Đức Lêô XIII – Đức Gioan Phaolô II

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI

ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE

2000

 

 

THÔNG ĐIỆP HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI

về nền hoà bình giữa tất cả các dân tộc dựa trên sự thật,

công bằng, bác ái tự do

 

GIỚI THIỆU

Thông điệp Pacem in teris (hoà bình trên trái đất) thông

điệp lớn thứ hai của đức Gioan XXIII sau thông điệp Mater et

Magistra, đã được công bố ngày 11/04/1963. Thông điệp này

nằm trong một chuỗi dài các tài liệu viết về hoà bình trong

suốt thế kỷ XX bởi các Đức Giáo Hoàng khác nhau. Có thể

kể đến như : Tông Huấn của đức Bênêdictô XV gởi cho chính

phủ của các quốc gia tham chiến trong cuộc chiến tranh thế

giới lần thứ I (01/8/1917) và Thông đuệp Pacem Dei (hoà bình

của Thiên Chúa) của ngài (23/5/1920). Chúng ta cũng kể đến

thông điệp Ubi arcano của Đức Piô XI (23/12/1922) và nhiều

sứ điệp Giáng Sinh của Đức Piô XII, đặc biệt là sứ điệp năm

  1. Vì thế truyền thống này đã có từ lâu nay, bao lâu còn

có những xung đột tiếp nối nhau xé tan thế giới này.

 

Một thế giới bị đe doạ bởi những xung đột

Thông điệp về hoà bình của Đức Gioan XXIII xuất hiện

trong một thời kỳ mới của các mối quan hệ giữa các quốc gia

trên thế giới : thế giới đang trong tình hình bị đe doạ thống trị

của vũ khí hạt nhân. Thông điệp Pacem in teris được công bố

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 254

sau một thời gian dài chiến tranh lạnh trong đó hai cường quốc

lớn nhất, Hoa kỳ và Liên xô, đã có được kho vũ khí hạt nhân

đủ sức tiêu diệt vô số thành phố. Đã xảy ra những khủng

hoảng nghiêm trong ở bước ngoặt những năm 60, năm 61, bức

tường Bá-linh được dựng lên, và nhất là vào năm 1962, cuộc

khủng hoảng Cuba, là nơi Liên xô thiết lập dàn tên lửa làm cả

thế giới như kề cận với một cuộc chiến hạt nhân.

Người ta thay đổi cách đặt vấn đề về chiến tranh : mọi

cuộc chiến đều trở nên hết sức nguy hiểm nếu nó sử dụng

đến vũ khí hạt nhân. Vì thế người ta tránh né để các đế quốc

lớn không phải tham gia vào cuộc chiến tranh công khai và

trực tiếp. Chiến tranh không còn được công luận chấp nhận

như là một phương tiện đấu tranh cho công lý thắng lợi. Hơn

nữa, các quốc gia phụ thuộc vào nhau rất nhiều và rất chặt

chẽ đến nỗi mỗi cường quốc rất dễ trở thành áp lực trên

cường quốc khác, nhờ các phương tiện kinh tế hay tài chánh,

là phương thế đấu tranh mà không vì thế phải sử dụng tới hệ

thống quân bị. Chiến tranh không còn chỉ là trận chiến với vũ

khí : nhưng còn là chiến tranh lương thực, chiến tranh tiền tệ,

chiến tranh bằng làn sóng nhập cư…

Những thay đổi này phát sinh trong một bối cảnh phát

triển duy nhất trong lịch sử thế giới : khả năng tăng trưởng của

các nước công nghiệp hoá dường như vô hạn : dầu lửa dư

tràn, xây dựng với tốc độ nhanh chóng, trang thiết bị nặng

hoặc cá nhân phát triển : xa lộ, những tàu chở dầu khổng lồ,

máy bay phản lực, và còn cả xe hơi, điện thoại, các thiết bị

gia dụng; cả một tương lai dường như mở ra; người ta chỉ nhìn

thấy trước mắt sự dư giả và giầu có của sự phát triển gần như

vô hạn. Những nước thuộc địa xưa kia, đặc biệt là ở Phi Châu,

hầu như tất cả đã trở nên độc lập, và cả họ nữa cũng lao vào

cuộc mạo hiểm hướng tới phát triển, mong sao cho dân tộc

mình bảo đảm được một cuộc sống xứng đáng trong sự độc

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 255

lập về văn hóa và kinh tế. Giữa tiếng ca hát chung rất lạc

quan đó, có nổi lên vài tiếng nhắc nhở rằng “Châu Phi đen là

phần đất gặp khó khăn” ngay từ buổi đầu độc lập hay An Độ

còn phải làm một cuộc cách nạng xanh nếu đất nước này

muốn thoát khỏi những nạn đói lớn.

Đức Gioan XXIII, trong bối cảnh đó, đã góp phần đáng

kể cho việc phân tích tình hình thế giới đương thời, cho những

đấu tranh, hy vọng cua thế giới lúc đó.

Nét mới mẻ từ cảm hứng

Có nhiều điểm khởi hứng trong thông điệp Pacem terris

: chúng thuộc hai loại, một là theo giáo huấn truyền thống của

Giáo hội, loại khác thì mới mẻ, độc đáo và cá biệt hơn.

Đức Gioan XXIII luôn dựa trên giáo huấn của Giáo hội

về vấn đề xã hội, đặc biệt nhất là dựa trên các văn kiện của

vị tiền nhiệm Pio XII, nhưng cũng dựa trên những văn kiện

của Đức Lêô XIII : quan tâm tới những quyền con người,

công ích, sự tôn trọng các dân tộc thiểu số, sự liên lạc và tôn

trọng lẫn nhau giữa các quốc gia, những người tị nạn chính trị,

việc giải trừ quân bị và những tổ chức quốc tế. Chúng ta sẽ

trở lại một số điểm trong số này.

Một khởi hứng thứ hai thì dễ thấy rõ : đó là khởi hứng

của chính Đức Gioan XXIII. Dấu vết của ngài ở nơi sự cởi mở

nói với hết mọi người, kẻ tin cũng như không tin, với tất cả

những ai thiện chí. Vì thế cung cách phát biểu của thông điệp

phù hợp với đối tượng thính giả của văn kiện. Những trang

văn kiện đó không dành riêng cho những người đã hiểu biết

Kitô Giáo nhưng cho hết mọi người. Đức Giáo hoàng bày tỏ

suốt trong những trang giấy này sự cảm thông của ngài cũng

như sự đón nhận của Giáo Hội Công Giáo đối với mọi khát

vọng của thế giới ngày nay mà người ta có thể phát hiện qua

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 256

“các dấu chỉ của thời đại“. Ngài không tranh luận, không kết

án. Khi nói đến chiến tranh, dù cách nào ngài cũng không vơ

đũa cả nắm hầu nhận biết rằng người ta có thể biện minh cho

chiến tranh trong trường hợp vì hoàn cảnh bắt buộc hay

không. Ngài thích một quan điểm khác hơn : xuất phát từ hòa

bình, là “đối tượng của cái khát vọng sâu xa của nhân loại

trong mọi thời đại”. Thông điệp này là một lời cổ võ cho hòa

bình, là lời biện hộ cho hòa bình, một lời kêu gọi xây dựng

cho hòa bình.

Nét riêng của Đức Gioan XXIII đặc biệt biểu lộ trong

phần cuối cùng (phần V) nói về những chỉ dẫn mục vụ, đặc

biệt nhất là trong phần nói về những tương quan giữa người

Công giáo và không công giáo trong lãnh vực hành động xã

hội (từ số 157 đến 160), đức Giáo hoàng đã triển khai suy tư

của thông điệp Mater et Magistra về khả năng hợp tác giữa

người Kitô hữu và không Kitô hữu. Chóp đỉnh của đoạn văn

này, và có lẽ cũng là chóp đỉnh của thông điệp, là nêu bật sự

khác biệt ngày càng lớn giữa các hệ tư tưởng, “các giả thuyết

sai lầm về bản chất, nguồn gốc và cùng đích của thế giới và

của con người” “các trào lưu lịch sử được xây dựng nhằm

một mục tiêu kinh tế, xã hội văn hóa hoặc chính trị”. Học

thuyết tự bản thân không thay đổi, trong khi các trào lưu này

không thể không bị tác động bởi những biến chuyển về hoàn

cảnh sống cụ thể. Do đó có thể đi đến chỗ cùng nhau thực

hiện những việc cụ thể thực tế đưa đến những ích lợi thiết

thực. Đức Gioan XXIII bởi đó được người ta hiểu như là cho

rằng trào lưu lịch sử của các dân tộc trong những nước xã hội

chủ nghĩa hay cộng sản chủ nghĩa có thể rất khác với ý thức

hệ mác – xít bị kết án trên nguyên tắc. Những dòng chữ này

mở ra một không gian hoàn toàn mới cho quan hệ với các

nước phía Đông và với các xã hội ở bên kia bức màn sắt hay

màn tre. Vấn đề không còn là kết án một xã hội bởi vì nơi đó

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 257

người ta giảng dạy một học thuyết như thế. Mà bây giờ ta phải

nhìn những phong trào xã hội đó một cách cụ thể đang diễn ra

như thế nào và phải tìm những phương tiện khả dĩ liên lạc và

hành động. Khi triển khai dòng suy tư này, được áp dụng

trước hết cho các quan hệ quốc gia, Đức Gioan XXIII tiên báo

“rằng một số gặp gỡ trên bình diện hành động thực tế hiện

nay có thể mang lại một số lợi ích thiết thực”. Hòa bình cũng

còn là một vấn đề nội bộ trong các quốc gia, đặc biệt là hòa

bình với các ý thức hệ và các đảng phái chính trị mác –xít.

Hòa bình không phải là một nguyện ước đạo đức dễ dàng

thực hiện : đó là một công cuộc xây dựng khó khăn người ta

phải ra tay thực hiện đến tận những vị trí thuộc quốc gia nhạy

cảm nhất như những quan hệ chính trị nội bộ.

Hòa bình do biết tôn trọng trật tự được thiên

chúa thiết lập

Lập luận của Đức gioan XXIII trong thông điệp này

khởi đi từ sự kiện Thiên Chúa là nền tảng của mọi trật tự luân

lý. Các quyền con người được thiết lập bắt đầu từ đó. Chính

trên những quyền này Cấu Trúc Văn kiện được xây dựng lên,

đó là những tương quan giữa con người với nhau, những tương

quan giữa các cộng đồng chính trị với nhau, những mối quan

hệ của hai thực thể này với cộng đồng quốc tế.

Trong cái sơ đồ tương đối đơn sơ này, Đức gioan XXIII

khằng định rằng hòa bình có rất nhiều chiều kích, từ những

quan hệ cá nhân cho đến những quan hệ quốc tế. Do đó hòa

bình không chỉ là một tình trạng của quan hệ giữa các nước:

nó liên can tới mọi cấp độ cuộc sống xã hội, cho đến cả cái

thâm sâu nơi tâm hồn mỗi con người. Phải chăng Ngài muốn

nói tới một sự “giải trừ khí giới hoàn toàn đến tận các tâm

hồn”.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 258

Đức gioan XXIII còn tương đối chưa xác định rõ thế

nào là hòa bình và những hoa quả mà nó sản sinh. Ngài nhấn

mạnh đặc biệt về những điều kiện để có hòa bình, đó là một

trật tự nào đ1o trên thế giới và trong xã hội: sự thật, công lý,

bác ái và tự do là bốn nguyên tắc nền tảng của trật tự đó.. hòa

bình không chỉ là vắng bóng chiến tranh. Đó là tổng hợp các

mối qun hệ tích cực giữa các cá nhân và giữa các cộng đoàn

với nhau. Như thế có nghĩa Đúc Giáo Hoàng không đề nghị

một rậtt tự luân lý cố địng và vĩng cửu: Ngài đưa ra những

những điều kiện, nền tảng luân lý cho đời sống cá nhân và

tập thể, và Ngài đề nghị chúng với hết mọi người thiện chí.

Xây dựng vững chắc từ thực chất vấn đề, thông điệp

hẳn hàm chứa nhiều vấn đề: vấn đề hòa bình là đương nhiên,

rồi vấn đề phát triển, hợp tác với những người ngoàn Kitô

giáo, lao động, các nhà cầm quền, nhập cư. Chúng ta hãy

dừng lại một chút trên ba vấn đề đặc biệt sau đây:

  1. Các quyền con người

các đoạn văn nói về quyền con người lặp lại những

điểm quan trọng nhất của Tuyên Ngôn Liên Hiệp Quốc năm

  1. Tuy nhiên ngược với tuyên ngôn này, thông điệp nhấn

mạnh nhiều về những nghĩa vụ gắn liền với mỗi người, như

truyền thống Giáo Hội thường làm. Chủ đề này như nhiều chủ

đề khác, chủ yếu dựa trên luật tự nhiên và như thế là vì Giáo

Hội muốn dựa trên một nền tảng chung ai ai cũng công nhận.

  1. Việc giải trừ quân bị

Đức Gioan XXIII phân tích rất tốt các guống máy chạy

đua vũ trang hạt nhân (số 110): bên nào cũng đều muốn tái

lập thế cân bằng trong khi đối thủ đã cải thiện khí giới riêng

của họ. Ngài yêu cầu người ta phải ngưng chạy đua vũ trang:

“công lý, sự khôn ngoan, hướng đi của nhân loại đòi hỏi điều

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 259

đó”. Đức Giáo Hoàng lập luận dựa trên lý trí, nhưng hơn nữa

còn dựa trên lợi ích: chiến tranh sẽ mang lại điều gì nếu

không phải là hủy diệt. Từ đó Ngài kêu gọi phải xem xét một

cách sâu xa thế quân bình thế giới sao cho thực sự có tính

nhân bản. Những quan điểm này rất cổ điểi bởi lẽ chúng kêu

mời hướng tới việc cắt giảm song hành và đồng thời về khí

giới đang có trong các nước khác nhau”. Nhưng những đề

nghị đó chỉ được thực hiện qua lời kêu gọi quyết liệt hãy biết

“tin tưởng lẫn nhau, trung thực trong ngoại giao, tuân giữ các

hiệp ước đã ký”, tìm kiếm hòa bình cách tích cực, mà nếu

không thì thì không thể có giải trừ quân bị.

  1. Các tổ chức quốc tế

Trong một truyền thống phát xuất từ Đức Victoria

(Tk XV) được xác định rõ hơn bởi Cha Taparelli (Tk XIX) và

bởi Đức Piô XII, Đức Gioan XXIII đã cậy dựa vào sự cần thiết

phải có một trật tự luân lý bảo vệ lợi ích chung của nhân loại

để yêu cầu “thiết lập một quyền bính công khai có thẩm

quyền trên thế giới”. Cũng như Đức Piô XII, Ngài nhấn mạnh

tới những điều đối với Ngài là tíhc cực trong tổ chức Liên

Hiệp Quốc và tha thiết mong muốn tổ chức này cố gắng cho

toàn sứ mạng bảo đảm cho quyền con người. Phần này đối

với suy nghĩ của Đức Giáo Hoàng là đặc biệt quan trọng: nó

được triển khai sâu rộng và chiếm gần trọn phần thứ tư của

thông điệp. Liên hiệp Quốc đã thoát khỏi tình trạng tê liệt do

chiến tranh lạnh bao vây để đạt tới giai đoạn này: những hoạt

động của tổ chức này nhằm làm giảm sự căng thẳng và vì sự

phát triển có thể khiến cho ta hy vọng vào một tương lai tươi

sáng cho tổ chức.

Thông điệp Pacem in Terris là một trong những nơi mà

Giáo Hội đã kết nối những ưu tư của toàn thể nhân loại lại nơi

một ưu tư cơ bản:về hòa bình. Giáo Hội trở thành “chuyên

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 260

viên về con người”. Như lời Đức Phaolô VI nói sau này. Giáo

Hội tự đặt mình vào vị trí kẻ bảo vệ ừng con người trong

những cuộc đấu tranh lớn lao hiện nay: cho cuộc độc lập của

các nuớc thế giới thứ ba, cho những nỗ lực phát triển, cho

việc tìm kiếm những phương thế hoà bình, cho quyền con

người. Làm thế nào, Giáo Hội đã nối kết lại những trào lưu

lớn của thời đại hiện nay, một cách hiên ngang, không rụt rè.

