểm lý thuyết hoặc

(dùng) bạo lực và cách mạng (như Kautsky, Benoit Malon,

Georges Sorel), hoặc đạo đức hơn và có xu hướng nhân vị

(như Jules Guesde, Henri de Man). Trào lưu xã hội chủ nghĩa

này có một cái gì đó thu hút một số người công giáo xã hội. Ở

cực kia của thang âm ý thức hệ, chủ nghĩa tân-tự do cũng có

những nhà tư tưởng ở Hoa kỳ và ở Châu Âu: ít bảo thủ hơn

những người tự do chủ nghĩa cựu trào, họ phê phán gay gắt

mọi hình thức độc quyền và, dĩ nhiên, hình thức kinh tế chỉ

huy. Sự cạnh tranh của tất cả những học thuyết này, hoặc

nhắm tới một trật tự xã hội hoặc nhằm một quan điểm toàn

cục, cũng giải thích toàn thể cái khung mà tiêu đề của thông

điệp này của Đức Piô Xi loan báo.

 

Đức Piô XI và tư tưởng xã hội công giáo

 

Trong số những hiệu quả tích cực phát sinh từ thông

điệp Tân sự phải kể đến, ngoài những thể hiện mặt xã hội

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 90

như phong trào nghiệp đoàn Kitô giáo, tác dụng kích thích tư

duy. Một trong những nơi quan trọng của nó là chuỗi các Tuần

lễ xã hội ở Pháp. Nhưng,trên thế giới, có rất nhiều trường

phái tư tưởng xã hội công giáo ra sức làm việc, một số trường

phái cũng tổ chức các “tuần lễ” của họ: Ý, Tây Ban Nha, Bỉ,

Anh, Chilê, Nam Tư… Chúng truyền thông cho nhau. Đây là

thời điểm của “khoa xã hội công giáo” đích thực. Dựa trên

những nguyên tắc căn bản chung, những đặc trưng khác biệt

thì tùy theo bối cảnh của miền và những hình thức của kinh

nghiệm xã hội. Hai trong số những trường phái này ghi dấu

cách trực tiếp hơn sự biên tập thông điệp Bốn mươi năm.

Đức Piô XI đã nghĩ đến một thông điệp xã hội từ thời

gian đầu của triều đại Giáo hoàng của ngài. Khi Ngài cho là

thời giờ đã đến, ngài trao phó việc biên tập dự thảo thông

điệp cho cha Von Nell Breuning, linh mục trẻ dòng Tên người

Đức gần gũi với những môi trường cộng đoàn theo khuynh

hướng tự do. Vị này cảm hứng từ giáo huấn của vị đồng sự, là

cha P. Gundlach, giáo sự tại Rôma. Phần lý thuyết hơn của

thông điệp Bốn Mươi Năm lấy hứng từ giáo huấn này. Nhưng

Đức Giáo hoàng còn mời cha Desbuquois (phong trào Hành

động bình dân, Pháp) và có lẽ cả những chuyên viên khác

đóng góp cách nhìn của họ về những vấn đề xã hội: một cái

nhìn với tình tiết rõ ràng hơn nằm ở phần thứ ba của văn kiện.

Cha Miller (Bỉ) hẳn là chấp bút cuối cùng sau bảy hay tám lần

biên tập trung gian.

Dù có những diễn biến mà ngày nay người ta biết đến

về việc biên tập thông điệp, Đức Piô XI quả vẫn là người

khởi xướng thông điệp, rất quan tâm đến những chuyển biến

xã hội và tương lai của chúng, ngài đã thấy sự cần thiết phải

điểm lại tình hình một cách chính xác. Ngài muốn cổ võ và

củng cố phong trào xã hội Công giáo, và khuếch trương nó

TỨ THẬP NIÊN 91

dựa trên một thực hiện khác của Giáo hội lúc ấy đang cao trào

trở lại: phong trào công giáo tiến hành, mà thông điệp Bốn

Mươi Năm nhiều lần nhắc đến (chúng ta nhớ lại rằng Thanh

Lao Công (JOC) được khai sinh ở Bỉ năm 1926). Người ta cũng

có thể ghi nhận rằng, dựa trên những trích dẫn từ Thánh

Phaolô, một thần học về nhiệm thể nổi rõ trong bản văn, là

thời sự lúc bấy giờ. Còn về hoạt động trực tiếp của vị Giáo

hoàng Rôma, ngày nay người ta biết rằng Đức Piô XI tự tay

mình đã thêm vào một đoạn về các đồng nghiệp đoàn (số 98-

103), đàng sau văn phong mang tính chất rất La-mã đoạn văn

ấy chứa đựng một sự lên án gay gắt đối với chủ thuyết đồng

nghiệp đoàn của Mussolini. Theo lời kể lại, ông này đã tỏ ra

hết sức bất bình.

Lý thuyết và thực hành trong kinh tế của văn kiện này

Thông điệp Bốn mươi năm mở đầu bằng phần thứ nhất,

tưởng niệm thông điệp xã hội đầu tiên và đánh giá những hoa

quả của nó. Đức Piô XI vui mừng về sự năng động của phong

trào Công giáo xã hội, là nơi mà các giáo dân và Linh mục đã

triển khai “khoa học xã hội Công giáo” và đã đem ra thi hành.

Ngài nhấn mạnh đến những hiệu quả của nó về mặt não trạng

(số 25) nhưng trong cả hoạt động của các chính phủ để phát

triển một luật pháp xã hội (số 27-31) và đặc biệt nơi hành

động của chính những người trực tiếp liên quan, nhất là trong

những hiệp hội và nghiệp đoàn (số 32-71). Chính phong trào

này mở ra những phong trào mới mẻ mà ngay nay phải giải

quyết.

Phần thứ hai, nặng về học thuyết, đem lại phần đóng

góp nền tảng và những xác định về đời sống kinh tế và xã

hội : quyền sở hữu, những quan hệ giữa Tư bản và lao động,

sự thăng tiến giai cấp Vô sản, đồng lương đúng đắn và cuối

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 92

cùng về toàn thể trật tự xã hội. Lối tiếp cận lý thuyết đó, như

ta đã thấy, tương ứng với những toan tính muốn hệ thống hoá

xuất phát từ kinh nghiệm suy tư xã hội của các trường phái và

các giáo sư của chúng. Ở mức độ riêng của mình, thông điệp

thực sự canh tân, dù cho nó xác định mình chỉ tiếp nối, thông

điệp Tân Sự. Nó có tính quyết định đối với một vài cuộc tranh

luận nổi lên giữa những người Công giáo.

Với một cách thế mà ngày nay phải ngạc nhiên, chỉ ở

trong phần thứ ba mới có phân tích những hoàn cảnh, một sự

phân tích vẫn còn rất thích đáng : những biến đổi của thế giới

công nghiệp và của hệ thống Tư bản chủ nghĩa, những

chuyển biến của Chủ nghĩa xã hội, tình trạng của phong hóa.

Ba chương này, nói cho đúng, trộn lẫn trong đó phân tích và

phê phán luân lý, và dẫn đến những chọn lựa, đồng thời đưa

ra những phương thuốc chữa trị: không chấp nhận sự độc tài

kinh tế của những kẻ độc quyền, của những liên minh độc

quyền hay của Nhà Nước; thuận với việc khôi phục một sự

cạnh tranh lành mạnh và tự do dưới sự theo dõi của chính

quyền; không chấp nhận chủ nghĩa xã hội, mâu thuẫn với

Kitô giáo, thuận với những hành động xã hội; không chấp

nhận “sự sụp đổ các linh hồn” phát xuất từ trào lưu giải – Kitô

giáo (déchristianisation) của đời sống xã hội, thuận với việc

hợp lý hóa cuộc sống này theo tinh thần Kitô giáo dựa trên

đức ái. Phần cuối nhấn mạnh đến vai trò của phong trào Công

giáo tiến hành.

Sự đón nhận và hậu thế của thông điệp

“Bốn mươi năm”

Trong những môi giới không Công giáo, tài liệu này,

một tài liệu phonh phú, cương quyết, đôi khi gay gắt làm xáo

trộn các ý thức hệ và đả kích các thực hành, được đón nhận

TỨ THẬP NIÊN 93

cách lịch sự tuy khó chịu thì đúng hơn. Trái lại, những người

Công giáo dấn thân nhất vào hành động xã hội và tông đồ

nhận thấy ngay tính cách quan trọng và ý nghĩa của thông

điệp, và thông điệp Bốn Mươi Năm đã trở thành hiến chương

đích thực của họ trong hai mươi năm (cho đến thông điệp “Mẹ

và Thày”). Nó được phổ biến thành hàng trăm ngàn bản trong

một quốc gia như nước Pháp, được nghiên cứu, bình giải trong

vô số các nhóm nghiên cứu và các cuộc họp của các chiến sĩ

Công giáo tiến hành. Lùi lại theo thời gian, dường như vài chủ

đề nổi tiếng đã chiếm một vị thế kể đến không chỉ trong Giáo

hội, nhưng còn như là những nhân tố gợi hứng cho sự tiến

triển của ngành lập pháp trong xã hội trong những nước dân

chủ:

– nhân đạo hóa lao động và những điều kiện của lao

động – người ta nhớ lại câu nói danh tiếng: “Vật chất trơ ỳ

xuất xưởng nên cao cả, trong khi con người tại đó nên hư

hỏng và mất phẩm giá” (146) ;

– những yếu tố cần thiết để xác định đồng lương đúng

đắn (số 70-82) –“người công nhân không được lãnh nhận

trong tình bác ái những gì phải trả cho anh ta theo lẽ công

bằng”;

– nguyên tắc phụ túc: các cá nhân, rồi đến những “đoàn

thể trung gian” mọi loại phải có khả năng đảm lấy trách

nhiệm của mình theo trình độ của mình, chứ không để họ trở

nên tha hóa vì Nhà Nước – “Sẽ phạm phải một bất công trầm

trọng, đồng thời sẽ làm rối trật tự xã hội gây tác hại ghê gớm,

nếu như rút khỏi những tập đoàn cấp thấp hơn, những nhiệm

vụ mà họ có khả năng tự mình thi hành, để giao cho một tập

thể rộng lớn hơn, và cấp cao hơn” (số 86).

-vai trò của những hiệp hội và nghiệp đoàn, và đặc biệt

là sự phân biệt giữa chúng và Nhà Nước.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 94

Hẳn là, tính chất mập mờ của đồng nghiệp đoàn do

thông điệp Bốn Mươi Năm đề xướng, dù cho đã sẵn có những

thận trọng đối với chủ nghĩa Nhà Nước phát xít ở Ý, đã có thể

và vẫn còn có thể dùng để biện minh cho những chế độ dộc

đoán cố ý áp đặt đường lối của họ để hòa giải các giai cấp

đối kháng. Tuy có đón nhận cách rộng rãi hơn di sản của

phong trào công nhân, cả thông điệp “Mẫu Sư“ (Mater et

Magistra) và thông điệp (Laborem exercens) đều không dùng

lại khái niệm theo ý nghĩa này.

Về phần các kết luận cứng rắn về chủ nghĩa Xã hội,

ngay cả khi không phải là Mác-xít :

“Chủ nghĩa Xã Hội Tôn giáo, chủ nghĩa Xã hội Kitô

giáo là những điều mâu thuẫn” (130) – sẽ phải đợi đến những

phân biệt của đức Gioan XXIII giũa các phong trào lịch sử và

các ý thức hệ và những quy tắc cho sự hợp tác trong đối thoại

của Đức Phaolô VI ( thông điệp Bát Thập Niên), chúng mới

có thể được bỏ qua một cách chính thức.

Cuối cùng trong một đời sống xã hội và kinh tế ngày

càng trở nên phức tạp hơn, một thông điệp xã hội ngày nay

có dám liều lĩnh dấn sâu vào chi tiết của những chọn lựa hay

không ? Tuy vậy, những tài liệu sau này của các Đức Giáo

hoàng và của công đồng trích dẫn dồi dào thông điệp “Bốn

muơi năm” , là thông điệp được thiết lập cách mãnh liệt và

dứt khoát như cột mốc dựa trên một lý thuyết tìm kiếm sự cỡi

mở và thích ứng với các thực tại lịch sử.

TỨ THẬP NIÊN 95

 

 

DÀN BÀI

Dẫn nhập :

Vận hội của thông điệp “Tân Sự”. Những điểm chính

yếu của thông điệp. Nội dung của thông điệp hiện nay

(số 1-16).

I.Những hoa trái của thông điệp “Tân Sự” (17)

1.Công trình của Giáo Hội về lãnh vực giáo thuyết và về

lãnh vực áp dụng (18-26).

2.Hành động của nhà nước (27-31).

3.Hành động của chính những người quan tâm đến vấn

đề. Các hiệp hội công nhân. Các hiệp hội giữa những

lòng giai cấp khác. Các hiệp hội chủ nhân (32-41)

Tân Sự : hiến chương vĩ đại của những người lao động

( 42-43)

II.Học thuyết của Giáo Hội

Về kinh tế và xã hội (44-47)

1.Về quyền sở hữu. Đặc tính cá nhân và xã hội của

quyền sở hữu. Những nghĩa vụ về quyền sở hữu.

Quyền hạn của nhà nước. Những nghĩa vụ liên quan

đến thu nhập khi tạm nghỉ việc.( những tiêu đề chứng

minh sự công nhận quyền sở hữu (48-57).

2.Tư bản lao động. Những tham vọng vô căn cứ của Tư

bản. Những tham vọng vô căn cứ của người lao động.

Nguyên tắc phân phối công bình (58-64).

3.Sự nổi lên của tầng lớp vô sản. Việc đạt tới quyền sở

hữu của người vô sản (65-69).

4.Đồng lương chính đáng. Đặc tính cá nhân và xã hội

của người lao động. Ba điểm cần xem xét : sinh kế của

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 96

người công nhân và gia đình của họ; hoàn cảnh của xí

nghiệp; những đòi hỏi của công ích (70 – 82).

5.Thiết lập trật tự xã hội. Sự hợp tác của những đoàn thể

nghề nghiệp. Thiết lập một nguyên tắc hướng dẫn đời

sống kinh tế ( 83 – 106 )

III.Những biến chuyển sâu sắc nổi lên kể từ thời Đức Lêô XIII

1.Những biến đổi về chế độ kinh tế. Nền độc tài kinh tế.

Những hậu quả tai hại của nó. Các phương thuốc chữa

trị (107 – 118).

2.Biến chuyển của chủ nghĩa xã hội. Đảng phái bạo

động hay chủ nghĩa Cộng sản. Đảng phái ôn hoà hơn

hay chủ nghĩa xã hội, khoan nhượng hơn; người ta có

thể thoả hiệp với nó chăng ? Quan niệm của nó rất trái

ngược với chân lý Kitô giáo. Công giáo và chủ nghĩa

Xã hội là những hạn từ mâu thuẩn nhau. ” Chủ Nghĩa

xã hội giáo dục “. Những người công giáo chuyển qua

chủ nghĩa xã hội. Lời mời gọi trở lại ( 199 – 137 )

3.Cải cách phong hoá. Chế độ kinh tế hiện thời và sự sụp

đổ các linh hồn. Những nguyên nhân của sự dữ. Các

phương thuốc chữa trị : hợp lý hoá theo tinh thần Kitô

giáo và vai trò của đức ái (138 – 148)

Kết luận :

Một nhiệm vụ khó khăn. Phương pháp theo đuổi. Mong

cho mọi người hiệp nhất và hợp tác với nhau chặt chẽ (149 –

159)

TỨ THẬP NIÊN 97

 

Lời mở đầu

1.- Bức thông điệp RN đã xuất hiện được bốn mươi năm

rồi. Thế giới công giáo chuẩn bị mừng kỷ niệm một cách hết

sức long trọng. Ai cũng đầy lòng biết ơn tòa thánh vì ăn kiện

đáng ghi nhớ này. Một văn kiện minh chứng lòng nhiệt thành

của Đức Tiên Giáo hoàng đối với giáo mục của Ngài. Một

văn kiện rất quan trọng đã được chuẩn bị từ trước, trong bao

bức thông điệp khác : về gia đình, về phép hôn phối, về nền

tảng xã hội nhân quyền, về nguồn gốc chính quyền, về

những mối tương quan giữa giáo hội và xã hội quốc gia, về

nghĩa vụ công dân của giáo dân, về cách biện bác chủ nghĩa

xã hội, về các tà thuyết do chủ nghĩa tự do cá nhân và bao

nhiêu tài liệu khác, giãi bày lý tưởng xã hội của ngài.

Nhưng bức thông điệp “RN” trổi vượt mọi văn kiện

khác, vì hai lý do: thứ nhất vì là một bức thông điệp rất hợp

thời, không đời nào cần thiết bằng đời ta bây giờ. Thứ hai vì

bức thông điệp ấy giải quyết mọi vấn đề đời sống cộng đồng

nêu lên. Là những vấn đề tóm tắt trong “vấn đề xã hội.”

  1. Một bức thông điệp rất hợp thời.

2.- Thế kỷ mười chín xế chiều, sự phát triển kinh tế, sự

tiến hóa của kỹ nghệ ở hầu hết các dân tộc đã phân chia xã

hội thành hai giai cấp. Giai cấp này gồm thiểu số, nhưng toàn

những người giầu sang tha hồ hưởng dụng mọi sáng kiến khoa

học tiên tiến. Giai cấp kia gồm đa số, nhưng toàn công nhân

khốn cực, không thoát được cảnh bần cùng. Tình trạng thê

thảm ấy, kẻ dư của thì chịu đựng một cách rất dễ dàng, họ

cho rằng : Đó là hậu quả không tránh được của những luật

kinh tế tự nhiên. Nên họ lầm tưởng công cuộc bác ái san bằng

được mọi bất công, mà những pháp luật nhân tạo thường bỏ

mặc và nhiều khi lại còn che chở nữa.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 98

3.- Nhưng công nhân đã quá khổ cực, vì tình trạng ấy.

Sau một thời gian cam chịu, họ quyết trút bỏ gánh nặng nề ấy,

không muốn gánh vác lâu hơn nữa.

Người thì sôi nổi lên vì những lời thúc đẩy họ chỗi dậy,

mà đảo lộn xã hội từ ở tận nền móng. Người thì không chịu

trôi theo những phong trào ấy, vì họ đã được giáo dục theo

đạo Chúa Kitô. Nhưng dầu sao họ cũng đồng ý về một điểm

khẩn cấp là “phải cải hóa xã hội tận cội rễ”.

4.- Đó cũng là ý chí của bao nhiêu kitô hữu, của giáo sĩ

hay giáo dân đã đem lòng bác ái dũng cảm mà tìm trăm ngàn

phương cách, làm giảm bớt sự khốn cực bất công của dân

chúng. Họ không chịu nhận sự chênh lệch quá đỗi trong cách

phân công chia của, như là sự tự nhiên Thiên Chúa vô cùng

khôn ngoan đã tiền định cho nhân loại. Thành ra họ cứ thành

thực tìm những môn thuốc linh nghiệm hoặc để sửa chữa

những tệ đoan của xã hội hiện tại, hoặc để đề phòng cho xã

hội khỏi lâm vào những tai hại khủng khiếp hơn nữa.

5.- Nhưng lý trí con người mù mịt yếu đuối. Những

người thiện chí hoặc bị xua đuổi như thể họ chỉ là những nhà

cách mạng đáng sợ; hoặc bị chia rẽ vì có sự bất đồng ý ngay

giữa họ, nên họ cứ lưỡng lự giữa những lập trường khác nhau.

Như vậy họ không biết phải chọn lấy đường nào ? Trong

những sự mâu thuẫn khiến mọi người không ai đồng ý với ai

thì hòa bình thế giới lâm nguy. Thành ra lần nữa họ đưa mắt

nhìn về Tòa thánh Phêrô là kho lẫm chân lý, tự nhiên phát ra

những lời cứu chuộc hằng chảy tràn khắp thiên hạ. Một phong

trào rộng lớn chưa bao giờ từng thấy, lôi cuốn họ về với

“Đấng đại diện Chúa Kitô ở dưới thế”. Vô số người trí thức,

kỹ nghệ, công nhân tha thiết đòi hỏi những nguyên tắc vững

chắc, họ có thể thích dụng để thoát khỏi mọi sự thắc mắc mà

đứng một mình không ai giải quyết được.

TỨ THẬP NIÊN 99

6.- Vì trí khôn ngoan Đức Giáo hoàng đã gẫm thế sự

trước mắt Chúa lâu năm, Ngài cũng cầu vấn bao nhiêu nhân

vật lỗi lạc, Ngài cũng chăm chú tìm hiểu vấn đề đủ mọi mặt.

Rồi ý thức sứ vụ tông đồ Ngài đảm nhiệm; thì Ngài mới sợ

nếu im tiếng mãi là tỏ mình chểnh mảng trong phận sự.

Ngài dùng linh quyền giáo huấn Chúa đã uỷ thác cho

mà quyết định ban huấn dụ này cho giáo hội Chúa Kitô nói

riêng, và cho toàn thể nhân loại nói chung.

