Đức Lêô XIII – Đức Gioan Phaolô II

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI

ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE

2000

THÔNG ĐIỆP HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ

Về sự biến chuyển hiện nay của đời sống xã hội dưới

ánh sáng của những nguyên tắc Kitô giáo.

 

GIỚI THIỆU

Một thông điệp cho kỷ nguyên kỹ thuật

 

Sau những giáo huấn “theo hoàn cảnh” của Đức Piô XII,

thông điệp Mater et Magistra lại kết nối với hệ thống giáo

huấn về xã hội bắt đầu từ các thông điệp Rerum Novarum và

Quadragesimo Anno. Thực vậy thông điệp này, vào năm

1961, tự giới thiệu như là một toát lược nhỏ, tóm tắt giáo huấn

của các vị tiền nhiệm của Đức Gioan XXIII trước khi “giải

thích tư tưởng Giáo hội Chúa Kitô về những vấn đề mới mẻ và

quan trọng nhất của thời đại” (số 50). Làm thế, thông điệp

hẳn không phải là đã thấu đáo hết vấn đề, nhưng chỉ với tập

văn kiện này, nó đã vượt thông điệp Quadragesimo Anno khá

xa về chiều rộng và thông điệp Rerum Novarum hai lần về

mặt thực hành.

Vào thời điểm này của thời điểm lịch sử, thông điệp này

là bày tỏ sự cần thiết phải nói tới những đóng góp mới của

một thế giới công nghiệp ngày càng phức tạp hơn, với những

hoàn cảnh ngày càng khác biệt nhau, và đồng thời là một thế

giới ngày càng liên kết hơn, trong đó những biến chuyển ít

nhiều đã chạm tới mọi giai cấp xã hội và mọi cá nhân. Năm

1961 : nói cho cùng, chính trong các nưới phát triển, người ta

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 165

đã chứng kiến những hệ quả rõ ràng và cụ thể của thời kỳ

“ba mươi năm vẻ vang”, một từ ngữ đã trở nên phổ biến của

Jean Fourastié để chỉ ba mươi năm vừa qua trước đó với sự

phát triển chưa từng có. Trong ba đoạn văn được thu tập lại

cách tài tình (số 47-49), thông điệp bắt đầu bằng việc liệt kê

những biến chuyển kỳ đã xảy ra hoặc đang diễn ra trong các

lãnh vực khoa học, công nghệ và kinh tế (số 47), xã hội (số

48), và chính trị (số 49). Có lẽ phải coi những đoạn này trước

hết như là toàn thể cái mạch ngầm của những gì cần phải

điểm xét lại. Chúng ta chỉ nhắc lại ba tình hình đương thời lúc

ấy tạo nên cái khung lịch sử cho thông điệp, đó là : việc chinh

phục không gian là một bước nhảy vọt mới ngoài sự tưởng

tượng của khoa học, biểu trưng của mọi sự thu ngắn khoảng

cách không gian, thời gian đã có và sắp đến (xe ô tô, các

phương tiện nghe nhìn …) ; sự can thiệp gia tăng của Nhà

nước để tái phân phối nguồn sản phẩm và bảo đảm an sinh xã

hội ở mức cao nhất, hơn nữa nhằm nâng cao mức sống thật

đáng kể ; hầu như chấm dứt các chính sách thuộc địa, nhưng

đối lại, là sự ý thức ngày cáng sôi động hơn về tình trạng kém

phát triển của các nước phía nam, trong khi các nước phía bắc

bước vào thời kỳ hưởng thụ tràn lan, và như thế càng làm gia

tăng chênh lệch giữa hai vùng.

Trong bối cảnh đổi thay như thế, chúng ta hẳn là không

nên chờ đợi nơi thông điệp kỷ niệm Mẫu sư này sẽ tỏ lộ một

sự độc đáo có tính cách mạng đối với các thông điệp tiền bối

của nó ; đó không phải là tham vọng của nó ; mà đúng hơn,

nó nhằm giúp ta nhận định và định hướng theo giáo huấn đã

có, nhưng trong hoàn cảnh mới. Tuy vậy chúng ta vẫn có thể

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 166

nêu lên một số điểm mới mẻ và những trọng tâm được

chuyển dịch2.

Những trọng điểm mới

Có thể ghi nhận trước hết điểm nhấn mới : sự công

bằng nói chung (không có tính từ “xã hội” đi theo), với việc

giảm trừ những bất công hay nỗ lực cụ thể cho công lý mà có

lẽ công bằng đòi hỏi. Chính sự gia tăng của cải do sản xuất và

được sẵn dùng (những tiện nghi) lại là nguy cơ làm tăng thêm

chênh lệch giữa những cá nhân và các nhóm xã hội, giữa

những kẻ nắm giữ tài sản hay tư bản với những người làm

công, giữa những loại người làm công khác nhau, giữa các

2 Một vài chú giải của tác giả sau đây : G. Jarlot, “Mater et Magistra

những liên hệ với các tài liệu trước”, trong Études, T. 310-311, 1961, tr.

18-19 ; J. Villain, “thông điệp Mater et Magistra. Sự đóng góp về giáo

thuyết”, trong Revue de l’Action populaire, tháng 8-9, 1961, tr. 897-915

; P. Bigo, “thông điệp Mater et Magistra, và những áp dụng”, cũng táp

chí trên số tháng 11-1961, tr. 1029-1042. Một tài liệu rất tốt của cha

Villain, trong Infomations Catholique internationales ngày 1-9-1961.

Nhờ tài liệu đó mà ta biết thông điệp đã được soạn thảo bởi ba tác giả

người Ý, đó là : đức cha Pavan và đức cha Ferrari-Toniolo, cả hai ngài

đều là chuyên viên về các vấn đề xã hội và là linh hoạt viên của

phong trào tuần lễ xã hội Ý, cũng như đức cha Parente, trợ lý văn phòng

toà thánh. Nhưng tài liệu cũng cho biết phác thảo đầu tiên được soạn ra

bởi ba thành viên dòng tên của đại học Gregorien và hai người dòng

tên khác thuộc phong trào hành động bình dân… cũng có thể đọc chú

giải của đức cha Pavain, trong les encycliques sociales, nxb. Bone

presse, 1962 (ngài đã viết phần dẫn nhập), hoặc của cha De Laubier, La

penseé sociales de l’Eglise catholique, un idéal historique de Léon XIII

à Jean Paul II, Paris, Anbatros, 1980 ; sau cùng có thể tham khảo les

encyclique sociales de Jean XXIII, doctrine et action, nxb. Ourrières,

1965 ; không quên chú giải phân tích về thông điệp, cùng với văn

kiện, do l’action populaire, nxb. Speo, 1965.

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 167

thành thị hưởng được những phúc lợi do công nghiệp hoá với

những vùng nông thôn kém phát triển và trở nên hoang mạc

dần, giữa các nước công nghiệp và các nước đang phát triển.

Cái nhìn về sự công bằng như thế lý giải một vài mặt mới lạ

nào đó của văn kiện. Vậy nên, người ta đã ngạc nhiên về độ

dài của đoạn văn kiện bàn về nông nghiệp ; nhưng lý do cũng

dể hiểu thôi : năm 1961, những người nông dân dường như bị

bỏ quên trong công cuộc phát triển.

Không phải thông điệp, nhân danh công lý, xét lại

những quyền tự do cơ bản về kinh tế ; về điểm này, thông

điệp lấy lại giáo thuyết của các đấng tiền nhiệm về quyền tư

hữu chẳng hạn, hay về quyền có sáng kiến riêng thiết yếu,

hay về kinh tế thị trường, theo nghĩa là một xã hội, theo như

các ngài cổ võ, phải tuân theo mệnh lệnh của “trật tự luân lý”

và “công ích”, và loại trừ mọi hình thức của chủ nghĩa kinh tế

tự do thuần tuý hoặc “man rợ” : phải tránh xa chủ nghĩa này,

là vì bản chất phi luân của nó, đôi khi lại được biện minh trên

lý thuyết cũng như vì sự bất công dai dẳng mà nó tạo ra.

Thông điệp Mater et Magistra nhấn mạnh tới khía cạnh

này đồng thời thừa nhận sự can thiệp hợp pháp của nhà nước,

dù gì cũng đã có trong thực tế. “Các chính quyền phải hiện

diện cách tích cực nhằm thúc đẩy hợp lý phát triển sản xuất,

cho sự tiến bộ xã hội và cho phúc lợi của mọi công dân”. Họ

phải hành động làm sao để “khuyến khích, kích thích, phối

hợp, hỗ trợ và tổng hợp” (số 52-53). Đây quả là một định

nghĩa tốt cho cái gọi là một nhà nước bảo trợ (État-

Providence) mà ngày nay được tranh cãi nhiều.Trong cùng

một ý hướng đó và liên hệ với nó, là hiện tượng “xã hội

hoá”. Nguồn gốc hết sức rõ ràng của từ ngữ này đã khiến

một số người bảo thủ tránh né vấn đề; tuy vậy, trào lưu ấy là

hiển nhiên : chính nhờ đó mà những người thuộc các xã hội

phát triển có xu hướng trở thành ”trung tâm của những mối

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 168

quan hệ xã hội, luôn tăng trưởng về số lượng và về mức độ

sâu rộng, nếu không phải là về mức độ mạnh mẽ”. Công việc

“quản trị” này của người công dân làm họ phụ thuộc vào vô

số mạng lưới phức tạp khiến họ phải đảm trách cuộc sống của

họ ở nhiều mức độ và có thể làm họ trở nên vô trách nhiệm,

dẫu sao cũng bao hàm rất nhiều khía cạnh tích cực : trước hết

nó mang sức sống đến cho vô số sáng kiến, phong trào,

nhóm, hiệp hội, tổ chức thuộc lãnh vực kinh tế, xã hội, văn

hoá; cả khi nhà nước gánh vác trách nhiệm hay chỉ can thiệp

để kích thích, thì chính yếu vẫn là nhằm làm cho xã hội dân

sự được sống động lên, nhằm đưa phúc lợi đến cho mọi

người, gồm cả những người bị thiệt thòi nhất trong xã hội,

nhằm đến xã hội thêm tình liên đới hơn nữa.

Đối trọng thực sự cho sự can thiệp ngày càng tăng của

nhà nước thực ra nằm ở nơi nguyên tắc bổ trợ, một nguyên

tắc được tái xác định cách chắc chắn hơn bao giờ hết : mọi cái

do sáng kiến cá nhân và các nhóm trung gian có thể thực hiện

bằng những phương thế riêng đều phải quy về họ; không cần

thiết, cũng như phải tránh thay thế vai trò của họ; nhà nước có

mặt là để phối hợp và trợ giúp, không hơn không kém. Sự

“công bằng” đơn thuần mà thông điệp nói đến còn liên hệ

tinh thần trách nhiệm này, được các cá nhân và các hiệp hội

chấp nhận và đảm đương : “tham dự” là một trong những từ

ngữ chủ chốt của thông điệp.

Điều đang nói cũng liên hệ rất nhiều tới xí nghiệp. Nếu

“quyền hạn và sự hiệu quả của sự thống nhất lãnh đạo” được

Đức Gioan XXIII tái xác nhận, thì xí nghiệp càng cố phải trở

nên một “cộng đồng những nhân vị, trong các mối quan hệ,

các nhiệm vụ và hoàn cảnh của mọi nhân viên của mình” (số

91). Xí nghiệp “cộng đồng nhân vị” vào một thời nào đó sau

này, thành ngữ này sẽ trở thành hiện thực, nếu không thì mục

tiêu của nó sẽ…

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 169

Hơn nữa, ngoài điểm quan tâm mới của thông điệp của

lương bổng thích đáng – không chỉ nhằm đến có đồng tiền để

sinh nhai và để hồi phục sức lao động của công nhân, nhưng

còn phải nhằm biểu hiện “tất cả phần sáng tạo của công

nhân”, thông điệp còn xét thấy rằng những người lao động

phải nên góp phần làm ích cho xí nghiệp, dựa trên một số tiêu

chuẩn. Thông điệp còn đi xa hơn khi đề xuất cách rõ ràng

rằng có lẽ phải đi đến mức người lao động được tham gia vào

sỡ hữu xí nghiệp và góp vốn cho xí nghiệp, hình thức thế nào

còn phải xác định thêm, có thể bằng cách theo hợp đồng và

từng trường hợp một. Đức Gioan XXIII dường như còn quan

tâm tới một sự tham gia tích cực của những người lao động

vào đời sống xí nghiệp. Và như thế tham dự vào sự định hình

nên xí nghiệp, tham gia vào những sách lược chẳng hạn, vào

việc soạn ra những chính sách cho xí nghiệp. Nhưng tham gia

đến mức độ nào? Vấn đề còn bỏ ngỏ. Chúng ta chỉ lưu ý lối

diễn tả của thông điệp còn ở mặt tiêu cực: phải làm sao tránh

đừng để cho “công nhân chỉ còn là hạng người chỉ làm việc

trong âm thầm lặng lẽ, không có chút năng lực nào biến kinh

nghiệm của họ thành giá trị, hoàn toàn thụ động trước những

quyết định lèo lái hoạt động của họ” (số 92). Lời khuyên này

– có phải là việc “đồng quản trị”? – có phải luôn là thực tế

ngoại lệ đối với một vài nơi đặc ưu và miễn trừ cho một vài

nhà lãnh đạo đặc biệt? Tuy vậy, nếu như công bằng là thúc

đẩy “nhân vị”, chúng ta phải đi tới mức đó.

Liệt kê các mục của văn kiện:

Không thể trước tiên làm nổi bật những điểm mới hay

những trọng điểm mới của một thông điệp cụ thể; nhưng

chúng ta có thể nhắc đến những mục lớn của nó.

Từ số 1-50: sau khi đã nói lại hoàn cảnh thúc đẩy sự

khai sinh thông điệp – thời gian 70 năm sau thông điệp Rerum

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 170

Novarum, thông điệp này trở lại với giáo huấn của Đức Lêô

XIII, Piô XI và Piô XII, để làm rõ những điểm nổi bật khẳng

định lại sự liên tục của Mater et Magistra đối với giáo huấn

của các vị tiền nhiệm về những điểm quan trọng (như thái độ

đối với chủ nghĩa Mácxít, CNXH và chủ nghĩa tư bản tự do).

Về những điểm đó thông điệp này sẽ không bàn tới về

thực tế nữa. Kế đến, nhắc lại, trong ba đoạn tóm lược, những

biến chuyển đặc sắc đã xảy ra từ sau cuộc chiến tranh thế giới

thứ hai.

Từ số 51-121: xác định và triển khai một số điểm:

– Cần thiết có sự can thiệp của nhà nước, nhưng “nguyên

tắc bổ trợ” vẫn là nến tảng, ủy thác cho những hiệp hội trung

gian tất cả những gì nảy sinh từ những sáng kiến và trách

nhiệm của họ;

– Hiện tượng xã hội hóa, như sự tương tác, sự liên đới,

linh hoạt hóa xã hội dân sự quốc gia và quốc tế, phải được

khuyến khích, mặc cho có một số hạn chế nào đó;

– Vấn đề thù lao và lương bổng thích đáng: đi theo

hướng tham dự;

– Các cơ cấu: được làm ra vì con người và vì phẩm giá

con người, chúng đòi hỏi sự hiện diện của người lao động ở

mọi mức độ, sáng tạo sản phẩm cũng như quyết định;

– Tái khẳng định quyền tư hữu như là một quyền con

người nhưng nhắc đến một sự bất công vô cớ về sự phân phối

tài sản và quyền của hết mọi người về tư hữu : đồng lương và

nghề nghiệp là những phương thế để đạt đến điều đó.

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 171

– Từ số 122-211: những khía cạch mới của vấn đề xã

hội :

– Phát triển lâu dài về nông nghiệp, một lãnh vực đang

trên đường hiện đại hóa nhưng còn rất chậm, nếu không nói

là còn kém phát triển;

– Các nước đang phát riển, “có lẽ là vấn đề quan trọng

nhất của thời đại chúng ta”, những thái độ và lập trường cụ

thể phải có nơi các nước giàu;

– Việc gia tăng nhân khẩu, những cách giải quyết hạn

chế sự gia tăng, không chấp nhận được đối với phẩm giá con

người, những khả năng trong lãnh vực này của con người dựa

vào “nhưng triển vọng vô hạn do những thành tựu của tiến bộ

khoa học và kỹ thuật.”

Từ số 212-164 : những chỉ dẫn và khuyên bảo mục vụ,

những áp dụng thực tế :

– Chống lại các ý thức hệ thế tục, khẳng định lại về một

thế giới và một nhân loại trong sự quan phòng của Thiên

Chúa.

– Cần thiết phải có một học thuyết xã hội thích hợp cho

những Kitô hữu, học thuyết đó phải được rút ra từ những thái

độ và những giải đáp cụ thể.

Vài suy nghĩ về số phận của Mater et Magistra.

Nếu xét về thời sự, thông điệp này chắc chắn đã lỗi

thời. Những trọng tâm của ngày nay đã khác, người ta không

còn bàn về sự tăng trưởng nữa, nhưng bàn về sự khủng

hoảng, thất nghiệp và suy thoái kinh tế. Thay cho một thái độ

lạc quan vững tâm vế tương lai, dù vẫn có những điểm đen

tối, là một sự vỡ mộng, bấp bênh, lo âu sợ hãi tương lai.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 172

Người ta ít đặt vấn đề tái phân phối của cải cho bằng là cách

thức và khả năng để tạo ra chúng. Cuộc cách mạng công

nghiệp thứ 3 – tin học hóa và tự động hóa – làm biến đổi sâu

sắc con người. Con người có nguy cơ bị tước mất việc làm, rất

nhiều việc làm xem ra sẽ biến mất; hẳn nhiên, điều đó có thể

đem đến nhiều cuộc giải phóng mới (chẳng hạn về vấn đề có

thêm thời gian rảnh rỗi), nhưng vẫn chưa giải hoà được êm

xuôi giữa những ràng buộc và những khả năng mới. Làm chủ

được thông tin và truyền thông trở nên là điều cốt yếu: quốc

gia nào có được chúng sẽ nắm được những quyền bá chủ

mới. Cũng trong thời đại này, vai trò của Nhà nước được xét

lại một cách kiên quyết bởi tư tưởng tự do như là một làn gió

mới.

Tuy vậy, dù có những thiếu sót dễ hiểu đó, do ở chính

tính thời sự lịch sử, thông điệp Mater et Magistra vẫn giữ được

cái giọng điệu rất hiện đại. Nó quả thực là một thông điệp

của thời đại kỹ kỹ thuật, được cả thế giới biết đến. Vấn đề

không còn chỉ là lên tiếng về tình cảnh phi nhân của giới

công nhân (Rerum Novarum), vấn đề không phải là nói lại sự

kiện rằng trật tự xã hội Kitô giáo đang phải đối phó với những

ý thức hệ lớn đang đe doạ (Quadragesismo anno); mà phải

làm sao giúp con người phân định cái chân thực và công bằng

trong những hoàn cảnh của thế giới phát triển năm 1960 : sự

tăng trưởng kinh tế chưa từng thấy trong lịch sử, vấn đề xã hội

hoá và sự lệ thuộc lẫn nhau của con người và các nhóm,vai

trò cùng gia tăng của mọi đối tác xã hội, những chia rẽ mới

giữa người giàu và người nghèo. Thế giới của chúng ta đã và

vẫn còn là như thế đấy.

Thông điệp, dù không thể nói ra hết được bằng lời lẽ,

cũng đã thúc đẩy những vấn đề chính yếu của những năm sắp

tới, những vấn đề ấy rốt cuộc sẽ là nội dung của thông điệp

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 173

hoặc chủ đề suy tư rất quan trọng ở Công đồng. Một cách vắn

tắt, chúng ta sẽ nêu ra ba vấn đề trong số đó.

Về vấn đề gia tăng dân số, thông điệp quyết liệt lên án,

dù một cách kín đáo, những “phương sách làm tổn hại đến

trật tự luân lý Thiên Chúa đã thiết lập” (số 189) và “những

phương tiện không xứng hợp với phẩm giá con người, phát

xuất từ một quan niệm duy vật về con người và về sự sống”

(số 191), nói cách khác, là những phương tiện điều hoà sinh

sản hay ngừa thai bất hợp pháp. Vấn đề này, như ta biết, còn

đấu tranh rất quyết liệt trong những quốc gia đang phát triển,

nhưng cả trong những quốc gia phát triển cũng vậy với những

lý do khác : xã hội sung túc mang đến cùng với nó cuộc cách

mạng về phong hoá, đặc biệt là sự giải phóng và nhiều vai trò

mới đối với phụ nữ, nó xem xét lại cách sâu xa những lối

sống của xã hội truyền thống. Đức Phao lô VI, với thông điệp

Humanae Vitae (1968) sẽ phản ứng lại,về vấn đề này thông

điệp đó đã và ngày nay vẫn còn là học thuyết của Giáo hội;

nhưng như ta biết, về mặt lý thuyết cũng như thực hành, có

nhiều người rất khó chấp nhận học thuyết này. Cách chung,

người ta có thể nói rằng Mater et Magistra đã đánh giá thấp

hoặc không quan tâm đầy đủ những phản hồi sâu xa của dòng

cuộc sống thường nhật và các não trạng hiện nay.

Vấn đề thứ hai liên quan đến vấn đề các nước kém phát

triển, “có lẽ là vấn đề quan trọng hất của thời đại chúng ta”

(số 157). Thông điệp đã cho rằng vấn đề chưa được bàn đến

một cách kỹ lưỡng. Chênh lệch giữa các nước giàu và các

nước nghèo vẫn tiếp tục tồn tại và ngày càng gia tăng cách

nghiêm trọng hơn. Đứng trước gương xấu và cũng là thách đố

này, các dân tộc và cá nhân giàu có thường đáp lại bằng sự

vô tâm, bất lực hay bằng một sự quảng đại có tính toán, có

tích cách nhỏ giọt và phân tán. Một thông điệp dành riêng để

bàn về vấn đề này là điều thiết yếu, đó sẽ là thông điệp

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 174

Populorum Progressio, là một văn kiện mạnh mẽ của Đức

Phaolô VI (1967).

Sau cùng, Giáo hội năm 1961 còn ý thức mình là Mater

et Magistra, tức Mẹ và Thầy : là ánh sáng, sự khôn ngoan và

sức mạnh cho các dân tộc đang gặp khó khăn và khốn đốn, là

sự nhắc nhớ đến nguồn gốc và cùng đích siêu nhiên của lịch

sử của họ. Giáo hội là “Nhiệm Thể của Đức Kitô”, gần gũi và

quan tâm đến lịch sử của con người, nhưng lại “vượt trên“ mọi

nhốn nháo hỗn độn; như thế có lẽ sẽ khiến người ta nghĩ rằng

bản thân Giáo hội vẫn bình an vô sự đối với những biến động

của thời đại. Nhưng Giáo hội là gì, Giáo hội đứng ở đâu đối

với thế giới? Do đâu có quyền lên tiếng? Chúng ta đã biết đó

là những vấn đề lớn mà Công Đồng sẽ bàn tới trong những

năm sau đó, từ hiến chế Lumen Gentium đến Gaudium et

Spes. Có lẽ phải thấy cho được một biểu tượng trong đoạn

văn đầu tiên của văn kiện nổi tiếng này. Một biểu tượng thần

học: Giáo hội nói với thế giới vì Giáo hội ở trong thế giới;

không chỉ “gần gũi và quan tâm đến” nhưng còn đích thân

tham dự vào vận mệnh vui mừng và hy vọng của thế giới, dấn

sâu trong thế giới như men không phải “của” thế giới, nhưng

lại cũng không phải “ở ngoài” thế giới. Kế đến là một biểu

tượng xã hội học của thực tại đang diễn ra này: trong những

năm này, Giáo hội đã luôn được tránh khỏi tác động của

những biến chuyển của thế giới. Giáo hội nay sắp gặp một

khủng hoảng chưa từng thấy nơi chính mình, trước sự kinh

ngạc của công luận. Đây không phải là nơi để nhìn lại lịch sử

sau Công đồng,việc tổng kết lịch sử còn được bàn cãi nhiều

và Giáo hội cũng còn chưa bước ra khỏi giai đoạn lịch sử này.