Giáo Hội công nhận tất cả những giá trị của thế giới này.

Hiến chế Gaudium et Spes của công đồng sẽ còn triển khai

hơn nữa thái độ đó.

Từ đó, người ta sẽ hiểu rằng đối tượng thính giả của

thông điệp này là rất rộng rãi. Tầm hìn cao rộng, thái độ cởi

mở với hết mọi người đã làm cho thông điệp vượt xa rộng ra

ngoài cộng đồng công giáo. Lời lẽ đơn sơ mà cập nhật, giọng

điệu tin tưởng vào tương lai nhưng đòi hỏi đối với mọi người,

đáp ứng sự chờ mong của nhiều người trong thời kỳ cuối của

cuộc chiến tranh lạnh. Chắc hẳn thông điệp này đã tạo một

tiếng vang rất lớn và trở nên hết ức phổ biến.

Thông điệp đã giúp cho việc đối thoại với những người

không tin được dễ dàng, đặc biệt nhất là với các trào lưu

mác-xít, nhờ việc công nhận những yếu tố tích cực và đáng

tán thưởng của thế giới này. Đó là một chuyển biến thái độ

quan trọng nhất là qua sự đó nhận hoạt động của những đoàn

thể gồm nhiều cá nhân, dù theo lập trường cánh tả hay cánh

hữu trong những nước tự do hay xã hội chủ nghĩa. Từ đó mới

có sự cởi mở của Vatican hướng tới các nước phía đông, một

sự cởi mở đã được Đức Phaolô- VI bày tỏ ra và một cách xa

hơn nữa bởi Đức Gioan Phaolô II.

Nếu những tuyên bố của Đức Gioan XXIII về quyền

con người và về giải trừ khí giới vẫn còn tính thời sự thì

những đoạn dài nói về Liên Hiệp quốc và về quyền bính

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 261

chính trị quốc tế, ngày nay không còn phù hợp với bầu khí

kém tin tươbng hơn đối với tổ chức quốc tế này. Các cường

quốc có thái độ ngờ vực đối với mọi quyền lực quốc tế. Nếu

như có nhiều ý kiến phê bình Liên Hiệp Quốc sẵn sàng công

nhận những đóng góp đáng kể mà các ủy ban chuyên môn

của tổ chức này mang lại cho thế giới (về các vấn đề như

lương thực, tỵ nạn, sức khỏe, hay văn hóa), thì họ cụng lên

tiếng tố cáo sự tê liệt và những phong tỏa của đại hội đồng

hay của hội đồng bảo an với những cuộc chiến tranh cục bộ,

cũng như đối với việc giải trừ khí giới hoặc quan hệ giữa

Đông – Tây.

Vượt trên các thế hệ đạ qua và cụng như các khía cạnh

tùy thời có trong những văn kiện, thông điệp này sẽ vẫn còn

là một sự kiện cơ bản, một lời mời gọi không bao giờ đủ hành

động cho hòa bình, “cái khát vọng sâu thẳm của con người

trong mọi thời đại”.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 262

DÀN BÀI

DẪN NHẬP (Số 1-7).

I. NHỮNG QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CON NGƯỜI

VÀ SỰ HIỆP THÔNG XÃ HỘI (8-10).

1. Những quyền của con người. Cho cuộc sống và

những của cải tinh thần (11-17). Những quyền về

kinh tế và xã hội (18-22). Nhửng quyền của xã hội,

truyền thông và tham gia 923-25). Những quyền

công dân (26-27).

2. Đời sống xã hội. Tương quan giữa quyền và nghĩa

vụ. Hợp tác vì lợi ích lớn nhất vì lợi ích của mọi

người. Xã hội, kết quả của tinh thần trách nhiệm và

tự do. Một “thực tại thuộc bình diện tinh thần” (28-

38).

3. Nhân loại trên đường tiến đến hiệp thông xã hội (39-45).

 

II. CÔNG ĐỒNG CHÍNH TRỊ.

  1. Quyền bính (46-52).
  2. Công ích (53-59).
  3. Nhà nước và con người cá vị (60-66).
  4. Tổ chức quyền lực (67-69).
  5. Những đòi hỏi của thời đại ngày nay: thích ứng với

cuộc sống xã hội và tham gia (70-79).

III. CÁC QUAN HỆ QUỐC TẾ.

1. Thế ưu việt của luật luân lý (80-85).

2. Sự thật trong bang giao giữa các nước: sự bình đẳng

của các dân tộc ề phẩm giá, sự chân thật của thông

tin (86-90).

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 263

3. Công lý: tôn trọng những quyền lợi của nhau, vấn

đề những dân thiểu số (91-97).

4. Sự liên đới:trao đổi và hợp tác; đón nhận những

người tỵ nạn chính trị, giải trừ vũ khí (98-119).

5. Tự do: tôn trọng sự độc lập, tôn trọng nhân vị các

dân tộc trong việc hỗ trợ phát triển (120-125).

6. Sự khao khát hoà bình hiện nay (126-129).

IV. TỔ CHỨC CÁC CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ.

1. Sự lệ thuộc lẫn nhau (130-131).

2. Các nước không đủ khả năng bảo đảm lợi ích chung

của toàn thế giới (132-135).

C.Một quyền bính chính trị quốc tế (136-137).

3. Ba điều kiện : đồng tâm nhất trí; bảo vệ quyền con

người; sự hỗ trợ (138-141).

4. Liên Hiệp Quốc và tuyên ngôn thế giới về quyền

con người (142-145).

V. NHỮNG CHỈ DẪN MỤC VỤ.

  1. Sự tham gia của kitô hữu vào đời sống chính trị.

Điều kiện tranh đua. Điều kiện trung thành với

những giá trị thiêng liêng. Sự hòa hợp giữa đức tin

và hành động thế trần. Một nền văn hoá tôn giáo

ngang hàng với nền văn hóa thế tục. Sự kiên trì và

tưởng tượng (146-156).

  1. Những tương quan giữa người công giáo và người

không công giáo (157-162).

  1. Hòa bình: một nhiệm vụ của mọi người thiện chí

(163-165).

  1. Nhờ Đức Giêsu Kitô, vị Vua của hòa bình (166-

167).

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 264

 

 

THÔNG ĐIỆP HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI

Pacem in terris

ĐỨC GIOAN XXIII

Chúa quan phòng đặt làm Giáo Hoàng

GỬI CHƯ HUYNH ĐÁNG KÍNH :

CÁC THƯỢNG PHỤ GIÁO CHỦ, TRƯỞNG GIÁO CHỦ,

TỔNG GIÁM MỤC, GIÁM MỤC,

CÁC VỊ BẢN QUYỀN, HIỆN THÔNG HẢO CÙNG TÒA THÁNH, CÁC

GIÁO SĨ, GIÁO DÂN VÀ TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI THÀNH TÂM TRÊN

THẾ GIỚI.

Về vấn đề : Xây dựng hòa bình giữa các dân tộc trên chân

lý, công bình, bác ái và tự do.

GIÁO HOÀNG GIOAN XXIII

Kính gửi Chư huynh đáng kính và các con thân mến Lời

chào và Phép Lành Tòa Thánh.

NHẬP ĐỀ

Trật tự trong vũ trụ

1.- Hòa bình trên thế giới, tức nguồn ước vọng sâu xa

của con người trong mọi thời đại, chỉ có thể xây đắp, kiện

toàn, một khi người ta triệt để tôn trọng cái trật tự mà Chúa đã

thiết lập.

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 265

Khoa học tân tiến, và cả những phát minh của kỹ thuật

đều minh chứng rằng: trong các động vật, cũng như trong các

tiềm lực của vũ trụ, đều hiện hành một trật tự lạ lùng. Sự cao

cả của con người là ở chỗ biết khám phá ra trật tự ấy, biết

tạo nên những khí cụ thích nghi để chinh phục những tiềm

lực thiên nhiên này, và biến cải nó thành hữu ích.

Nhưng, điều mà những tiến bộ của khoa học và những

phát minh kỹ thuật minh chứng trước hết, chính là sự Thiên

Chúa vô cùng cao cả. Ngài là Đấng Sáng Tạo đã dựng nên vũ

trụ và chính con người. Ngài dựng nên vạn vật bởi hư vô, rồi

thông vào đấy phần khôn ngoan hoàn hảo, như lời Thánh vịnh

đã ca ngợi: “Lạy Chúa, lạy Chúa, uy danh Chúa vang lừng

khắp năm châu”3 nơi khác: “Công trình Chúa không sao kể

xiết! Mọi sự Chúa dựng nên đều tuyệt tác”4. Còn như con

người Chúa đã tạo sinh “giống hình ảnh Chúa”5 có trí khôn,

có tự do và cho làm chủ vạn vật, như trong Thánh vịnh: “Chúa

dựng nên con người thua kém thiên thần, nhưng Chúa đã cho

con người đầy vinh quang, hạnh phúc, Chúa đã giao phó cho

con người được toàn quyền sử dụng mọi sự, và đặt mọi sự

tùng phục con người”6.

Trật tự trong nhân loại

2.- Trật tự hoàn hảo của vũ trụ nói đây tương phản hẳn

với tình trạng rối loạn mà ta thấy xuất hiện giữa cá nhân với

cá nhân, giữa các dân tộc với dân tộc, hình như chỉ có bạo lực

mới có thể giải quyết được những mối tương quan của họ.

3 Tv. 8,1

4 Tv. 103, 24

5 Tc. Kn.1,26

6 Tv. 8, 5-6

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 266

Nhưng Đấng Sáng Tạo vũ trụ đã in sâu trong con người

một trật tự khác, trật tự này lương tâm nhân loại nhìn nhận là

có và bắt con người phải tôn trọng: “Họ chứng tỏ rằng trong

tâm hồn họ đã in sâu một luật lệ, bởi vì, chính lương tâm họ

cũng minh chứng như thế”7. Mà làm sao có thể lại không minh

chứng điều đó, bởi vì tất cả vạn vật Chúa dựng nên đều phản

chiếu sự Chúa vô cùng khôn ngoan, và càng phản chiếu rõ

rệt, mỗi khi thể chất của tạo vật càng hoàn toàn hơn.8

Người ta thường hay lầm tưởng rằng mối giao hảo giữa

cá nhân với cộng đồng chính trị có thể giải quyết bằng những

định luật xưa nay vẫn chi phối những động lực, và vật thể vô

linh của vũ trụ. Trái lại, chính những nguyên tắc qui định đời

sống con người có một yếu tính khác: phải tìm những nguyên

tắc đó ở chỗ mà Thiên Chúa đã ghi tạc, tức là trong bản tính

con người.

3.- Chính những nguyên tắc đó vạch rõ cách sinh hoạt

cho nhân loại bất cứ trong mối tương quan giữa cá nhân với cá

nhân trong đời sống xã hội; giữa công dân với chính quyền

trong cộng đồng quốc gia; hay là giữa nhiều quốc gia với

nhau; sau hết, giữa các quốc gia với cộng đồng thế giới: Chính

cái việc thành lập cộng đồng thế giới này mới khẩn trương, vì

công ích của toàn thể nhân loại đang đòi hỏi.

7 Rom. 2, 15

8 Tv. 18, 8-11

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 267

PHẦN I

TRẬT TỰ GIỮA CÁ NHÂN MỖI CÁ NHÂN LÀ

MỘT NHÂN VỊ, CÓ QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ

Trước hết, phải đề cập đến trật tự giữa từng

cá nhân với nhau.

Trong một xã hội có qui củ và phong phú, nguyên tắc

căn bản phải là nguyên tắc dạy mỗi cá nhân là một nhân vị,

nghĩa là một nhân tính có trí khôn, và ý chí tự do, bởi thế mà

con người tự có quyền lợi, có nghĩa vụ, chính vì quyền lợi và

nghĩa vụ đều phát sinh trực tiếp và đồng một lúc, từ bản tính

con người: vì thế cả hai đều phổ thông, bất khả xâm phạm và

bất khả di nhượng9.

Nếu ta nhìn nhân vị dưới ánh sáng chân lý do Chúa mặc

khải, chúng ta càng phải đề cao nhân vị hơn nữa, bởi vì con

người đã được Máu Chúa Kitô cứu chuộc, đã nhờ ân sủng trở

thành con cái và bạn hữu Thiên Chúa, và được thông phần

vinh quang trường cửu.

 

NHỮNG QUYỀN LỢI, QUYỀN ĐƯỢC SỐNG VÀ HƯỞNG MỘT NẾP

SỐNG XỨNG HỢP

 

  1. Đề cập đến quyền lợi của con người, ta cần nói ngay

rằng: Phàm ai cũng có quyền sống, quyền giữ thân thể trọn

vẹn, quyền hưởng những phương tiện thiết yếu và vừa đủ cho

một đời sống xứng hợp : như của ăn, áo mặc, nhà ở, nghỉ

ngơi, thuốc men và những sự giúp đỡ của xã hội. Bởi thế, con

9 Piô XII, Điện văn Sinh nhật 1942 và Gioan XXIII, Huấn từ ngày

4.01.1963

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 268

người có quyền được bảo đảm về tính mạng, như khi đau yếu,

tàn tật, góa bụa, già lão, thất nghiệp, và mỗi khi vì những

hoàn cảnh ngoài ý muốn, con người không có những phương

tiện sinh sống cần thiết 10.

Quyền hưởng những giá trị luân lý và văn hóa

  1. Ai cũng có quyền được người khác tôn trọng nhân

phẩm, thanh danh, quyền được tự do đi tìm chân lý, và trong

phạm vi trật tự luân lý và công ích cho phép, được tự do phát

biểu ý kiến, phổ biến tư tưởng, theo đuổi bất cứ nghệ thuật

nào, và sau hết, được quyền theo theo dõi những tin tức một

cách khách quan.

  1. Luật thiên nhiên cũng đòi cho con người được quyền

hưởng những đặc ân về văn hóa, do đó được theo học một

nền học vấn căn bản, một nền giáo dục chuyên nghiệp cân

xứng với trình độ tiến hóa của mỗi dân tộc. Phải tổ chức làm

sao, để cho mỗi cá nhân, tùy theo khả năng của họ, có thể

bước tới trình độ cao về học vấn, và, trong xã hội, có thể đảm

đang những chức vụ, những trách nhiệm thích hợp với tài ba

và năng lực của mình11.

Quyền tôn thờ thiên chúa, theo sự đòi buộc của lương

tâm chân chính.

  1. Trong các quyền lợi của con người, phải kể cả quyền

được tôn thờ Thiên Chúa theo mệnh lệnh của lương tâm, và

được tuyên xưng tôn giáo của mình trong đời sống tư nhân,

cũng như trong đời sống công khai. Lactanxiô ngày xưa đã

xác định: “Sở dĩ Chúa cho chúng ta sống là để chúng ta dâng

lên Ngài, là Đấng Sáng Tạo, lòng tôn sùng chính đáng, chúng

ta chỉ nhìn nhận, tuân theo một mình Ngài. Cái tình hiếu thảo

này ràng buộc chúng ta với Thiên Chúa, và chính vì thế mới

có tôn giáo”12. Đức Lêo XIII, vị Tiền nhiệm còn lưu danh,

cũng đã quả quyết: “ Chính cái quyền tự do chân chính, xứng

đáng với địa vị con cái Thiên Chúa và bảo toàn nhân vị, nó

hùng mạnh hơn cả bạo lực, và những hành động bất công:

Giáo hội vẫn cầu mong tự do, vẫn coi tự do như một báu vật

yêu quí hơn cả. Từ ngàn xưa, các thánh Tông đồ vẫn đòi

quyền tự do này, các nhà Hộ giáo vẫn đề cao trong sách vở,

và từng ức vạn các thánh Tử đạo, đã lấy xương máu để minh

chứng”13

10 Piô XI, Thông điệp Divini Redemptoris, và Piô XII, Điện văn lễ

Hiện Xuống 1941

11Piô XII, Điện văn Sinh Nhật 1942

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 269

Quyền được tự do chọn một nếp sống

  1. Bất cứ ai cũng có quyền được tự do chọn một nếp

sống riêng. Bởi thế, họ có quyền lập gia đình, trong ấy hai vợ

chồng đều bình đẳng trong quyền lợi và nghĩa vụ: hoặc người

ta có quyền theo ơn kêu gọi làm linh mục hay tu dòng.14

Gia đình, một khi xây dựng trong một cuộc hôn nhân đã

được tự do kết hợp, duy nhất và bất khả phân ly, tất nhiên

phải được công nhận là một tiểu tổ đầu tiên và đương nhiên

của xã hội. Bởi thế, cần phải chuẩn bị những biện pháp thuộc

lãnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, luân lý, cốt để bảo toàn gia

đình, và giúp gia đình thực hiện cái sứ mệnh của mình.