7.- Ngày 15 tháng 5 năm 1891, tiếng Tòa Thánh mà cả

thế giới đã mong nghe từ lâu, đã vang dội khắp cả thiên hạ;

một tiếng vang không chút run rẩy trước thời cuộc gay go, mà

lại không yếu đi chút nào vì tuổi tác cao; một tiếng vang

mạnh bạo đã định hướng mới cho cả nhân loại phải noi theo

trên địa vực xã hội hiện tại.

  1. Học thuyết xã hội gồm tắt trong bức thông điệp

RN.

8.- Anh em thừa biết học thuyết khả kính, đã được giãi

bầy trong bức thông điệp “RN” rồi chứ ! Bức thông điệp ấy

thật đáng ghi nhớ muôn đời.

Đại Đức Tiên giáo hoàng, động lòng trước thân phận

bao nhiêu người hạ lưu trong xã hội, nói được là đa số; nhưng

dầu vô tội cũng phải sống trong cảnh khốn cực đầy rủi ro.

Ngài dũng cảm quyết chí bênh vực công nhân tội nghiệp

sống trơ trọi, không ai bảo hộ mà lại bị thời thế vô tình đẩy

vào tay những chủ nhân vô nhân đạo, chỉ biết cạnh tranh đua

giầu khoe sang. Ngài chẳng tin tưởng ở chủ nghĩa tự do, và

cũng không hy vọng nơi chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tự do đã

tỏ mình hoàn toàn bất lực, không giải quyết được vấn đề xã

hội. Còn chủ nghĩa xã hội lại đề nghị một giải pháp còn tệ

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 100

hơn cả tật nạn nó tìm sửa chữa. Vì nó mà xã hội nhân loại

càng ngày càng lâm nguy.

9.- Vậy căn cứ vào giáo quyền và thiên chức đặc biệt

Ngài được Thiên Chúa uỷ cho, là bảo vệ tôn giáo và mọi

quyền lợi liên quan đến tôn giáo, thì Ngài đã tin chắc rằng

vấn đề xã hội không thể nào giải quyết được một cách phải

lẽ “ngoài ảnh hưởng giáo hội và tôn giáo, nhờ những nguyên

tắc bất di bất dịch của đạo nghĩa chính trực, và đạo Chúa

mạc khải”. Đức Tiên Giáo hoàng đem hết linh quyền vững

chắc của Ngài mà ấn định và tuyên bố công nhiên :

1) Nghĩa vụ và quyền lợi riêng của chủ nhân và công

nhân : của tư bản và cần lao trong xã hội.

2) Phận sự riêng của giáo hội, của chính phủ và của

mọi công nhân, trong việc giải quyết vấn đề xã hội tương

tranh này.

Tiếng của Ngài đã vang dội khắp thiên hạ không phải là

vô ích đâu.

10.- Thiên hạ nghe đến thì cảm phục tạ ơn. Giáo dân

phục quyền giáo hội đã đành. Nhưng còn bao nhiêu người

khác, hoặc vô tín ngưỡng, hoặc đã lạc đường chính, cũng đã

nêu lên vấn đề kinh tế xã hội, trong phạm vi tìm hiểu

(speculation) và pháp lý.

Mừng nhất là các công nhân kitô hữu. Họ cảm thấy giáo

quyền trổi vượt mọi thế quyền trên mặt đất, đã thông cảm và

bênh vực quyền lợi của họ. Những người vị tha đã tìm cải

thiện công nhân từ lâu, nhưng đã bị chế nhạo, ngờ vực, nhiều

khi lại bị phản đối công khai nữa, nay đã lại phấn khởi lên.

Bức thông điệp đã được ai nấy đua nhau đón nhận một

cách long trọng nghiêm chỉnh. Đến nỗi dân nào nước ấy cũng

TỨ THẬP NIÊN 101

tìm trăm cách kỷ niệm hằng năm bằng những lễ ghi ơn lừng

lẫy.

11.- Những huấn thị của Đức Lêô XIII thì rất cao thượng

và khả kính; nên mới được thiên hạ đồng thanh nghênh tiếp

như thế. Nhưng tiếc thay cũng đã từng có những nhà trí thức,

gồm có cả giáo dân, náo động bất mãn. Người thì sinh lòng

hồ nghi, người thì vấp ngã trước một học thuyết mới lạ như

vậy. Những ngẫu nhiên do chủ nghĩa tự do dựng lên, đều bị

lật đổ. Bức thông điệp ấy không quản ngại gì đến những

thành kiến quá khứ. Còn đối với tương lai nó khởi xướng một

phong trào chưa có ai nghĩ tới. Những người còn giữ óc tồn

cổ, thì đều khinh chê học thuyết xã hội, và những học thuyết

cao siêu này. Kẻ khác thì cảm phục lý tưởng xã hội của Đức

giáo hoàng là một lý tưởng rực rỡ, nhưng lại cho rằng chỉ là

một ảo tưởng không thể nào thực hành được. Ai cũng có thể

mong chờ, nhưng không ai hy vọng thực hiện nó được.

Mục đích bức thông điệp mới.

12.- Vì thế anh em khả kính đang khi thế giới náo nhiệt

mừng lễ “đệ tứ thập chu niên” của bức thông điệp “RN”,

thấy các công nhân kitô hữu ở khắp tứ phương tuôn đến thành

thánh Lamã, thì Ta thừa dịp rất thuận tiện này mà nhắc lại

những ân huệ phi thường mà bức thông điệp ấy đã đem lại

cho cả nhân loại nói chung. Học thuyết canh tân kinh tế xã

hội của Đức Lêô XIII thì thật vĩ đại, nên đã bị bao người ngờ

vực cảnh cáo. Vậy kèm theo sau. Ta sẽ bênh vực và giảng

giải một vài điểm chính chưa được hiểu rõ. Sau hết, Ta sẽ

luận xét chế độ kinh tế hiện tại và phi bác chủ nghĩa xã hội.

Đã định rõ tệ đoan xã hội ngày nay phát nguồn tại đâu, thì Ta

sẽ chỉ vạch đường lối duy nhất, ai cũng phải theo để tu bổ lại

xã hội cận kim, tức là cải tạo phong tục thế giới theo lý tưởng

phúc âm.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 102

Bức thông điệp này sẽ chia ra làm ba phần tùy theo các

vấn đề Ta mới nêu lên. Rồi Ta sẽ dành toàn thư để tìm một

giải pháp hợp lý hợp thời.

  1. NHỮNG HIỆU QUẢ BỞI BỨC THÔNG ĐIỆP “RN”
  2. Trước khi nhập đề tìm giải quyết điều thứ nhất theo

ý Ta đã định, Ta không khỏi quên lời thánh Ambrôsiô khuyên

rằng : Trọng nhất trong những phận sự của Ta là tạ ơn Chúa

liên lỉ. Nhớ đến những ân huệ quý hóa bức thông điệp của

Đức Lêô XIII đã đem lại cho giáo hội và cả nhân loại; trước

tiên Ta phải đội ơn Chúa không ngừng, dầu chỉ muốn lược

thảo những ân huệ đó sơ qua, thì thật Ta cũng phải thuật lại

lịch sử xã hội, trải qua bốn mươi năm vừa rồi. Nhưng Ta có

thể tóm tắt mọi điểm chính, tùy theo ba phương dược, mà Đức

tiên giáo hoàng đã đề nghị để hoàn tất công việc canh tân xã

hội, ngài đã đảm nhiệm.

  1. Sự can thiệp của giáo hội.
  2. Trước tiên Đức Lêô XIII đã định rõ những điều thế

giới có quyền đòi ở giáo hội. Ngài viết: (x. RN 13)

  1. a) Phần lý thuyết:

Những tài liệu quý giá này, giáo hội không bao giờ bỏ

hoang đâu. Mà cứ khai khẩn mãi, để gây thái bình cho xã hội.

Đức Lêô XIII, và những giáo hoàng kế tiếp Người đã dùng

lời nói và bút mực mà nhiệt thành truyền bá học thuyết kinh

tế xã hội tóm tắt trong bức thông điệp “RN”; các ngài không

bao giờ ngừng thúc đẩy dân nước thực hành và áp dụng học

thuyết ấy, vào thời thế hoàn cảnh xã hội hiện tại. Lúc nào các

ngài cũng tỏ lòng nhiệt thành và tỏ tình nghĩa phụ tử với

những người bần cùng yếu đuối. Vì các ngài là chúa chiên

TỨ THẬP NIÊN 103

dũng cảm, thì các ngài cũng mạnh sức bảo vệ các dân đen.

Theo bản ý của tòa thánh, cũng đã không thiếu gì những giám

mục sáng suốt nhiệt thành vừa trình bày giải pháp vừa áp

dụng học thuyết xã hội của Đức Lêô XIII cho các dân nước

đều hưởng lợi.

  1. Bởi thế ta không ngạc nhiên gì khi thấy bao người trí

thức, giáo sĩ và giáo hữu hết sức quý chuộng và nhiệt tâm

phổ biến những kỷ luật kinh tế xã hội của giáo hội tùy theo

những đòi hỏi của thời thế. Mục đích của họ là áp dụng vào

những trường hợp hằng thay đổi. Những nguyên tắc bất di bất

dịch của giáo hội về đời sống cộng đồng của nhân loại.

  1. Lấy bức thông điệp của Đức Lêô XIII làm căn bản

và tỏa sáng học thuyết xã hội công giáo, hiện ra và phát triển

càng ngày càng phong phú hơn. Những người ưu tú, đêm

ngày lưu tâm đến việc tối hệ trọng này, buộc ta phải gọi họ là

những người phụ tá của giáo hội. Học thuyết xã hội này

không giam kín vào những trường học mờ tối đâu, trái lại nó

đã ra mặt trận chiến đấu công khai. Một bằng cớ rõ ràng là

những công trình vĩ đại của các đại học công giáo, các hàn

lâm viện, các chủng viện các hội nghị thường gọi là “những

tuần lễ khảo cứu về xã hội” đã được tổ chức không biết bao

lần rồi và đã kết quả bất ngờ. Thêm vào đó là những hội học,

những sách vở báo chí muôn mặt đã được phổ biến khắp nơi

một cách rất hợp thời.

Bức thông điệp của Đức Lêô XIII hữu ích như vậy,

không phải là hết đâu. Những bài học đó, đã dần dần tiêm

nhiễn luôn cả tâm hồn những người thiện chí không được hân

hạnh hợp nhất với giáo hội, vì chưa phục quyền duy nhất của

Người.

  1. Như vậy những nguyên tắc giáo hội đã đề cập về xã

hội, đã dần dần hóa nên sản nghiệp chung của nhân loại. Ta

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 104

hết sức mừng rỡ, khi thấy những chân lý vĩnh cửu, Đức Tiên

Giáo hoàng đã công bố mỗi ngày một được đề cập và bảo vệ

ráo riết hơn trong các sách vở báo chí công giáo và không

công giáo, và trong cả các quốc hội và tòa án.

Hơn thế nữa, sau một cuộc thế chiến kinh khủng, các

nhà chính trị ở các cường quốc đã quyết định cải tạo đời sống

xã hội để xây dựng hòa bình thế giới cho kiên cố. Vậy những

nguyên tắc họ đề cập để tu bổ lại nền cần lao cho công bằng

và bác ái, đều giống những nguyên tắc và huấn dụ của Đức

Lêô XIII, đến nỗi ta có cảm tưởng rằng : những nguyên tắc ấy

bởi bức thông điệp “RN” trích ra. Thực sự bức thông điệp ấy

đáng ghi nhớ. Ta có thể áp dụng vào nó, lời tiên tri của Isaia

đã nói : “Đó là một biệt hiệu đã được dựng lên cho các dân

nước thiên hạ”.

  1. b) Phần thực hành.
  2. Những nguyên tắc Đức Lêô XIIIb đã đề cập đến, ai

cũng đã tìm hiểu sâu rộng trong phạm vi lý thuyết, và nhờ đó

đã tiêm nhiễm tâm trí xã hội. Nhưng quý hơn nữa là những

nguyên tắc ấy đã được áp dụng vào thực tế. Trước hết bao

người thiện chí đã nỗ lực nâng cao địa vị sinh hoạt của các

công nhân. Dầu giai cấp lao động càng ngày càng thêm đông,

dầu đại kỹ nghệ ngày một phát triển thêm, giới lao động cũng

không chiếm lấy được một địa vị khả quan hơn trong xã hội.

Nên công nhân vẫn trơ trọi mà lại bị khinh chê nữa. Ta nói về

giới lao động mà các linh mục triều hay tu dòng đã tìm giải

phóng không cứ gì những công việc mục vụ mà họ gánh vác

từ trước dưới quyền chỉ dẫn của các giám mục; những linh

mục ấy đã tận tâm với các công nhân, thì công nhân hưởng

lợi rất nhiều, vì linh mục bền chí, thì tinh thần công giáo của

công nhân lại cao lên. Nhờ đó, công nhân mới ý thức chức

vụ. Họ ý thức phận sự và quyền lợi giai cấp của họ. Họ lại đủ

TỨ THẬP NIÊN 105

năng lực mà tiến bước trên đường công lý, tiến triển, đến nỗi

họ đứng dậy hướng dẫn được anh em đồng nghề.

Kết quả là các công nhân kiếm được sinh kế dồi dào và

vững chắc hơn. Theo lời Đức Tiên Giáo hoàng khuyên nhủ,

không những các việc bái ái từ thiện được phát triển, mà lại

theo ý sở nguyện của giáo hội, nhờ sự hấp dẫn của các linh

mục. Ta đã thấy những công cuộc ủng hộ và viện trợ công

nhân càng ngày càng được thiết lập nhiều, và đoàn tụ đủ mọi

người nông dân và lao động…

  1. Sự can thiệp của chính quyền.
  2. Chính quyền đã bị chủ nghĩa tự do chế ngự trong

phạm vi bảo vệ trật tự và luật pháp. Đức Lêô XIII mạnh bạo

phá vỡ những biên giới chật hẹp ấy. Ngài công bố rằng :

chính quyền phải lợi dụng luật pháp và mọi cơ cấu xã hội để

thiết lập một hiến pháp và một nền hành chánh đủ năng lực

để phát triển sự thái bình công và tư. Đã đành chính quyền

phải nhường chỗ cho từng cá nhân và từng gia đình đủ quyền

tự do hành động. Nhưng với hai điều kiện cần thiết ; thứ nhất

là giữ công ích nguyên vẹn; thứ hai là giữ quyền bất khả xâm

phạm của tư nhân. Đã đành chính quyền phải bảo vệ cả cộng

đồng xã hội, nhưng chính quyền cũng phải bảo vệ từng công

dân tự nhiên hợp với nhau thành cộng đồng xã hội. Vậy trong

việc bảo vệ từng công dân, chính quyền phải săn sóc riêng

những người bần cùng và yếu đuối (x. RN 19).

  1. Ta không dám chối rằng, trước khi bức thông điệp

của Đức Lêô XIII xuất hiện, thì bao chính phủ cũng đã cung

cấp những sự cần thiết thượng khẩn của giới lao động rồi; họ

đã bài xích những tai hại các công nhân dầu vô tội cũng đã

phải chịu từ trước. Nhưng chỉ có khi nào tòa thánh can thiệp,

tiếng Đức Giáo hoàng vang dội khắp thiên hạ, là khi ấy các

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 106

nhà cầm quyền ý thức sứ vụ và tận tâm hiệp lực mới bắt đầu

thực hành một chính sách xã hội rộng rãi hơn.

  1. Những định lý của chủ nghĩa tự do đã từ lâu năm

làm cho chính quyền tỏ ra bất lực. Vậy đang lúc những định lý

giả dối này bắt đầu lung lay, bức thông điệp RN hiện ra. Ngay

từ ở trong đại chúng, một phong trào mãnh liệt bùng nổ, vừa

đòi hỏi vừa ủng hộ một chính sách xã hội hiệu lực hơn. Chính

quyền lại được những giáo dân ưu tú mạnh sức chống đỡ, vì

chính họ đã đề cập bộ luật mới này trong các quốc hội xưa

nay. Hơn nữa, nhờ bao linh mục thấu triệt học thuyết xã hội

của Đức Lêô XIII can thiệp, thì mới có nhiều luật lệ xã hội

được đưa ra cho các quốc hội phê chuẩn. Cũng vì các linh

mục ấy ân cần thúc đẩy, những luật lệ ấy đã được thi hành

vẹn toàn.

  1. Nhờ những người thiện chí tận tâm hiệp lực như

vậy, một bộ pháp luật mới đã xuất hiện. Đời trước không ai

biết đến, ngày nay ai cũng hưởng lợi. Những quyền lợi bất

khả xâm phạm công nhân đã có sẵn, vì nhân phẩm hay chức

vị kitô hữu của họ, được tôn trọng cho cân xứng. Những điều

luật bảo vệ giới lao động ấy, thì bao quát cả địa vị sinh hoạt

của công nhân nam nữ; tuổi trẻ, sức khỏe, năng lực, gia đình,

nhà ở, xưởng máy, tiền lương và bảo hiểm những sự rủi ro

của cần lao.

  1. Ta không nói được những điều luật ấy lúc nào và

nơi nào cũng hoàn toàn thích ứng với những nguyên tắc Đức

Lêô XIII đề cập. Nhưng không ai chối được rằng bức thông

điệp RN đã có ảnh hưởng đến. Thành ra sự cải thiện địa vị

sinh hoạt của công nhân, phần lớn là do bức thông điệp quý

giá của Đức Lêô XIII, là một bức thông điệp đáng ghi nhớ

muôn đời.

TỨ THẬP NIÊN 107

  1. Sự cộng tác của chủ nhân và công nhân.
  2. Đức Tiên Giáo hoàng lại sáng suốt chứng minh rằng

: chính các chủ nhân và công nhân có thể góp phần hiệu

nghiệm trong việc giải quyết vấn đề xã hội, nhờ những công

cuộc vừa để nâng đỡ kẻ bần cùng vừa tìm hòa giải hai giai

cấp. Trong những công cuộc ấy, cần thiết nhất theo ý Ngài là

những nghiệp đoàn hoặc riêng cho công nhân, hoặc chung

cho cả công nhân và chủ nhân. Đức Giáo hoàng viết vài lời

hoặc ca tụng hoặc củng cố những hội đoàn ấy. Ngài định

nghĩa bày tỏ lý do, sự hợp thời, quyền lợi, nghĩa vụ và các

luật lệ vốn điều khiển những tổ chức như vậy.

Những huấn thị này quả thực là rất hợp thời. Thời kỳ

đó, ở nhiều quốc gia, chính quyền thụ hưởng chủ nghĩa tự do,

nên ác cảm với những hội đoàn bảo vệ lao động, nhiều khi

họ lại phản đối công khai nữa. Họ tình nguyện chuẩn y ủng

hộ những hội đoàn tương đương được sáng lập trong những

giai cấp xã hội khác. Nhưng nhất định chối không cho lao

công hợp đoàn, đó là một thái độ bất công rõ ràng, vì quyền

họp đoàn là quyền tự nhiên của con người mà họ chối không

cho lao động là kẻ cần phải họp đoàn mới tự cứu mình khỏi bị

những người mạnh quyền áp bức.

Ngay trong những giới công giáo, những cố gắng hợp

đoàn của công nhân cũng bị tình nghi là những mưu mô của

phái xã hội và bọn cách mạng.

  1. a) Hội đoàn lao công
  2. Những huấn lệnh uy quyền của Đức Lêô XIII, đã có

công phá mọi trở lực, giải tán mọi tình nghi. Nhưng vinh hạnh

nhất là theo những huấn lệnh ấy, bao nhiêu người lao công

kitô hữu đã đua nhau tổ chức nghiệp đoàn, theo lời Đức Lêô

XIII đã chỉ dạy cho. Nhờ đó họ giữ lại trên đường chính

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 108

những công nhân bị lôi cuốn quyết ghi tên vào những tổ chức

do chủ nghĩa xã hội lập ra rồi tự đắc chỉ có họ mới bảo vệ và

ủng hộ người bần cùng, kẻ bị áp bức.

  1. Về việc lập các hội đồng công nhân kitô hữu, bức

thông điệp “RN” có câu rằng: (RN 42,43).

Đâu đâu cũng có linh mục hợp tác với giáo dân lập các

nghiệp đoàn nói trên. Các ngài đáng khen vì đông mà lại rất

tận tâm với học thuyết của Đức Lêô XIII mà họ đã quyết thực

hành. Nhờ những hội đoàn ấy, có cả một thế hệ công nhân

kitô hữu được huấn luyện chu đáo, tìm hòa nhịp trong đời

sống những đòi hỏi công nghề với những tín ngưỡng công

giáo của họ. Nhờ đó họ được đủ sức mạnh để bảo vệ phận sự

và quyền lợi thế tục của họ một cách cương quyết vừa thích

hợp với công lý. Họ lại đem lòng thành thực hợp tác với các

giai cấp xã hội khác để phục hưng lại xã hội theo lý tưởng

phúc âm.

Học thuyết và huấn lệnh của Đức Lêô XIII nhờ đó mà

được thực hiện theo trăm ngàn thể thức tùy thời thế hoàn

cảnh đòi hỏi bắt buộc. Chỗ này thì chỉ lập ra một tổng hội

theo đuổi mục đích của Đức Lêô XIII đề cập, nơi khác vì

hoàn cảnh cần lao chuyên biệt, hội đoàn này thì bảo vệ

quyền lợi và bổn phận công nhân trong phạm vi cần lao; hội

đoàn kia thì lại chuyên lo tổ chức việc công nhân nâng đỡ

nhau trong phạm vi kinh tế. Còn về tôn giáo và luân lý hay

những sự cần tương đương như vậy thì có những hội đoàn

khác chuyên lo.