Tuy nhiên, người ta phải nhận thấy rằng “vị trí của diễn văn”

này, ít là đối với một thời, không còn trung lập hoặc tuỳ phụ

nữa và thông điệp Mater et Magistra cũng còn thể hiện một

kết thúc và một bước ngoặc về vấn đề này.

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 175

Ngoại trừ những người cực đoan trong thế giới chính trị

và tôn giáo nói chung thông điệp này rất được tán thưởng,

thông điệp còn được mọi bên dùng tới. Chắc hẳn là nhờ sự

góp phần của cái diện mạo ít mang tính hệ ý thức của nó. Cụ

thể là, ở Tây Ban Nha với chính thể Franco,người ta đã đón

mừng thông điệp… Trong khi “Che” Guevara,lúc bấy giờ

đang là Bộ trưởng Công nghiệp Cuba, giới thiệu nó với

“những người công nhân hầm mỏ Công giáo ở Châu Mỹ” để

đọc, nếu như họ muốn tránh một cuộc cách mạng xã hội.

Nhìn lại, chúng ta có thể nói thông điệp đã mở ra một hướng

tương lai; thông điệp đã đề ra tư tưởng để mở đường; thông

điệp đã xác định một hướng đi Kitô giáo, không phải chính

xác là một dự án xã hội, nhưng trong một bối cảnh chính trị

đủ rộng, thông điệp đã gợi lên những phương hướng và

những hiệu chỉnh như là nguyên tắc khởi đầu : phải tôn trọng

nhân vị như là giá trị luôn vượt trên những sách lược cụ thể

về kinh tế chính trị, và không thể bị nó thống trị.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 176

DÀN BÀI

Dẫn nhập (số 1-9)

I. Giáo huấn về xã hội của giáo hội từ Đức Leo XIII đến

Đức Pio XII

Thời kỳ của đức Piô XIII với thông điệp “Rerum

Novarum”. Đức Piô XI với “Quadragesimo anno”. Đức Piô

XII với thông điệp truyền thanh năm 1941. Những thay đổi hiện tại

và mục đích của thông điệp mới. (10-50)

II. Xác định chi tiết học thuyết

A. Sáng kiến riêng và sự can thiệp của nhà nước (51-

58)

B. Xã hội hoá. Sự kiện những thuận lợi và bất thuận

lợi. Làm sao để lợi dụng nó (59-67).

C. Trả công lao động. Những bất bình đẳng và bất

công. Lương bổng thích đáng. Tiến bộ kinh tế và

tiến bộ xã hội. Quyền được góp vốn của những

người lao động. Lương bổng và công ích của đất

nước (68-81).

D. Xí nghiệp. Công bằng trong cơ cấu. Những hình thái

thủ công nghiệp và hợp tác xã. Sự tham gia của

người lao động. Các hiệp hội của những người lao

động. Các công đoàn. OIT(82-103).

E. Quyền sở hữu. Quyền sở hữu và lãnh đạo. An

ninh,bảo hiểm và cạnh tranh nghề nghiệp. Tính hợp

pháp của quyền sở hữu (104-121).

III. Những khía cạnh mới của vấn đề xã hội

A. Sự công bằng trong tương quan giữa ngành nông

nghiệp và các ngành khác. Dòng chảy lao động từ

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 177

nông thôn và những nguyên nhân của nó. Nhưng

biện pháp ưu đãi cho nông thôn. Những vấn đề đặc

thù. Khai thác nông nghiệp. Vai trò của nông dân.

Sự cần thiết thành lập hiệp hội (123-149).

B. Sự cân đối giữa các vùng trong một đất nước (150-

156).

C. Những quan hệ giữa các quốc gia phát triển và quốc

gia kém phát triển. Tình trạng kém phát triển. nghĩa

vụ liên đới và bác ái. Cứu trợ khẩn cấp. Hỗ trợ cho

phát triển. Vài chuẩn mực. Công giáo tiến hành

(157-184).

D. Phát triển dân số và phát triển kinh tế. Những vấn

đề đáng lo ngại. Vấn đề của thế giới. Trong những

nước kém ưu đãi. Chuyển thông sự sống. Tài sản

của trái đất là để phục vụ cho con người (185-199).

E. Vấn đề hợp tác quốc tế (200-211).

IV. Những chỉ dẫn mục vụ (212)

Các hệ tư tưởng sai lầm hay què cụt. Thiên Chúa là

nền tảng thiết yếu cho một trật tự công bằng. Ý nghĩa

và giá trị của học thuyết xã hội của Giáo hội. Việc

hình thành giáo thuyết và phổ biến giáo thuyết. Những

cơ sở cho người kitô hữu hành động trong xã hội. Nhân

bản hoá nền văn minh hiện đại. Kitô giáo và sự phát

triển con người. Ý nghĩa của lao động đối với những

thành viên của nhiệm thể Chúa Kitô. Từ giáo huấn

đến thực tế. Sự hữu hiệu của những nguyên tắc xã hội

của Kitô giáo (213-264).

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 178

 

THÔNG ĐIỆP HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ

Mater et Magistra

1. Giáo hội phổ thông khắp thiên hạ, là Hiền mẫu và

tôn sư của các dân tộc. Chúa Giêsu đã lập ra, để toàn thể

nhân loại trải qua các thời đại lịch sử, mà tìm sẵn trong lòng

và trong tình yêu của Người, một nguồn sống dồi dào cao siêu

và một bảo đảm cho họ chắc được cứu rỗi phần hồn.

Đấng thành lập Giáo hội làm cột trụ và nền tảng vững

chắc của chân lý cũng đã uỷ cho Giáo hội hai sứ vụ: trước là

sinh sản, sau là giáo dục và hướng dẫn đoàn con, với một lòng

mẫu tử ân cần, bảo vệ mạng sống từng người và mạng sống

các dân tộc. Đời nào cũng như đời nào Giáo hội đã tận tâm

tôn trọng và bảo vệ phẩm giá đặc biệt của con người.

2. Thực ra, đạo Chúa Kitô phối hợp trời đất với nhau.

Vừa đón nhận loài người trong thực tế cụ thể, tinh thần và vật

chất, trí tuệ và ý chí, vừa tha thiết kêu mời họ hứng tâm lên,

đi từ những hoàn cảnh phù vân và hằng biến đổi của thế sự,

mà vươn mình lên tuyệt đỉnh của đời sống vĩnh cửu, là chốn

họ mới tận hưởng hạnh phúc và hòa bình trường sinh.

3. Đành rằng sứ vụ trực tiếp của Giáo hội là thánh hóa

các linh hồn và thông cho họ những ơn phúc siêu nhiên cần

thiết. Nhưng gián tiếp Giáo hội cũng ân cần với đời sống

thường ngày của nhân loại. Đối với từng người, Giáo hội hằng

lưu tâm đến như cầu và địa vị sinh hoạt của họ; Còn đối với

các dân tộc, Giáo hội lo cho chúng luôn luôn phồn thịnh và

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 179

hưởng nền văn minh trong đủ mọi khía cạnh và tùy theo mọi

thời đại ?

4. Làm như vậy, Giáo hội chỉ thể hiện sứ mệnh cao cả

của Chúa Kitô, là vị sáng lập. Xưa kia Chúa Kitô lo nhất, là

cứu chuộc nhân loại về phần siêu nhiên vĩnh cửu. Nhắm mục

đích ấy Chúa nói: “Ta là đường, sự thật và là sự sống. Ta là

ánh sáng thế gian”. Chỗ khác Chúa động lòng thương đám

dân đói lả, Chúa than thở rằng: “Ta động lòng thương đám

đông này”. Đó là một bằng chứng rõ ràng, Chúa cũng lo đến

những đòi hỏi thế tục của các dân tộc. Những lời nói và

những gương hạnh của Đấng Cứu Thế xưa luôn luôn minh

chứng rằng: Tâm hồn Người nặng chĩu những mối lo ấy.

5. Tỉ dụ như Người làm phép lạ hóa bánh ra nhiều; cho

dân chúng đỡ đói. Nhưng qua phép lạ ấy, Người lấy bánh

nuôi xác làm tượng trưng bánh hằng sống là thực phẩm của

các linh hồn Người sẽ phân phát cho toàn thể nhân loại, trước

khi chịu tử nạn.

6. Bởi thế Giáo hội noi gương và tuân lệnh Chúa Kitô,

có người lấy làm ngạc nhiên là sao suốt trong hai nghìn năm

lịch sử từ ngày lập chức phó tế xưa cho đến ngày nay, Giáo

hội nêu cao đuốc bác ái không ngừng, chẳng những bằng

huấn luyện mà lại bằng cả những gương hạnh không sao kể

xiết được. Nhờ lòng bác ái Giáo hội mới dung hòa được luật

thương yêu nhau với những thực hành bác ái của Người. Nhờ

lòng bác ái, Giáo hội thể hiện một cách tuyệt diệu luật thi ân

hai điều vốn là toát yếu học thuyết và hành động xã hội của

Giáo hội.

Vì thế mà chúng ta cũng phải tin nhận bức thông điệp

RN do Đức Tiên Giáo hoàng Lêo XIII đáng ghi nhớ, đã công

bố 70 năm về trước, là một bằng chứng vĩ đại về học thuyết

và mọi hành động xã hội của Giáo hội trải qua trong lịch sử.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 180

7. Đức Lêô XIII đã công bố bức thông điệp ấy để nêu

lên những nguyên tắc căn bản, ai cũng phải áp dụng để giải

quyết vấn đề lao động cho thích hợp với đạo thánh Chúa Kitô.

Chẳng mấy khi nào những huấn lệnh của một vị giáo hoàng

làm rung động cả thế giới bằng khi ấy. Vì những vấn đề được

giải quyết thì sâu rộng, và cũng vì cách giải quyết đã có sức

nhiệm phát động quần chúng lạ lùng.

8. Thực ra, không bao giờ thế giới được nghe những lời

chỉ dẫn và những huấn điều quan trọng đến thế, quan trọng

đến nỗi không thể quên đi được. Bức thông điệp ấy đã mở

rộng cho Giáo hội một con đường hoạt động mới. Chúa chiên

cao thượng nhất, thông cảm chịu lấy những sự đau khổ, những

than vãn và những nguyện vọng của các dân đen bị áp bức,

rồi đứng dậy bênh hộ quyền bất khả xâm phạm của họ.

9. Ngày nay, dầu một quãng thời gian lâu dài đã trôi

qua, bức thông điệp ấy vẫn có giá trị hợp thời và thực thể

trong các văn kiện của những giáo hoàng liên tiếp kế vị Đức

Lêô XIII. Vì học thuyết xã hội của những giáo hoàng ấy xuất

hiện từ ở bức thông điệp của Đức Lêô XIII, hoặc là nguồn

tiên hứng, hoặc là nguồn ý kiến các ngài diễn giảng dài hơn

hoặc là nguồn tràn lời an ủi và nâng đỡ các kitô hữu hành

động. Hợp thời và thực thể hơn nữa, ngay trong những tổ chức

mới của các dân tộc là một tang chứng rực rỡ, những nguyên

tắc đã được khảo cứu tường tận, những huấn lệnh lịch sử,

những lời khuyên nhủ thiết tha đã được biên ghi trong bức

thông điệp RN ngày nay vẫn có giá trị như xưa, mà lại dẫn

khởi những huấn lệnh mới và thích thời giúp người ta, hoặc

tìm hiểu vấn đề xã hội sâu hơn và thích hợp với đời ta bây giờ

hơn, hoặc quyết tâm đảm nhiệm phận sự riêng.

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 181

PHẦN THỨ NHẤT

Những huấn lệnh của bức thông điệp RN và những tiến

triển thích đáng của những huấn thị ấy qua các văn kiện của

Đức Giáo Hoàng Piô XI và Piô XII.

10. Đời Đức Lêô XIII lên tiếng, đã đầy những biến cố

sâu thẳm, những mâu thuẫn gay go, những khởi loạn hung ác

trong đủ mọi phạm vi kinh tế, chính trị. Nhưng đời ấy càng

đen tối, học thuyết của Người công bố càng sáng rực.

11. Ai cũng thừa biết hồi đó, quan niệm phổ thông nhất

về cả hai phương diện học thuyết và thực hành, vừa đề cao

kinh tế có những tiềm lực tự nhiên hướng dẫn, vừa chối

không chịu đặt kinh tế dưới quyền luân lý điều khiển. Thành

ra ai tham gia vào những hành động kinh tế, chỉ cốt theo đuổi

một mục đích là gây tư lợi. Những nguyên do tự nhiên hợp tắc

kích thích mọi hành động kinh tế, chỉ còn tuân cứ một điều

luật tối cao, là tự do cạnh tranh vô chừng hạn. Lời lãi của tư

bản, giá hàng hóa và công vụ, hoa lợi và lương bổng đều

được chỉ định tùy theo luật thị trường, vô thức độc quyền.

Chính quyền không phương cách nào can thiệp vào lãnh vực

kinh tế này. Đồng thời, các nghiệp đoàn tùy theo dân nọ nước

kia, hoặc bị cấm đoán, hoặc bị mua chuộc, hoặc chỉ được nhận

là những tổ chức tư nhân.

12. Dưới một định chế như vậy, lý kẻ mạnh bao giờ

cũng được nhận là phải, không những trong lý thuyết mà lại

trong thực tế nữa. Nó chỉ huy mọi mối liên hệ giữa loài người.

Kết quả, giới kinh tế trên dưới hoàn toàn hỗn độn.

13. Đang lúc thiểu số dồn lại trong tay những tài sản

mênh mông, thì phần đa số công nhân nheo nhóc trong cảnh

khổ cực ngày càng khó chịu. Lương bổng hạ, đến nỗi công

nhân không những không đủ nuôi sống mà lại còn không

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 182

tránh được nạn đói rách. Những dân đen vô sản phải làm việc

trong các hoàn cảnh nguy hại đến sức khỏe, luân lý và đức tin

của họ. Hoàn cảnh lao động nữ giới và các thanh niên, thì

càng bất nhân hơn nữa. Quái tượng của một đời sống thất

nghiệp, đêm ngày hằng xuất hiện trước mặt công nhân. Dần

dần gia đình lâm nguy sợ phải ly tán !

14. Hậu quả tất nhiên là giới lao động bất mãn lòng đầy

căm hờn. Công nhân cự tuyệt xã tắc tiền định. Những tà

thuyết xã hội quá khích tha hồ lưu chuyển trong giới lao động.

Họ không thấy phương dược tà thuyết ấy hại hơn cả cơn bệnh

cần phải sửa chữa.

I. CANH TÂN XÃ HỘI: NGUYÊN TẮC CĂN BẢN.

15. Trong những trường hợp ấy, bức thông điệp của Đức

Lêô XIII là một thông điệp xã hội căn cứ vào những đòi hỏi

chính đáng của nhân loại vừa nhiễm đầy những nguyên tắc và

tinh thần phúc âm. Không kể những phe quá khích ai cũng

biết họ sẽ kịch liệt chống cự, cả thế giới đầu nhiệt liệt hoan

nghênh và ngạc nhiên cảm phục bức thông điệp ấy. Thực ra,

lần ấy không phải là lần đầu mà thế sự được tòa thánh lưu

tâm đến, và giới lao động được Đức Giáo Hoàng biện hộ. Đức

Lêô XIII thật không thiếu gì những văn kiện nêu lên vấn đề

ấy và mở đường tìm giải pháp. Nhưng lần này mới là lần đầu

tiên, mà tòa thánh kết cấu tổng hợp trong một bức thông điệp

nguyên tắc và chương trình hành động xã hội của Giáo hội.

Ngày nay ta phải nhận thực rằng: Bức thông điệp RN là học

thuyết xã hội kinh tế của Giáo hội nói được là toàn thư.

16. Chỉ một người thật dũng cảm mới cho xuất hiện bức

thông điệp ấy. Đang lúc bao người cảnh cáo Giáo hội chỉ biết

khuyên nhủ kẻ bần cùng chịu nhịn phận bạc của mình, và

yêu cầu kẻ giầu sang hãy quảng đại giúp đỡ họ, Đức Lêô

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 183

XIII chỗi dậy không chút ngần ngại tuyên bố và biện hộ

quyền lợi bất khả xâm phạm của giới lao động. Đã thầm

quyết trình bày những nguyên tắc bất di bất dịch của học

thuyết xã hội công giáo, Người long trọng tuyên bố trước

rằng: Ta bàn đến vấn đề này với một lòng tin vững chắc, vì

giải quyết vấn đề ấy là việc chính thức thuộc về linh quyền

của ta. Vấn đề xã hội hiện nay sôi nổi cực độ. Không tìm giải

pháp ở tôn giáo và Giáo hội thì không ai giải quyết được một

cách hiệu nghiệm.

17. Anh em đáng kính, chắc anh em thừa biết những

nguyên tắc mà Đức Tiên Giáo hoàng đã long trọng và minh

bạch đề cao giãi bày. Nhờ những nguyên tắc ấy, xã hội nhân

loại mới chắc được tái tạo trong đủ mọi phạm vi kinh tế và xã

hội.

Nguyên tắc thứ nhất

18. Trước hết, cần lao biểu dương nhân cách của con

người, nên nếu coi nó chỉ là một món hàng, là tội. Đối với

phần đa số nhân loại, cần lao là sinh kế độc nhất. Bởi thế chủ

nhân không được thanh toán lương bổng công nhân như thể

công việc của họ là đồ mua bán ở thị trường. Phải định lương

trả cho thợ theo công bằng và bác ái. Không thì dầu giao kèo

cần lao được đôi bên ưng nhận và ký kết, công bằng cũng bị

tổn thương nặng nề.

Nguyên tắc thứ hai

19. Quyền tư hữu, kể luôn khí cụ máy móc, là quyền tự

nhiên của từng công dân, chính quyền không bãi bỏ được.

Nhưng vì quyền tư hữu là một tác dụng có tư cách xã hội, tư

nhân sử dụng không những để gây lợi ích riêng mà lại để góp

phần vào công ích nữa.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 184

20. Vì mục đích chính quyền là thể hiện công ích, thì

chính quyền không thể nào bỏ phớt, không dính dáng vào

lãnh vực kinh tế. Trái lại chính quyền phải thúc đẩy dân

chúng tăng gia sản xuất, cho mọi công dân đủ sống về vật

chất: “Vì có thực mới vực được đạo”. Chính quyền lại phải

bênh vực quyền lợi của mọi công dân, nhất là quyền lợi kẻ

yếu đuối như công nhân, phụ nữ và thiếu niên. Chính quyền

không thể nào tránh phận sự quyết liệt cải hóa thân phận

công nhân.

21. Chính quyền lại phải kiểm soát những giao kèo cần

lao, để chắc nó được ký kết theo công bằng và minh chính.

Chính quyền cũng phải kiểm soát các công trường, để phẩm

cách hồn xác của công nhân khỏi bị tổn thương. Về phương

diện ấy, bức thông điệp của Đức Lêô XIII đã nêu cao những

nguyên tắc căn bản của một xã tắc công bằng và minh chính,

và ảnh hưởng sâu rộng đến luật pháp của các chính phủ

đương kim. Ngày nay quốc gia nào cũng tùy tâm lý riêng

hưởng lợi. Trong bức thông điệp Tứ Thập Niên (QA) Đức Piô

XI nhận thực điều đó rằng: “Những nguyên tắc của Đức Lêô

XIII đã phát huy mà lại phát triển nữa, một ngành mới trong

dân luật, tức là luật lao động.”

22. Bức thông điệp RN cũng thừa nhận cho công nhân

quyền tự nhiên lập công đoàn, hoặc dành riêng cho công

nhân, hoặc chung cho công nhân và chủ nhân, và tổ chức

những công đoàn ấy tùy theo những đòi hỏi của từng công

nghệ. Bức thông điệp ấy cũng quả quyết công nhân hành

động tự do, theo ý nguyện riêng, và theo thể cách ích lợi nhất

của họ. Không ai ngăn cấm, không ai phản đối được ý

nguyện chính đáng của họ.

23. Sau hết công nhân và chủ nhân phải đối đãi với

nhau theo những nguyên tắc của tính hợp quần của nhân loại

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 185

và tình nghĩa huynh đệ của đạo Chúa Kitô. Hai chủ nghĩa tha

hồ cạnh tranh của phe tự do, và giai cấp tương tranh của Các

Mác, đều trái ngược học thuyết công giáo và tính tự nhiên của

nhân loại.

24. Anh em đáng kính, đó là những nguyên tắc làm căn

bản cho một xã tắc xã hội kinh tế chính đáng, vững bền.

25. Bởi thế không lạ gì khi thấy bao người công giáo tài

trí lỗi lạc tuân cứ những chỉ thị của Đức Lêô XIII, và thành

thực đua nhau tìm trăm phương ngàn cách áp dụng vào thực tế

học thuyết xã hội công giáo. Ngoài ra ở khắp bốn phương

cũng đã không thiếu gì những người thiện chí cảm hứng

những xu hướng tự nhiên của nhân loại, mà rảo bước cùng

nhau theo con đường ấy.

26. Không phải là vô lý mà bức thông điệp của Đức

Lêô XIII được gọi và hiện giờ còn mang tên là Đại Hiến

chương của mọi cố gắng tái tạo kinh tế và xã hội hiện tại.

ĐỨC PIÔ XI VÀ BỨC THÔNG ĐIỆP QA

27. Bức thông điệp RN ra đời được 40 năm, thì Đức

Tiên Giáo hoàng Piô XI đã cho xuất hiện một bức thông điệp

khác với nhan đề là QA cũng là một văn kiện cực kỳ long

trọng.

28. Văn kiện mới này lại chứng minh quyền lợi và phận

sự của Giáo hội phải góp công tìm giải quyết những vấn đề

cực kỳ nghiêm trọng làm xúc động toàn thể nhân loại hiện

tại. Đức Tiên Giáo hoàng lại xác định lần nữa những nguyên

tắc và những huấn lệnh của bức thông điệp RN, là những

nguyên tắc và những huấn lệnh còn thích thời. Người cũng

nhân dịp ấy để phân minh một vài quan điểm học thuyết xã

hội công giáo, còn đang khiến cả giáo dân bất đồng ý với

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 186

nhau, rồi định thể cách áp dụng những nguyên tắc và huấn

lệnh nói trên vào tình trạng xã hội mới.

29. Thực ra thời kỳ đó đã có bao nhiêu kitô hữu do dự

không biết nghĩ gì về quyền tư hữu, quy chế lương bổng, và

chế độ xã hội dưới hình thức điều độ mới.

30. Về quyền tư hữu, Đức Tiên Giáo hoàng vẫn nói

quyết là quyền tự nhiên của từng cá nhân, nhưng Người nhấn

mạnh và định rõ tư cách cùng phận sự xã hội của mọi tư sản.