Cha mẹ là những người đầu tiên có quyền lợi phải bảo

đảm việc nuôi nấng và giáo dục con cái.15

12 Divinae Institutiones, quyển IV, chương 28,2.

13 Thông điệp Libertas praestantissimum

14 Piô XII, Điện văn Sinh nhật 1942

15 Thông điệp Casti Connubii, và Piô XII, Điện văn Sinh nhật 1942

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 270

Quyền lợi kinh tế

  1. Nhìn sang địa hạt kinh tế, luật thiên nhiên còn cho

con người không những được quyền đòi có việc làm, mà lại

được tự do kén chọn việc làm16.

Cùng với quyền lợi trên đây, người ta có cả quyền yêu

cầu, trong khi làm việc, được hưởng những điều kiện không

làm nguy hại đến sức khoẻ phần xác, không làm tổn thương

nền phong hóa, và không ngăn trở sự phát huy những khả

năng chính đáng của lớp thanh niên. Về phía nữ giới, họ có

quyền đòi những những điều kiện làm việc cân xứng với nhu

cầu theo giới của mình, và thích hợp với nghĩa vụ người vợ và

người mẹ trong gia đình 17.

Vì nhân vị, con người còn quyền được phát triển những

hoạt động kinh tế trong những điều kiện thông thường, mà cá

nhân lãnh phần trách nhiệm 18.

  1. Cứ như đấy, ta cần phải nói lên rằng: mỗi người thợ

có quyền hưởng một số lương thực quy định theo những qui

tắc công bình, và tùy theo khả năng của đương sự, để số

lương này có thể bảo đảm cho người thợ và gia đình họ một

mức sống phù hợp với nhân phẩm. Đức tiên Giáo hoàng Piô

XII đã tuyên bố: “Đi theo với luật được đòi có việc làm đã in

sâu trong bản tính thiên nhiên, con người còn có quyền lợi

thiên nhiên khác, tức là được hưởng một số lương khả dĩ tự

sống và nuôi nấng con cái: đấy, luật thiên nhiên buộc phải

bảo tồn nhân sinh một cách sâu xa đến thế”19.

16 Piô XII, Điện văn lễ Hiện Xuống 01-6-1941

17 Lêô XIII, Thông điệp Rerum Novarum

18 Gioan XXIII, Thông điệp Mater et Magistra

19 Điện văn lễ Hiện Xuống,)1-6-1941

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 271

  1. Luật tự nhiên còn cho con người được cả quyền tư

hữu, trong ấy gồm cả quyền có phương tiện sản xuất. Như ta

đã có dịp tuyên bố nơi khác, quyền lợi này “là một bảo đảm

hữu hiệu cho phẩm giá con người, là một cách giúp cho con

người thực hiện những trách nhiệm cá nhân, duy trì sự ổn

định và êm ấm gia đình, đồng thời là một sự cộng tác vào nền

hòa bình và thịnh vượng chung”20. Đàng khác, cũng nên nhắc

lại rằng: Tự bản tính quyền tư hữu bao giờ cũng bao hàm một

trách vụ xã hội21.

Quyền tự do hội họp và lập hội.

  1. Chính vì con người tự bản tính là để sống trong xã

hội, thành ra con người có quyền hội họp và lập hội tức là

quyền cho phép các đoàn thể được có những tổ chức thích

hợp để dễ đạt tới mục đích, quyền được đứng ra tự nhận lấy

một số trách nhiệm ngõ hầu tiến tới những mục tiêu đã định22.

Thông điệp “Mẹ và Thầy” đã xác định rằng: việc thành

lập một số những hiệp hội, hay những đoàn thể trung gian, có

khả năng theo đuổi những mục tiêu – mà ngoài ra cá nhân

không tài nào có thể đạt tới, nếu không đoàn kết lại với nhau

– hiện nay quả là một phương tiện tối khẩn, để thực hiện

quyền tự do và trách nhiệm của một nhân vị 23.

Quyền di cư và kiều ngụ.

  1. Mọi người đều có quyền được tự do di chuyển và cư

ngụ trong cộng đồng chính trị, chỗ mình đang là một công

dân; họ cũng ccó quyền, một khi đầy đủ lý do, được xuất

20 Thông điệp Mater et Magistra

21 Thông điệp Mater et Magistra

22 Lêô XIII, Thông điệp Rerum Novarum

23 Xem A.A.S. LIII, 1961, tr.430

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 272

ngoại và kiều ngụ ở ngoại quốc24. Nhưng nguyên sự kiện

mình là người nước này hay người nước khác sẽ không bao

giờ có thể là một trở lực chính đáng cấm con người không

được gia nhập xã hội nhân loại, cấm thành một công dân của

khối cộng đồng thế giớí, nơi mà toàn thể nhân loại đoàn tụ

với nhau vì những mối dây liên lạc cố hữu chung.

Quyền công dân.

  1. Đi theo phẩm giá con người, còn cả quyền được

tham dự một cách tích cực vào đời sống công cộng và góp

phần cá nhân vào thiện ích chung. Đức tiên Giáo hoàng Piô

XII đã giải thích : “Con người theo yếu tính của nó, không

phải là một đối tượng, hay một yếu tố thụ động trong đời sống

xã hội; trái lại, nó phải là chủ nhân, là nền tảng, là cứu

cánh”25.

Phẩm giá con người còn có quyền đòi pháp luật bảo vệ

những quyền lợi riêng của mình, bảo vệ một cách hữu hiệu,

hết mọi người bằng nhau, và chiếu theo những nguyên tắc

công bình. Đức tiên nhiệm Piô XII đã tuyên bố: “Do trật tự

pháp lý mà Thiên Chúa đã quy định, con người được hưởng

một quyền lợi đặc biệt và vĩnh viễn, do đó mỗi cá nhân được

bảo đảm an ninh, và được cả một khu vực quyền lợi có pháp

luật bảo vệ cho khỏi bị người khác lấn áp, vi phạm”26.

 

NHỮNG NGHĨA VỤ MỐI LIÊN LẠC BẤT KHẢ PHÂN CÁCH GIỮA

QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ TRONG MỘT NGƯỜI.

 

  1. Trước đây, ta đã nhắc lại những quyền lợi phát sinh

tự luật thiên nhiên. Nhưng trong con người – đứng làm chủ –

24 Piô XII, Điện văn Sinh nhật 1952

25 Điện văn Sinh nhật 1944

26 Điện văn Sinh nhật 1942

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 273

đã có bao nhiêu quyền lợi thì cũng có bấy nhiêu nghĩa vụ

tương ứng. Luật thiên nhiên cho quyền lợi, nhưng ban hành

những nhiệm vụ : chính luật thiên nhiên đây là nguồn gốc, là

sức tồn tại và là mãnh lực bất hủ.

Thí dụ : quyền được sống đem theo nghĩa vụ phải bảo

tồn sự sống, quyền được hưởng một đời sống xứng hợp buộc

ta có nghĩa vụ phải ăn ở cho có phẩm cách; quyền được tự do

tìm chân lý buộc ta có nghĩa vụ càng phải nghiên cứu và mở

mang tầm học hỏi.

Mối tương quan giữa quyền lợi và nghĩa vụ nơi nhiều

người khác nhau.

  1. Trong đời sống xã hội, khi luật thiên nhiên cho ai

một quyền lợi, lẽ cố nhiên cũng buộc nơi người khác một

nghĩa vụ, tức là nghĩa vụ phải nhìn nhận và tôn trọng quyền

lợi đó. Như vậy, cái hiệu lực bắt buộc nói đây phát sinh tự

luật thiên nhiên : chính luật thiên nhiên ban quyền lợi và đòi

phải có nghĩa vụ tương ứng. Bởi thế, người nào chỉ biết đòi

quyền lợi không, mà quên những nghĩa vụ của mình, hay

không chu toàn những nghĩa vụ đó, tức là dùng tay này phá

hủy công việc mà tay kia đang xây dựng.

Tinh thần cộng tác.

  1. Tự bản tính, con người là phải xã hội, phải chung

sống người này với người khác, và cùng tìm thiện ích cho

nhau. Vì thế, muốn cho đoàn thể được thuận hòa, lẽ tất nhiên

là phải nhìn nhận quyền lợi người khác và thi hành bổn phận

của mình. Ai cũng có nhiệm vụ phải góp vào một tay, để mưu

lấy trật tự chung, để trong ấy những quyền lợi, những nghĩa

vụ sẽ được thỏa mãn một cách hiệu quả hơn.

Để lấy thí dụ : Nếu chỉ thừa nhận con người được quyền

có các phương tiện sinh sống : chưa đủ ; nhưng mỗi người còn

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 274

phải, tùy khả năng mình, cung cấp đầy đủ những phương tiện

ấy nữa.

Đời sống xã hội không phải chỉ là tổ chức cho trật tự,

nhưng còn phải đem lại lợi ích cho con người. Lẽ cố nhiên là

phải nhìn nhận, phải tôn trọng quyền lợi và nghĩa vụ của

nhau, nhưng hết mọi người còn phải hợp tác với nhau trong

những chương trình, mà trình độ văn minh ngày nay cho phép

thực hiện, và nhiều khi còn khuyến khích và thúc đẩy nữa.

Tinh thần trách nhiệm.

  1. Nhân phẩm đòi con người phải hoạt động theo sự

mình quyết định và phải được tự do trong đời sống xã hội,

chính ở tại những quyết định cá nhân đó mà có sự tôn trọng

các quyền lợi, có sự thi hành các nghĩa vụ, có sự hợp tác

trong vô số những hoạt động khác. Nghĩa là con người chỉ

hoạt động, một khi tự sáng kiến, tự xét đoán, và tự ý thức

được nhiệm vụ, chứ không phải khi bị cưỡng bách, bị thúc

đẩy từ bên ngoài.

Một xã hội mà chỉ xây đắp trên những mối tương quan

cường lực sẽ không còn gì là nhân đạo, bởi vì nó kềm hãm tự

do phát triển và kiện toàn đời sống.

Chung sống trong chân lý, công bình, bác ái và tự do.

  1. Cứ như trên, một xã hội chỉ có trật tự, hữu ích, và

tôn trọng nhân phẩm, một khi xây dựng trên nền tảng chân lý,

như lời thánh Phaolô : “Anh em hãy chừa tính nói dối, hãy

thẳng thắn nói thật với nhau, bởi vì hết mọi người đều là chi

thể trong một bản thân” 27. Muốn như thế, cần phải thành thực

nhìn nhận quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người.

27 Eph. 4,25

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 275

Thực ra, xã hội sẽ đạt được kết quả trên đây, nếu, dưới

ánh sáng sự công bình, người ta không những tôn trọng quyền

lợi kẻ khác, thi hành nghĩa vụ của mình, mà lại, nếu người ta

có tinh thần bác ái, biết nhìn nhận những nhu cầu của người

khác như của chính mình, biết cho họ thông công tài sản của

mình, và biết trao đổi cho nhau, một cách dồi dào hơn, những

giá trị thiêng liêng. Bấy nhiêu cũng chưa đủ, xã hội còn phải

sống trong tự do, nghĩa là trong những phương thức xứng hợp

với con người, bởi vì chỉ có con người mới lãnh được trách

nhiệm về việc làm của mình.

  1. Chư Huynh đáng kính và các con thân mến,

Xã hội con người tiên vàn phải quan niệm nó như một

thực tại thuộc phạm vi thiêng liêng, do đó con người, dưới ánh

sáng chân lý, sẽ thông cho nhau những kho tàng kiến thức, sẽ

thi thố những quyền lợi và thực hành những nghĩa vụ, sẽ thi

đua học hỏi những giá trị luân lý, sẽ đồng hưởng vẻ đẹp cao

quý trong sự vật, sẽ sẵn sàng thông cho người khác những gì

tốt nhất nơi mình, và thâu nhận cho mình những gì tốt đẹp tìm

thấy nơi người khác. Những giá trị trên đây phải thấm nhuần,

và hướng dẫn mọi phạm vi : văn hóa, kinh tế, xã hội, chính trị,

pháp luật và tất cả mọi hình thức khác của đời sống xã hội

trong cuộc sống tiến hóa thường xuyên của nó.

Thiên chúa là nền tảng trật tự luân lý.

  1. Trật tự hiện hành trong xã hội loài người có một yếu

tính luân lý, vì được xây đắp trên chân lý, thực hiện trong

công bình, kiện toàn trong bác ái, và sau hết tìm thấy trong tự

do một mức thăng bằng, để mỗi ngày tiến tới chỗ nhân đạo

hơn.

Cái trật tự luân lý – mà những nguyên tắc có tính cách

phổ thông tuyệt đối, bất di bất dịch đây – thực ra bắt nguồn từ

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 276

Thiên Chúa, là Đấng siêu việt và có biệt vị. Người là Chân lý,

là Đấng Toàn Thiện, là Nguồn gốc sau cùng ban sức linh hoạt

cho một xã hội có qui củ, phong phú, và thích hợp với phẩm

giá con người28. Về điều này thánh Tôma đã giải thích : “Sở dĩ

lý trí đứng làm qui tắc cho lòng muốn con người và do đó có

thể đo lường được mức độ của lòng muốn, là vì lý trí phát sinh

từ một pháp luật trường cửu, chính là lý trí Thiên Chúa… Tại

thế, lòng muốn con người tốt lành là tùy thuộc ở pháp luật

trường cửu này hơn là tùy ở lý trí loài người” 29.

Triệu chứng của thời đại.

  1. Thời đại chúng ta có ba đặc điểm. Trước hết là cuộc

thăng tiến kinh tế và xã hội của tầng lớp lao động. Lớp người

này tập trung lực lượng, trước hết là để đòi hỏi những quyền

lợi kinh tế, xã hội; sau đấy đòi hỏi những quyền lợi chính trị,

rồi cuối cùng, đòi được tham gia những giá trị văn hóa bằng

những phương cách thích hợp. Giới lao động thế giới ngày nay

yêu sách được xử đối không phải như những vật vô tâm vô

trí mà người ta tha hồ lợi dụng, nhưng phải được coi như

những nhân vị trong hết mọi lãnh vực đời sống công cộng,

nghĩa là trong lãnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị.

  1. Đặc điểm rõ rệt thứ hai là sự kiện nữ giới gia nhập

đời sống công khai, sự gia nhập đây có lẽ mau chóng hơn

trong những dân tộc chịu ảnh hưởng văn minh Công giáo, và

chậm trễ hơn – nói một cách chung – trong các dân tộc có

những truyền thống, văn hóa khác. Mỗi ngày càng ý thức hơn

về nhân phẩm của mình, nữ giới không chịu để thiên hạ coi

mình như một vật vô hồn, hay một khí cụ: trái lại, nữ giới đòi

phải được những quyền lợi và những nghĩa vụ xứng với nhân

vị, dù trong gia đình, hay ngoài đời sống xã hội.

  1. Đặc điểm thứ ba : nhân loại ngày nay, đã biến đổi

sang một hình thức xã hội, chính trị hoàn toàn mới mẻ. Hết

mọi dân tộc hoặc đã chinh phục, hoặc sắp chinh phục lại nền

độc lập quốc gia, nên sớm muộn sẽ không còn đế quốc thống

trị, hay quốc gia bị trị.