  1. Tổ chức thứ hai này ưu thắng hoặc ở những chỗ luật

pháp kinh tế hay xã hội nghiêm khắc bắt buộc, hoặc ở những

chỗ công nhân phải đối phó với những phong trào phá rối trật

tự bằng một mặt trận thống nhất, cấm ngặt không được lập

nghiệp đoàn lao công kitô hữu công khai. Trong những trường

TỨ THẬP NIÊN 109

hợp ấy, công nhân công giáo hầu như bắt buộc phải nhập vào

những nghiệp đoàn trung lập, nhưng tôn trọng công bằng bác

ái và quyền tự do sống theo lương tâm và luật giáo hội. Các

giám mục phải kiểm soát và quy định các hội đoàn ấy có

thích hợp với thời thế hoàn cảnh, mà có nguy hiểm gì cho đạo

công giáo chăng. Nếu có đủ điều kiện các ngài có quyền

rộng phép cho các công nhân công giáo nhập vào tùy theo

những luật lệ và những huấn lệnh của Đức Piô X, Đức Tiên

Giáo hoàng khả kính của chúng ta. Theo những huấn lệnh ấy,

điều cần thiết nhất là bên cạnh các công đoàn này, phải lập

những hội đoàn công giáo luôn luôn tận tâm huấn luyện công

nhân cho họ chóng trở nên những kitô hữu thấu đạo, thông

luân lý, và hằng tiêm nhiễm tinh thần phúc âm vào mọi hành

động sinh hoạt của họ. Nhờ vậy các hội đoàn kia có lẽ sẽ gây

ảnh hưởng rộng ra ngoài cả phạm vi đời sống riêng của các cá

nhân.

  1. b) Những hội đoàn hành động trong các giai cấp khác.
  2. hơn thế nữa, những huấn dụ khôn ngoan, những

huấn lệnh rõ rệt của Đức Lêô XIII về quyền tự do hội họp,

đã được thích dụng trong những giai cấp không phải là lao

động. Bức thông điệp của ngài đã gây dịp rất thuận tiện cho

bao nhiêu hội đoàn hữu ích khác được thành lập và phát triển

mạnh trong giới nông dân. Giới trung lưu và nhiều tổ chức

tương đương khác, hằng dung hòa nguồn lợi kinh tế với phận

sự giáo dục con người.

  1. c) Công đoàn chủ nhân.
  2. Nhưng ta không thể nào nói thế, về các hội đoàn

chủ nhân hay chủ nghiệp mà Đức Tiên Giáo hoàng đã hết sức

mong ước. Ta cũng rất tiếc vì những hội đoàn ấy còn hiếm

quá. Cái đó không phải là chỉ lỗi tại người ta đâu. Về đàng ấy

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 110

đời ta đầy những trở lực chẳng mấy ai thắng nổi. Ta biết

những trở lực ấy, mà lại lượng giá cho cân xứng nữa. Nhưng

ta cũng mong ước những trở lực ấy trong một ngày gần đây sẽ

tan đi. Ta đón mừng và thành thực ca tụng những cố gắng

hùng dũng của bao người thiện chí, đáng rút kinh nghiệm về

đàng ấy. Chắc thể nào chẳng bao lâu nữa, họ sẽ được hái quả

tốt đẹp hơn cả những hoa quả họ đang mong.

Bức thông điệp RN là hiến chương của lao

động.

  1. Những ân huệ bởi bức thông điệp RN Ta chỉ lược

qua vậy thôi, không diễn tả hết được. Những hiệu quả vô số

và quan trọng do bức thông điệp ấy gây nên chứng tỏ rõ rằng

chủ nghĩa xã hội của Đức Lêô XIII không phải chỉ là một ảo

tưởng rực rỡ nhưng không ai thực hành được đâu. Đó là một

lý tưởng rất đẹp. Đức Tiên Giáo hoàng đã rút sẵn ở trong

nguồn sống của phúc âm, một học thuyết hiệu lực có lẽ chưa

giải quyết hết mọi vấn đề xã hội hiện tại, nhưng ít nhất cũng

giảm bớt được tai hại của một xã hội tương tranh kịch liệt gây

nên. Bức thông điệp của Đức Lêô XIII là một hạt giống đã

được gieo rắc một phần nào trong những đồng ruộng phì

nhiêu. Bằng chứng rõ ràng là những hiệu quả rất đẹp mà nhờ

ơn Chúa giáo hội và cả nhân loại đã gặt hái trong 40 năm vừa

qua.

  1. Với thời gian, bức thông điệp RN đã dần dần hiện ra

là hiến chương của mọi hành động công giáo trong phạm vi

xã hội. Ai khinh thường bức thông điệp được cả thế giới long

trọng kỷ niệm năm nay, thì rõ ràng là kẻ khinh thường những

sự mà họ chưa biết. Hoặc kẻ ấy chưa hiểu những điều tai đã

nghe, hoặc là người hiểu biết hết, nên đáng bị kết án là kẻ

vong ân và bất công.

TỨ THẬP NIÊN 111

Cũng với thời gian, đã có những đoạn trong bức thông

điệp, hoặc bị người ta hồ nghi không biết phân giải thế nào,

hoặc khiến người ta hoang mang không biết áp dụng làm sao

cho hợp lý. Thỉnh thoảng cũng đã từng có những cuộc bàn

luận sôi nổi giữa giáo dân về những vấn đề đó. Ngoài ra

những đòi hỏi của đời ta bây giờ, những biến cố lớn đã xảy ra

trong phạm vi quốc tế cũng buộc ta lên tiếng, hoặc để chỉ lối

áp dụng học thuyết xã hội của Đức Lêô XIII, hoặc bổ khuyết

những quan điểm còn thiếu, Vậy cứ theo sứ vụ tông đồ buộc

ta phải phụng sự toàn thể nhân loại, ta hân hạnh nhân dịp rất

thuận tiện này để giải quyết những điều còn khắt khe và giải

đáp những vấn đề mới được nêu lên.

  1. HỌC THUYẾT CÔNG GIÁO VỀ VẤN ĐỀ KINH TẾ

VÀ XÃ HỘI.

  1. Trước khi nhập đề ta đã nhấn mạnh vào nguyên tắc

chính Đức Lêô XIII đã đề cao rằng : Ta có quyền mà lại có

phận sự đem cả thiên chức uy linh của Ta, để giải quyết

những vấn đề thuộc phạm vi kinh tế và xã hội.

Đã đành sứ vụ riêng của giáo hội không phải chỉ là dẫn

đưa nhân loại đến hạnh phúc tạm gửi chóng qua đời này. Giáo

hội phải đưa nhân loại đến hạnh phúc trường sinh. Hơn thế,

giáo hội không sao nhận mình có quyền tham gia vào những

việc thuộc về thế tục. Thật ra, để giải quyết những vấn đề

kinh tế xã hội về phương diện kỹ thuật chuyên môn, giáo hội

không những thiếu phương tiện mà lại thiếu luôn cả năng lực.

Nhưng dầu thể nào mặc lòng, giáo hội không thể nào sao

nhãng sứ vụ Thiên Chúa đã giao uỷ cho, mà không tham gia

vào tất cả mọi phạm vi đời sống có liên quan đến chân lý. Ta

có phận sự duy trì những chân lý của phúc âm. Ta buộc nhặt

phải tuyên bố, giải nghĩa, rao giảng luân lý nữa, về đủ mọi

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 112

phương diện, bất cứ Ta gặp phải trở lực nào. Vậy không ai

chối được tổ chức xã hội và kinh tế tự nhiên liên quan với

luân lý. Nên ta có quyền can thiệp vào, ít nhất là về phương

diện ấy. Quả thật, phạm vi kinh tế và phạm vi luân lý thì khác

nhau xa. Mỗi phạm vi cũng có những nguyên tắc khảo cứu và

hành động riêng biệt. Nhưng phân tích kinh tế học và luân lý

đến nỗi luân lý không còn ảnh hưởng gì đến kinh tế là lầm to.

Đã đành những luật lệ kinh tế thì căn cứu vào thiên nhiên và

những năng lực hồn xác của con người. Nhờ đó kinh tế học

mới cho ta biết rõ những vật đích kinh tế theo đuổi, mà năng

lực cá nhân không sao đạt tới được. Trong những vật đích ấy,

nó lại theo đuổi những mục tiêu nào, rồi quyết thực hành

những mục tiêu ấy bằng cách nào ? Đằng khác lý trí căn cứ

vào thiên nhiên, bản tính cá nhân và xã hội của con người để

cho ta biết cứu cánh tuyệt đối, mà tạo hóa đã định cho nhân

loại phải theo đuổi trong cả phạm vi kinh tế nữa.

  1. Nhưng chỉ luân lý mới buộc chúng ta phải theo đuổi

những mục tiêu trực tiếp thiên nhiên và nhất là Tạo hóa đã

định cho mỗi phạm vi hành động của ta, rồi minh phối những

mục tiêu ấy tự nhiên hòa hợp với nhau, theo cứu cánh tuyệt

đối ai cũng phải đạt tới trong đời sống của mình. Trung thành

theo đuổi cứu cánh này, tất cả mục tiêu riêng loài người quyết

đạt tới bằng những hành động cá nhân hoặc xã hội hay kinh

tế, sẽ tự nhiên ăn khớp với nhau khôn khéo lạ lùng. Nhờ vậy

loài người sẽ tiến dần dần hầu như đi từng bước một trên

đường đưa tới tuyệt đỉnh cao thượng muôn vật hằng hướng

đến : Tức là Thiên Chúa; đối nội là Đấng hoàn hảo tuyệt mỹ;

đối ngoại (tức là đối với nhân loại) là nguồn phúc vô tận tuyệt

đối ai cũng mong tới.

TỨ THẬP NIÊN 113

Quyền tư hữu

  1. Bây giờ ta nhập đề. Trong những điều ta quyết bàn

giải, điều thứ nhất là quyền tư hữu.

Anh em thân mến, anh em thừa biết Đức Tiên Giáo

hoàng đáng nhớ đã bênh vực quyền tư hữu khỏi mọi tà thuyết

xã hội đời trước phá tan. Ngài đã chứng tỏ một cách hùng hồn

và rõ ràng : Bài trừ quyền tư hữu này thì thay vì gây ích lợi

cho giai cấp lao động, chỉ là gây tai hại không tả xiết. Nhưng

dầu sao cũng không thiếu người bỏ vạ cho Tòa thánh và cả

giáo hội, mà kêu trách rằng: Đức Tiên Giáo hoàng đã bênh

vực và cứ bênh vực mãi kẻ giầu sang mà bỏ mặc kẻ bần cùng

vô sản. Thật là một điều lăng mạ không ai chịu được.

Mặt khác, chính giáo dân bất đồng ý về cách giải nghĩa

quan niệm của Đức Lêô XIII về quyền tư hữu. Vậy thiết

tưởng ta phải rửa nhục cho giáo hội đã bị cáo gian vì học

thuyết xã hội của Đức Lêô XIII, là học thuyết chính thức của

giáo hội, rồi ta phải cải chính những điều đã bị giải thích trái

sự thực.

Quyền tư hữu có tư cách cá nhân và xã hội.

  1. Một điều ai cũng phải nắm chắc là Đức Lêô XIII và

các nhà thần học, đều giải thích giáo lý dưới sự linh ứng và

kiểm duyệt của giáo hội. Các ngài không bao giờ chối và

không bao giờ bài bác hai tính cách tự nhiên của mọi quyền tư

hữu, bất cứ quyền ấy gây lợi ích riêng cho từng công nhân,

hay chỉ quy về công ích của toàn dân. Trái lại ai cũng đồng ý

công nhận rằng, quyền tư hữu thì bởi thiên nhiên, tức là bởi

Tạo hóa phú ban cho nhân loại. Nhân loại hưởng dụng quyền

ấy theo hai mục đích. Thứ nhất là để mọi người tìm kế sinh

nhai và cấp đủ sự cần cho cả gia quyến; thứ hai là để mọi của

cải Tạo hóa cấp chung cho nhân loại, nhờ quyền tư hữu nói

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 114

trên được mưu ích thực sự cho từng người. Nên trong thực

hành xã hội phải duy trì trật tự tự nhiên và liệu cho có quy

cách vững vàng.

Cho nên có hai chướng ngại ai cũng phải cẩn thận tránh

xa : chối hay cứ giảm mãi tính cách xã hội và công chính của

quyền tư hữu, là xa vào chủ nghĩa cá nhân khốc hại. Trái lại,

chối hay cứ giảm mãi tư cách tư nhân của quyền sở hữu lại là

sa vào chủ nghĩa tập sản (hay cộng sản) không kém khốc hại.

Nếu không sa vào hoàn toàn thì ít nhất cũng là thông phần sai

lạc của có.

Không khéo tránh hai chướng ngại đó, thì thế nào cũng

phải quy về phong trào luân lý, pháp luật hay xã hội hiếu tân,

mà chính ta đã cảnh cáo ngay từ lúc mới lên ngôi giáo hoàng.

Yêu cầu mọi người và nhất là những kẻ mới trôi theo

phong trào cải tân, (làm ơn chú trọng điểm ấy). Họ vô lý khi

quở trách giáo hội đã mặc các nhà thần học truyền bá quan

niệm tha dân xưa về quyền tư hữu, đang lúc họ hấp tấp đề

nghị một quan niệm sai lạc, mà họ vô ý thức giới thiệu là

quan niệm kitô hữu chính đáng.

Phận sự kèm theo quyền tư hữu.

  1. Bàn tán về những sự xích mích do quyền tư hữu và

phận sự kèm theo nó, mà không muốn ngoại đề, thì ta phải

nhắc lại nguyên tắc căn bản chính Đức Lêô XIII đã nhấn

mạnh từ trước : quyền tư hữu không thể nào hòa lẫn với thể

cách dùng quyền ấy. Phận sự tôn trọng sở hữu của từng

người, do đức công bằng thường gọi là công bằng giao hoán

(justice commutative) bắt buộc. Cũng do một nhân đức ấy, mà

mọi người cấm không được vượt qua quyền lợi riêng mà

chạm đến quyền lợi kẻ khác. Mặt khác, phận sự buộc các chủ

sản dùng quyền sở hữu của họ cho hợp lý; thì do các nhân

TỨ THẬP NIÊN 115

đức khác, chứ không bởi đức công bằng nói trên mà ra. Vì

thế, dầu phận sự dùng của cho hợp lý buộc ngặt thì cũng

không ai căn cứ vào pháp luật, để cưỡng bách người ta tuân

giữ nó được; thành ra tìm đồng nhất quyền sở hữu và cách

dùng sở hữu riêng, là lầm to. Nhưng lầm to hơn nữa là quyết

bài trừ quyền tư hữu, nguyên vì lý do người ta đã dùng quyền

trái lý, hay cứ bỏ hoang những sở hữu của họ. Trái lại, một

việc hữu ích đáng khen là tận tâm hiệp lực tránh xa mọi xích

mích là đồng ý với nhau tìm bảo vệ học thuyết xã hội của

giáo hội cho vẹn toàn. Rồi mải miết tìm phân minh những bổn

phận chủ sở hữu phải đảm nhiệm đối với xã hội, là định giới

hạn quyền tư hữu không thể nào vượt qua cả trong cách

hưởng sở hữu. Nhưng tìm giảm bớt tính cách tư nhân của

quyền sở hữu này đến nỗi trong thực hành không còn tư nhân

nào đòi quyền ấy được nữa, đó thật là lỗi lầm và hại lớn.

Chính quyền quốc gia.

  1. Về vấn đề sở hữu này mọi người phải nhắm hai mục

đích. Quyền tư hữu có tính cách tư nhân và xã hội; cho nên ai

cũng phải dùng trực tiếp để gây tư lợi gián tiếp để gây ích lợi

chung cho cả cộng đồng xã hội. Vậy hễ khi nào có sự khẩn

cấp, mà lại luật tự nhiên vẫn lu mờ không rõ, thì các nhà cầm

quyền trong xã hội, phải can thiệp định rõ phận sự của từng

công dân đối với công ích. Trong những trường hợp đó, chính

quyền phải tìm hiểu những đòi hỏi của công ích, rồi ấn định

công dân phải dùng sở hữu làm sao cho thích hợp với luật tự

nhiên và lệnh Tạo hóa. Đức Lêô XIII sáng suốt dạy rằng :

Thiên Chúa đã uỷ việc định hạn sở hữu cho lý trí lỗi lạc của

từng người và cho những cơ cấu xã hội của từng dân tộc. Thể

cách hưởng dụng quyền tư hữu, cũng như một chế độ xã hội

phải thay đổi theo thời thế hoàn cảnh, nên không nói được là

sự bất di bất dịch đâu. Điểm ấy lịch sử làm chứng rõ ràng, và

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 116

chính ta đã nhấn mạnh trong một bài diễn văn khác : (diễn

văn cho công giáo tiến hành Ý, 16.3.1926) Ta nói rằng :

“Những thể cách hưởng dụng quyền tư hữu đã biến hóa luôn

từ thể cách thô sơ của các dân mường mọi xưa” và còn được

duy trì ở một vài địa phương, trải qua thể cách tộc trưởng, sang

đến thể cách độc tài, phong kiến đế vương vừa rồi, cho đến

những thể cách rất phức tạp của xã hội cận kim. Nhưng dầu

sao, ta không nói được trong phạm vi ấy chính quyền định làm

gì cũng được đâu. Bất cứ lúc nào quyền tư hữu là quyền tự

nhiên và quyền truyền gia sản theo lời thừa kế phải tuân giữ

vẹn toàn. Quyền ấy không chính phủ nào bãi bỏ được, vì con

người có trước, xã hội có sau; gia đình lại là xã hội có trước,

xã hội dân chính mới có sau không những trong lý thuyết mà

lại trong cả thực tế nữa. Cũng vì thế mà Đức Lêô XIII đã nói

quyết rằng : chính phủ không sao làm kiệt quệ quyền tư hữu

của từng công dân vì bắt thuế quá nặng. Quyền tư hữu là

quyền thiên tạo chứ không chỉ là một quyền nhân tạo đâu,

thành ra chính quyền điều khiển được người ta lợi dụng

quyền ấy làm sao cho nó hòa hợp với công ích. Nhưng chính

quyền không sao bãi bỏ nó được. Hễ khi nào chính quyền tìm

dung hòa quyền tư hữu với công ích, thì chẳng những không

đáng gọi là kẻ thù nghịch các chủ sản, mà lại đáng được các

chủ sản nhận thực là bạn hữu ân cần cứu thoát quyền tư hữu,

vốn được Thiên Chúa quan phòng dựng nên để giúp ích cho

nhân loại khỏi gây bao thiệt hại nguy khốn và tự tiêu diệt dần

dần. Nhờ vậy, chính quyền không đàn áp quyền tư hữu đâu,

mà cứ bảo vệ nó. Thay vì làm cho nó sút kém chính quyền

tăng lực cho nó.

Phận sự đối với hoa lợi tiêu dụng được.

  1. Loài người không ai có quyền tiêu dụng phần hoa

lợi thừa dư tùy ý sở nguyện. Phần hoa lợi nói đây gồm tất cả

TỨ THẬP NIÊN 117

phần hoa lợi còn dư sau khi mình đã cấp đủ sự cần cho đời

sống luôn luôn cân xứng với địa vị. Trái lại, kẻ giàu sang

buộc ngặt phải thí của, làm việc từ thiện, tỏ mình rộng rãi

theo lời Thánh Kinh và các tiến sĩ hội thánh không ngừng

giảng dạy.

Vậy căn cứ vào những nguyên tắc thánh Thomas thường

hay đề cập, ta có thể kết luận rằng : Những người nào có

phần lợi thừa dư mà đem góp vào một xí nghiệp đang phát

triển gây dịp cho công nhân tìm việc lĩnh lương phải chăng,

mà lại sản xuất những đồ hữu ích thật, thì những người ấy

thực hành luật bố thí, làm việc từ thiện một cách rất đáng

khen và rất thích hợp với những đòi hỏi của đời ta, ấy là thực

hành đức quảng đại thực lòng.

Quyền sở hữu chính đáng căn cứ vào đâu

  1. Theo những phong tục di truyền và phổ biến khắp

nơi, theo các huấn thị của Đức Tiên Giáo hoàng Leo XIII,

những lý do chính tự nhiên phát sinh quyền sở hữu của bất cứ

người nào, thì có hai : tiên chiếm một đồ vật còn vô chủ; lao

công để biến hóa một vật liệu nào thành một đồ vật hữu ích

có giá trị. Quả thật, không cứ gì những dư luận vô lý bay bổng

tiên chiếm những đồ hoang chưa nhập sở hữu của ai hết,

không phải là sự bất công đâu, “tiên chiếm giả đắc”. Mặt

khác, lấy một đồ vật thuộc sở hữu của mình, rồi xuất công

biến hóa thành đồ vật hữu ích và thêm giá trị, cũng là đủ mà

đòi toàn quyền đến sản phẩm ấy.

a) Tư bản và cần lao

40. Kẻ làm mướn, tức là làm việc cho một người hứa trả

công và cấp sẵn đủ vật liệu, thì khác hẳn. Ta phải áp dụng

cho kẻ ấy những lời tuyên bố của Đức Lêô XIII đã quyết

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 118

rằng : không ai chối cãi được phúc lợi của các dân tộc đều

phát nguồn từ ở cần lao. Ta nhận thấy rằng : Những sản phẩm

mênh mông đủ thứ làm cho các dân nước ngày càng phong

phú hơn, há chẳng phải do bàn tay lao động phát xuất ư ? Dầu

họ làm bằng tay hay nhờ những máy móc tăng lực cho, ta

cũng phải công nhận những sản vật ấy là công nghiệp của họ.