31. Về quy chế lương bổng Người phi bác luận thuyết

thường công bố là một quy chế bất công. Nhưng Người cũng

kết án những thể cách thực hành quy chế đó nhiều khi là vô

nhân đạo và quá bất công. Người lại xác định luật lệ và

những điều kiện phải tuân cứ cho quy chế ấy hợp với sự công

bằng và minh chính.

32. Theo lời Đức Tiên Giáo hoàng chỉ dậy, trong thời kỳ

này thì rất nên mượn của giao kèo xã hội một vài điểm chính

để bổ khuyết cho giao kèo cần lao xưa kia. Vì nhờ vậy lao

động và công nhân được tham gia vào tổ chức xí nghiệp, về

phương diện chấp hành và chia hoa lợi nữa.

33. Còn một điều rất quan trọng phải lưu tâm đến trong

cả phạm vi lý thuyết và thực hành, là không định giá công lao

và trả công thợ cho công bằng, nếu kẻ ấy coi thường tư cách

cá nhân và xã hội của cần lao. Nên khi xác định lương bổng

phải chăng của công nhân, chủ nhân phải vừa lưu tâm đến

nhu cầu riêng và nhu cầu gia đình của công nhân, vừa phải

thanh toán tình trạng xí nghiệp đã mướn họ và những đòi hỏi

của nền kinh tế chung.

34. Đức Tiên Giáo hoàng cũng tuyên bố rằng : Cộng

sản tự tận gốc tương phản với công giáo chủ nghĩa. Người

công giáo không nỡ nào xác nhận chủ nghĩa xã hội, dầu cả

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 187

dưới những hình thức điều độ mới. Lý do là vì theo chủ nghĩa

xã hội bất cứ dưới hình thức nào, đời sống con người chỉ kết

thúc trong hiện tại, mục đích là sống an nhàn ở dưới thế. Hơn

nữa, chủ nghĩa xã hội đặt cứu cánh xã hội ở chỗ tăng gia sản

xuất, là hạn chế quyền tự do của con người. Sau hết chủ nghĩa

xã hội thiếu một quan niệm xác đáng về phận vụ chính quyền

trong xã hội.

35. Dầu sao Đức Piô XI cũng nhận thực trong vòng 40

năm, kể từ ngày bức thông điệp RN xuất hiện, thời thế đã

biến chuyển rất nhiều. Chế độ tự do cạnh tranh theo chính

sách biện luận riêng của nó, đã đi đến chỗ tự tiêu. Các tài sản

rộng lớn đều dồn lại trong tay thiểu số người triệu phú.

Chuyên quyền kinh tế kèm theo đó cũng nằm trong tay kẻ ấy,

sự thường họ không phải là chủ sản đâu, mà chỉ là người thu

thác và làm quản lý những tư bản lớn, họ được tự do tiêu

dụng và quản nhiệm.

36. Đức Tiên Giáo hoàng cũng minh xác rằng : Kế tiếp

chính sách tự do thị trường trước kia, ngày nay ta thấy xuất

hiện một chế độ kinh tế độc tài. Trước thì người ta chỉ ham tư

lợi, ngày nay người ta lộng hành tham quyền. Đời sống kinh

tế hóa nên một đời sống gay go, hung ác và tàn nhẫn kinh

khủng. Kết quả chính quyền lệ thuộc mối lợi giàu sang. Tiền

tài đứng lên làm bá chủ thế giới.

37. Xã hội đã sai chính đạo. Đức Giáo Hoàng định rõ

những nguyên tắc cần thiết để dứt khoát những sự tàn nhẫn

kia. Kinh tế phải tái nhập vào quy tắc luân lý. Lợi ích riêng

của từng cá nhân và các đoàn thể phải quy phục những đòi

hỏi của công ích. Theo lời Đức Giáo Hoàng chỉ dạy, để hoàn

tất công việc ấy, phải tái lập trong xã hội nhân loại những tổ

chức kinh tế và nghiệp đoàn tư nhân, không phải do chính

phủ đề cử, bèn là do công dân tự lập. nhờ vậy chính quyền

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 188

mới trở về với sứ vụ riêng của họ, là gây dựng và bảo vệ

công ích. Còn trên bình diện quốc tế, các quốc gia phải hợp

tác với nhau để thể hiện một nền kinh tế chung cho cả nhân

loại.

38. Những đề tài đặc sắc trong bức thông điệp của Đức

Piô XI thì gồm tắt trong hai điểm chính: điểm thứ nhất là chối

hẳn không chịu nhận làm luật căn bản tuyệt đối của nền kinh

tế, hoặc tư lợi riêng của từng cá nhân hay từng đoàn thể, hoặc

luật tự do cạnh tranh vô hạn, hoặc độc quyền kẻ giầu sang,

hoặc lãnh vực quốc gia, hoặc những tham vọng tương đương

khác.

39. Trái lại tất cả mọi hành động kinh tế phải quy phục

luật công bằng và bác ái là căn bản tuyệt đối của xã hội.

40. Điểm thứ hai: Đức Piô XI tha thiết yêu cầu lập ra

những cơ cấu công hay tư, quốc gia hay quốc tế, đặt dưới sự

hướng dẫn của công bằng xã hội, để gây dựng một thứ tự

pháp lý cần cho tổ chức kinh tế dung hòa được tư lợi với công

ích.

THƠ TÍN TRUYỀN THANH DỊP LỄ CHÚA HIỆN XUỐNG

41. Đức Giáo Hoàng Piô XII mà ta vinh hạnh kế vị,

cũng đã góp một phần không ít trong việc xác định quyền lợi

và nghĩa vụ xã hội. Ngày 1.6.1941, dịp lễ Đức Chúa Thánh

Thần hiện xuống, Ngài truyền qua làn sóng vô tuyến điện

một thơ tín, mục đích là nhắc lại cho thế giới công giáo lưu

tâm đến một ngày kỷ niệm đáng viết bằng chữ vàng trong

lịch sử Giáo hội, tức là kỷ niệm ngũ thập niên (15.5.1891) bức

thông điệp RN của Đức Lêô XIII. Đức Giáo Hoàng nhân dịp

ấy mà cảm tạ Chúa toàn năng đã linh ứng cho người đại diện

Chúa ở dưới thế, và tận tâm ca ngợi Đức Chúa Thánh Thần đã

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 189

dùng bức thông điệp ấy mà thổi một loạt hơi tái tạo vào thế

giới, là một bức thư càng ngày càng làm nổi lên cả nhân loại.

42. Trong thông điệp truyền thanh này, Đức Giáo hoàng

đòi lại quyền bất khả xâm phạm cho Giáo hội xét đoán bất cứ

tổ chức xã hội nào, căn bản có phù hợp với trật tự bất di bất

dịch Thiên Chúa dựng nên, cứu chuộc nhân loại, và tiền định

cho muôn vật tiến triển theo luật tự nhiên và đạo mạc khải.

Người cũng lại xác nhận rằng: Những huấn dụ của thông điệp

RN vẫn rất hợp thời và còn hiệu nghiệm vô cùng. Người cũng

nhân dịp ấy để nhắc lại những nguyên tắc luân lý áp dụng

được vào ba điểm chính của một đời sống xã hội, kinh tế

chính đáng, tức là quyền sử dụng vật chất, phận vụ cần lao,

cảnh gia đình là ba điểm căn bản tương trợ nhau.

43. Về quyền sử dụng của cải, Đức Piô XII tuyên bố:

đó là quyền ai cũng có và phải đòi lại để nuôi sống, vì là

quyền trổi vượt bất cứ chuyên quyền kinh tế nào, kể luôn

quyền tư hữu nữa. Quả thực, quyền tư hữu là quyền tự nhiên.

Nhưng dầu sao Tạo hóa cấm quyền ấy không thể nào làm khó

dễ cho toàn thể nhân loại đòi hỏi và sử dụng muôn vật cần

thiết theo luật công bằng và bác ái là căn bản nền kinh tế

Chúa an bài.

44. Về phận vụ cần lao, Đức Piô XII cũng căn cứ vào

những huấn dụ của bức thông điệp RN mà quả quyết rằng:

Cần lao vừa là một phận sự, vừa là một lợi tức của mỗi người.

Thành ra chính những người tham gia vào cần lao, có quyền

ưu tiên để phân định những mối giao tế trong việc làm. Chỉ có

khi nào họ không muốn hay không thể nào giải quyết được

những vấn đề ấy, thì khi đó chính quyền mới can thiệp được

vào việc phân phối việc làm tùy theo hình thức và hạn định

của công ích chính đáng.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 190

45. Về cảnh gia đình Đức Giáo hoàng tuyên bố rằng:

Quyền tư hữu đối với của cải bảo đảm và mở mang đắc lực

đời sống gia đình. Nó ban cho các gia trưởng quyền tự do

chính đáng và cần thiết để thể hiện những nghĩa vụ đấng Tạo

Hóa giao uỷ cho họ, về đủ mọi phương diện vật chất, tinh

thần, tôn giáo và gia đình. Nhờ đó gia đình nào cũng có

quyền đòi xuất dương di trú. Thành ra Đức Giáo hoàng yêu

cầu các quốc gia hoặc cho phép xuất ngoại hoặc đón nhận kẻ

xin cư ngụ, phải thành thực loại bỏ tất cả những gì làm cho họ

khó nảy ra hay làm phát ra một tinh thần tín nhiệm nhau thật

lòng. Đôi bên thành tín với nhau, thì bên nào bên nấy cũng

hưởng lợi và phát triển mức văn hóa của từng dân tộc.

Những biến chuyển mới lạ.

46. Chính Đức Piô XII đã nhận thực tình trạng xã hội từ

đời Đức Lêô XIII đã biến chuyển rất nhiều. Nhưng trong 20

năm vừa qua, ta nói được tình trạng ấy đã biến đổi tận gốc,

hoặc trong nội bộ của từng quốc gia, hoặc trong những giao tế

giữa các quốc gia.

47. Trong phạm vi khoa học, kỹ thuật và kinh tế, sự

biến chuyển lạ nhất đã do nguyên tử lực phát minh mà càng

ngày càng được áp dụng vào khía cạnh chiến tranh trước, sau

vào những cố gắng dựng lại hòa bình thế giới. Nhưng sự biến

chuyển đó lại bởi những nguyên nhân khác nữa:

Hóa học đem đến cho thế giới bao phương tiện chế tạo

ra sản phẩm tổng hợp, nói được là vô chừng hạn.

Sự phát triển và hưởng dụng máy móc tự động trong

khía cạnh kinh tế và công vụ.

Nông nghiệp được canh tân một cách lạ lùng mau

chóng.

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 191

Sự gần xa giữa các nước hầu như không còn đáng kể

chi nữa, vì nhờ máy truyền thanh và truyền hình.

Sự vận chuyển mỗi ngày một mau chóng hơn…

Những thực hiện khởi đầu cho nhân loại không gian liên

hành tinh vân vân …

48. Trong phạm vi xã hội cũng thế:

Sự bảo hiểm xã hội đã tiến triển, đến nỗi trong những

nước kinh tế mở mang nhiều đã thấy xuất hiện những tổ chức

bảo hiểm đủ mọi sự rủi ro nguy hiểm.

Nhờ các nghiệp đoàn đào tạo và làm phát triển mãi, nên

ý thức và trách nhiệm kinh tế xã hội ngày càng sáng suốt

hiệu lực.

Nền giáo dục căn bản đã mỗi ngày một lên cao trong

đời sống đa số công dân.

Chỗ nào cũng thấy nếp sống sung túc hơn.

Những cấp bậc phẩm trật công nghệ liên lạc với nhau

mau chóng hơn. Các giai cấp xã hội trước xa nhau một vực

một trời ngày nay thì gần gũi hơn.

Dầu những người chỉ có nền văn hóa trung bình, họ

cũng bắt đầu lưu tâm đến vấn đề thời sự quốc tế.

Nhưng sự kinh tế xã hội ngày càng tiến triển ở nước nọ

nước kia, thì càng làm nổi bật lên những khía cạnh canh nông,

kỹ nghệ và công vụ còn quá chênh lệch với nhau. Còn những

địa phương cùng một quốc gia quá xa nhau, và trong phạm vi

quốc tế, thì bao dân nước nguồn lợi nhiều ít khác nhau một

vực một trời.

49. Trong phạm vi chính trị, cũng thấy bao sự lạ xảy ra.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 192

Trong bao dân nước, công dân bất phân chủng tộc cũng

được tham gia vào vận mệnh nước nhà.

Chính quyền mỗi ngày một can thiệp nhiều trong giới

kinh tế xã hội. Trong phạm vi quốc tế chế độ thuộc địa cáo

chung. Các dân Á Phi lần lượt thâu hồi nền độc lập chính trị.

Bao hội đoàn và tổ chức quốc tế được lập ra và phát

triển, vượt qua biên giới từng quốc gia mà tìm gây lợi ích

chung trong đủ mọi phạm vi kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa

học, hay phụ trách những mối giao tế giữa các quốc gia.

Mục đích bức thông điệp này.

50. Bởi thế, ta thú nhận phận vụ của ta là nêu cao đuốc

sáng các Đức Tiên Giáo hoàng đã nhóm lên, và khuyên nhủ

mọi người hãy giải quyết những vấn đề xã hội mới trong ánh

sáng và sự phấn khởi của những bức thông điệp trước, nhưng

bằng những phương pháp thích hợp với đời ta bây giờ.

Nhân dịp này ta cũng có ý kỷ niệm bức thông điệp của

Đức Lêô XIII. Nhưng nhận thực những sự biến chuyển mới lạ

kể trên. Ta cũng muốn nhắc lại và xác định những nguyên tắc

của các Đức Tiên Giáo hoàng, để nhờ đó mà giải nghĩa rõ

ràng những quan niệm của Giáo hội về các vấn đề quan trọng

và mới lạ của thời đại.

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 193

PHẦN THỨ HAI

II. NHỮNG XÁC ĐỊNH CẦN THIẾT VỀ HỌC

THUYẾT XÃ HỘI CỦA BỨC THÔNG ĐIỆP RN

A. Sáng kiến tư nhân và sự can thiệp của chính

quyền trong phạm vi kinh tế.

51. Nguyên tắc căn bản ai cũng phải công nhận, là trong

phạm vi kinh tế dầu có những hành động tư nhân mưu ích

riêng, và những hành động đoàn thể gây lợi ích chung, thì

hành động tư nhân vẫn có quyền ưu tiên.

52. Nhưng vì những lý do mà các Đức Tiên Giáo hoàng

đã xác định, chính quyền cũng phải can thiệp, để gia tăng sản

xuất cho phải lẽ, cần cho xã hội phồn thịnh và các công dân

hưởng lợi.

53. Sự can thiệp căn cứ vào nguyên tắc bổ trợ; mục đích

là định hướng, củng cố, bổ khuyết và kiện toàn sáng kiến tư

nhân. Nguyên tắc bổ trợ được Đức Giáo hoàng Piô XI đã định

nghĩa trong bức thông điệp QA rằng: (x.QA số 57)

54. Thực ra, ngày nay khoa học và kỹ thuật phát triển

rất nhiều. Nhờ vậy chính quyền đủ phương tiện hơn, hoặc để

giảm bớt sự chênh lệch giữa các chi tiết của nền kinh tế, hoặc

để giải hòa các địa phương của cùng một quốc gia, và cả các

nước trong thế giới. Cũng nhờ đó chính quyền có thể hạn chế

được những thiệt hại do những cuộc biến loạn gây nên trong

phạm vi kinh tế, và tìm sẵn những phương dược linh nghiệm

để tránh nạn đại chúng thất nghiệp. Bởi thế Ta yêu cầu chính

quyền vốn phải phụ trách công ích, hãy dùng trăm nghìn

phương cách đó để can thiệp vào phạm vi kinh tế nhiều hơn,

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 194

trật tự hơn mà thích dụng vào vật đích ấy, những cơ cấu,

những tổ chức, những khí cụ và những phương pháp đã có

sẵn trong tay.

55. Nhưng phải nhớ rằng: Dầu hành động kinh tế của

chính quyền thấm nhiễm đời sống cộng đồng bao nhiêu, nó

cũng không thể nào loại trừ quyền tự do hành động của tư

nhân. Hơn thế nữa chính quyền phải hậu đãi mọi hành động

tư nhân, miễn là những quyền chính yếu của con người được

bảo đảm, nhất là quyền và phận sự của từng công dân phải

nuôi sống và cấp đủ sự cần cho gia đình. Bất cứ chế độ kinh

tế nào cũng phải để từng cá nhân và giúp đỡ mọi người dùng

quyền tự do sản xuất của mình.

56. Ngoài ra, lịch sử cũng chứng minh rằng: Xã hội chỉ

phồn thịnh trong trật tự, khi mọi công dân và chính quyền

cộng tác với nhau chặt chẽ. Lúc nào họ cũng phải hành động

đồng ý với nhau: Phận sự của họ thì riêng biệt, nhưng dầu sao

cũng phải thích hợp với những đòi hỏi của công ích, tùy theo

hoàn cảnh, thời đại và phong hóa.

57. Kinh nghiệm cũng dạy rằng: Ở đâu thiếu sáng kiến

tư nhân, thì ở đó chế độ độc tài hiện đến, nền kinh tế bị tê

liệt trong rất nhiều chi nhánh quan trọng. Dần dần những sản

phẩm cần tiêu dụng thì thiếu, và phải tổ chức thêm bao công

vụ cần thiết cho con người không những được thỏa mãn nhu

cầu phần xác, mà lại cả những xu hướng phần hồn, là những

xu hướng có sức nhiệm gây nên và kích thích óc tạo dựng và

sáng kiến của từng cá nhân.

58. Trái lại chính quyền không chịu can thiệp theo lẽ

phải, hay là chỉ can thiệp dở dang, thì cả quốc gia sa vào

những cuộc hỗn loạn không ai cứu vãn được, những dân đen

bị kẻ giầu vô nhân đạo lợi dụng một sách tàn bạo. Cỏ lùng

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 195

mọc trong ruộng lúa thể nào, bởi vậy nước nào cũng có

những kẻ bất nhân, thừa dịp ấy để lạm dụng phe yếu đuối.

B. Vấn đề xã hội hóa:

Hiện tượng

59. Một trong những đặc điểm đời ta bây giờ, là cố gắng

xã hội hóa mọi sự. Những mối giao tế giữa nhân loại mỗi

ngày một thêm nhiều. Kết quả trong sự sinh hoạt và trong đủ

mọi hành động thường xuyên. Loài người họp chung tìm liên

lạc với nhau dưới mọi hình thức, và được tư pháp và công

pháp xác nhận. Những cố gắng xã hội hóa này, nguyên do thì

rất hợp thời: khoa học và kỹ thuật tiến bộ, năng lực sản xuất

tăng lên, nền văn minh mỗi ngày một cao hơn.

60. Đời sống xã hội tiến hóa, vừa là tượng chứng, vừa là

nguyên do của sự chính quyền mỗi ngày một can thiệp rộng

sâu vào những vấn đề mật thiết liên quan với những xu hướng

nội tâm của con người, toàn là những vấn đề quan trọng và

tinh tế; như vấn đề bảo vệ sức khỏe, đào tạo thanh niên. Vấn

đề hướng nghiệp: bình phục và tái huấn những lớp người

bệnh tật về thể xác và trí não. Những sự xã hội hóa nói trên,

cũng là kết quả tự nhiên của một khuynh hướng cực mạnh

không ai thắng hãm được. Loài người tự nhiêm hướng về một

đời sống tập đoàn, để kiếm được những lợi ích từng người

mong đến, nhưng là lợi ích vượt qua năng lực tự nhiên của

từng cá nhân. Chính vì khuynh hướng ấy, mà nhất là ngày

nay, loài người đã tình nguyện tổ chức bao hội đoàn, bao cơ

cấu, bao phong trào trong phạm vi quốc gia và quốc tế, và

nhắm vào đủ mọi mục đích: kinh tế, xã hội, văn hóa, tiêu

khiển, thể thao, nghề nghiệp hay chính trị.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 196

Lợi ích và thiệt hại cũng nhiều

61. Lẽ cố nhiên tình trạng xã hội hóa nói trên thì lợi ích

nhiều. Công dân cũng được nhờ rất nhiều. Như làm cho người

dùng quyền lợi riêng trong phạm vi kinh tế xã hội dễ dàng và

kết quả hơn, nhất là về sinh kế, thuốc men, giáo dục căn bản

và phổ thông, tu nghiệp, nhà ở, việc làm, sự an nghỉ, và giải

trí xứng đáng. Ngoài ra, nhờ những tổ chức thông tin, truyền

bá tư tưởng rất tinh xảo như báo chí, chiếu phim ảnh, máy thu

thanh, máy truyền hình; nên bất cứ người ta ở chỗ nào dầu xa

gần bao nhiêu, thì ai nấy cũng dự thính được những việc xảy

ra khắp ở hoàn cầu.

62. Nhưng đàng khác, sự phát triển giao tế trong đủ mọi

phạm vi khía cạnh đời sống, đòi hỏi bao huấn lệnh hay luật lệ

vốn phải xác định và chỉ dẫn thể cách liên lạc giữa nhân loại.

Vì thế quyền tự do của từng cá nhân bị hạn chế một phần

nào. Vì những kỹ thuật thường dùng, những phương pháp chỉ

định, những điều kiện phải tuân giữ, chẳng còn mấy ai theo

sáng kiến riêng, không cứ gì những ngoại hưởng đã hấp thụ

lấy, chẳng còn mấy ai hành động được một cách tình nguyện,

theo quyền lợi và nghĩa vụ riêng: Chẳng mấy ai tự do làm

phát triển tâm trí tài năng theo lý tưởng được. Cứ đà xã hội

này, phải chăng ngày mai con người sẽ phải sống như cái máy

ư? Thiết tưởng là không.

63. Những cố gắng xã hội hóa nhân loại, đâu có tùy

theo những tiềm lực tự nhiên hóa thiên nhiên. Trái lại, đó là

những cố gắng ý thức tự do của con người. Dầu con người

sống và hành động theo tính tự nhiên, nó vẫn ý thức trách

nhiệm phải hành động theo những luật tự nhiên do đạo nhân

tiền định cho, hay theo những luật kinh tế phải noi theo, dầu

biết mình không sao gỡ mình ra khỏi mọi ảnh hưởng cảnh vực

sinh hoạt riêng.

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 197

Làm sao mà lợi dụng tình trạng xã hội hóa này ?

64. Như vậy, sự xã hội hóa mọi sự có thể và phải thực

hiện theo một thể cách làm tăng gia ích lợi, và tùy theo có thể

được làm giảm bớt mãi tai hại cho nhân loại.

65. Cho nên những người phụ trách chính quyền phải có

một quan niệm xác đáng về công ích, gồm tắt tất cả mọi điều

kiện cần thiết để con người phát triển nhân cách toàn diện

của mình. Ta cũng thiết tưởng rằng: Những đoàn thể là trung

gian giữa chính quyền và công dân; những tổ chức đủ thức

vốn thể hiện sự xã hội hóa này phải đủ tự do, trước để đạt tới

mục tiêu riêng trong sự thuận hòa và hợp tác. Sau để góp

phần lợi cho công ích. Một yếu điều cũng cần thiết, là các hội

đoàn kia, các tổ chức này phải kết thành những cộng đồng

thật sự không những về hình thức, mà nhất là về cả bản tính

nữa… Các nhân viên được đón nhận và đối xử cho xứng vị,

họ được tham gia một cách hữu hiệu vào những hành động

chung; thì các tổ chức đoàn thể nói trên mới đáng gọi là

những cộng đồng thật sự.

