Đức Lêô XIII – Đức Gioan Phaolô II
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI
ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE
2000
THÔNG ĐIỆP HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ
Về sự biến chuyển hiện nay của đời sống xã hội dưới
ánh sáng của những nguyên tắc Kitô giáo.
GIỚI THIỆU
Một thông điệp cho kỷ nguyên kỹ thuật
Sau những giáo huấn “theo hoàn cảnh” của Đức Piô XII,
thông điệp Mater et Magistra lại kết nối với hệ thống giáo
huấn về xã hội bắt đầu từ các thông điệp Rerum Novarum và
Quadragesimo Anno. Thực vậy thông điệp này, vào năm
1961, tự giới thiệu như là một toát lược nhỏ, tóm tắt giáo huấn
của các vị tiền nhiệm của Đức Gioan XXIII trước khi “giải
thích tư tưởng Giáo hội Chúa Kitô về những vấn đề mới mẻ và
quan trọng nhất của thời đại” (số 50). Làm thế, thông điệp
hẳn không phải là đã thấu đáo hết vấn đề, nhưng chỉ với tập
văn kiện này, nó đã vượt thông điệp Quadragesimo Anno khá
xa về chiều rộng và thông điệp Rerum Novarum hai lần về
mặt thực hành.
Vào thời điểm này của thời điểm lịch sử, thông điệp này
là bày tỏ sự cần thiết phải nói tới những đóng góp mới của
một thế giới công nghiệp ngày càng phức tạp hơn, với những
hoàn cảnh ngày càng khác biệt nhau, và đồng thời là một thế
giới ngày càng liên kết hơn, trong đó những biến chuyển ít
nhiều đã chạm tới mọi giai cấp xã hội và mọi cá nhân. Năm
1961 : nói cho cùng, chính trong các nưới phát triển, người ta
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 165
đã chứng kiến những hệ quả rõ ràng và cụ thể của thời kỳ
“ba mươi năm vẻ vang”, một từ ngữ đã trở nên phổ biến của
Jean Fourastié để chỉ ba mươi năm vừa qua trước đó với sự
phát triển chưa từng có. Trong ba đoạn văn được thu tập lại
cách tài tình (số 47-49), thông điệp bắt đầu bằng việc liệt kê
những biến chuyển kỳ đã xảy ra hoặc đang diễn ra trong các
lãnh vực khoa học, công nghệ và kinh tế (số 47), xã hội (số
48), và chính trị (số 49). Có lẽ phải coi những đoạn này trước
hết như là toàn thể cái mạch ngầm của những gì cần phải
điểm xét lại. Chúng ta chỉ nhắc lại ba tình hình đương thời lúc
ấy tạo nên cái khung lịch sử cho thông điệp, đó là : việc chinh
phục không gian là một bước nhảy vọt mới ngoài sự tưởng
tượng của khoa học, biểu trưng của mọi sự thu ngắn khoảng
cách không gian, thời gian đã có và sắp đến (xe ô tô, các
phương tiện nghe nhìn …) ; sự can thiệp gia tăng của Nhà
nước để tái phân phối nguồn sản phẩm và bảo đảm an sinh xã
hội ở mức cao nhất, hơn nữa nhằm nâng cao mức sống thật
đáng kể ; hầu như chấm dứt các chính sách thuộc địa, nhưng
đối lại, là sự ý thức ngày cáng sôi động hơn về tình trạng kém
phát triển của các nước phía nam, trong khi các nước phía bắc
bước vào thời kỳ hưởng thụ tràn lan, và như thế càng làm gia
tăng chênh lệch giữa hai vùng.
Trong bối cảnh đổi thay như thế, chúng ta hẳn là không
nên chờ đợi nơi thông điệp kỷ niệm Mẫu sư này sẽ tỏ lộ một
sự độc đáo có tính cách mạng đối với các thông điệp tiền bối
của nó ; đó không phải là tham vọng của nó ; mà đúng hơn,
nó nhằm giúp ta nhận định và định hướng theo giáo huấn đã
có, nhưng trong hoàn cảnh mới. Tuy vậy chúng ta vẫn có thể
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 166
nêu lên một số điểm mới mẻ và những trọng tâm được
chuyển dịch2.
Những trọng điểm mới
Có thể ghi nhận trước hết điểm nhấn mới : sự công
bằng nói chung (không có tính từ “xã hội” đi theo), với việc
giảm trừ những bất công hay nỗ lực cụ thể cho công lý mà có
lẽ công bằng đòi hỏi. Chính sự gia tăng của cải do sản xuất và
được sẵn dùng (những tiện nghi) lại là nguy cơ làm tăng thêm
chênh lệch giữa những cá nhân và các nhóm xã hội, giữa
những kẻ nắm giữ tài sản hay tư bản với những người làm
công, giữa những loại người làm công khác nhau, giữa các
2 Một vài chú giải của tác giả sau đây : G. Jarlot, “Mater et Magistra
những liên hệ với các tài liệu trước”, trong Études, T. 310-311, 1961, tr.
18-19 ; J. Villain, “thông điệp Mater et Magistra. Sự đóng góp về giáo
thuyết”, trong Revue de l’Action populaire, tháng 8-9, 1961, tr. 897-915
; P. Bigo, “thông điệp Mater et Magistra, và những áp dụng”, cũng táp
chí trên số tháng 11-1961, tr. 1029-1042. Một tài liệu rất tốt của cha
Villain, trong Infomations Catholique internationales ngày 1-9-1961.
Nhờ tài liệu đó mà ta biết thông điệp đã được soạn thảo bởi ba tác giả
người Ý, đó là : đức cha Pavan và đức cha Ferrari-Toniolo, cả hai ngài
đều là chuyên viên về các vấn đề xã hội và là linh hoạt viên của
phong trào tuần lễ xã hội Ý, cũng như đức cha Parente, trợ lý văn phòng
toà thánh. Nhưng tài liệu cũng cho biết phác thảo đầu tiên được soạn ra
bởi ba thành viên dòng tên của đại học Gregorien và hai người dòng
tên khác thuộc phong trào hành động bình dân… cũng có thể đọc chú
giải của đức cha Pavain, trong les encycliques sociales, nxb. Bone
presse, 1962 (ngài đã viết phần dẫn nhập), hoặc của cha De Laubier, La
penseé sociales de l’Eglise catholique, un idéal historique de Léon XIII
à Jean Paul II, Paris, Anbatros, 1980 ; sau cùng có thể tham khảo les
encyclique sociales de Jean XXIII, doctrine et action, nxb. Ourrières,
1965 ; không quên chú giải phân tích về thông điệp, cùng với văn
kiện, do l’action populaire, nxb. Speo, 1965.
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 167
thành thị hưởng được những phúc lợi do công nghiệp hoá với
những vùng nông thôn kém phát triển và trở nên hoang mạc
dần, giữa các nước công nghiệp và các nước đang phát triển.
Cái nhìn về sự công bằng như thế lý giải một vài mặt mới lạ
nào đó của văn kiện. Vậy nên, người ta đã ngạc nhiên về độ
dài của đoạn văn kiện bàn về nông nghiệp ; nhưng lý do cũng
dể hiểu thôi : năm 1961, những người nông dân dường như bị
bỏ quên trong công cuộc phát triển.
Không phải thông điệp, nhân danh công lý, xét lại
những quyền tự do cơ bản về kinh tế ; về điểm này, thông
điệp lấy lại giáo thuyết của các đấng tiền nhiệm về quyền tư
hữu chẳng hạn, hay về quyền có sáng kiến riêng thiết yếu,
hay về kinh tế thị trường, theo nghĩa là một xã hội, theo như
các ngài cổ võ, phải tuân theo mệnh lệnh của “trật tự luân lý”
và “công ích”, và loại trừ mọi hình thức của chủ nghĩa kinh tế
tự do thuần tuý hoặc “man rợ” : phải tránh xa chủ nghĩa này,
là vì bản chất phi luân của nó, đôi khi lại được biện minh trên
lý thuyết cũng như vì sự bất công dai dẳng mà nó tạo ra.
Thông điệp Mater et Magistra nhấn mạnh tới khía cạnh
này đồng thời thừa nhận sự can thiệp hợp pháp của nhà nước,
dù gì cũng đã có trong thực tế. “Các chính quyền phải hiện
diện cách tích cực nhằm thúc đẩy hợp lý phát triển sản xuất,
cho sự tiến bộ xã hội và cho phúc lợi của mọi công dân”. Họ
phải hành động làm sao để “khuyến khích, kích thích, phối
hợp, hỗ trợ và tổng hợp” (số 52-53). Đây quả là một định
nghĩa tốt cho cái gọi là một nhà nước bảo trợ (État-
Providence) mà ngày nay được tranh cãi nhiều.Trong cùng
một ý hướng đó và liên hệ với nó, là hiện tượng “xã hội
hoá”. Nguồn gốc hết sức rõ ràng của từ ngữ này đã khiến
một số người bảo thủ tránh né vấn đề; tuy vậy, trào lưu ấy là
hiển nhiên : chính nhờ đó mà những người thuộc các xã hội
phát triển có xu hướng trở thành ”trung tâm của những mối
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 168
quan hệ xã hội, luôn tăng trưởng về số lượng và về mức độ
sâu rộng, nếu không phải là về mức độ mạnh mẽ”. Công việc
“quản trị” này của người công dân làm họ phụ thuộc vào vô
số mạng lưới phức tạp khiến họ phải đảm trách cuộc sống của
họ ở nhiều mức độ và có thể làm họ trở nên vô trách nhiệm,
dẫu sao cũng bao hàm rất nhiều khía cạnh tích cực : trước hết
nó mang sức sống đến cho vô số sáng kiến, phong trào,
nhóm, hiệp hội, tổ chức thuộc lãnh vực kinh tế, xã hội, văn
hoá; cả khi nhà nước gánh vác trách nhiệm hay chỉ can thiệp
để kích thích, thì chính yếu vẫn là nhằm làm cho xã hội dân
sự được sống động lên, nhằm đưa phúc lợi đến cho mọi
người, gồm cả những người bị thiệt thòi nhất trong xã hội,
nhằm đến xã hội thêm tình liên đới hơn nữa.
Đối trọng thực sự cho sự can thiệp ngày càng tăng của
nhà nước thực ra nằm ở nơi nguyên tắc bổ trợ, một nguyên
tắc được tái xác định cách chắc chắn hơn bao giờ hết : mọi cái
do sáng kiến cá nhân và các nhóm trung gian có thể thực hiện
bằng những phương thế riêng đều phải quy về họ; không cần
thiết, cũng như phải tránh thay thế vai trò của họ; nhà nước có
mặt là để phối hợp và trợ giúp, không hơn không kém. Sự
“công bằng” đơn thuần mà thông điệp nói đến còn liên hệ
tinh thần trách nhiệm này, được các cá nhân và các hiệp hội
chấp nhận và đảm đương : “tham dự” là một trong những từ
ngữ chủ chốt của thông điệp.
Điều đang nói cũng liên hệ rất nhiều tới xí nghiệp. Nếu
“quyền hạn và sự hiệu quả của sự thống nhất lãnh đạo” được
Đức Gioan XXIII tái xác nhận, thì xí nghiệp càng cố phải trở
nên một “cộng đồng những nhân vị, trong các mối quan hệ,
các nhiệm vụ và hoàn cảnh của mọi nhân viên của mình” (số
91). Xí nghiệp “cộng đồng nhân vị” vào một thời nào đó sau
này, thành ngữ này sẽ trở thành hiện thực, nếu không thì mục
tiêu của nó sẽ…
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 169
Hơn nữa, ngoài điểm quan tâm mới của thông điệp của
lương bổng thích đáng – không chỉ nhằm đến có đồng tiền để
sinh nhai và để hồi phục sức lao động của công nhân, nhưng
còn phải nhằm biểu hiện “tất cả phần sáng tạo của công
nhân”, thông điệp còn xét thấy rằng những người lao động
phải nên góp phần làm ích cho xí nghiệp, dựa trên một số tiêu
chuẩn. Thông điệp còn đi xa hơn khi đề xuất cách rõ ràng
rằng có lẽ phải đi đến mức người lao động được tham gia vào
sỡ hữu xí nghiệp và góp vốn cho xí nghiệp, hình thức thế nào
còn phải xác định thêm, có thể bằng cách theo hợp đồng và
từng trường hợp một. Đức Gioan XXIII dường như còn quan
tâm tới một sự tham gia tích cực của những người lao động
vào đời sống xí nghiệp. Và như thế tham dự vào sự định hình
nên xí nghiệp, tham gia vào những sách lược chẳng hạn, vào
việc soạn ra những chính sách cho xí nghiệp. Nhưng tham gia
đến mức độ nào? Vấn đề còn bỏ ngỏ. Chúng ta chỉ lưu ý lối
diễn tả của thông điệp còn ở mặt tiêu cực: phải làm sao tránh
đừng để cho “công nhân chỉ còn là hạng người chỉ làm việc
trong âm thầm lặng lẽ, không có chút năng lực nào biến kinh
nghiệm của họ thành giá trị, hoàn toàn thụ động trước những
quyết định lèo lái hoạt động của họ” (số 92). Lời khuyên này
– có phải là việc “đồng quản trị”? – có phải luôn là thực tế
ngoại lệ đối với một vài nơi đặc ưu và miễn trừ cho một vài
nhà lãnh đạo đặc biệt? Tuy vậy, nếu như công bằng là thúc
đẩy “nhân vị”, chúng ta phải đi tới mức đó.
Liệt kê các mục của văn kiện:
Không thể trước tiên làm nổi bật những điểm mới hay
những trọng điểm mới của một thông điệp cụ thể; nhưng
chúng ta có thể nhắc đến những mục lớn của nó.
Từ số 1-50: sau khi đã nói lại hoàn cảnh thúc đẩy sự
khai sinh thông điệp – thời gian 70 năm sau thông điệp Rerum
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 170
Novarum, thông điệp này trở lại với giáo huấn của Đức Lêô
XIII, Piô XI và Piô XII, để làm rõ những điểm nổi bật khẳng
định lại sự liên tục của Mater et Magistra đối với giáo huấn
của các vị tiền nhiệm về những điểm quan trọng (như thái độ
đối với chủ nghĩa Mácxít, CNXH và chủ nghĩa tư bản tự do).
Về những điểm đó thông điệp này sẽ không bàn tới về
thực tế nữa. Kế đến, nhắc lại, trong ba đoạn tóm lược, những
biến chuyển đặc sắc đã xảy ra từ sau cuộc chiến tranh thế giới
thứ hai.
Từ số 51-121: xác định và triển khai một số điểm:
– Cần thiết có sự can thiệp của nhà nước, nhưng “nguyên
tắc bổ trợ” vẫn là nến tảng, ủy thác cho những hiệp hội trung
gian tất cả những gì nảy sinh từ những sáng kiến và trách
nhiệm của họ;
– Hiện tượng xã hội hóa, như sự tương tác, sự liên đới,
linh hoạt hóa xã hội dân sự quốc gia và quốc tế, phải được
khuyến khích, mặc cho có một số hạn chế nào đó;
– Vấn đề thù lao và lương bổng thích đáng: đi theo
hướng tham dự;
– Các cơ cấu: được làm ra vì con người và vì phẩm giá
con người, chúng đòi hỏi sự hiện diện của người lao động ở
mọi mức độ, sáng tạo sản phẩm cũng như quyết định;
– Tái khẳng định quyền tư hữu như là một quyền con
người nhưng nhắc đến một sự bất công vô cớ về sự phân phối
tài sản và quyền của hết mọi người về tư hữu : đồng lương và
nghề nghiệp là những phương thế để đạt đến điều đó.
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 171
– Từ số 122-211: những khía cạch mới của vấn đề xã
hội :
– Phát triển lâu dài về nông nghiệp, một lãnh vực đang
trên đường hiện đại hóa nhưng còn rất chậm, nếu không nói
là còn kém phát triển;
– Các nước đang phát riển, “có lẽ là vấn đề quan trọng
nhất của thời đại chúng ta”, những thái độ và lập trường cụ
thể phải có nơi các nước giàu;
– Việc gia tăng nhân khẩu, những cách giải quyết hạn
chế sự gia tăng, không chấp nhận được đối với phẩm giá con
người, những khả năng trong lãnh vực này của con người dựa
vào “nhưng triển vọng vô hạn do những thành tựu của tiến bộ
khoa học và kỹ thuật.”
Từ số 212-164 : những chỉ dẫn và khuyên bảo mục vụ,
những áp dụng thực tế :
– Chống lại các ý thức hệ thế tục, khẳng định lại về một
thế giới và một nhân loại trong sự quan phòng của Thiên
Chúa.
– Cần thiết phải có một học thuyết xã hội thích hợp cho
những Kitô hữu, học thuyết đó phải được rút ra từ những thái
độ và những giải đáp cụ thể.
Vài suy nghĩ về số phận của Mater et Magistra.
Nếu xét về thời sự, thông điệp này chắc chắn đã lỗi
thời. Những trọng tâm của ngày nay đã khác, người ta không
còn bàn về sự tăng trưởng nữa, nhưng bàn về sự khủng
hoảng, thất nghiệp và suy thoái kinh tế. Thay cho một thái độ
lạc quan vững tâm vế tương lai, dù vẫn có những điểm đen
tối, là một sự vỡ mộng, bấp bênh, lo âu sợ hãi tương lai.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 172
Người ta ít đặt vấn đề tái phân phối của cải cho bằng là cách
thức và khả năng để tạo ra chúng. Cuộc cách mạng công
nghiệp thứ 3 – tin học hóa và tự động hóa – làm biến đổi sâu
sắc con người. Con người có nguy cơ bị tước mất việc làm, rất
nhiều việc làm xem ra sẽ biến mất; hẳn nhiên, điều đó có thể
đem đến nhiều cuộc giải phóng mới (chẳng hạn về vấn đề có
thêm thời gian rảnh rỗi), nhưng vẫn chưa giải hoà được êm
xuôi giữa những ràng buộc và những khả năng mới. Làm chủ
được thông tin và truyền thông trở nên là điều cốt yếu: quốc
gia nào có được chúng sẽ nắm được những quyền bá chủ
mới. Cũng trong thời đại này, vai trò của Nhà nước được xét
lại một cách kiên quyết bởi tư tưởng tự do như là một làn gió
mới.
Tuy vậy, dù có những thiếu sót dễ hiểu đó, do ở chính
tính thời sự lịch sử, thông điệp Mater et Magistra vẫn giữ được
cái giọng điệu rất hiện đại. Nó quả thực là một thông điệp
của thời đại kỹ kỹ thuật, được cả thế giới biết đến. Vấn đề
không còn chỉ là lên tiếng về tình cảnh phi nhân của giới
công nhân (Rerum Novarum), vấn đề không phải là nói lại sự
kiện rằng trật tự xã hội Kitô giáo đang phải đối phó với những
ý thức hệ lớn đang đe doạ (Quadragesismo anno); mà phải
làm sao giúp con người phân định cái chân thực và công bằng
trong những hoàn cảnh của thế giới phát triển năm 1960 : sự
tăng trưởng kinh tế chưa từng thấy trong lịch sử, vấn đề xã hội
hoá và sự lệ thuộc lẫn nhau của con người và các nhóm,vai
trò cùng gia tăng của mọi đối tác xã hội, những chia rẽ mới
giữa người giàu và người nghèo. Thế giới của chúng ta đã và
vẫn còn là như thế đấy.
Thông điệp, dù không thể nói ra hết được bằng lời lẽ,
cũng đã thúc đẩy những vấn đề chính yếu của những năm sắp
tới, những vấn đề ấy rốt cuộc sẽ là nội dung của thông điệp
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 173
hoặc chủ đề suy tư rất quan trọng ở Công đồng. Một cách vắn
tắt, chúng ta sẽ nêu ra ba vấn đề trong số đó.
Về vấn đề gia tăng dân số, thông điệp quyết liệt lên án,
dù một cách kín đáo, những “phương sách làm tổn hại đến
trật tự luân lý Thiên Chúa đã thiết lập” (số 189) và “những
phương tiện không xứng hợp với phẩm giá con người, phát
xuất từ một quan niệm duy vật về con người và về sự sống”
(số 191), nói cách khác, là những phương tiện điều hoà sinh
sản hay ngừa thai bất hợp pháp. Vấn đề này, như ta biết, còn
đấu tranh rất quyết liệt trong những quốc gia đang phát triển,
nhưng cả trong những quốc gia phát triển cũng vậy với những
lý do khác : xã hội sung túc mang đến cùng với nó cuộc cách
mạng về phong hoá, đặc biệt là sự giải phóng và nhiều vai trò
mới đối với phụ nữ, nó xem xét lại cách sâu xa những lối
sống của xã hội truyền thống. Đức Phao lô VI, với thông điệp
Humanae Vitae (1968) sẽ phản ứng lại,về vấn đề này thông
điệp đó đã và ngày nay vẫn còn là học thuyết của Giáo hội;
nhưng như ta biết, về mặt lý thuyết cũng như thực hành, có
nhiều người rất khó chấp nhận học thuyết này. Cách chung,
người ta có thể nói rằng Mater et Magistra đã đánh giá thấp
hoặc không quan tâm đầy đủ những phản hồi sâu xa của dòng
cuộc sống thường nhật và các não trạng hiện nay.
Vấn đề thứ hai liên quan đến vấn đề các nước kém phát
triển, “có lẽ là vấn đề quan trọng hất của thời đại chúng ta”
(số 157). Thông điệp đã cho rằng vấn đề chưa được bàn đến
một cách kỹ lưỡng. Chênh lệch giữa các nước giàu và các
nước nghèo vẫn tiếp tục tồn tại và ngày càng gia tăng cách
nghiêm trọng hơn. Đứng trước gương xấu và cũng là thách đố
này, các dân tộc và cá nhân giàu có thường đáp lại bằng sự
vô tâm, bất lực hay bằng một sự quảng đại có tính toán, có
tích cách nhỏ giọt và phân tán. Một thông điệp dành riêng để
bàn về vấn đề này là điều thiết yếu, đó sẽ là thông điệp
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 174
Populorum Progressio, là một văn kiện mạnh mẽ của Đức
Phaolô VI (1967).
Sau cùng, Giáo hội năm 1961 còn ý thức mình là Mater
et Magistra, tức Mẹ và Thầy : là ánh sáng, sự khôn ngoan và
sức mạnh cho các dân tộc đang gặp khó khăn và khốn đốn, là
sự nhắc nhớ đến nguồn gốc và cùng đích siêu nhiên của lịch
sử của họ. Giáo hội là “Nhiệm Thể của Đức Kitô”, gần gũi và
quan tâm đến lịch sử của con người, nhưng lại “vượt trên“ mọi
nhốn nháo hỗn độn; như thế có lẽ sẽ khiến người ta nghĩ rằng
bản thân Giáo hội vẫn bình an vô sự đối với những biến động
của thời đại. Nhưng Giáo hội là gì, Giáo hội đứng ở đâu đối
với thế giới? Do đâu có quyền lên tiếng? Chúng ta đã biết đó
là những vấn đề lớn mà Công Đồng sẽ bàn tới trong những
năm sau đó, từ hiến chế Lumen Gentium đến Gaudium et
Spes. Có lẽ phải thấy cho được một biểu tượng trong đoạn
văn đầu tiên của văn kiện nổi tiếng này. Một biểu tượng thần
học: Giáo hội nói với thế giới vì Giáo hội ở trong thế giới;
không chỉ “gần gũi và quan tâm đến” nhưng còn đích thân
tham dự vào vận mệnh vui mừng và hy vọng của thế giới, dấn
sâu trong thế giới như men không phải “của” thế giới, nhưng
lại cũng không phải “ở ngoài” thế giới. Kế đến là một biểu
tượng xã hội học của thực tại đang diễn ra này: trong những
năm này, Giáo hội đã luôn được tránh khỏi tác động của
những biến chuyển của thế giới. Giáo hội nay sắp gặp một
khủng hoảng chưa từng thấy nơi chính mình, trước sự kinh
ngạc của công luận. Đây không phải là nơi để nhìn lại lịch sử
sau Công đồng,việc tổng kết lịch sử còn được bàn cãi nhiều
và Giáo hội cũng còn chưa bước ra khỏi giai đoạn lịch sử này.