Ai cũng phải nhận rằng: không dân nào thoát khỏi sự bần

cùng và sự khốn cực, nếu dân nước ấy không động viên toàn

lực để hợp tác vào cần lao; bằng cách lao tâm chỉ huy, hay

bằng cách lao động thực hành đủ mọi công việc cần thiết.

Đàng khác những năng lực sản xuất kia, chắc thể nào cũng sẽ

vô hiệu quả, nếu Tạo hóa dựng nên muôn vật không tỏ lòng

quảng đại mà tiềm tàng trong thiên nhiên đủ nguyên liệu và

nguyên lực. Ngoài ra cần lao là gì, há chẳng phải là xuất đủ

mọi năng lực tâm trí và thể xác, hoặc để cải hóa muôn vật

trong thiên nhiên cho hữu ích hơn, hoặc để hưởng dụng

những sự vật ấy làm khí cụ thích ứng với công việc mình

quyết thực hành ư ?

  1. Vậy luật thiên nhiên vốn bày tỏ ý Tạo hóa cho nhân

loại noi theo, ép buộc ai nấy cũng phải chia sản phẩm của

thiên nhiên cho thích hợp với những nhu cầu chính đáng của

nhân loại, theo một tổ chức thứ tự hoàn hảo. Luật ấy không

sao thực hành được, nếu chúng ta chối quyền sở hữu. Vật nào

chủ ấy. Thành ra ngoài trường hợp công nhân dùng vật liệu

riêng mà làm việc, thì sự cộng tác giữa người có tư bản và

người cần lao làm việc là sự tối cần. Thiếu sự cộng tác này,

bên nào cũng ra vô hiệu lực. Những lời Đức Lêô XIII đã nói

quyết rằng : cần lao thiếu tư bản, tư bản thiếu cần lao cũng

thành vô ích cả hai. Phải hiểu như vậy.

Vì vậy, dồn vào tư bản hay vào cần lao, những công

hiệu do cả hai hợp tác gây nên, là một lầm lỗi lớn. Tư bản

cảnh cáo cần lao là vô ích, cần lao cảnh cáo tư bản là vô

TỨ THẬP NIÊN 119

dụng, đằng nào cũng là phạm đến công bằng. Vì cả hai tư bản

và cần lao hợp tác chặt chẽ thân mật với nhau thì mới có công

hiệu.

b) Những đòi hỏi vô lý của tư bản

  42. Quả thật phần hoa lợi mà xưa nay, tư bản đòi làm

phần riêng thì đã quá nhiều. Nó đòi luôn sản phẩm và cả hoa

lợi nữa, chỉ nhường cho cần lao đủ tiền lương bổ sức và

truyền nòi là một sự bất công. Người ta quyết rằng luật kinh

tế thì bất di bất dịch. Nó buộc tư bản chồng chất trong tay cả

vốn liếng, và buộc cần lao phải kéo lê một đời sống bấp bênh

trong cảnh thiếu thốn bần cùng không ai tránh được. Nhưng

cũng may mà thực tế không thích hợp với những lý thuyết mà

chủ nghĩa tự do bởi trường Manchester khởi xướng từ trước.

Nhưng dầu sao, nền kinh tế xã hội đã không ngừng hướng

chiều về những lý thuyết khốc hại đó. Bởi thế không còn ai

ngạc nhiên được, khi thấy những huấn lệnh và những tà

thuyết ấy bị phản đối kịch liệt từ ở những người không thuộc

giai cấp lao công. Vì những tà thuyết ấy công nhận không

được vươn mình lên một địa vị sinh hoạt khả quan hơn nữa.

c) Những đòi hỏi vô lý của cần lao.

43. Đối lại bao người trí thức thiện chí nhập vào phe lao

động để thúc họ đả phá luật kinh tế giả tạo kia, để áp dụng

một luật luân lý cũng hư ảo: Sản phẩm và hoa lợi trừ phần cần

thiết để hoàn giao và tu bổ lại tiền vốn đã tiêu xuất, phần còn

lại đương nhiên là của công nhân. Đó cũng là một đòi hỏi vô

lý và sai lầm. Nhưng còn một đòi hỏi vô lý hơn nữa, là đòi hỏi

của chủ nghĩa xã hội đòi phải trao lại cho chính phủ hay quốc

hữu hóa tất cả mọi khí cụ sản xuất.

Nhưng dầu không nói rõ đòi hỏi kia sai lầm ở chỗ nào,

có lẽ nó nguy hại hơn, vì nó sẽ đánh lừa những người thiếu

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 120

kinh nghiệm và hay mê tín. Nó là một nọc độc ai thụ hưởng

cũng bị say mê. Cả những người kịch liệt chống trả chủ nghĩa

xã hội, đã liều mình niếm thử nó.

Một nguyên tắc chính đáng, phải áp dụng vào

việc phân chia hoa lợi.

  1. Những tà thuyết bành trướng mãi, thì rất có thể ngăn

đường đưa đến công bằng và hòa bình vĩnh viễn. Nên bất cứ

bên nào, tư bản và lao công cũng đã cần đến những huấn thị

sáng suốt của Đức Tiên Giáo hoàng: “Dầu đã phân chia từng

sở hữu riêng, hoàn cầu vẫn mưu ích chung cho toàn thể nhân

loại”. Chính Ta mới nhắc lại nguyên tắc ấy rằng: Để mưu ích

chung cho nhân loại một cách vững chắc và thứ tự. Tạo hóa

mới đặt quyền tư hữu làm phương tiện phân công chia của. Bỏ

nhãng nguyên tắc căn bản này là liều mình lạc xa đường

chính.

  1. Vậy phân chia sản phẩm và hoa lợi lung tung, không

phải là phương cách thực hiện ý Tạo Hóa tiền định cho thích

hợp với những hoàn cảnh hay thay đổi của nhân loại. Nền

kinh tế xã hội càng ngày càng phát triển, sản phẩm càng ngày

càng dư thừa. Nên phải lo phân chia hoa lợi làm sao cho từng

cá nhân, và đủ mọi giai cấp xã hội hưởng phần công ích theo

lời Đức Lêô XIII đã giảng dạy: cho công ích toàn thể xã hội

được tôn trọng thật sự. Công bằng xã hội cấm giai cấp này

không được làm khó dễ để cho giai cấp kia thông phần hoa

lợi cho cân xứng. Giai cấp này hay giai cấp kia cũng lỗi luật

chí thánh này như nhau: kẻ giầu sang vì tiền của nhiều nên

không cần lo xa. Nếu họ xét đó là một tình trạng tự nhiên

chính đáng mà dành hết hoa lợi làm của riêng, không nhường

phần nào cho công nhân, thì họ lỗi đến công bằng nói trên.

Kẻ vô sản thì khác, họ tức tối cực điểm vì tình trạng quá bất

TỨ THẬP NIÊN 121

công kia là phải …, nhưng họ cũng mắc lỗi hoặc vì họ chỉ lo

quyền lợi giai cấp mới ý thức của họ, mà quyết dồn vào trong

tay mình sản phẩm luôn với cả hoa lợi do công việc của họ đã

gây nên, vì làm như vậy, họ lên án và quyết bài trừ mọi sở

hữu và mọi nguồn lợi tự nhiên có trong xã hội. Theo ý họ

không cứ gì bản tính và vai trò những tư bản ấy trong đời sống

nhân loại, cũng phải bài trừ vì là công hiệu của cần lao. Về

vấn đề ấy Thánh Phaolô đã có câu: “Ai không làm việc thì kẻ

ấy không đáng ăn”. Bao nhiêu người cứ căn cứ vào câu đó

mà chứng tỏ quyền riêng của lao công. Nhưng ai lại không

thấy là vô lý, là ngoại đề. Trong câu ấy, Thánh Phaolô chỉ lên

án những người tránh những việc đáng lẽ họ có thể làm mà

lại phải làm nữa, mà cứ đòi ăn như thường. Người thúc đẩy ta

cứ ân cần với phận sự, dùng năng lực hồn xác để gây ích lợi

tư và công, kẻo bắt người ta phải vác lên vai một gánh nặng

là cấp sự cần cho ta, đang lúc ta có thể tự túc, và lo thỏa mãn

sự cần riêng. Ta không thể nào căn cứ vào câu ấy, mà tuyên

bố rằng : Chỉ có một quyền sở hữu chính đáng, là quyền sở

hữu bởi cần lao gây nên.

Thành ra một việc thượng khẩn, ai cũng phải đảm nhận:

Trước là trả công cho từng người cách xứng đáng, sau là tổ

chức sự phân chia hoa lợi theo những đòi hỏi của công ích và

đức công bằng xã hội. Cảnh thê thảm của một xã hội giai cấp

dành hết của cải trong tay kẻ giầu sang, và mặc kẻ bần cùng

đói rách, là tang chứng rõ ràng trước mắt kẻ còn thiện chí, xã

hội đang tiến triển nhưng cũng đã lạc đường chính, nên đang

ở một tình trạng trầm trọng nguy hiểm.

Phục hưng lại giới vô sản..

46. Mục đích Đức Tiên Giáo hoàng ý thức mục vụ đã

theo đuổi, là phục hưng lại giới vô sản trong xã hội. Đó là một

phận sự thượng khẩn, ta phải thúc đẩy anh em tận tình lo thi

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 122

hành. Về phận sự ấy ta phải tha thiết nhấn mạnh, vì ta nhận

thật những huấn lệnh của Đức Tiên Giáo hoàng đã bị khinh

bỏ, hoặc bị người ta cố tình im lặng không nói đến, hoặc vì

người ta ý thức phận sự, nhưng tưởng là quá nặng nề không ai

thực hành được mà lại không ai có quyền trốn tránh không

chịu nhận được.

  1. Cảnh khốn cực ấy, đời Đức Lêô đã kinh khủng thật.

Đời ta bây giờ nó giảm bớt nhiều. Nhưng không phải vì thế

mà những huấn lệnh của Đức Tiên Giáo hoàng vô giá trị, hay

không còn hợp thời nữa đâu. Thú thật địa vị của giới lao công

đã khả quan hơn. Thân phận công nhân đã trăm bề dễ chịu

hơn. Nhất là trong những quốc gia tân tiến và tiến bộ, công

nhân đời ta không thể nào nói được, họ cùng một địa vị khốn

cực và bần cùng như nhau. Nhưng mặt khác, đang lúc kỹ thuật

và công nghệ lần lượt xâm chiếm các tân quốc gia và các

nước viễn đông, thì ta cũng thấy cảnh bần cùng của đa số

công nhân vô sản lan rộng và kêu lên thấu trời. Thêm vào đó

lại có hằng hà sa số nông dân sống chật hẹp khó khăn, và

không chút hy vọng làm chủ ruộng họ cày cấy. Nên không lo

liệu gấp và hiệu nghiệm họ sẽ lần lượt nhập vào số kẻ bần

cùng, và làm cho giới vô sản tăng số mãi không cùng.

  1. Giới vô sản và kẻ bần cùng, quả thật khác nhau xa.

Nhưng dầu sao kẻ giầu sang thiểu số mà lại sở hữu rộng lớn,

đang sống giữa cảnh đa số kẻ vô sản, là một tang chứng rõ

ràng, những sản phẩm do đại kỹ nghệ phát xuất dư dật, chưa

được phân chia cho công bằng, và chưa được áp dụng vào

những nhu cầu riêng biệt của từng giai cấp xã hội.

Phục hưng giới vô sản bằng cách mở đường cho họ

chiếm lấy được một sở hữu.

TỨ THẬP NIÊN 123

Bởi thế cho nên chúng ta phải hết sức cổ động và dùng

trăm phương ngàn cách, để tài sản hiện đang nằm trong tay sẻ

tư bản, được giảm bớt cho hợp công lý hơn, và tràn vào giới

lao động cho phải chăng. Không phải để công nhân được bớt

lao công mà sống an nhàn hơn đâu. Chim có cánh để mà bay,

người ta có tay để mà làm. Nhưng để công nhân đủ sống, đủ

dành tiền lập tư sản và dần dần nhờ họ sáng suốt tổ chức sản

nghiệp riêng, thì họ đối phó lại được với những đòi hỏi của

đời sống và những sự cần cho gia đình dễ dàng hơn. Như vậy

họ sẽ bớt phần lo xa, không còn sống bấp bênh là thân phận

riêng của giới vô sản. Họ sẽ đầy đủ phương tiện đề phòng và

thoát khỏi mọi sự rủi ro mà đời sống của họ vẫn không thiếu.

Rồi đến lúc chết họ sẽ yên trí vì thân nhân còn sống nhờ

công việc của họ chắc được đủ cho đời sống.

Những quan điểm ấy, trong bức thông điệp “RN” đã

được công bố công khai và hiển nhiên. Chính Ta lại tha thiết

nhấn mạnh trong bức thông điệp này. Ai cũng phải tin chắc

rằng không dựa vào những quan điểm ấy mà để thực hành

trong xã hội, mỗi người tùy theo tài lực riêng, thì ta sẽ không

bao giờ cứu được trật tự xã hội, hòa bình thế giới và an ninh

nhân loại khỏi bị những lực lượng cách mạng đang mạnh tiến

xung phong.

Định tiền lương cho thích hợp với công lý.

49. Những huấn lệnh ấy, chỉ có thể thực hiện nếu các

công nhân hiện vô sản dư điều kiện và nhờ một đời sống tiết

kiệm, lập được một sở hữu riêng, theo lời Đức Tiên Giáo

hoàng mà chính ta không ngừng nhắc lại cho thế giới. Vậy

nếu họ không căn cứ vào tiền công họ nhận lĩnh hằng tháng,

thì họ sẽ căn cứ vào đâu mà tổ chức đời sống tiết kiệm ấy.

Những người chỉ có công nhật mà bảo vệ mạng sống và tìm

đủ sự cần, nếu số tiền lương không đủ thì sẽ lấy gì mà lập tài

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 124

sản ? Cho nên ta phải bàn luận về vấn đề đồng lương phải

chăng, họ có quyền được hưởng. Theo ý Đức Lêô XIII vấn

đề ấy rất quan trọng. Vậy ta hãy tìm giải quyết vấn đề ấy

bằng cách giải nghĩa và tùy theo sự cần, giảng giải rõ hơn

những học thuyết và những huấn lệnh của ngài.

Trước Ta hãy nhắc qua, sự lầm lỗi nguy hiểm của những

người nào mưu ý bãi bỏ giao kèo công lao, vì tưởng nó là bất

công, để thay thế nó bằng giao kèo xã hội. Những người ấy

phạm đến danh giá của Đức Tiên Giáo hoàng Leo XIII. Bức

thông điệp “RN” không những công nhận giao kèo công lao

là hợp lý, mà lại giảng giải những điều luật cần thiết cho nó

thích hợp với công lý hơn.

  1. Nhưng dầu sao để thích hợp với hoàn cảnh xã hội

hiện tại, ta đề nghị bổ khuyết giao kèo công lao kia bằng

những điều kiện ta có thể mượn lấy của giao kèo xã hội này.

Điều ấy đã được áp dụng vào rất nhiều trường hợp khác nhau

dưới nhiều hình thức khác nhau, mà gây lợi nhiều không

những cho cần lao mà lại cho cả tư bản nữa. Tỉ dụ như công

nhân và lao động đã được kêu mời tham gia vào sở hữu căn

bản của công ty mướn họ. Họ tham gia vào hành chính và chia

phần hoa lợi công ty của họ thâu góp được.

  1. Đức Lêô XIII đã rất thích đáng nhắc lại rằng : “Ta

không sao định số tiền lương phải chăng, theo một nhận xét

duy nhất mà quên bỏ những nhận xét khác, có lẽ quan trọng

hơn”. Ngài nói để định số tiền lương phải chăng, ta phải chú

tâm đến đủ mọi phương diện. Như vậy, ngài đã kết án cho

những người tự đắc giải quyết được vấn đề rất phức tạp này,

theo một luật mực hay một tỉ lệ nhất định. Ngoài ra luật mực

kia, tỉ lệ này hoàn toàn sai lầm.

Kẻ không chút ngần ngại theo thành kiến đã phổ biến

hầu hết khắp nơi mà định giá công lao và việc trả công đúng

TỨ THẬP NIÊN 125

theo hoa lợi nó gây nên, thì đều lầm to. Nhờ vậy họ kết luận

rằng : Công nhân toàn quyền đòi tất cả hoa lợi bởi công việc

họ gây nên thì hại lớn. Đọc lại những lời ta đã nói về những

mối tương quan cần thiết giữa tư bản và cần lao, thì ai cũng đủ

rõ.

Tính cách tư nhân và xã hội của cần lao.

Cần lao không kém tư bản, cũng có tính cách tư nhân và

xã hội. Đó là một điều ta nên nhớ không bao giờ quên. Nhất

là khi nói đến những công nhân làm mướn. Điều ấy thì quá

hiển nhiên. Mọi cố gắng hành động chung của nhân loại,

không thể nào kết quả được, nếu thiếu những điều kiện sau

đây:

Xã hội phải có quy tắc, thành một tổ chức tinh xảo; trật

tự và quy luật xã hội phải bảo đảm mọi cần lao. Những nghề

nghiệp rất phức tạp đều liên hệ với nhau. Nên phải hòa nhịp

và bổ khuyết nhau.

Nhờ một trí tuệ minh mẫn, cần lao và tư bản phải hòa

hợp với nhau, trở thành một cơ quan hành động duy nhất.

Bởi thế ta không thể nào định giá công thợ cho hợp lý,

và trả lương công nhân cho phải lẽ. Nếu ta coi thường hai tính

cách tư nhân và xã hội của cần lao.

Ba điểm chính đáng quan trọng.

a) Kế sinh nhai và gia đình người.

  1. Vì hai tính cách tự nhiên của cần lao, ta có thể khấu

trừ những nguyên tắc quan hệ về thể thức trả công và tỉ lệ

phải chăng của nó.

Trước phải trả công thợ cho đủ sống và nuôi gia đình.

Đã đành tất cả thân nhân của người thì cũng phải tùy sức góp

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 126

phần vào việc cấp sự cần cho gia đình họ, như ta thường thấy

ở hầu hết các gia đình nông dân, và rất nhiều gia đình công

nhân hay thương nghiệp. Nhưng cấm ngặt không được bắt tuổi

trẻ còn thơ dại, đàn bà nhu mì, làm việc quá sức. Các bà mẹ

phải lo việc nhà, lo tề gia nội trợ hay các việc khác liên quan

đến gia đình. Vì tiền lương gia trưởng thiếu các bà mẹ phải lo

việc giáo dục đàn con, và các bổn phận khác, mà đi tìm một

sinh kế riêng, quả thật là một việc lộng hành đáng kết án

nghiêm trị.

Vậy ta phải dùng đủ mọi phương tiện cho các gia trưởng

lao động được trả công vừa đủ cho họ đảm nhận những phận

sự chính đáng của họ đối với gia đình. Tình trạng xã hội kỹ

nghệ hiện tại rất bất tiện, để hoàn tất phận vụ ấy. Nhưng

công bằng xã hội bắt buộc ai nấy phải tận tâm với việc canh

tân xã hội, cho mọi công nhân trưởng thành lĩnh được số

lương cân xứng với địa vị của họ. Về phương diện ấy, ta thành

thực tán tạ những người đã có nhã ý khôn ngoan và hữu ích,

tìm trăm phương nghìn cách, hoặc để định giá công thợ theo

những đòi hỏi của một gia đình hằng mở rộng thêm đông

(nhờ vậy gia đình càng thêm đông, thì gia trưởng càng được

tăng lương), hoặc là để cung cấp những sự cần bất thường do

thời thế hoàn cảnh gây nên bất ngờ.

b) Tình trạng thành bại của xí nghiệp.

  1. Trong việc định giá công thợ, ta lại phải chú tâm

đến tình trạng thành bại của xí nghiệp và những người phụ

trách nữa. Đòi tăng lương mãi sẽ là một sự vô lý, trong những

trường hợp xí nghiệp lâm nguy. Làm như vậy là đưa xí nghiệp

đến bại hoại và khiến công nhân lại thất nghiệp nữa. Nhưng

nếu xí nghiệp lâm nguy bại hoại vì ban quản trị uể oải và xao

nhãng, hoa lợi sút kém vì kẻ phụ trách chẳng lo mở mang

công việc về phương diện kinh tế và kỹ thuật; thì họ không

TỨ THẬP NIÊN 127

thể nào hạ giá công thợ vì cớ phải cứu xí nghiệp. Đàng khác,

nếu tài chính không đủ mà trả công phải chăng cho thợ

thuyền, hoặc vì xí nghiệp phải nạp thuế quá nặng và vô lý,

hoặc vì xí nghiệp gặp cản trở vô cớ nên phải bán sản phẩm

hạ giá, thì những người nào bắt thuế kia hay làm cản trở này,

đều vi phạm công lý và mắc phải tội không tha thứ được. Lý

do là vì lỗi bất công của họ, công nhân không đòi được tiền

lương phải chăng mà tự nhiên họ có quyền đòi, và nhiều khi

vì bắt buộc họ phải nhận tiền lương quá hạ đối với phận sự họ

gánh vác.