66. Vậy trong thời kỳ những mối giao tế giữa nhân loại

được phát triển lạ lùng, hễ quốc gia nào muốn bước tới một tổ

chức hoàn bị, thì quốc gia ấy phải lo dung hòa cho thăng bằng

sáng kiến tự do của từng cá nhân, những hội đoàn cùng chung

một mục đích, với sự can thiệp của chính quyền, mục đích là

phân phối và củng cố mọi sáng tác của tư nhân.

67. Một sự xã hội hóa, được thể hiện theo những chỉ

lệnh trên và theo luật luân lý nữa thì sẽ không bao giờ gây

nguy gì và không bao giờ trở nên một gánh nặng cho các

công dân. Trái lại ta có thể hy vọng rằng: Mỗi người sẽ được

tự do phát triển nhân cách và tài năng riêng, rồi tận tâm xây

dựng xã hội theo chính nghĩa tứ hải giai huynh đệ. Theo lời

Đức Piô XI viết trong thông điệp QA, đó là điều thiết yếu cho

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 198

mọi quyền lợi và mọi nghĩa vụ của một đời sống xã hội công

bằng được thỏa mãn điều hòa.

C. Vấn đề lương bổng.

Những sự bất công và bất hòa hiện tại.

68. Ta đau xót trước cảnh thê thảm hằng tái diễn ngay

trước mặt ta, của những đám đông người lao động lương bổng

quá ít không đủ sống và không đủ nuôi gia đình; nên không

vươn mình lên một địa vị sinh hoạt cân xứng với chức vị con

người. Lý do chính, là ở những miền ấy, nền kỹ nghệ còn

mới phôi thai, chưa phát triển điều hòa.

69. Nhưng dầu sao ở đa số những nước ấy, bên cạnh

thân phận khổ cực của đại chúng, cũng không thiếu gì những

người ưu thế giầu sang, sống phóng đãng xa hoa không quản

gì đến kẻ bần cùng xấu số.

Nơi khác dân chúng phải đảm nhận bao việc, nói được

là làm như trâu bò, để nền kinh tế quốc gia tăng vọt lên trong

một thời gian rất ngắn, đó là một sự trái ngược với công bằng

và nhân đạo. Còn chỗ khác, công quỹ phần lớn chỉ được tiêu

dụng cho quốc gia nổi tiếng vang lừng, hay là đổi những món

tiền khổng lồ lấy thêm võ khí đạn dược cho quốc gia.

70. Cả trong những nước nền kinh tế tiến triển nhiều,

cũng không thiếu gì những chức vụ, mối lợi không đáng kể,

giá trị viễn vông; những lương bổng cao lớn, đang lúc những

công việc cần cù sản xuất của bao công dân lương thiện cần

mẫn bị hạ giá lương bổng quá ít không đủ cho nhu cầu. Quả

thực, so sánh với phần lợi họ góp vào công ích, hoa lợi xí

nghiệp mướn họ, lợi tức quốc gia, thì lương bổng của họ quá

hạ, có thể nói được là một sự trái công bằng xã hội.

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 199

Làm sao định giá lương cho công bằng.

71. Lần nữa Ta nhận thực nghĩa vụ của Ta là quả quyết

rằng: Ta không thể nào mbặc luật thị trường hay mặc kẻ ưu

thế quy định giá lương trả công thợ một cách độc đoán, bèn

phải quy định theo luật công bằng và nhân đạo. Số lương

công nhân lĩnh nhận phải vừa đủ cho họ sống xứng vị con

người và cấp đủ sự cần cho gia đình họ. Vậy muốn định đoạt

số lương phải chăng cần xét ba điều: Năng lực sản xuất của

từng người, tình trạng kinh tế của xí nghiệp, những đòi hỏi

của công ích, nhất là những đòi hỏi của một công việc kéo

dài quanh năm, và sau hết những đòi hỏi lợi ích chung của các

quốc gia, tức là những tổ chức quốc tế kết tinh nên bởi nhiều

quốc gia, khác nhau về quốc tính và diện tích.

72. Đời nào, chỗ nào những nguyên tắc ấy đều có giá

trị, nên bắt buộc phải thực hiện. Nhưng trong thực hành, ai

cũng phải tùy trường hợp mà cân nhắc nguồn lợi kẻ ấy sử

dụng được. Những nguồn lợi ấy, quả thực hay thay đổi luôn,

về phẩm và lượng giữa nước nọ nước kia, và trong một nước

tùy theo từng địa phương và tùy thời tiết.

Làm sao mà dung hòa được sự phát triển kinh tế với

sự tiến bộ của xã hội.

73. Ngày nay nền kinh tế quốc gia ở nhiều nơi phát

triển theo một tốc độ nhanh chóng lạ lùng, nhất là từ sau đệ

nhị thế chiến vừa qua. Trong trường hợp đó ta phải đề cao

một nguyên tắc tối hệ của công bằng xã hội, là sự tiến bộ của

xã hội phải đi song đối và hòa nhịp với sự phát triển kinh tế.

Nước thêm phong phú thì mọi từng lớp công dân phải hưởng

phần đều hòa và không trừ ai. Ai cũng phải ân cần lưu ý, và

dùng mọi phương tiện để mọi giai cấp xã hội sở hữu tiền tài

khỏi quá chênh lệch. Sự quá chênh lệch ấy không những phải

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 200

đề phòng cho nó khỏi tăng gia mãi, mà lại phải hết sức lo liệu

để nó giảm bớt dần dần.

74. Lời Đức Tiên Giáo hoàng Piô XII đã nói, thì chí lý

thật: Kinh tế quốc gia phát nguồn từ ở những công việc các

công dân chung sức hoàn thành trong cộng đồng xã hội. Vì lẽ

ấy, nên mục đích của nó là cấp cho công dân đủ điều kiện

vật chất, cần cho từng người làm phát triển nhân cách và tài

năng riêng, một cách đầy đủ và đều hòa. Hễ quốc gia nào

thực hiện được mục đích ấy một cách vĩnh viễn, thì quốc gia

ấy thật phong phú, vì toàn dân hưởng phúc chung và từng

người hòa thuận sử dụng những nguồn lợi thế tục theo đúng ý

Tạo Hóa đã tiền định.

Cứ như trên, mực đo lường sự phồn thịnh của từng quốc

gia, không phải là tổng số phẩm vật dư dật hay còn thiếu đâu,

mà là cách thức phân công chia của cho công bằng, tức là

cách thức hữu hiệu làm cho các công dân thuận bề phát triển

và kiện toàn nhân cách riêng. Nền kinh tế quốc gia toàn diện,

nguyên gốc và cứu cánh duy nhất là thế.

75. Về phương diện ấy, Ta phải nhắc đến một thực hiện

thường quen ở nhiều nước bây giờ: Có những đại xí nghiệp

và xí nghiệp trung bình đã quen lấy phần hoa lợi lập tư sản

riêng, nên về tài chính họ tự túc được. Nhờ vậy năng lực sản

xuất của những xí nghiệp được tăng gia rất nhiều. Nhưng

đồng thời Ta phải quả quyết rằng: Vì các xí nghiệp ấy tự túc

được về tài chánh, họ cũng phải công nhận cho công nhân

quyền đòi một phần vốn tín dụng, nhất là khi số lương của

công nhân không vượt quá mức tối thiểu.

76. Trong phạm vi ấy, ta phải nhấn mạnh vào một

nguyên tắc mà chính Đức Piô XII đã xác định trong bức thông

điệp QA rằng: voir au titre capital and travail. (QA)

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 201

77. Kinh nghiệm dạy rằng: ta có sẵn trăm nghìn thể cách

thực hiện nghĩa vụ công bằng này. Tỉ dụ như một việc đáng

ước mong ngày nay hơn cả đời Đức Tiên Giáo hoàng, là phải

mở đường cho công nhân được tham gia vào quyền sở hữu

của xí nghiệp đã mướn họ làm việc. Đức Piô XI viết rằng:

Lương bổng công nhân và công ích quốc gia.

78. Ta cũng nên nhắc lại: sự thăng bằng giữa lương

bổng và lợi tức chỉ có thể xác định được, khi ta đã cân nhắc

kỹ công ích của từng quốc gia, và lợi ích chung của toàn thể

nhân loại.

79. Công ích của từng quốc gia buộc phải liệu cho một

số công nhân, có việc làm càng nhiều càng tốt. Phải chú ý

đừng để những nhóm công nhân được biệt đãi, hoặc trong

nước, hoặc trong cả giới lao động, hết sức duy trì sự thăng

bằng giữa lương bổng và giá hàng, mở rộng cửa cho một số

người được bước tới và hưởng dụng những vật phẩm và

những tiện nghi của một đời sống tiến hóa; hoặc thủ tiêu,

hoặc hạn chế sự chênh lệch giữa các ngành kinh tế: Canh

nông, kỹ nghệ, tiện nghi thông dụng. Phải duy trì sự thăng

bằng giữa sự phong phú mỗi ngày tăng lên, và sự mở mang

những công vụ thiết yếu, lo cho mọi cơ cấu sản xuất luôn

luôn tiến hóa theo sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật, nâng

cao địa vị sinh hoạt không những người ta hưởng hiện tại, mà

lại còn bắt đầu chuẩn bị một hậu lai khả quan hơn…

80. Công ích toàn thể nhân loại bắt buộc phải loại trừ

những mưu ý thâm độc khỏi những cuộc cạnh tranh kinh tế

của các dân tộc: Phải liệu sao cho nền kinh tế quốc gia tiến

triển đều hòa trong sự cộng tác thân mật và kiến hiệu. Sau hết

phải dùng đủ mọi phương cách hiệu lực để các dân nước

chậm tiến chóng khuếch trương trình độ kinh tế của họ.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 202

81. Lẽ cố nhiên công ích quốc gia và quốc tế nói trên,

cũng phải tôn trọng, hoặc khi định đoạt phần hoa lợi phải chia

cho những người phụ trách chỉ huy xí nghiệp, (phần ấy gọi là

phần chia lợi tức do xí nghiệp gây nên), hoặc khi chia phần

hoa lợi với những nhà tư bản đã góp vốn.

Xí nghiệp.

Tổ chức cơ sở cho công bằng.

82. Tuân giữ công bằng trong sự phân công chia của thì

không đủ. Công bằng còn phải tôn trọng ngay trong tổ chức

làm, xí nghiệp và các cơ cấu sản xuất nữa. Xét theo lý đương

nhiên con người hành động và sản xuất, phải chịu phần trách

nhiệm và kiện toàn nhân cách ngay trong việc làm của mình.

83. Vì thế, hễ khi nào thấy bất cứ tổ chức kinh tế nào

khiến công nhân mất cả nhân cách, làm việc không chút trách

nhiệm: chỉ là then máy không sáng tác được điều gì, thì ta xét

tổ chức kinh tế ấy là một tổ chức bất công, không cứ gì sản

phẩm nhiều hay ít, được chia phần cho công bằng và nhân

đạo hay không.

Xí nghiệp thì trăm thể thức.

84. Ta không thể nào xác định trong một thành ngữ duy

nhất, những tổ chức kinh tế nào là xứng với nhân cách con

người hơn cả, và là những tổ chức hiệu nghiệm nhất, cho con

người ý thức trách nhiệm riêng. Dầu sao Đức Tiên Giáo

hoàng Piô XII đã ban bố một vài huấn lệnh rất hợp thời:

Những cơ sở tiểu và trung bất cứ về nông, công, thương hay

kỹ nghệ phải được bảo vệ và nâng đỡ. Nhờ đã kết thành

những hợp tác xã, các cơ sở đó hưởng được những tiện nghi

và những ân huệ riêng của các đại xí nghiệp. Ở những chỗ

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 203

nào đại xí nghiệp có năng lực sản xuất mạnh hơn, thì chỗ ấy

giao kèo cần lao, cần phải bổ túc bằng những giao kèo xã

hội.

85. Thành ra phải bảo vệ và cũng cố tùy theo những đòi

hỏi của công ích, và tùy theo sự tiến bộ của kỹ thuật, và

những tiểu công nghệ, những cơ sở gia đình nông dân và các

hợp tác xã vốn phải bổ khuyết và ủng hộ những kinh doanh

ấy.

Tiểu ban công nghệ và hợp tác xã.

86. Trong đoạn sau Ta sẽ bàn về các kinh doanh nông

nghiệp. Tại đây Ta phải có đôi lời về các “tiểu công nghệ và

các hợp tác xã”.

87. Hai tổ chức kinh tế này chỉ có thể phồn thịnh và kết

quả, khi đồ dùng và phương kế sản xuất luôn luôn đổi mới

cho thích ứng với đà tiến của khoa học chuyên môn hiện tại,

hoặc cho phù hợp với nhu cầu và sở thích kẻ tiêu thụ sản

phẩm. Chính các nhà tiểu công nghệ và các nhân viên của

hợp tác xã, phải thích ứng công việc của họ với thời đại.

88. Bởi thế việc cần thiết nhất, là huấn luyện họ ít nhất

về kinh tế học tổng quát, và những thuật chuyên môn thích

nghi.

Họ cũng đáng được chính phủ ủng hộ bằng một chính

sách thích đáng, nhất là trong phương diện giáo dục, thuế

pháp, ngân hàng, an ninh và các bảo đảm xã hội.

89. Các nhà tiểu công nghệ và hợp tác xã này hợp

thành một năng lực sản xuất quan trọng. Họ đắc lực cộng tác

vào đà tiến của xã hội văn minh. Nên chính quyền can thiệp

nâng đỡ họ, thì thật đáng khen và đáng thúc đẩy.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 204

90. Cũng vì thế mà Ta đem hết tình cha con khuyên nhủ

các nhà tiểu công nghệ và hợp tác xã viên, dầu rải rắc khắp

tứ phương cũng là con cái thân yêu của Ta, hãy ý thức trọng

trách của họ. Bởi vì, nhờ họ, tinh thần trách nhiệm, ý chí cộng

tác, và những cố gắng của con người đã được thúc đẩy mãnh

liệt tạo nên những tác phẩm tinh vi mới mẻ.

Công nhân tham gia vào sự sống chung của xí nghiệp.

91. Ta đồng ý với các vị tiền nhiệm: “Nguyện vọng của

công nhân là muốn tham gia vào đời sống xí nghiệp đã mướn

họ làm việc. Nhưng tham gia theo mực độ nào ?” – Ta không

thể nào quy định trước được, vì nó tùy theo hoàn cảnh thực tế

của mỗi xí nghiệp. Mỗi xí nghiệp tình trạng khác nhau và dầu

trong một xí nghiệp đi nữa, tình trạng cũng hay thay đổi; nhiều

khi tự tận gốc và bất ngờ. Thế nhưng mà theo ý Ta, công

nhân cũng phải góp một phần hữu hiệu trong tổ chức xí

nghiệp tư hay công đã mướn họ làm việc. Người ta phải đua

nhau hóa xí nghiệp thành một cộng đồng có thể cách nhân

loại, hầu cho mỗi nhân viên cùng một tinh thần được liên lạc

với nhau để hoàn tất công việc và thể hiện phận vụ riêng.

92. Mục đích cao siêu ấy, đòi hỏi ở ban giám đốc trị sự,

kẻ đốc công và toàn thể công nhân, những mối giao thiệp với

nhau đầy tình nghĩa tôn trọng, kính phục và thân yêu nhau.

Nó cũng bắt buộc mọi người cộng tác vào công việc chung

một cách thành thực và hữu hiệu. Ai cũng phải nhận thực

rằng: Công việc của mình không phải chỉ là một sinh kế gây

lợi cho mình, mà lại là một nhiệm vụ mình đã đảm nhận để

gây lợi ích chung cho anh em.

Công nhân phải có quyền góp ý kiến, mà lại góp phần

công trong việc tổ chức và phát triển xí nghiệp mới là phải lẽ.

Đức Piô XII dạy rằng: “Phận vụ kinh tế xã hội ai cũng mong

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 205

gánh vác một phần nào, thì nên cấm không cho ai làm việc vô

trách nhiệm, mà chỉ lệ thuộc người khác trăm phần trăm. Thực

ra xí nghiệp nào muốn tiến triển đều hòa, tất phải tôn trọng

nhân cách của con người, nhưng dầu sao ban giám đốc cũng

phải thống nhất, là điều kiện cần thiết để cho mọi việc chạy

xuôi và kết quả nhiều. Nhưng không phải vì thế mà công

nhân phải cứ ngày nào ngày ấy làm việc im lặng như một cái

máy, không được phát biểu ý kiến, không rút kinh nghiệm,

bao giờ cũng thụ động tuân theo ý định của ban giám đốc chia

công tác và tổ chức công việc cho họ.

93. Sau hết, chính nhân tính đòi cho công nhân quyền

lãnh nhận những trọng trách trong xí nghiệp của họ. Việc ấy

lại rất thích hợp với đà tiến hiện tại của kinh tế, xã hội và

quốc gia nữa.

94. Tội nghiệp thay ngày nay nền kinh tế xã hội đã quá

chênh lệch, nên hay vi phạm công bằng và nhân đạo. Cũng

có bao tà thuyết khuếch trương mạnh về mục đích, tổ chức và

phận vụ kinh tế. Nhưng dầu sao đà tiến bộ của khoa học và

kỹ nghệ cứ tiến hóa, đổi mới và phát triển theo một tốc độ

nhanh chóng lạ lùng. Thành ra công nhân cần phải có năng

lực và tài chuyên nghiệp hơn trước nhiều. Phải dành cho họ

đủ phương tiện và thời giờ học tập, để họ mỗi ngày một biết

rộng hơn, thêm văn hóa hơn và nhiệt thành với phận sự tu đức

cùng tôn giáo hơn.

95. Ngày nay xã hội đủ phương tiện để kéo dài thời kỳ

giáo dục và tu nghiệp cho các công nhân còn thiếu niên.

96. Nhờ vậy công nhân sẽ càng ngày càng đủ điều kiện

gánh vác những trọng trách của họ đối với xí nghiệp đã nhận

họ làm việc. Chính quyền cũng nên đánh thức công dân đủ

mọi tầng lớp xã hội về phần trách nhiệm họ phải đảm nhận

đối với công ích.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 206

Những công đoàn tham gia vào vận mệnh quốc gia.

97. Ai cũng nhận thực các công đoàn ngày nay đều phát

triển rất nhiều. Sự thường các công đoàn ấy cũng được pháp

luật quốc gia chuẩn y, và những tổ chức quốc tế chấp nhận.

Các công đoàn phần nhiều không còn xúi giục công nhân

phải tranh đấu nữa; nhưng, một phải cộng tác với chủ nhân,

nhờ những khế ước hiệp đồng. Một điều cần thiết, hay ít nhất

rất thích thời; là mong cho công nhân rộng quyền, góp ý kiến

và gây ảnh hưởng cả ở ngoài xí nghiệp của họ, đến bất cứ

đoàn thể xã hội nào.

98. Ngày nay xí nghiệp nào, bất phân tổ chức, năng lực,

ảnh hưởng quốc gia lớn, nhỏ, nhiều, ít thể nào, cũng nhập vào

tổ chức xã hội kinh tế quốc gia.

Xí nghiệp phồn thịnh hay sút kém tùy theo tổ chức đó.

99. Nhưng định số phận của nền kinh tế quốc gia,

không phải là quyền riêng của từng cơ quan sản xuất đâu. Đó

là quyền chung của chính phủ, và các cơ cấu phụ trách của

từng chi tiết của nền kinh tế, hoặc quốc gia hoặc quốc tế.

Thành ra, một điều rất nên mà lại rất cần nữa, là dành

cho công nhân hay những người bênh hộ quyền lợi, nhu cầu

và xu hướng công nhân, một chỗ ngang hàng với các chủ

nhân và đại diện của họ bên chính quyền và các cơ cấu nói

trên.

Nghiệp đoàn công nhân.

100. Trước hết Ta phải đem hết tâm tư và tình cha con,

mà nhìn đến những hội đoàn công nhân liên nghệ và các

nghiệp đoàn lao công, đã lấy học thuyết công giáo làm căn

bản và đang hành động ở khắp năm châu. Ta quên sao được

những công lao anh em đã gánh vác, những trở lực anh em đã

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 207

lướt thắng; hoặc trong phạm vi quốc gia, hay trong phạm vi

quốc tế để bênh vực quyền lợi và cải thiện số phận vật chất

lẫn tinh thần của công nhân một cách hữu hiệu liên tục.

101. Những người ấy còn đáng khen nữa, vì những kết

quả họ đã thu lượm không những rực rỡ tức thời, mà lại gây

ảnh hưởng đến cả giới lao công. Bằng cách phổ biến ra những

nguyên tắc lành mạnh về lý thuyết và thực hành công giáo.

Nhờ họ, đạo công giáo càng ngày càng ảnh hưởng rộng xa

thánh thiện.

102. Ta cũng rất tán thành sự nghiệp của các con quý

yêu, tinh thần công giáo cao xa, đã hoàn tất một công việc rất

quan trọng, ngay trong những nghiệp đoàn không công giáo,

nhưng trong tôn trọng luật thiên nhiên và công nhận quyền tự

do tôn giáo và luân lý của các nhân viên.

103. Sau hết Ta thật tình thán phục tổ chức lao động

quốc tế (OIT) đã từ mấy mươi năm đem hết tài lực và khôn

khéo tìm chấn hưng một nền kinh tế xã hội công bằng và

nhân nghĩa ở khắp thiên hạ. Nhờ vậy, những quyền lợi chính

đáng của công nhân mới được tôn trọng.

Quyền tư hữu.

Phân tách sở hữu và quyền hành.

104. Trong những năm vừa qua ai cũng đã nhận thấy

các xí nghiệp tìm cách tách biệt quyền hành, vốn chỉ huy mọi

công việc, và quyền sở hữu của các cổ phần viên cấp vốn. Vì

vậy chính quyền gặp phải bao trở lực. Làm sao mà biết được

vật đích ban chỉ huy các xí nghiệp, nhất là các xí nghiệp ảnh

hưởng nhiều đến nền kinh tế quốc gia, không bao giờ phạm

đến công ích mà chính quyền vốn phải bảo vệ ? Xét theo

kinh nghiệm, trở lực trên vẫn còn nguyên vậy, không cứ gì tư

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 208

bản cần thiết cho các xí nghiệp lớn do tư nhân hay do các tổ

chức công cung cấp cho.

Sống yên vì tổ chức bảo hiểm và nghề chuyên môn.

105. Một điều chắc chắn, là ngày nay nhờ có những hội

bảo hiểm và những sở cứu tế xã hội, thì số người hướng về

tương lai một cách yên trí và bình thản càng ngày càng đông.

Xưa kia chỉ có những người có tài sản, dầu là một tài sản nhỏ

bé đến đâu, mới sống được bình thản như vậy.

106. Ngày nay cũng có những người không thèm có sở

hữu riêng, một chỉ mong có nghề nghiệp chuyên môn. Người

ta tin ở những hoa lợi do một chuyên nghiệp gây nên, hay là

quyền lợi do cần lao mà có, hơn cả những ân huệ hay những

quyền lợi chỉ căn cứ vào tư bản.

107. Thái độ ấy biểu diễn nhân cách của cần lao. Cần

lao từ ở con người phát xuất. Thành ra nó quý hơn cả sự giầu

sang hay mọi của phú quý khác, vốn chỉ nâng đỡ con người từ

bên ngoài mà thôi.

Đó là một bằng chứng rõ ràng, nhân cách đã phát triển

nhiều trong con người hiện tại.