Tuy nhiên, người ta phải nhận thấy rằng “vị trí của diễn văn”
này, ít là đối với một thời, không còn trung lập hoặc tuỳ phụ
nữa và thông điệp Mater et Magistra cũng còn thể hiện một
kết thúc và một bước ngoặc về vấn đề này.
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 175
Ngoại trừ những người cực đoan trong thế giới chính trị
và tôn giáo nói chung thông điệp này rất được tán thưởng,
thông điệp còn được mọi bên dùng tới. Chắc hẳn là nhờ sự
góp phần của cái diện mạo ít mang tính hệ ý thức của nó. Cụ
thể là, ở Tây Ban Nha với chính thể Franco,người ta đã đón
mừng thông điệp… Trong khi “Che” Guevara,lúc bấy giờ
đang là Bộ trưởng Công nghiệp Cuba, giới thiệu nó với
“những người công nhân hầm mỏ Công giáo ở Châu Mỹ” để
đọc, nếu như họ muốn tránh một cuộc cách mạng xã hội.
Nhìn lại, chúng ta có thể nói thông điệp đã mở ra một hướng
tương lai; thông điệp đã đề ra tư tưởng để mở đường; thông
điệp đã xác định một hướng đi Kitô giáo, không phải chính
xác là một dự án xã hội, nhưng trong một bối cảnh chính trị
đủ rộng, thông điệp đã gợi lên những phương hướng và
những hiệu chỉnh như là nguyên tắc khởi đầu : phải tôn trọng
nhân vị như là giá trị luôn vượt trên những sách lược cụ thể
về kinh tế chính trị, và không thể bị nó thống trị.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 176
DÀN BÀI
Dẫn nhập (số 1-9)
I. Giáo huấn về xã hội của giáo hội từ Đức Leo XIII đến
Đức Pio XII
Thời kỳ của đức Piô XIII với thông điệp “Rerum
Novarum”. Đức Piô XI với “Quadragesimo anno”. Đức Piô
XII với thông điệp truyền thanh năm 1941. Những thay đổi hiện tại
và mục đích của thông điệp mới. (10-50)
II. Xác định chi tiết học thuyết
A. Sáng kiến riêng và sự can thiệp của nhà nước (51-
58)
B. Xã hội hoá. Sự kiện những thuận lợi và bất thuận
lợi. Làm sao để lợi dụng nó (59-67).
C. Trả công lao động. Những bất bình đẳng và bất
công. Lương bổng thích đáng. Tiến bộ kinh tế và
tiến bộ xã hội. Quyền được góp vốn của những
người lao động. Lương bổng và công ích của đất
nước (68-81).
D. Xí nghiệp. Công bằng trong cơ cấu. Những hình thái
thủ công nghiệp và hợp tác xã. Sự tham gia của
người lao động. Các hiệp hội của những người lao
động. Các công đoàn. OIT(82-103).
E. Quyền sở hữu. Quyền sở hữu và lãnh đạo. An
ninh,bảo hiểm và cạnh tranh nghề nghiệp. Tính hợp
pháp của quyền sở hữu (104-121).
III. Những khía cạnh mới của vấn đề xã hội
A. Sự công bằng trong tương quan giữa ngành nông
nghiệp và các ngành khác. Dòng chảy lao động từ
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 177
nông thôn và những nguyên nhân của nó. Nhưng
biện pháp ưu đãi cho nông thôn. Những vấn đề đặc
thù. Khai thác nông nghiệp. Vai trò của nông dân.
Sự cần thiết thành lập hiệp hội (123-149).
B. Sự cân đối giữa các vùng trong một đất nước (150-
156).
C. Những quan hệ giữa các quốc gia phát triển và quốc
gia kém phát triển. Tình trạng kém phát triển. nghĩa
vụ liên đới và bác ái. Cứu trợ khẩn cấp. Hỗ trợ cho
phát triển. Vài chuẩn mực. Công giáo tiến hành
(157-184).
D. Phát triển dân số và phát triển kinh tế. Những vấn
đề đáng lo ngại. Vấn đề của thế giới. Trong những
nước kém ưu đãi. Chuyển thông sự sống. Tài sản
của trái đất là để phục vụ cho con người (185-199).
E. Vấn đề hợp tác quốc tế (200-211).
IV. Những chỉ dẫn mục vụ (212)
Các hệ tư tưởng sai lầm hay què cụt. Thiên Chúa là
nền tảng thiết yếu cho một trật tự công bằng. Ý nghĩa
và giá trị của học thuyết xã hội của Giáo hội. Việc
hình thành giáo thuyết và phổ biến giáo thuyết. Những
cơ sở cho người kitô hữu hành động trong xã hội. Nhân
bản hoá nền văn minh hiện đại. Kitô giáo và sự phát
triển con người. Ý nghĩa của lao động đối với những
thành viên của nhiệm thể Chúa Kitô. Từ giáo huấn
đến thực tế. Sự hữu hiệu của những nguyên tắc xã hội
của Kitô giáo (213-264).
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 178
THÔNG ĐIỆP HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ
Mater et Magistra
1. Giáo hội phổ thông khắp thiên hạ, là Hiền mẫu và
tôn sư của các dân tộc. Chúa Giêsu đã lập ra, để toàn thể
nhân loại trải qua các thời đại lịch sử, mà tìm sẵn trong lòng
và trong tình yêu của Người, một nguồn sống dồi dào cao siêu
và một bảo đảm cho họ chắc được cứu rỗi phần hồn.
Đấng thành lập Giáo hội làm cột trụ và nền tảng vững
chắc của chân lý cũng đã uỷ cho Giáo hội hai sứ vụ: trước là
sinh sản, sau là giáo dục và hướng dẫn đoàn con, với một lòng
mẫu tử ân cần, bảo vệ mạng sống từng người và mạng sống
các dân tộc. Đời nào cũng như đời nào Giáo hội đã tận tâm
tôn trọng và bảo vệ phẩm giá đặc biệt của con người.
2. Thực ra, đạo Chúa Kitô phối hợp trời đất với nhau.
Vừa đón nhận loài người trong thực tế cụ thể, tinh thần và vật
chất, trí tuệ và ý chí, vừa tha thiết kêu mời họ hứng tâm lên,
đi từ những hoàn cảnh phù vân và hằng biến đổi của thế sự,
mà vươn mình lên tuyệt đỉnh của đời sống vĩnh cửu, là chốn
họ mới tận hưởng hạnh phúc và hòa bình trường sinh.
3. Đành rằng sứ vụ trực tiếp của Giáo hội là thánh hóa
các linh hồn và thông cho họ những ơn phúc siêu nhiên cần
thiết. Nhưng gián tiếp Giáo hội cũng ân cần với đời sống
thường ngày của nhân loại. Đối với từng người, Giáo hội hằng
lưu tâm đến như cầu và địa vị sinh hoạt của họ; Còn đối với
các dân tộc, Giáo hội lo cho chúng luôn luôn phồn thịnh và
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 179
hưởng nền văn minh trong đủ mọi khía cạnh và tùy theo mọi
thời đại ?
4. Làm như vậy, Giáo hội chỉ thể hiện sứ mệnh cao cả
của Chúa Kitô, là vị sáng lập. Xưa kia Chúa Kitô lo nhất, là
cứu chuộc nhân loại về phần siêu nhiên vĩnh cửu. Nhắm mục
đích ấy Chúa nói: “Ta là đường, sự thật và là sự sống. Ta là
ánh sáng thế gian”. Chỗ khác Chúa động lòng thương đám
dân đói lả, Chúa than thở rằng: “Ta động lòng thương đám
đông này”. Đó là một bằng chứng rõ ràng, Chúa cũng lo đến
những đòi hỏi thế tục của các dân tộc. Những lời nói và
những gương hạnh của Đấng Cứu Thế xưa luôn luôn minh
chứng rằng: Tâm hồn Người nặng chĩu những mối lo ấy.
5. Tỉ dụ như Người làm phép lạ hóa bánh ra nhiều; cho
dân chúng đỡ đói. Nhưng qua phép lạ ấy, Người lấy bánh
nuôi xác làm tượng trưng bánh hằng sống là thực phẩm của
các linh hồn Người sẽ phân phát cho toàn thể nhân loại, trước
khi chịu tử nạn.
6. Bởi thế Giáo hội noi gương và tuân lệnh Chúa Kitô,
có người lấy làm ngạc nhiên là sao suốt trong hai nghìn năm
lịch sử từ ngày lập chức phó tế xưa cho đến ngày nay, Giáo
hội nêu cao đuốc bác ái không ngừng, chẳng những bằng
huấn luyện mà lại bằng cả những gương hạnh không sao kể
xiết được. Nhờ lòng bác ái Giáo hội mới dung hòa được luật
thương yêu nhau với những thực hành bác ái của Người. Nhờ
lòng bác ái, Giáo hội thể hiện một cách tuyệt diệu luật thi ân
hai điều vốn là toát yếu học thuyết và hành động xã hội của
Giáo hội.
Vì thế mà chúng ta cũng phải tin nhận bức thông điệp
RN do Đức Tiên Giáo hoàng Lêo XIII đáng ghi nhớ, đã công
bố 70 năm về trước, là một bằng chứng vĩ đại về học thuyết
và mọi hành động xã hội của Giáo hội trải qua trong lịch sử.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 180
7. Đức Lêô XIII đã công bố bức thông điệp ấy để nêu
lên những nguyên tắc căn bản, ai cũng phải áp dụng để giải
quyết vấn đề lao động cho thích hợp với đạo thánh Chúa Kitô.
Chẳng mấy khi nào những huấn lệnh của một vị giáo hoàng
làm rung động cả thế giới bằng khi ấy. Vì những vấn đề được
giải quyết thì sâu rộng, và cũng vì cách giải quyết đã có sức
nhiệm phát động quần chúng lạ lùng.
8. Thực ra, không bao giờ thế giới được nghe những lời
chỉ dẫn và những huấn điều quan trọng đến thế, quan trọng
đến nỗi không thể quên đi được. Bức thông điệp ấy đã mở
rộng cho Giáo hội một con đường hoạt động mới. Chúa chiên
cao thượng nhất, thông cảm chịu lấy những sự đau khổ, những
than vãn và những nguyện vọng của các dân đen bị áp bức,
rồi đứng dậy bênh hộ quyền bất khả xâm phạm của họ.
9. Ngày nay, dầu một quãng thời gian lâu dài đã trôi
qua, bức thông điệp ấy vẫn có giá trị hợp thời và thực thể
trong các văn kiện của những giáo hoàng liên tiếp kế vị Đức
Lêô XIII. Vì học thuyết xã hội của những giáo hoàng ấy xuất
hiện từ ở bức thông điệp của Đức Lêô XIII, hoặc là nguồn
tiên hứng, hoặc là nguồn ý kiến các ngài diễn giảng dài hơn
hoặc là nguồn tràn lời an ủi và nâng đỡ các kitô hữu hành
động. Hợp thời và thực thể hơn nữa, ngay trong những tổ chức
mới của các dân tộc là một tang chứng rực rỡ, những nguyên
tắc đã được khảo cứu tường tận, những huấn lệnh lịch sử,
những lời khuyên nhủ thiết tha đã được biên ghi trong bức
thông điệp RN ngày nay vẫn có giá trị như xưa, mà lại dẫn
khởi những huấn lệnh mới và thích thời giúp người ta, hoặc
tìm hiểu vấn đề xã hội sâu hơn và thích hợp với đời ta bây giờ
hơn, hoặc quyết tâm đảm nhiệm phận sự riêng.
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 181
PHẦN THỨ NHẤT
Những huấn lệnh của bức thông điệp RN và những tiến
triển thích đáng của những huấn thị ấy qua các văn kiện của
Đức Giáo Hoàng Piô XI và Piô XII.
10. Đời Đức Lêô XIII lên tiếng, đã đầy những biến cố
sâu thẳm, những mâu thuẫn gay go, những khởi loạn hung ác
trong đủ mọi phạm vi kinh tế, chính trị. Nhưng đời ấy càng
đen tối, học thuyết của Người công bố càng sáng rực.
11. Ai cũng thừa biết hồi đó, quan niệm phổ thông nhất
về cả hai phương diện học thuyết và thực hành, vừa đề cao
kinh tế có những tiềm lực tự nhiên hướng dẫn, vừa chối
không chịu đặt kinh tế dưới quyền luân lý điều khiển. Thành
ra ai tham gia vào những hành động kinh tế, chỉ cốt theo đuổi
một mục đích là gây tư lợi. Những nguyên do tự nhiên hợp tắc
kích thích mọi hành động kinh tế, chỉ còn tuân cứ một điều
luật tối cao, là tự do cạnh tranh vô chừng hạn. Lời lãi của tư
bản, giá hàng hóa và công vụ, hoa lợi và lương bổng đều
được chỉ định tùy theo luật thị trường, vô thức độc quyền.
Chính quyền không phương cách nào can thiệp vào lãnh vực
kinh tế này. Đồng thời, các nghiệp đoàn tùy theo dân nọ nước
kia, hoặc bị cấm đoán, hoặc bị mua chuộc, hoặc chỉ được nhận
là những tổ chức tư nhân.
12. Dưới một định chế như vậy, lý kẻ mạnh bao giờ
cũng được nhận là phải, không những trong lý thuyết mà lại
trong thực tế nữa. Nó chỉ huy mọi mối liên hệ giữa loài người.
Kết quả, giới kinh tế trên dưới hoàn toàn hỗn độn.
13. Đang lúc thiểu số dồn lại trong tay những tài sản
mênh mông, thì phần đa số công nhân nheo nhóc trong cảnh
khổ cực ngày càng khó chịu. Lương bổng hạ, đến nỗi công
nhân không những không đủ nuôi sống mà lại còn không
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 182
tránh được nạn đói rách. Những dân đen vô sản phải làm việc
trong các hoàn cảnh nguy hại đến sức khỏe, luân lý và đức tin
của họ. Hoàn cảnh lao động nữ giới và các thanh niên, thì
càng bất nhân hơn nữa. Quái tượng của một đời sống thất
nghiệp, đêm ngày hằng xuất hiện trước mặt công nhân. Dần
dần gia đình lâm nguy sợ phải ly tán !
14. Hậu quả tất nhiên là giới lao động bất mãn lòng đầy
căm hờn. Công nhân cự tuyệt xã tắc tiền định. Những tà
thuyết xã hội quá khích tha hồ lưu chuyển trong giới lao động.
Họ không thấy phương dược tà thuyết ấy hại hơn cả cơn bệnh
cần phải sửa chữa.
I. CANH TÂN XÃ HỘI: NGUYÊN TẮC CĂN BẢN.
15. Trong những trường hợp ấy, bức thông điệp của Đức
Lêô XIII là một thông điệp xã hội căn cứ vào những đòi hỏi
chính đáng của nhân loại vừa nhiễm đầy những nguyên tắc và
tinh thần phúc âm. Không kể những phe quá khích ai cũng
biết họ sẽ kịch liệt chống cự, cả thế giới đầu nhiệt liệt hoan
nghênh và ngạc nhiên cảm phục bức thông điệp ấy. Thực ra,
lần ấy không phải là lần đầu mà thế sự được tòa thánh lưu
tâm đến, và giới lao động được Đức Giáo Hoàng biện hộ. Đức
Lêô XIII thật không thiếu gì những văn kiện nêu lên vấn đề
ấy và mở đường tìm giải pháp. Nhưng lần này mới là lần đầu
tiên, mà tòa thánh kết cấu tổng hợp trong một bức thông điệp
nguyên tắc và chương trình hành động xã hội của Giáo hội.
Ngày nay ta phải nhận thực rằng: Bức thông điệp RN là học
thuyết xã hội kinh tế của Giáo hội nói được là toàn thư.
16. Chỉ một người thật dũng cảm mới cho xuất hiện bức
thông điệp ấy. Đang lúc bao người cảnh cáo Giáo hội chỉ biết
khuyên nhủ kẻ bần cùng chịu nhịn phận bạc của mình, và
yêu cầu kẻ giầu sang hãy quảng đại giúp đỡ họ, Đức Lêô
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 183
XIII chỗi dậy không chút ngần ngại tuyên bố và biện hộ
quyền lợi bất khả xâm phạm của giới lao động. Đã thầm
quyết trình bày những nguyên tắc bất di bất dịch của học
thuyết xã hội công giáo, Người long trọng tuyên bố trước
rằng: Ta bàn đến vấn đề này với một lòng tin vững chắc, vì
giải quyết vấn đề ấy là việc chính thức thuộc về linh quyền
của ta. Vấn đề xã hội hiện nay sôi nổi cực độ. Không tìm giải
pháp ở tôn giáo và Giáo hội thì không ai giải quyết được một
cách hiệu nghiệm.
17. Anh em đáng kính, chắc anh em thừa biết những
nguyên tắc mà Đức Tiên Giáo hoàng đã long trọng và minh
bạch đề cao giãi bày. Nhờ những nguyên tắc ấy, xã hội nhân
loại mới chắc được tái tạo trong đủ mọi phạm vi kinh tế và xã
hội.
Nguyên tắc thứ nhất
18. Trước hết, cần lao biểu dương nhân cách của con
người, nên nếu coi nó chỉ là một món hàng, là tội. Đối với
phần đa số nhân loại, cần lao là sinh kế độc nhất. Bởi thế chủ
nhân không được thanh toán lương bổng công nhân như thể
công việc của họ là đồ mua bán ở thị trường. Phải định lương
trả cho thợ theo công bằng và bác ái. Không thì dầu giao kèo
cần lao được đôi bên ưng nhận và ký kết, công bằng cũng bị
tổn thương nặng nề.
Nguyên tắc thứ hai
19. Quyền tư hữu, kể luôn khí cụ máy móc, là quyền tự
nhiên của từng công dân, chính quyền không bãi bỏ được.
Nhưng vì quyền tư hữu là một tác dụng có tư cách xã hội, tư
nhân sử dụng không những để gây lợi ích riêng mà lại để góp
phần vào công ích nữa.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 184
20. Vì mục đích chính quyền là thể hiện công ích, thì
chính quyền không thể nào bỏ phớt, không dính dáng vào
lãnh vực kinh tế. Trái lại chính quyền phải thúc đẩy dân
chúng tăng gia sản xuất, cho mọi công dân đủ sống về vật
chất: “Vì có thực mới vực được đạo”. Chính quyền lại phải
bênh vực quyền lợi của mọi công dân, nhất là quyền lợi kẻ
yếu đuối như công nhân, phụ nữ và thiếu niên. Chính quyền
không thể nào tránh phận sự quyết liệt cải hóa thân phận
công nhân.
21. Chính quyền lại phải kiểm soát những giao kèo cần
lao, để chắc nó được ký kết theo công bằng và minh chính.
Chính quyền cũng phải kiểm soát các công trường, để phẩm
cách hồn xác của công nhân khỏi bị tổn thương. Về phương
diện ấy, bức thông điệp của Đức Lêô XIII đã nêu cao những
nguyên tắc căn bản của một xã tắc công bằng và minh chính,
và ảnh hưởng sâu rộng đến luật pháp của các chính phủ
đương kim. Ngày nay quốc gia nào cũng tùy tâm lý riêng
hưởng lợi. Trong bức thông điệp Tứ Thập Niên (QA) Đức Piô
XI nhận thực điều đó rằng: “Những nguyên tắc của Đức Lêô
XIII đã phát huy mà lại phát triển nữa, một ngành mới trong
dân luật, tức là luật lao động.”
22. Bức thông điệp RN cũng thừa nhận cho công nhân
quyền tự nhiên lập công đoàn, hoặc dành riêng cho công
nhân, hoặc chung cho công nhân và chủ nhân, và tổ chức
những công đoàn ấy tùy theo những đòi hỏi của từng công
nghệ. Bức thông điệp ấy cũng quả quyết công nhân hành
động tự do, theo ý nguyện riêng, và theo thể cách ích lợi nhất
của họ. Không ai ngăn cấm, không ai phản đối được ý
nguyện chính đáng của họ.
23. Sau hết công nhân và chủ nhân phải đối đãi với
nhau theo những nguyên tắc của tính hợp quần của nhân loại
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 185
và tình nghĩa huynh đệ của đạo Chúa Kitô. Hai chủ nghĩa tha
hồ cạnh tranh của phe tự do, và giai cấp tương tranh của Các
Mác, đều trái ngược học thuyết công giáo và tính tự nhiên của
nhân loại.
24. Anh em đáng kính, đó là những nguyên tắc làm căn
bản cho một xã tắc xã hội kinh tế chính đáng, vững bền.
25. Bởi thế không lạ gì khi thấy bao người công giáo tài
trí lỗi lạc tuân cứ những chỉ thị của Đức Lêô XIII, và thành
thực đua nhau tìm trăm phương ngàn cách áp dụng vào thực tế
học thuyết xã hội công giáo. Ngoài ra ở khắp bốn phương
cũng đã không thiếu gì những người thiện chí cảm hứng
những xu hướng tự nhiên của nhân loại, mà rảo bước cùng
nhau theo con đường ấy.
26. Không phải là vô lý mà bức thông điệp của Đức
Lêô XIII được gọi và hiện giờ còn mang tên là Đại Hiến
chương của mọi cố gắng tái tạo kinh tế và xã hội hiện tại.
ĐỨC PIÔ XI VÀ BỨC THÔNG ĐIỆP QA
27. Bức thông điệp RN ra đời được 40 năm, thì Đức
Tiên Giáo hoàng Piô XI đã cho xuất hiện một bức thông điệp
khác với nhan đề là QA cũng là một văn kiện cực kỳ long
trọng.
28. Văn kiện mới này lại chứng minh quyền lợi và phận
sự của Giáo hội phải góp công tìm giải quyết những vấn đề
cực kỳ nghiêm trọng làm xúc động toàn thể nhân loại hiện
tại. Đức Tiên Giáo hoàng lại xác định lần nữa những nguyên
tắc và những huấn lệnh của bức thông điệp RN, là những
nguyên tắc và những huấn lệnh còn thích thời. Người cũng
nhân dịp ấy để phân minh một vài quan điểm học thuyết xã
hội công giáo, còn đang khiến cả giáo dân bất đồng ý với
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 186
nhau, rồi định thể cách áp dụng những nguyên tắc và huấn
lệnh nói trên vào tình trạng xã hội mới.
29. Thực ra thời kỳ đó đã có bao nhiêu kitô hữu do dự
không biết nghĩ gì về quyền tư hữu, quy chế lương bổng, và
chế độ xã hội dưới hình thức điều độ mới.
30. Về quyền tư hữu, Đức Tiên Giáo hoàng vẫn nói
quyết là quyền tự nhiên của từng cá nhân, nhưng Người nhấn
mạnh và định rõ tư cách cùng phận sự xã hội của mọi tư sản.