Bởi thế tất cả chủ nhân và công nhân phải đồng tâm

nhất trí, tìm thắng vượt mọi sự khó khăn và mọi trở lực. Chính

quyền lại phải giúp họ thành công dễ dàng, nhờ một chính

thể khôn ngoan đắc lực ủng hộ họ. Nhỡ ra không ai thoát khỏi

cơn khủng hoảng kinh tế này, thì họ phải nêu lên vấn đề giải

tán xí nghiệp, và tìm cách khác bổ túc cho công nhân vô tội

mà lại bị hại lớn. Trong trường hợp nghiêm trọng ấy, chủ

nhân và công nhân phải đoàn kết chặt chẽ thân mật, và đồng

tâm trong tình nghĩa phúc âm, thì mới hành động một cách

hiệu nghiệm và kết quả.

c) Những đòi hỏi của công ích.

Để định giá công thợ, ta phải tuân cứ những đòi hỏi của

công ích nữa. Trên kia ta đã nhấn mạnh điều đó. Công nhân

và lao động đủ tiền cấp sự cần khẩn thiết, và dành một phần

lập tư sản vừa phải, thì lợi cho công ích biết bao ! Nhưng còn

một quan điểm nữa không kém quan trọng, mà ngày nay thật

không ai bỏ phớt được. Ta có ý nói rằng : cần lao phải tổ chức

trong nước làm sao cho tất cả mọi công dân làm việc được và

muốn làm việc, thì tìm được công ăn việc làm cách dễ dàng.

Tổ chức này phần lớn tùy thuộc tiền lương phải chăng công

nhân lãnh nhận được. Nếu số tiền lương ấy hợp lẽ phải, thì

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 128

nước sẽ không thiếu gì việc làm cho công nhân. Số tiền lương

quá hạ, thì trái lại, công nhân không tìm đâu được cho có

công ăn việc làm. Ngoài ra cũng không ai chối được, tiền

lương hoặc quá cao, hoặc quá thấp cũng gây dịp cho một tệ

đoan xã hội, thường gọi là nạn thất nghiệp. Tệ đoan xã hội ấy

đời ta bây giờ thì phổ thông rất nhiều. Vì nó mà đa số công

nhân bị thiệt, chìm đắm trong cảnh khốn cực, lại không ngừng

mưu gian làm ác nữa. Họ khiến cả những dân nước phong phú

phải bị tiêu diệt dần dần. Lúc nào họ cũng làm lung lay trật tự

xã hội an ninh quốc gia và hòa bình thế giới. Cứ tăng gia hay

giảm bớt công thợ vô lý nguyên vì lợi ích tư nhân, mà không

quản gì đến công ích, là một sự vô lý mà lại phạm đến công

bằng xã hội. Trái lại mọi người phải đồng tâm nhất trí để thiết

lập một chính sách lương bổng cho công nhân vừa dễ tìm việc

làm, vừa dễ thỏa mãn những nhu cầu chính đáng của một đời

sống xứng vị con người.

  1. Muốn chóng được kết quả, ta còn phải dung hòa

tiền lương của từng giai cấp công nhân, mà lại nhớ một điều

mật thiết liên hệ với vấn đề ấy, tức là định giá phải chăng của

một sản phẩm cần thiết và thuộc về đủ mọi chi nhánh kinh tế,

canh nông, kỹ nghệ… những chỗ nào nền kinh tế được tổ

chức cân bằng, thì chỗ ấy mọi hành động phức tạp của con

người sẽ hòa nhịp và bổ khuyết nhau thành một cơ thể duy

nhất, đủ bộ phận chuyên biệt nhưng thuận hòa nâng đỡ nhau.

Cơ thể kinh tế xã hội chỉ hoàn bị, khi nó cấp đủ nhu cầu cho

toàn dân và cho từng người, về phương diện canh nông và kỹ

nghệ. Tổ chức xã hội kinh tế phải tìm những phương tiện cần

thiết để đạt tới mục đích cần thiết ấy. Nhưng sản phẩm canh

nông và kỹ nghệ sản xuất phải đủ, để cho các công dân sống

xứng vị con người và vươn mình lên một địa vị sinh hoạt và

văn hóa khả quan. Một đời sống đủ sự cần về vật chất nếu

TỨ THẬP NIÊN 129

không có gì cản trở, sẽ rất thuận tiện cho mọi người đua nhau

sống đạo đức và tiêu dùng tiền của cho khôn ngoan.

Phục hưng lại quy tắc xã hội.

56. Những điều ta giãi bày từ trước chỉ liên quan đến sự

chia của phân công cho từng cá nhân cho hợp lý. Trực tiếp thì

không liên quan gì tới quy tắc xã hội, mà Đức Lêô XIII đã tận

tâm quyết phục hưng lại, theo đạo tự nhiên và nhất là theo

đạo phúc âm tuyệt đối cao thượng. Để tăng cường cho phong

trào ngài đã nêu lên, để hoàn tất công việc cần phải thực

hiện, để giúp các gia đình hưởng lợi và hái hoa quả tốt đẹp do

công việc ấy làm nẩy nở ra, thì ta phải chú tâm tới hai việc

cần thiết này : thứ nhất là cải tạo mọi cơ cấu xã hội, thứ hai là

cải thiện phong hóa mỹ thuật.

Cải tạo mọi cơ cấu xã hội.

a) Phận sự chính phủ quốc gia.

Đã nêu lên vấn đề cải tạo mọi cơ cấu xã hội, tự nhiên ta

phải nhắc đến phận sự chính phủ. Đã đành chính phủ can

thiệp thì không chắc đã giải quyết vấn đề ấy một mình được.

Nhưng từ khi cá nhân chủ nghĩa toàn thắng, các phong trào xã

hội xưa kia đã lập ra bao nhiêu đoàn thể bảo vệ đời sống đủ

mọi phạm vi một cách điều hòa và hiệu nghiệm. Trên mặt

trận xã hội chỉ còn tư nhân và chính phủ tương tranh với nhau

mà thôi. Chế độ xã hội bị thiên lệch; quốc gia chịu thiệt khôn

xiết kể; các hội đoàn kia ngừng hoạt động. Chính phủ phải

thay thế vào đó; nó phải cúi lưng dưới bao gánh nặng và bao

trách nhiệm, nó không thể nào gánh lấy một mình.

Đành rằng lịch sử làm chứng, không ai hồ nghi được.

Tình trạng xã hội đã biến đổi nhiều. Có bao nhiêu việc xưa

kia các hội đoàn tư nhân phụ trách được, nhưng bây giờ chỉ

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 130

những tổ chức cộng đồng rộng lớn mới đảm nhiệm nổi.

Nhưng dầu sao có một nguyên tắc xã hội học rất quan trọng

không thể thay đổi, và cũng không lay chuyển được : Có

những trọng trách tư nhân đủ năng lực và phương cách gánh

vác. Cất những trọng trách khỏi tư nhân và giao uỷ hết cho

chính phủ là lỗi đến công bằng xã hội. Cùng một lẽ ấy, cất

khỏi những hội đoàn tư nhân các trọng trách họ gánh vác

được, mà trao lại cho những tổ chức cộng đồng vừa rộng rãi

vừa cao lớn, là đảo lộn cả quy tắc xã hội, và gây bao thiệt hại

cho quốc gia. Chính phủ can thiệp vào vấn đề xã hội,thì chỉ

có quyền nâng đỡ công dân, chứ không có quyền chi phối

hay phá hoại đời sống tự nhiên của họ.

  1. Bởi thế cho nên, chính phủ phải nhường cho các hội

đoàn tư nhân những phận sự họ đảm nhận được. Chính phủ

chi phối những phận sự ấy thì làm sao lãng những việc quan

trọng chính quyền phải đảm nhiệm. Hay hơn là nhường cho

công dân những công việc, công dân làm được; để hoàn tất

những công việc chỉ có chính phủ mới làm được một cách tự

do mạnh mẽ hiệu nghiệm hơn. Tức là chỉ huy, kiểm soát, thúc

đẩy hay thắng hãm những hành động dân sự, tùy theo hoàn

cảnh thời thế bắt buộc. Nhưng nhà cầm quyền nên tin chắc

rằng: quy tắc xã hội càng hoàn hảo, các hội đoàn càng làm

việc theo đúng phận sự bổ túc chính phủ, thì chính phủ càng

mạnh quyền và càng được uy tín, rồi mọi công vụ càng dễ

tiến triển và gây hạnh phúc hơn.

b) Cộng tác riêng của các liên đoàn công nghệ.

58. Vật đích đầu tiên chính phủ và các công dân ưu tú

cần phải theo đuổi là tận tâm chấm dứt những sự tương tranh

giữa các giai cấp xã hội, và luôn luôn cố gắng gây nên, cùng

thúc đẩy tinh thần đoàn kết chặt chẽ thân mật giữa các nhà

chuyên nghiệp.

TỨ THẬP NIÊN 131

Cho nên chính sách xã hội phải chân thực tu bổ lại các

liên đoàn công nghệ.

Quả thực tình trạng xã hội hiện là tình trạng căng thẳng,

nên bấp bênh và hằng lung lay. Lý do là vì xã hội căn cứ vào

các giai cấp đầy những tham vọng và những căm hờn kình

địch nhau, nên lúc nào chiến tranh cũng có thể bùng nổ bất

ngờ. Nghiệm như lời Đức Tiên Giáo hoàng đã nói, cần lao

không phải là đồ mua bán. Nó thông phần nhân cách của

công nhân. Người ta không thể nào đổi việc làm lấy tiền

lương, theo lối thị trường. Nhưng dầu sao, đời ta bây giờ luật

“cung cầu” cũng được áp dụng vào cần lao, nên xã hội bị chia

thành hai giai cấp, thành hai phe; kẻ mướn thợ và kẻ làm

mướn. Cuộc bàn tán giữa đôi bên, mở rộng như một bãi chiến

trường cho kẻ thù địch kịch liệt đánh nhau. Thật là một cảnh

lộn xộn đưa xã hội đến bại hoại. Nên ai cũng thấy rõ, phải tìm

một giải pháp thượng khẩn và hiệu nghiệm. Vậy không có

giải pháp nào hiệu nghiệm để chữa hẳn tệ đoan kinh khủng

này, bằng cách cải hóa hai giai cấp tương tranh kia, thành

những tổ chức chuyên nghiệp hoàn bị. Các công nhân nhập

vào những tổ chức ấy, sẽ không còn được nhận hay bị từ

chối, tùy theo địa vị của họ đối với nền cần lao, bèn là tùy

theo những hành động xã hội, họ tự nhiên phải tham gia. Tỉ

dụ như những người cùng một khu vực, thường kết thành một

thị xã thể nào, thì những người cùng một công nghệ hay cùng

một chức nghiệp tự nhiên cũng hướng về cùng một tổ chức

chuyên nghiệp thể ấy. Đó là một xu hướng hiển nhiên, đến

nỗi các nhà xã hội học thường cho là những cơ quan có lẽ

không thiết yếu, nhưng ít nhất cần thiết của xã hội.

  1. Thánh TÔMA nói : Trật tự vốn nảy ra bởi những yếu

tố khác nhau, nhưng xếp đặt điều hòa theo một nguyên tắc

duy nhất. Vậy tất cả mọi công dân là yếu tố của xã hội được

hiệp lại với nhau theo một nguyên tắc duy nhất, thì xã hội mới

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 132

có quy tắc tuyệt đẹp. Nguyên tắc duy nhất đó, là tăng gia sản

xuất mỗi người theo nghề nghiệp riêng, hay là một lòng

phụng sự cởi mở thành thực, nhất thống mọi hành động riêng

của các chủ nhân và công nhân. Hay nói rộng ra, về đủ mọi

chức nghiệp, nguyên tắc ấy sẽ là công ích, mà tất cả mọi

chức nghiệp phải gây dựng theo năng lực riêng và bằng

những minh phối đủ mọi hành động của chúng. Sự minh phối

này sẽ càng tăng cường và càng hiệu nghiệm, thì tư nhân và

các chức nghiệp sẽ càng trung thành và tiến triển hơn trong

phạm vi chuyên biệt của họ.

Suy đến những điều nói trên ta phải kết luận rằng:

những liên công nghệ kia, đối nội thì phải đề cao ích lợi

chung của từng công nghệ trên hết. Những đối ngoại, quan

trọng nhất là liệu thể nào cho những hành động chung luôn

luôn quy về công ích quốc gia. Còn những vấn đề do ích lợi

riêng của từng chuyên nghệp gây nên, nhất là những vấn đề

thuộc về lợi ích của các chủ nhân hay lợi ích của các công

nhân; tỉ dụ như lúc bên này phải đề phòng khỏi bị bên kia

lạm dụng hay làm hại, thì bên nào bên nấy sẽ bàn luận riêng

để tìm giải pháp cho từng vấn đề một.

  1. Ta cần gì phải nhắc lại những huấn dụ của Đức Lêô

XIII về các chính thể. Ai cũng còn nhớ. Vậy những huấn dụ

đó ta rất có thể áp dụng vào những liên đoàn công nghệ, phải

lập ra trong đủ mọi chi nhánh chuyên biệt. Ta nói: có thể áp

dụng, vì phạm vi xã hội có phần nào giống nhưng cũng có

phần khác hẳn phạm vi chính trị. Ý Ta rằng: trong phạm vi

chuyên nghiệp cũng như trong phạm vi chính trị, dân chúng

có quyền tự do nhận chính thể này hay chính thể khác, miễn

là mọi đòi hỏi công bằng và công ích được tuân giữ, tôn

trọng.

TỨ THẬP NIÊN 133

Những dân cư cùng một thành thị, quyết theo đuổi một

mục đích chung, thì đã có thói quen lập những hội đoàn thích

hợp với mục đích ấy. Rồi ai cũng tự do nhập hội hay đứng ở

ngoài tùy ý. Vậy những người cùng một chuyên nghiệp cũng

thế. Họ có quyền tự do hội họp, để thực hành những công

việc liên hệ với chuyên nghiệp của họ. Đức Tiên Giáo hoàng

đã diễn tả một cách tuyệt bút, rõ rệt và tỉ mỉ, những hội đoàn

ấy phải tổ chức như thế nào. Ta chỉ cần nhấn mạnh thêm vào

một điều rất quan trọng: loài người ai nấy cũng tự do lập hội

tư nhân, và tổ chức nội quy hay định luật tùy theo mục đích

riêng của từng đoàn. Vậy quyền tự do lập hội trong một chi

nhánh chuyên nghiệp gồm cả quyền lập những liên hội mở

rộng cho những nghề nghiệp khác nhau. Mong những hội

đoàn tư nhân đã được thiết lập và đang kết quả tốt đẹp, mở

đường cho những liên đoàn ta mới nhắc đến và căn cứ vào

những nguyên tắc xã hội học công giáo, tận tâm hiệp lực lập

ra càng sớm càng hay.

Đề cao một nguyên tắc chính đáng chỉ dẫn được

mọi hành động kinh tế.

  1. Còn một việc khẩn cấp nữa, cũng liên hệ với những

việc kể trên: xã hội không thể nào xây dựng được trên nền

tảng giai cấp tương tranh. Cùng một lẽ ấy, nền kinh tế không

thể nào bền vững trên luật tự do cạnh tranh. Tất cả mọi lầm

lỗi của kinh tế cá nhân học khoa, từ ở nguồn gốc ấy mà ra, là

một ảo tưởng. Kinh tế học khoa này, vì quên bỏ hay chưa biết

tính cách xã hội và luân lý của kinh tế, đã lầm tưởng rằng:

chính quyền phải bỏ mặc kinh tế phát triển theo luật riêng của

nó, mà không bao giờ can thiệp cưỡng bách bất cứ bằng cách

nào. Luật cung cầu hay tự do cạnh tranh, là một điều luật

vững chắc chỉ dẫn kinh tế mạnh mẽ hơn trí tuệ minh mẫn của

bất cứ ai. Áp dụng luật tự do cạnh tranh một cách điều độ

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 134

phải chăng, thật là một sự hợp lý và hữu ích. Nhưng luật ấy

không sao làm luật mực căn bản cho một nền kinh tế công

bằng. Những biến cố đã xảy ra, từ khi thế giới tuân theo chủ

nghĩa cá nhân thiệt hại đó, chứng minh điều ấy quá rõ rệt.

Thành ra, không việc gì khẩn cấp cho bằng lập lại cả nền kinh

tế trên một nguyên tắc công bằng và hiệu nghiệm hơn. Luật

kinh tế độc tài vừa mới thay thế luật kinh tế cá nhân, cũng

không thể nào đóng vai chính này được. Luật kinh tế độc tài,

tự nhiên vô độ và cường bạo. Muốn gây lợi ích cho nhân loại,

nó phải tìm sẵn một ngoại cương, và một năng lực chỉ huy, tự

nhiên nó không có. Vậy, để nghiêm ngặt chỉ huy những lực

lượng kinh tế vô độ này, ta phải đề cao những nguyên tắc cao

quý hơn, tức nguyên tắc công bằng và bác ái xã hội. Công

bằng xã hội phải tẩm nhiễm tận gốc mọi cơ cấu xã hội và đời

sống xã hội nhân quần. Bằng chứng rõ ràng nó có hiệu

nghiệm và ảnh hưởng sâu rộng, là nó tạo ra một quy tắc pháp

luật và xã hội thấm nhập luôn cả nền kinh tế.

  1. Còn bác ái xã hội phải nên như hồn sống của xã tắc,

do chính quyền lập ra bênh vực và bảo vệ đắc lực. Chính

quyền càng nhường cho kẻ khác những việc không phải là

việc riêng mình, thì càng thuận bề dễ dàng làm trọn phận sự

tối hệ này.

Còn một điều đáng ghi nhớ : về phương diện kinh tế,

các dân nước hỗ tương, tùy thuộc và liên kết mật thiết với

nhau. Nên họ phải trao đổi ý kiến và tận tâm hiệp lực với

nhau để nhờ những giao kèo và những cơ cấu khôn ngoan,

mà gây dựng một nền công tác giao dịch hữu ích có lợi nhiều

trong phạm vi kinh tế vạn quốc.

Vậy tu bổ lại mọi thành phần của cơ thể xã hội, phục

hưng lại trong phạm vi kinh tế một nguyên tắc chỉ huy công

bằng, thì tổ chức xã hội sẽ lại hoàn bị, và đáng được ta áp

TỨ THẬP NIÊN 135

dụng vào nó những lời vàng ngọc Thánh Phaolô đã nói riêng

về nhiệm thể Chúa Kitô rằng: “Nguyện xin Người chiếu theo

nguồn vinh hiển phong phú Người mà ban cho anh chị em

dũng lực của Chúa Thánh Linh, để anh chị em đủ sức cải hóa

lòng trí theo ý Chúa.”

Mới đây ai cũng thấy xuất hiện một tổ chức đặc biệt

vừa có tư cách nghiệp đoàn, vừa có tư cách hợp tác xã. Vì tổ

chức ấy có liên hệ với mục đích bức thông điệp này, nên

thiết tưởng ta phải nhắc đến và thêm một vài nhận xét thích

nghi.

Chính phủ công nhận tổ chức nghiệp đoàn ấy, là một tổ

chức hợp pháp. Nhờ đó tổ chức nghiệp đoàn này hầu như độc

quyền, để đại diện các chủ nhân và công nhân: để ký kết

những giao kèo hay những điều ước chung về đủ mọi vấn đề

cần lao. Ai muốn thì tùy ý gia nhập hay đứng ở ngoài nghiệp

đoàn cũng được. Về đàng ấy nói được, nghiệp đoàn này là

một tổ chức tự do. Vì, về đàng khác, nó có tư cách bắt buộc.

Các nhân viên đủ mọi chuyên nghiệp, thoạt khi đã nhập vào

thì phải nộp tiền nguyệt liễm. Họ cũng bắt buộc chịu đủ mọi

đảm phụ đặc biệt bất cứ họ là chủ nhân hay là công nhân.

Hơn thế nữa, mọi giao kèo cần lao nghiệp đoàn ký kết, cũng

buộc chung tất cả các nhân viên. Dầu sao ta cũng nhận thực,

đã có lời công nhiên tuyên bố rằng: nghiệp đoàn pháp lý này

không bải bỏ những công đoàn đã có sẵn.