108. Bởi thế ngày nay đã không thiếu gì người thắc mắc

rằng: Thời thế hoàn cảnh đã biến đổi nhiều, không biết

nguyên tắc kinh tế xã hội các Đức Tiên Giáo hoàng đã công

bố xưa còn đủ sức mạnh để bênh vực quyền sở hữu tự nhiên

của con người đến các vật phẩm và các khí cụ sản xuất;

Không biết những nguyên tắc ấy còn giá trị và hiệu lực như

xưa chăng ?

Quyền sở hữu vẫn có giá trị.

109. Nhưng thắc mắc làm gì ? Vì là vô lý …

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 209

Quyền tư hữu gồm cả những khí cụ sản xuất, đời nào

cũng có giá trị, vì là quyền thiên nhiên bất tử. Con người có

trước, xã hội có sau. Nên mọi tổ chức xã hội đều quy về con

người là cùng đích. Ngoài ra đã nhận quyền tự do hành động

của từng người trong phạm vi kinh tế, tất nhiên cũng phải

nhận rằng: Tư nhân cũng tự do chọn lựa và hưởng dụng đủ

mọi phương tiện cần thiết để thể hiện quyền ấy. Kinh nghiệm

và lịch sử cũng dạy rằng: Hễ chính phủ nào chối không cho tư

nhân dùng quyền đến những khí cụ sản xuất, thì chính phủ ấy

cũng phạm đến hay bài trừ mọi quyền tự do căn bản khác.

Như vậy đủ rõ, quyền tư hữu bảo đảm và củng cố đủ mọi

quyền tự do của con người.

110. Như vậy ta mới hiểu những thay đổi lạ của bao

phong trào và tổ chức xã hội chính trị quyết dung hòa tự do và

công bằng: Trước, họ nhất định bài trừ quyền tư hữu đến các

khí cụ sản xuất. Sau, vì xã hội đã biến chuyển, họ rút kinh

nghiệm đổi ý, và sẵn sàng công nhận quyền tư hữu ấy.

111. Về vấn đề đó, Ta đồng ý với Đức Tiên Giáo hoàng

Piô XII, và nhắc lại những huấn lệnh của Ngài rằng:

Giáo hội bênh vực quyền tư hữu, đã có một mục đích

cao siêu, vừa xã hội vừa luân lý. Giáo hội chẳng có ý duy trì

tình trạng hiện tại, nguyên vì lý do ấy thể hiện thánh ý Chúa.

Giáo hội cũng không nghiêng ngả về bên kẻ giầu sang quyền

thế, mà bỏ mặc kẻ nghèo hèn người vô sản đâu.

Trái lại Giáo hội chỉ quyết cải hóa chế độ tư hữu cho

thích hợp với ý định của Chúa và cân xứng với nhân cách con

người hơn.

Quyền tư hữu vốn bảo đảm quyền tự do của con người,

và nói được là một yếu tố thiết yếu của một tổ chức xã hội

chính đáng.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 210

112. Vì ở rất nhiều nước ngày nay, nền kinh tế được

nâng cao vì năng lực sản xuất phát triển mau chóng lạ lùng;

thì công bằng hợp tác với nhân đạo cũng đòi tăng lương bổng

công nhân cho cân xứng, và tùy theo luật mực công ích chỉ

định.

Phổ biến quyền dùng sở hữu.

113. Quyền tư hữu bao quát cả khí cụ sản xuất nhất định

là quyền tự nhiên. Quả quyết điều ấy là phải, nhưng vẫn chưa

đủ. Ta phải cố gắng cho mọi tầng lớp xã hội hưởng dụng

được quyền tư hữu quý hóa này.

114. Đức Tiên Giáo hoàng Piô XII công bố rằng: Nhân

cách đòi hỏi ở từng người phải có quyền tư hữu đến mọi của

quý đời này, làm căn bản của một đời sống xứng đáng. Kèm

theo đó lẽ dĩ nhiên có một nghĩa vụ, là liệu làm sao cho từng

người có một sở hữu riêng. Đàng khác vì cần lao có giá trị đặc

biệt, thì xã hội phải tổ chức làm sao cho cả giai cấp công nhân

cũng đủ điều kiện chiếm lấy một phần sở hữu, cho dù sở hữu

ấy bé nhỏ đến đâu đi nữa.

115. Không bao giờ bằng bây giờ, ta phải tuyên bố

rằng: Phải lo liệu cho số người được hưởng quyền tư hữu

trong xã hội càng ngày càng tăng thêm đông. Lý do là vì,

những dân nước đang tiến triển về kinh tế, mỗi ngày một

nhiều hơn. Bởi thế ai khéo dùng những kỹ thuật kinh tế hiệu

nghiệm ngày nay, thì rất có thể gây nên một chính sách xã

hội kinh tế thuận tiện cho số người có sở hữu riêng thêm

đông mãi, ít nhất cho ai nấy cũng có nhà ở, đất ruộng, đồ

dùng nhà tiểu công nghệ, nông trại gia đình, hay cổ phần

trong các trung, đại xí nghiệp, như đã thấy có ở những nước

kinh tế xã hội tiến bộ hơn.

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 211

Quyền công hữu.

116. Đành rằng quyền tư hữu ở trên là quyền tự nhiên

của từng người, nhưng chính phủ và các công sở cũng có thể

giữ độc quyền trong những cơ cấu sản xuất có kèm theo một

chuyên quyền kinh tế, mà khi tư nhân chiếm hữu sẽ làm nguy

hại đến công ích.

117. Khuynh hướng đời ta là đòi mở rộng các sở hữu

dành cho công quyền. Lý do vì công ích buộc chính phủ phải

có những công quyền rộng rãi hơn. Nhưng dầu sao cũng cần

phải nại đến nguyên tắc bảo trợ ta đã đề cập đến ở trên:

Chính phủ và các công sở chỉ có thể đòi quyền hành tùy theo

những đòi hỏi của công ích. Những mưu kế hạn chế hay tệ

hơn nữa bài trừ quyền tư hữu đều phải xa tránh.

118. Sau hết, kẻ phụ trách mọi công cuộc kinh tế của

chính phủ hay của các công sở đều phải là những người tài trí

lỗi lạc, chuyên môn đặc sắc liêm chính và trung nghĩa không

ai hồ nghi được. Chính quyền còn phải theo dõi, kiểm soát

liên tục, ân cần tất cả các hành động của họ để tránh khỏi

những chuyên quyền kinh tế quốc gia, dần dần rút vào trong

tay một số tư nhân ưu thế, là một tai hại lớn cho công ích quốc

gia.

Quyền tư hữu với trách vụ của nó.

119. Các Đức Tiên Giáo hoàng đã không ngừng nhắc

đến trách vụ xã hội của mọi quyền tư hữu. Theo ý Chúa tiền

định, mọi vật phẩm thiên nhiên, đều có mục đích là cung cấp

đủ nhu cầu cho toàn thể nhân loại: Trong bức thông điệp RN

của Đức Lêô XIII có câu : (RN, 19)

120. “Không phải vì trách chính phủ và các sở mỗi ngày

một mở rộng mà trách vụ của quyền tư hữu ngày càng biến

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 212

đi. Trách vụ ấy từ ở quyền tư hữu phát xuất ra. Ngoài ra đời

nào cũng đã từng có những tình trạng đau thương những nỗi

hàn vi cơ cực, chính phủ không sao biết được, nên cũng không

sao hàn gắn được. Phạm vi mở rộng cho lòng từ thiện, và đức

bác ái công giáo vẫn còn mênh mông bát ngát… Nhất là để

thỏa mãn những nhu cầu phần hồn công quyền không thể nào

đem lại hiệu lực bằng những hành động tư nhân, và các

nghiệp đoàn tư nhân”.

121. Quyền tư là quyền tự nhiên và chính đáng. Phúc

âm nhấn mạnh vào điều đó rất nhiều. Nhưng mặt khác, Chúa

Kitô luôn tha thiết yêu cầu kẻ giàu sang, hãy biến đổi của cải

đời này nên những của quý đời sau bằng cách san sẻ kho

vàng của họ với những người nghèo khổ.

“tích trữ kho tàng dưới đất làm gì ! Mối mọt gỉ sét, sâu

bọ sẽ nuốt dần. Kẻ trộm đào ngạch lấy đi. Chúng con hãy tích

trữ kho tàng trên trời là chỗ không lo gỉ sét, không ai lấy trộm

được”.

Chúa Kitô lại tuyên bố: “Bố thí cho kẻ nghèo tức là bố

thí cho Thầy”. “Nếu lần nào chúng con thi ân cho kẻ hèn kém

nhất trong anh em là chúng con thi ân cho chính mình Ta”.

PHẦN THỨ BA

III. NHỮNG KHÍA CẠNH MỚI CỦA VẤN ĐỀ

122. Lịch sử tiến triển không ngừng, người ta mỗi ngày

một thấy rõ luật công bằng và nhân đạo, không những cần

chấn hưng, giữa chủ nhân và công nhân, mà còn giữa mọi

lãnh vực kinh tế trong từng quốc gia, giữa từng địa phương

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 213

nguồn lợi khác nhau, và trên cả hoàn cầu giữa các quốc gia,

trình độ kinh tế còn quá chênh lệch.

Công bằng và nhân đạo giữa canh nông và những chi

tiết kinh tế khác.

123. Trước hết ta phải nói qua về canh nông. Dân số

nông thôn hầu như không giảm bớt. Nhưng dầu sao ta cũng

phải nhận thực rằng nông dân hay di cư từ chốn thôn quê về

thành thị, hay chỗ đông người ở. Cuộc di cư này ta có thể thấy

rõ ở mọi quốc gia đôi khi còn lôi kéo cả đa số quần chúng. Vì

thế đã trở thành vấn đề khắt khe, về sinh hoạt và phẩm giá

của con người.

124. Việc này cũng dễ hiểu: Kinh tế phát triển về hai

phương diện: kỹ nghệ và công vụ. Như thế, số người bỏ đồng

quê về thành thị làm công nhân hay công chức ngày càng

đông hơn. Có rất nhiều lý do, nhưng có lẽ lý do chính là sự

khuếch trương kinh tế.

Nhưng còn bao lý do phụ tùy khác: Có người chạy trốn

một lãnh vực sinh hoạt quá hẻo lánh không một tia hy vọng

giúp họ vươn mình lên một địa vị sinh hoạt văn minh hơn.

Người lại vì tính hiếu kỳ ưa sống đời phiêu lưu, ngày nay đã

trở nên một xu hướng cực mạnh. Người khác mong chóng

giàu sang hơn. Người khác lại khát vọng một cuộc sống tự do,

đầy những dễ dàng của chốn thành thị. Nhưng đa số nông dân

bỏ đồng ruộng vì thấy các nông sản bị sút giảm về năng lực

sản xuất, hay về địa vị sinh hoạt của các dân quê không tiến

triển mấy.

Những luật lệ bảo vệ canh nông.

125. Để giải quyết một vấn đề quan trọng như thế, vấn

đề làm cho hầu hết các quốc gia ngày nay phải thắc mắc, tất

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 214

nhiên phải có những luật lệ căn bản để tránh giá các nông

sản khỏi chênh lệch quá đối với sản phẩm kỹ nghệ, và hoa

lợi của các công vụ. Còn phải có những luật lệ đề cao địa vị

sinh hoạt của nông dân để họ cũng được hưởng những tiện

nghi dành cho công nhân và công chức sống ở thành thị. Sau

hết, phải liệu sao cho dân quê khỏi tự ty mặc cảm, và thấy

dầu bị giầm mưa giãi nắng giữa đồng ruộng, họ cũng đủ

phương tiện mở mang nhân cách, vươn mình lên địa vị văn

minh, và nhìn tương lai với những đôi mắt đầy tràn hy vọng.

126. Những huấn lệnh sau đây rất thích thời và có thể

áp dụng trong mọi trường hợp. Nhưng đành rằng: những huấn

lệnh ấy phải áp dụng tùy theo thời thế hoàn cảnh cho phép,

khuyến khích và đòi hỏi.

Cung cấp cho thôn quê những phương tiện nghệ thuật

và văn hóa.

127. Đầu hết, mọi người phải thi đua, và hơn hết là

những người cầm quyền, phải chung sức cung cấp cho thôn

quê đủ phương tiện về nghệ thuật và văn hóa: Đường xá, xe

vận chuyển, đường giao thông, nước máy, nhà ở, sở y tế,

trường tiểu học, huấn nghiệp kỹ nghệ; đủ nhu cầu về phụng

vụ, phương tiện giải trí, những vật dụng cần thiết trong một

gia đình thôn quê.

Nơi nào dân quê không đủ thỏa mãn những nhu cầu của

một đời sống xứng đáng, thì nơi đó nền kinh tế xã hội sẽ sút

kém hay chậm tiến, và sẽ không còn lý do gì để ngăn cản họ

rời bỏ đồng ruộng. Họ bắt đầu di cư không ai có thể kiểm

soát.

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 215

Canh nông và kỹ nghệ.

128. Một việc nên chú ý là phải lo khuếch trương nền

kinh tế quốc gia một cách có trật tự và đều hòa, trong đủ mọi

chi tiết: Canh nông nói riêng phải cải tiến theo những phương

pháp tối tân, tùy theo tình trạng kinh tế cho phép hay bắt

buộc. Những phương pháp ấy, có thể áp dụng vào phương

pháp trồng trọt, và những nông sản nên canh tác, nên bỏ khí

cụ xưa và dùng máy móc. Ai cũng phải lo sao cho canh nông

tiến triển song song với mỹ thuật và kỹ nghệ.

129. Như thế, có lẽ canh nông sẽ tiêu thụ rất nhiều sản

phẩm do kỹ nghệ sản xuất, và đòi bao công vụ thích nghi hơn.

Đối lại, canh nông sẽ cấp cho mọi khía cạnh kỹ nghệ, công

vụ, và cả cộng đồng xã hội những nông sản thích hợp hơn với

những nhu cầu của tòan dân tiêu thụ, về lượng cũng như về

phẩm. Như vậy, canh nông cũng sẽ góp phần vào việc duy trì

tiền tệ cho vững giá, là điều kiện cần thiết cho nền kinh tế

quốc gia phát triển đều hòa.

130. Thể hiện những huấn lệnh mới nói trên sẽ đem lại

bao lợi ích: Như việc kiểm soát những nông dân phải di cư vì

nghề nông được tối tân hóa sẽ trở nên dễ dàng. Những nông

dân bị sa thải, được kiểm soát rồi sẽ có thể đào tạo theo

chuyên môn nghề nghiệp khác, và đưa sang một khu vực kinh

tế mới. Lúc gia nhập cảnh vực sinh hoạt mới họ sẽ được ủng

hộ về mọi phương diện: vật chất, văn hóa, tôn giáo một cách

dễ dàng và chắc chắn hơn.

Ít vấn đề liên quan với một chính sách canh

nông thích thời:

131. Muốn cho các chi tiết kinh tế, phát triển đều hòa,

thì có một vài điều quan trọng, chính quyền phải lưu ý về

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 216

ngành canh nông như thuế má, nông tín, bảo hiểm xã hội, thị

giá, kỹ thuật nông thôn, canh tân các cơ sở nông thôn.

Thuế má:

132. Thuế má công bằng và nhân đạo, nguyên tắc căn

bản: “Tỷ lệ tiền thuế công dân đóng góp phải tính theo khả

năng tài chính của họ”.

133. Nhưng công ích buộc chính phủ định số tiền thuế

nông dân lưu ý đến một sự kiện của giới canh nông là nông

dân phải chờ lâu tháng mới thu nhập được lợi tức mà lợi tức

nông dân hay bấp bênh. Nhiều khi họ khó tìm được số vốn

cần thiết để mở mang nông sản là khác.

Nông tín:

134. Vì thế những nhà tư bản thường hay tung vốn đầu

tư vào các cơ cấu sản xuất kỹ nghệ, mà họ không thích hùn

vốn vào canh nông. Nông dân cần phải vay tiền lập vốn, để

họ mở mang nông trại. Nhưng họ khó vay nặng lãi. Nhiều khi

số lãi tính theo giá thị trường, họ cũng không trả được. Do đó,

công ích đòi ở chính quyền lập một quỹ tiền tệ riêng cho giới

canh nông, và lập thành những cơ sở nông tín cho nông dân

kiếm được vốn cần thiết, mà không phải trả lãi quá nặng.

Hội bảo hiểm và cứu tế xã hội.

135. Trong lãnh vực nông nghiệp, thiết tưởng nên có hai

hệ thống bảo hiểm: một hệ thống cho những nông phẩm, một

hệ thống cho nông dân và gia đình của họ. Kinh nghiệm dạy

rằng: Sự thường lợi tức nông dân kém hơn lợi tức công nhân

kỹ nghệ và công chức. Vậy căn cứ vào vào đó mà tổ chức

những hội bảo hiểm và cứu tế nông dân kém hơn những hội

bảo hiểm và cứu tế công nhân thật là lỗi đến công bằng xã

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 217

hội. Mọi tổ chức bảo hiểm và cứu tế, thuộc bất cứ lãnh vực

kinh tế nào phải đều giống nhau không quản gì đến lợi tức

nhiều ít của những người thụ hưởng.

136. Vì những hội bảo hiểm và cứu tế xã hội giúp chính

quyền phân chia lợi tức quốc gia giữa các công dân, một cách

công bằng và nhân đạo thì những hội đó là phương pháp linh

nghiệm nhất để giảm bớt sự chênh lệch giữa các giai cấp xã

hội.

Bảo vệ giá nông phẩm:

137. Các nông phẩm có tính cách riêng, giá bán phải

được bảo đảm theo những phương pháp các kinh tế gia đã

hoạch định ra. Mong rằng chính nông dân phải được phụ trách

công việc đó và buộc nhau theo một luật chung. Nhưng chính

quyền cũng không sao chối được nhiệm vụ can thiệp vào.

138. Điều đáng chú ý nữa là giá các nông phẩm, thường

chỉ là trả công cho nông dân, mà không phải là bổ túc số vốn

họ tung ra.

139. Nói về công ích, Đức Piô XII tuyên bố rất hữu lý

trong thông điệp QA rằng:

140. Đành rằng con người cần các nông phẩm để thỏa

mãn những nhu cầu thiết yếu của đời sống. Giá phải quy định

sao cho bất cứ ai cũng có thể mua được. Nhưng dầu sao định

giá quá hạ là một sự bất công rõ rệt. Vì như thế cả một lớp

công dân tức là nông dân sẽ phải sống ở một địa vị kinh tế xã

hội suy nhược. Không đủ điều kiện vươn mình lên một địa vị

sinh hoạt cân xứng, vì thiếu tiền mua vật dụng cần thiết. Thật

là một điều phạm đến công ích của quốc gia.

141. Hơn nữa, ở các miền nông thôn, nên thành lập

những kho lẫm và những kỹ nghệ tồn trữ biến chế, chuyển

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 218

vận các nông phẩm, nên củng cố những sáng kiến kinh tế và

tiểu công nghệ và nhờ đó mà các gia đình nông thôn mới

kiếm được những hoa lợi bổ trợ ngay trong cảnh vực sinh

sống và làm việc của họ.

Xí nghiệp canh nông.

142. Ta không sao định được nên tổ chức canh nông như

thế nào cho thích hợp. Hoàn cảnh nông thôn thay đổi luôn,

tùy theo địa phương trong nước. Phương chi những hoàn cảnh

ấy khác hẳn ở từng nước trên thế giới ! Những ai đã có một

quan niệm xác đáng về con người và gia đình, một quan niệm

căn cứ vào đạo nhân nghĩa hay là chắc chắn hơn căn cứ vào

Phúc âm Chúa Kitô, thì họ sẽ lo tổ chức canh nông cho thành

một cộng đồng có tính cách nhân loại, và nhất là tính cách gia

đình. Trong cộng đồng ấy mọi người liên lạc với nhau và tổ

chức luôn việc sản xuất theo công bằng và đạo Phúc âm. Sau

đó, họ sẽ tùy theo hoàn cảnh mà tận tâm tìm cách thể hiện lý

tưởng cộng đồng nông dân của họ.

143. Nhưng cộng đồng nông dân có tính gia đình chỉ tồn

tại và bền vững được khi cộng đồng đó thu hoạch đủ loại hoa

lợi cho gia đình vươn mình lên một địa vị sinh hoạt và văn hóa

khả quan. Vì thế nông dân cần phải được huấn luyện xứng

đáng cho họ am hiểu những kế hoạch tối tân nhất và cho họ

hưởng nhờ lời chỉ giáo của những người chuyên môn. Ngoài

ra, chính nông dân, nên tổ chức những hội tương trợ, những

hợp tác xã, những công đoàn chuyên nghiệp, và tham gia vào

những công vụ hành chánh và chính trị.

Nông dân phải ý thức và thể hiện sứ vụ

144. Ta tin rằng: Trong giới canh nông những người phải

đứng đầu việc phát triển kinh tế, đề cao nền văn hóa, khiến

xã hội tiến bộ, trước hết, chính là nông dân. Họ phải ý thức

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 219

việc làm của họ cao trọng biết bao ! Họ làm việc ngay giữa

thánh đường uy linh của thiên nhiên; họ sống đêm ngày giữa

cảnh cây cỏ súc vật, hằng biểu diễn trước mặt họ, sự sống

trăm nghìn mầu sắc, luật tự nhiên của mỗi sinh vật mỗi khác

nhưng rất điều hòa, chứng minh Đấng Tạo Hóa tài trí lỗi lạc

quan phòng muôn vật theo tính theo loài của chúng. Nhờ công

việc nông dân, loài người đủ thực phẩm cần dùng và kỹ thuật

cũng mỗi ngày thêm nguyên liệu cần thiết.

145. Công việc nông dân đảm nhận lại quý giá nữa, vì

họ mượn của các kỹ thuật, của hóa học, của sinh lý học bao

sáng kiến mới, nông dân phải luôn tìm cách áp dụng vào

nghề nông cho thích hợp với sự tiến triển của khoa học

chuyên môn.

Như thế, vẫn chưa kể hết giá trị tuyệt đối của nghề

nông. Nghề nông lại đòi hỏi ở nông dân, một trí minh mẫn,

am hiểu, những biến đổi của thời tiết, một tài năng đặc biệt

để hòa mình vào mọi hoàn cảnh, một lòng tin tưởng sáng suốt

ở tương lai, một lòng kính cẩn tôn trọng sứ mệnh tối cần của

họ và một tinh thần linh động đầy sáng kiến mới.

Cần có sự đoàn kết và cộng tác.

146. Ta cũng phải nhấn mạnh vào một điều nữa, nghề

nông, không kém mọi kỹ thuật sản xuất khác, nên cần phải

có sự đoàn kết giữa nông dân, là lẽ sống còn của họ. Nhất là

khi được tổ chức thành những nông trại gia đình. Lúc nào

nông dân cũng phải ý thức những mối liên hệ ràng buộc họ

với nhau và cố gắng thành lập những hội tương trợ và hợp tác

xã nông đoàn. Hội đoàn nào cũng cần để hưởng lợi ích tiến

bộ khoa học hay để duy trì và bảo vệ thị giá.

Nhờ đó, nông dân mới chen vai sát cánh với các ngành

sản xuất khác, sự thường đã được tổ chức tinh xảo. Cũng nhờ

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 220

đó, mà nông dân mới có ảnh hưởng đến mọi công việc dân

sự. Ảnh hưởng đó xứng đáng với trách nhiệm của họ ngày

nay, đứng một mình mà nói, tức là nói uổng công, là lên tiếng

giữa sa mạc.