31. Về quy chế lương bổng Người phi bác luận thuyết
thường công bố là một quy chế bất công. Nhưng Người cũng
kết án những thể cách thực hành quy chế đó nhiều khi là vô
nhân đạo và quá bất công. Người lại xác định luật lệ và
những điều kiện phải tuân cứ cho quy chế ấy hợp với sự công
bằng và minh chính.
32. Theo lời Đức Tiên Giáo hoàng chỉ dậy, trong thời kỳ
này thì rất nên mượn của giao kèo xã hội một vài điểm chính
để bổ khuyết cho giao kèo cần lao xưa kia. Vì nhờ vậy lao
động và công nhân được tham gia vào tổ chức xí nghiệp, về
phương diện chấp hành và chia hoa lợi nữa.
33. Còn một điều rất quan trọng phải lưu tâm đến trong
cả phạm vi lý thuyết và thực hành, là không định giá công lao
và trả công thợ cho công bằng, nếu kẻ ấy coi thường tư cách
cá nhân và xã hội của cần lao. Nên khi xác định lương bổng
phải chăng của công nhân, chủ nhân phải vừa lưu tâm đến
nhu cầu riêng và nhu cầu gia đình của công nhân, vừa phải
thanh toán tình trạng xí nghiệp đã mướn họ và những đòi hỏi
của nền kinh tế chung.
34. Đức Tiên Giáo hoàng cũng tuyên bố rằng : Cộng
sản tự tận gốc tương phản với công giáo chủ nghĩa. Người
công giáo không nỡ nào xác nhận chủ nghĩa xã hội, dầu cả
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 187
dưới những hình thức điều độ mới. Lý do là vì theo chủ nghĩa
xã hội bất cứ dưới hình thức nào, đời sống con người chỉ kết
thúc trong hiện tại, mục đích là sống an nhàn ở dưới thế. Hơn
nữa, chủ nghĩa xã hội đặt cứu cánh xã hội ở chỗ tăng gia sản
xuất, là hạn chế quyền tự do của con người. Sau hết chủ nghĩa
xã hội thiếu một quan niệm xác đáng về phận vụ chính quyền
trong xã hội.
35. Dầu sao Đức Piô XI cũng nhận thực trong vòng 40
năm, kể từ ngày bức thông điệp RN xuất hiện, thời thế đã
biến chuyển rất nhiều. Chế độ tự do cạnh tranh theo chính
sách biện luận riêng của nó, đã đi đến chỗ tự tiêu. Các tài sản
rộng lớn đều dồn lại trong tay thiểu số người triệu phú.
Chuyên quyền kinh tế kèm theo đó cũng nằm trong tay kẻ ấy,
sự thường họ không phải là chủ sản đâu, mà chỉ là người thu
thác và làm quản lý những tư bản lớn, họ được tự do tiêu
dụng và quản nhiệm.
36. Đức Tiên Giáo hoàng cũng minh xác rằng : Kế tiếp
chính sách tự do thị trường trước kia, ngày nay ta thấy xuất
hiện một chế độ kinh tế độc tài. Trước thì người ta chỉ ham tư
lợi, ngày nay người ta lộng hành tham quyền. Đời sống kinh
tế hóa nên một đời sống gay go, hung ác và tàn nhẫn kinh
khủng. Kết quả chính quyền lệ thuộc mối lợi giàu sang. Tiền
tài đứng lên làm bá chủ thế giới.
37. Xã hội đã sai chính đạo. Đức Giáo Hoàng định rõ
những nguyên tắc cần thiết để dứt khoát những sự tàn nhẫn
kia. Kinh tế phải tái nhập vào quy tắc luân lý. Lợi ích riêng
của từng cá nhân và các đoàn thể phải quy phục những đòi
hỏi của công ích. Theo lời Đức Giáo Hoàng chỉ dạy, để hoàn
tất công việc ấy, phải tái lập trong xã hội nhân loại những tổ
chức kinh tế và nghiệp đoàn tư nhân, không phải do chính
phủ đề cử, bèn là do công dân tự lập. nhờ vậy chính quyền
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 188
mới trở về với sứ vụ riêng của họ, là gây dựng và bảo vệ
công ích. Còn trên bình diện quốc tế, các quốc gia phải hợp
tác với nhau để thể hiện một nền kinh tế chung cho cả nhân
loại.
38. Những đề tài đặc sắc trong bức thông điệp của Đức
Piô XI thì gồm tắt trong hai điểm chính: điểm thứ nhất là chối
hẳn không chịu nhận làm luật căn bản tuyệt đối của nền kinh
tế, hoặc tư lợi riêng của từng cá nhân hay từng đoàn thể, hoặc
luật tự do cạnh tranh vô hạn, hoặc độc quyền kẻ giầu sang,
hoặc lãnh vực quốc gia, hoặc những tham vọng tương đương
khác.
39. Trái lại tất cả mọi hành động kinh tế phải quy phục
luật công bằng và bác ái là căn bản tuyệt đối của xã hội.
40. Điểm thứ hai: Đức Piô XI tha thiết yêu cầu lập ra
những cơ cấu công hay tư, quốc gia hay quốc tế, đặt dưới sự
hướng dẫn của công bằng xã hội, để gây dựng một thứ tự
pháp lý cần cho tổ chức kinh tế dung hòa được tư lợi với công
ích.
THƠ TÍN TRUYỀN THANH DỊP LỄ CHÚA HIỆN XUỐNG
41. Đức Giáo Hoàng Piô XII mà ta vinh hạnh kế vị,
cũng đã góp một phần không ít trong việc xác định quyền lợi
và nghĩa vụ xã hội. Ngày 1.6.1941, dịp lễ Đức Chúa Thánh
Thần hiện xuống, Ngài truyền qua làn sóng vô tuyến điện
một thơ tín, mục đích là nhắc lại cho thế giới công giáo lưu
tâm đến một ngày kỷ niệm đáng viết bằng chữ vàng trong
lịch sử Giáo hội, tức là kỷ niệm ngũ thập niên (15.5.1891) bức
thông điệp RN của Đức Lêô XIII. Đức Giáo Hoàng nhân dịp
ấy mà cảm tạ Chúa toàn năng đã linh ứng cho người đại diện
Chúa ở dưới thế, và tận tâm ca ngợi Đức Chúa Thánh Thần đã
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 189
dùng bức thông điệp ấy mà thổi một loạt hơi tái tạo vào thế
giới, là một bức thư càng ngày càng làm nổi lên cả nhân loại.
42. Trong thông điệp truyền thanh này, Đức Giáo hoàng
đòi lại quyền bất khả xâm phạm cho Giáo hội xét đoán bất cứ
tổ chức xã hội nào, căn bản có phù hợp với trật tự bất di bất
dịch Thiên Chúa dựng nên, cứu chuộc nhân loại, và tiền định
cho muôn vật tiến triển theo luật tự nhiên và đạo mạc khải.
Người cũng lại xác nhận rằng: Những huấn dụ của thông điệp
RN vẫn rất hợp thời và còn hiệu nghiệm vô cùng. Người cũng
nhân dịp ấy để nhắc lại những nguyên tắc luân lý áp dụng
được vào ba điểm chính của một đời sống xã hội, kinh tế
chính đáng, tức là quyền sử dụng vật chất, phận vụ cần lao,
cảnh gia đình là ba điểm căn bản tương trợ nhau.
43. Về quyền sử dụng của cải, Đức Piô XII tuyên bố:
đó là quyền ai cũng có và phải đòi lại để nuôi sống, vì là
quyền trổi vượt bất cứ chuyên quyền kinh tế nào, kể luôn
quyền tư hữu nữa. Quả thực, quyền tư hữu là quyền tự nhiên.
Nhưng dầu sao Tạo hóa cấm quyền ấy không thể nào làm khó
dễ cho toàn thể nhân loại đòi hỏi và sử dụng muôn vật cần
thiết theo luật công bằng và bác ái là căn bản nền kinh tế
Chúa an bài.
44. Về phận vụ cần lao, Đức Piô XII cũng căn cứ vào
những huấn dụ của bức thông điệp RN mà quả quyết rằng:
Cần lao vừa là một phận sự, vừa là một lợi tức của mỗi người.
Thành ra chính những người tham gia vào cần lao, có quyền
ưu tiên để phân định những mối giao tế trong việc làm. Chỉ có
khi nào họ không muốn hay không thể nào giải quyết được
những vấn đề ấy, thì khi đó chính quyền mới can thiệp được
vào việc phân phối việc làm tùy theo hình thức và hạn định
của công ích chính đáng.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 190
45. Về cảnh gia đình Đức Giáo hoàng tuyên bố rằng:
Quyền tư hữu đối với của cải bảo đảm và mở mang đắc lực
đời sống gia đình. Nó ban cho các gia trưởng quyền tự do
chính đáng và cần thiết để thể hiện những nghĩa vụ đấng Tạo
Hóa giao uỷ cho họ, về đủ mọi phương diện vật chất, tinh
thần, tôn giáo và gia đình. Nhờ đó gia đình nào cũng có
quyền đòi xuất dương di trú. Thành ra Đức Giáo hoàng yêu
cầu các quốc gia hoặc cho phép xuất ngoại hoặc đón nhận kẻ
xin cư ngụ, phải thành thực loại bỏ tất cả những gì làm cho họ
khó nảy ra hay làm phát ra một tinh thần tín nhiệm nhau thật
lòng. Đôi bên thành tín với nhau, thì bên nào bên nấy cũng
hưởng lợi và phát triển mức văn hóa của từng dân tộc.
Những biến chuyển mới lạ.
46. Chính Đức Piô XII đã nhận thực tình trạng xã hội từ
đời Đức Lêô XIII đã biến chuyển rất nhiều. Nhưng trong 20
năm vừa qua, ta nói được tình trạng ấy đã biến đổi tận gốc,
hoặc trong nội bộ của từng quốc gia, hoặc trong những giao tế
giữa các quốc gia.
47. Trong phạm vi khoa học, kỹ thuật và kinh tế, sự
biến chuyển lạ nhất đã do nguyên tử lực phát minh mà càng
ngày càng được áp dụng vào khía cạnh chiến tranh trước, sau
vào những cố gắng dựng lại hòa bình thế giới. Nhưng sự biến
chuyển đó lại bởi những nguyên nhân khác nữa:
Hóa học đem đến cho thế giới bao phương tiện chế tạo
ra sản phẩm tổng hợp, nói được là vô chừng hạn.
Sự phát triển và hưởng dụng máy móc tự động trong
khía cạnh kinh tế và công vụ.
Nông nghiệp được canh tân một cách lạ lùng mau
chóng.
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 191
Sự gần xa giữa các nước hầu như không còn đáng kể
chi nữa, vì nhờ máy truyền thanh và truyền hình.
Sự vận chuyển mỗi ngày một mau chóng hơn…
Những thực hiện khởi đầu cho nhân loại không gian liên
hành tinh vân vân …
48. Trong phạm vi xã hội cũng thế:
Sự bảo hiểm xã hội đã tiến triển, đến nỗi trong những
nước kinh tế mở mang nhiều đã thấy xuất hiện những tổ chức
bảo hiểm đủ mọi sự rủi ro nguy hiểm.
Nhờ các nghiệp đoàn đào tạo và làm phát triển mãi, nên
ý thức và trách nhiệm kinh tế xã hội ngày càng sáng suốt
hiệu lực.
Nền giáo dục căn bản đã mỗi ngày một lên cao trong
đời sống đa số công dân.
Chỗ nào cũng thấy nếp sống sung túc hơn.
Những cấp bậc phẩm trật công nghệ liên lạc với nhau
mau chóng hơn. Các giai cấp xã hội trước xa nhau một vực
một trời ngày nay thì gần gũi hơn.
Dầu những người chỉ có nền văn hóa trung bình, họ
cũng bắt đầu lưu tâm đến vấn đề thời sự quốc tế.
Nhưng sự kinh tế xã hội ngày càng tiến triển ở nước nọ
nước kia, thì càng làm nổi bật lên những khía cạnh canh nông,
kỹ nghệ và công vụ còn quá chênh lệch với nhau. Còn những
địa phương cùng một quốc gia quá xa nhau, và trong phạm vi
quốc tế, thì bao dân nước nguồn lợi nhiều ít khác nhau một
vực một trời.
49. Trong phạm vi chính trị, cũng thấy bao sự lạ xảy ra.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 192
Trong bao dân nước, công dân bất phân chủng tộc cũng
được tham gia vào vận mệnh nước nhà.
Chính quyền mỗi ngày một can thiệp nhiều trong giới
kinh tế xã hội. Trong phạm vi quốc tế chế độ thuộc địa cáo
chung. Các dân Á Phi lần lượt thâu hồi nền độc lập chính trị.
Bao hội đoàn và tổ chức quốc tế được lập ra và phát
triển, vượt qua biên giới từng quốc gia mà tìm gây lợi ích
chung trong đủ mọi phạm vi kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa
học, hay phụ trách những mối giao tế giữa các quốc gia.
Mục đích bức thông điệp này.
50. Bởi thế, ta thú nhận phận vụ của ta là nêu cao đuốc
sáng các Đức Tiên Giáo hoàng đã nhóm lên, và khuyên nhủ
mọi người hãy giải quyết những vấn đề xã hội mới trong ánh
sáng và sự phấn khởi của những bức thông điệp trước, nhưng
bằng những phương pháp thích hợp với đời ta bây giờ.
Nhân dịp này ta cũng có ý kỷ niệm bức thông điệp của
Đức Lêô XIII. Nhưng nhận thực những sự biến chuyển mới lạ
kể trên. Ta cũng muốn nhắc lại và xác định những nguyên tắc
của các Đức Tiên Giáo hoàng, để nhờ đó mà giải nghĩa rõ
ràng những quan niệm của Giáo hội về các vấn đề quan trọng
và mới lạ của thời đại.
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 193
PHẦN THỨ HAI
II. NHỮNG XÁC ĐỊNH CẦN THIẾT VỀ HỌC
THUYẾT XÃ HỘI CỦA BỨC THÔNG ĐIỆP RN
A. Sáng kiến tư nhân và sự can thiệp của chính
quyền trong phạm vi kinh tế.
51. Nguyên tắc căn bản ai cũng phải công nhận, là trong
phạm vi kinh tế dầu có những hành động tư nhân mưu ích
riêng, và những hành động đoàn thể gây lợi ích chung, thì
hành động tư nhân vẫn có quyền ưu tiên.
52. Nhưng vì những lý do mà các Đức Tiên Giáo hoàng
đã xác định, chính quyền cũng phải can thiệp, để gia tăng sản
xuất cho phải lẽ, cần cho xã hội phồn thịnh và các công dân
hưởng lợi.
53. Sự can thiệp căn cứ vào nguyên tắc bổ trợ; mục đích
là định hướng, củng cố, bổ khuyết và kiện toàn sáng kiến tư
nhân. Nguyên tắc bổ trợ được Đức Giáo hoàng Piô XI đã định
nghĩa trong bức thông điệp QA rằng: (x.QA số 57)
54. Thực ra, ngày nay khoa học và kỹ thuật phát triển
rất nhiều. Nhờ vậy chính quyền đủ phương tiện hơn, hoặc để
giảm bớt sự chênh lệch giữa các chi tiết của nền kinh tế, hoặc
để giải hòa các địa phương của cùng một quốc gia, và cả các
nước trong thế giới. Cũng nhờ đó chính quyền có thể hạn chế
được những thiệt hại do những cuộc biến loạn gây nên trong
phạm vi kinh tế, và tìm sẵn những phương dược linh nghiệm
để tránh nạn đại chúng thất nghiệp. Bởi thế Ta yêu cầu chính
quyền vốn phải phụ trách công ích, hãy dùng trăm nghìn
phương cách đó để can thiệp vào phạm vi kinh tế nhiều hơn,
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 194
trật tự hơn mà thích dụng vào vật đích ấy, những cơ cấu,
những tổ chức, những khí cụ và những phương pháp đã có
sẵn trong tay.
55. Nhưng phải nhớ rằng: Dầu hành động kinh tế của
chính quyền thấm nhiễm đời sống cộng đồng bao nhiêu, nó
cũng không thể nào loại trừ quyền tự do hành động của tư
nhân. Hơn thế nữa chính quyền phải hậu đãi mọi hành động
tư nhân, miễn là những quyền chính yếu của con người được
bảo đảm, nhất là quyền và phận sự của từng công dân phải
nuôi sống và cấp đủ sự cần cho gia đình. Bất cứ chế độ kinh
tế nào cũng phải để từng cá nhân và giúp đỡ mọi người dùng
quyền tự do sản xuất của mình.
56. Ngoài ra, lịch sử cũng chứng minh rằng: Xã hội chỉ
phồn thịnh trong trật tự, khi mọi công dân và chính quyền
cộng tác với nhau chặt chẽ. Lúc nào họ cũng phải hành động
đồng ý với nhau: Phận sự của họ thì riêng biệt, nhưng dầu sao
cũng phải thích hợp với những đòi hỏi của công ích, tùy theo
hoàn cảnh, thời đại và phong hóa.
57. Kinh nghiệm cũng dạy rằng: Ở đâu thiếu sáng kiến
tư nhân, thì ở đó chế độ độc tài hiện đến, nền kinh tế bị tê
liệt trong rất nhiều chi nhánh quan trọng. Dần dần những sản
phẩm cần tiêu dụng thì thiếu, và phải tổ chức thêm bao công
vụ cần thiết cho con người không những được thỏa mãn nhu
cầu phần xác, mà lại cả những xu hướng phần hồn, là những
xu hướng có sức nhiệm gây nên và kích thích óc tạo dựng và
sáng kiến của từng cá nhân.
58. Trái lại chính quyền không chịu can thiệp theo lẽ
phải, hay là chỉ can thiệp dở dang, thì cả quốc gia sa vào
những cuộc hỗn loạn không ai cứu vãn được, những dân đen
bị kẻ giầu vô nhân đạo lợi dụng một sách tàn bạo. Cỏ lùng
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 195
mọc trong ruộng lúa thể nào, bởi vậy nước nào cũng có
những kẻ bất nhân, thừa dịp ấy để lạm dụng phe yếu đuối.
B. Vấn đề xã hội hóa:
Hiện tượng
59. Một trong những đặc điểm đời ta bây giờ, là cố gắng
xã hội hóa mọi sự. Những mối giao tế giữa nhân loại mỗi
ngày một thêm nhiều. Kết quả trong sự sinh hoạt và trong đủ
mọi hành động thường xuyên. Loài người họp chung tìm liên
lạc với nhau dưới mọi hình thức, và được tư pháp và công
pháp xác nhận. Những cố gắng xã hội hóa này, nguyên do thì
rất hợp thời: khoa học và kỹ thuật tiến bộ, năng lực sản xuất
tăng lên, nền văn minh mỗi ngày một cao hơn.
60. Đời sống xã hội tiến hóa, vừa là tượng chứng, vừa là
nguyên do của sự chính quyền mỗi ngày một can thiệp rộng
sâu vào những vấn đề mật thiết liên quan với những xu hướng
nội tâm của con người, toàn là những vấn đề quan trọng và
tinh tế; như vấn đề bảo vệ sức khỏe, đào tạo thanh niên. Vấn
đề hướng nghiệp: bình phục và tái huấn những lớp người
bệnh tật về thể xác và trí não. Những sự xã hội hóa nói trên,
cũng là kết quả tự nhiên của một khuynh hướng cực mạnh
không ai thắng hãm được. Loài người tự nhiêm hướng về một
đời sống tập đoàn, để kiếm được những lợi ích từng người
mong đến, nhưng là lợi ích vượt qua năng lực tự nhiên của
từng cá nhân. Chính vì khuynh hướng ấy, mà nhất là ngày
nay, loài người đã tình nguyện tổ chức bao hội đoàn, bao cơ
cấu, bao phong trào trong phạm vi quốc gia và quốc tế, và
nhắm vào đủ mọi mục đích: kinh tế, xã hội, văn hóa, tiêu
khiển, thể thao, nghề nghiệp hay chính trị.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 196
Lợi ích và thiệt hại cũng nhiều
61. Lẽ cố nhiên tình trạng xã hội hóa nói trên thì lợi ích
nhiều. Công dân cũng được nhờ rất nhiều. Như làm cho người
dùng quyền lợi riêng trong phạm vi kinh tế xã hội dễ dàng và
kết quả hơn, nhất là về sinh kế, thuốc men, giáo dục căn bản
và phổ thông, tu nghiệp, nhà ở, việc làm, sự an nghỉ, và giải
trí xứng đáng. Ngoài ra, nhờ những tổ chức thông tin, truyền
bá tư tưởng rất tinh xảo như báo chí, chiếu phim ảnh, máy thu
thanh, máy truyền hình; nên bất cứ người ta ở chỗ nào dầu xa
gần bao nhiêu, thì ai nấy cũng dự thính được những việc xảy
ra khắp ở hoàn cầu.
62. Nhưng đàng khác, sự phát triển giao tế trong đủ mọi
phạm vi khía cạnh đời sống, đòi hỏi bao huấn lệnh hay luật lệ
vốn phải xác định và chỉ dẫn thể cách liên lạc giữa nhân loại.
Vì thế quyền tự do của từng cá nhân bị hạn chế một phần
nào. Vì những kỹ thuật thường dùng, những phương pháp chỉ
định, những điều kiện phải tuân giữ, chẳng còn mấy ai theo
sáng kiến riêng, không cứ gì những ngoại hưởng đã hấp thụ
lấy, chẳng còn mấy ai hành động được một cách tình nguyện,
theo quyền lợi và nghĩa vụ riêng: Chẳng mấy ai tự do làm
phát triển tâm trí tài năng theo lý tưởng được. Cứ đà xã hội
này, phải chăng ngày mai con người sẽ phải sống như cái máy
ư? Thiết tưởng là không.
63. Những cố gắng xã hội hóa nhân loại, đâu có tùy
theo những tiềm lực tự nhiên hóa thiên nhiên. Trái lại, đó là
những cố gắng ý thức tự do của con người. Dầu con người
sống và hành động theo tính tự nhiên, nó vẫn ý thức trách
nhiệm phải hành động theo những luật tự nhiên do đạo nhân
tiền định cho, hay theo những luật kinh tế phải noi theo, dầu
biết mình không sao gỡ mình ra khỏi mọi ảnh hưởng cảnh vực
sinh hoạt riêng.
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 197
Làm sao mà lợi dụng tình trạng xã hội hóa này ?
64. Như vậy, sự xã hội hóa mọi sự có thể và phải thực
hiện theo một thể cách làm tăng gia ích lợi, và tùy theo có thể
được làm giảm bớt mãi tai hại cho nhân loại.
65. Cho nên những người phụ trách chính quyền phải có
một quan niệm xác đáng về công ích, gồm tắt tất cả mọi điều
kiện cần thiết để con người phát triển nhân cách toàn diện
của mình. Ta cũng thiết tưởng rằng: Những đoàn thể là trung
gian giữa chính quyền và công dân; những tổ chức đủ thức
vốn thể hiện sự xã hội hóa này phải đủ tự do, trước để đạt tới
mục tiêu riêng trong sự thuận hòa và hợp tác. Sau để góp
phần lợi cho công ích. Một yếu điều cũng cần thiết, là các hội
đoàn kia, các tổ chức này phải kết thành những cộng đồng
thật sự không những về hình thức, mà nhất là về cả bản tính
nữa… Các nhân viên được đón nhận và đối xử cho xứng vị,
họ được tham gia một cách hữu hiệu vào những hành động
chung; thì các tổ chức đoàn thể nói trên mới đáng gọi là
những cộng đồng thật sự.