Ngày nay con người trong bất cứ dân tộc nào, hay ở lục

địa nào, là công dân của một nước độc lập, hay là sắp sửa độc

lập, không một chủng tộc nào muốn làm nô lệ ngoại lai. Ngày

nay, đang là thời cáo chung những luồng dư luận, hồi xưa đã

từng ăn sâu trong bao nhiêu thế hệ, theo đó có những lớp

người bằng lòng nhận tình trạng tự ty mặc cảm, và, trái lại, có

những người quá tự tôn mặc cảm, vì ỷ vào địa vị kinh tế, xã

hội, ỷ vào giới của mình, hay địa vị chính trị của mình.

  1. Ngày nay đang thịnh hành, đang phổ biến sâu rộng

tư tưởng về sự bình đẳng giữa hết mọi người, xét về nhân

phẩm. Bởi vậy, ít ra theo lý trí và nguyên tắc, không thể nào

có lý do bào chữa cho thuyết kỳ thị chủng tộc. Đây mới thật

là một bước tiến vô cùng quan trọng trên con đường đưa đến

xây dựng một cộng đồng thế giới, theo những nguyên tắc mà

ta đã trình bày. Nghĩa là : một khi con người ý thức được

những quyền lợi của bản thân, cố nhiên cũng phải ý thức nổi

những nghĩa vụ của mình. Đã có quyền lợi, tất nhiên có nghĩa

vụ thi thố những quyền lợi đó, như là những phương thức biểu

dương nhân vị, và, đồng thời, nơi người khác, có nghĩa vụ

phải nhìn nhận và tôn trọng những quyền lợi đó.

Rồi, một khi những nguyên tắc của đời sống dân sự đã

được trình bày bằng danh từ “quyền lợi và nghĩa vụ” lúc ấy

con người mới cởi mở trước những giá trị thiêng liêng, mới

hiểu chân lý, công bình, bác ái, tự do là gì, mới ý thức được

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 278

rằng mình đang là thành phần trong một xã hội như thế. Sâu

xa hơn nữa, đứng trước những lý do trên đây, con người đã

được chuẩn bị để hiểu rằng : Thiên Chúa là Đấng Siêu việt, là

Đấng có biệt vị. Khi đó, những mối tương quan giữa nhân loại

với Thiên Chúa, trước mắt con người, sẽ được coi như nền

tảng cho đời sống, không những đời sống trong thâm tâm, mà

lại cả đời sống cộng đồng trong xã hội.

28 Piô XII, Điện văn Sinh nhật 1942

29 Summa Theol. Ia,IIae, 9.19, a.4; cf. a.9

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 277

PHẦN II

NHỮNG MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CÁ NHÂN

VỚI CÔNG QUYỀN TRONG MỘT CỘNG ĐỒNG

CHÍNH TRỊ

Sự cần thiết của công quyền; quyền bính bắt nguồn từ

Thiên Chúa.

  1. Xã hội của nhân loại sẽ không có trật tự, sẽ không

được phong phú, nếu không có những người nắm giữ chính

quyền hợp pháp để duy trì những tổ chức, và bảo đảm một

cách đầy đủ những thiện ích chung. Quyền bính đây do bởi

Thiên Chúa như thánh Phaolô đã dạy: “Chẳng có quyền bính

nào mà không phát xuất từ Thiên Chúa”30. Lý thuyết của

thánh Tông đồ trên đây đã được thánh Gioan Chrysostômô

chú giải như sau: “Ngài muốn nói gì? Phải chăng mỗi vị trong

chính quyền đã được Thiên Chúa tôn phong vào chức vụ ? Dĩ

nhiên, thánh Phaolô sẽ đáp: đấy không phải điều tôi muốn

quả quyết. Tôi không nói đến từng cá nhân trong chính quyền,

nhưng có ý nói về chính việc cai quản. Tức là bảo: chính sự

30 Rm. 13, 1-6

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 279

kiện có công quyền, một bên có người chỉ huy, một bên có

người phục tùng, cái đó không phải ngẫu nhiên mà có, nhưng

bởi Chúa khôn ngoan xếp đặt”31. Nói thế khác, Thiên Chúa

đã dựng nên con người có bản tính xã hội, nhưng vì không

một xã hội nào “có thể bền vững mà không có một người chỉ

huy, để hoạt động một cách hiệu lực, và, đứng ở trên, hướng

dẫn mọi người phục vụ cho một chương trình chung, cho nên

hết mọi cộng đồng nhân loại cần phải có một quyền bính, để

quản trị. Quyền bính đây, cũng như chính toàn thể xã hội, đều

phải lấy Tạo Hóa, và, như thế, phải lấy Thiên Chúa làm nền

tảng” 32.

  1. Chính quyền bính cũng không thóat ra khỏi vòng

pháp luật. Quyền bính chỉ là một khả năng chỉ huy cho hợp lẽ

phải. Thành ra, chính cái tiềm lực bắt buộc là do bởi luật luân

lý và luật luân lý dựa trên Thiên Chúa, là nguồn gốc và cứu

cánh. Đức tiên Giáo hoàng Piô XII đã dạy : “Trật tự tuyệt đối

của các sinh vật và ngay cái mục đích của con người tức con

người tự do, có những quyền lợi, những nghĩa vụ bất khả xâm

phạm, con người đứng làm nguồn gốc và làm cứu cánh của

xã hội cũng bao hàm nhà nước như một cộng đồng cần thiết

phải có quyền bính; vì không có quyền bính tức đoàn thể sẽ

không tồn tại, không thể sống … Theo lý trí và theo đức tin

công giáo, trật tự tổng quát này cần phải bắt nguồn từ Thiên

Chúa, là Đấng có biệt vị, là Chúa sáng tạo mọi loài, bởi thế,

những tước vị của công quyền chẳng qua chỉ là sự thông công

chính quyền bính Thiên Chúa vậy” 33.

  1. Nếu quyền bính chỉ dựa trên sự đe dọa, sự sợ phải tù

tội, hay là hứa hẹn được ân thưởng, thì làm sao có đủ hiệu lực

31 In Epist. ad Rom. c.13, vv.1-2, homil.XXIII

32 Lêô XIII, Thông điệp Immortale Dei

33 Piô XII, Điện văn Sinh nhật 1944

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 280

thúc đẩy người ta đi tìm thiện ích chung ? Hoặc giả có thúc

đẩy đi nữa chắc chắn sẽ không theo phương thức xứng hợp

với nhân phẩm, là một loài có tự do và lý trí. Quyền bính, tiên

vàn, là một hiệu lực luân lý. Những ai nắm giữ quyền bính,

trước hết phải kêu gọi đến lương tâm, đến nghĩa vụ sẵn sàng

phục vụ công ích. Nhưng con người đều bình đẳng trong

nhân phẩm tự nhiên; không ai có quyền quyết định bắt ép

người khác phải tuân theo : quyền này chỉ dành cho Thiên

Chúa – một mình Ngài thẩm cứu và xét đoán những điều

quyết định thầm kín của con người. Bởi vậy, quyền bính nhân

loại chỉ có thể bắt buộc lương tâm, khi nào nó liên kết với

quyền bính Thiên Chúa và thông công quyền bính Thiên

Chúa một phần nào 34.

Xác định nguyên tắc này, tức là cũng bảo đảm nhân

phẩm của người dân, vì rằng khi phục tùng chính quyền,

không phải người dân phục tùng họ, theo tư cách vị ấy là

người; nhưng thực ra, người dân phục tùng Thiên Chúa là

Đấng sáng tạo vạn vật theo một trật tự do chính Người đã an

bài. Hơn nữa, khi chúng ta tôn trọng Thiên Chúa, không phải

là chúng ta tự hạ, nhưng chính là ta tự nâng cao giá trị của

mình, bởi vì phụng sự Thiên Chúa, tức là cai trị rồi 35 .

  1. Quyền bính mà trật tự luân lý đòi hỏi, phát xuất tự

Thiên Chúa. Bởi thế, nếu những vị cầm quyền có tuyên bố

những luật lệ, hay thi hành những phương pháp trái với trật tự

luân lý, tức là trái với ý nguyện Thiên Chúa, thì tất nhiên

những luật lệ hay phương pháp kia không thể bắt buộc lương

tâm, bởi vì “phải vâng lệnh Thiên Chúa hơn vâng lệnh người

trần gian”36. Hơn nữa, trong trường hợp này, quyền bính

34 Lêô XIII, Thông điệp Diuturnum Illud

35 Nt. và Thông điệp Immortale Dei

36 Cv. 5,29

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 281

không phải quyền bính nữa, nhưng là cường quyền áp bức.

Thánh Tôma dạy: “Pháp luật nhân loại chỉ có tính cách một lề

luật, khi nào nó hợp với lẽ phải; và lúc ấy hiệu lực của pháp

luật là do luật trường cửu. Nhưng khi nào pháp luật đi ra

ngoài lẽ phải, nó sẽ trở thành bất công, không còn yếu tính

một lề luật, trái lại, nó là một hình thức bạo lực”37 .

Quyền bính bởi Thiên Chúa, nhung sự kiện này không

làm cho con người mất quyền tuyển cử những vị cai trị mình,

mất quyền quyết định về chính thể, hay mất quyền đặt ra

những qui tắc và giới hạn cho việc thi hành quyền bính. Cứ

như đây, học thuyết ta mới trình bày thiết tưởng có thể thích

hợp với bất cứ một chính thể nào thực sự dân chủ 38 .

Thực hiện thiện ích chung, đấy là lý do tồn tại của

công quyền.

  1. Hết mọi cá nhân, mọi đoàn thể trung gian đều phải

cộng tác, mỗi người theo phạm vi của mình, để mưu thiện ích

cung cho toàn thể. Tất cả phải theo đuổi những quyền lợi của

mình, sao cho phù hợp với thiện ích chung trong khi cộng tác –

bằng của cải hay bằng công việc – họ phải theo những chỉ thị

mà công quyền đã xác định, hợp với qui tắc công bình và tùy

ở hình thức và giới hạn khả năng của mỗi người. Những hành

động mà chính quyền truyền xuống, tự nó, phải đích đáng,

phải có một nội dung tốt lành, theo luật luân lý, hay ít ra có

thể hướng định cho nên tốt.

Tuy nhiên, trách vụ của chính phủ chỉ có ý nghĩa, một

khi nhằm gây thiện ích chung, cho nên những quyết định của

37 Summa Theol. Ia,IIae. a.3 và Piô XII, Điện văn Sinh Nhật 1944

38 Lêô XIII, Thông điệp Diuturnum Illud và Piô XII, Điện văn Sinh

Nhật 1944.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 282

công quyền cần phải tôn trọng cái bản tính thực sự của thiện

ích, và phải tùy ở hoàn cảnh của thời cuộc 39 .

Những phương tiện căn bản của thiện ích chung.

  1. Những đặc điểm có tính cách nhân chủng phân biệt

từng đoàn thể nhân loại cũng thuộc trong phạm vi thiện ích

chung, nhưng tự nó, không có yếu tố để định nghĩa thiện ích

một cách toàn vẹn được 40 . Thiện ích chung, theo lý thuyết,

chỉ có thể định nghĩa trong hết mọi khía cạnh căn bản sâu xa,

cũng như chỉ có thể xác định theo lịch sử, một khi qui hướng

về con người. Bởi vì thiện ích chung là một yếu tố căn bản,

liên hệ đến bản tính nhân loại41.

Sau nữa, bản tính của thiện ích chung còn buộc hết mọi

công dân phải tham gia, tùy theo những thể thức khác nhau,

như việc làm, công nghiệp, và điều kiện mỗi người. Bởi thế,

công quyền chỉ nhắm phục vụ những quyền lợi của toàn thể,

không thiên vị một cá nhân, hay một lớp người trong xã hội.

Đức Tiên Giáo Hoàng Lêô XIII đã tuyên bố: “Không thể nào

cho phép công quyền dân sự quay sang phục vụ một người,

hay một số ít người, bởi vì công quyền được thiết lập là vì

thiện ích chung của toàn thể”42. Tuy nhiên, đức công bình và

sự vô tư đôi khi cũng cho phép những vị cầm quyền trong

nước được dành một sự săn sóc riêng cho những thành phần

yếu ớt nhất trong xã hội, vì không đủ khả năng bênh hộ

những quyền lợi chính đáng của mình 43 .

39 Piô XII, Điện văn Sinh nhật 1942

40 Piô XII, Thông điệp Summi Pontificatus

41 Piô XII, Thông điệp Mit brennender Sorge

42 Lêô XIII, Thông điệp Immortale Dei

43 Lêô XII, Thông điệp Rerum novarum

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 283

  1. Ở đây, ta cần lưu ý đến một sự kiện là thiện ích

chung bao hàm tất cả con người, với những nhu cầu thiêng

liêng và vật chất. Quan niệm như thế, thiện ích đòi ở nơi

chính phủ một chính sách thích hợp, tôn trọng các hệ thống

giá trị, và tùy theo tỉ lệ công bằng, phải dành cho xác cũng

như hồn những nguồn lợi vật chất hay thiêng liêng cân xứng

44 . Những nguyên tắc trên đây hoàn toàn ăn nhiịp với những

điều mà ta đã giải thích trong thông điệp “Mẹ và Thầy” :

Thiện ích chung “bao hàm tất cả những điều kiện trong đời

sống xã hội, với mục đích là những điều kiện này giúp con

người đạt tới sự hoàn hảo của mình một cách toàn diện và dễ

dàng hơn ”45 .

Con người thành bởi thân xác và linh hồn bất tử, cho

nên trong cuộc sống trần gian này, không thể được thỏa mãn

trong hết mọi đòi hỏi theo bản tính, cũng không thể đạt tới

hạnh phúc hoàn toàn. Bởi thế, những phương tiện đã được

thiết lập để phục vụ công ích, không được cản trở việc cứu

rỗi trường cửu của con người, trái lại, càng phải tích cực giúp

đỡ việc đó nữa46

Địa vị của công quyền đối với quyền lợi và nghĩa vụ

của cá nhân.

  1. Theo tư tưởng hiện đại, thiện ích chung ở tại nhất là

việc bảo vệ những quyền lợi và những nghĩa vụ của con

người, nhiệm vụ của nhà cầm quyền là bảo đảm sự nhìn nhận

và tôn trọng những quyền lợi đó, là dung hòa, bênh hộ, phát

huy những quyền lợi trên đây, nói thế khác, là giúp đỡ mỗi

công dân dễ thi hành những nghĩa vụ của mình. Bởi vì “sứ

44 Piô XII, Summi Pontificatus

45 AAS. LIII, 1961

46 Piô XI, Thông điệp Quadragesimo Anno

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 284

mệnh thiết yếu của mọi quyền bính chính trị là bênh vực

những quyền bất khả xâm phạm của con người và giúp cho

mỗi người dễ thi hành trách vụ riêng biệt của mình” 47.

Bởi vậy nếu công quyền không chịu nhìn nhận, hay là

vi phạm những quyền lợi con người, lúc ấy công quyền đã

không chu toàn nghĩa vụ của mình, mà lại những quyết định

của công quyền cũng mất hết giá trị pháp lý 48 .

Dung hòa, bảo vệ những quyền lợi và nghĩa vụ của

nhân vị.

  1. Công quyền, có một nghĩa vụ căn bản là xếp đặt

những mối liên quan pháp lý giữa các công dân với nhau, để

việc thi hành những quyền lợi nơi người này không làm ngăn

trở, hay làm tổn thương đến việc thi hành những quyền lợi đó

ở nơi người khác; mà lại càng làm cho việc thi hành những

nghĩa vụ tương ứng được chu đáo. Sau nữa, công quyền có

nghĩa vụ duy trì những quyền lợi của hết mọi người được toàn

vẹn, và ở đâu bị vi phạm, thì cần được tái lập ngay49 .

Sự thăng tiến các quyền lợi của con người.