147. Không khác gì các công nhân các nghề khi nào

nông dân họp thành đoàn thể để ép buộc xã hội nhận quyền

lợi của họ hay làm thỏa mãn những điều họ khiếu nại, thì họ

phải nhớ tôn trọng luật luân lý, và luật quốc gia. Hay hơn cả

là tìm dung hòa quyền lợi với quyền lợi chính thức của giai

cấp xã hội khác và lo cho mọi hành động đoàn thể của họ lúc

nào cũng quy về công ích quốc gia. Những nông dân có thiện

chí với sứ vụ cải thiện xã hội và cảnh vực nông thôn, mà cần

phải xin công quyền nâng đỡ, ủng hộ, đó là làm một việc

công bằng và hợp lẽ. Nhưng họ còn phải thông cảm những

đòi hỏi của công ích, và thành thực góp phần vào việc gây ích

lợi chung.

148. Ta thành thực tán tạ những kitô hữu, con yêu quý

của Ta, rải rác khắp năm Châu đã luôn chung sức lập thành

những hội tương trợ, hợp tác xã, nông đoàn để đưa nông giới

đến một trình độ văn minh, cân xứng và dễ dàng tương đối

với địa vị sinh hoạt của mọi giai cấp công dân khác.

149. Nông nghiệp rất có thể cấp cho dân đủ nguyên

liệu cần thiết để họ sống xứng đáng chức vị con người, kiện

toàn nhân cách, và mở mang trình độ văn hóa của họ. Như

thế, họ phải ý thức nông nghiệp là một sứ vụ Chúa uỷ cho họ

hướng về một cứu cánh cao siêu, họ phải hiến toàn thân và

công việc của họ cho Chúa quan phòng, vốn chỉ dẫn mọi sự

theo mục đích cứu chuộc nhân loại. Sau hết, họ phải hứng tâm

lên và nâng cao lý tưởng các bạn đồng nghề, để góp phần

vào việc văn minh hóa thế giới.

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 221

Sự thăng bằng và tiến triển của các miền trong một nước.

150. Dầu trong một dân nước, cũng hay xảy ra trường

hợp kinh tế xã hội phát triển. Những công dân không được

hưởng lợi đồng đều. Người sống ở miền kinh tế chóng mở

mang sẽ được hưởng lợi ích bao nhiêu. Lẽ công bằng và nhân

đạo bắt buộc chính quyền san bằng hay giảm sự chênh lệch

ấy. Vì thế phải cung cấp cho miền chậm tiến những cơ sở

công ích thiết yếu thích thời, hợp với hoàn cảnh từng miền, và

trình độ mở mang của quốc gia. Hơn thế nữa, cần có một

guồng máy hành chánh thích ứng, một kỹ thuật chặt chẽ qui

định các điều kiện làm mướn, tổ chức những trào lưu di dân,

và hoạch định những điều luật về giá biểu, lương bổng, thuế

má, nông tín, đầu tư và riêng về số vốn đầu tư cần cho các xí

nghiệp mở mang những kỹ nghệ phụ thuộc. Phải làm sao cho

chính sách nói đây, không những cung cấp đủ việc làm cho

công nhân, nhưng còn khích lệ người thầu khoán đua nhau

khai thác những nguồn lợi địa phương.

151. Trong vấn đề đó, vai trò chính quyền là chỉ giáo

những việc đem lợi ích chung cho toàn dân, tùy theo những

đòi hỏi của công ích toàn quốc gia. Nên chính quyền phải lo

liệu cho canh nông, kỹ thuật và các công vụ luôn phát triển

đồng đều. Mục đích chính quyền phải đạt tới là liệu cho công

dân ở miền chậm tiến ý thức rằng, nhờ công việc của họ,

những miền kia mới tiến bộ về phương diện kinh tế, văn hóa,

và xã hội. Công dân tự hào nhiều hay ít, tùy theo họ ý thức,

họ có phần trách nhiệm trong việc mở mang quốc gia.

152. Chính quyền cũng nên dành cho sáng kiến tư nhân

trong việc kinh tế xã hội để tìm được thế quân bình cần thiết

theo nguyên tắc “tương trợ” chính quyền phải thúc đẩy, ủng

hộ tư nhân thể hiện sáng kiến riêng, để tư nhân ý thức rằng

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 222

nếu họ có thể, họ vẫn đủ điều kiện hoàn thành công việc họ

đã bắt đầu.

Sự chênh lệch giữa đất đai và dân cư.

153. Tiện dịp, ta nhắc qua đến một nhận xét, ngày nay

thường thấy ở nhiều nơi: tức là sự chênh lệch giữa đất đai và

dân cư. Nghĩa là những miền đất rộng dân ít mà những miền

đất hẹp dân cư lại đông đúc.

154. Nơi khác đất phì nhiên nhưng lối canh tác cổ hủ,

nên dân không đủ sống, hay đất trung bình nhưng lại được

khai thác theo những kỹ thuật tối tân, nên nông phẩm thặng

dư. Những tình trạng ấy thường rất có hại cho nền kinh tế

quốc gia.

155. Vậy tình nghĩa thiết của nhân loại và tình nghĩa

huynh đệ của đạo công giáo bắt buộc các dân nâng đỡ nhau

một cách hữu hiệu bằng mọi phương tiện, trước để số vật

phẩm, vốn đầu tư và cả số dân di cư được phát triển dễ dàng,

và để những mối dị đồng giữa các nước được giảm bớt dần

dần. Ta sẽ giãi bày vấn đề đó trong những trang sau.

Hội lương nông quốc tế hữu hiệu.

156. Kèm theo đây, ta thành thực cổ võ tổ chức lương

nông quốc tế của liên hiệp quốc đã ân cần lo giúp các dân

nước tương trợ lẫn nhau, canh tân nghề nông ở các nước chậm

tiến, và tiếp tế cho những dân còn thiếu ăn.

Những mối giao tế giữa các dân tiền tiến và hậu tiến.

157. Trong những vấn đề thời đại ta nêu lên, có lẽ quan

trọng nhất là vấn đề giao tế gữa các nước tiền tiến và các

nước hậu tiến. Những nước tiền tiến được hưởng mọi tiện

nghi, nhưng những nước hậu tiến lại chịu nhiều cực khổ. Vậy

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 223

loài người ngày nay tuy ở muôn nơi, nhưng đã cùng một ý

thức chung là anh chị em một nhà, nên người dân ở các nước

giầu sang no ấm không thể nào giữ lòng chai đá trước thân

phận của người dân nước nghèo túng thiếu mọi nhu cầu cần

thiết, không được hưởng dụng những quyền lợi thiết yếu của

con người. Các dân tộc hiện nay, ngày một liên hệ chặt chẽ

với nhau hơn đến nỗi không ủng hộ các dân chậm tiến, thì

tình trạng kinh tế xã hội quá chênh lệch không thể nào thực

hiện được một nền hòa bình vĩnh viễn và phồn thịnh.

Tình nghĩa thiết và lòng bác ái.

158. Là Hiền phụ của toàn thể nhân loại, ta cảm thấy

nhiệm vụ của ta là nhắc lại đây những điều kiện ta đã khuyên

rõ rệt ở nơi khác rằng:

“Chúng ta hết thảy cùng chịu trách nhiệm giúp đỡ các

dân tộc đói kém. Nên ta lên tiếng đánh thức toàn thể nhân

loại, nói chung, từng người và nhất là người sung túc nói

riêng phải xác nhận trách nhiệm của họ.”

159. Đã là những thành phần sống động của Nhiệm Thể

Chúa Kitô, thì các kitô hữu phải ý thức trách nhiệm ấy, một

cách linh động hơn. Điều đó quá hiển nhiên và Giáo hội cũng

không ngừng nhấn mạnh tới. Các kitô hữu buộc ngặt phải

giúp kẻ thiếu thốn. Thánh Gioan viết: (1Ga 3,16-17)

160. Vì thế, tôi rất hân hạnh thấy các dân nước đã tổ

chức được một hệ thống sản xuất tối tân, đồng lòng ủng hộ

các dân chậm tiến về mặt kinh tế, để họ cải tiến dân sinh một

cách dễ dàng hơn.

Những sự cứu tế khẩn cấp ở nhiều quốc gia.

161. Ai cũng thừa biết bây giờ ở nhiều quốc gia, thực

phẩm nhất là thổ sản dư thừa, trong khi bao quốc gia khác chịu

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 224

cảnh đói khát, cực khổ. Vậy công lý và đạo nghĩa yêu cầu

các nước sung túc phải nâng đỡ các nước bần cùng. Tiêu hủy

và phung phá những sản phẩm cần cho bao người khác đủ

sống, đó là phạm đến công bằng.

162. Sản xuất thực phẩm và nhất là những nông sản quá

mức tiêu thụ trong nước nhiều khi gây hại cho các công nhân

khác với tầng lớp nông dân. Nhưng không phải vì thế mà các

dân nước sung túc phải hạn chế sự sản xuất nông sản. Có rất

nhiều trường hợp bắt buộc họ phải sản xuất rồi cung cấp cho

các dân thiếu thốn và đói kém. Nếu làm như thế, là hại cho

một số công nhân trong nước, chính quyền phải san sẻ những

thiệt hại đó cho mọi công dân cùng chịu chung.

Viện trợ và cộng tác cho các dân chậm tiến được tiến

hóa đồng đều.

163. Cứu trợ các nước chậm tiến như thế, nhiều khi sẽ

không đủ hiệu lực để loại trừ những nguyên do tự nhiên gây

nên cảnh bần cùng và đói khát. Thường tình cảnh thê thảm ấy

chỉ do một nền kinh tế cổ hủ thô sơ. Giải pháp hiệu lực là thử

mọi đường lối. huấn luyện toàn dân về các nghề nghiệp kỹ

thuật và khoa học mới, rồi cấp vốn kinh doanh để họ mở

mang nền kinh tế của họ theo những đường lối tối tân của đời

ta.

164. Ta biết rằng trong những năm vừa qua nhân loại đã

ý thức nhiều. Đa số người ta đã lưu tâm đến trọng trách phải

cứu trợ các dân nước, quyền lợi ít, khí cụ sản xuất còn thiếu,

để giúp tiến hóa mau hơn về mặt kinh tế xã hội.

165. Để thực hiện cao vọng đó, nơi nào cũng có những

tổ chức quốc tế hay quốc gia, những hội đoàn công và tư, để

cứu trợ các dân chậm tiến một cách quảng đại hơn, cấp cho

họ những phương tiện khoa học chuyên môn hữu hiệu hơn.

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 225

Thanh niên từng trăm từng ngàn được mọi sự dễ dàng sang

học ở các Đại học đường đã thành lập tại các nước tiền tiến,

và nhờ đó được huấn luyện về khoa học, kỹ thuật đúng theo

nhu cầu của thời đại. Tiện dịp đây, ta cũng ca ngợi những

hành động bác ái này cho xứng với công nghiệp của họ.

Nhưng ta ước mong các nước sung túc sẽ cố gắng hơn nữa để

số người mới rảo bước trên đường khoa học, kỹ thuật kinh tế

mỗi ngày một đông hơn.

166. Về phương diện này, giáo mục buộc ta khuyên

thêm đôi lời:

167. Các nước còn đang ở trong thời kỳ nền kinh tế

phôi thai, cần khôn ngoan rút kinh nghiệm nơi các nước đã

thịnh vượng vì những cố gắng lâu năm trước

168. Phân chia của cách công bằng:

Tăng gia sản xuất mãi cũng cần, nhưng cần hơn là phân

phối sản phẩm cho công dân hưởng lợi cho đồng đều, đó là

luật công bằng đòi hỏi. Phải cố gắng cho sự phát triển kinh tế

đi song song với những tiến bộ của xã hội và bảo đảm nền

thăng tiến sao cho từ từ tương đối giữa ba khía cạnh kinh tế:

Canh nông, kỹ thuật và công vụ.

169. Tôn trọng đặc điểm cá tính của từng dân tộc. Một

điều quá hiển nhiên là các quốc gia đang tìm mở mang kinh tế

thường tỏ ra có những đặc điểm cá tính riêng, do vị trí địa dư,

tập tục cổ kính của tiền nhân, và tính tình riêng biệt.

170. Bởi thế, các nước có nền kinh tế phong phú, mà lại

có thiện chí muốn viện trợ cho các nước khác phải đặc biệt

tôn trọng cá tính của họ, vốn kết tinh nên quốc hồn quốc túy

của từng dân tộc. Nên các nước viện trợ đừng bắt các dân

chậm tiến phải mô phỏng theo nếp sống của mình.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 226

171. Chính trị không vụ lợi:

Lại nữa, các nước tiền tiến viện trợ cho các nước chậm

tiến phải hết sức đề phòng để khỏi lấy cớ viện trợ mà biến

hóa chính thể của nước đó theo lợi ích riêng của mình rồi tìm

cách xâm chiếm chinh phục họ.

172. Âm mưu như vậy, ai cũng công nhận rằng, viện trợ

chỉ là một đường lối đưa đến chế độ thuộc địa xưa. Danh từ

viện trợ nghe rất kêu và đáng kính biết bao ! Nhưng vì trong

âm thầm mưu kế như trên, chỉ là tìm cách tái lập chế độ thuộc

địa mới đã bị các dân tộc đánh đổ. Làm thế, mối giao tế giữa

các quốc gia sẽ lâm nguy, hòa bình thế giới sẽ bị lung lay.

173. Bởi thế nên đạo nghĩa và công bằng đòi ở các

nước đứng viện trợ về kỹ thuật và tài chánh phải hết sức vị

tha và gạt bỏ mọi chủ trương thống trị mà chỉ nhằm mục đích

là giúp các nước chậm tiến chóng đến ngày đủ điều kiện tự

mình phát huy nền kinh tế xã hội của họ.

174. Nhờ đó, các dân tộc mới thành một đại đồng quốc

tế mở rộng cho từng quốc gia ý thức nghĩa vụ và quyền lợi

riêng để thành thực góp phần vào công ích quốc tế.

175. Phân biệt giá trị mỗi sự vật:

Hẳn rằng khoa học và kỹ thuật tiến triển, nền kinh tế

phồn thịnh tất nhiên trình độ văn minh của các dân tộc cũng

được tăng lên nhiều. Nhưng dầu quý hóa bao nhiêu, những

vật phẩm ấy cũng không đáng gọi là những vật phẩm có giá

trị tuyệt đối, nhưng chỉ là đường lối tiến tới hạnh phúc tuyệt

đối ai cũng mong ước.

176. Ta rất ưu sầu khi thấy ngay ở các nước tiền tiến bao

người không đủ sáng suốt phân biệt giá trị riêng của mỗi sự

vật. Nhưng của quý phần hồn đều bị coi rẻ, bỏ quên, phủ

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 227

nhận. Còn những sáng kiến của khoa học và kỹ thuật, những

tiến bộ của kinh tế, hạnh phúc vật chất hứa hẹn được tôn kính

như thể đó là cứu cánh đời sống con người. Bởi thế, ẩn khuất

dưới những cố gắng viện trợ cho các nước chậm tiến, có bao

tệ đoan khốc hại. Nhưng đa số nước chậm tiến vẫn giữ

nguyên những lập trường luân lý cổ kính, và lấy lương tâm

làm luật mực cho mọi hành động công cộng hay tư nhân của

họ.

177. Vì thế, ai động đến những truyền thống cổ kính đó

là nhúng tay vào tội ác đáng bị kết án. Nên mọi người phải

tôn trọng lòng đạo của họ, và cố gắng làm cho thêm phần tinh

tế, hoàn hảo hơn, vì căn bản bất khả xâm phạm của một nền

văn minh chính đáng là lòng đạo đức sáng suốt nhận thực giá

trị của mỗi sự vật.

Giáo hội tôn trọng cá tính riêng của từng dân.

178. Giáo hội nói riêng, theo luật bao quát của thiên

định cho toàn thể nhân loại, và Giáo hội ở mọi nơi đưa cánh

ôm ấp mọi dân tộc.

179. Lịch sử và kinh nghiệm dạy rằng: Các dân tộc

không thể nào gia nhập vào nhiệm thể Chúa Kitô, mà không

hưởng lợi gì về kinh tế và xã hội. Thực ra, không ai xưng

mình là kitô hữu mà không thấy mình bị bó buộc phải cải

thiện mọi tổ chức dân sự tùy theo tài sức. Những tổ chức đó

được cải thiện thì nhân cách con người mới được tôn trọng,

mọi trở lực ngăn cản việc làm mới được loại trừ, và tất cả mọi

sự đưa đến lẽ phải và đạo nghĩa mới được ủng hộ.

180. Hơn thế nữa, Giáo hội thâm nhập vào trong tận cốt

tủy của mỗi dân tộc không phải chỉ là một ngoại lực, và cũng

không nhận mình là một tổ chức chỉ ảnh hưởng đến họ ở bên

ngoài. Nhưng Giáo hội có mặt ở đâu thì ở đó có con người

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 228

thấy mình vừa tái sinh, vừa hoàn sinh trong Chúa Kitô hầu như

từ ở trong lòng. Thực ra ai tái sinh hay hoàn sinh trong Chúa

Kitô sẽ không bao giờ cảm thấy mình bị áp lực nào bên ngoài

ép buộc. Người ấy thấy mình được giải phóng từ trong nội

tâm, như mình mới được tư do hướng về với Chúa, và được

thư thả mong mỏi sự chân thiện mỹ. Nhờ mình hóa theo và

thực hành những sự cao quý ấy, thì nhân cách hóa mình mình

mới kiện toàn và hoàn hảo.

181. Đức tiên Giáo hoàng Piô XII đã minh giải điều ấy

rằng Giáo hội Chúa Kitô, trung thành kế nghiệp Thiên Chúa

khôn ngoan chỉ giáo cho nhân loại. Giáo hội không thể nào có

dã tâm đả kích hay khinh thường những đặc điểm cá tính của

từng dân tộc kính cẩn duy trì và rất tự hào tìm phát triển như

một di sản quý giá. Giáo hội chỉ chủ trương thống nhất nhân

loại về mặt siêu nhiên, trong một tình nghĩa huynh đệ rộng

như trời bể, ai cũng phải thấy và quyết thể hiện, mà không

phải chỉ mong đồng hóa các dân tộc trong một đời sống giống

nhau, nông cạn, bề ngoài làm cho hao mòn sinh lực của từng

nước. Tất cả những khuynh hướng, những mối lo đã quy về

mục đích làm phát triển một cách đồng đều và khôn ngoan,

những sinh lực riêng biệt, những đặc điểm cá tính đã đâm rễ

sâu vào quốc hồn quốc túy của từng dân tộc, nếu không có gì

trái ngược với những nghĩa vụ căn bản loài người phải chịu

nhận vì cùng một nguồn gốc và một cứu cánh thì được Giáo

hội hết sức hoan nghênh và mong có ngày được thỏa mãn với

cả một lòng mẫu tử thành thực.

Kitô hữu góp công vào sự phát triển quốc gia.

182. Ta hân hạnh nhận thấy những công dân kitô hữu

các nước chậm tiến không chịu thua kém ai trong việc góp

công vào sự phát triển kinh tế xã hội ở nước họ.

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 229

183. Mặt khác, ở những nước tiến triển, giáo dân không

ngừng đua nhau thúc đẩy nước họ tăng gia những công cuộc

viện trợ cho các dân đang ở trong cảnh cơ cực, chóng được

mở mang về kinh tế và xã hội. Về phương diện đó ta đặc biệt

tán dương những sự giúp đỡ thanh niên Á Phi, mỗi năm một

nhiều, cho họ sang du học trong các nước Âu Mỹ để được

huấn luyện sâu rộng và riêng về kỹ thuật. Ta cũng rất tán

thành những cố gắng huấn luyện cho các nước ấy đủ chuyên

viên và cán bộ sành sõi đủ khả năng giúp họ phát triển kinh

tế và xã hội.

184. Nói tóm lại, ta thành thực và ưu ái ghi ân, khích lệ

tất cả các kitô hữu, con yêu quý của ta, dầu rải rác khắp mọi

nơi, nhưng vẫn tận tụy cộng tác vào những tiến bộ của các

dân tộc và củng cố nền văm minh thế giới. Họ biện chứng

cho Giáo hội có sẵn một nguồn sinh lực vĩnh cửu và vô cùng

hữu hiệu.

Tình trạng tăng gia nhân khẩu và mở mang kinh tế.

185. Đã từ mấy năm nay, cả thế giới thắc mắc tự hỏi

rằng: Làm thế nào để giữ thế quân bình, giữa nền kinh tế,

vốn phải cấp đủ kế sinh nhai cho nhân loại, và số nhân khẩu

càng tăng lên mãi, hoặc trong phạm vi quốc tế hoặc trong

phạm vi riêng của những quốc gia kém mở mang.

186. Trong phạm vi quốc tế, không thiếu những người

nhận rằng: Theo những sở thống kê đáng tin cậy, sẽ không

còn mấy chục năm nữa, nhân loại sẽ tăng lên cách lạ theo

nền kinh tế thì dù phát triển mạnh cũng không sao tiến theo

cùng đà với số người tăng lên. Họ kết luận rằng, không hạn

chế sự sinh sản của nhân loại, thì một ngày gần đây, nền kinh

tế và số nhân khẩu sẽ mất hẳn thăng bằng.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 230

187. Lược qua mấy sổ thống kê của các nước kém mở

mang, ai cũng phải nhận rằng: Nhờ những phương kế vệ sinh

và y tế được phổ biến mau chóng, số các trẻ em chết yểu sẽ

giảm đi nhiều, đời sống nhân dân, xét trung bình đã được kéo

dài hơn. Những nơi số sinh cao thì vẫn cao, và chắc sẽ giữ mãi

như thế, ít thay đổi trong nhiều năm nữa. Nhưng trong khi số

sinh trổi vượt hơn số tử, khiến con người thêm đông, nền kinh

tế không thể tăng lên kịp. Như thế ở các nước đó ta không có

hy vọng nâng cao mực sống nhân dân. Trái lại, vẫn sút kém.

Do đó, nhiều người kết luận rằng: Không còn phương pháp

nào tránh được tình trạng cực đoan ngoài phương pháp ngăn

cản hay hạn chế việc sinh sản của con người.

Vấn đề này được nêu lên trong phạm vi quốc tế.

188. Thực ra, trong phạm vi quốc tế đem so sánh số

nhân khẩu với những nguồn lợi loài người đã có sẵn có thể

dùng được, ta không thấy dấu hiệu nào đáng lo ngại. Tương

lai gần đây cũng không gây thắc mắc là bao. Những lý lẽ

người ta đem trình để bắt con người hạn chế sinh sản, một

phần gây những cuộc tranh luận nên không thể căn cứ vào đó

mà kết luận chắc chắn phải hạn chế sự sinh sản để loài người

khỏi lâm nguy.

189. Ngoài ra, Chúa khoan nhân và khôn ngoan tuyệt

đối đã dựng nên thiên nhiên đầy tài nguyên vô tận, loài người

lại được dựng sinh có trí óc lỗi lạc, nhờ đó con người cải hóa

những tài nguyên của thiên nhiên để mình đủ thỏa mãn nhu

cầu hồn xác không bao giờ thiếu. Như thế, ta không thể giải

quyết vấn đề theo những đường lối trái ngược với luân lý

Chúa an bài và phạm đến nguồn sinh sản tiềm tàng trong con

người. Trái lại nhờ khoa học chuyên môn, con người luôn

sáng kiến và các dân tộc đua nhau khám phá ra những tiềm

lực của thiên nhiên và tìm cách chinh phục muôn vật trong vũ

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 231

trụ ngày một nhiều hơn. Những tiến bộ được thể hiện về mặt

đó, là một mối hy vọng vô bờ bến, hằng bảo đảm tương lai.