66. Vậy trong thời kỳ những mối giao tế giữa nhân loại
được phát triển lạ lùng, hễ quốc gia nào muốn bước tới một tổ
chức hoàn bị, thì quốc gia ấy phải lo dung hòa cho thăng bằng
sáng kiến tự do của từng cá nhân, những hội đoàn cùng chung
một mục đích, với sự can thiệp của chính quyền, mục đích là
phân phối và củng cố mọi sáng tác của tư nhân.
67. Một sự xã hội hóa, được thể hiện theo những chỉ
lệnh trên và theo luật luân lý nữa thì sẽ không bao giờ gây
nguy gì và không bao giờ trở nên một gánh nặng cho các
công dân. Trái lại ta có thể hy vọng rằng: Mỗi người sẽ được
tự do phát triển nhân cách và tài năng riêng, rồi tận tâm xây
dựng xã hội theo chính nghĩa tứ hải giai huynh đệ. Theo lời
Đức Piô XI viết trong thông điệp QA, đó là điều thiết yếu cho
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 198
mọi quyền lợi và mọi nghĩa vụ của một đời sống xã hội công
bằng được thỏa mãn điều hòa.
C. Vấn đề lương bổng.
Những sự bất công và bất hòa hiện tại.
68. Ta đau xót trước cảnh thê thảm hằng tái diễn ngay
trước mặt ta, của những đám đông người lao động lương bổng
quá ít không đủ sống và không đủ nuôi gia đình; nên không
vươn mình lên một địa vị sinh hoạt cân xứng với chức vị con
người. Lý do chính, là ở những miền ấy, nền kỹ nghệ còn
mới phôi thai, chưa phát triển điều hòa.
69. Nhưng dầu sao ở đa số những nước ấy, bên cạnh
thân phận khổ cực của đại chúng, cũng không thiếu gì những
người ưu thế giầu sang, sống phóng đãng xa hoa không quản
gì đến kẻ bần cùng xấu số.
Nơi khác dân chúng phải đảm nhận bao việc, nói được
là làm như trâu bò, để nền kinh tế quốc gia tăng vọt lên trong
một thời gian rất ngắn, đó là một sự trái ngược với công bằng
và nhân đạo. Còn chỗ khác, công quỹ phần lớn chỉ được tiêu
dụng cho quốc gia nổi tiếng vang lừng, hay là đổi những món
tiền khổng lồ lấy thêm võ khí đạn dược cho quốc gia.
70. Cả trong những nước nền kinh tế tiến triển nhiều,
cũng không thiếu gì những chức vụ, mối lợi không đáng kể,
giá trị viễn vông; những lương bổng cao lớn, đang lúc những
công việc cần cù sản xuất của bao công dân lương thiện cần
mẫn bị hạ giá lương bổng quá ít không đủ cho nhu cầu. Quả
thực, so sánh với phần lợi họ góp vào công ích, hoa lợi xí
nghiệp mướn họ, lợi tức quốc gia, thì lương bổng của họ quá
hạ, có thể nói được là một sự trái công bằng xã hội.
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 199
Làm sao định giá lương cho công bằng.
71. Lần nữa Ta nhận thực nghĩa vụ của Ta là quả quyết
rằng: Ta không thể nào mbặc luật thị trường hay mặc kẻ ưu
thế quy định giá lương trả công thợ một cách độc đoán, bèn
phải quy định theo luật công bằng và nhân đạo. Số lương
công nhân lĩnh nhận phải vừa đủ cho họ sống xứng vị con
người và cấp đủ sự cần cho gia đình họ. Vậy muốn định đoạt
số lương phải chăng cần xét ba điều: Năng lực sản xuất của
từng người, tình trạng kinh tế của xí nghiệp, những đòi hỏi
của công ích, nhất là những đòi hỏi của một công việc kéo
dài quanh năm, và sau hết những đòi hỏi lợi ích chung của các
quốc gia, tức là những tổ chức quốc tế kết tinh nên bởi nhiều
quốc gia, khác nhau về quốc tính và diện tích.
72. Đời nào, chỗ nào những nguyên tắc ấy đều có giá
trị, nên bắt buộc phải thực hiện. Nhưng trong thực hành, ai
cũng phải tùy trường hợp mà cân nhắc nguồn lợi kẻ ấy sử
dụng được. Những nguồn lợi ấy, quả thực hay thay đổi luôn,
về phẩm và lượng giữa nước nọ nước kia, và trong một nước
tùy theo từng địa phương và tùy thời tiết.
Làm sao mà dung hòa được sự phát triển kinh tế với
sự tiến bộ của xã hội.
73. Ngày nay nền kinh tế quốc gia ở nhiều nơi phát
triển theo một tốc độ nhanh chóng lạ lùng, nhất là từ sau đệ
nhị thế chiến vừa qua. Trong trường hợp đó ta phải đề cao
một nguyên tắc tối hệ của công bằng xã hội, là sự tiến bộ của
xã hội phải đi song đối và hòa nhịp với sự phát triển kinh tế.
Nước thêm phong phú thì mọi từng lớp công dân phải hưởng
phần đều hòa và không trừ ai. Ai cũng phải ân cần lưu ý, và
dùng mọi phương tiện để mọi giai cấp xã hội sở hữu tiền tài
khỏi quá chênh lệch. Sự quá chênh lệch ấy không những phải
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 200
đề phòng cho nó khỏi tăng gia mãi, mà lại phải hết sức lo liệu
để nó giảm bớt dần dần.
74. Lời Đức Tiên Giáo hoàng Piô XII đã nói, thì chí lý
thật: Kinh tế quốc gia phát nguồn từ ở những công việc các
công dân chung sức hoàn thành trong cộng đồng xã hội. Vì lẽ
ấy, nên mục đích của nó là cấp cho công dân đủ điều kiện
vật chất, cần cho từng người làm phát triển nhân cách và tài
năng riêng, một cách đầy đủ và đều hòa. Hễ quốc gia nào
thực hiện được mục đích ấy một cách vĩnh viễn, thì quốc gia
ấy thật phong phú, vì toàn dân hưởng phúc chung và từng
người hòa thuận sử dụng những nguồn lợi thế tục theo đúng ý
Tạo Hóa đã tiền định.
Cứ như trên, mực đo lường sự phồn thịnh của từng quốc
gia, không phải là tổng số phẩm vật dư dật hay còn thiếu đâu,
mà là cách thức phân công chia của cho công bằng, tức là
cách thức hữu hiệu làm cho các công dân thuận bề phát triển
và kiện toàn nhân cách riêng. Nền kinh tế quốc gia toàn diện,
nguyên gốc và cứu cánh duy nhất là thế.
75. Về phương diện ấy, Ta phải nhắc đến một thực hiện
thường quen ở nhiều nước bây giờ: Có những đại xí nghiệp
và xí nghiệp trung bình đã quen lấy phần hoa lợi lập tư sản
riêng, nên về tài chính họ tự túc được. Nhờ vậy năng lực sản
xuất của những xí nghiệp được tăng gia rất nhiều. Nhưng
đồng thời Ta phải quả quyết rằng: Vì các xí nghiệp ấy tự túc
được về tài chánh, họ cũng phải công nhận cho công nhân
quyền đòi một phần vốn tín dụng, nhất là khi số lương của
công nhân không vượt quá mức tối thiểu.
76. Trong phạm vi ấy, ta phải nhấn mạnh vào một
nguyên tắc mà chính Đức Piô XII đã xác định trong bức thông
điệp QA rằng: voir au titre capital and travail. (QA)
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 201
77. Kinh nghiệm dạy rằng: ta có sẵn trăm nghìn thể cách
thực hiện nghĩa vụ công bằng này. Tỉ dụ như một việc đáng
ước mong ngày nay hơn cả đời Đức Tiên Giáo hoàng, là phải
mở đường cho công nhân được tham gia vào quyền sở hữu
của xí nghiệp đã mướn họ làm việc. Đức Piô XI viết rằng:
Lương bổng công nhân và công ích quốc gia.
78. Ta cũng nên nhắc lại: sự thăng bằng giữa lương
bổng và lợi tức chỉ có thể xác định được, khi ta đã cân nhắc
kỹ công ích của từng quốc gia, và lợi ích chung của toàn thể
nhân loại.
79. Công ích của từng quốc gia buộc phải liệu cho một
số công nhân, có việc làm càng nhiều càng tốt. Phải chú ý
đừng để những nhóm công nhân được biệt đãi, hoặc trong
nước, hoặc trong cả giới lao động, hết sức duy trì sự thăng
bằng giữa lương bổng và giá hàng, mở rộng cửa cho một số
người được bước tới và hưởng dụng những vật phẩm và
những tiện nghi của một đời sống tiến hóa; hoặc thủ tiêu,
hoặc hạn chế sự chênh lệch giữa các ngành kinh tế: Canh
nông, kỹ nghệ, tiện nghi thông dụng. Phải duy trì sự thăng
bằng giữa sự phong phú mỗi ngày tăng lên, và sự mở mang
những công vụ thiết yếu, lo cho mọi cơ cấu sản xuất luôn
luôn tiến hóa theo sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật, nâng
cao địa vị sinh hoạt không những người ta hưởng hiện tại, mà
lại còn bắt đầu chuẩn bị một hậu lai khả quan hơn…
80. Công ích toàn thể nhân loại bắt buộc phải loại trừ
những mưu ý thâm độc khỏi những cuộc cạnh tranh kinh tế
của các dân tộc: Phải liệu sao cho nền kinh tế quốc gia tiến
triển đều hòa trong sự cộng tác thân mật và kiến hiệu. Sau hết
phải dùng đủ mọi phương cách hiệu lực để các dân nước
chậm tiến chóng khuếch trương trình độ kinh tế của họ.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 202
81. Lẽ cố nhiên công ích quốc gia và quốc tế nói trên,
cũng phải tôn trọng, hoặc khi định đoạt phần hoa lợi phải chia
cho những người phụ trách chỉ huy xí nghiệp, (phần ấy gọi là
phần chia lợi tức do xí nghiệp gây nên), hoặc khi chia phần
hoa lợi với những nhà tư bản đã góp vốn.
Xí nghiệp.
Tổ chức cơ sở cho công bằng.
82. Tuân giữ công bằng trong sự phân công chia của thì
không đủ. Công bằng còn phải tôn trọng ngay trong tổ chức
làm, xí nghiệp và các cơ cấu sản xuất nữa. Xét theo lý đương
nhiên con người hành động và sản xuất, phải chịu phần trách
nhiệm và kiện toàn nhân cách ngay trong việc làm của mình.
83. Vì thế, hễ khi nào thấy bất cứ tổ chức kinh tế nào
khiến công nhân mất cả nhân cách, làm việc không chút trách
nhiệm: chỉ là then máy không sáng tác được điều gì, thì ta xét
tổ chức kinh tế ấy là một tổ chức bất công, không cứ gì sản
phẩm nhiều hay ít, được chia phần cho công bằng và nhân
đạo hay không.
Xí nghiệp thì trăm thể thức.
84. Ta không thể nào xác định trong một thành ngữ duy
nhất, những tổ chức kinh tế nào là xứng với nhân cách con
người hơn cả, và là những tổ chức hiệu nghiệm nhất, cho con
người ý thức trách nhiệm riêng. Dầu sao Đức Tiên Giáo
hoàng Piô XII đã ban bố một vài huấn lệnh rất hợp thời:
Những cơ sở tiểu và trung bất cứ về nông, công, thương hay
kỹ nghệ phải được bảo vệ và nâng đỡ. Nhờ đã kết thành
những hợp tác xã, các cơ sở đó hưởng được những tiện nghi
và những ân huệ riêng của các đại xí nghiệp. Ở những chỗ
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 203
nào đại xí nghiệp có năng lực sản xuất mạnh hơn, thì chỗ ấy
giao kèo cần lao, cần phải bổ túc bằng những giao kèo xã
hội.
85. Thành ra phải bảo vệ và cũng cố tùy theo những đòi
hỏi của công ích, và tùy theo sự tiến bộ của kỹ thuật, và
những tiểu công nghệ, những cơ sở gia đình nông dân và các
hợp tác xã vốn phải bổ khuyết và ủng hộ những kinh doanh
ấy.
Tiểu ban công nghệ và hợp tác xã.
86. Trong đoạn sau Ta sẽ bàn về các kinh doanh nông
nghiệp. Tại đây Ta phải có đôi lời về các “tiểu công nghệ và
các hợp tác xã”.
87. Hai tổ chức kinh tế này chỉ có thể phồn thịnh và kết
quả, khi đồ dùng và phương kế sản xuất luôn luôn đổi mới
cho thích ứng với đà tiến của khoa học chuyên môn hiện tại,
hoặc cho phù hợp với nhu cầu và sở thích kẻ tiêu thụ sản
phẩm. Chính các nhà tiểu công nghệ và các nhân viên của
hợp tác xã, phải thích ứng công việc của họ với thời đại.
88. Bởi thế việc cần thiết nhất, là huấn luyện họ ít nhất
về kinh tế học tổng quát, và những thuật chuyên môn thích
nghi.
Họ cũng đáng được chính phủ ủng hộ bằng một chính
sách thích đáng, nhất là trong phương diện giáo dục, thuế
pháp, ngân hàng, an ninh và các bảo đảm xã hội.
89. Các nhà tiểu công nghệ và hợp tác xã này hợp
thành một năng lực sản xuất quan trọng. Họ đắc lực cộng tác
vào đà tiến của xã hội văn minh. Nên chính quyền can thiệp
nâng đỡ họ, thì thật đáng khen và đáng thúc đẩy.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 204
90. Cũng vì thế mà Ta đem hết tình cha con khuyên nhủ
các nhà tiểu công nghệ và hợp tác xã viên, dầu rải rắc khắp
tứ phương cũng là con cái thân yêu của Ta, hãy ý thức trọng
trách của họ. Bởi vì, nhờ họ, tinh thần trách nhiệm, ý chí cộng
tác, và những cố gắng của con người đã được thúc đẩy mãnh
liệt tạo nên những tác phẩm tinh vi mới mẻ.
Công nhân tham gia vào sự sống chung của xí nghiệp.
91. Ta đồng ý với các vị tiền nhiệm: “Nguyện vọng của
công nhân là muốn tham gia vào đời sống xí nghiệp đã mướn
họ làm việc. Nhưng tham gia theo mực độ nào ?” – Ta không
thể nào quy định trước được, vì nó tùy theo hoàn cảnh thực tế
của mỗi xí nghiệp. Mỗi xí nghiệp tình trạng khác nhau và dầu
trong một xí nghiệp đi nữa, tình trạng cũng hay thay đổi; nhiều
khi tự tận gốc và bất ngờ. Thế nhưng mà theo ý Ta, công
nhân cũng phải góp một phần hữu hiệu trong tổ chức xí
nghiệp tư hay công đã mướn họ làm việc. Người ta phải đua
nhau hóa xí nghiệp thành một cộng đồng có thể cách nhân
loại, hầu cho mỗi nhân viên cùng một tinh thần được liên lạc
với nhau để hoàn tất công việc và thể hiện phận vụ riêng.
92. Mục đích cao siêu ấy, đòi hỏi ở ban giám đốc trị sự,
kẻ đốc công và toàn thể công nhân, những mối giao thiệp với
nhau đầy tình nghĩa tôn trọng, kính phục và thân yêu nhau.
Nó cũng bắt buộc mọi người cộng tác vào công việc chung
một cách thành thực và hữu hiệu. Ai cũng phải nhận thực
rằng: Công việc của mình không phải chỉ là một sinh kế gây
lợi cho mình, mà lại là một nhiệm vụ mình đã đảm nhận để
gây lợi ích chung cho anh em.
Công nhân phải có quyền góp ý kiến, mà lại góp phần
công trong việc tổ chức và phát triển xí nghiệp mới là phải lẽ.
Đức Piô XII dạy rằng: “Phận vụ kinh tế xã hội ai cũng mong
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 205
gánh vác một phần nào, thì nên cấm không cho ai làm việc vô
trách nhiệm, mà chỉ lệ thuộc người khác trăm phần trăm. Thực
ra xí nghiệp nào muốn tiến triển đều hòa, tất phải tôn trọng
nhân cách của con người, nhưng dầu sao ban giám đốc cũng
phải thống nhất, là điều kiện cần thiết để cho mọi việc chạy
xuôi và kết quả nhiều. Nhưng không phải vì thế mà công
nhân phải cứ ngày nào ngày ấy làm việc im lặng như một cái
máy, không được phát biểu ý kiến, không rút kinh nghiệm,
bao giờ cũng thụ động tuân theo ý định của ban giám đốc chia
công tác và tổ chức công việc cho họ.
93. Sau hết, chính nhân tính đòi cho công nhân quyền
lãnh nhận những trọng trách trong xí nghiệp của họ. Việc ấy
lại rất thích hợp với đà tiến hiện tại của kinh tế, xã hội và
quốc gia nữa.
94. Tội nghiệp thay ngày nay nền kinh tế xã hội đã quá
chênh lệch, nên hay vi phạm công bằng và nhân đạo. Cũng
có bao tà thuyết khuếch trương mạnh về mục đích, tổ chức và
phận vụ kinh tế. Nhưng dầu sao đà tiến bộ của khoa học và
kỹ nghệ cứ tiến hóa, đổi mới và phát triển theo một tốc độ
nhanh chóng lạ lùng. Thành ra công nhân cần phải có năng
lực và tài chuyên nghiệp hơn trước nhiều. Phải dành cho họ
đủ phương tiện và thời giờ học tập, để họ mỗi ngày một biết
rộng hơn, thêm văn hóa hơn và nhiệt thành với phận sự tu đức
cùng tôn giáo hơn.
95. Ngày nay xã hội đủ phương tiện để kéo dài thời kỳ
giáo dục và tu nghiệp cho các công nhân còn thiếu niên.
96. Nhờ vậy công nhân sẽ càng ngày càng đủ điều kiện
gánh vác những trọng trách của họ đối với xí nghiệp đã nhận
họ làm việc. Chính quyền cũng nên đánh thức công dân đủ
mọi tầng lớp xã hội về phần trách nhiệm họ phải đảm nhận
đối với công ích.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 206
Những công đoàn tham gia vào vận mệnh quốc gia.
97. Ai cũng nhận thực các công đoàn ngày nay đều phát
triển rất nhiều. Sự thường các công đoàn ấy cũng được pháp
luật quốc gia chuẩn y, và những tổ chức quốc tế chấp nhận.
Các công đoàn phần nhiều không còn xúi giục công nhân
phải tranh đấu nữa; nhưng, một phải cộng tác với chủ nhân,
nhờ những khế ước hiệp đồng. Một điều cần thiết, hay ít nhất
rất thích thời; là mong cho công nhân rộng quyền, góp ý kiến
và gây ảnh hưởng cả ở ngoài xí nghiệp của họ, đến bất cứ
đoàn thể xã hội nào.
98. Ngày nay xí nghiệp nào, bất phân tổ chức, năng lực,
ảnh hưởng quốc gia lớn, nhỏ, nhiều, ít thể nào, cũng nhập vào
tổ chức xã hội kinh tế quốc gia.
Xí nghiệp phồn thịnh hay sút kém tùy theo tổ chức đó.
99. Nhưng định số phận của nền kinh tế quốc gia,
không phải là quyền riêng của từng cơ quan sản xuất đâu. Đó
là quyền chung của chính phủ, và các cơ cấu phụ trách của
từng chi tiết của nền kinh tế, hoặc quốc gia hoặc quốc tế.
Thành ra, một điều rất nên mà lại rất cần nữa, là dành
cho công nhân hay những người bênh hộ quyền lợi, nhu cầu
và xu hướng công nhân, một chỗ ngang hàng với các chủ
nhân và đại diện của họ bên chính quyền và các cơ cấu nói
trên.
Nghiệp đoàn công nhân.
100. Trước hết Ta phải đem hết tâm tư và tình cha con,
mà nhìn đến những hội đoàn công nhân liên nghệ và các
nghiệp đoàn lao công, đã lấy học thuyết công giáo làm căn
bản và đang hành động ở khắp năm châu. Ta quên sao được
những công lao anh em đã gánh vác, những trở lực anh em đã
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 207
lướt thắng; hoặc trong phạm vi quốc gia, hay trong phạm vi
quốc tế để bênh vực quyền lợi và cải thiện số phận vật chất
lẫn tinh thần của công nhân một cách hữu hiệu liên tục.
101. Những người ấy còn đáng khen nữa, vì những kết
quả họ đã thu lượm không những rực rỡ tức thời, mà lại gây
ảnh hưởng đến cả giới lao công. Bằng cách phổ biến ra những
nguyên tắc lành mạnh về lý thuyết và thực hành công giáo.
Nhờ họ, đạo công giáo càng ngày càng ảnh hưởng rộng xa
thánh thiện.
102. Ta cũng rất tán thành sự nghiệp của các con quý
yêu, tinh thần công giáo cao xa, đã hoàn tất một công việc rất
quan trọng, ngay trong những nghiệp đoàn không công giáo,
nhưng trong tôn trọng luật thiên nhiên và công nhận quyền tự
do tôn giáo và luân lý của các nhân viên.
103. Sau hết Ta thật tình thán phục tổ chức lao động
quốc tế (OIT) đã từ mấy mươi năm đem hết tài lực và khôn
khéo tìm chấn hưng một nền kinh tế xã hội công bằng và
nhân nghĩa ở khắp thiên hạ. Nhờ vậy, những quyền lợi chính
đáng của công nhân mới được tôn trọng.
Quyền tư hữu.
Phân tách sở hữu và quyền hành.
104. Trong những năm vừa qua ai cũng đã nhận thấy
các xí nghiệp tìm cách tách biệt quyền hành, vốn chỉ huy mọi
công việc, và quyền sở hữu của các cổ phần viên cấp vốn. Vì
vậy chính quyền gặp phải bao trở lực. Làm sao mà biết được
vật đích ban chỉ huy các xí nghiệp, nhất là các xí nghiệp ảnh
hưởng nhiều đến nền kinh tế quốc gia, không bao giờ phạm
đến công ích mà chính quyền vốn phải bảo vệ ? Xét theo
kinh nghiệm, trở lực trên vẫn còn nguyên vậy, không cứ gì tư
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 208
bản cần thiết cho các xí nghiệp lớn do tư nhân hay do các tổ
chức công cung cấp cho.
Sống yên vì tổ chức bảo hiểm và nghề chuyên môn.
105. Một điều chắc chắn, là ngày nay nhờ có những hội
bảo hiểm và những sở cứu tế xã hội, thì số người hướng về
tương lai một cách yên trí và bình thản càng ngày càng đông.
Xưa kia chỉ có những người có tài sản, dầu là một tài sản nhỏ
bé đến đâu, mới sống được bình thản như vậy.
106. Ngày nay cũng có những người không thèm có sở
hữu riêng, một chỉ mong có nghề nghiệp chuyên môn. Người
ta tin ở những hoa lợi do một chuyên nghiệp gây nên, hay là
quyền lợi do cần lao mà có, hơn cả những ân huệ hay những
quyền lợi chỉ căn cứ vào tư bản.
107. Thái độ ấy biểu diễn nhân cách của cần lao. Cần
lao từ ở con người phát xuất. Thành ra nó quý hơn cả sự giầu
sang hay mọi của phú quý khác, vốn chỉ nâng đỡ con người từ
bên ngoài mà thôi.
Đó là một bằng chứng rõ ràng, nhân cách đã phát triển
nhiều trong con người hiện tại.