  1. Công quyền có nhiệm vụ cộng tác vào việc thành

lập một tình trạng, trong ấy mỗi người có thể bênh vực quyền

lợi và thi hành những nghĩa vụ của mình một cách dễ dàng.

Bài học kinh nghiệm minh chứng rằng: nếu chính quyền

không kịp thời hành động trong phạm vi kinh tế, xã hội, văn

hóa tất nhiên giữa các công dân sẽ gây nên những bất bình

đẳng, nhất là ở thời đại ngày nay. Như thế, những quyền lợi

47 Piô XII, Diễn văn lễ Hiện Xuống 01-6-1941

48 Piô XI, Thông điệp Mit brennender Sorge, và Divini Redemptoris

49 Piô XI, Tđ. Divini Redemptoris; Piô XII, Điện văn Sinh Nhật 1942

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 285

căn bản của con người không còn hiệu lực, mà rồi việc thi

hành những nghĩa vụ tương ứng cũng bị tổn thương.

  1. Bởi vậy, việc tối khẩn là công quyền phải lưu tâm

đến việc chỉnh đốn xã hội song song vớisự tiến bộ kinh tế.

Công quyền phải tùy theo mức độ sản xuất quốc gia để phát

triển những công vụ thiết yếu, như đường sá, phương tiện

chuyển vận, giao thông, phân phát nước uống, nhà cửa, y tế,

giáo dục, những điều kiện thích hợp cho việc hành đạo, tổ

chức giải trí. Công quyền phải lo tổ chức những chế độ bảo

đảm cho những trường hợp tai nạn, những gánh nặng gia đình,

để không một cá nhân nào phải thiếu những nguồn lợi thiết

yếu cho một đời sống xứng hợp. Công quyền hãy để ý cho

những lớp lao động đến tuổi đi làm có một việc tương ứng với

khả năng của họ; và mỗi người thợ được hưởng một số lương

công bằng đích đáng; trong các công nghiệp, họ có thể lãnh

lấy phần trách nhiệm; làm sao có thể thành lập những đoàn

thể trung gian, để cho đời sống xã hội được thêm dễ dàng,

sung mãn. Sau hết, liệu cho hết mọi người được hưởng những

quyền lợi văn hóa tùy theo hình thức và trình độ thích hợp.

Mực quân bình giữa hai hình thức hoạt động của công quyền.

  1. Công ích đòi ở chính quyền, đứng trước những

quyền lợi của con người, phải thi hành hai việc: một là hòa

giải và bênh vực những quyền lợi đó, hai là cổ võ, nhưng

đồng thời giữ mức thăng bằng giữa hai hoạt động này. Nghĩa

là nói, một bên, chính quyền đề phòng những ưu thế dành

cho cá nhân, hay là cho một số đoàn thể không được tạo nên

trong quốc gia những tình trạng ưu đãi; bên kia, sự chính

quyền để tâm bênh vực những quyền lợi của toàn dân đừng

đi đến chỗ áp dụng một chính sách mà rồi ra sẽ tự phản, nghĩa

là hạn chế một cách quá đáng, hay là sẽ làm cho những

quyền lợi nói trên không thể thi hành một cách hoàn toàn.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 286

“Cần phải luôn luôn nhắc lại nguyên tắc sau đây: Hoạt động

của nhà nước trong lãnh vực kinh tế, dù có đi sâu rộng đến

đâu trong các khu vực xã hội, không khi nào được tiêu diệt

quyền tự do hoạt động của cá nhân, trái lại, phải cổ võ quyền

tự do này, làm sao có thể bảo đảm được những quyền lợi thiết

yếu của con người”.50

Chính cái nguyên tắc thăng bằng nói đây phải được

luôn luôn chú trọng, những khi công quyền gia tăng cố gắng,

để cho công dân được dễ hưởng những quyền lợi của họ, và

làm cho họ đỡ vất vả khi phải thi hành những nghĩa vụ trong

đời sống xã hội.

Cơ cấu và sự điều hàng công quyền.

  1. Trong việc tổ chức công quyền, không thể xác định

một cách tuyệt đối cơ cấu nào tốt hơn cả, cũng như không thể

quyết định công thức nào thích hợp nhất, trong khi áp dụng

các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Thực ra, trong việc lựa chọn hình thức cai trị trong một

nước, hay định đoạt những phương thức điều hành cho chính

quyền. Cần phải chú trọng rất nhiều đến hoàn cảnh riêng biệt

và những sự kiện lịch sử của mỗi dân tộc: nó thay đổi tùy thời

gian, tùy địa phương. Tuy nhiên, ta thiết tưởng: phù hợp hơn

cả đối với đòi hỏi của bản tính con người, là việc tổ chức các

cộng đồng nhân loại về phương diện chính trị, được xây đắp

trên nguyên tắc nhân quyền, theo ba trách vụ chính của công

quyền. Thực thế, trong chế độ này, không những các quyền

hạn và sự điều hành công quyền, nhưng cả đến các mối tương

quan giữa thường dân và đại diện chính quyền, đều được xác

định bằng từ ngữ pháp luật, và như vậy người dân được bảo

đảm trong việc thi hành các quyền và chu toàn các nghĩa vụ

của mình.

  1. Tuy thế, muốn cho một chế độ pháp lý và chính trị

theo kiểu vừa nói trên, có thể đem lại kết quả, thì trong khi

hoạt động, cũng như trong các phương pháp đưa ra, công

quyền phải ý thức được cái thể trạng của các vấn đề phức tạp

mà họ phải giải quyết, tùy theo hoàn cảnh của xứ sở. Điều

cần thiết là mỗi quyền hành phải cương quyết thi thố nhiệm

vụ của mình. Quyền lập pháp thực hiện trong giới hạn mà trật

tự luân lý đã quy định, và theo những nguyên tắc ghi trong

hiến pháp, phải đi sát với những đòi hỏi của công ích, theo đà

biến chuyển thường xuyên của các hoàn cảnh. Quyền hành

pháp phải làm nổi bật vai trò pháp lý, sau khi đã thấu triệt các

luật lệ, và nghiên cứu đầy đủ các hoàn cảnh. Quyền tư pháp

phải thực hiện sự công minh, phải nhân đạo nhưng không

thiên vị, phải cương quyết để đừng nao núng trước áp lực của

hai bên tranh tụng.

Trật tự công bằng còn đòi cho các công dân, cũng như

các đoàn thể trung gian, trong khi thi hành các quyền lợi và

nghĩa vụ của họ, được hưởng sự bênh vực pháp lý một cách

hữu hiệu, trong các dây liên lạc giữa họ với nhau, cũng như

trong các mối tương quan với nhân viên chính quyền 51 .

50 Gioan XXIII, Thông điệp Mater et Magistra

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 287

Trật tự pháp lý và lương tâm luân lý.

  1. Một trật tự pháp lý, ăn nhịp với trật tự luân lý và

tương đối có thể sánh kịp với một trình độ trưởng thành chính

trị, lẽ cố nhiên sẽ là một yếu tố căn bản cho sự thực hiện

công ích.

51 Piô XII, Điện văn Sinh nhật 1942

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 288

Nhưng ở thời đại chúng ta, đời sống xã hội đã trở nên

phức tạp, nhiều hình thể và rất nhộn nhịp, thành ra những

quyết định pháp lý, dù có là thành quả của một kinh nghiệm

lâu dài, hay của một khối óc lo xa, cũng vẫn còn khiếm

khuyết. Ngoài ra, những mối liên lạc giữa cá nhân với nhau,

giữa cá nhân hay các đoàn thể trung gian với công quyền, hay

giữa các cơ quan chính quyền ở trong một nước với nhau,

nhiều khi nêu lên những vấn đề phiền phức, tế nhị đến nỗi

không tìm ra một giải pháp thích hợp trong những khung cảnh

pháp lý nhất định. Trong trường hợp như thế các nhà cầm

quyền muốn trung thành với trật tự pháp lý hiện hữu, đồng

thời muốn cởi mở trước những tiếng gọi từ đời sống xã hội

phát lên, để cố dung hòa khung cảnh pháp lý với đà biến

chuyển của các hoàn cảnh : cũng như để giải quyết vấn đề

mới mẻ một cách thích đáng, lẽ tất nhiên các nhà cầm quyền

phải ý thức rõ rệt về bản tính và tầm bao la của chức vụ mình,

phải có một mức thăng bằng, một sự thẳng thắn, một tầm hiểu

rộng, một tinh thần thực tế, để cứu xét tại chỗ , một cách

khách quan, tất cả những trường hợp cụ thể, sau hết, phải có

một ý chí cương nghị, để hoạt động mau chóng và hiệu

nghiệm52.

Sự tham gia của công dân vào đời sống quốc gia.

  1. Người công dân có thể tham gia một phần chủ động

vào đời sống công khai, đấy là quyền lợi đi liền với nhân

phẩm của họ: nhưng những phương thức trong việc tham gia

này còn tùy ở mức độ trưởng thành của cộng đồng chính trị,

nơi mà người công dân đang là thành phần và đang hoạt động.

Khả năng được can thiệp vào đời sống chung mở rộng

cho con người nhiều cơ hội để phục vụ. Được yêu cầu để gia

tăng những cuộc tiếp xúc và trao đổi ý kiến với thường dân,

các nhà cầm quyền càng hiểu rõ những đòi hỏi khách quan

của công ích. Ngoài ra, sự thay đổi, đúng theo nhiệm kỳ,

những người cầm quyền trong các công vụ còn giúp cho công

quyền có cơ hội tránh hết mọi tinh thần cổ hủ, và luôn luôn

tái diễn xuất linh hoạt mới mẻ theo nhịp tiến bộ của xã hội 53 .

Triệu chứng của thời đại.

  1. Trong việc tổ chức pháp lý những cộng đồng chính

trị hiện đại, ta nhận thấy một khuynh hướng muốn soạn thảo,

bằng những công thức rõ rệt, khúc chiết, một bản hiến

chương về tất cả những quyền lợi căn bản của con người :

Bản hiến chương này thường được thâu nhận, hay là được liệt

vào làm thành phần hoàn bị trong các tập hiến pháp của các

quốc gia.

  1. Thứ hai, trong các tập hiến pháp, người ta đang cố

xác định bằng những danh từ pháp lý, những phương thức chỉ

định những người ra giữ nhiệm kỳ công vụ, những mối tương

quan của họ với nhau, những quyền hạn, và sau cùng, những

phương tiện và cách thức họ phải tuân giữ trong khi thừa hành

chức vụ.

Thứ ba, người ta quyết định, bằng danh từ quyền lợi và

nghĩa vụ những mối liên lạc giữa công dân với công quyền.

Công quyền có nhiệm vụ trước hết là nhìn nhận, tôn trọng

những quyền lợi và nghĩa vụ công dân, sau đó, bảo đảm sự

điều hòa, bênh hộ và phát triển những quyền lợi và nghĩa vụ

đó.

Dĩ nhiên, ta không thể nhận lý thuyết cho rằng : Chỉ có

ý muốn của con người – hoặc cá nhân hoặc đoàn thể – mới là

nguồn gốc duy nhất và trước hết, để phát sinh những quyền

lợi và nghĩa vụ công dân, phát sinh cả hiệu lực bắt buộc của

hiến pháp, và của quyền bính quốc gia 54 .

Tuy nhiên, những khuynh hướng Ta vừa nêu lên minh

chứng rằng: con người của thời đại ta đã ý thức được một cách

linh động cái nhân phẩm của mình; vì thế họ được thúc đẩy ra

tham gia vào việc công, và đòi pháp luật quốc gia bảo đảm

những quyền lợi bất khả xâm phạm của họ. Họ yêu cầu các

nhà cầm quyền chỉ được ra nắm chính quyền bằng cách tuân

theo những thủ tục do pháp luật đã ấn định và chỉ được thi

hành quyền bính trong những giới hạn mà pháp luật đã ban

bố.

PHẦN III

NHỮNG TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC CỘNG ĐỒNG

CHÍNH TRỊ

Các quyền và nghĩa vụ

  1. Ta cũng phải nhắc lại điều mà các Đức Tiên Giáo

Hoàng thường luôn luôn nhắn nhủ: các cộng đồng chính trị

đều có quyền lợi và bổn phận đối với nhau, vì thế, sự liên lạc

giữa các cộng đồng phải được điều hòa trong chân lý, công

bình, trong sự liên đới sống động và trong tự do. Đã điều hòa

sự liên lạc giữa các các nhân, thì luật luân lý cũng phải điều

hòa mối liên lạc giữa các cộng đồng chính trị.

Điều đó không có gì là khó hiểu khi người ta nhận thức

được rằng: cả các nhà cầm quyền khi hành động với danh

54 Lêô XIII, Tông thư Annum ingressi

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 291

nghĩa và vì quyền lợi của các cộng đồng chính trị, cũng không

có thể gạt bỏ được nhân vị của mình và bởi đó, không có thể

chà đạp lên luật của bản tính, tức là luật luân lý.

Vả lại, quả là một điều phi lý , nếu những người được

đưa ra điều khiển công vụ lại bị cưỡng bách phải chối bỏ

nhân phẩm mình. Phải chăng họ nắm giữ những chức vụ cao

như vậy, chính là vì họ có những đức tính đặc biệt khiến cho

người ta nhận họ là những phần tử ưu tú hơn hết của xã hội.

Ngoài ra , trật tự luân lý đòi hỏi sự hiện diện của quyền

bính trong xã hội loài người không được dùng quyền bính để

đi ngược trật tự đó, và khi nào nó đi ngược lại, tức khắc sẽ

không còn là quyền bính nữa, vì Chúa đã dạy rằng: “Hỡi các

vua chúa, hãy cố mà nghe, hỡi những người có quyền hành

trên trái đất, hãy cố mà hiểu, hỡi những ai có quyền thống trị

các dân tộc và những ai hãnh diện được điều khiển các quốc

gia, hãy lắng tai nghe: quyền bính là của Chúa ban cho các

ngươi, và quyền thống trị cũng là do Đấng Tối Cao ban

xuống: Người sẽ luận đoán hành động và dò xét dự tính của

các ngươi”55.

  1. Sau cùng, cũng cần phải nhớ rằng: trong khi điều hòa

sự liên lạc giữa các cộng đồng chính trị, quyền bính chỉ được

dùng để thực hiện công ích: chính đó là lý do tồn tại của

quyền bính. Và một trong những yếu tố căn bản của công ích

chính là sự thừa nhận và tôn trọng trật tự luân lý. “Trật tự của

các cộng đồng chính trị cần phải được xây trên nền tảng bất

di bất dịch của luật luân lý, luật đã được Tạo Hóa biểu lộ qua

trật tự thiên nhiên và được ghi khắc vào tâm khảm con người,

không gì xóa được. Như một hải đăng sáng, luật luân lý phải

dùng ánh sáng các nguyên tắc của mình để điều khiển hành

55 Kng. 6, 2-4

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 292

động của mọi người và mọi quốc gia. Họ phải cố gắng theo

các lời chỉ dẫn , các ám hiệu hữu ích và thuận lợi của luật

luân lý, nếu không muốn để cho hành động và sức cố gắng

xây dựng một trật tự mới của mình trở nên nguy hiểm và vô

ích” 56.

Trong chân lý

  1. Sự liên hệ giữa các cộng đồng chính trị phải được

điều hòa trong chân lý.Trước hết, trong các sự liên lạc, chân

lý đòi phải gạt bỏ mọi sự kỳ thị chủng tộc. Cần phải nhận tôn

chỉ này, là theo giá trị của nhân tính, mọi cộng đồng chính trị

đều bình đẳng, vì thế, mọi cộng đồng được quyền tồn tại,

phát triển, và dùng mọi phương tiện chính đáng để phát triển.

Mỗi cộng đồng là người thứ nhất chịu trách nhiệm trong việc

thể hiện sự phát triển đó, và được quyền hưởng mọi danh giá

và danh dự xứng đáng.