  1. Các nghiệp hội nhập vào tổ chức ấy, kết tinh nên

bởi những đại diện nghiệp đoàn chủ nhân hay công nhân,

cùng một chức nghiệp hay một công nghệ. Họ được chứng

nhận là những cơ quan hay những cơ cấu của chính phủ, để

điều khiển và minh phối những hành động riêng của từng

nghiệp đoàn khi những hành động ấy liên hệ tới những lợi ích

chung. Các cuộc đình công hay đồng giải công đều cấm ngặt.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 136

Các nhân viên xích mích điều gì không sao đồng ý được, thì

ban chấp hành nghiệp đoàn can thiệp và toàn quyền giải

quyết vấn đề.

Một tổ chức như vậy, dầu ta chỉ diễn tả sơ qua, cũng đủ

rõ là một tổ chức có ích lợi nhiều. Những điểm chính là : cộng

tác điều hòa giữa các giai cấp, những hành động và tổ chức

của chủ nghĩa xã hội được loại bỏ; quyền chỉ huy êm đẹp của

một ban chấp hành chuyên biệt.

Nhưng đã nêu lên một vấn đề quan trọng thể ấy, ta nên

căn cứ vào những nguyên tắc kể trên, và những nguyên tắc

kèm theo sau, mà nhận rằng: không thiếu người có thiện chí

lo ngại, vì sợ chính quyền vùi lấp những sáng kiến tư nhân,

thay cho cứ đứng ở ngoài bênh vực và ủng hộ đắc lực. Người

ta lại e rằng: tổ chức ấy dần dần sẽ hóa nên một tổ chức viên

chức chính trị. Dầu nó hữu ích nhiều như ta vừa mới nói, nó

rất có thể sai mục đích mà phụng sự những chủ nghĩa chính trị

riêng biệt, thay vì thành tâm gây dựng một đời sống xã hội

điều hòa hơn.

  1. Ngoài ra theo thiển ý của ta, để gây dựng một đời

sống xã hội điều hòa đáng mong thể ấy, và gây lợi ích chung

của cộng đồng xã hội; trước hết và trên hết ta cần phải có ơn

Chúa ban dồi dào rồi mới cần đến sự hợp tác chặt chẽ của tất

cả mọi người còn thiện chí. Vật đích cao siêu ta đang nêu

khởi, cũng phải có sự cộng tác của những người chuyên môn

về kỹ thuật, chuyên nghiệp về xã hội, và hơn thế nữa, phải

căn cứ vào học thuyết và những thực hành của Thiên Chúa

giáo, không phải do công giáo tiến hành thân hành chỉ huy:

(công giáo tiến hành không trực tiếp tham gia vào những hành

động nghiệp đoàn hày chính trị) bèn là do những người đã

được công giáo tiến hành huấn luyện theo những nguyên tắc

xã hội công giáo, bởi vậy đã sẵn sàng trở nên những cán bộ

TỨ THẬP NIÊN 137

thực hành và truyền bá học thuyết xã hội ấy, dưới quyền chỉ

dẫn của giáo hội. Phải, giáo hội trong phạm vi kinh tế xã hội

ta mới diễn tả, cũng như trong đủ mọi phạm vi đời sống liên

hệ với luân lý, cũng không thể nào quên nhãng hay bỏ phớt

qua sứ mạng gìn giữ và rao giảng chân lý Thiên Chúa đã uỷ

cho. Nhất là lúc các vấn đề luân lý được nêu lên và được giải

quyết.

  1. Phục hưng lại nền phong hóa mỹ tục.

Ngoài ra những điều ta mới nhắc lại về việc tu bổ và

hoàn tất quy tắc xã hội, sẽ không bao giờ thực hiện được, nếu

ta không phục hưng lại nền thuần phong mỹ tục. Điều ấy lịch

sử cũng chứng minh không ai từ chối được. Xưa kia đã có một

xã tắc, dầu không hoàn bị, nhưng cũng thích hợp với thời thế

hoàn cảnh và những nguyên tắc của đạo lý tự nhiên. Xã tắc

ấy đã biến mất từ lâu. Không phải vì nó không đủ sức biến

hóa cho thích hợp với những hoàn cảnh và những nhu cầu

mới đâu. Lý do chính hoặc là vì con người theo tính vị kỷ

cứng cỏi không chịu mở cửa cho số người ngày càng thêm

đông, tình nguyện xin gia nhập vào tổ chức của họ; hoặc là vì

loài người bị những lý thuyết tự do quyến rũ làm mê ảo, hay

những tà thuyết khác, khiến họ trục xuất mọi xã tắc, không

còn chịu tùng phục bất cứ quyền bính nào nữa.

Vậy ta chỉ còn một điều cần giải bày nữa, diễn tả chế

độ kinh tế hiện tại, và chủ nghĩa xã hội mà ta không ngừng

phi bác nó. Rồi luận xét đôi bên theo công lý. Đã khám phá

ra lý do của mọi tệ đoan hiện tại, thì ta sẽ đề nghị phương

dược cần thiết nhất và hiệu lực nhất, tức là cải tạo phong tục.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 138

III. NHỮNG BIẾN CỐ LỚN ĐÃ XẢY RA TỪ THỜI

ĐỨC LÊÔ XIII

Nền kinh tế biến chuyển

66. Kể từ Đức Lêô cho đến bây giờ, nền kinh tế và chủ

nghĩa xã hội đã biến đổi tận cội rễ.

Nền kinh tế đã biến đổi là một hiện tượng lịch sử quá

hiển nhiên. Anh em thừa biết chế độ kinh tế mà Đức Tiên

Giáo hoàng đáng ghi nhớ trong bức thông điệp RN, đã có

kiến thức hơn hết là chế độ tư bản và cần lao bổ khuyết nhau:

người thì xuất vốn, người thì làm công. Ngài nói rất đúng

rằng: tư bản không cần lao, cần lao thiếu tư bản, thỉ cả hai

cũng không thể nào có được.

Chế độ tư bản vốn tính không hư ác, nhưng đã hư hỏng

nhiều. Chế độ ấy được Đức Lêô XIII hết sức tìm tu bổ lại

theo công lý. Tự nhiên nó không đáng kết án đâu. Nó hư ác

không phải vì nguyên tắc căn bản. Nó hư đi dần dần, vì người

tư bản mướn thợ thuyền để xí nghiệp và chế độ kinh tế gây

lợi ích riêng, nên họ không quản gì đến nhân cách của công

nhân, tính cách xã hội của cần lao, và những đòi hỏi của công

bằng và công ích. Đó là phạm đến quy tắc tự nhiên của xã

hội.

Đàng rằng, hiện nay chế độ ấy không được thực hiện

noi theo ở khắp mọi nơi. Hiện có một chế độ khác nữa hấp

dẫn một phần quan trọng nói được là phần đa số của nhân

loại. Tỉ dụ như trong giới canh nông, biết bao người còn sinh

sống nguyên vì những công việc liêm chính xứng đáng.

Những chế độ kinh tế ấy cũng không thiếu sự trắc trở đáng lo

Đức Tiên Giáo hoàng đã nhắc đến, và chính ta cũng đã lược

qua trong thư này.

TỨ THẬP NIÊN 139

Nhưng từ khi bức thông điệp của Đức Lêô XIII được

phát hành, vì thế giới được kỹ nghệ hóa nhiều, thì chế độ tư

bản ngày càng ảnh hưởng sâu rộng. Nó dần dần xâm chiếm

và ăn sâu vào tình trạng kinh tế xã hội hiện tại. Cả những

người đứng ở ngoài cũng thụ hưởng nhiều, thụ hưởng cả phần

ích và phần họa của nó nữa. Thành ra nó ghi khắc vào thế

giới ngày nay, những tính cách riêng của nó.

Vì thế lược thảo những biến cố lớn đã xảy ra từ đời Đức

Lêô XIII đến bây giờ không những là giúp ích cho những

người thụ hưởng đại kỹ nghệ mới và chế độ tư bản mà thôi,

mà lại mưu ích cho cả nhân loại nữa.

Nền kinh tế độc tài nhường chỗ cho chủ nghĩa tự do

cạnh tranh.

  1. Đặc điểm của đời ta bây giờ không phải chỉ là sự tập

trung những quyền hành mạnh lớn, thành một quyền kinh tế

trong tay một số ít người, không phải là chủ nhân, mà chỉ là

thụ thác hay quản lý, tùy ý sử dụng.

Chuyên quyền ấy mạnh nhất ở những người tích trữ và

độc tài cầm giữ tiền bạc. Số tiền được thu lại, họ vừa định

cách dùng, vừa phân phát hoàn toàn theo ý muốn. Nhờ đó

trong cơ thể kinh tế, họ là quả tim phát máu, họ là nguồn sống

còn. Không được họ đồng ý, không ai còn thở được.

Chuyên quyền kinh tế và tài chánh tập trung trong tay

một số ít người như thế, là đặc điểm nền kinh tế xã hội hiện

tại. Nó là kết quả tự nhiên của một chủ nghĩa cạnh tranh hoàn

toàn tự do, không có chừng hạn. Kẻ mạnh quyền đứng vững,

còn kẻ khác đều ngã thua. Kẻ mạnh quyền sự thường là

những ai? Thưa sự thường là những người vô lương tâm, và

tranh đấu luôn bằng võ lực, tâm lý.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 140

Chuyên quyền kinh tế và tài chánh, tự nhiên thúc đẩy

kẻ cầm nó trong tay, mưu đồ cướp luôn cả chính quyền, theo

ba giai đoạn: thứ nhất là họ lo sao cho được độc quyền về

kinh tế. Thứ hai họ nhảy vào chiến trường chính trị. Đã lấy

chính quyền rồi, họ mới dùng những thủ đoạn và sức mạnh

của nó để tiếp tục tranh đấu trong phạm vi kinh tế. Thứ ba là

sự tranh đấu dữ dội ấy chuyển sang phạm vi quốc tế: hoặc các

chính phủ dùng quyền và góp sức với nhau để mở mang

nguồn lợi kinh tế của những người thuộc thẩm quyền của họ,

hoặc chính phủ tự đắc họ mạnh sức rộng quyền về kinh tế để

giải quyết mọi vấn đề chính trị, theo lợi ích riêng của họ.

Hậu quả khốc hại.

  1. Những hậu quả khốc hại do chủ nghĩa cá nhân áp

dụng và kinh tế đã gây nên, thì anh em thừa biết và không

ngừng cảnh cáo: chế độ tự do cạnh tranh đã tự tiêu, thay thế

nó bây giờ chế độ kinh tế độc tài mới xuất hiện. Trước đây

người ta chỉ tham lợi, bây giờ họ lại tham quyền. Đời sống

kinh tế đã trở nên hung ác, vô tình, cứng cỏi thật là kinh

khủng. Lại thêm vào đó những phận sự riêng của chính

quyền, đều lẫn lộn với những hành động kinh tế. Nguy nhất

là chính quyền suy đồi. Thay cho trị dân một cách cao thượng,

vô vị lợi và khách quan theo những đòi hỏi của công ích và

công bằng; các chính phủ chỉ còn là nô lệ, là khí cụ vô ý thức

phụng sự mọi dục tình và mọi tham vọng của Tư Lợi. trong

phạm vi quốc tế, thì từ ở nguồn duy nhất này lại chia ra hai

dòng khác nhau : trước là chủ nghĩa chủng tộc quốc gia, hay

chủ nghĩa kinh tế độc tài; sau (cũng đáng ghét và thiệt hại

lớn) là chủ nghĩa quốc tế, hay chủ nghĩa tiền bạc quốc tế độc

tài. Tức là, chỗ nào có lợi, chỗ ấy mới là quê tôi.

TỨ THẬP NIÊN 141

Phương dược hiệu nghiệm để chữa tệ đoan.

  1. ta nên chữa tệ đoan kinh khủng này bằng những

phương dược nào ? trong phần thứ hai bức thông điệp này, ta

đã chỉ dạy rõ ràng. Ta chỉ cần nhắc lại những điểm chính sau

đây: chế độ kinh tế hiện tại căn cứ vào tư bản và cần lao. Vậy

ta hãy áp dụng vào hai yếu tố căn bản ấy, những nguyên tắc

lý trí và xã hội học công giáo. Nhận thực và thực hành những

nguyên tắc tắc ấy vào sự cộng tác giữa cần lao và tư bản, thì

mới giải quyết vấn đề theo công lý. Không muốn vấp phải

hoặc vào cá nhân chủ nghĩa, hoặc vào chủ nghĩa xã hội, ta lại

phải đề cập hai tính cách cá nhân và xã hội của tư bản và của

cần lao. Tư bản phải đối đãi với cần lao và cần lao phải đối

đãi với tư bản theo đúng luật công bằng giao hoán, nhờ đức

bái ái của Chúa Kitô bổ khuyết không ngừng. Chế độ tự do

cạnh tranh lại phải thực hành trong những chừng hạn của công

lý. Chuyên quyền kinh tế lại phải thân thiết tùng phục chính

quyền trong đủ mọi phạm vi chính quyền phải can thiệp. Sau

hết các cơ cấu của từng xã hội quốc gia, phải cải hóa mọi sự

giao dịch giữa nhân loại, theo những đòi hỏi của công ích, tức

là công bằng xã hội. Nhờ vậy nền kinh tế rất quan trọng trong

đời sống xã hội sẽ quay về với sự chính trực và thế quân bình

tự nhiên của xã tắc.

Những biến chuyển của chủ nghĩa xã hội.

70. chủ nghĩa xã hội, mà Đức Lêô XIII đã nhắm đến

trong bức thông điệp RN cũng biến chuyển nhiều. Nói được

là không kém chế độ kinh tế. Đời Đức Tiên Giáo hoàng, chủ

nghĩa xã hội còn thống nhất. Về phần học thuyết nó rất rõ

ràng, về phần tổ chức nó thành một cơ thể duy nhất. Nhưng từ

đó, nó đã chia làm hai phe, không những tương phản nhau mà

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 142

nhiều khi lại kình địch nhau kịch liệt. Nhưng phe nào, cũng

giữ tư cách phản giáo mà chủ nghĩa ấy có sẵn ngay từ đầu.

a) Phe quá khích hay là cộng sản.

Phe thứ nhất cũng thuộc về chủ nghĩa xã hội đã biến

chuyển luôn với chế độ kinh tế tư bản, mà quy về cộng sản.

Cộng sản trong lý thuyết cũng như trong thực hành, không

những ngấm ngầm mà lại công khai, không những theo một

đường lối quanh co, mà lại theo một đường lối thẳng băng,

bằng những phương pháp hiệu lực kể luôn cả võ khí, để

quyết theo đuổi và đạt tới hai vật đích rõ ràng:

Gây sự giai cấp tương tranh kịch liệt, bài trừ mọi quyền

sở hữu. Nó quyết đấu tranh cho đến khi đạt chiến thắng.

Không có việc gì nó không dám làm. Không có sự gì nó kính

trọng. Chỗ nào nó đã chiếm lấy chính quyền, nó tỏ mình là dã

man và vô nhân đạo đến cực độ. Ai chưa thấy thì không dám

tin. Những việc nó làm toàn là những việc kỳ khôi kinh

khủng. Những sự bách hại, những bại hoại nó đã chồng chất

ở miền đông Âu Châu và ở miền Viễn đông, chứng tỏ điều

ấy rõ ràng. Kinh nghiệm hằng ngày, như ai cũng thừa biết,

cũng làm chứng cộng sản là kẻ thù địch của giáo hội và

Thiên Chúa nữa. Thiết tưởng ta không cần nói dài về tính

cách vô nhân đạo và bất công của cộng sản, cho các tín hữu

của giáo hội ý thức. Nhưng ta rất ưu sầu khi thấy kẻ cầm

quyền vô tư lự, hầu như cứ khinh thường một tai họa lớn như

thế và cứ thụ động chẳng làm gì để ngăn cản những tà thuyết

cộng sản truyền bá khắp nơi, và những việc hung ác sát nhân

nó thường dùng toàn là những sự ghê tởm đưa xã hội đến bại

hoại. Nhưng đáng kết án hơn cả là những người biếng nhác

thụ động, không bài trừ hay cải hóa những tình trạng bất công

làm cho đại chúng tức tối cực điểm, và như vậy cứ mở đường

cho đảo lộn và phá hoại cả xã hội.

TỨ THẬP NIÊN 143

b) Phe điều độ, còn giữ tên chủ nghĩa xã hội.

  1. Phe còn giữ tên là chủ nghĩa xã hội, thì quả thật nó

điều độ hơn. Nó nhất định không dùng võ lực. Nhưng sự

thường nó không loại ra hẳn hai vật đích cộng sản hằng theo

đuổi, tức là sự giai cấp tương tranh và sự bãi bỏ quyền sở hữu.

Hai vật đích đó, chủ nghĩa xã hội cũng theo đuổi, nhưng một

cách điều độ và êm dịu hơn.

Hơn thế nữa, hầu như chủ nghĩa xã hội vừa khiếp sợ

những nguyên tắc nó khởi xướng, vì kinh khủng vì cộng sản

áp dụng những nguyên tắc ấy một cách quá hung bạo, nên nó

dần dần thiên về học thuyết xã hội công giáo, và càng ngày

càng bước đến gần.

Ta không khỏi ngạc nhiên khi thấy rất nhiều đòi hỏi của

chủ nghĩa xã hội thật giống như những yêu cầu chân chính

của những người tận tâm tìm cải hóa xã hội theo học thuyết

công giáo.

Về hai vật đích cộng sản theo đuổi, nó điều độ và êm

dịu hơn. Các giai cấp tương tranh mà bỏ óc kình địch và oán

giận nhau, tất nhiên sẽ quay về việc tranh luận tử tế, tìm phân

công chia lợi cho công bằng. Việc ấy chưa nói được là hòa

bình và hạnh phúc xã hội ai cũng mong ước, nhưng dầu sao

cũng là một bước đầu tiên trên đường đưa tới sự cộng tác giữa

các chuyên nghiệp.

Kẻ quyết bài trừ quyền tư hữu, cũng bớt phần hung

hăng. Họ không còn đòi giữ các khí cụ sản xuất độc quyền

nữa, một chỉ đòi lại cho xã hội quyền ưu tiên mà phe tư bản

đã cướp lấy và dành riêng một cách vô lý. Quả thật quyền ưu

tiên đó không phải là của tư bản, mà bèn là của chính quyền.

Cứ mãi như vậy, chắc có ngày chủ nghĩa xã hội điều độ này

sẽ không khác chủ nghĩa xã hội công giáo bao nhiêu. Ta phải

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 144

nhận thực rằng có những thứ của cải phải dành cho cộng

đồng xã hội, vì những của cải ấy ban cho chủ nhân một

chuyên quyền kinh tế mạnh. Vì nó gây nguy cho công ích, thì

không nên cho chủ nhân cầm trong tay.

Những yêu cầu và những khiếu nại ấy, thích hợp với

công lý, không có điều gì trái ngược với chủ nghĩa chân chính

của công giáo, nhưng cũng không nói được là quan điểm

riêng của chủ nghĩa xã hội. Những kẻ không đòi hỏi điều gì

khác, thì thật là không có lý do nào mà nhập vào phe xã hội.

Đàng khác anh em chớ lầm tưởng các phe đảng không

cộng sản, nhưng cũng tuyên xưng chủ nghĩa xã hội, đều biên

ghi điều ấy trong chương trình riêng, hay đều đồng ý thực

hiện điều ấy trong hành động của họ. Nói rộng ra, các phe

đảng ấy chỉ đồng ý về một điểm không bài trừ sự giai cấp

tương tranh và quyền tư hữu, mà chỉ làm cách nào cho hai

điều đó bớt phần thiệt hại thôi.

Có cách nào giải hòa với chủ nghĩa xã hội chăng ?

  1. Vì vậy chỗ nọ chỗ kia cũng có người quyết đoán

một cách vô lý hay nêu lên vấn đề rằng: những nguyên tắc

chủ nghĩa xã hội đã êm dịu đi mà biến dần, thì chủ nghĩa xã

hội công giáo cũng phải biến dần cho điều độ hơn, để có thể

đón tiếp chủ nghĩa xã hội trên một đường lối chung trung bình

hơn, thật không thiếu gì những kitô hữu lầm tưởng như vậy.

Họ tưởng hấp dẫn được phe xã hội về với họ, nhưng uổng

công. Ai muốn làm tông đồ ngay giữa các đảng viên chủ

nghĩa xã hội thì phải đề cao và truyền bá chân lý của đạo

công giáo công khai đầy đủ vẹn toàn, không khi nào thiện

cảm với tà thuyết nào. Nếu họ thành thực tuyên xưng đạo

phúc âm, thì trước hết họ phải trình bày cho các đảng viên

chủ nghĩa xã hội rằng: Những khiếu nại của họ càng thích

TỨ THẬP NIÊN 145

hợp với công lý thì càng được đức tin công giáo bảo vệ mạnh

mẽ, và càng chắc được chủ nghĩa bái ái của đạo công giáo

thêm sức nhiệm cho họ được thỏa mãn trong thực hành.

Về hai mục đích: giai cấp tương tranh và bài trừ quyền

tư hữu, chủ nghĩa xã hội đã biến dần và êm dịu đi. Nhưng ta

đâu có nói được rằng về hai vật đích ấy chủ nghĩa xã hội

không còn đáng trách điều gì. Chủ nghĩa ấy đã bỏ óc phản

tôn giáo Chúa Kitô chưa ? Đó là vấn đề khiến bao tín hữu kitô

còn ngần ngại.