108. Bởi thế ngày nay đã không thiếu gì người thắc mắc
rằng: Thời thế hoàn cảnh đã biến đổi nhiều, không biết
nguyên tắc kinh tế xã hội các Đức Tiên Giáo hoàng đã công
bố xưa còn đủ sức mạnh để bênh vực quyền sở hữu tự nhiên
của con người đến các vật phẩm và các khí cụ sản xuất;
Không biết những nguyên tắc ấy còn giá trị và hiệu lực như
xưa chăng ?
Quyền sở hữu vẫn có giá trị.
109. Nhưng thắc mắc làm gì ? Vì là vô lý …
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 209
Quyền tư hữu gồm cả những khí cụ sản xuất, đời nào
cũng có giá trị, vì là quyền thiên nhiên bất tử. Con người có
trước, xã hội có sau. Nên mọi tổ chức xã hội đều quy về con
người là cùng đích. Ngoài ra đã nhận quyền tự do hành động
của từng người trong phạm vi kinh tế, tất nhiên cũng phải
nhận rằng: Tư nhân cũng tự do chọn lựa và hưởng dụng đủ
mọi phương tiện cần thiết để thể hiện quyền ấy. Kinh nghiệm
và lịch sử cũng dạy rằng: Hễ chính phủ nào chối không cho tư
nhân dùng quyền đến những khí cụ sản xuất, thì chính phủ ấy
cũng phạm đến hay bài trừ mọi quyền tự do căn bản khác.
Như vậy đủ rõ, quyền tư hữu bảo đảm và củng cố đủ mọi
quyền tự do của con người.
110. Như vậy ta mới hiểu những thay đổi lạ của bao
phong trào và tổ chức xã hội chính trị quyết dung hòa tự do và
công bằng: Trước, họ nhất định bài trừ quyền tư hữu đến các
khí cụ sản xuất. Sau, vì xã hội đã biến chuyển, họ rút kinh
nghiệm đổi ý, và sẵn sàng công nhận quyền tư hữu ấy.
111. Về vấn đề đó, Ta đồng ý với Đức Tiên Giáo hoàng
Piô XII, và nhắc lại những huấn lệnh của Ngài rằng:
Giáo hội bênh vực quyền tư hữu, đã có một mục đích
cao siêu, vừa xã hội vừa luân lý. Giáo hội chẳng có ý duy trì
tình trạng hiện tại, nguyên vì lý do ấy thể hiện thánh ý Chúa.
Giáo hội cũng không nghiêng ngả về bên kẻ giầu sang quyền
thế, mà bỏ mặc kẻ nghèo hèn người vô sản đâu.
Trái lại Giáo hội chỉ quyết cải hóa chế độ tư hữu cho
thích hợp với ý định của Chúa và cân xứng với nhân cách con
người hơn.
Quyền tư hữu vốn bảo đảm quyền tự do của con người,
và nói được là một yếu tố thiết yếu của một tổ chức xã hội
chính đáng.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 210
112. Vì ở rất nhiều nước ngày nay, nền kinh tế được
nâng cao vì năng lực sản xuất phát triển mau chóng lạ lùng;
thì công bằng hợp tác với nhân đạo cũng đòi tăng lương bổng
công nhân cho cân xứng, và tùy theo luật mực công ích chỉ
định.
Phổ biến quyền dùng sở hữu.
113. Quyền tư hữu bao quát cả khí cụ sản xuất nhất định
là quyền tự nhiên. Quả quyết điều ấy là phải, nhưng vẫn chưa
đủ. Ta phải cố gắng cho mọi tầng lớp xã hội hưởng dụng
được quyền tư hữu quý hóa này.
114. Đức Tiên Giáo hoàng Piô XII công bố rằng: Nhân
cách đòi hỏi ở từng người phải có quyền tư hữu đến mọi của
quý đời này, làm căn bản của một đời sống xứng đáng. Kèm
theo đó lẽ dĩ nhiên có một nghĩa vụ, là liệu làm sao cho từng
người có một sở hữu riêng. Đàng khác vì cần lao có giá trị đặc
biệt, thì xã hội phải tổ chức làm sao cho cả giai cấp công nhân
cũng đủ điều kiện chiếm lấy một phần sở hữu, cho dù sở hữu
ấy bé nhỏ đến đâu đi nữa.
115. Không bao giờ bằng bây giờ, ta phải tuyên bố
rằng: Phải lo liệu cho số người được hưởng quyền tư hữu
trong xã hội càng ngày càng tăng thêm đông. Lý do là vì,
những dân nước đang tiến triển về kinh tế, mỗi ngày một
nhiều hơn. Bởi thế ai khéo dùng những kỹ thuật kinh tế hiệu
nghiệm ngày nay, thì rất có thể gây nên một chính sách xã
hội kinh tế thuận tiện cho số người có sở hữu riêng thêm
đông mãi, ít nhất cho ai nấy cũng có nhà ở, đất ruộng, đồ
dùng nhà tiểu công nghệ, nông trại gia đình, hay cổ phần
trong các trung, đại xí nghiệp, như đã thấy có ở những nước
kinh tế xã hội tiến bộ hơn.
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 211
Quyền công hữu.
116. Đành rằng quyền tư hữu ở trên là quyền tự nhiên
của từng người, nhưng chính phủ và các công sở cũng có thể
giữ độc quyền trong những cơ cấu sản xuất có kèm theo một
chuyên quyền kinh tế, mà khi tư nhân chiếm hữu sẽ làm nguy
hại đến công ích.
117. Khuynh hướng đời ta là đòi mở rộng các sở hữu
dành cho công quyền. Lý do vì công ích buộc chính phủ phải
có những công quyền rộng rãi hơn. Nhưng dầu sao cũng cần
phải nại đến nguyên tắc bảo trợ ta đã đề cập đến ở trên:
Chính phủ và các công sở chỉ có thể đòi quyền hành tùy theo
những đòi hỏi của công ích. Những mưu kế hạn chế hay tệ
hơn nữa bài trừ quyền tư hữu đều phải xa tránh.
118. Sau hết, kẻ phụ trách mọi công cuộc kinh tế của
chính phủ hay của các công sở đều phải là những người tài trí
lỗi lạc, chuyên môn đặc sắc liêm chính và trung nghĩa không
ai hồ nghi được. Chính quyền còn phải theo dõi, kiểm soát
liên tục, ân cần tất cả các hành động của họ để tránh khỏi
những chuyên quyền kinh tế quốc gia, dần dần rút vào trong
tay một số tư nhân ưu thế, là một tai hại lớn cho công ích quốc
gia.
Quyền tư hữu với trách vụ của nó.
119. Các Đức Tiên Giáo hoàng đã không ngừng nhắc
đến trách vụ xã hội của mọi quyền tư hữu. Theo ý Chúa tiền
định, mọi vật phẩm thiên nhiên, đều có mục đích là cung cấp
đủ nhu cầu cho toàn thể nhân loại: Trong bức thông điệp RN
của Đức Lêô XIII có câu : (RN, 19)
120. “Không phải vì trách chính phủ và các sở mỗi ngày
một mở rộng mà trách vụ của quyền tư hữu ngày càng biến
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 212
đi. Trách vụ ấy từ ở quyền tư hữu phát xuất ra. Ngoài ra đời
nào cũng đã từng có những tình trạng đau thương những nỗi
hàn vi cơ cực, chính phủ không sao biết được, nên cũng không
sao hàn gắn được. Phạm vi mở rộng cho lòng từ thiện, và đức
bác ái công giáo vẫn còn mênh mông bát ngát… Nhất là để
thỏa mãn những nhu cầu phần hồn công quyền không thể nào
đem lại hiệu lực bằng những hành động tư nhân, và các
nghiệp đoàn tư nhân”.
121. Quyền tư là quyền tự nhiên và chính đáng. Phúc
âm nhấn mạnh vào điều đó rất nhiều. Nhưng mặt khác, Chúa
Kitô luôn tha thiết yêu cầu kẻ giàu sang, hãy biến đổi của cải
đời này nên những của quý đời sau bằng cách san sẻ kho
vàng của họ với những người nghèo khổ.
“tích trữ kho tàng dưới đất làm gì ! Mối mọt gỉ sét, sâu
bọ sẽ nuốt dần. Kẻ trộm đào ngạch lấy đi. Chúng con hãy tích
trữ kho tàng trên trời là chỗ không lo gỉ sét, không ai lấy trộm
được”.
Chúa Kitô lại tuyên bố: “Bố thí cho kẻ nghèo tức là bố
thí cho Thầy”. “Nếu lần nào chúng con thi ân cho kẻ hèn kém
nhất trong anh em là chúng con thi ân cho chính mình Ta”.
PHẦN THỨ BA
III. NHỮNG KHÍA CẠNH MỚI CỦA VẤN ĐỀ
122. Lịch sử tiến triển không ngừng, người ta mỗi ngày
một thấy rõ luật công bằng và nhân đạo, không những cần
chấn hưng, giữa chủ nhân và công nhân, mà còn giữa mọi
lãnh vực kinh tế trong từng quốc gia, giữa từng địa phương
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 213
nguồn lợi khác nhau, và trên cả hoàn cầu giữa các quốc gia,
trình độ kinh tế còn quá chênh lệch.
Công bằng và nhân đạo giữa canh nông và những chi
tiết kinh tế khác.
123. Trước hết ta phải nói qua về canh nông. Dân số
nông thôn hầu như không giảm bớt. Nhưng dầu sao ta cũng
phải nhận thực rằng nông dân hay di cư từ chốn thôn quê về
thành thị, hay chỗ đông người ở. Cuộc di cư này ta có thể thấy
rõ ở mọi quốc gia đôi khi còn lôi kéo cả đa số quần chúng. Vì
thế đã trở thành vấn đề khắt khe, về sinh hoạt và phẩm giá
của con người.
124. Việc này cũng dễ hiểu: Kinh tế phát triển về hai
phương diện: kỹ nghệ và công vụ. Như thế, số người bỏ đồng
quê về thành thị làm công nhân hay công chức ngày càng
đông hơn. Có rất nhiều lý do, nhưng có lẽ lý do chính là sự
khuếch trương kinh tế.
Nhưng còn bao lý do phụ tùy khác: Có người chạy trốn
một lãnh vực sinh hoạt quá hẻo lánh không một tia hy vọng
giúp họ vươn mình lên một địa vị sinh hoạt văn minh hơn.
Người lại vì tính hiếu kỳ ưa sống đời phiêu lưu, ngày nay đã
trở nên một xu hướng cực mạnh. Người khác mong chóng
giàu sang hơn. Người khác lại khát vọng một cuộc sống tự do,
đầy những dễ dàng của chốn thành thị. Nhưng đa số nông dân
bỏ đồng ruộng vì thấy các nông sản bị sút giảm về năng lực
sản xuất, hay về địa vị sinh hoạt của các dân quê không tiến
triển mấy.
Những luật lệ bảo vệ canh nông.
125. Để giải quyết một vấn đề quan trọng như thế, vấn
đề làm cho hầu hết các quốc gia ngày nay phải thắc mắc, tất
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 214
nhiên phải có những luật lệ căn bản để tránh giá các nông
sản khỏi chênh lệch quá đối với sản phẩm kỹ nghệ, và hoa
lợi của các công vụ. Còn phải có những luật lệ đề cao địa vị
sinh hoạt của nông dân để họ cũng được hưởng những tiện
nghi dành cho công nhân và công chức sống ở thành thị. Sau
hết, phải liệu sao cho dân quê khỏi tự ty mặc cảm, và thấy
dầu bị giầm mưa giãi nắng giữa đồng ruộng, họ cũng đủ
phương tiện mở mang nhân cách, vươn mình lên địa vị văn
minh, và nhìn tương lai với những đôi mắt đầy tràn hy vọng.
126. Những huấn lệnh sau đây rất thích thời và có thể
áp dụng trong mọi trường hợp. Nhưng đành rằng: những huấn
lệnh ấy phải áp dụng tùy theo thời thế hoàn cảnh cho phép,
khuyến khích và đòi hỏi.
Cung cấp cho thôn quê những phương tiện nghệ thuật
và văn hóa.
127. Đầu hết, mọi người phải thi đua, và hơn hết là
những người cầm quyền, phải chung sức cung cấp cho thôn
quê đủ phương tiện về nghệ thuật và văn hóa: Đường xá, xe
vận chuyển, đường giao thông, nước máy, nhà ở, sở y tế,
trường tiểu học, huấn nghiệp kỹ nghệ; đủ nhu cầu về phụng
vụ, phương tiện giải trí, những vật dụng cần thiết trong một
gia đình thôn quê.
Nơi nào dân quê không đủ thỏa mãn những nhu cầu của
một đời sống xứng đáng, thì nơi đó nền kinh tế xã hội sẽ sút
kém hay chậm tiến, và sẽ không còn lý do gì để ngăn cản họ
rời bỏ đồng ruộng. Họ bắt đầu di cư không ai có thể kiểm
soát.
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 215
Canh nông và kỹ nghệ.
128. Một việc nên chú ý là phải lo khuếch trương nền
kinh tế quốc gia một cách có trật tự và đều hòa, trong đủ mọi
chi tiết: Canh nông nói riêng phải cải tiến theo những phương
pháp tối tân, tùy theo tình trạng kinh tế cho phép hay bắt
buộc. Những phương pháp ấy, có thể áp dụng vào phương
pháp trồng trọt, và những nông sản nên canh tác, nên bỏ khí
cụ xưa và dùng máy móc. Ai cũng phải lo sao cho canh nông
tiến triển song song với mỹ thuật và kỹ nghệ.
129. Như thế, có lẽ canh nông sẽ tiêu thụ rất nhiều sản
phẩm do kỹ nghệ sản xuất, và đòi bao công vụ thích nghi hơn.
Đối lại, canh nông sẽ cấp cho mọi khía cạnh kỹ nghệ, công
vụ, và cả cộng đồng xã hội những nông sản thích hợp hơn với
những nhu cầu của tòan dân tiêu thụ, về lượng cũng như về
phẩm. Như vậy, canh nông cũng sẽ góp phần vào việc duy trì
tiền tệ cho vững giá, là điều kiện cần thiết cho nền kinh tế
quốc gia phát triển đều hòa.
130. Thể hiện những huấn lệnh mới nói trên sẽ đem lại
bao lợi ích: Như việc kiểm soát những nông dân phải di cư vì
nghề nông được tối tân hóa sẽ trở nên dễ dàng. Những nông
dân bị sa thải, được kiểm soát rồi sẽ có thể đào tạo theo
chuyên môn nghề nghiệp khác, và đưa sang một khu vực kinh
tế mới. Lúc gia nhập cảnh vực sinh hoạt mới họ sẽ được ủng
hộ về mọi phương diện: vật chất, văn hóa, tôn giáo một cách
dễ dàng và chắc chắn hơn.
Ít vấn đề liên quan với một chính sách canh
nông thích thời:
131. Muốn cho các chi tiết kinh tế, phát triển đều hòa,
thì có một vài điều quan trọng, chính quyền phải lưu ý về
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 216
ngành canh nông như thuế má, nông tín, bảo hiểm xã hội, thị
giá, kỹ thuật nông thôn, canh tân các cơ sở nông thôn.
Thuế má:
132. Thuế má công bằng và nhân đạo, nguyên tắc căn
bản: “Tỷ lệ tiền thuế công dân đóng góp phải tính theo khả
năng tài chính của họ”.
133. Nhưng công ích buộc chính phủ định số tiền thuế
nông dân lưu ý đến một sự kiện của giới canh nông là nông
dân phải chờ lâu tháng mới thu nhập được lợi tức mà lợi tức
nông dân hay bấp bênh. Nhiều khi họ khó tìm được số vốn
cần thiết để mở mang nông sản là khác.
Nông tín:
134. Vì thế những nhà tư bản thường hay tung vốn đầu
tư vào các cơ cấu sản xuất kỹ nghệ, mà họ không thích hùn
vốn vào canh nông. Nông dân cần phải vay tiền lập vốn, để
họ mở mang nông trại. Nhưng họ khó vay nặng lãi. Nhiều khi
số lãi tính theo giá thị trường, họ cũng không trả được. Do đó,
công ích đòi ở chính quyền lập một quỹ tiền tệ riêng cho giới
canh nông, và lập thành những cơ sở nông tín cho nông dân
kiếm được vốn cần thiết, mà không phải trả lãi quá nặng.
Hội bảo hiểm và cứu tế xã hội.
135. Trong lãnh vực nông nghiệp, thiết tưởng nên có hai
hệ thống bảo hiểm: một hệ thống cho những nông phẩm, một
hệ thống cho nông dân và gia đình của họ. Kinh nghiệm dạy
rằng: Sự thường lợi tức nông dân kém hơn lợi tức công nhân
kỹ nghệ và công chức. Vậy căn cứ vào vào đó mà tổ chức
những hội bảo hiểm và cứu tế nông dân kém hơn những hội
bảo hiểm và cứu tế công nhân thật là lỗi đến công bằng xã
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 217
hội. Mọi tổ chức bảo hiểm và cứu tế, thuộc bất cứ lãnh vực
kinh tế nào phải đều giống nhau không quản gì đến lợi tức
nhiều ít của những người thụ hưởng.
136. Vì những hội bảo hiểm và cứu tế xã hội giúp chính
quyền phân chia lợi tức quốc gia giữa các công dân, một cách
công bằng và nhân đạo thì những hội đó là phương pháp linh
nghiệm nhất để giảm bớt sự chênh lệch giữa các giai cấp xã
hội.
Bảo vệ giá nông phẩm:
137. Các nông phẩm có tính cách riêng, giá bán phải
được bảo đảm theo những phương pháp các kinh tế gia đã
hoạch định ra. Mong rằng chính nông dân phải được phụ trách
công việc đó và buộc nhau theo một luật chung. Nhưng chính
quyền cũng không sao chối được nhiệm vụ can thiệp vào.
138. Điều đáng chú ý nữa là giá các nông phẩm, thường
chỉ là trả công cho nông dân, mà không phải là bổ túc số vốn
họ tung ra.
139. Nói về công ích, Đức Piô XII tuyên bố rất hữu lý
trong thông điệp QA rằng:
140. Đành rằng con người cần các nông phẩm để thỏa
mãn những nhu cầu thiết yếu của đời sống. Giá phải quy định
sao cho bất cứ ai cũng có thể mua được. Nhưng dầu sao định
giá quá hạ là một sự bất công rõ rệt. Vì như thế cả một lớp
công dân tức là nông dân sẽ phải sống ở một địa vị kinh tế xã
hội suy nhược. Không đủ điều kiện vươn mình lên một địa vị
sinh hoạt cân xứng, vì thiếu tiền mua vật dụng cần thiết. Thật
là một điều phạm đến công ích của quốc gia.
141. Hơn nữa, ở các miền nông thôn, nên thành lập
những kho lẫm và những kỹ nghệ tồn trữ biến chế, chuyển
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 218
vận các nông phẩm, nên củng cố những sáng kiến kinh tế và
tiểu công nghệ và nhờ đó mà các gia đình nông thôn mới
kiếm được những hoa lợi bổ trợ ngay trong cảnh vực sinh
sống và làm việc của họ.
Xí nghiệp canh nông.
142. Ta không sao định được nên tổ chức canh nông như
thế nào cho thích hợp. Hoàn cảnh nông thôn thay đổi luôn,
tùy theo địa phương trong nước. Phương chi những hoàn cảnh
ấy khác hẳn ở từng nước trên thế giới ! Những ai đã có một
quan niệm xác đáng về con người và gia đình, một quan niệm
căn cứ vào đạo nhân nghĩa hay là chắc chắn hơn căn cứ vào
Phúc âm Chúa Kitô, thì họ sẽ lo tổ chức canh nông cho thành
một cộng đồng có tính cách nhân loại, và nhất là tính cách gia
đình. Trong cộng đồng ấy mọi người liên lạc với nhau và tổ
chức luôn việc sản xuất theo công bằng và đạo Phúc âm. Sau
đó, họ sẽ tùy theo hoàn cảnh mà tận tâm tìm cách thể hiện lý
tưởng cộng đồng nông dân của họ.
143. Nhưng cộng đồng nông dân có tính gia đình chỉ tồn
tại và bền vững được khi cộng đồng đó thu hoạch đủ loại hoa
lợi cho gia đình vươn mình lên một địa vị sinh hoạt và văn hóa
khả quan. Vì thế nông dân cần phải được huấn luyện xứng
đáng cho họ am hiểu những kế hoạch tối tân nhất và cho họ
hưởng nhờ lời chỉ giáo của những người chuyên môn. Ngoài
ra, chính nông dân, nên tổ chức những hội tương trợ, những
hợp tác xã, những công đoàn chuyên nghiệp, và tham gia vào
những công vụ hành chánh và chính trị.
Nông dân phải ý thức và thể hiện sứ vụ
144. Ta tin rằng: Trong giới canh nông những người phải
đứng đầu việc phát triển kinh tế, đề cao nền văn hóa, khiến
xã hội tiến bộ, trước hết, chính là nông dân. Họ phải ý thức
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 219
việc làm của họ cao trọng biết bao ! Họ làm việc ngay giữa
thánh đường uy linh của thiên nhiên; họ sống đêm ngày giữa
cảnh cây cỏ súc vật, hằng biểu diễn trước mặt họ, sự sống
trăm nghìn mầu sắc, luật tự nhiên của mỗi sinh vật mỗi khác
nhưng rất điều hòa, chứng minh Đấng Tạo Hóa tài trí lỗi lạc
quan phòng muôn vật theo tính theo loài của chúng. Nhờ công
việc nông dân, loài người đủ thực phẩm cần dùng và kỹ thuật
cũng mỗi ngày thêm nguyên liệu cần thiết.
145. Công việc nông dân đảm nhận lại quý giá nữa, vì
họ mượn của các kỹ thuật, của hóa học, của sinh lý học bao
sáng kiến mới, nông dân phải luôn tìm cách áp dụng vào
nghề nông cho thích hợp với sự tiến triển của khoa học
chuyên môn.
Như thế, vẫn chưa kể hết giá trị tuyệt đối của nghề
nông. Nghề nông lại đòi hỏi ở nông dân, một trí minh mẫn,
am hiểu, những biến đổi của thời tiết, một tài năng đặc biệt
để hòa mình vào mọi hoàn cảnh, một lòng tin tưởng sáng suốt
ở tương lai, một lòng kính cẩn tôn trọng sứ mệnh tối cần của
họ và một tinh thần linh động đầy sáng kiến mới.
Cần có sự đoàn kết và cộng tác.
146. Ta cũng phải nhấn mạnh vào một điều nữa, nghề
nông, không kém mọi kỹ thuật sản xuất khác, nên cần phải
có sự đoàn kết giữa nông dân, là lẽ sống còn của họ. Nhất là
khi được tổ chức thành những nông trại gia đình. Lúc nào
nông dân cũng phải ý thức những mối liên hệ ràng buộc họ
với nhau và cố gắng thành lập những hội tương trợ và hợp tác
xã nông đoàn. Hội đoàn nào cũng cần để hưởng lợi ích tiến
bộ khoa học hay để duy trì và bảo vệ thị giá.
Nhờ đó, nông dân mới chen vai sát cánh với các ngành
sản xuất khác, sự thường đã được tổ chức tinh xảo. Cũng nhờ
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 220
đó, mà nông dân mới có ảnh hưởng đến mọi công việc dân
sự. Ảnh hưởng đó xứng đáng với trách nhiệm của họ ngày
nay, đứng một mình mà nói, tức là nói uổng công, là lên tiếng
giữa sa mạc.