Giữa các cá nhân thường có những sự khác biệt nhau

nhiều khi rõ rệt về trí thức, đức tính, khả năng sáng chế, và

trong sự chiếm hữu của cải. Những điều đó không thể bào

chữa cho ý định muốn đem mình lên trên người khác, nhưng

những khác biệt đó phải là nguồn trách nhiệm trong sự cộng

tác mà mỗi người và mọi người phải làm, để nâng cao đời

sống của nhau.

  1. Các cộng đồng chính trị cũng như vậy : có những

cộng đồng tiến hơn những cộng đồng khác trên các lãnh vực

khoa học, văn hóa, và các phát triển kinh tế. Ưu thế đó chẳng

những không cho phép các dân tộc tiến bộ thống trị cách bất

công những dân tộc ít được may mắn, mà còn bắt buộc các

dân trên đóng góp rộng rãi hơn vào việc mưu đồ hạnh phúc

cho nhau.

Dĩ nhiên là không thể có sự kiện người này hơn người

khác về bản tính, vì bản tính mọi người đều cao quí bằng

nhau. Và các cộng đồng chính trị cũng như vậy : xét về bản

tính các cộng đồng này đều bình đẳng về phẩm giá tự nhiên

bởi vì cộng đồng nào cũng là một cơ cấu mà các phần tử cấu

tạo là những con người. Vả lại, lịch sử chứng minh rằng không

gì làm các dân tộc đau đớn bằng những gì xúc phạm gần hay

xa tới danh dự họ và đó là một phản ứng tâm lý rất chính

đáng.

Chân lý còn đòi buộc người ta luôn luôn giữ một thái

độ khách quan bình thản trong những sáng kiến đã nhờ các

phát minh mới đây của kỹ thuật mà thực hiện được, và nhờ đó

các dân tộc dễ hiểu biết nhau một cách một cách rộng rãi

hơn. Đã hẳn là mỗi cộng đồng có quyền đề cao những cái tốt

đẹp của riêng mình, nhưng phải tuyệt đối bài trừ những

phương pháp thông tin phản chân lý và làm tổn thương cách

bất công tói danh dự của dân tộc này hay dân tộc khác 57 .

Trong công bình

  1. Những tương quan giữa các cộng đồng chính trị còn

phải được điều hòa theo công bình, nghĩa là, ngoài sự nhìn

nhận quyền lợi của nhau, còn phải thi hành mọi bổn phận đối

với nhau nữa.

Mỗi cộng đồng chính trị được quyền tồn tại, phát triển

và dùng mọi phương tiện chính đáng để phát triển. Mỗi cộng

đồng có quyền là người thứ nhất chịu trách nhiệm thể hiện sự

phát triển đó, và có quyền bảo vệ thanh danh và phẩm giá

mình. Đồng thời do đó, các cộng đồng chính trị khác cũng có

bổn phận phải tôn trọng các quyền lợi kể trên, và phải tránh

mọi hành động có thể vi phạm đến nó. Như trong sự liên hệ

giữa các cá nhân, người này không có quyền tìm ích lợi cho

mình trong sự thiệt hại cho người khác, thì trong sự liên hệ

giữa các cộng đồng cũng thế, cộng đồng này không có quyền

phát triển khi phải lấn át, đè nén các cộng đồng khác. Phải

nhớ lời thánh Augustinô: “Khi đã gạt bỏ công bình ra ngoài,

các quốc gia sẽ biến thành gì, nếu không phải thành những

phường đạo tặc vĩ đại ?” 58.

Chắc chắn rằng giữa các cộng đồng chính trị thường có

thể xảy ra, và thật sự đã xảy ra nhiều sự va chạm quyền lợi,

nhưng cần phải tránh các cuộc va chạm đó, và cần phải giải

quyết các cuộc tranh chấp đó không phải bằng võ lực, hoặc

bằng gian trá, xảo quyệt, nhưng vì liên hệ đến con người, nên

phải giải quyết trong sự hiểu biết nhau qua các giá trị khách

quan và sự thông cảm.

Số phận các dân tộc thiểu số.

  1. Từ thế kỷ XIX, trong cuộc diễn tiến của lịch sử,

người ta đã phổ biến mạnh các khuynh hướng muốn cho ranh

giới các cộng đồng chính trị ăn khít với ranh giới các quốc gia.

Nhưng vì nhiều lý do thường người ta không thể làm cho

cương giới địa dư ăn khít với cương giới chủng tộc. Do đó, đã

sinh ra hiện tượng các dân tộc thiểu số và các vấn đề liên

quan.

Ta cần phải minh xác rằng: bất cứ một hành động nào

nhắm mục đích xâm phạm hay bóp nghẹt sự sinh hoạt của các

dân tộc thiểu số đều là một vi phạm nặng nề vào đức công

bình và khi người ta cố tâm tiêu diệt các dân tộc thiểu số, thì

tội ấy càng nặng hơn nữa.

Không những thế, sự công bình còn đòi hỏi công quyền

phải cố gắng góp công trong sự phát triển và nâng cao những

điều kiện sinh sống dân tộc thiểu số, và dùng những phương

pháp hữu hiệu để nâng đỡ ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, các

tài nguyên và sáng kiến kinh tế của họ.59

  1. Tuy nhiên, cũng phải nhận rằng: nhiều khi các dân

tộc thiếu số, vì phản ứng trước hoàn cảnh lao khổ hay trước

những sự kiện lịch sử dĩ vãng, đã quá quan trọng hóa những

yếu tố chủng tộc của mình, đến nỗi đặt nó lên trên cả những

giá trị của toàn thể nhân loại, làm như tất cả nền công ích của

đại gia đình thế giới đều phải tùy thuộc quyền lợi riêng quốc

gia của họ. Không, chính lẽ ra họ phải ý thức cái tình trạng

nhiều ưu điểm mà họ đang thụ hưởng: tức là sự tiếp xúc hằng

ngày với lớp người có một nền văn hóa, hay một nền văn hóa

khác biệt, càng làm cho họ thêm dồi dào về phương diện

thiêng liêng và tinh thần, làm cho họ có cơ hội được thấm

nhuần những giá trị riêng biệt trong khu vực họ đang sống. Và

sự kiện này sẽ thành tựu mỹ mãn, khi mà chính dân tộc thiểu

số biết tự coi mình như một cái cầu thuyên chuyển sức sống

linh hoạt qua nhiều hình thức ở giữa các truyền thống và văn

hóa khác nhau, chứ đừng tự tạo cho mình một khu vực đụng

chạm vì chính cái đó sẽ gây thiệt hại và ngăn trở cuộc tiến

hóa chung.

Liên đới sống động.

  1. Bởi vậy, chân lý và công bình phải chi phối những

liên lạc giữa các cộng đồng chính trị, và các cộng đồng này

phải sống động nhờ tình liên đới hữu hiệu, thể hiện dưới

muôn ngàn hình thức hợp tác về kinh tế, xã hội, chính trị, văn

hóa, y tế và thể thao, là những hình thức có thể thực hiện và

có nhiều hiệu quả đối với thời đại chúng ta. Về vấn đề này,

chúng ta đừng quên rằng sứ mạng tự nhiên của chính quyền

không phải là dùng biên giới quốc gia để ngăn chặn nhãn giới

người dân, nhưng trước hết là phải bảo vệ thiện ích chung của

quốc gia và dĩ nhiên thiện ích này không thể tách rời khỏi

thiện ích của toàn thể cộng đồng nhân loại.

  1. Như vậy, trong khi theo đuổi những quyền lợi của

mình, các cộng đồng chính trị chẳng những tránh gây thiệt hại

cho nhau, nhưng còn phải chung góp các dự án và tài nguyên

của mình để đạt tới các mục tiêu mà các cộng đồng không

thể đạt tới được nếu không hành động như vậy. Tuy nhiên,

trong trường hợp này, trên hết phải tránh những kế hoạch

mưu lợi cho một nhóm cộng đồng chính trị và đừng làm hại

cho những cộng đồng khác mà trái lại phải mang đến cho họ

những lợi ích tích cực.

  1. Để thỏa mãn một đòi hỏi khác của thiện ích chung

toàn thế giới, mỗi cộng đồng chính trị phải tán trợ những cuộc

trao đổi trong quốc nội dưới mọi hình thức giữa các tư nhân

hoặc giữa các đoàn thể trung gian. Trong nhiều miền trên thế

giới có những nhóm người khác nhau ít nhiều về mặt chủng

tộc nhưng vẫn chung sống với nhau; phải lo sao cho yếu tố

khác biệt của mỗi nhóm đừng biến thành kín mít, ngăn cản

các mối liên lạc với những người thuộc các nhóm khác. Làm

như thế là đi ngược với thời đại chúng ta, trong đó bao nhiêu

khoảng cách giữa các dân tộc hầu như đã được xóa bỏ. Ta

không nên quên rằng: nếu vì một vài yếu tố chủng tộc mà

chúng ta khác biệt nhau, thì cũng có vô số những yếu tố

chung và căn bản khác do bản tính con người làm cho chúng

ta luôn luôn cũng gặp nhau trong thế giới các giá trị thiêng

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 297

liêng, và sự thấm nhuần các giá trị đó làm cho chúng ta được

hoàn thiện không ngừng. Chúng ta phải nhận rằng, sự giao

dịch với nhau chính là quyền và bổn phận của mỗi người.

Sự quân bình giữa dân cư, đất đai và tài sản.

  1. Chúng ta biết rõ rằng: trên trái đất này có những

nước đất trồng trọt được thì mênh mông mà dân cư thì ít, trái

lại, cũng có những nước mà nguồn lợi thiên nhiên và vốn để

khai thác không cân đối với nhau. Điều đó đòi hỏi giữa các

dân tộc phải có sự cộng tác để cho vốn, của cải và con người

dễ được di chuyển từ nước này qua nước khác.60

Ta nghĩ cũng cần phải chú ý đến điều này là mỗi khi có

thể được người có vốn phải đi tìm công việc, chứ không

ngược lại.

Như thế sẽ giúp cho nhiều người có dịp cụ thể để tạo

một tương lai sáng sủa mà không bị bó buộc phải bỏ quê

hương điều mà khi thực hành, thường gây ra những đổ vỡ đau

đớn và thường đòi một thời gian lâu dài, khó khăn, để thích

nghi với những người và hoàn cảnh xã hội mới.

Vấn đề tị nạn chính trị.

  1. Tình phụ tử bao la mà Chúa nung nấu trong lòng ta

làm cho ta đau đớn, khi nhìn thấy hiện tượng tị nạn chính trị:

hiện tượng đã có tầm rộng rãi và nhiều cảnh đau thương khôn

kể.

Điều đó chứng tỏ rằng: Có nhiều qui chế chính trị quá

bóp chẹt các phạm vi tự do mà người ta có quyền thụ hưởng

và cần phải có để được sống xứng đáng với địa vị con người,

trái lại, trong các qui chế chính trị nói trên người ta đã đi đến

chỗ phủ nhận nhân quyền tự do đó, nếu không bãi bỏ thực

sự. Điều đó minh chứng rằng: dã đảo lộn hẳn trật tự trong sự

sống chung bởi lý do tồn tại của công quyền chính là để thực

hiện thiện ích chung và yếu tố căn bản của thiện ích chung là

nhìn nhận phạm vi tự do và quyền bất khả xâm phạm của sự

tự do đó.

60 Gioan XXIII, Thông điệp Mater et Magistra

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 298

  1. Cũng không cần phải nhắc lại nơi đây rằng: các

người di cư chính trị cũng là người, và họ cũng phải được

hưởng quyền lợi của con người: quyền lợi mà không một ai

cắt xén được mặc dầu họ đã bị tuyên bố mất quyền công dân

ở tổ quốc của họ.

Bởi vì trong các quyền lợi có liên hệ đến con người,

chính là quyền cho họ có thể đi đến một xứ sở, nơi mà họ tin

rằng có thể tạo một tương lai cho chính bản thân và cho gia

đình mình. Do đó, các cộng đồng chính trị, có bổn phận phải

tán thành sự sáp nhập số người tị nạn, và tùy ở điều kiện

công ích mỗi nơi, phải ủng hộ sự sáp nhập những phần tử mới

đó trong cộng đồng của mình.

Ta hân hoan lợi dụng dịp này để tỏ lòng thành thực tán

dương mọi sáng kiến kích động và cổ võ tình liên đới nhân

đạo và đức bác ái công giáo, nhằm mục đích làm cho sự di

chuyển con người từ cộng đồng này sang cộng đồng khác bớt

đau khổ.

Ta cũng nhắc cho mọi tâm hồn thiện chí hãy lưu tâm và

cám ơn các cơ quan quốc tế chuyên biệt vì công cuộc họ đã

làm trong địa hạt hết sức tế nhị này.

Việc giải giới.

  1. Ta đau đớn khi nhận thấy rằng: trong nhiều cộng

đồng chính trị mà nền kinh tế dồi dào hơn, người ta đã phát

minh ra, và còn tiếp tục phát minh ra nhiều khí giới kinh

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 299

khủng, và vì thế, người ta đã tiêu hao bao nhiêu nghị lực tinh

thần và bao nhiêu nguồn lợi kinh tế. Công dân các cộng đồng

ấy đã chịu hy sinh không ít, và cùng lúc đó, các cộng đồng

chính trị khác cũng không được hưởng sự cộng tác cần thiết

cho sự phát triển kinh tế và sự tiến bộ xã hội của mình.

Như ta đã biết: để biện hộ cho sự sản xuất vũ khí này,

người ta thường đưa ra luận điệu: chỉ có một nền hòa bình duy

nhất có thể thực hiện được, đó là nền hòa bình xây trên thế

quân bình về binh lực. Vì thế, hễ một cộng đồng võ trang, là

các cộng đồng khác cũng phải võ trang theo. Nếu một cộng

đồng chế tạo vũ khí nguyên tử, thì các cộng đồng khác cũng

phải chế tạo vũ khí nguyên tử có sức phá hoại đồng đều.

  1. Do đó, nhân loại luôn luôn phải sống trong sự đe

dọa của một cuộc chiến tranh có thể bộc phát bất cứ lúc nào,

với một sức tàn phá khôn lường. Bởi vì khí giới đã sẵn, và

nếu không thể tin rằng có người dám cả gan đứng ra chịu

trách nhiệm về những sự đau thương tàn khốc do chiến tranh

gây ra, nhưng vẫn có thể tin được rằng chỉ một sự kiện bất

ngờ và không thể kiểm soát được, có thể khơi ngòi cho tất cả

bộ máy chiến tranh đó. Và dù người ta có thể kiểm soát các

khí giới nói đây một cách hữu hiệu, để chiến tranh không thể

xảy ra được, thì cũng có đủ lý mà sợ rằng: chỉ sự liên tiếp thí

nghiệm các khí giới nguyên tử cũng có thể nguy hại cho sự

sống trên trái đất.

  1. Vì thế, sự công bình, sự khôn ngoan và lòng nhân

đạo đòi người ta phải ngừng cuộc thi đua võ trang, và đồng

thời phải hạn chế các khí giới có trong các nước, phải loại trừ

khí giới nguyên tử, để sau cùng, đi đến một cuộc tài giảm

binh bị có sự kiểm soát hữu hiệu. Đức Tiên Giáo Hoàng Piô

XII đã tuyên bố:”Không được để cho một cuộc thế chiến với

tất cả sự đổ vỡ kinh tế, xã hội của nó và tất cả sự lầm lẫn,

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 300

xáo trộn luân lý, có thể tái diễn một lần thứ ba trên nhân loại

nữa” 61.

  1. Nhưng ta cũng phải nhìn nhận rằng: sự ngưng võ

trang, sự hạn chế tiềm lực chiến tranh, và hơn nữa sự tài giảm

binh bị sẽ không thể, hoặc hầu như không thể nào thực hiện

nổi, bao lâu người ta không chịu thi hành một cuộc giải giới

toàn diện, nghĩa là một cuộc giải giới cả trong tâm hồn: phải

làm sao tiêu diệt cho tận gốc cái tâm trạng cứ nơm nớp sợ hãi

chiến tranh! Muốn như thế, cần phải loại trừ ý tưởng cho rằng

phải xây dựng hòa bình trên mức thăng bằng võ lực và, thay

vào đấy, phải đề cao nguyên tắc dạy rằng hòa bình chỉ có thể

xây dựng trên lòng tin tưởng lẫn nhau. Ta đoán chắc rằng điều

đó có thể thực hiện được vì không những nó là cái mà lương

tri đòi hỏi, mà lại chính đấy mới là cái mọi người mong muốn,

và thực ra rất hữu ích.