  1. Bao tín hữu nhận thực rằng: họ không sao loại ra hay

bãi bỏ những nguyên tắc xã hội của đạo công giáo. Nên họ

đưa mắt nhìn về tòa thánh tha thiết thỉnh cầu ta giải quyết vấn

đề cho họ biết rõ. Chủ nghĩa xã hội đã cải tà quy chính, thì đã

đủ thành thực cho các tín hữu trung thành với học thuyết xã

hội công giáo được nhập đảng họ chưa ? Ta chiều theo tình

cha con không muốn cho họ nóng ruột đợi chờ. Nên ta quyết

định như sau: chủ nghĩa xã hội bất phân phạm vi học thuyết,

lịch sử hay thực hành, dầu đã quay về với chân lý và công

bằng một phần nào, như ta vừa mới nói. Nhưng cũng không

thể được đồng nhất với học thuyết xã hội công giáo, vì quan

niệm xã hội của nó trái nghịch với quan niệm công giáo một

trăm phần trăm.

Về quan niệm xã hội nói chung, quan niệm tư cách xã

hội của con người nói riêng; chủ nghĩa xã hội trái hẳn với

công giáo.

Theo quan niệm công giáo, con người có tư cách xã hội

mà lại được sống ở dưới thế, cứu cánh là phải sống trong xã

hội dưới quyền tối cao của Thiên Chúa, là phương pháp đào

tạo và phát triển đủ mọi tài năng hồn xác của mình, để tán tạ

và làm vinh danh Đấng dựng nên mình, rồi tận tâm với nghề

nghiệp và sứ mệnh riêng, hầu cho được hưởng phúc đời này

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 146

và đời sau. Chủ nghĩa xã hội thì khác hẳn. Nó không biết gì

đến cứu cánh cao thượng ấy là cứu cánh của tư nhân và xã

hội. Nó đặt cứu cánh cộng đồng nhân quần, ở chỗ gây dựng

các điều kiện cần thiết cho ai nấy cũng được khoan khoái

thảnh thơi.

  1. Một nhận xét : cần lao tổ chức cho mọi người cộng

tác vào, theo tài theo sức, thì hiệu lực hơn là bỏ mặc từng

người làm việc lẻ tẻ. Vậy chủ nghĩa xã hội căn cứ vào đó mà

kết luận rằng: mọi hành động kinh tế cần phải quốc hữu hóa,

mà đặt dưới quyền chỉ huy của xã hội, nhất là về phương diện

vật chất: vì theo ý họ đó là mục đích duy nhất của nền kinh

tế, và là một sự cần thiết. Nên theo chủ nghĩa xã hội, về đủ

mọi việc có liên quan với sự sản xuất, thì mỗi một tư nhân

phải đặt mình trong tay xã hội và quyết tòng phục.

Hơn thế nữa, phải chiếm hữu những tài sản rộng lớn

gồm đủ mọi phúc lợi đời sống có thể gây ra được. Điểm ấy

tối quan trọng nên con người phải hy sinh những của quý hơn

là của phần hồn, kể luôn quyền tự do để hiến toàn thân lệ

thuộc một tổ chức sản xuất khổng lồ và hợp lý trí hơn.

Tổ chức xã hội sản xuất này, phạm đến phẩm cách đặc

biệt của tư nhân. Nhưng phần thiệt hại này đối với những

phúc lợi đủ thứ, mà xã hội sản xuất và phân phát cho tư nhân,

cũng chẳng thấm vào đâu. Tư nhân áp dụng những phúc lợi

do xã hội, gây nên cho nhu cầu và sở thích riêng thì sung

sướng biết bao.

  1. Lý tưởng xã hội, mà chủ nghĩa xã hội mong đến,

một đàng không thể nào thực hiện được ngoài sự áp bức cực

độ của chính quyền; mặt khác cũng mặc ai nấy sống giả dối

tung hoành, vì không còn chính quyền nào là chân thực. Lý

do là không chính quyền nào căn cứ vào những phúc lợi vật

TỨ THẬP NIÊN 147

chất thế tục được. Quyền bính chân chính chỉ do Thiên Chúa,

vừa là nguyên lý vừa là cứu cánh của muôn vật thụ sinh.

Tín đồ công giáo, đảng viên xã hội, là hai danh hiệu

mâu thuẫn với nhau.

Chủ nghĩa xã hội như bất cứ tà thuyết nào khác có phần

sai, nhưng cũng có phần đúng (các Đức Giáo hoàng cổ kim

đều xác nhận điều đó).

Nhưng dầu sao nó ăn cứ vào một quan niệm xã hội sai

lạc, không thể nào hòa giải với quan niệm của đạo công giáo

xác đáng.

Hòa hợp chủ nghĩa xã hội với tôn giáo, và nhất là công

giáo là một mâu thuẫn khó giải quyết được. Không ai là đảng

viên chủ nghĩa xã hội và đồng thời giữ chức vị kitô hữu kiểu

mẫu được.

Chủ nghĩa xã hội tái giáo dục tuổi thanh niên.

  1. Những điều ta mới nhắc lại, và còn công nhiên công

bố tại đây, đều phải áp dụng vào một tổ chức mới của chủ

nghĩa xã hội. Tổ chức ấy chưa mấy ai biết rõ, nhưng nó bành

trướng mạnh trong bao phe đảng thiên về chủ nghĩa xã hội

hiện tại.

Nó cải hóa mọi tâm hồn và cả những thuần phong mỹ

tục nữa. Mượn sức nhiệm của một tình nghĩa bè bạn giả mạo,

nó hấp dẫn tuổi thanh niên nói riêng. Nhưng nó cũng tìm tẩm

nhiễm đại chúng để đào tạo một con người xã hội hóa theo

chủ nghĩa của nó.

Trong bức thông điệp “Thầy Chí Thánh” ta đã giảng giải

về những nguyên tắc căn bản của một nền giáo dục Kitô hóa.

Vậy ta không thể nào bỏ dịp này nữa, mà không chứng tỏ

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 148

điều hiển nhiên này: mọi quan điểm và mọi thực hiện của

chủ nghĩa xã hội về đàng giáo dục, đều trái ngược với

nguyên tắc và tiêu chuẩn nền giáo dục của Chúa Kitô.

Tất cả những người nào không chịu góp sức nhiệt tâm

mạnh bạo, chống trả những nguy nan do chủ nghĩa xã hội gây

nên, thì hoặc giả vờ khinh thường, hoặc thành thực không biết

những nguy nan kinh khủng ấy. Nên phận sự của ta là tiên

báo cho họ biết những nguy nan đang đe dọa những người ấy,

mà nói quyết rằng:

“Nền giáo dục mới của chủ nghĩa xã hội, thì cha đẻ là

chủ nghĩa cá nhân tự do: người thừa kế là cộng sản Nga xô”.

Những kitô hữu đã nhập vào chủ nghĩa xã hội.

  1. Sự thật có vậy, thì anh em đoán được ta ưu sầu biết

bao, khi thấy một số đông con yêu của ta rời bỏ chủ nghĩa

công giáo mà nhập vào hàng ngũ chủ nghĩa xã hội. Ta không

sao tin được ! lòng tin của họ còn toàn vẹn, ý chí của họ còn

chính trực. Trong số tín hữu đó, người thì công khai ghi tên và

tuyên xưng chủ nghĩa xã hội nói trên, người thì trôi theo nó,

người thì bị bắt buộc công khai hay ngấm ngầm phải nhập vào

các phe đảng xã hội.

Vì tình nghĩa cha con, ta hết sức lo âu và hằng tự hỏi,

tìm hiểu làm sao mà họ đã xa vào cái trụy lạc ấy. Ta đã nghe

vang dội bên tai những lời họ nói chữa mình rằng: giáo hội và

các tín hữu hằng đi sát với kẻ giầu sang mà chẳng lo gì đến

công nhân, chẳng làm gì để cứu họ. Nên họ không có phương

cách nào để bảo vệ quyền lợi của họ, ngoài phương cách

nhập vào chủ nghĩa xã hội.

Thê thảm thay ! đời nào cũng đã từng có, và đời ta bây

giờ vẫn còn bao nhiêu người dầu tự đắc là kitô hữu, dầu còn

ghi nhớ luật công bằng và bác ái cao siêu của phúc âm; họ

TỨ THẬP NIÊN 149

không những bắt buộc phải trả cho từng người, những cái là

của họ, mà lại phải cứu đỡ anh em túng thiếu như là cứu trợ

chính Chúa Kitô, ấy thế mà họ vẫn cứ một lòng áp bức công

nhân vì tư lợi.

Hơn thế nữa, cũng có kẻ lạm dụng đạo thánh để che

khuất những sự bất công của họ, và thuận bề bác bỏ những

khiếu nại chính đáng của công nhân làm việc cho họ. Thái độ

độc ác này Ta sẽ không ngừng kết án. Chính vì họ mà giáo

hội vô tội đã bị cảnh cáo và mang tiếng là một tổ chức thông

đồng với phe tư bản, không động lòng trắc ẩn trước sự ân cần

và công lao của những người dân đen sống cực khổ không

hưởng chút phúc lợi ở dưới thế. Thật là một nhận xét vô lý,

một vụ bỏ vạ ! tang chứng rõ ràng là :

Bức thông điệp ta mừng lễ kỷ niệm, cũng là một bằng

chứng rực rỡ; đó là một vụ bỏ vạ, một sự lên án bất công, làm

nhục cho giáo hội và học thuyết xã hội quý hóa của giáo hội

nữa.

Tha thiết kêu mời tín hữu quay về đường chính.

  1. Nhưng Ta không thể nào im tiếng và ngã lòng vì vụ

bỏ vạ kia. Ta hết sức ưu sầu như một người cha lạc mất đàn

con, Ta cũng không xua đuổi hay loại bỏ những con cái thân

yêu đã bị lừa dối và lôi cuốn xa lạc chân lý và sự cứu rỗi. Trái

lại với một lòng kính cẩn và hết sức nhiệt tâm, ta tha thiết kêu

mời họ trở về với giáo hội. Ước gì họ lắng tai nghe tiếng của

Ta! ước gì họ chóng hồi tâm lại mà trở về nhà cha mà họ đã

đành tâm bỏ đi. Ước gì họ bền tâm vững chí tiếp tục giao

chiến trong hàng ngũ của các tín hữu, nghe tiếng Đức Lêô

XIII khuyên nhủ không ngừng, mà phục hưng lại xã hội theo

tinh thần của giáo hội, và luôn luôn đoàn kết chặt chẽ trong

sự công bằng và bác ái xã hội. Họ phải tin chắc rằng: Ở dưới

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 150

thế hạnh phúc không lúc nào hoàn hảo bằng lúc chúng ta

đứng cạnh Chúa Kitô là người giầu sang tuyệt đối, đã muốn

sống bần cùng cho chúng ta thông phần giầu sang của Người;

là trong thời tuổi trẻ Người đã sống thiếu thốn, luôn luôn đầu

tắt mặt tối làm việc và chịu vất vả để chúng ta thêm sức dồi

dào bởi trái tim Người đầy yêu thương phát ra; Sau hết là

Người sẽ không thiên vị người nào, mà đòi hỏi nhiều ở những

kẻ có nhiều và thưởng phạt ai nấy tùy theo công nghiệp của

họ.

Cải thiện phong hóa.

  1. Nhưng ta hãy xét mọi việc cho tường tận hơn. Ta sẽ

thấy rõ ràng công việc cải tạo xã hội ai cũng mong ước không

thể nào hoàn thành, nếu không phục hưng lại tinh thần kitô

hữu trong đời sống trước đã. Các nhà kinh tế chuyên môn, đa

số đã mất tinh thần phúc âm từ lâu. Tội nghiệp họ cố gắng

xây dựng nền kinh tế, nhưng thay cho xây dựng nó trên nền

đá kiên cố, trái lại họ chỉ xây dựng nó trên bãi cát.

Ta mới đưa mắt lược qua chế độ kinh tế hiện tại. Nhưng

cũng đủ mà nhận thực các tệ đoan của nó. ta đã luận xét chủ

nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội muôn mặt. Những chủ nghĩa

ấy dầu dưới hình thức điều độ hơn cả, cũng vẫn xa cách phúc

âm một vực một trời.

Vì thế Ta mượn lời Đức Tiên Giáo hoàng mà nói: Duy

chỉ có một phương dược sửa chữa xã hội, là dẫn nó về với

những cơ cấu và đời sống của phúc âm.

Chỉ phúc âm mới đủ hiệu lực mà giải phóng xã hội khỏi

vấn vương vào những sự hay hư là cỗi rễ đủ mọi tính hư.

Loài người mê ảo vì bận trí vướng lòng vào thế gian

phù vân chóng qua. Chỉ có phúc âm mới đưa họ về chân

TỨ THẬP NIÊN 151

minh, mà khiến họ đưa mắt nhìn lên trời. Ai chối được xã hội

ngày nay không cần đến phương dược linh nghiệm ấy?

Các linh hồn bại hoại, là ác quả của chế độ kinh tế

hiện tại.

  1. Loài người phần đa số xúc động, chỉ vì những biến

cố, những phá hoại, những tệ đoan thế tục. Nhưng so sánh

cho kỹ những tệ đoan ấy, với những bại hoại của các linh

hồn, nào có ra gì.

Nói cho đúng, tình trạng xã hội kinh tế ngày nay là trở

lực kinh khủng nhất, khiến loài người phần đông không chu

toàn được việc khẩn cấp hơn cả, là việc rỗi linh hồn.

Vì ta kế vị Chúa Chiên đã cứu chuộc họ bằng Máu

Thánh Người, Ta phải chăm nom săn sóc họ. Vậy nhìn đến

cảnh thê thảm của họ, ta không khỏi động lòng thông cảm.

Nhớ mục vụ của ta, nhớ tình cha con ràng buộc ta lại với họ,

ta không ngừng tìm phương pháp cứu họ, và liệu sao cho mọi

người thiện chí, cũng không ngừng lao tâm cương quyết cải

hóa mọi sự theo công bằng và bác ái. Chinh phục thiên hạ

bằng những tổ chức tăng gia sản xuất mãi, mà mất linh hồn thì

nào có ích gì ! Dạy bảo họ những nguyên tắc kinh tế ngay

thẳng, mà cứ để họ lạc xa đường chính; vì những tham vọng

ích kỷ mê hoặc, cũng là vô ích. Biết đạo thánh Chúa mà hành

động trái ngược với luật thánh Người, há chẳng phải là gây

một thiệt hại lớn ư !

Nguyên do tệ đoan.

  1. đời sống xã hội và kinh tế, càng lạc xa Chúa Kitô thì

các công nhân cũng càng chối Thiên Chúa. Tâm hồn của họ

đầy những tham vọng mê man, là ác quả của tội nguyên tổ,

đã phá trật tự Thiên Chúa đặt sẵn giữa các năng lực hồn xác

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 152

của con người. Vì tội ấy loài người trôi theo những dục vọng

đê hèn, mà ra ưa quý những của cải phàm hèn hay hư mà coi

thường những của cải siêu nhiên vĩnh cửu. Lòng khao khát

tiền của, và thế sự, thì phát nguyên từ đó. Con người cũng

không đời nào cho nó thỏa mãn được.

Trái lại vì nó mà đời nào lòng người cũng khuynh

hướng về sự lỗi luật Chúa, giầy đạp quyền lợi anh em dưới

chân. Nhưng dưới chế độ kinh tế hiện tại, lòng người vốn yếu

đuối thì lại càng sa ngã nhiều hơn nữa. Tình trạng kinh tế và

mọi cơ cấu đã lập ra đảng này, thì hằng lung lay. Những người

phụ trách thì đêm ngày lo chống đỡ. Kết quả một số đông

người càng ngày càng chai đá không quản gì đến lương tâm,

một cứ hết thử phương pháp này, lại thử đến phương pháp kia;

quyết tăng gia hay bảo vệ hoa lợi họ đã vất vả thâu góp cho

khỏi vì vận hạn mà họ phải mất hết trong chốc lát. Những hoa

lợi ai cũng dễ dàng thâu góp, vì tự do buôn bán thường hấp

dẫn bao nhiêu người, bỏ sự sản xuất, chuyên lo trao đổi sản

phẩm, vì đó là một phương cách làm ích lợi nhiều. Một sự đầu

cơ vô hạn, làm cho giá mọi sản phẩm cứ lên xuống mãi theo

sở thích và tham vọng của họ. Sự sản xuất dầu được tổ chức

khôn ngoan đến đâu đi nữa, thì cũng không sao theo kịp.

  1. Pháp luật đáng lẽ phải tổ chức tư bản cho có sự hợp

tác, cho mọi người hưởng lợi điều hòa, lại chia với nhau phần

thiệt hại rủi may. Nhưng thật sự pháp luật gây dịp cho những

sự lạm quyền đáng trách, chẳng còn mấy ai ý thức trách

nhiệm. Tội lỗi đến công bằng là sự thường, mà lương tâm ai

nấy cũng không bị cắn rứt bao nhiêu. Vì có đại chúng chịu

vậy, ít khi phản đối, nên người ta tha hồ lừa dối nhau, vì phạm

công lý là việc đáng kết án nghiêm ngặt. Chính kẻ cầm

quyền chỉ huy những tổ chức kinh tế chung lại đồng mưu

phạm đến những lời cam đoan của họ, khinh thường quyền lợi

những kẻ đặt hết tin tưởng vào họ. Vì tư lợi riêng, họ khiến

TỨ THẬP NIÊN 153

dân đen mất cả phần vốn mà người ta đã mất công dành dụm.

Ta còn nói gì nữa về những người kinh doanh nhiều, không

phân biệt những việc chính tà, phải trái, mà xúi giục những

dục vọng của dân chúng tin ở họ, rồi lạm dụng dân chúng để

gây lợi riêng.

Chỉ một kỷ luật luân lý được chính quyền nâng đỡ mới

đề phòng hay tu bổ lại những tổn thất ấy. Nhưng, tội nghiệp

từ trước đến giờ kỷ luật ấy không biết bao phen đã nhu

nhược. Chế độ kinh tế mới đã xuất hiện ngay trong lúc chủ

nghĩa duy lý được truyền bá và đâm rễ sâu khắp mọi nơi. Kết

quả nền kinh tế mới cũng thụ hưởng và loại bỏ luân lý luôn.

Luân lý bị loại ra, thì dần dần kinh tế bị mọi tham vọng phàm

hèn tha hồ xâm chiếm.

Từ đó loài người đa số chỉ còn lo mở mang tài sản bằng

đủ mọi phương kế chính tà. Họ đặt lợi riêng lên trên hết mọi

sự. Dầu những tội ác kinh khủng nhất, phạm đến quyền lợi

anh em, họ cũng thản nhiên nhúng tay vào.

Những kẻ mở đường đưa đến trụy lạc ấy, đã không

thiếu người bắt chước noi theo sự gian ác của họ, kẻ thì theo

vì ngạc nhiên trước sự thành công vĩ đại của họ, kẻ thì theo vì

cảm phục đời sống xa hoa kiêu hãnh của họ, kẻ thì lương tâm

non nớt ngần ngại, nhưng cũng theo vì bị chê cười nhạo báng,

kẻ thì đấu tranh nhưng vì không dám dùng những phương kế

bất lương, nên đã bị họ diệt trừ đánh bại.

Những ban chấp hành phụ trách kinh tế đã bãi bỏ luân

lý thì tất nhiên công nhân dần dần cũng bãi bỏ. Cấp trên cấp

dưới cùng sa vào trụy lạc. Giới công nhân càng chống suy

đồi, vì càng thấy đa số chủ nhân không quản gì đến phần hồn

khinh thường những phúc lợi cao thượng họ còn noi theo, mà

chỉ dùng họ như thể họ là những khí cụ vô ý thức.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 154

Ai cũng khiếp sợ khi thấy những tệ đoan đe dọa những

xưởng lớn ngày nay, về luân lý công nhân, nhất là công nhân

tuổi trẻ; về nết na đức hạnh của phụ nữ ! ai cũng khiếp sợ,

khi thấy chế độ cần lao hiện tại gây bao trở lực cho đời sống

gia đình, hoặc vì hoàn cảnh khốc hại, cửa nhà công nhân phải

ở, hoặc vì gia đình công nhân bị phân tán, không giữ được sự

ấm cúng cần thiết. Ai cũng khiếp sợ khi thấy những trở lực

lớn lao ngăn cấm công nhân không còn thánh hóa được ngày

chủ nhật và lễ trọng. Ai cũng khiếp sợ khi thấy công nhân và

các dân đen xưa kia có lý tưởng công giáo rất cao, mà ngày

nay đã mất cả tinh thần kitô hữu, vì quá bề bộn về việc cơm

bánh thường ngày. Theo ý Chúa quan phòng không cứ gì tội

nguyên tổ đối với con người, cần lao phải là phương kế mở

mang phần xác, vật chất và tinh thần. Nhưng với tổ chức kinh

tế vô đạo kia, cần lao chỉ còn đưa nhân loại đến trụy lạc.

Trong xưởng máy, muôn vật thiên nhiên đều thêm giá

trị, Nhưng loài người trái lại, chỉ hư đi và suy đồi mãi.

PHƯƠNG DƯỢC

Hợp lý hóa kinh tế theo đạo Chúa Kitô.