147. Không khác gì các công nhân các nghề khi nào
nông dân họp thành đoàn thể để ép buộc xã hội nhận quyền
lợi của họ hay làm thỏa mãn những điều họ khiếu nại, thì họ
phải nhớ tôn trọng luật luân lý, và luật quốc gia. Hay hơn cả
là tìm dung hòa quyền lợi với quyền lợi chính thức của giai
cấp xã hội khác và lo cho mọi hành động đoàn thể của họ lúc
nào cũng quy về công ích quốc gia. Những nông dân có thiện
chí với sứ vụ cải thiện xã hội và cảnh vực nông thôn, mà cần
phải xin công quyền nâng đỡ, ủng hộ, đó là làm một việc
công bằng và hợp lẽ. Nhưng họ còn phải thông cảm những
đòi hỏi của công ích, và thành thực góp phần vào việc gây ích
lợi chung.
148. Ta thành thực tán tạ những kitô hữu, con yêu quý
của Ta, rải rác khắp năm Châu đã luôn chung sức lập thành
những hội tương trợ, hợp tác xã, nông đoàn để đưa nông giới
đến một trình độ văn minh, cân xứng và dễ dàng tương đối
với địa vị sinh hoạt của mọi giai cấp công dân khác.
149. Nông nghiệp rất có thể cấp cho dân đủ nguyên
liệu cần thiết để họ sống xứng đáng chức vị con người, kiện
toàn nhân cách, và mở mang trình độ văn hóa của họ. Như
thế, họ phải ý thức nông nghiệp là một sứ vụ Chúa uỷ cho họ
hướng về một cứu cánh cao siêu, họ phải hiến toàn thân và
công việc của họ cho Chúa quan phòng, vốn chỉ dẫn mọi sự
theo mục đích cứu chuộc nhân loại. Sau hết, họ phải hứng tâm
lên và nâng cao lý tưởng các bạn đồng nghề, để góp phần
vào việc văn minh hóa thế giới.
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 221
Sự thăng bằng và tiến triển của các miền trong một nước.
150. Dầu trong một dân nước, cũng hay xảy ra trường
hợp kinh tế xã hội phát triển. Những công dân không được
hưởng lợi đồng đều. Người sống ở miền kinh tế chóng mở
mang sẽ được hưởng lợi ích bao nhiêu. Lẽ công bằng và nhân
đạo bắt buộc chính quyền san bằng hay giảm sự chênh lệch
ấy. Vì thế phải cung cấp cho miền chậm tiến những cơ sở
công ích thiết yếu thích thời, hợp với hoàn cảnh từng miền, và
trình độ mở mang của quốc gia. Hơn thế nữa, cần có một
guồng máy hành chánh thích ứng, một kỹ thuật chặt chẽ qui
định các điều kiện làm mướn, tổ chức những trào lưu di dân,
và hoạch định những điều luật về giá biểu, lương bổng, thuế
má, nông tín, đầu tư và riêng về số vốn đầu tư cần cho các xí
nghiệp mở mang những kỹ nghệ phụ thuộc. Phải làm sao cho
chính sách nói đây, không những cung cấp đủ việc làm cho
công nhân, nhưng còn khích lệ người thầu khoán đua nhau
khai thác những nguồn lợi địa phương.
151. Trong vấn đề đó, vai trò chính quyền là chỉ giáo
những việc đem lợi ích chung cho toàn dân, tùy theo những
đòi hỏi của công ích toàn quốc gia. Nên chính quyền phải lo
liệu cho canh nông, kỹ thuật và các công vụ luôn phát triển
đồng đều. Mục đích chính quyền phải đạt tới là liệu cho công
dân ở miền chậm tiến ý thức rằng, nhờ công việc của họ,
những miền kia mới tiến bộ về phương diện kinh tế, văn hóa,
và xã hội. Công dân tự hào nhiều hay ít, tùy theo họ ý thức,
họ có phần trách nhiệm trong việc mở mang quốc gia.
152. Chính quyền cũng nên dành cho sáng kiến tư nhân
trong việc kinh tế xã hội để tìm được thế quân bình cần thiết
theo nguyên tắc “tương trợ” chính quyền phải thúc đẩy, ủng
hộ tư nhân thể hiện sáng kiến riêng, để tư nhân ý thức rằng
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 222
nếu họ có thể, họ vẫn đủ điều kiện hoàn thành công việc họ
đã bắt đầu.
Sự chênh lệch giữa đất đai và dân cư.
153. Tiện dịp, ta nhắc qua đến một nhận xét, ngày nay
thường thấy ở nhiều nơi: tức là sự chênh lệch giữa đất đai và
dân cư. Nghĩa là những miền đất rộng dân ít mà những miền
đất hẹp dân cư lại đông đúc.
154. Nơi khác đất phì nhiên nhưng lối canh tác cổ hủ,
nên dân không đủ sống, hay đất trung bình nhưng lại được
khai thác theo những kỹ thuật tối tân, nên nông phẩm thặng
dư. Những tình trạng ấy thường rất có hại cho nền kinh tế
quốc gia.
155. Vậy tình nghĩa thiết của nhân loại và tình nghĩa
huynh đệ của đạo công giáo bắt buộc các dân nâng đỡ nhau
một cách hữu hiệu bằng mọi phương tiện, trước để số vật
phẩm, vốn đầu tư và cả số dân di cư được phát triển dễ dàng,
và để những mối dị đồng giữa các nước được giảm bớt dần
dần. Ta sẽ giãi bày vấn đề đó trong những trang sau.
Hội lương nông quốc tế hữu hiệu.
156. Kèm theo đây, ta thành thực cổ võ tổ chức lương
nông quốc tế của liên hiệp quốc đã ân cần lo giúp các dân
nước tương trợ lẫn nhau, canh tân nghề nông ở các nước chậm
tiến, và tiếp tế cho những dân còn thiếu ăn.
Những mối giao tế giữa các dân tiền tiến và hậu tiến.
157. Trong những vấn đề thời đại ta nêu lên, có lẽ quan
trọng nhất là vấn đề giao tế gữa các nước tiền tiến và các
nước hậu tiến. Những nước tiền tiến được hưởng mọi tiện
nghi, nhưng những nước hậu tiến lại chịu nhiều cực khổ. Vậy
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 223
loài người ngày nay tuy ở muôn nơi, nhưng đã cùng một ý
thức chung là anh chị em một nhà, nên người dân ở các nước
giầu sang no ấm không thể nào giữ lòng chai đá trước thân
phận của người dân nước nghèo túng thiếu mọi nhu cầu cần
thiết, không được hưởng dụng những quyền lợi thiết yếu của
con người. Các dân tộc hiện nay, ngày một liên hệ chặt chẽ
với nhau hơn đến nỗi không ủng hộ các dân chậm tiến, thì
tình trạng kinh tế xã hội quá chênh lệch không thể nào thực
hiện được một nền hòa bình vĩnh viễn và phồn thịnh.
Tình nghĩa thiết và lòng bác ái.
158. Là Hiền phụ của toàn thể nhân loại, ta cảm thấy
nhiệm vụ của ta là nhắc lại đây những điều kiện ta đã khuyên
rõ rệt ở nơi khác rằng:
“Chúng ta hết thảy cùng chịu trách nhiệm giúp đỡ các
dân tộc đói kém. Nên ta lên tiếng đánh thức toàn thể nhân
loại, nói chung, từng người và nhất là người sung túc nói
riêng phải xác nhận trách nhiệm của họ.”
159. Đã là những thành phần sống động của Nhiệm Thể
Chúa Kitô, thì các kitô hữu phải ý thức trách nhiệm ấy, một
cách linh động hơn. Điều đó quá hiển nhiên và Giáo hội cũng
không ngừng nhấn mạnh tới. Các kitô hữu buộc ngặt phải
giúp kẻ thiếu thốn. Thánh Gioan viết: (1Ga 3,16-17)
160. Vì thế, tôi rất hân hạnh thấy các dân nước đã tổ
chức được một hệ thống sản xuất tối tân, đồng lòng ủng hộ
các dân chậm tiến về mặt kinh tế, để họ cải tiến dân sinh một
cách dễ dàng hơn.
Những sự cứu tế khẩn cấp ở nhiều quốc gia.
161. Ai cũng thừa biết bây giờ ở nhiều quốc gia, thực
phẩm nhất là thổ sản dư thừa, trong khi bao quốc gia khác chịu
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 224
cảnh đói khát, cực khổ. Vậy công lý và đạo nghĩa yêu cầu
các nước sung túc phải nâng đỡ các nước bần cùng. Tiêu hủy
và phung phá những sản phẩm cần cho bao người khác đủ
sống, đó là phạm đến công bằng.
162. Sản xuất thực phẩm và nhất là những nông sản quá
mức tiêu thụ trong nước nhiều khi gây hại cho các công nhân
khác với tầng lớp nông dân. Nhưng không phải vì thế mà các
dân nước sung túc phải hạn chế sự sản xuất nông sản. Có rất
nhiều trường hợp bắt buộc họ phải sản xuất rồi cung cấp cho
các dân thiếu thốn và đói kém. Nếu làm như thế, là hại cho
một số công nhân trong nước, chính quyền phải san sẻ những
thiệt hại đó cho mọi công dân cùng chịu chung.
Viện trợ và cộng tác cho các dân chậm tiến được tiến
hóa đồng đều.
163. Cứu trợ các nước chậm tiến như thế, nhiều khi sẽ
không đủ hiệu lực để loại trừ những nguyên do tự nhiên gây
nên cảnh bần cùng và đói khát. Thường tình cảnh thê thảm ấy
chỉ do một nền kinh tế cổ hủ thô sơ. Giải pháp hiệu lực là thử
mọi đường lối. huấn luyện toàn dân về các nghề nghiệp kỹ
thuật và khoa học mới, rồi cấp vốn kinh doanh để họ mở
mang nền kinh tế của họ theo những đường lối tối tân của đời
ta.
164. Ta biết rằng trong những năm vừa qua nhân loại đã
ý thức nhiều. Đa số người ta đã lưu tâm đến trọng trách phải
cứu trợ các dân nước, quyền lợi ít, khí cụ sản xuất còn thiếu,
để giúp tiến hóa mau hơn về mặt kinh tế xã hội.
165. Để thực hiện cao vọng đó, nơi nào cũng có những
tổ chức quốc tế hay quốc gia, những hội đoàn công và tư, để
cứu trợ các dân chậm tiến một cách quảng đại hơn, cấp cho
họ những phương tiện khoa học chuyên môn hữu hiệu hơn.
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 225
Thanh niên từng trăm từng ngàn được mọi sự dễ dàng sang
học ở các Đại học đường đã thành lập tại các nước tiền tiến,
và nhờ đó được huấn luyện về khoa học, kỹ thuật đúng theo
nhu cầu của thời đại. Tiện dịp đây, ta cũng ca ngợi những
hành động bác ái này cho xứng với công nghiệp của họ.
Nhưng ta ước mong các nước sung túc sẽ cố gắng hơn nữa để
số người mới rảo bước trên đường khoa học, kỹ thuật kinh tế
mỗi ngày một đông hơn.
166. Về phương diện này, giáo mục buộc ta khuyên
thêm đôi lời:
167. Các nước còn đang ở trong thời kỳ nền kinh tế
phôi thai, cần khôn ngoan rút kinh nghiệm nơi các nước đã
thịnh vượng vì những cố gắng lâu năm trước
168. Phân chia của cách công bằng:
Tăng gia sản xuất mãi cũng cần, nhưng cần hơn là phân
phối sản phẩm cho công dân hưởng lợi cho đồng đều, đó là
luật công bằng đòi hỏi. Phải cố gắng cho sự phát triển kinh tế
đi song song với những tiến bộ của xã hội và bảo đảm nền
thăng tiến sao cho từ từ tương đối giữa ba khía cạnh kinh tế:
Canh nông, kỹ thuật và công vụ.
169. Tôn trọng đặc điểm cá tính của từng dân tộc. Một
điều quá hiển nhiên là các quốc gia đang tìm mở mang kinh tế
thường tỏ ra có những đặc điểm cá tính riêng, do vị trí địa dư,
tập tục cổ kính của tiền nhân, và tính tình riêng biệt.
170. Bởi thế, các nước có nền kinh tế phong phú, mà lại
có thiện chí muốn viện trợ cho các nước khác phải đặc biệt
tôn trọng cá tính của họ, vốn kết tinh nên quốc hồn quốc túy
của từng dân tộc. Nên các nước viện trợ đừng bắt các dân
chậm tiến phải mô phỏng theo nếp sống của mình.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 226
171. Chính trị không vụ lợi:
Lại nữa, các nước tiền tiến viện trợ cho các nước chậm
tiến phải hết sức đề phòng để khỏi lấy cớ viện trợ mà biến
hóa chính thể của nước đó theo lợi ích riêng của mình rồi tìm
cách xâm chiếm chinh phục họ.
172. Âm mưu như vậy, ai cũng công nhận rằng, viện trợ
chỉ là một đường lối đưa đến chế độ thuộc địa xưa. Danh từ
viện trợ nghe rất kêu và đáng kính biết bao ! Nhưng vì trong
âm thầm mưu kế như trên, chỉ là tìm cách tái lập chế độ thuộc
địa mới đã bị các dân tộc đánh đổ. Làm thế, mối giao tế giữa
các quốc gia sẽ lâm nguy, hòa bình thế giới sẽ bị lung lay.
173. Bởi thế nên đạo nghĩa và công bằng đòi ở các
nước đứng viện trợ về kỹ thuật và tài chánh phải hết sức vị
tha và gạt bỏ mọi chủ trương thống trị mà chỉ nhằm mục đích
là giúp các nước chậm tiến chóng đến ngày đủ điều kiện tự
mình phát huy nền kinh tế xã hội của họ.
174. Nhờ đó, các dân tộc mới thành một đại đồng quốc
tế mở rộng cho từng quốc gia ý thức nghĩa vụ và quyền lợi
riêng để thành thực góp phần vào công ích quốc tế.
175. Phân biệt giá trị mỗi sự vật:
Hẳn rằng khoa học và kỹ thuật tiến triển, nền kinh tế
phồn thịnh tất nhiên trình độ văn minh của các dân tộc cũng
được tăng lên nhiều. Nhưng dầu quý hóa bao nhiêu, những
vật phẩm ấy cũng không đáng gọi là những vật phẩm có giá
trị tuyệt đối, nhưng chỉ là đường lối tiến tới hạnh phúc tuyệt
đối ai cũng mong ước.
176. Ta rất ưu sầu khi thấy ngay ở các nước tiền tiến bao
người không đủ sáng suốt phân biệt giá trị riêng của mỗi sự
vật. Nhưng của quý phần hồn đều bị coi rẻ, bỏ quên, phủ
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 227
nhận. Còn những sáng kiến của khoa học và kỹ thuật, những
tiến bộ của kinh tế, hạnh phúc vật chất hứa hẹn được tôn kính
như thể đó là cứu cánh đời sống con người. Bởi thế, ẩn khuất
dưới những cố gắng viện trợ cho các nước chậm tiến, có bao
tệ đoan khốc hại. Nhưng đa số nước chậm tiến vẫn giữ
nguyên những lập trường luân lý cổ kính, và lấy lương tâm
làm luật mực cho mọi hành động công cộng hay tư nhân của
họ.
177. Vì thế, ai động đến những truyền thống cổ kính đó
là nhúng tay vào tội ác đáng bị kết án. Nên mọi người phải
tôn trọng lòng đạo của họ, và cố gắng làm cho thêm phần tinh
tế, hoàn hảo hơn, vì căn bản bất khả xâm phạm của một nền
văn minh chính đáng là lòng đạo đức sáng suốt nhận thực giá
trị của mỗi sự vật.
Giáo hội tôn trọng cá tính riêng của từng dân.
178. Giáo hội nói riêng, theo luật bao quát của thiên
định cho toàn thể nhân loại, và Giáo hội ở mọi nơi đưa cánh
ôm ấp mọi dân tộc.
179. Lịch sử và kinh nghiệm dạy rằng: Các dân tộc
không thể nào gia nhập vào nhiệm thể Chúa Kitô, mà không
hưởng lợi gì về kinh tế và xã hội. Thực ra, không ai xưng
mình là kitô hữu mà không thấy mình bị bó buộc phải cải
thiện mọi tổ chức dân sự tùy theo tài sức. Những tổ chức đó
được cải thiện thì nhân cách con người mới được tôn trọng,
mọi trở lực ngăn cản việc làm mới được loại trừ, và tất cả mọi
sự đưa đến lẽ phải và đạo nghĩa mới được ủng hộ.
180. Hơn thế nữa, Giáo hội thâm nhập vào trong tận cốt
tủy của mỗi dân tộc không phải chỉ là một ngoại lực, và cũng
không nhận mình là một tổ chức chỉ ảnh hưởng đến họ ở bên
ngoài. Nhưng Giáo hội có mặt ở đâu thì ở đó có con người
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 228
thấy mình vừa tái sinh, vừa hoàn sinh trong Chúa Kitô hầu như
từ ở trong lòng. Thực ra ai tái sinh hay hoàn sinh trong Chúa
Kitô sẽ không bao giờ cảm thấy mình bị áp lực nào bên ngoài
ép buộc. Người ấy thấy mình được giải phóng từ trong nội
tâm, như mình mới được tư do hướng về với Chúa, và được
thư thả mong mỏi sự chân thiện mỹ. Nhờ mình hóa theo và
thực hành những sự cao quý ấy, thì nhân cách hóa mình mình
mới kiện toàn và hoàn hảo.
181. Đức tiên Giáo hoàng Piô XII đã minh giải điều ấy
rằng Giáo hội Chúa Kitô, trung thành kế nghiệp Thiên Chúa
khôn ngoan chỉ giáo cho nhân loại. Giáo hội không thể nào có
dã tâm đả kích hay khinh thường những đặc điểm cá tính của
từng dân tộc kính cẩn duy trì và rất tự hào tìm phát triển như
một di sản quý giá. Giáo hội chỉ chủ trương thống nhất nhân
loại về mặt siêu nhiên, trong một tình nghĩa huynh đệ rộng
như trời bể, ai cũng phải thấy và quyết thể hiện, mà không
phải chỉ mong đồng hóa các dân tộc trong một đời sống giống
nhau, nông cạn, bề ngoài làm cho hao mòn sinh lực của từng
nước. Tất cả những khuynh hướng, những mối lo đã quy về
mục đích làm phát triển một cách đồng đều và khôn ngoan,
những sinh lực riêng biệt, những đặc điểm cá tính đã đâm rễ
sâu vào quốc hồn quốc túy của từng dân tộc, nếu không có gì
trái ngược với những nghĩa vụ căn bản loài người phải chịu
nhận vì cùng một nguồn gốc và một cứu cánh thì được Giáo
hội hết sức hoan nghênh và mong có ngày được thỏa mãn với
cả một lòng mẫu tử thành thực.
Kitô hữu góp công vào sự phát triển quốc gia.
182. Ta hân hạnh nhận thấy những công dân kitô hữu
các nước chậm tiến không chịu thua kém ai trong việc góp
công vào sự phát triển kinh tế xã hội ở nước họ.
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 229
183. Mặt khác, ở những nước tiến triển, giáo dân không
ngừng đua nhau thúc đẩy nước họ tăng gia những công cuộc
viện trợ cho các dân đang ở trong cảnh cơ cực, chóng được
mở mang về kinh tế và xã hội. Về phương diện đó ta đặc biệt
tán dương những sự giúp đỡ thanh niên Á Phi, mỗi năm một
nhiều, cho họ sang du học trong các nước Âu Mỹ để được
huấn luyện sâu rộng và riêng về kỹ thuật. Ta cũng rất tán
thành những cố gắng huấn luyện cho các nước ấy đủ chuyên
viên và cán bộ sành sõi đủ khả năng giúp họ phát triển kinh
tế và xã hội.
184. Nói tóm lại, ta thành thực và ưu ái ghi ân, khích lệ
tất cả các kitô hữu, con yêu quý của ta, dầu rải rác khắp mọi
nơi, nhưng vẫn tận tụy cộng tác vào những tiến bộ của các
dân tộc và củng cố nền văm minh thế giới. Họ biện chứng
cho Giáo hội có sẵn một nguồn sinh lực vĩnh cửu và vô cùng
hữu hiệu.
Tình trạng tăng gia nhân khẩu và mở mang kinh tế.
185. Đã từ mấy năm nay, cả thế giới thắc mắc tự hỏi
rằng: Làm thế nào để giữ thế quân bình, giữa nền kinh tế,
vốn phải cấp đủ kế sinh nhai cho nhân loại, và số nhân khẩu
càng tăng lên mãi, hoặc trong phạm vi quốc tế hoặc trong
phạm vi riêng của những quốc gia kém mở mang.
186. Trong phạm vi quốc tế, không thiếu những người
nhận rằng: Theo những sở thống kê đáng tin cậy, sẽ không
còn mấy chục năm nữa, nhân loại sẽ tăng lên cách lạ theo
nền kinh tế thì dù phát triển mạnh cũng không sao tiến theo
cùng đà với số người tăng lên. Họ kết luận rằng, không hạn
chế sự sinh sản của nhân loại, thì một ngày gần đây, nền kinh
tế và số nhân khẩu sẽ mất hẳn thăng bằng.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 230
187. Lược qua mấy sổ thống kê của các nước kém mở
mang, ai cũng phải nhận rằng: Nhờ những phương kế vệ sinh
và y tế được phổ biến mau chóng, số các trẻ em chết yểu sẽ
giảm đi nhiều, đời sống nhân dân, xét trung bình đã được kéo
dài hơn. Những nơi số sinh cao thì vẫn cao, và chắc sẽ giữ mãi
như thế, ít thay đổi trong nhiều năm nữa. Nhưng trong khi số
sinh trổi vượt hơn số tử, khiến con người thêm đông, nền kinh
tế không thể tăng lên kịp. Như thế ở các nước đó ta không có
hy vọng nâng cao mực sống nhân dân. Trái lại, vẫn sút kém.
Do đó, nhiều người kết luận rằng: Không còn phương pháp
nào tránh được tình trạng cực đoan ngoài phương pháp ngăn
cản hay hạn chế việc sinh sản của con người.
Vấn đề này được nêu lên trong phạm vi quốc tế.
188. Thực ra, trong phạm vi quốc tế đem so sánh số
nhân khẩu với những nguồn lợi loài người đã có sẵn có thể
dùng được, ta không thấy dấu hiệu nào đáng lo ngại. Tương
lai gần đây cũng không gây thắc mắc là bao. Những lý lẽ
người ta đem trình để bắt con người hạn chế sinh sản, một
phần gây những cuộc tranh luận nên không thể căn cứ vào đó
mà kết luận chắc chắn phải hạn chế sự sinh sản để loài người
khỏi lâm nguy.
189. Ngoài ra, Chúa khoan nhân và khôn ngoan tuyệt
đối đã dựng nên thiên nhiên đầy tài nguyên vô tận, loài người
lại được dựng sinh có trí óc lỗi lạc, nhờ đó con người cải hóa
những tài nguyên của thiên nhiên để mình đủ thỏa mãn nhu
cầu hồn xác không bao giờ thiếu. Như thế, ta không thể giải
quyết vấn đề theo những đường lối trái ngược với luân lý
Chúa an bài và phạm đến nguồn sinh sản tiềm tàng trong con
người. Trái lại nhờ khoa học chuyên môn, con người luôn
sáng kiến và các dân tộc đua nhau khám phá ra những tiềm
lực của thiên nhiên và tìm cách chinh phục muôn vật trong vũ
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 231
trụ ngày một nhiều hơn. Những tiến bộ được thể hiện về mặt
đó, là một mối hy vọng vô bờ bến, hằng bảo đảm tương lai.