  1. Trước hết đó là cái mà lương tri đòi hỏi: vì thực ra ai

cũng thấy, hay ít ra ai cũng nhận ra rằng: sự bang giao giữa

các cộng đồng, cũng như sự bang giao giữa cá nhân với cá

nhân, không thể được qui định bởi sức mạnh của võ lực,

nhưng là phải qui định bằng những nguyên tắc của lý trí, tức

là bằng chân lý, công bình và sự đoàn kết thực tế.

Thứ hai, đó là điều mà mọi người tha thiết mong chờ. Vì

ai mà lại không mong trách khỏi hiểm họa chiến tranh và

không mong cho hòa bình được duy trì và mỗi ngày được

thêm bảo đảm!

Sau hết, đó là một điều rất hữu ích. Vì nhờ có hòa bình,

mà cá nhân, gia đình, dân tộc và toàn thể nhân loại đều được

hưởng những tiện nghi. Lời cảnh cáo của Đức Giáo Hoàng Piô

XII ngày nay vẫn còn vang dội: “Với hòa bình không mất gì

hết, nhưng với chiến tranh sẽ mất tất cả” 62.

61 Piô XII, Điện văn Sinh nhật 1941; và Bênêdictô XV, Adhortatio

ngày 01-8-1917

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 301

  1. Vì thế, là Đại Diện Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu

Chuộc thế giới và tác tạo hòa bình, là phát ngôn viên cho

nguyện vọng sâu xa cho cả gia đình nhân loại theo sự thúc

bách của lòng, Ta hằng lo lắng cho hạnh phúc muôn dân. Ta

thấy có bổn phận khuyên giục mọi người, nhất là những ai

cầm vận mệnh các quốc gia, đừng có tiếc rẻ công lao khó

nhọc, ngõ hầu liệu cho thời cuộc được trôi chảy hợp với lương

tri và xứng với phẩm giá con người.

Trong các Hội nghị tối cao, hãy cố nghiên cứu vấn đề

then chốt, là tìm ra một thế quân bình quốc tế thật nhân đạo,

xây đắp trên lòng tin tưởng lẫn nhau, trên sự thành thật đàm

phán, và trên sự trung thành thực hiện những điều đã chấp

thuận. Hãy cố phân tích vấn đề cho thật tỉ mỉ, để tìm lấy một

khởi điểm có thể đưa tới những hiệp ước bền bỉ, thành thực

và hữu ích.

Còn Ta, lúc nào Ta cũng thành khẩn xin Chúa chúc lành

và nâng đỡ mọi cố gắng của họ, để có thể đạt được những

thành quả tích cực.

Trong tự do

  1. Mối liên lạc giữa các cộng đồng chính trị phải được

điều hòa trong tự do. Nghĩa là không một cộng đồng nào có

quyền đè ép hay xen vào nội bộ một cộng đồng khác cách

không chính đáng. Trái lại, mọi cộng đồng phải cộng tác để

làm cho trong mỗi cộng đồng được phát triển tinh thần trách

nhiệm, óc sáng kiến và tin tưởng rằng chính mỗi cộng đồng

phải đẩy mạnh mọi việc phát triển trên mọi lãnh vực.

62 Piô XII, Điện văn ngày 24 – 8 – 1939

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 302

Cuộc thăng tiến của những quốc gia đang trên đường

mở mang kinh tế.

  1. Cùng chung một nguồn gốc, cùng lãnh nhận một ơn

Cứu chuộc, cùng có một số mệnh, bấy nhiêu sự đã ràng buộc

mọi người thành một gia đình Kitô hữu. Cũng vì thế mà trong

thông điệp “Mẹ và Thầy” Ta đã khuyến khích các cộng đồng

chính trị có nền kinh tế dồi dào hơn, hãy cố gắng giúp đỡ các

cộng đồng khác đang trong giai đoạn phát triển kinh tế.

Ta sung sướng nhận thấy rằng lời kêu gọi của Ta đã

được rộng rãi chấp nhận, và hy vọng rằng, trong tương lai, lời

kêu gọi của Ta còn góp phần vào sự làm cho các quốc gia

chậm tiến, trong một thời gian ngắn hết sức, sẽ đi đến một sự

phát triển kinh tế khả dĩ làm cho công dân của mình được

sống trong những điều kiện xứng hợp với địa vị con người.

  1. Nhưng, cần phải nhắc đi nhắc lại điều này, là sự

giúp đỡ nói trên đây phải được thực hiện trong sự hoàn toàn

tôn trọng tự do của các cộng đồng chính trị đang phát triển,

điều cần nhất là các cộng đồng chính trị ấy phải tự nhận mình

là người đầu tiên chịu trách nhiệm, và là động tác chính trong

việc thực hiện sự phát triển kinh tế và sự cải tiến xã hội của

mình.

Đức Tiên Giáo Hoàng Piô XII đã tuyên bố: “Trong cuộc

cải tiến mới mẻ xây trên nguyên tắc luân lý, không được vi

phạm tự do, vi phạm sự thống nhất lãnh thổ và an ninh của

các quốc gia khác, mặc dầu cho đất đai của họ có lớn hay nhỏ

đi nữa, khả năng tự vệ của họ có mạnh hay yếu gì cũng vậy.

Lẽ cố nhiên, các cường quốc có tài nguyên dồi dào, có thế

lực mạnh mẽ, bao giờ cũng có quyền ưu tiên trong việc xác

định những qui chế hợp đồng kinh tế giữa họ với các nước

nhỏ; nhưng dù thế, các nước nhỏ cũng như bất cứ nước nào

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 303

khác, trong phạm vi công ích, vẫn có toàn quyền độc lập

chính trị, và quyền được đứng trung lập trong các cuộc tranh

chấp quốc tế, cũng như quyền được bảo vệ nền mở mang

kinh tế riêng. Vì chỉ có họ mới theo đuổi được cách tương

ứng: công ích, sự sung mãn vật chất và tinh thần của dân tộc

họ” 63.

  1. Những cộng đồng chính trị có nền kinh tế mở mang,

trong công cuộc viện trợ dưới nhiều hình thức cho các nước

kém mở mang có nghĩa vụ phải nhìn nhận và tôn trọng những

giá trị luân lý và những đặc tính nhân chủng của những nước

này, cấm không được có sự tính toán thống trị dân tộc khác.

Có như thế, họ mới đem lại “một công trình quí hóa để tạo

nên một cộng đồng thế giới, trong mọi thành phần ý thức

được nghĩa vụ, cũng như những quyền lợi của mình, sẽ cùng

chung nhau một cách bình đẳng về thực hiện nền thiện ích

chung cho toàn thể nhân loại” 64.

Triệu chứng của thời đại.

  1. Càng ngày nhân loại càng nhận định rõ ràng: mọi

cuộc tranh chấp hiện thời giữa các dân tộc đều không có thể

được giải quyết bằng võ lực, mà cần phải đi đến đàm phán.

Đã hẳn rằng nhận định như thế là vì thấy sức tàn phá

ghê gớm của các khí giới tối tân, và vì người ta run sợ trước

những tai họa và trước những tàn khốc do các loại khí giới ấy

gây nên. Bởi thế, không ai có thể cho rằng: trong thời đại

nguyên tử này, có thể dùng chiến tranh làm dụng cụ xây

dựng công bình.

63 Piô XII, Điện văn Sinh nhật 1941

64 Gioan XXIII, Thông điệp Mater et Magistra

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 304

  1. Nhưng, than ôi, ngày nay, sự lo sợ ấy vẫn còn là luật

thống trị các dân tộc. Sự lo sợ đó thúc đẩy người ta tung ra

những món tiền khổng lồ để võ trang, và cũng có lẽ tin được

như người ta nói – làm như thế không phải để gây chiến,

nhưng để làm cho người khác đừng gây chiến. Dù sao ta còn

hy vọng rằng: trong những cuộc giao tiếp và liên lạc với nhau,

con người còn nhận ra mối tình nhân loại ràng buộc họ, và họ

sẽ tự hiểu rằng: trong những nghĩa vụ căn bản phát sinh từ

bẩm tính, không gì cao quí bằng tuân theo mệnh lệnh của tình

thương, là đưa nhân loại đến chỗ đoàn kết chân thành, cho dù

dưới nhiều hình thức khác nhau, như thế mới có thể mang lại

nhiều thành quả tươi đẹp.

 

PHẦN IV

TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC CÁ NHÂN VÀ CÁC CỘNG

ĐỒNG QUỐC GIA VỚI CỘNG ĐỒNG THẾ GIỚI

Sự liên thuộc giữa các cộng đồng chính trị.

  1. Những tiến bộ mới nhất của khoa học và kỹ thuật đã

có ảnh hưởng sâu rộng trên con người, và đã gây ra cho họ,

trên khắp mặt đất một trào lưu nhằm gia tăng sự cộng tác và

siết chặt sự hiệp nhất của họ với nhau. Ngày nay, những cuộc

trao đổi tài sản và tư tưởng, cũng như những nhịp giao thông

dân sự đã được bành trướng rất nhiều. Người ta đã gia tăng

gấp bội nào là những mối giao hảo giữa các công dân, các gia

đình và các đoàn thể trung gian trong nhiều nước khác nhau,

nào là những cuộc tiếp xúc giữa các nhà cầm quyền trong

nhiều quốc gia. Cũng thế, tình hình kinh tế trong một nước

ngày càng thấy phải lệ thuộc vào tình hình kinh tế các nước

khác.

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 305

Nền kinh tế của các quốc gia dần dần đi đến tình trạng

phải liên kết chặt chẽ với nhau, để sau cùng, chỉ còn là những

thành phần trong toàn bộ của nền kinh tế thế giới độc nhất.

Sau cùng, sự tiến bộ xã hội, trật tự, an ninh và thái bình của

mỗi cộng đồng chính trị nhất thiết phải liên đới với tiến bộ,

trật tự, an ninh và thái bình của những cộng đồng khác. Do

đó, người ta nhận thấy rằng một nước lẻ loi nhất định không

có đủ phương tiện để cung cấp, một cách thỏa đáng, cũng như

để đạt tới mức bành trướng thường xuyên của mình. Sự tiến

bộ và thịnh đạt trong mỗi quốc gia vừa là nguyên nhân, vừa là

hiệu quả của sự thịnh đạt và tiến bộ của tất cả các quốc gia

khác.

Cách tổ chức hiện tại của các công quyền không đủ để

bảo đảm thiện ích chung cho toàn thể nhân loại.

  1. Tính thống nhất của gia đình nhân lọai đã có từ ngàn

xưa, bởi vì nó đoàn tụ con người, hết thảy đều bình đẳng như

nhau, trong phẩm giá tự nhiên. Cho nên người ta phải luôn

luôn chung sức, để mưu lấy thiện ích chung một cách thỏa

đáng, chính cái thiện ích chung này liên hệ đến toàn thể gia

đình nhân loại.

Thời xưa các chính phủ được coi như có đủ phương tiện

để mưu thiện ích chung cho toàn dân. Họ cố đạt tới đích đó

bằng những cuộc ngoại giao thông thường hay bằng những

buổi gặp gỡ trên một trình độ cao hơn, nhờ các lợi ích pháp

lý, như các hiệp định và các hòa ước: đó là những phương

thức của luật tự nhiên, của nhân quyền và cả luật quốc tế.

Nhưng ngày nay, trong cuộc giao tế giữa các quốc gia,

đã có những thay đổi sâu rộng. Một phần, vì công ích đặt ra

những vấn đề cực kỳ quan trọng, khó khăn cần phải giải

quyết nhanh chóng, nhất là khi bảo vệ sự an ninh và hòa bình

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 306

thế giới. Phần khác, xét về pháp lý, công quyền của các cộng

đồng chính trị đều bình đẳnh như nhau: họ có cố gắng gia

tăng những cuộc hội nghị, và những cuộc nghiên cứu để thiết

lập những lợi khí pháp lý hữu hiệu nhiều đến đâu đi nữa cũng

không đủ khả năng để đề cập đến và giải quyết những vấn

đề đó một cách thỏa đáng. Không phải vì họ thiếu thiện chí

hay sáng kiến, nhưng vì họ không đủ thẩm quyền nữa.

Trong hiện tình của cộng đồng nhân loại, cách tổ chức

và cách điều hành hành chánh quốc gia, cũng như quyền bính

của tất cả các chính phủ phải thú nhận rằng không còn đủ thế

lực để cổ võ nền thiện ích chung cho toàn thể nhân loại.

Liên quan giữa cuộc tiến hóa lịch sử của thiện ích

chung với sự điều hành các công quyền.

  1. Nhìn kỹ, ta thấy một mối liên quan chính yếu liên kết

công ích với cơ cấu và sự điều hành của các công quyền. Trật

tự luân lý đòi hỏi phải có một số công quyền để phục vụ

công ích trong dân sự xã hội, đồng thời cũng đòi cho công

quyền đó phải có những phương tiện cần thiết để thi hành

nhiệm vụ của mình. Do đó, những cơ quan của quốc gia, là

những cơ quan đại diện công quyền, thừa hành và theo đuổi

mục đích của công quyền, phải có một hình thức và một hiệu

lực, khả dĩ tìm ra được đường lối và những phương tiện mới

mẻ thích hợp với đà tiến hóa của xã hội, để bảo đảm cho

thiện ích chung…

Ngày nay, thiện ích chung của toàn thể nhân loại đặt ra

những vấn đề có tầm mức thế giới. Những vấn đề đó chỉ có

thể giải quyết được bởi một công quyền mà quyền hạn, hiến

pháp và các phương tiện hành động cũng rộng lớn theo tầm

mức thế giới và có thể hoạt động trên toàn diện địa cầu. Bởi

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 307

vậy, chính trật tự luân lý đòi buộc sự thiết lập một công

quyền có quyền hạn trên toàn thế giới.

Công quyền phải được thiết lập do sự nhất trí tán

đồng chứ không phải do cường lực áp bức.

  1. Cái cơ quan có tính cách công cộng, vừa có thẩm

quyền phổ biến trên toàn thế giới, vừa có những phương tiện

hữu hiệu, để cổ võ công ích cho toàn thể nhân loại, cần phải

được thiết lập do sự đồng tâm nhất trí, chứ không được dùng

quyền lực mà bắt buộc phải tiếp nhận. Vì rằng : công quyền

nói đây có thể chu toàn, một cách hữu hiệu nhiệm vụ của

mình, nhưng cũng phải vô tư đối đầu với hết mọi người, tuyệt

đối đứng ngoài tinh thần đảng phái và lưu ý đến những đòi

hỏi khách quan của Thiện ích chung toàn thể nhân loại. Nếu

cái quyền siêu quốc gia hay quyền quốc tế đó được thiết lập

bằng cường lực do các nước mạnh hơn, chắc người ta có thể

sợ rằng quyền đó sẽ phục vụ những tư ích, hay sẽ thiên về

nước này, nước khác, chính sự kiện này sẽ làm tổn hại giá trị

và hiệu lực hoạt động của nó. Mặc dầu mức độ phát triển

kinh tế và tài nguyên binh bị đã gây ra những chênh lệch giữa

các cộng đồng chính trị, nhưng tất cả các cộng đồng này đều

thắc mắc được hưởng những quyền lợi pháp lý và đều có

phẩm giá tinh thần như nhau. Đó là lý do rất chính đáng khiến

các cộng đồng quốc gia chỉ nhận cách miễn cưỡng, một

quyền bính mà người ta bắt họ phải nhận vì cường lực, hoặc

một quyền bính đã thành lập không có sự tham gia của họ,

hoặc một quyền bính mà họ không tự do tán thành.