  1. Bao lâu sự khủng bố các linh hồn nói trên còn tồn

tại, thì bấy lâu mọi cố gắng cải thiện xã hội sẽ bị thất bại.

Phương dược linh nghiệm duy nhất, là trở về với phúc âm,

thực hành những lời hằng sống của Chúa Kitô, Đấng đã nói

rằng: “Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời Ta nói không thể nào qua

được”.

Những nhà xã hội học chuyên môn, tha thiết đòi hỏi sự

hợp lý hóa kinh tế để cải tạo xã hội hiện tại. Nền kinh tế ấy

ta cũng quyết tu bổ lại, nhưng nó sẽ không bao giờ hoàn bị,

nếu ta không khiến mọi hành động của nhân loại phát triển

TỨ THẬP NIÊN 155

điều hòa và quy về tổ chức vĩ đại của Chúa, mà đáng lẽ loài

người phải bắt chước và phải thực hành tùy theo sức.

Tổ chức ấy chính là tổ chức hoàn bị mà giáo hội không

ngừng nhắc đến và cũng là tổ chức lý trí tự nhiên đòi hỏi.

Trong tổ chức ấy, Thiên Chúa vừa là căn nguyên, vừa là

cứu cánh tuyệt đối của mọi hành động thụ tạo. Muôn vật

trong thiên nhiên cũng chỉ là phương tiện, ta phải hưởng dụng

điều độ để bước tới cứu cánh đời sống. Trong tổ chức những

nghề nghiệp gây lợi không bị hạ giá đâu. Trái lại, thay cho

khinh bỉ những nghề nghiệp và cho rằng đối với phẩm cách

nhân loại là bất xứng; thì ta xác nhận những nghề nghiệp ấy

rất thích hợp với thánh ý Chúa đã dựng nên loài người để làm

việc, và dùng việc làm để cấp đủ mọi sự cần cho đời sống.

Như vậy kẻ sản xuất không cấm tăng gia sản riêng, trái lại,

công lý ban phép cho những người nào mưu ích cho xã hội

thêm phong phú cũng được hưởng phần công ích do họ gây

nên để sống xứng với địa vị của họ. Chỉ có một điều kiện là

họ phải thêm giầu theo luật thánh Chúa. Họ phải tôn trọng

quyền lợi của anh em, họ phải tiêu dụng của cải theo luật đức

tin và lý trí chỉ dạy.

Giả như mọi người tuân theo những luật sống này,

không những sự sản xuất mà lại cả những sự thâu góp và tiêu

dụng của cải ở dưới thế ngày nay đã rất lộn xộn, cũng sẽ kíp

trở về trật tự và sự phân phối của công lý.

Trong thực tế, tính vị kỷ là sự nhục nhã và tội trọng nhất

của đời ta, sẽ phải nhượng bộ trước luật êm dịu và mạnh sức

của một tổ chức điều độ do công giáo gây nên. Luật ấy bảo

rằng: trước hết hãy tìm nước Chúa và sự công lý, rồi chắc thể

nào Chúa cũng sẽ ban dư dật đủ mọi của cải thế tục. Vì đó là

lời Chúa đã hứa công khai, hợp với lòng vô cùng khoan dung

quảng đại của Người.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 156

Vai trò quan trọng của đức bác ái.

  1. Những cố gắng cải tạo xã hội nói trên, muốn chắc

thành công, thì phải căn cứ vào luật bác ái, vốn bảo đảm sự

trọn lành.

Bao nhà cách mạng trứ danh cũng thiếu khôn ngoan và

lầm to, vì họ bắt buộc ai nấy cũng phải tuân cứ luật công bằng

giao hoán, rồi kiêu hãnh khinh thường sự hợp tác của đức bác

ái.

Đành rằng đức bác ái cũng không thể nào thay thế cho

đức công bằng được.

Không ai lấy cớ thực hành đức bác ái, mà chối những

phận sự đức công bằng bắt buộc ai cũng phải đảm nhận.

Nhưng dầu mọi người ở dưới thế được thỏa mãn theo đúng

quyền lợi, phạm vi bác ái cũng còn rộng rãi, nói được là vô

bờ bến. Thực hành đức công bằng một cách tỉ mỉ, thì có lẽ xã

hội sẽ không còn lý do nào cho các giai cấp tương tranh.

Nhưng đức công bằng vẫn không đủ sức nhiệm mầu khiến

mọi người đồng tâm nhất trí. Vậy tất cả mọi cơ cấu quyết gây

dựng hòa bình, và sự cộng tác giữa loài người, dầu tổ chức

tinh xảo bao nhiêu, chỉ hiệu lực và đứng vững, khi mọi công

dân thật đồng tâm với nhau ở trong tâm hồn. Kinh nghiệm dạy

rằng thiếu sự đồng tâm ấy, bất cứ tổ chức nào cũng không kết

quả được.

Sự cộng tác chặt chẽ thân mật giữa nhân loại, cùng

chung theo đuổi công ích, không thể nào có được, nếu loài

người không ý thức rằng: họ chỉ là phần tử của một gia đình

rộng lớn cùng một cha cả trên trời. Họ chỉ là thành phần của

nhiệm thể Chúa Kitô, mà từng người hân hạnh được làm chi

thể. Như vậy nhỡ ra có ai đau khổ, thì toàn thân thể xã hội

cũng mới chia phần đau khổ.

TỨ THẬP NIÊN 157

Nhờ đó kẻ giầu sang người cầm quyền đã quen lãnh

đạm với những anh em tội nghiệp và xấu số từ lâu, mới tỏ

lòng thông cảm và nẩy ra lòng bác ái thực sự. Họ sẽ động

lòng thương lắng nghe sự khiếu nại hợp lý của dân. Họ sẽ

động lòng dung tha những lầm lạc hay lỗi lầm của các dân

bần cùng.

Đàng khác các công nhân sẽ thành thực bỏ lòng căm

hờn hay ghen tương, mà các nhà chuyên môn xúi giục các

giai cấp xã hội kình địch nhau đã gây nên. Họ sẽ tình nguyện

đóng vai trò tân xã hội mà Chúa quan phòng đã chỉ định cho.

Họ sẽ cho vai trò xã hội của họ là rất quan trọng, bởi họ đã

hiểu rằng: mọi người đều có một phận sự thì đều góp thêm

phần hữu ích vào công ích. Họ sẽ noi gương theo gót Chúa

Kitô, Đấng bẩm sinh là con Chúa, nhưng đã không ngại đóng

một vai công nhân ở đời và rất hân hạnh vì được gọi là “con

bác thợ mộc”.

Công việc thì rất nặng nề.

  1. Tinh thần phúc âm lại tỏa ra khắp thiên hạ, là một

tinh thần điều độ và bác ái, thì ta mới hy vọng và vững tâm hy

vọng, xã hội sẽ được phục hưng lại như ta hằng tận tâm mong

ước : hòa bình Chúa Kitô sẽ hiện ra trong nước Chúa Kitô.

Sự phục hưng và hòa bình ấy là mục đích ta đã theo

đuổi ngay từ lúc mới được tin sẽ được tấn phong giáo hoàng,

và ta vẫn cương quyết thực hành mục đích ấy với cả một lòng

cha ân cần săn sóc đoàn con. Anh em cũng theo ý Thánh Linh

Chúa, mà hợp tác với ta chỉ huy giáo hội của Chúa. Vậy xin

anh em góp một phần với ta trong công việc khẩn cấp và cần

thiết đời ta với một lòng hăng hái nhiệt thành khả kính. Ta

thành thực tán tạ anh em và tất cả những linh mục và những

giáo hữu là cộng tác viên hùng dũng của anh em, vì họ càng

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 158

ngày càng góp một phần rất lớn và rất đáng khen trong công

cuộc vĩ đại ấy. Họ là những con thân yêu nhất của ta; những

nhân viên của công giáo tiến hành đã tình nguyện hiến thân

với ta, để giải quyết vấn đề xã hội, tùy theo giáo hội do Thiên

Chúa lập ra đã có quyền và phận sự lo đến.

Ta tha thiết yêu cầu những người ấy, trong Chúa Kitô

đừng tiếc gì công lao, đừng để trở lực nào thắng họ, và ngày

một tỏ mình dũng cảm hơn, sức lực mới mẻ hơn. Công việc ta

đề nghị rất nặng nề. Ta thừa biết trong đủ mọi giai cấp xã hội,

cấp trên, cấp dưới họ sẽ phải thắng biết bao trở lực. Nhưng

chớ ngã lòng. Đặc tính riêng của các kitô hữu, là xông pha

vào những trận chiến nguy hiểm; hoàn tất những công việc

lớn, cho xứng danh hiệu là tinh binh của Chúa Kitô, và hằng

theo sát Người.

Đã đặt hết tin tưởng ở Chúa Kitô toàn quyền mở rộng

đường cứu rỗi cho cả nhân loại, chúng ta hãy tùy theo sức, để

ủng hộ những linh hồn tội nghiệp đã lạc xa Chúa… Chúng ta

hãy cứu họ khỏi những thế tục đã xâm chiếm tâm hồn họ, và

ta hãy tập cho họ quen hướng về những của quý đời sau.

Công việc ấy có thể hoàn thành dễ hơn ta thường tưởng

tượng. Dầu những người trụy lạc, cũng giữ trong lòng như một

ngọn lửa âm ỉ dưới bóng tro tàn những năng lực siêu nhiên lạ

lùng, chứng tỏ họ tự nhiên là những tâm hồn kitô hữu.

Phương chi những người lầm lạc vì hoàn cảnh, hay bị lừa dối,

tất còn giữ trong lòng một nguồn lực mãnh liệt hơn nữa.

  1. Ngoài ra đời ta bây giờ không thiếu những điểm tốt

khiến ta mừng rỡ và tin chắc rằng: xã hội sắp được chỉnh đốn

trong Chúa Kitô. Tỉ dụ như những tổ chức công nhân kitô hữu

đang xuất hiện, nhất là phong trào thanh niên lao công kitô

hữu đang xiết chặt hàng ngũ vì đã đáp lời Chúa gọi, và hằng

ôm ấp trong lòng một tham vọng quý hóa, là khôi phục lại

TỨ THẬP NIÊN 159

cho Chúa Kitô một tâm hồn anh em đồng nghề. Ta cũng hết

sức mừng rỡ, khi thấy bao người trong các ban chấp hành

những tổ chức công nhân đã hy sinh tư lợi, để thành tâm gây

phúc lợi cho anh em. Họ đã quyết chí hòa giải những khiếu

nại hợp lý của công nhân, với lợi ích chung của công nghệ họ

phụ trách. Dầu bị tình nghi, dầu gặp phải bao trở lực họ cũng

bền tâm theo đuổi mục đích cao siêu ấy. Sau hết những thanh

niên tài trí lỗi lạc, hay khá giầu sang, sắp chiếm lấy một địa vị

khả quan trong giới công chức xã hội cũng đã càng ngày càng

đông và càng mải miết tìm hiểu vấn đề xã hội hiện tại. Họ là

một mối hy vọng rực rỡ, vì nay mai chắc chắn họ sẽ tận tâm

với phận sự cải hóa xã hội.

Đường lối nên theo.

  1. Anh em đáng kính, như vậy thời thế hoàn cảnh vạch

sẵn cho ta đường lối phải bước đi. Như mấy đời trước, đời ta

cũng bị tục hóa theo tha dân. Muốn hấp dẫn mọi giai cấp xã

hội đã chối Chúa chóng được trở về đường chính, anh em

phải tuyển mộ và huấn luyện ngay ở giữa họ một số người

thông cảm tâm trí của họ, xu hướng của họ, để làm phụ tá cho

giáo hội, mà lại đối đãi với họ trong một tình nghĩa huynh đệ

thiết tha. Những tông đồ ưu tiên, những tông đồ trực tiếp của

giới lao động sẽ là công nhân, những tông đồ của giới kỹ

nghệ hay thương mại sẽ là những người chuyên về kỹ nghệ

hay thương mại.

Những tông đồ giáo dân thuộc giới lao động, hay chủ

nghiệp này, chính anh em và các linh mục phục quyền anh

em, sẽ phải ân cần tìm kiếm, khôn ngoan tuyển lựa, đào tạo

và giáo huấn. Linh mục lại phải đảm nhiệm một trọn trách rất

tinh tế. Các chủng sinh đang dọn mình phụng sự giáo hội,

cũng phải tận tâm học hiểu những nguyên tắc xã hội của hội

thánh. Còn những người được anh em lựa chọn để trực tiếp

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 160

phụ trách mục vụ ấy, sẽ phải có óc công bằng rất tinh tế, đủ

sức nhiệm để vững tâm chống cự những khiếu nại quá khích

bất công của bất cứ ai, lại phải nổi tiếng là người điều độ và

khôn ngoan tránh được đủ mọi sự quá khích. Hơn thế nữa, họ

cần thấm nhuần lòng bác ái của Chúa Kitô. Chỉ đức bác ái

mới mạnh sức và đủ êm dịu để chinh phục tâm trí người ta

cho công bằng và chính nghĩa. Kẻ bền chí theo đường lối ấy

đã thành công nhiều rồi. Không ai hồ nghi được đó là đường

lối ai cũng phải dũng cảm bước chân theo.

Còn những linh mục được lựa chọn để đảm nhiệm trọng

trách ấy, thì ta tha thiết yêu cầu họ hãy tận tâm huấn luyện

những cộng tác viên của họ. Để hoàn tất công việc linh mục

và tông đồ ấy, trước hết họ phải dùng mọi phương tiện, do

nền giáo dục công giáo cung cấp cho họ.

Giáo dục thanh niên.

Hội đoàn kitô hữu.

Hội học về những huấn lệnh của đức tin.

Hơn hết họ phải tôn trọng và chuyên dùng những cuộc

tĩnh tâm, là phương thế linh nghiệm nhất để cải thiện đời sống

cá nhân và xã hội, Ta đã nói rồi, và ta nhắc lại nữa: họ phải

dùng phương kế ấy để huấn luyện các cộng tác viên của họ.

Những cuộc tĩnh tâm này rất hữu ích cho giáo dân, và

nhất là cho công nhân. Vì thế ta tha thiết yêu cầu anh em hãy

tổ chức những cuộc tĩnh tâm ấy là trường học đào tạo tinh

thần, trong lò lửa nồng nàn của Thánh Tâm Chúa Giêsu đầy

tình yêu. Từ ở những trường học ấy, không những xuất ra

những giáo dân kiểu mẫu, mà lại là những tông đồ chân

chính, chuyên môn làm việc trong đủ mọi giai cấp xã hội.

Từ ở những trường học ấy như các tông đồ xưa, từ ở

nhà tiệc ly, họ sẽ xuất ra với một đức tin mạnh mẽ, với một ý

TỨ THẬP NIÊN 161

chí anh hùng chống được đủ mọi sự bắt bớ, vì chỉ còn một

mối lo là xuất công mở nước Chúa Kitô cho rộng.

Không bao giờ bằng bây giờ giáo hội cần những tinh

binh kitô hữu ấy, để tận tâm hiệp lực bảo vệ gia đình khỏi

những tai hại sẽ phải xảy ra. Nếu họ khinh bỉ học thuyết Phúc

âm, để mặc chế độ hiện tại giầy đạp đạo tự nhiên và đạo

thánh Chúa, rồi tiến triển mãi. Giáo hội Chúa Kitô được xây

đắp trên những nền tảng bất di bất dịch, dầu hỏa ngục cũng

không thắng nổi, nên Người không thấy gì đáng là khiếp sợ.

Giáo hội cũng có kinh nghiệm quá khứ bảo đảm tương

lai. Dầu những cơn giông tố dữ dội nhất, trải qua lịch sử giáo

hội cũng đã thắng vượt hết, mà lại thắng một cách vô cùng vẻ

vang.

Nhưng giáo hội là một người mẹ âu yếm đàn con. Khi

thấy đoàn con lâm nguy, về những cơn giông tố đang đe dọa

ức triệu người phải thiệt hại lớn, thì giáo hội sốt ruột và xót

dạ. Nhỡ ra những cơn giông tố ấy bùng nổ, thì bao nhiêu

người sẽ bị thiệt hại về phần hồn, và bao nhiêu linh hồn được

Chúa Giêsu cứu chuộc bằng giá máu Người sẽ phải bại hoại.

Vì thế, ta phải dùng trăm nghìn phương cách để đề

phòng cho nhân loại khỏi sa vào những tai ương ấy. Mọi công

việc, mọi cố gắng, mọi kinh nghiệm liên lỉ nhiệt tâm của ta,

thảy đều quy về mục đích ấy.

Nhờ ơn Chúa giúp, do chúng ta cầm trong tay thân phận

loài người tương lai được, chúng ta đừng để con cái thế gian tỏ

mình khôn ngoan hơn chúng ta; đã nhờ ơn Chúa toàn ái phú

ban, mà trở nên con cái của ánh sáng.

Quả thật, ta thấy họ rất khôn ngoan, tuyển lựa và huấn

luyện cán bộ, để truyền bá tà thuyết của họ, làm cho phong

trào của họ ngày một mở rộng hơn, trong đủ mọi tầng lớp xã

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 162

hội và ở đủ mọi địa phương trên hoàn cầu. Hễ khi nào họ

phải giao chiến với giáo hội, ta thấy họ quên bỏ mọi sự xích

mích riêng, để xiết chặt hàng ngũ và tận tâm hiệp lực theo

đuổi mục đích của họ bằng cách thống nhất lực lượng.

Giáo dân phải đoàn kết và cộng tác với nhau một cách

chặt chẽ thân mật.

  1. Giáo dân nhiệt thành không quản gì công lao khó

nhọc để gây dựng bao công cuộc vĩ đại, hoặc trong phạm vi

xã hội kinh tế, hoặc trong phạm vi văn hóa và tôn giáo. Điều

ấy ai cũng đã rõ. Nhưng vì những lực lượng công giáo đã quá

phân tán, thì những công cuộc đáng khen kia đâm ra yếu lực

và thiếu hiệu quả.

Vậy ta yêu cầu mọi người thiện chí, hãy đoàn kết lại

chặt chẽ dưới quyền chỉ huy của các chúa chiên phụ trách

giáo hội. Nhờ vậy họ mới ra mặt trận thánh thiện và ôn hòa

của Chúa Kitô; giao chiến và toàn thắng. Yêu cầu mọi người

phục quyền giáo hội, sống dưới ánh sáng của giáo hội, cũng

ra giao chiến, tùy theo năng lực, tài sức riêng, địa vị riêng, để

góp một phần vào việc canh tân xã hội, mà chính Đức Lêô

XIII trong bức thông điệp RN đã nêu khởi.

Không chút thiên vị những ý kiến riêng, một cứ sẵn

sàng bỏ luôn những ý kiến sáng suốt hơn cả, vì công ích đáng

quý hơn.

Họ phải đề cao hơn hết và ở khắp mọi nơi nước Chúa

Kitô, làm cho Chúa Kitô hiển trị khắp thiên hạ.

Vì Chỉ có Chúa Kitô đáng được vinh danh toàn trị muôn

đời. Vậy để toàn thể anh em và các con yêu quý hợp lại trong

đại gia đình công giáo, Chúa đã uỷ cho ta phụ trách, luôn luôn

đủ sức hoàn tất công việc ấy;

TỨ THẬP NIÊN 163

Để các công nhân và các lao động công giáo, ta yêu

quý riêng vì được Chúa quan phòng uỷ thác cho ta săn sóc

làm một với chủ nhân, được luôn luôn tận tâm với phận sự;

Ta hân hạnh đem hết tình cha con, ban phép lành tòa

thánh.

Tại Lamã, gần tòa thánh Phêrô, 15,3,1931.

Năm thứ 10 ta được thụ phong giáo hoàng.

Piô XI.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 164

MỤC LỤC

THÔNG ĐIỆP TỨ THẬP NIÊN

Giới thiệu thông điệp

Đức Piô XI và tư tưởng xã hội công giáo

Lý thuyết và thực hành trong kinh tế của văn kiện này

Sự đón nhận và hậu thế của thông điệp “Bốn mươi năm”

i. Một bức thông điệp rất hợp thời

ii. Học thuyết xã hội gồm tắt trong bức thông điệp RN

iii. Mục đích bức thông điệp mới

DANH MỤC NHỮNG CHỦ ĐỀ TỔNG QUÁT

I. Những hiệu quả bởi bức thông điệp “RN”

Sự can thiệp của giáo hội
Sự can thiệp của chính quyền
Sự cộng tác của chủ nhân và công nhân

Bức thông điệp RN là hiến chương của lao động
II. Học thuyết công giáo về vấn đề kinh tế và xã hội

Quyền tư hữu

Chính quyền quốc gia

Quyền sở hữu chính đáng căn cứ vào đâu

Một nguyên tắc chính đáng, phải áp dụng vào việc phân chia hoa lợi

Đề cao một nguyên tắc chính đáng chỉ dẫn được mọi hành động kinh tế

III. Những biến cố lớn đã xảy ra từ thời Đức Lêô XIII

Nền kinh tế biến chuyển
Những biến chuyển của chủ nghĩa xã hội
Cải thiện phong hóa
IV. Phương dược

Hợp lý hóa kinh tế theo đạo Chúa Kitô
Vai trò quan trọng của đức bác ái