Đặt vấn đề trong những nước chậm tiến.
190. Tuy nhiên, ta thừa biết rằng: Có những địa phương
và những nước nguồn lợi quá ít, nên vấn đề nhân khẩu rất
phức tạp nhiều khi những dân nước đó gặp bao nhiêu trở
ngại. Nền kinh tế xã hội chưa được phát triển để dân số càng
ngày càng đông tìm được nơi họ sinh sống những phương tiện
sinh nhai cân xứng đầy đủ. Đó cũng là do các quốc gia thiếu
đoàn kết nên chưa ý thức được mối liên hệ tự nhiên ràng
buộc họ lại với nhau.
191. Nhưng dù sao ta cũng công nhiên tuyên bố rằng:
Không ai được đặt vấn đề và tìm giải pháp ở những cách thức
hay ở những phương kế nào tự nhiên trái với phẩm giá đặc
biệt của con người, theo quan niệm của phe duy vật, chỉ nhận
con người là một con vật tinh xảo hơn, và mạng sống những
chỉ toàn là vật chất như muôn vật chất khác trong thiên nhiên.
192. Vấn đề này không thể giải quyết được, cho từng cá
nhân và cho cả xã hội, nếu sự tiến bộ của kinh tế xã hội coi
thường những giá trị chân chính của nhân loại. Vậy điều đáng
tôn trọng hơn cả là nhân phẩm của toàn thể nhân loại nói
chung, và mạng sống của từng cá nhân nói riêng. Ngoài ra,
vấn đề này chỉ có thể giải quyết trong sự hợp tác của các dân
tộc trong phạm vi quốc tế. Vì có sự hợp tác này, các vật phẩm
cần thiết mới được lưu thông đồng đều, nhất là những kiến
thức, số vốn, và chuyên viên.
Luật lệ truyền sinh.
193. Ở đây, ta long trọng tuyên bố lại rằng: Giữa nhân
loại sự sống chỉ di truyền được trong và nhờ gia đình. Gia đình
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 232
lại căn cứ vào một cuộc hôn nhân đối với toàn thể nhân loại
là một cuộc đơn và vĩnh hôn, đối với các kinh tế là một bí tích
cao thượng. Việc truyền sinh là một việc ý thức và cố tình,
nên việc đó phải tuân theo luật lệ khôn ngoan của Chúa, là
luật bất di bất dịch và bất khả xâm phạm, người nào cũng phải
nhìn nhận và tuân giữ. Như thế dầu có những phương pháp và
những cách thức người ta có thể áp dụng được vào việc
truyền sinh của súc vật hay cây cối, cũng không ai được đem
áp dụng vào sự truyền sinh của nhân loại.
194. Mạng sống nhân loại không những chỉ phát nguồn
ở nơi con người, nhưng còn do sự tạo thành của Thiên Chúa.
Nên ai cũng phải nhận thực là một việc thánh. Ai phạm đến là
lỗi luật Chúa, phạm đến uy quyền của Chúa, làm nhục bản
thân mình và khiến loài người mất cả giá trị riêng. Hơn thế
nữa, kẻ ấy làm suy nhược cả khối sinh lực của quốc gia nữa.
195. Như thế, việc quan hệ hơn cả là phải huấn luyện
thế hệ thanh niên mới, không những về phương diện văn hóa
tôn giáo, đó là phận sự đòi hỏi người làm cha mẹ nhưng còn
huấn luyện họ và những trọng trách họ phải ý thức, và đảm
nhận suốt trong đời sống, nhất là việc lập gia đình, sinh trưởng
và nuôi dạy con cái. Tuổi thanh niên phải đặt tin tưởng ở
Chúa quan phòng, mà lại quyết định chịu đựng mọi sự vất vả
hy sinh, tự nhiên có kèm theo sứ vụ cộng tác với Chúa trong
việc sinh sản và giáo dục con cái để hoàn tất sứ vụ cao siêu
đó. Những ơn phúc và những huấn lệnh cao siêu của Chúa
Kitô được Giáo hội nâng đỡ bằng những huấn lệnh và ơn
phúc siêu nhiên vẫn chứa chan nơi Người. Không kể những lý
do khác, ta nói được chính vì lý do ta mới nhắc đến, mà Giáo
hội có quyền đòi hỏi tự do thể hiện sứ mệnh của mình.
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 233
Mục đích các thổ sản là để thỏa mãn nhu cầu của nhân loại.
196. Sách Sáng thế viết: “Loài người nguyên thủy được
Chúa dựng nên và ban hai huấn lệnh bổ quyết nhau: Hãy sinh
sản cho nhiều. Hãy làn tràn khắp mặt đất và chế ngự cả hoàn
cầu”.
197. Huấn lệnh thứ hai không bảo tiêu diệt mọi thổ sản
vật chất, nhưng là: chinh phục để nhân loại có đủ các thứ cần
thiết.
198. Vì thế, ta rất lo ngại khi thấy đời ta đầy những mâu
thuẫn khốc hại: một đàng người ta diễn lại cảnh thê thảm của
nhân loại sắp bị tàn phá vì nạn đói. Mặt khác nhờ những phát
minh của khoa học, những tiến bộ của kỹ thuật, những tài
nguyên kinh tế dồi dào, người ta đua nhau sử dụng để chế tạo
những khí cụ phá hoại giết chóc nhân loại một cách kinh
khủng.
199. Chúa quan phòng đã ban cho nhân loại đủ phương
tiện để ai cũng gánh được trọng trách dưỡng sinh con cái và
giữ nguyên nhân phẩm của mình. Nhưng khi con người lạc trí,
lòng gian dùng những phương tiện nói trên một cách trái
ngược với tự nhiên, cứu cánh xã hội, và ý tiền định của Chúa,
thì nhân loại không còn phương pháp nào nuôi thân và truyền
nòi giống xứng đáng với con người nữa.
Sự cộng tác quốc tế.
Vấn đề nhân sinh ngày nay là vấn đề quốc tế.
200. Khoa học và kỹ thuật tiến bộ. Nhưng mối giao tế
giữa các nước trong mọi phạm vi xã hội ngày một chặt chẽ,
thân mật hơn. Như thế các nước liên hệ nhiều hơn.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 234
201. Cũng vì thế mà bất cứ một vấn đề hệ trọng nào
hoặc trong phạm vi khoa học kỹ thuật kinh tế xã hội, hay
trong phạm vi chính trị văn hóa, cũng không giải quyết riêng
giữa mấy quốc gia với nhau nhưng phải có nhiều nước liên hệ
hay cả thế giới tham gia mới giải quyết thỏa đáng được.
202. Dù những quốc gia có nền văn hóa và giáo dục
cao độ, công dân đông và chuyên môn nền kinh tế dồi dào,
nguồn lợi phong phú, diện tích rộng lớn, cũng không thể giải
quyết một mình những vấn đề trọng đại ấy một cách thích
đáng được. Các quốc gia cần phải bổ khuyết nhau. Nên
không quốc gia nào mưu lợi ích riêng, nếu quốc gia ấy đồng
thời không mưu ích chung cho các quốc gia khác. Chính
những đòi hỏi của một đời sống văn minh, bắt buộc các nước
ngày nay phải hòa hợp và trợ giúp nhau.
Một trở lực khó vượt qua: lòng ngờ vực nhau.
203. Điều đó mỗi người và mỗi quốc gia đều xác nhận.
Đó là những nguyện vọng của dân chúng nhưng hầu như
không ai, nhất là không nhà cầm quyền nào đủ sức làm thỏa
mãn được. Không phải họ thiếu phương tiện khoa học kỹ
thuật hay kinh tế thích nghi nhưng họ ngờ vực nhau. Thật ra,
con người nói riêng, các chính phủ nói chung đều sợ nhau.
Các quốc gia sợ nhau âm mưu làm bá chủ và chờ đón cơ hội
thuận tiện để thi hành thủ đoạn. Vì thế, các nước chuẩn bị
quốc phòng, sắm võ khí với mục đích cảnh cáo đối phương
không nên gây hấn.
204. Tình trạng đó đem đến hậu quả là bao nhiêu nhân
lực và tài nguyên được các dân tộc sử dụng để chuẩn bị chiến
tranh, là một thiệt hại lớn lao cho xã hội không đem đến lợi
ích gì. Loài người xét theo từng cá nhân và từng quốc gia đều
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 235
sống trong lo sợ không dám làm những việc trọng đại cần
thiết.
Những quan niệm sinh hoạt mâu thuẫn nhau.
205. Sở dĩ nhân loại sống trong tình trạng đó vì nhân
loại và riêng các nhà giữ vận mệnh quốc gia hành động theo
những quan niệm tương phản nhau trong đời sống. Bao người
quả quyết rằng: Trổi vượt thời thế hoàn cảnh để hướng dẫn
nhân loại nhưng không có luật lệ cần thiết, phổ thông, buộc
chung mọi người như nhau về chân lý và công bằng. Vì chối
luật công bằng duy nhất buộc chung mọi người, không còn ai
hòa hiệp với nhau một cách an toàn trong bất cứ vấn đề nào.
206. Phải nhận rằng những danh từ “công bằng” hay
những đòi hỏi của công bằng luôn vang dội trên môi miệng
mỗi người, nhưng không ai hiểu như ai, nhiều khi mỗi người
hiểu theo một ý khác hẳn nhau. Như thế dù các nhà cầm
quyền hết sức cổ võ mọi người tôn trọng công bằng, hãy lo
tuân giữ những đòi hỏi của công bằng, họ cũng không đồng ý
với nhau, nhiều khi họ lại gây dịp cho những cuộc tranh luận
bùng nổ. Như thế để bảo vệ quyền lợi và tài sản, người ta chỉ
còn phương pháp là dùng võ lực. Nhưng võ lực sẽ nảy sinh tai
họa.
Ai cũng phải nhận một pháp luật và nguồn chân lý
buộc chung mọi người.
207. Vậy các quốc gia không thể nào tín nhiệm nhau
một cách vĩnh viễn và mỗi ngày một tăng cường hơn, nếu họ
không xác nhận và quyết thi hành những luật lệ căn bản của
chân lý và công bằng.
208. Trật tự luân lý chỉ có một căn cứ vĩnh viễn là Thiên
Chúa, tách khỏi Thiên Chúa trật tự luân lý sẽ tan rã. Con
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 236
người không phải chỉ là một thể xác nhưng còn là một thần trí
ý thức tự do. Vì thế, con người căn cứ vào tôn giáo, một nội
lực mãnh liệt hơn mọi áp lực từ bên ngoài; hữu hiệu hơn mọi
tư lợi riêng để giải quyết những vấn đề đời sống cá nhân và
xã hội trong phạm vi quốc gia, và cả cộng đồng xã hội quốc
tế.
209. Ngày nay không thiếu người căn cứ vào những tiến
bộ của khoa học và kỹ thuật quả quyết rằng con người tự
nhiên đủ sức vươn mình lên một trình độ văn minh tuyệt đối,
không cần có Thiên Chúa phù lực. Sự thật trái lại. Khoa học
và kỹ thuật càng tiến triển lại càng nêu nhiều vấn đề quốc tế,
không ai giải quyết được nếu họ không chịu nhận uy quyền
của Thiên Chúa, vừa là Đấng tạo Hóa và bá chủ hoàn cầu.
210. Chính những cuộc phát minh của khoa học mở
rộng trước mặt người ta một chân trời mênh mông vô tận.
Thấy thế không thiếu người có thiện chí thành thực nhận rằng
các nhà toán học khám phá ra được mọi hiện tượng trong
thiên nhiên, nhưng họ không sao thấu hiểu bản tính và sự
biến chuyển của muôn vật. Nhiều nhất họ chỉ đề nghị được
một vài giả thuyết hữu lý. Mãi đến khi con người mục kích rõ
ràng rồi họ mới nhận khối lượng khổng lồ kỹ thuật máy móc
họ đang sử dụng vào trong các công việc xây dựng, tàn phá,
mưu ích, phá hoại cho các dân, khi đó họ mới nhận loài người
phải tôn trọng tinh thần và luân lý hơn mọi nguồn lực khác.
Muốn cho khoa học và kỹ thuật dẫn đưa nhân loại đến chỗ
văn minh thực thụ mà không đưa đến những thiệt hại khác
phải triệt để áp dụng các luật định đó.
211. Mặt khác những quốc gia nào dân chúng vươn
mình lên địa vị sinh hoạt cao thượng mọi người được thỏa mãn
các nhu cầu, họ sẽ không mơ tưởng địa đàng nào nữa. Nhưng
nếu họ ngày càng ý thức con người có nhân cách đặc biệt và
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 237
kèm theo nhân cách đó lại có những quyền lợi chung, những
quyền lợi bất khả xâm phạm. Nên họ sẽ dùng mọi phương
thế để đối xử với nhau một cách công bằng và xứng đáng
phẩm giá con người hơn. Như thế là họ nhận sự bất lực của
từng cá nhân, và hơn bao giờ hết, họ đoàn kết với nhau để đề
cao tinh thần hơn vật chất. Nhờ dấu đó ta rất có thể hy vọng
ngày mỗi người và mỗi quốc gia thành thực hợp tác với nhau
để bắt đầu cuộc tương giao chân thành và hữu hiệu.
PHẦN THỨ TƯ
IV. HUẤN TỪ MỤC VỤ VỀ CHÂN LÝ CÔNG BẰNG
VÀ BÁC ÁI
212. Ngày nay cũng như hồi xưa, những sự phát minh
của khoa học và kỹ thuật ảnh hưởng rất nhiều đến những mối
giao tế trong xã hội. Vì thế ai cũng phải lo cho khoa học và
nghệ thuật thăng tiến mãi để cân xứng với chức vị con người
hơn, không những trong từng quốc gia nhưng trong cả đời
sống quốc tế nữa.
Những học thuyết sai lạc hay thiếu sót
213. Để bước tới mục đích ấy, người ta đã nghĩ ra bao
học thuyết khác nhau. Học thuyết này mới phát xuất đã tiêu
tan ngay như sương bình minh. Học thuyết kia vừa phát xuất
đã phải thay đổi tận gốc rễ. Những học thuyết khác dù đã có
những hấp dẫn rất mạnh đối với nhân loại nhưng dân chúng
ngày bỏ đi càng nhiều vì những học thuyết ấy không tìm hiểu
sâu rộng và toàn diện về con người. Nhân tính con người còn
bao khuyết điểm mà những học thuyết trên hầu như không
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 238
quan tâm tới, như bệnh tật và sự đau khổ, hệ thống kinh tế xã
hội nào dù hoàn hảo tới đâu cũng không sửa chữa hết được.
Ngoại trừ loài người tự nhiên có một tinh thần tôn giáo sâu
rộng và mãnh liệt, không một lực lượng nào trên trần gian có
thể tiễu trừ hay vùi lấp đi được.
214. Đời ta bây giờ có một lỗi lầm rất lớn khi tuyên bố
tinh thần tôn giáo vốn do Tạo Hóa ghi sâu vào nhân tâm, chỉ
là một ảo tưởng, một mê tín, nên phải tiễu trừ ra khỏi lòng
người vì đó chỉ là hành động lỗi thời ngăn cản nền văn minh
tiến bộ. Trái lại, tinh thần tôn giáo cao quý phát nguyên từ
đáy lòng người là một tang chứng con người bởi Thiên Chúa
dựng nên và hướng về với Chúa, theo lời thánh Augustino đã
nói: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con để chúng con
quy hướng về Chúa, nên lòng chúng con lo âu, bồn chồn mãi
cho đến khi được yên nghỉ trong Chúa”.
Thiên Chúa căn bản cần thiết của mọi tổ chức công
bằng.
215. Vì thế, dù khoa học chuyên môn tiến triển mãi,
dầu nền kinh tế xã hội được tổ chức tinh xảo, chỉ khi nào loài
người ý thức được rằng họ được Chúa dựng nên và được tôn
làm con Chúa, vừa là nguồn gốc vừa là cứu cánh của muôn
vật, khi đó thế giới mới sống công bằng và hòa bình được.
Loài người lạc xa Thiên Chúa nên mất luôn cả nhân tính cao
quý đối với mình và đối với anh chị em đồng loại. Những mối
tương giao giữa nhân loại đều do từng người ý thức mình tùng
phục và hướng về Thiên Chúa là nguồn chân lý công bằng và
bác ái độc nhất hay không.
216. Một điều ai cũng nhận thực là hiện nay trong bao
quốc gia văn minh công giáo cổ kính, các kitô hữu, anh chị
em và con cái của ta, bị bách hại khổ sở từ lâu năm. Cái mâu
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 239
thuẫn giữa tinh thần ưu thắng của kẻ bị bách hại, và sự gian ác
của những người bách hại, dầu không đủ sức hấp dẫn những
người chủ mưu hồi tâm lại, nhưng cũng khiến cho bao người
có thiện chí phải kinh ngạc suy nghĩ.
217. Đời ta điên cuồng hết chỗ nói vì đang khi xây dựng
trật tự xã hội vật chất trên những nền tảng bền vững và phong
phú, nó cũng mưu trí loại trừ Thiên Chúa cao cả là căn bản
độc nhất uy quyền. Nó lại đề cao phẩm chức nhân loại cao
đến đỉnh trời, nhưng đồng thời cũng tìm diệt trừ nguồn gốc tự
nhiên phát sinh và nuôi dưỡng lòng người, bằng cách đè nén
và nếu có thể giập tắt luôn khuynh hướng cao siêu vốn hướng
dẫn nhân loại về với Thiên Chúa. Những tai họa mới xảy ra,
đã đánh tan bao nhiêu mối hy vọng rực rỡ, đã gây bao khốc
hại cũng chứng minh lời Kinh Thánh đã chép: “Nếu chính
Chúa không cất nhà, thì thợ xây đều làm việc vô ích”.
Ý nghĩa và giá trị học thuyết xã hội công giáo.
218. Học thuyết xã hội công giáo có một giá trị đặc biệt
muôn đời là điều không ai hồ nghi.
219. Nguyên tắc thiết yếu, là con người vừa là nền tảng
và là nguyên nhân, cũng là cứu cánh của mọi tổ chức xã hội.
Con người có tính cách xã hội, và đã được tôn lên địa vị siên
nhiên tức là trổi vượt mọi địa vị tự nhiên đã chiếm được.
220.Căn cứ vào nguyên tắc thiết yếu đó, là nguyên tắc
diễn tả chức vị cao thượng của con người. Giáo hội nhất là
trong thế kỷ vừa qua đã soạn thảo một học thuyết xã hội nhờ
sự cộng tác của các linh mục và giáo dân chuyên nghiệp.
Trong học thuyết đó, Giáo hội quy định rõ ràng những mối
tương giao giữa nhân loại phải tổ chức theo những luật lệ phổ
thông nào. Những luật lệ này trên thực tế, vừa rất thích hợp
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 240
với đủ mọi tình trạng xã hội, và những đặc điểm thời đại của
ta, nên ai cũng chấp nhận được.
221. Nhưng không bao giờ bằng lúc này, học thuyết đó
phải được phổ biến tìm hiểu sâu rộng, và thể hiện trong đời
sống dưới những hình thức và bằng những phương thế hữu
hiệu, do thời đại, hoàn cảnh cho phép hay đòi hỏi. Đó là một
việc vĩ đại, ta tha thiết yêu cầu toàn thể giáo dân, và tất cả
những người có thiện chí hãy tận tâm hiệp lực tham gia.
Học hỏi và phổ biến học thuyết xã hội công
giáo.
222. Trước hết ta tuyên bố rằng: học thuyết xã hội công
giáo trình bày đây là một thành phần thiết yếu của toàn bộ
giáo lý mà Giáo hội luôn rao giảng về đời sống con người.
223. Nên ta ước mong học thuyết xã hội này được toàn
thể giáo dân học hiểu ngày một sâu rộng hơn. Ta lại yêu cầu
các trường công giáo trong mọi cấp bậc, và nhất là các chủng
viện hãy biên ghi học thuyết xã hội công giáo trong chương
trình học tập bắt buộc của họ. Thực ra ta đã được biết, có rất
nhiều học đường công giáo đã giảng dạy học thuyết đó, mà
lại giảng dạy rất chu đáo từ lâu năm. Ta cũng ước mong được
thấy học thuyết xã hội công giáo, nhập vào chương trình giáo
lý của các giáo khu, và các hội đoàn tông đồ giáo dân rồi nhờ
phương pháp tối tân: nhật báo, nguyệt san, sách vở thường
thức hay nghiên cứu khoa học, đài phát thanh và vô tuyến
truyền hình.
224. Thiết tưởng các đoàn thể giáo dân, có thể được
hợp tác vào các việc phổ biến học thuyết xã hội công giáo
này một cách rất hiệu nghiệm, nếu họ không những tìm hiểu
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 241
áp dụng trong đời sống riêng của họ mà còn khôn khéo tận
tâm tìm dịp giải nghĩa cho các anh em bạn hữu nữa.
225. Anh em phải tin tưởng rằng giới thiệu học thuyết
xã hội công giáo là phương pháp hiệu lực để giải quyết mọi
vấn đề của thời đại cũng là minh chứng học thuyết ấy chân
thực và hiệu nghiệm. Như thế anh em rất có thể hấp dẫn luôn
cả những người xưa nay đã bài bác học thuyết xã hội công
giáo vì họ chưa hiểu rõ, và có lẽ còn chiếu vào tâm trí họ một
vài tia sáng cứu chuộc.
Một nền giáo dục hòa hợp với học thuyết xã hội
công giáo.
226. Một học thuyết xã hội, phải trình bày trước mặt
người ta, nhưng cũng phải thể hiện nữa. Áp dụng học thuyết
xã hội công giáo điều đó càng rõ ràng hơn, vì học thuyết đó
có chân lý làm nguồn sáng, công bằng làm cứu cánh và bác
ái làm động lực.
227. Như thế, giáo dân không những phải học hiểu học
thuyết xã hội của Giáo hội mà phải được giáo dục theo học
thuyết ấy nữa.
228. Một nền giáo dục phải bao quát tất cả mọi nghĩa vụ
của con người. Như thế những kitô hữu được giáo dục chu
đáo, phải ăn ở đúng theo học thuyết xã hội công giáo trong cả
phạm vi kinh tế và xã hội.
229. Nhưng trong thực hành bất cứ lý thuyết nào cũng là
khó. Phương chi thực hành học thuyết xã hội công giáo còn
khó hơn nữa, vì nhiều lý do: Lòng người có tính ích kỷ, xã hội
hiện tại chịu ảnh hưởng duy vật chủ nghĩa, còn trong cơ hội
cụ thể, nhiều khi chúng ta khó minh xác điều nào hợp lý điều
nào không hợp với công bình.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 242
230. Như thế giảng dạy cho con người hiểu học thuyết
xã hội công giáo buộc phải ăn ở thế nào cho hợp trong phạm
vi kinh tế xã hội vẫn chưa đủ, nhưng họ còn phải biết rõ
phương pháp cần thiết để họ luôn hoàn tất nghĩa vụ đó.
Giáo dục thực nghiệm:
231. Vậy thiết tưởng, nền giáo dục xã hội sẽ khuyết
điểm rất nhiều nếu đứng cạnh giáo sư, các môn đệ chỉ thụ
động và không chịu hành động để thí nghiệm những bài học.