Đặt vấn đề trong những nước chậm tiến.

190. Tuy nhiên, ta thừa biết rằng: Có những địa phương

và những nước nguồn lợi quá ít, nên vấn đề nhân khẩu rất

phức tạp nhiều khi những dân nước đó gặp bao nhiêu trở

ngại. Nền kinh tế xã hội chưa được phát triển để dân số càng

ngày càng đông tìm được nơi họ sinh sống những phương tiện

sinh nhai cân xứng đầy đủ. Đó cũng là do các quốc gia thiếu

đoàn kết nên chưa ý thức được mối liên hệ tự nhiên ràng

buộc họ lại với nhau.

191. Nhưng dù sao ta cũng công nhiên tuyên bố rằng:

Không ai được đặt vấn đề và tìm giải pháp ở những cách thức

hay ở những phương kế nào tự nhiên trái với phẩm giá đặc

biệt của con người, theo quan niệm của phe duy vật, chỉ nhận

con người là một con vật tinh xảo hơn, và mạng sống những

chỉ toàn là vật chất như muôn vật chất khác trong thiên nhiên.

192. Vấn đề này không thể giải quyết được, cho từng cá

nhân và cho cả xã hội, nếu sự tiến bộ của kinh tế xã hội coi

thường những giá trị chân chính của nhân loại. Vậy điều đáng

tôn trọng hơn cả là nhân phẩm của toàn thể nhân loại nói

chung, và mạng sống của từng cá nhân nói riêng. Ngoài ra,

vấn đề này chỉ có thể giải quyết trong sự hợp tác của các dân

tộc trong phạm vi quốc tế. Vì có sự hợp tác này, các vật phẩm

cần thiết mới được lưu thông đồng đều, nhất là những kiến

thức, số vốn, và chuyên viên.

Luật lệ truyền sinh.

193. Ở đây, ta long trọng tuyên bố lại rằng: Giữa nhân

loại sự sống chỉ di truyền được trong và nhờ gia đình. Gia đình

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 232

lại căn cứ vào một cuộc hôn nhân đối với toàn thể nhân loại

là một cuộc đơn và vĩnh hôn, đối với các kinh tế là một bí tích

cao thượng. Việc truyền sinh là một việc ý thức và cố tình,

nên việc đó phải tuân theo luật lệ khôn ngoan của Chúa, là

luật bất di bất dịch và bất khả xâm phạm, người nào cũng phải

nhìn nhận và tuân giữ. Như thế dầu có những phương pháp và

những cách thức người ta có thể áp dụng được vào việc

truyền sinh của súc vật hay cây cối, cũng không ai được đem

áp dụng vào sự truyền sinh của nhân loại.

194. Mạng sống nhân loại không những chỉ phát nguồn

ở nơi con người, nhưng còn do sự tạo thành của Thiên Chúa.

Nên ai cũng phải nhận thực là một việc thánh. Ai phạm đến là

lỗi luật Chúa, phạm đến uy quyền của Chúa, làm nhục bản

thân mình và khiến loài người mất cả giá trị riêng. Hơn thế

nữa, kẻ ấy làm suy nhược cả khối sinh lực của quốc gia nữa.

195. Như thế, việc quan hệ hơn cả là phải huấn luyện

thế hệ thanh niên mới, không những về phương diện văn hóa

tôn giáo, đó là phận sự đòi hỏi người làm cha mẹ nhưng còn

huấn luyện họ và những trọng trách họ phải ý thức, và đảm

nhận suốt trong đời sống, nhất là việc lập gia đình, sinh trưởng

và nuôi dạy con cái. Tuổi thanh niên phải đặt tin tưởng ở

Chúa quan phòng, mà lại quyết định chịu đựng mọi sự vất vả

hy sinh, tự nhiên có kèm theo sứ vụ cộng tác với Chúa trong

việc sinh sản và giáo dục con cái để hoàn tất sứ vụ cao siêu

đó. Những ơn phúc và những huấn lệnh cao siêu của Chúa

Kitô được Giáo hội nâng đỡ bằng những huấn lệnh và ơn

phúc siêu nhiên vẫn chứa chan nơi Người. Không kể những lý

do khác, ta nói được chính vì lý do ta mới nhắc đến, mà Giáo

hội có quyền đòi hỏi tự do thể hiện sứ mệnh của mình.

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 233

Mục đích các thổ sản là để thỏa mãn nhu cầu của nhân loại.

196. Sách Sáng thế viết: “Loài người nguyên thủy được

Chúa dựng nên và ban hai huấn lệnh bổ quyết nhau: Hãy sinh

sản cho nhiều. Hãy làn tràn khắp mặt đất và chế ngự cả hoàn

cầu”.

197. Huấn lệnh thứ hai không bảo tiêu diệt mọi thổ sản

vật chất, nhưng là: chinh phục để nhân loại có đủ các thứ cần

thiết.

198. Vì thế, ta rất lo ngại khi thấy đời ta đầy những mâu

thuẫn khốc hại: một đàng người ta diễn lại cảnh thê thảm của

nhân loại sắp bị tàn phá vì nạn đói. Mặt khác nhờ những phát

minh của khoa học, những tiến bộ của kỹ thuật, những tài

nguyên kinh tế dồi dào, người ta đua nhau sử dụng để chế tạo

những khí cụ phá hoại giết chóc nhân loại một cách kinh

khủng.

199. Chúa quan phòng đã ban cho nhân loại đủ phương

tiện để ai cũng gánh được trọng trách dưỡng sinh con cái và

giữ nguyên nhân phẩm của mình. Nhưng khi con người lạc trí,

lòng gian dùng những phương tiện nói trên một cách trái

ngược với tự nhiên, cứu cánh xã hội, và ý tiền định của Chúa,

thì nhân loại không còn phương pháp nào nuôi thân và truyền

nòi giống xứng đáng với con người nữa.

Sự cộng tác quốc tế.

Vấn đề nhân sinh ngày nay là vấn đề quốc tế.

200. Khoa học và kỹ thuật tiến bộ. Nhưng mối giao tế

giữa các nước trong mọi phạm vi xã hội ngày một chặt chẽ,

thân mật hơn. Như thế các nước liên hệ nhiều hơn.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 234

201. Cũng vì thế mà bất cứ một vấn đề hệ trọng nào

hoặc trong phạm vi khoa học kỹ thuật kinh tế xã hội, hay

trong phạm vi chính trị văn hóa, cũng không giải quyết riêng

giữa mấy quốc gia với nhau nhưng phải có nhiều nước liên hệ

hay cả thế giới tham gia mới giải quyết thỏa đáng được.

202. Dù những quốc gia có nền văn hóa và giáo dục

cao độ, công dân đông và chuyên môn nền kinh tế dồi dào,

nguồn lợi phong phú, diện tích rộng lớn, cũng không thể giải

quyết một mình những vấn đề trọng đại ấy một cách thích

đáng được. Các quốc gia cần phải bổ khuyết nhau. Nên

không quốc gia nào mưu lợi ích riêng, nếu quốc gia ấy đồng

thời không mưu ích chung cho các quốc gia khác. Chính

những đòi hỏi của một đời sống văn minh, bắt buộc các nước

ngày nay phải hòa hợp và trợ giúp nhau.

Một trở lực khó vượt qua: lòng ngờ vực nhau.

203. Điều đó mỗi người và mỗi quốc gia đều xác nhận.

Đó là những nguyện vọng của dân chúng nhưng hầu như

không ai, nhất là không nhà cầm quyền nào đủ sức làm thỏa

mãn được. Không phải họ thiếu phương tiện khoa học kỹ

thuật hay kinh tế thích nghi nhưng họ ngờ vực nhau. Thật ra,

con người nói riêng, các chính phủ nói chung đều sợ nhau.

Các quốc gia sợ nhau âm mưu làm bá chủ và chờ đón cơ hội

thuận tiện để thi hành thủ đoạn. Vì thế, các nước chuẩn bị

quốc phòng, sắm võ khí với mục đích cảnh cáo đối phương

không nên gây hấn.

204. Tình trạng đó đem đến hậu quả là bao nhiêu nhân

lực và tài nguyên được các dân tộc sử dụng để chuẩn bị chiến

tranh, là một thiệt hại lớn lao cho xã hội không đem đến lợi

ích gì. Loài người xét theo từng cá nhân và từng quốc gia đều

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 235

sống trong lo sợ không dám làm những việc trọng đại cần

thiết.

Những quan niệm sinh hoạt mâu thuẫn nhau.

205. Sở dĩ nhân loại sống trong tình trạng đó vì nhân

loại và riêng các nhà giữ vận mệnh quốc gia hành động theo

những quan niệm tương phản nhau trong đời sống. Bao người

quả quyết rằng: Trổi vượt thời thế hoàn cảnh để hướng dẫn

nhân loại nhưng không có luật lệ cần thiết, phổ thông, buộc

chung mọi người như nhau về chân lý và công bằng. Vì chối

luật công bằng duy nhất buộc chung mọi người, không còn ai

hòa hiệp với nhau một cách an toàn trong bất cứ vấn đề nào.

206. Phải nhận rằng những danh từ “công bằng” hay

những đòi hỏi của công bằng luôn vang dội trên môi miệng

mỗi người, nhưng không ai hiểu như ai, nhiều khi mỗi người

hiểu theo một ý khác hẳn nhau. Như thế dù các nhà cầm

quyền hết sức cổ võ mọi người tôn trọng công bằng, hãy lo

tuân giữ những đòi hỏi của công bằng, họ cũng không đồng ý

với nhau, nhiều khi họ lại gây dịp cho những cuộc tranh luận

bùng nổ. Như thế để bảo vệ quyền lợi và tài sản, người ta chỉ

còn phương pháp là dùng võ lực. Nhưng võ lực sẽ nảy sinh tai

họa.

Ai cũng phải nhận một pháp luật và nguồn chân lý

buộc chung mọi người.

207. Vậy các quốc gia không thể nào tín nhiệm nhau

một cách vĩnh viễn và mỗi ngày một tăng cường hơn, nếu họ

không xác nhận và quyết thi hành những luật lệ căn bản của

chân lý và công bằng.

208. Trật tự luân lý chỉ có một căn cứ vĩnh viễn là Thiên

Chúa, tách khỏi Thiên Chúa trật tự luân lý sẽ tan rã. Con

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 236

người không phải chỉ là một thể xác nhưng còn là một thần trí

ý thức tự do. Vì thế, con người căn cứ vào tôn giáo, một nội

lực mãnh liệt hơn mọi áp lực từ bên ngoài; hữu hiệu hơn mọi

tư lợi riêng để giải quyết những vấn đề đời sống cá nhân và

xã hội trong phạm vi quốc gia, và cả cộng đồng xã hội quốc

tế.

209. Ngày nay không thiếu người căn cứ vào những tiến

bộ của khoa học và kỹ thuật quả quyết rằng con người tự

nhiên đủ sức vươn mình lên một trình độ văn minh tuyệt đối,

không cần có Thiên Chúa phù lực. Sự thật trái lại. Khoa học

và kỹ thuật càng tiến triển lại càng nêu nhiều vấn đề quốc tế,

không ai giải quyết được nếu họ không chịu nhận uy quyền

của Thiên Chúa, vừa là Đấng tạo Hóa và bá chủ hoàn cầu.

210. Chính những cuộc phát minh của khoa học mở

rộng trước mặt người ta một chân trời mênh mông vô tận.

Thấy thế không thiếu người có thiện chí thành thực nhận rằng

các nhà toán học khám phá ra được mọi hiện tượng trong

thiên nhiên, nhưng họ không sao thấu hiểu bản tính và sự

biến chuyển của muôn vật. Nhiều nhất họ chỉ đề nghị được

một vài giả thuyết hữu lý. Mãi đến khi con người mục kích rõ

ràng rồi họ mới nhận khối lượng khổng lồ kỹ thuật máy móc

họ đang sử dụng vào trong các công việc xây dựng, tàn phá,

mưu ích, phá hoại cho các dân, khi đó họ mới nhận loài người

phải tôn trọng tinh thần và luân lý hơn mọi nguồn lực khác.

Muốn cho khoa học và kỹ thuật dẫn đưa nhân loại đến chỗ

văn minh thực thụ mà không đưa đến những thiệt hại khác

phải triệt để áp dụng các luật định đó.

211. Mặt khác những quốc gia nào dân chúng vươn

mình lên địa vị sinh hoạt cao thượng mọi người được thỏa mãn

các nhu cầu, họ sẽ không mơ tưởng địa đàng nào nữa. Nhưng

nếu họ ngày càng ý thức con người có nhân cách đặc biệt và

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 237

kèm theo nhân cách đó lại có những quyền lợi chung, những

quyền lợi bất khả xâm phạm. Nên họ sẽ dùng mọi phương

thế để đối xử với nhau một cách công bằng và xứng đáng

phẩm giá con người hơn. Như thế là họ nhận sự bất lực của

từng cá nhân, và hơn bao giờ hết, họ đoàn kết với nhau để đề

cao tinh thần hơn vật chất. Nhờ dấu đó ta rất có thể hy vọng

ngày mỗi người và mỗi quốc gia thành thực hợp tác với nhau

để bắt đầu cuộc tương giao chân thành và hữu hiệu.

PHẦN THỨ TƯ

IV. HUẤN TỪ MỤC VỤ VỀ CHÂN LÝ CÔNG BẰNG

VÀ BÁC ÁI

212. Ngày nay cũng như hồi xưa, những sự phát minh

của khoa học và kỹ thuật ảnh hưởng rất nhiều đến những mối

giao tế trong xã hội. Vì thế ai cũng phải lo cho khoa học và

nghệ thuật thăng tiến mãi để cân xứng với chức vị con người

hơn, không những trong từng quốc gia nhưng trong cả đời

sống quốc tế nữa.

Những học thuyết sai lạc hay thiếu sót

213. Để bước tới mục đích ấy, người ta đã nghĩ ra bao

học thuyết khác nhau. Học thuyết này mới phát xuất đã tiêu

tan ngay như sương bình minh. Học thuyết kia vừa phát xuất

đã phải thay đổi tận gốc rễ. Những học thuyết khác dù đã có

những hấp dẫn rất mạnh đối với nhân loại nhưng dân chúng

ngày bỏ đi càng nhiều vì những học thuyết ấy không tìm hiểu

sâu rộng và toàn diện về con người. Nhân tính con người còn

bao khuyết điểm mà những học thuyết trên hầu như không

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 238

quan tâm tới, như bệnh tật và sự đau khổ, hệ thống kinh tế xã

hội nào dù hoàn hảo tới đâu cũng không sửa chữa hết được.

Ngoại trừ loài người tự nhiên có một tinh thần tôn giáo sâu

rộng và mãnh liệt, không một lực lượng nào trên trần gian có

thể tiễu trừ hay vùi lấp đi được.

214. Đời ta bây giờ có một lỗi lầm rất lớn khi tuyên bố

tinh thần tôn giáo vốn do Tạo Hóa ghi sâu vào nhân tâm, chỉ

là một ảo tưởng, một mê tín, nên phải tiễu trừ ra khỏi lòng

người vì đó chỉ là hành động lỗi thời ngăn cản nền văn minh

tiến bộ. Trái lại, tinh thần tôn giáo cao quý phát nguyên từ

đáy lòng người là một tang chứng con người bởi Thiên Chúa

dựng nên và hướng về với Chúa, theo lời thánh Augustino đã

nói: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con để chúng con

quy hướng về Chúa, nên lòng chúng con lo âu, bồn chồn mãi

cho đến khi được yên nghỉ trong Chúa”.

Thiên Chúa căn bản cần thiết của mọi tổ chức công

bằng.

215. Vì thế, dù khoa học chuyên môn tiến triển mãi,

dầu nền kinh tế xã hội được tổ chức tinh xảo, chỉ khi nào loài

người ý thức được rằng họ được Chúa dựng nên và được tôn

làm con Chúa, vừa là nguồn gốc vừa là cứu cánh của muôn

vật, khi đó thế giới mới sống công bằng và hòa bình được.

Loài người lạc xa Thiên Chúa nên mất luôn cả nhân tính cao

quý đối với mình và đối với anh chị em đồng loại. Những mối

tương giao giữa nhân loại đều do từng người ý thức mình tùng

phục và hướng về Thiên Chúa là nguồn chân lý công bằng và

bác ái độc nhất hay không.

216. Một điều ai cũng nhận thực là hiện nay trong bao

quốc gia văn minh công giáo cổ kính, các kitô hữu, anh chị

em và con cái của ta, bị bách hại khổ sở từ lâu năm. Cái mâu

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 239

thuẫn giữa tinh thần ưu thắng của kẻ bị bách hại, và sự gian ác

của những người bách hại, dầu không đủ sức hấp dẫn những

người chủ mưu hồi tâm lại, nhưng cũng khiến cho bao người

có thiện chí phải kinh ngạc suy nghĩ.

217. Đời ta điên cuồng hết chỗ nói vì đang khi xây dựng

trật tự xã hội vật chất trên những nền tảng bền vững và phong

phú, nó cũng mưu trí loại trừ Thiên Chúa cao cả là căn bản

độc nhất uy quyền. Nó lại đề cao phẩm chức nhân loại cao

đến đỉnh trời, nhưng đồng thời cũng tìm diệt trừ nguồn gốc tự

nhiên phát sinh và nuôi dưỡng lòng người, bằng cách đè nén

và nếu có thể giập tắt luôn khuynh hướng cao siêu vốn hướng

dẫn nhân loại về với Thiên Chúa. Những tai họa mới xảy ra,

đã đánh tan bao nhiêu mối hy vọng rực rỡ, đã gây bao khốc

hại cũng chứng minh lời Kinh Thánh đã chép: “Nếu chính

Chúa không cất nhà, thì thợ xây đều làm việc vô ích”.

Ý nghĩa và giá trị học thuyết xã hội công giáo.

218. Học thuyết xã hội công giáo có một giá trị đặc biệt

muôn đời là điều không ai hồ nghi.

219. Nguyên tắc thiết yếu, là con người vừa là nền tảng

và là nguyên nhân, cũng là cứu cánh của mọi tổ chức xã hội.

Con người có tính cách xã hội, và đã được tôn lên địa vị siên

nhiên tức là trổi vượt mọi địa vị tự nhiên đã chiếm được.

220.Căn cứ vào nguyên tắc thiết yếu đó, là nguyên tắc

diễn tả chức vị cao thượng của con người. Giáo hội nhất là

trong thế kỷ vừa qua đã soạn thảo một học thuyết xã hội nhờ

sự cộng tác của các linh mục và giáo dân chuyên nghiệp.

Trong học thuyết đó, Giáo hội quy định rõ ràng những mối

tương giao giữa nhân loại phải tổ chức theo những luật lệ phổ

thông nào. Những luật lệ này trên thực tế, vừa rất thích hợp

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 240

với đủ mọi tình trạng xã hội, và những đặc điểm thời đại của

ta, nên ai cũng chấp nhận được.

221. Nhưng không bao giờ bằng lúc này, học thuyết đó

phải được phổ biến tìm hiểu sâu rộng, và thể hiện trong đời

sống dưới những hình thức và bằng những phương thế hữu

hiệu, do thời đại, hoàn cảnh cho phép hay đòi hỏi. Đó là một

việc vĩ đại, ta tha thiết yêu cầu toàn thể giáo dân, và tất cả

những người có thiện chí hãy tận tâm hiệp lực tham gia.

Học hỏi và phổ biến học thuyết xã hội công

giáo.

222. Trước hết ta tuyên bố rằng: học thuyết xã hội công

giáo trình bày đây là một thành phần thiết yếu của toàn bộ

giáo lý mà Giáo hội luôn rao giảng về đời sống con người.

223. Nên ta ước mong học thuyết xã hội này được toàn

thể giáo dân học hiểu ngày một sâu rộng hơn. Ta lại yêu cầu

các trường công giáo trong mọi cấp bậc, và nhất là các chủng

viện hãy biên ghi học thuyết xã hội công giáo trong chương

trình học tập bắt buộc của họ. Thực ra ta đã được biết, có rất

nhiều học đường công giáo đã giảng dạy học thuyết đó, mà

lại giảng dạy rất chu đáo từ lâu năm. Ta cũng ước mong được

thấy học thuyết xã hội công giáo, nhập vào chương trình giáo

lý của các giáo khu, và các hội đoàn tông đồ giáo dân rồi nhờ

phương pháp tối tân: nhật báo, nguyệt san, sách vở thường

thức hay nghiên cứu khoa học, đài phát thanh và vô tuyến

truyền hình.

224. Thiết tưởng các đoàn thể giáo dân, có thể được

hợp tác vào các việc phổ biến học thuyết xã hội công giáo

này một cách rất hiệu nghiệm, nếu họ không những tìm hiểu

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 241

áp dụng trong đời sống riêng của họ mà còn khôn khéo tận

tâm tìm dịp giải nghĩa cho các anh em bạn hữu nữa.

225. Anh em phải tin tưởng rằng giới thiệu học thuyết

xã hội công giáo là phương pháp hiệu lực để giải quyết mọi

vấn đề của thời đại cũng là minh chứng học thuyết ấy chân

thực và hiệu nghiệm. Như thế anh em rất có thể hấp dẫn luôn

cả những người xưa nay đã bài bác học thuyết xã hội công

giáo vì họ chưa hiểu rõ, và có lẽ còn chiếu vào tâm trí họ một

vài tia sáng cứu chuộc.

Một nền giáo dục hòa hợp với học thuyết xã hội

công giáo.

226. Một học thuyết xã hội, phải trình bày trước mặt

người ta, nhưng cũng phải thể hiện nữa. Áp dụng học thuyết

xã hội công giáo điều đó càng rõ ràng hơn, vì học thuyết đó

có chân lý làm nguồn sáng, công bằng làm cứu cánh và bác

ái làm động lực.

227. Như thế, giáo dân không những phải học hiểu học

thuyết xã hội của Giáo hội mà phải được giáo dục theo học

thuyết ấy nữa.

228. Một nền giáo dục phải bao quát tất cả mọi nghĩa vụ

của con người. Như thế những kitô hữu được giáo dục chu

đáo, phải ăn ở đúng theo học thuyết xã hội công giáo trong cả

phạm vi kinh tế và xã hội.

229. Nhưng trong thực hành bất cứ lý thuyết nào cũng là

khó. Phương chi thực hành học thuyết xã hội công giáo còn

khó hơn nữa, vì nhiều lý do: Lòng người có tính ích kỷ, xã hội

hiện tại chịu ảnh hưởng duy vật chủ nghĩa, còn trong cơ hội

cụ thể, nhiều khi chúng ta khó minh xác điều nào hợp lý điều

nào không hợp với công bình.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 242

230. Như thế giảng dạy cho con người hiểu học thuyết

xã hội công giáo buộc phải ăn ở thế nào cho hợp trong phạm

vi kinh tế xã hội vẫn chưa đủ, nhưng họ còn phải biết rõ

phương pháp cần thiết để họ luôn hoàn tất nghĩa vụ đó.

Giáo dục thực nghiệm:

231. Vậy thiết tưởng, nền giáo dục xã hội sẽ khuyết

điểm rất nhiều nếu đứng cạnh giáo sư, các môn đệ chỉ thụ

động và không chịu hành động để thí nghiệm những bài học.