Lý thuyết khi nào cũng phải kèm theo những kinh nghiệm cụ
thể và những thực hành hữu hiệu.
232. Không ai biết rõ tự do là gì, nếu họ không tập quen
dùng quyền tự do cho phải lẽ. Đó là một tục ngữ chí lý. Trong
phạm vi kinh tế xã hội cũng thế, người ta hiểu biết học thuyết
xã hội công giáo khi họ tận tâm hiệp lực hành động theo học
thuyết ấy.
233. Do đó, các hội đoàn tông đồ giáo dân phải đóng
góp một phần lớn trong việc giáo dục loài người về mặt xã
hội. Nhất là các hội đoàn có mục đích riêng là thực hành đạo
Chúa Kitô trong những công việc thuộc thế tục Vì những thí
nghiệm hằng ngày, các nhân viên nhập vào những hội đoàn
đó sẽ được tự luyện ngày một hơn rồi mới ra huấn luyện tuổi
thanh niên ngày một đông hơn.
Chí hướng kitô hữu về đời sống:
234. Có một điều ta phải nhắc lại cho tất cả mọi người
không phân biệt người ưu thế hay yếu hèn, điều đó chắc
không phải ngoại đề, là chí hướng kitô hữu về đời sống con
người, gồm cả ý chí anh hùng chịu đựng được mọi cực khổ và
sống tiết kiệm nhờ ơn Chúa giúp sức.
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 243
235. Nhưng than ôi ! Ngày nay bao nhiêu người chỉ biết
mê vui. Theo họ, cứu cánh đời sống, là nếm thử mọi thú vui
cho mê say. Họ chỉ có một mối lo, là lo thỏa mãn những tai
hại hồn xác họ có thể phải chịu ? Dù chỉ xét theo lý đương
nhiên ta cũng đủ rõ con người minh chính và khôn ngoan phải
biết ăn ở cho có điều độ và thắng hãm dục tình. Vậy nếu ta
xét theo đạo thánh Chúa mạc khải, thì ta càng phải quyết
rằng: Phúc âm Giáo hội và cả một giáo khoa tu đức muôn
thuở đồng ý yêu cầu giáo dân phải thắng hãm mọi dục vọng
bất chính, và chịu đựng mọi sự khổ đau do đời sống gây nên.
Sự cố gắng tích cực tu thân, trước cho thần trí đoạt thắng thể
xác, được mạnh sức và khôn ngoan hơn, sau là đường lối hữu
hiệu để tỏ lòng đền tội. Ai lại tự đắc là kẻ vô tội ngoài chính
Chúa Kitô và Mẹ vô nhiễm của Người.
Đường lối huấn luyện giáo dân về học thuyết xã hội.
236. Thường ai quyết thực hành học thuyết xã hội phải
trải qua ba giai đoạn: điều tra cho biết tình hình một cách tỉ mỉ;
nhận xét hiện tượng dưới ánh sáng học thuyết công giáo; rồi
quy định đường lối áp dụng vào thời thế hoàn cảnh những
nguyên tắc vĩnh cửu của Giáo hội. Ba giai đoạn ấy, thường
gọi là kiến thức, luận xét và hành động (xem, xét, làm).
237. Đó là phương pháp hành động, thanh niên cần phải
tập để thành chuyên môn. Họ phải áp dụng tùy theo hoàn
cảnh, để học thuyết xã hội công giáo họ đã học hiểu được
kết quả ngay trong thực tế, mà không phải chỉ nằm trong óc
loài người như một lý tưởng trừu tượng không ai thực hiện
được.
238. Trong phạm vi thực hành, sẽ xảy ra những bất
đồng ý kiến giữa những giáo dân rất thành thực. Trong trường
hợp đó, họ phải biết tôn trọng và tìm mọi phương thế hợp tác
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 244
với nhau để kịp thời thực hành những công việc cần thiết theo
những đòi hỏi của thời thế hoàn cảnh. Nhất là họ phải tránh
xa những cuộc tranh luận vô ích chỉ làm tổn sức mà không kết
quả gì. Chỉ tìm những giải pháp tốt nhất mà bỏ những công
việc mình có thể mà lại có phận sự buộc làm ngay là lỗi thời.
Vấn đề giao thiệp với những người chưa nhập
đạo.
239. Thực ra những kitô hữu chuyên môn hành động
kinh tế xã hội, thường hay giao tiếp với những người không
đồng quan điểm với mình về đời sống con người, trong trường
hợp đó, họ phải ân cần tuân giữ lập trường của Giáo hội mà
không được chấp nhận những giải pháp dung hòa có thể làm
thương tổn sự trọn vẹn của công giáo là luân lý. Nhưng mặt
khác, họ phải thông cảm và thành thực tìm hiểu những lập
trường của đối phương không bao giờ tìm tư lợi và sẵn sàng
cộng tác vào những công việc tự nhiên là tốt hay đưa đến
công ích. Chỉ trừ khi giáo phẩm lên tiếng quyết định theo vấn
đề nào thì vấn đề đó giáo dân phải tòng phục tuân giữ. Thực
ra Giáo hội không những chỉ có quyền mà còn có nghĩa vụ
bảo vệ tôn giáo và luân lý cho toàn vẹn và chỉ cách áp dụng
trong thực tế.
NGUYÊN TẮC CĂN BẢN CHỈ HUY MỌI HÀNH
ĐỘNG XÃ HỘI CỦA GIÁO DÂN.
Phận vụ giáo dân.
240. Những nguyên tắc căn bản ta cần đề cập về giáo
dục, cũng có thể áp dụng vào mọi hành động công giáo nữa.
Đó là phận vụ riêng của toàn thể giáo dân vì thực ra giáo dân
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 245
phải hành động trong phạm vi thế trần luôn và thường phải
tham gia vào những tổ chức mục đích hiện thể.
241. Muốn thực hành nghĩa vụ, giáo dân phải có chuyên
môn họ đã đảm nhiệm. Nhưng đàng khác họ phải tận tâm
hiệp lực áp dụng những nguyên tắc và những huấn lệnh của
Giáo hội trong phạm vi xã hội, với một tấm lòng thành thực
đầy tín nhiệm và tòng phục giáo quyền. Họ phải ý thức trách
nhiệm: Nếu họ hành động trong phạm vi thế trần, mà không
tuân giữ những nguyên tắc và những huấn lệnh do Giáo hội
chỉ dạy và nhờ ta xác nhận tại đây thì họ có lỗi với phận sự và
có khi còn phạm đến quyền lợi của anh em, và khiến người
khác hiểu lầm học thuyết xã hội công giáo chỉ là một lý
thuyết rất hay nhưng vô hiệu lực để cải thiện đời sống.
Sự tiến bộ của kỹ thuật và sự phát triển tinh
thần.
242. Một điều ta đã nhắc lại, nhưng còn đáng ghi nhớ là
ngày nay loài người đã hiểu các luật thiên nhiên sâu rộng. Họ
đã sáng chế đủ các máy móc để chinh phục mọi tiềm lực
trong thiên nhiên. Họ đã thể hiện không ngừng bao công việc
vĩ đại đáng khen. Nhưng vì quyết chí chú tâm chinh phục và
cải hóa ngoại giới, loài người sa vào một bước nguy, là quên
mình và làm kiệt quệ nguồn sinh lực hồn xác của họ. Đức Piô
XI đã ưu buồn than phiền rằng: “QA số 146”.
243. Đức Piô XII cũng đồng ý quả quyết rằng: “Đời ta
bây giờ có một đặc tính khiến ai cũng phải ngạc nhiên là đang
khi khoa học và kỹ thuật tiến bộ lạ lùng, thì loài người rút lui
và không ngừng suy đồi về tinh thần tức là về ý thức phẩm
giá đặc biệt của mình. Một kỳ công nhưng cũng là một quái
tượng của thời đại ta là con người biến thành một vật khổng lồ
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 246
trong tự nhiên giới, nhưng về tinh thần, con người chỉ còn là
một tí hon giữa thế giới siêu nhiên vĩnh cửu.
244. Hơn bao giờ hết, lời thánh vịnh xưa về những
người thờ cúng ngẫu thần ngày nay được thực hiện. Con
người hành động mà quên cả phẩm giá tự nhiên của mình.
Con người tuyên dương kỳ công của mình đến nỗi tưởng là
thần. Thần của nó chỉ là vàng bạc do chính tay nó rèn đúc.
245. Là Chúa chiên ân cần chăm sóc toàn thể nhân loại,
thì ta tha thiết khuyên nhủ đoàn con yêu quý, hãy tận tâm với
phận vụ, hãy theo đuổi mục đích cho đến cùng hãy luôn luôn
ý thức trách nhiệm đừng bao giớ thờ ơ quên lãng giá trị thiết
yếu của mọi công việc.
246. Đời nào cũng như đời nào, Giáo hội đã hiểu biết
và giảng dạy rằng: Sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật, và
tình trạng phồn thịnh làm nảy ra là một nguồn hạnh phúc chân
chính, hằng biểu yện một nền văn minh tiến triển. Nhưng ai
cũng phải luận xét sự tiến bộ ấy đúng theo giá trị tự nhiên
của nó, là những phương tiện cần thiết cho loài người bước tới
một cứu cánh cao siêu hơn là thiện hóa đời sống tự nhiên và
cả đời sống siêu nhiên của mình.
247. Mong lời Thày chí thánh của ta, luôn vang dội bên
tai các kitô hữu rằng: “Chinh phục cả thiên hạ mà mất linh
hồn đối với loài người nào có ích gì ? Hay là con người sẽ lấy
gì chuộc lại linh hồn của mình”.
Thánh hóa các ngày lễ của mình.
248. Những lời nhắn nhủ đây bắt buộc ta nhắc lại cho
anh em phận sự nghỉ việc phần xác các ngày lễ.
249. Để bảo vệ phẩm cách nhân loại được Thiên Chúa
dựng sinh và phú ban cho một linh hồn giống hình ảnh của
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 247
Người, Giáo hội đã không ngừng ép buộc mọi người phải
tuân giữ điều răn thứ ba trong Thập giới. “Con hãy thánh hóa
ngày thứ bảy”. Thiên Chúa có quyền lại có thể đòi con người
phải cống hiến một ngày trong một tuần lễ để kính thờ Người,
phải tạm bỏ mọi công việc vật chất mà đem cả lòng trí lên
cùng Chúa và thành thực suy nghĩ đến những nghĩa vụ ràng
buộc mình với Chúa.
250. Đó là một quyền lợi bất khả xâm phạm, và cũng là
một sự cần thiết cho nhân loại. Ai cũng phải ngừng tay nghỉ
việc, và đôi khi dưỡng sức sau những công việc vất vả thường
nhật, để giải trí cho xứng đáng và phục hưng lại trong gia đình
một tinh thần thống nhất, cần cho các gia đình sum vầy an vui
cùng nhau.
251. Tôn giáo luân lý và cả y tế đều đồng ý đòi con
người những ngày nghỉ nhất định. Không biết từ mấy thế kỷ,
Giáo hội đã quy định ngày nghỉ ấy là ngày chủ nhật. Ngày ấy
Giáo hội cũng buộc toàn thể giáo dân phải tham dự thánh lễ,
vừa là kỷ niệm ơn cứu độ cũng là bí tích đem đến cho các linh
hồn những ơn cứu chuộc chứa chan trong Chúa Kitô.
252. Nhưng ta rất ưu sầu, khi thấy bao người có lẽ
không khinh hẳn luật thánh ấy, nhưng không tôn trọng bao
nhiêu. Việc đó thật đáng trách, ta hết sức phản đối. Bỏ luật
thánh đó, là gây thiệt hại cho cả hồn lẫn xác cá nhân yêu quý
của ta.
253. Vì thế, ta quyết đem lại hạnh phúc hồn xác cho
loài người, nhân danh Thiên Chúa, ta nhắc lại cho các công
quyền, chủ nhân và công nhân, phận sự của họ phải tuân giữ
luật thánh Chúa và Giáo hội. Xin họ ý thức trách nhiệm của
họ trước mặt Chúa và xã hội.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 248
Phận sự kitô hữu phải tham gia vào mọi công
việc trần thế.
254. Sau những điều ta mới sơ lược trình bày, không ai,
nhất là các giáo dân có thể kết luận rằng: Nghe vậy ta hãy
khôn ngoan mà tránh xa những hành động tông đồ của ta
trong phạm vi thế trần. Trái lại ai cũng phải kết luận rằng:
Chúng tôi phải cộng tác nhiệt thành vào những việc đó.
255. Trong kinh nguyện cao siêu cầu xin cho Giáo hội
luôn thống nhất, Chúa Giêsu đã khẩn nguyện Đức Chúa Cha
rằng: Lạy Cha chí thánh, đừng cất môn đệ con khỏi thế gian,
nhưng xin giữ họ khỏi mọi sự ác. Đừng ai bảo hai việc thánh
hóa bản thân và tham dự vào những công việc thế trần là hai
việc mâu thuẫn. Nghĩ như thế là lầm. Ai bảo muốn tu thân tích
đức để tới bậc trọn lành của đạo Chúa Kitô thì phải bỏ hết
mọi việc thế tục, ai nói lo việc thế tục là liều mình mất nhân
cách chức vị kitô hữu của ta ?
Nhân cách hóa nền văn minh hiện tại.
256. Trái lại xét theo ý Chúa quan phòng, ai cũng phải
toàn thiện và thánh hóa bản thân nhờ các công việc thường
ngày. Vậy công việc thường ngày đối với đa số các kitô hữu,
là những công việc thế tục. Do đó, sứ vụ hiện tại của Giáo
hội rất nặng nề: Cải hóa nền văn minh hiện tại cho xứng nhân
phẩm con người và cho thích hợp với đạo phúc âm hơn. Sứ vụ
này chính thời thế hiện tại đòi hỏi ở Giáo hội. Ai cũng hy
vọng trước cho đời ta hướng về nguồn phúc cao siêu hơn và
để thế giới khỏi mất những ân huệ bởi những cố gắng tiến bộ
vừa qua, để khỏi bị tan rã và hư đi. Vậy để hoàn tất sứ vụ,
Giáo hội cần phải có toàn thể giáo dân hợp tác: Trong những
hành động thế tục của họ khi họ phải giao thiệp với đồng
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 249
bào, họ phải lo kết hợp với Chúa trong Chúa Kitô, và trong
bất cứ việc gì họ phải làm vinh danh Chúa theo lời Thánh
Phaolô viết: “Bất cứ anh em ăn uống làm việc gì, anh em phải
nói phải làm nhân danh Chúa Kitô nhờ Chúa Kitô mà làm
sáng danh Đức Chúa Cha”.
Đạo Chúa Kitô và sự phát triển nhân cách.
257. Nếu có những hành động hay những tổ chức nào
mưu ích cho con người tiến triển phần hồn và bước tới hạnh
phúc trường sinh thì những hành động và những tổ chức ấy
cũng rất hữu hiệu để giúp con người đạt tới mục đích tự nhiên
của mình. Lời Thầy chí thánh đã phán xưa vẫn áp dụng vào
đời ta bây giờ. Hãy tìm nước Chúa trước rồi các sự vật khác
Chúa sẽ ban cho dư dật. Quả thực ai mà được trở nên toàn ánh
sáng trong Thiên Chúa, ai luôn sống xứng phẩm giá con người
của sự sáng, thường thấy rõ những đòi hỏi của công bằng
trong mọi phạm vi hành động của con người, nhất là ở những
nơi kẻ tham của ham lợi riêng cho họ, cho quốc gia hay chủng
tộc của họ đã gây bao sự trắc trở. Hơn thế nữa, ai đáng sống
vì lòng bác ái của Chúa Kitô, thì không thể nào không quý
mến anh em đồng loại. Kẻ ấy hay thông cảm mọi sự khổ cực
và mọi sự vui buồn của họ như của chính mình. Làm bất cứ
việc gì, họ vẫn bền chí vui vẻ, nhân đạo và thi ân cho người
khác vì lòng bác ái (1Cr 13,47).
Ý nghĩa cần lao đối với những người đã nhập
vào Nhiệm Thể Chúa Kitô.
258. Nhưng ta không thể kết thúc bức thông điệp mà
không nhắc lại nơi đây một tín điều quan trọng, một thực thể
rất cao cả của đạo phúc âm. Chúng ta toàn là những chi thể
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 250
sống động trong Giáo hội là Nhiệm thể của Chúa Kitô (1Cr
13,12).
259. Vì thế, ta tha thiết kêu mời các kitô hữu rải rác
khắp thiên hạ không phân biệt giáo sĩ hay giáo dân là người ta
tin nhận là con yêu quý của ta, hãy ý thức sự cao quý và chức
vị tuyệt đối của họ. Sự cao quý và chức vị đó đã gồm tóm
trong câu Phúc âm:
“Ta là cây nho, anh chị em là ngành lá”. Anh em liên
kết với Chúa Cứu Thế, như các ngành nho tháp vào thân cây
nên anh chị em cùng một sự sống thiên tính với Người. Anh
em càng kết hiệp với Chúa Kitô bằng cả lòng trí, thì công
việc của anh em càng nối dài công việc của Chúa Kitô và nhờ
đó càng có công với việc cứu chuộc nhân loại. Những kẻ nào
ở trong Ta thì cũng ở trong họ, nên kẻ ấy khai hoa kết quả
nhiều. Vì thế, mọi công việc do con người làm ra đã được tôn
cao và thêm giá trị. Công nhân nhờ công việc ấy để đến hoàn
hảo phần hồn thông ơn cứu chuộc cho kẻ khác, nhờ công
việc làm, công nhân sẽ rải rắc ơn cứu độ cho người khác.
Cũng nhờ đó nguyên tắc Phúc âm, tiêm nhiễm cả xã hội dân
sự là cảnh sinh hoạt và lao động của ta, như men trộn vào bột
sẽ làm cho bột hóa nên bánh.
Áp dụng học thuyết thông điệp này vào thực tế.
260. Đời ta bây giờ, ai cũng biết đã đầy tà thuyết nguy
hại và quằn quại trong những hỗn loạn ghê gớm. Nhưng dù
sao cũng là một cánh đồng mênh mông mở rộng cho những
tông đồ của Giáo hội làm việc. Vì thế ta ôm ấp trong lòng bao
hy vọng rực rỡ.
Anh em thân yêu, các con quý mến, Căn cứ vào bức
thông điệp RN của Đức Lêô XIII đã lần lượt suy xét các vấn
đề xã hội đời ta nêu lên. Ta đã định rõ những nguyên tắc, và
HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ 251
ban những huấn lệnh, anh em sẽ suy niệm và cố hết sức áp
dụng vào thực tế. Ai tận tâm với phận sự và bền chí thực
hành những nguyên tắc đó thì sẽ góp phần rất lớn trong việc
củng cố nước Chúa trên mặt đất này. Nước Chúa là nước chân
lý, nước hằng sống, nước thánh thiện và đầy ơn phúc, nước
công bằng bác ái và hòa bình. Sau một thời gian sống ở nước
đó, có ngày chúng ta sẽ được sang nước hạnh phúc trường
sinh nơi Thiên Chúa đã định cho chúng ta từ ngày Người tạo
thiên lập địa, và cũng là nơi ta tận tâm hy vọng được tới.
Học thuyết xã hội công giáo rất hữu hiệu.
261. Thông điệp này trình bày học thuyết xã hội của
Giáo hội công giáo, là hiền mẫu và tôn sư của các dân tộc.
Người là ngọn đèn sáng rực bừng cháy, tiếng nói của Người
đầy khôn ngoan và giáo huấn của Người trải mọi thời đại:
thần lực của Người linh nghiệm bổ túc mọi nhu cầu mỗi ngày
một nhiều hơn của nhân loại, và làm êm dịu mọi mối lo và
mọi khó khăn của đời sống tạm gởi này: Tiếng nói của Người
hòa nhịp với dư âm của Thánh vịnh xưa và không ngừng uỷ
lạo an ủi mọi tâm hồn (Tv 84,9tt).
262. Đó là những lời nguyện chúc ta muốn lưu lại lúc
kết thúc bức thông điệp này ta đã tỏ bày hết nỗi lòng ân cần
lo lắng của ta đối với toàn thể Giáo hội. Ước gì Đấng cứu
chuộc nhân loại mà Thiên Chúa đã tôn lên làm Đấng khôn
ngoan, công bình, thánh thiện làm Đấng cứu thế, chóng được
ngự trị và chiến thắng qua mọi thời gian trong mọi người và
trên hết mọi sự vật. Ước gì xã hội nhân loại chóng được tu bổ
lại, để các dân tộc cùng nhau hưởng thụ một đời sống phồn
thịnh an vui và thái bình.
263. Để làm bảo chứng cho những lời nguyện chúc này,
để đảm bảo tấm lòng hiền phụ của ta, ta rộng tay hết lòng
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 252
thành thực ban phép lành tòa thánh cho toàn thể anh em khả
kính, toàn thể giáo dân, anh em phụ trách chăm nom, và nhất
là cho những kẻ sẽ nhiệt tâm thực hành lời ta khuyên bảo.
Đức Gioan XXIII
15-5-1961
MỤC LỤC
THÔNG ĐIỆP HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ
Giới thiệu thông điệp
Một thông điệp cho kỷ nguyên kỹ thuật
Những trọng điểm mới
Liệt kê các mục của văn kiện:
Vài suy nghĩ về số phận của Mater et Magistra
THÔNG ĐIỆP HIỀN MẪU VÀ TÔN SƯ
Canh tân xã hội: Nguyên tắc căn bản
Nguyên tắc thứ nhất
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI
Nguyên tắc thứ hai
Đức Piô XI và bức thông điệp QA
Thơ tín truyền thanh dịp lễ Chúa hiện xuống
Những biến chuyển mới lạ
Mục đích bức thông điệp này
Những xác định cần thiết về học thuyết xã hội của bức thông điệp RN
Sáng kiến tư nhân và sự can thiệp của chính quyền trong phạm vi kinh tế
Vấn đề xã hội hóa:
Vấn đề lương bổng
Xí nghiệp
Quyền tư hữu
III. Những khía cạnh mới của vấn đề
Ít vấn đề liên quan với một chính sách canh nông thích thời:
Những mối giao tế giữa các dân tiền tiến và hậu tiến
Sự cộng tác quốc tế
- Huấn từ mục vụ về chân lý công bằng và bác ái
Những học thuyết sai lạc hay thiếu sót
Thiên Chúa căn bản cần thiết của mọi tổ chức công bằng
Ý nghĩa và giá trị học thuyết xã hội công giáo
Học hỏi và phổ biến học thuyết xã hội công giáo
Một nền giáo dục hòa hợp với học thuyết xã hội công giáo
Giáo dục thực nghiệm:
Chí hướng kitô hữu về đời sống:
Đường lối huấn luyện giáo dân về học thuyết xã hội
DANH MỤC NHỮNG CHỦ ĐỀ TỔNG QUÁT
Vấn đề giao thiệp với những người chưa nhập đạo
Nguyên tắc căn bản chỉ huy mọi hành động xã hội của giáo dân
Phận vụ giáo dân
Sự tiến bộ của kỹ thuật và sự phát triển tinh thần
Thánh hóa các ngày lễ của mình
Phận sự kitô hữu phải tham gia vào mọi công việc trần thế
Nhân cách hóa nền văn minh hiện tại
Đạo Chúa Kitô và sự phát triển nhân cách
Ý nghĩa cần lao đối với những người đã nhập vào Nhiệm Thể Chúa Kitô
Áp dụng học thuyết thông điệp này vào thực tế
Học thuyết xã hội công giáo rất hữu hiệu