Lý thuyết khi nào cũng phải kèm theo những kinh nghiệm cụ

thể và những thực hành hữu hiệu.

232. Không ai biết rõ tự do là gì, nếu họ không tập quen

dùng quyền tự do cho phải lẽ. Đó là một tục ngữ chí lý. Trong

phạm vi kinh tế xã hội cũng thế, người ta hiểu biết học thuyết

xã hội công giáo khi họ tận tâm hiệp lực hành động theo học

thuyết ấy.

233. Do đó, các hội đoàn tông đồ giáo dân phải đóng

góp một phần lớn trong việc giáo dục loài người về mặt xã

hội. Nhất là các hội đoàn có mục đích riêng là thực hành đạo

Chúa Kitô trong những công việc thuộc thế tục Vì những thí

nghiệm hằng ngày, các nhân viên nhập vào những hội đoàn

đó sẽ được tự luyện ngày một hơn rồi mới ra huấn luyện tuổi

thanh niên ngày một đông hơn.

Chí hướng kitô hữu về đời sống:

234. Có một điều ta phải nhắc lại cho tất cả mọi người

không phân biệt người ưu thế hay yếu hèn, điều đó chắc

không phải ngoại đề, là chí hướng kitô hữu về đời sống con

người, gồm cả ý chí anh hùng chịu đựng được mọi cực khổ và

sống tiết kiệm nhờ ơn Chúa giúp sức.

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 243

235. Nhưng than ôi ! Ngày nay bao nhiêu người chỉ biết

mê vui. Theo họ, cứu cánh đời sống, là nếm thử mọi thú vui

cho mê say. Họ chỉ có một mối lo, là lo thỏa mãn những tai

hại hồn xác họ có thể phải chịu ? Dù chỉ xét theo lý đương

nhiên ta cũng đủ rõ con người minh chính và khôn ngoan phải

biết ăn ở cho có điều độ và thắng hãm dục tình. Vậy nếu ta

xét theo đạo thánh Chúa mạc khải, thì ta càng phải quyết

rằng: Phúc âm Giáo hội và cả một giáo khoa tu đức muôn

thuở đồng ý yêu cầu giáo dân phải thắng hãm mọi dục vọng

bất chính, và chịu đựng mọi sự khổ đau do đời sống gây nên.

Sự cố gắng tích cực tu thân, trước cho thần trí đoạt thắng thể

xác, được mạnh sức và khôn ngoan hơn, sau là đường lối hữu

hiệu để tỏ lòng đền tội. Ai lại tự đắc là kẻ vô tội ngoài chính

Chúa Kitô và Mẹ vô nhiễm của Người.

Đường lối huấn luyện giáo dân về học thuyết xã hội.

236. Thường ai quyết thực hành học thuyết xã hội phải

trải qua ba giai đoạn: điều tra cho biết tình hình một cách tỉ mỉ;

nhận xét hiện tượng dưới ánh sáng học thuyết công giáo; rồi

quy định đường lối áp dụng vào thời thế hoàn cảnh những

nguyên tắc vĩnh cửu của Giáo hội. Ba giai đoạn ấy, thường

gọi là kiến thức, luận xét và hành động (xem, xét, làm).

237. Đó là phương pháp hành động, thanh niên cần phải

tập để thành chuyên môn. Họ phải áp dụng tùy theo hoàn

cảnh, để học thuyết xã hội công giáo họ đã học hiểu được

kết quả ngay trong thực tế, mà không phải chỉ nằm trong óc

loài người như một lý tưởng trừu tượng không ai thực hiện

được.

238. Trong phạm vi thực hành, sẽ xảy ra những bất

đồng ý kiến giữa những giáo dân rất thành thực. Trong trường

hợp đó, họ phải biết tôn trọng và tìm mọi phương thế hợp tác

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 244

với nhau để kịp thời thực hành những công việc cần thiết theo

những đòi hỏi của thời thế hoàn cảnh. Nhất là họ phải tránh

xa những cuộc tranh luận vô ích chỉ làm tổn sức mà không kết

quả gì. Chỉ tìm những giải pháp tốt nhất mà bỏ những công

việc mình có thể mà lại có phận sự buộc làm ngay là lỗi thời.

Vấn đề giao thiệp với những người chưa nhập

đạo.

239. Thực ra những kitô hữu chuyên môn hành động

kinh tế xã hội, thường hay giao tiếp với những người không

đồng quan điểm với mình về đời sống con người, trong trường

hợp đó, họ phải ân cần tuân giữ lập trường của Giáo hội mà

không được chấp nhận những giải pháp dung hòa có thể làm

thương tổn sự trọn vẹn của công giáo là luân lý. Nhưng mặt

khác, họ phải thông cảm và thành thực tìm hiểu những lập

trường của đối phương không bao giờ tìm tư lợi và sẵn sàng

cộng tác vào những công việc tự nhiên là tốt hay đưa đến

công ích. Chỉ trừ khi giáo phẩm lên tiếng quyết định theo vấn

đề nào thì vấn đề đó giáo dân phải tòng phục tuân giữ. Thực

ra Giáo hội không những chỉ có quyền mà còn có nghĩa vụ

bảo vệ tôn giáo và luân lý cho toàn vẹn và chỉ cách áp dụng

trong thực tế.

NGUYÊN TẮC CĂN BẢN CHỈ HUY MỌI HÀNH

ĐỘNG XÃ HỘI CỦA GIÁO DÂN.

Phận vụ giáo dân.

240. Những nguyên tắc căn bản ta cần đề cập về giáo

dục, cũng có thể áp dụng vào mọi hành động công giáo nữa.

Đó là phận vụ riêng của toàn thể giáo dân vì thực ra giáo dân

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 245

phải hành động trong phạm vi thế trần luôn và thường phải

tham gia vào những tổ chức mục đích hiện thể.

241. Muốn thực hành nghĩa vụ, giáo dân phải có chuyên

môn họ đã đảm nhiệm. Nhưng đàng khác họ phải tận tâm

hiệp lực áp dụng những nguyên tắc và những huấn lệnh của

Giáo hội trong phạm vi xã hội, với một tấm lòng thành thực

đầy tín nhiệm và tòng phục giáo quyền. Họ phải ý thức trách

nhiệm: Nếu họ hành động trong phạm vi thế trần, mà không

tuân giữ những nguyên tắc và những huấn lệnh do Giáo hội

chỉ dạy và nhờ ta xác nhận tại đây thì họ có lỗi với phận sự và

có khi còn phạm đến quyền lợi của anh em, và khiến người

khác hiểu lầm học thuyết xã hội công giáo chỉ là một lý

thuyết rất hay nhưng vô hiệu lực để cải thiện đời sống.

Sự tiến bộ của kỹ thuật và sự phát triển tinh

thần.

242. Một điều ta đã nhắc lại, nhưng còn đáng ghi nhớ là

ngày nay loài người đã hiểu các luật thiên nhiên sâu rộng. Họ

đã sáng chế đủ các máy móc để chinh phục mọi tiềm lực

trong thiên nhiên. Họ đã thể hiện không ngừng bao công việc

vĩ đại đáng khen. Nhưng vì quyết chí chú tâm chinh phục và

cải hóa ngoại giới, loài người sa vào một bước nguy, là quên

mình và làm kiệt quệ nguồn sinh lực hồn xác của họ. Đức Piô

XI đã ưu buồn than phiền rằng: “QA số 146”.

243. Đức Piô XII cũng đồng ý quả quyết rằng: “Đời ta

bây giờ có một đặc tính khiến ai cũng phải ngạc nhiên là đang

khi khoa học và kỹ thuật tiến bộ lạ lùng, thì loài người rút lui

và không ngừng suy đồi về tinh thần tức là về ý thức phẩm

giá đặc biệt của mình. Một kỳ công nhưng cũng là một quái

tượng của thời đại ta là con người biến thành một vật khổng lồ

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 246

trong tự nhiên giới, nhưng về tinh thần, con người chỉ còn là

một tí hon giữa thế giới siêu nhiên vĩnh cửu.

244. Hơn bao giờ hết, lời thánh vịnh xưa về những

người thờ cúng ngẫu thần ngày nay được thực hiện. Con

người hành động mà quên cả phẩm giá tự nhiên của mình.

Con người tuyên dương kỳ công của mình đến nỗi tưởng là

thần. Thần của nó chỉ là vàng bạc do chính tay nó rèn đúc.

245. Là Chúa chiên ân cần chăm sóc toàn thể nhân loại,

thì ta tha thiết khuyên nhủ đoàn con yêu quý, hãy tận tâm với

phận vụ, hãy theo đuổi mục đích cho đến cùng hãy luôn luôn

ý thức trách nhiệm đừng bao giớ thờ ơ quên lãng giá trị thiết

yếu của mọi công việc.

246. Đời nào cũng như đời nào, Giáo hội đã hiểu biết

và giảng dạy rằng: Sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật, và

tình trạng phồn thịnh làm nảy ra là một nguồn hạnh phúc chân

chính, hằng biểu yện một nền văn minh tiến triển. Nhưng ai

cũng phải luận xét sự tiến bộ ấy đúng theo giá trị tự nhiên

của nó, là những phương tiện cần thiết cho loài người bước tới

một cứu cánh cao siêu hơn là thiện hóa đời sống tự nhiên và

cả đời sống siêu nhiên của mình.

247. Mong lời Thày chí thánh của ta, luôn vang dội bên

tai các kitô hữu rằng: “Chinh phục cả thiên hạ mà mất linh

hồn đối với loài người nào có ích gì ? Hay là con người sẽ lấy

gì chuộc lại linh hồn của mình”.

Thánh hóa các ngày lễ của mình.

248. Những lời nhắn nhủ đây bắt buộc ta nhắc lại cho

anh em phận sự nghỉ việc phần xác các ngày lễ.

249. Để bảo vệ phẩm cách nhân loại được Thiên Chúa

dựng sinh và phú ban cho một linh hồn giống hình ảnh của

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 247

Người, Giáo hội đã không ngừng ép buộc mọi người phải

tuân giữ điều răn thứ ba trong Thập giới. “Con hãy thánh hóa

ngày thứ bảy”. Thiên Chúa có quyền lại có thể đòi con người

phải cống hiến một ngày trong một tuần lễ để kính thờ Người,

phải tạm bỏ mọi công việc vật chất mà đem cả lòng trí lên

cùng Chúa và thành thực suy nghĩ đến những nghĩa vụ ràng

buộc mình với Chúa.

250. Đó là một quyền lợi bất khả xâm phạm, và cũng là

một sự cần thiết cho nhân loại. Ai cũng phải ngừng tay nghỉ

việc, và đôi khi dưỡng sức sau những công việc vất vả thường

nhật, để giải trí cho xứng đáng và phục hưng lại trong gia đình

một tinh thần thống nhất, cần cho các gia đình sum vầy an vui

cùng nhau.

251. Tôn giáo luân lý và cả y tế đều đồng ý đòi con

người những ngày nghỉ nhất định. Không biết từ mấy thế kỷ,

Giáo hội đã quy định ngày nghỉ ấy là ngày chủ nhật. Ngày ấy

Giáo hội cũng buộc toàn thể giáo dân phải tham dự thánh lễ,

vừa là kỷ niệm ơn cứu độ cũng là bí tích đem đến cho các linh

hồn những ơn cứu chuộc chứa chan trong Chúa Kitô.

252. Nhưng ta rất ưu sầu, khi thấy bao người có lẽ

không khinh hẳn luật thánh ấy, nhưng không tôn trọng bao

nhiêu. Việc đó thật đáng trách, ta hết sức phản đối. Bỏ luật

thánh đó, là gây thiệt hại cho cả hồn lẫn xác cá nhân yêu quý

của ta.

253. Vì thế, ta quyết đem lại hạnh phúc hồn xác cho

loài người, nhân danh Thiên Chúa, ta nhắc lại cho các công

quyền, chủ nhân và công nhân, phận sự của họ phải tuân giữ

luật thánh Chúa và Giáo hội. Xin họ ý thức trách nhiệm của

họ trước mặt Chúa và xã hội.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 248

Phận sự kitô hữu phải tham gia vào mọi công

việc trần thế.

254. Sau những điều ta mới sơ lược trình bày, không ai,

nhất là các giáo dân có thể kết luận rằng: Nghe vậy ta hãy

khôn ngoan mà tránh xa những hành động tông đồ của ta

trong phạm vi thế trần. Trái lại ai cũng phải kết luận rằng:

Chúng tôi phải cộng tác nhiệt thành vào những việc đó.

255. Trong kinh nguyện cao siêu cầu xin cho Giáo hội

luôn thống nhất, Chúa Giêsu đã khẩn nguyện Đức Chúa Cha

rằng: Lạy Cha chí thánh, đừng cất môn đệ con khỏi thế gian,

nhưng xin giữ họ khỏi mọi sự ác. Đừng ai bảo hai việc thánh

hóa bản thân và tham dự vào những công việc thế trần là hai

việc mâu thuẫn. Nghĩ như thế là lầm. Ai bảo muốn tu thân tích

đức để tới bậc trọn lành của đạo Chúa Kitô thì phải bỏ hết

mọi việc thế tục, ai nói lo việc thế tục là liều mình mất nhân

cách chức vị kitô hữu của ta ?

Nhân cách hóa nền văn minh hiện tại.

256. Trái lại xét theo ý Chúa quan phòng, ai cũng phải

toàn thiện và thánh hóa bản thân nhờ các công việc thường

ngày. Vậy công việc thường ngày đối với đa số các kitô hữu,

là những công việc thế tục. Do đó, sứ vụ hiện tại của Giáo

hội rất nặng nề: Cải hóa nền văn minh hiện tại cho xứng nhân

phẩm con người và cho thích hợp với đạo phúc âm hơn. Sứ vụ

này chính thời thế hiện tại đòi hỏi ở Giáo hội. Ai cũng hy

vọng trước cho đời ta hướng về nguồn phúc cao siêu hơn và

để thế giới khỏi mất những ân huệ bởi những cố gắng tiến bộ

vừa qua, để khỏi bị tan rã và hư đi. Vậy để hoàn tất sứ vụ,

Giáo hội cần phải có toàn thể giáo dân hợp tác: Trong những

hành động thế tục của họ khi họ phải giao thiệp với đồng

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 249

bào, họ phải lo kết hợp với Chúa trong Chúa Kitô, và trong

bất cứ việc gì họ phải làm vinh danh Chúa theo lời Thánh

Phaolô viết: “Bất cứ anh em ăn uống làm việc gì, anh em phải

nói phải làm nhân danh Chúa Kitô nhờ Chúa Kitô mà làm

sáng danh Đức Chúa Cha”.

Đạo Chúa Kitô và sự phát triển nhân cách.

257. Nếu có những hành động hay những tổ chức nào

mưu ích cho con người tiến triển phần hồn và bước tới hạnh

phúc trường sinh thì những hành động và những tổ chức ấy

cũng rất hữu hiệu để giúp con người đạt tới mục đích tự nhiên

của mình. Lời Thầy chí thánh đã phán xưa vẫn áp dụng vào

đời ta bây giờ. Hãy tìm nước Chúa trước rồi các sự vật khác

Chúa sẽ ban cho dư dật. Quả thực ai mà được trở nên toàn ánh

sáng trong Thiên Chúa, ai luôn sống xứng phẩm giá con người

của sự sáng, thường thấy rõ những đòi hỏi của công bằng

trong mọi phạm vi hành động của con người, nhất là ở những

nơi kẻ tham của ham lợi riêng cho họ, cho quốc gia hay chủng

tộc của họ đã gây bao sự trắc trở. Hơn thế nữa, ai đáng sống

vì lòng bác ái của Chúa Kitô, thì không thể nào không quý

mến anh em đồng loại. Kẻ ấy hay thông cảm mọi sự khổ cực

và mọi sự vui buồn của họ như của chính mình. Làm bất cứ

việc gì, họ vẫn bền chí vui vẻ, nhân đạo và thi ân cho người

khác vì lòng bác ái (1Cr 13,47).

Ý nghĩa cần lao đối với những người đã nhập

vào Nhiệm Thể Chúa Kitô.

258. Nhưng ta không thể kết thúc bức thông điệp mà

không nhắc lại nơi đây một tín điều quan trọng, một thực thể

rất cao cả của đạo phúc âm. Chúng ta toàn là những chi thể

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 250

sống động trong Giáo hội là Nhiệm thể của Chúa Kitô (1Cr

13,12).

259. Vì thế, ta tha thiết kêu mời các kitô hữu rải rác

khắp thiên hạ không phân biệt giáo sĩ hay giáo dân là người ta

tin nhận là con yêu quý của ta, hãy ý thức sự cao quý và chức

vị tuyệt đối của họ. Sự cao quý và chức vị đó đã gồm tóm

trong câu Phúc âm:

“Ta là cây nho, anh chị em là ngành lá”. Anh em liên

kết với Chúa Cứu Thế, như các ngành nho tháp vào thân cây

nên anh chị em cùng một sự sống thiên tính với Người. Anh

em càng kết hiệp với Chúa Kitô bằng cả lòng trí, thì công

việc của anh em càng nối dài công việc của Chúa Kitô và nhờ

đó càng có công với việc cứu chuộc nhân loại. Những kẻ nào

ở trong Ta thì cũng ở trong họ, nên kẻ ấy khai hoa kết quả

nhiều. Vì thế, mọi công việc do con người làm ra đã được tôn

cao và thêm giá trị. Công nhân nhờ công việc ấy để đến hoàn

hảo phần hồn thông ơn cứu chuộc cho kẻ khác, nhờ công

việc làm, công nhân sẽ rải rắc ơn cứu độ cho người khác.

Cũng nhờ đó nguyên tắc Phúc âm, tiêm nhiễm cả xã hội dân

sự là cảnh sinh hoạt và lao động của ta, như men trộn vào bột

sẽ làm cho bột hóa nên bánh.

Áp dụng học thuyết thông điệp này vào thực tế.

260. Đời ta bây giờ, ai cũng biết đã đầy tà thuyết nguy

hại và quằn quại trong những hỗn loạn ghê gớm. Nhưng dù

sao cũng là một cánh đồng mênh mông mở rộng cho những

tông đồ của Giáo hội làm việc. Vì thế ta ôm ấp trong lòng bao

hy vọng rực rỡ.

Anh em thân yêu, các con quý mến, Căn cứ vào bức

thông điệp RN của Đức Lêô XIII đã lần lượt suy xét các vấn

đề xã hội đời ta nêu lên. Ta đã định rõ những nguyên tắc, và

HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 251

ban những huấn lệnh, anh em sẽ suy niệm và cố hết sức áp

dụng vào thực tế. Ai tận tâm với phận sự và bền chí thực

hành những nguyên tắc đó thì sẽ góp phần rất lớn trong việc

củng cố nước Chúa trên mặt đất này. Nước Chúa là nước chân

lý, nước hằng sống, nước thánh thiện và đầy ơn phúc, nước

công bằng bác ái và hòa bình. Sau một thời gian sống ở nước

đó, có ngày chúng ta sẽ được sang nước hạnh phúc trường

sinh nơi Thiên Chúa đã định cho chúng ta từ ngày Người tạo

thiên lập địa, và cũng là nơi ta tận tâm hy vọng được tới.

Học thuyết xã hội công giáo rất hữu hiệu.

261. Thông điệp này trình bày học thuyết xã hội của

Giáo hội công giáo, là hiền mẫu và tôn sư của các dân tộc.

Người là ngọn đèn sáng rực bừng cháy, tiếng nói của Người

đầy khôn ngoan và giáo huấn của Người trải mọi thời đại:

thần lực của Người linh nghiệm bổ túc mọi nhu cầu mỗi ngày

một nhiều hơn của nhân loại, và làm êm dịu mọi mối lo và

mọi khó khăn của đời sống tạm gởi này: Tiếng nói của Người

hòa nhịp với dư âm của Thánh vịnh xưa và không ngừng uỷ

lạo an ủi mọi tâm hồn (Tv 84,9tt).

262. Đó là những lời nguyện chúc ta muốn lưu lại lúc

kết thúc bức thông điệp này ta đã tỏ bày hết nỗi lòng ân cần

lo lắng của ta đối với toàn thể Giáo hội. Ước gì Đấng cứu

chuộc nhân loại mà Thiên Chúa đã tôn lên làm Đấng khôn

ngoan, công bình, thánh thiện làm Đấng cứu thế, chóng được

ngự trị và chiến thắng qua mọi thời gian trong mọi người và

trên hết mọi sự vật. Ước gì xã hội nhân loại chóng được tu bổ

lại, để các dân tộc cùng nhau hưởng thụ một đời sống phồn

thịnh an vui và thái bình.

263. Để làm bảo chứng cho những lời nguyện chúc này,

để đảm bảo tấm lòng hiền phụ của ta, ta rộng tay hết lòng

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 252

thành thực ban phép lành tòa thánh cho toàn thể anh em khả

kính, toàn thể giáo dân, anh em phụ trách chăm nom, và nhất

là cho những kẻ sẽ nhiệt tâm thực hành lời ta khuyên bảo.

 

Đức Gioan XXIII

15-5-1961

 

MỤC LỤC

THÔNG ĐIỆP HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ

Giới thiệu thông điệp

Một thông điệp cho kỷ nguyên kỹ thuật

Những trọng điểm mới

Liệt kê các mục của văn kiện:

Vài suy nghĩ về số phận của Mater et Magistra

 

THÔNG ĐIỆP HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ

Canh tân xã hội: Nguyên tắc căn bản

Nguyên tắc thứ nhất

 

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI

Nguyên tắc thứ hai

Đức Piô XI và bức thông điệp QA

Thơ tín truyền thanh dịp lễ Chúa hiện xuống

Những biến chuyển mới lạ

Mục đích bức thông điệp này

Những xác định cần thiết về học thuyết xã hội của bức thông điệp RN

Sáng kiến tư nhân và sự can thiệp của chính quyền trong phạm vi kinh tế

Vấn đề xã hội hóa:

Vấn đề lương bổng

Xí nghiệp

Quyền tư hữu

 

III. Những khía cạnh mới của vấn đề

Ít vấn đề liên quan với một chính sách canh nông thích thời:

Những mối giao tế giữa các dân tiền tiến và hậu tiến

Sự cộng tác quốc tế

 

  1. Huấn từ mục vụ về chân lý công bằng và bác ái

Những học thuyết sai lạc hay thiếu sót

Thiên Chúa căn bản cần thiết của mọi tổ chức công bằng

Ý nghĩa và giá trị học thuyết xã hội công giáo

Học hỏi và phổ biến học thuyết xã hội công giáo

Một nền giáo dục hòa hợp với học thuyết xã hội công giáo

Giáo dục thực nghiệm:

Chí hướng kitô hữu về đời sống:

Đường lối huấn luyện giáo dân về học thuyết xã hội

 

DANH MỤC NHỮNG CHỦ ĐỀ TỔNG QUÁT

Vấn đề giao thiệp với những người chưa nhập đạo

Nguyên tắc căn bản chỉ huy mọi hành động xã hội của giáo dân

Phận vụ giáo dân

Sự tiến bộ của kỹ thuật và sự phát triển tinh thần

Thánh hóa các ngày lễ của mình

Phận sự kitô hữu phải tham gia vào mọi công việc trần thế

Nhân cách hóa nền văn minh hiện tại

Đạo Chúa Kitô và sự phát triển nhân cách

Ý nghĩa cần lao đối với những người đã nhập vào Nhiệm Thể Chúa Kitô

Áp dụng học thuyết thông điệp này vào thực tế

Học thuyết xã hội công giáo rất hữu hiệu