Thiện ích chung toàn thế giới và quyền lợi của nhân vị

  1. Cũng như thiện ích chung của một quốc gia nói riêng,

thiện ích chung của toàn thể nhân loại không thể qui định,

nếu không nại đến con người. Vì thế, công quyền trong cộng

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 308

đồng quốc tế phải nhằm mục tiêu chính yếu này là thừa nhận,

tôn trọng bảo vệ và khuếch trương quyền lợi của con người.

Điều đó có thể thực hiện được, hoặc bằng cách thiết lập trên

bình diện thế giới, những điều kiện khả dĩ giúp chính phủ

quốc gia chu toàn được sứ mệnh của mình.

Nguyên tắc hỗ trợ.

  1. Trong mỗi nước, những mối quan hệ giữa công quyền

với công dân, với gia đình, cũng như với các đoàn thể trung

gian phải được chỉ huy và quân bình hóa theo nguyên tắc hỗ

trợ. Dĩ nhiên nguyên tắc đó cũng phải điều hành các mối

quan hệ giữa quyền quốc tế với các chính phủ quốc gia.

Quyền quốc tế có nhiệm vụ cứu xét và giải quyết những vấn

đề, mà công ích của toàn thể nhân loại nêu ra trong lãnh vực

kinh tế, xã hội, chính trị hay văn hóa. Chính vì những vấn đề

đó phức tạp, bao la và khẩn cấp, mà các chính phủ quốc gia

không được phép tự tiện giải quyết như ý mình muốn.

Quyền bính của cộng đồng thế giới không được phép

hạn chế sức hành động của các quốc gia trong phạm vi riêng

biệt của họ, và cũng không được thay thế họ. Trái lại, quyền

đó phải cố gây ra trong mọi nước trên thế giới, những điều

kiện để giúp không những các chính phủ, mà lại cả cá nhân

và các đoàn thể trung gian được dễ dàng chu toàn trách

nhiệm, dễ dàng thi hành nghĩa vụ và sử dụng quyền lợi của

mình trong những hoàn cảnh an toàn hơn 65 .

Triệu chứng của thời đại.

  1. Ai cũng đều biết rằng : ngày 26-6-1945 đã thành lập

tổ chức Liên Hiệp Quốc, khởi điểm, trong tương lai, cho nhiều

cơ quan liên chính phủ khác. Các tổ chức này đã được uỷ thác

nhiều trọng trách có giá trị quốc tế, trên bình diện kinh tế, xã

hội, văn hóa, giáo dục và y tế. Mục đích chính yếu của Liên

Hiệp Quốc là bảo tồn và củng cố nền hòa bình giữa các dân

tộc, là cổ võ và khuếch trương giữa họ với nhau, những mối

giao hảo xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng tôn trọng lẫn

nhau và cộng tác một cách sâu rộng trong mọi ngành hoạt

động của con người.

65 Piô XII, Bài phát biểu cho thanh niên Công giáo tiến hành Ý,

ngày 12-9-1948

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 309

  1. Một trong những công việc trọng đại nhất đã thực

hiện được do Liên Hiệp Quốc là bản Tuyên Ngôn thế giới

Nhân quyền, được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc công nhận

ngày 10-12-1948. Trong lời tựa, bản Tuyên ngôn đã nói lên

mục tiêu chung là phải cổ động cho hết mọi dân tộc, hết mọi

quốc gia phải thừa nhận và tôn trọng thực sự, tất cả những

quyền lợi và tự do kể trong bản Tuyên ngôn.

Ta cũng biết rằng: Một vài điểm trong bản Tuyên ngôn

đã gây nên những vấn nạn và tại đấy làm cho phải dè dặt

nhiều lắm. Dẫu vậy, Ta cũng coi bản Tuyên ngôn đó như một

bước tiến đến sự thành lập một tổ chức pháp lý chính trị trong

cộng đồng thế giới. Bản Tuyên ngôn đó trịnh trọng thừa nhận

cho hết mọi người không trừ ai, đều có nhân phẩm; bản đó

tuyên bố rằng: một cá nhân có quyền tự do đi tìm chân lý,

tuân giữ những qui luật luân lý, thi hành những nghĩa vụ của

đức công bình, đòi hỏi những điều kiện sinh sống xứng với

phẩm giá con người, cũng như có những quyền lợi khác liên

kết với các quyền lợi trên.

  1. Bởi thế, Ta nhiệt liệt mong muốn cho Liên Hiệp

Quốc có thể mỗi ngày càng thích nghi các cơ cấu cũng như

các phương tiện hành động với sứ mệnh bao la và cao quí của

mình. Ước chi mau đến cái phút mà tổ chức đó bảo đảm, một

cách hữu hiệu, những quyền lợi của nhân vị : những quyền

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 310

lợi đó, phát xuất trực tiếp từ phẩm giá tự nhiên của con người,

và cũng vì đấy các quyền lợi đó phổ thông, bất khả xâm

phạm và bất khả nhượng bộ. Ta càng nóng lòng mong muốn

như thế, vì ngày nay người ta tham gia nhiều hơn vào những

công việc chung trong nước, người ta quan tâm nhiều hơn đến

những vấn đề thế giới, và ý thức rõ rệt hơn về cái tư cách

mình phải làm những thành phần chủ động trong đại gia đình

nhân loại.

PHẦN V

CÁC HUẤN THỊ MỤC VỤ

Nghĩa vụ phải tham gia vào đời sống công.

  1. Một lần nữa, Ta kêu gọi các hiền tử của Ta hãy tích

cực tham gia vào sự điều khiển các công việc trong nước, và

Ta xin họ hãy góp phần cổ võ cho nền công ích của tất cả gia

đình nhân loại, cũng như của chính nước họ. Được đức tin soi

sáng và đức ái thúc đẩy, họ phải cố gắng làm sao để những

chế độ liên hệ đến sinh hoạt kinh tế, xã hội, văn hóa hay

chính trị, chẳng những không làm ngưng trệ, mà trái lại, càng

đẩy mạnh những cố gắng đang làm cho con người thêm hoàn

hảo, trên bình diện tự nhiên cũng như siêu nhiên.

Năng lực khoa học, khả năng kỹ thuật chuyên môn,

nghề nghiệp.

  1. Để cho những nguyên tắc lành mạnh ăn sâu vào nền

văn minh, và để cho tinh thần Kitô giáo thấm nhuần nền văn

minh đó, các hiền tử của Ta sẽ không được tự mãn, vì cho

rằng mình đã được ánh sáng đức tin, hay là đang ôm ấp một

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 311

hoài bão muốn làm việc thiện. nhưng họ còn phải có mặt

trong chế độ xã hội và, từ bên trong, họ phải gieo ảnh hưởng

vào các cơ cấu đó nữa.

Thế nhưng cái đặc sắc trổi nhất của nền văn minh hiện

nay là do ở những phát minh khoa học và kỹ thuật. bởi vậy,

không thể hành động rong các tổ chức đó được, nếu thiếu

năng lực khoa học, thiếu khả năng kỹ thuật và tài ba chuyên

nghiệp.

Trong hành động cần tổng hợp các yếu tố khoa học,

kỹ thuật, nghề nghiệp, tinh thần.

  1. Tuy nhiên, phải xác nhận rằng: các đức tính trên đây

không đủ để gây cho những cuộc giao tiếp trong đời sống

hàng ngày có một sắc thái đầy đủ nhân loại. Sắc thái này đòi

phải có chân lý làm nền tảng cho các cuộc giao tiếp, có công

bình làm quy tắc, có tình tương ái làm động lực và có tự do

làm hòa khí.

Người ta chỉ có thể đạt được mục tiêu nói trên, khi cẩn

thận giữ những điểm sau đây: trước hết, trong những hoạt

động hiện thế, tuân giữ những luật lệ riêng biệt của mỗi

phạm vi, và sử dụng những phương pháp thích đáng; sau đấy

phù hợp nếp sống của mình với quy luật luân lý, nghĩa là xử

trí như những công dân thi thố các quyền lợi của mình, chu

toàn các nghĩa vụ và làm tròn một công tác. Sau cùng phải

hiến thân hoạt động, coi đấy như một cách hưởng ứng trung

thành giới răn Thiên Chúa, như một cách cộng tác vào việc

sáng tạo của Ngài, và như một cách góp công vào sự thực

hiện kế hoạch của Thiên Chúa quan phòng trong lịch sử. Điều

đó đòi hỏi con người phải sống thực sự việc mình đang làm và

coi đó như một tổng hợp các cố gắng khoa học, kỹ thuật và

chuyên nghiệp với những giá trị thiêng liêng cao quý nhất.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 312

Hòa hợp giữa đức tin tôn giáo với các hoạt động hiện

thế của tín hữu.

  1. Một sự kiện ai cũng biết: trong những nước đã được

học hỏi về giáo lý Công giáo từ lâu, những tiến bộ khoa học

và kỹ thuật hiện thời rất thịnh đạt, và những phương tiện thích

nghi để thực hiện những chương trình của họ rất dồi dào,

nhưng thường ra tinh thần và chất men Kitô giáo lại không

thấm nhuần sâu sa.

Người ta có lý để tự hỏi về các nguyên do gây nên tình

trạng khiếm khuyết đó, nhất là những người hiện còn mang

tên Công giáo, và thực ra đang áp dụng, ít ra trong một phần

đời sống của họ theo tôn chỉ Phúc âm, lại là chính những

người đã hay đang góp phần đáng kể vào việc thiết lập những

chế độ nói trên. Nguyên do sự kiện đó Ta thiết tưởng ở tại

việc họ không phù hợp với Đức tin của họ. Bởi thế, muốn

vãn hồi sự thống nhất trong tâm trí họ, điều cần thiết là, trong

các việc họ làm, phải có ánh sáng Đức tin chiếu dọi, và động

lực đức bác ái thúc đẩy.

Nền giáo dục thanh niên phải được phát huy toàn diện

con người.

  1. Nếu Đức tin tôn giáo của tín hữu nhiều khi không

phù hợp với nếp sống của họ, thì đó, theo ý Ta, còn là tại sự

huấn luyện của họ về giáo lý cũng như về luân lý Kitô giáo,

vẫn còn thiếu sót. Trong rất nhiều lãnh vực thường không có

sự thăng bằng giữa sự học giáo lý với sự học các khoa đời:

người ta theo đuổi các khoa đời tới mức độ tối cao, trong khi

đó, về việc huấn luyện đạo giáo, người ta đứng trong mức sơ

đẳng. Cho nên nhất thiết thanh niên phải có một nền giáo dục

đầy đủ và liên tục, thực hiện thế nào để nền học thức đạo

giáo và sự tinh luyện lương tâm phải tiến đồng nhịp với các

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 313

kiến thức khoa học và sự tài khéo kỹ thuật, luôn luôn thăng

tiến. Sau hết, phải chuẩn bị thanh niên cho biết chu toàn cách

xứng đáng các trách vụ đang đợi mỗi người trong họ66.

Cần phải cố gắng không ngừng.

  1. Nơi đây, Ta nhấn mạnh rằng: khó mà nhận được , một

cách thỏa đáng mối liên hệ đích thực giữa các sự kiện nhân

loại với các đòi hỏi của đức công bình, hay nói thế khác, khó

mà quy định một cách xác đáng, các nguyên tắc của lý thuyết

và các chỉ thị phải được áp dụng thế nào và đến lúc nào,

trong hiện tình của xã hội.

Việc quy định các phương thức đó lại càng khó khăn

hơn nữa, vì rằng : thời đại chúng ta, trong khi mỗi người phải

hoạt động để mưu công ích cho toàn thể nhân loại, đang bị lôi

cuốn bởi một “hiếu động chủ nghĩa” ghê gớm; bởi thế từng

ngày một, ta phải cứu xét để biết xếp đặt các sự kiện xã hội

thế nào cho phù hợp với các đòi hỏi của công bình; và chính

việc đó không cho phép các hiền tử của Ta được tưởng rằng

họ có quyền ngừng lại, để thỏa mãn với quãng đường họ đã

qua.

Vả lại, người ta thường cũng có lý khi nghĩ rằng những

công trình đã thực hiện được cho đến nay, đều không đủ để

cung cấp nhu cầu. Người ta phải ra tay sáng kiến những công

cuộc trọng đại hơn, thích hợp hơn trong những phạm vi cực kỳ

khác biệt : cơ quan sản xuất, nghiệp đoàn, chức nghiệp tổ

hợp, an ninh xã hội, công cuộc văn hóa, cơ quan pháp lý,

chính trị, cứu tế, thể thao và các tổ chức tương tự khác. Đó là

những nguyện vọng của thế hệ hiện tại; nhờ sự khảo cứu về

nguyên tử và những cuộc thi hành không gian, thế hệ này tự

mở cho mình những con đường hoàn toàn mới mẻ với những

viễn tượng hầu như vô tận.

66 Gioan XXIII, Thông điệp Mater et Magistra

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 314

Những liên quan giữa người công giáo với người không

công giáo trong phạm vi kinh tế, xã hội và chính trị.

  1. Các nguyên tắc mà Ta vừa mới trình bày nơi đây bắt

nguồn trong chính bản tính nhân loại, hay thường ra, trong

phạm vi luật tự nhiên. Rất nhiều lần, trong khi thực hành

những nguyên tắc đó, người Công giáo cộng tác dưới nhiều

hình thức, hoặc với những người Kitô giáo ly khai với Tòa

Thánh, hoặc với những người sống ngoài mọi tin tưởng Kitô

giáo, nhưng nhờ ánh sáng của lý trí, họ trung thành giữ đạo

luân lý tự nhiên.

“Ước chi khi ấy người Công giáo phải thận trọng ăn ở

thủy chung như nhất với mình và đừng nhận một sự hòa giải

nào làm tổn thương sự thuần túy của đạo giáo và nền luân lý.

Nhưng họ cũng đừng chỉ biết lo đến lợi riêng của mình, trái

lại, phải chân thành cộng tác trong mọi vấn đề tự nó chính

đáng hoặc có thể đưa đến chỗ tốt đẹp”67 .

  1. Lẽ công bình là phải luôn luôn phân biệt sự lầm lạc

với những kẻ lỗi lầm, cả trong trường hợp những người có tư

tưởng sai lạc, hay có những ý niệm thiếu sót về đạo giáo hay

luân lý. Con người lạc đường trong lầm lỗi vẫn còn là một

người, và vẫn giữ nhân phẩm đáng được tôn trọng của mình.

Không bao giờ con người mất quyền tự giải phóng mình cho

khỏi lầm lạc và tự tìm cho mình một con đường đưa tới chân

lý. Và để giúp con người, Chúa Quan Phòng luôn luôn bên

cạnh để ủng hộ. Rất có thể là một người hôm nay thiếu tia

sáng đức tin, hoặc bị lạc trong sai lầm nhưng ngày mai, nhờ

ánh sáng Thiên Chúa soi cho, người đó trở về lĩnh hội chân

lý. Nếu, để thực hiện những công cuộc hiện thế, các tín hữu

giao dịch với những người, vì quan niệm sai lạc mà không tin,

hoặc không tin đầy đủ, lẽ tất nhiên những cuộc tiếp xúc kia

có thể là cơ hội, là yếu tố thúc đẩy mối cảm tình đưa họ về

chân lý.

67 Gioan XXIII, Thông điệp Master et Magistra

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 315

  1. Cũng thế, người ta không thể đồng hóa những thuyết

triết học sai lầm về bản tính, nguyên thủy và cứu cánh của vũ

trụ và con người, với những trào lưu lịch sử đã được xây dựng

với một mục đích kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị, dẫu

rằng những trào lưu này đã bắt nguồn và vẫn còn khai hứng

từ các học thuyết nói trên. Học thuyết một khi được xác định

và công thức hóa sẽ không thay đổi nữa, nhưng những trào

lưu kia, lấy những điều kiện cụ thể và hay thay đổi của đời

sống làm đối tượng sẽ không thế mà không chịu ảnh hưởng

sâu rộng của cuộc tiến hóa đó được. Vả lại, tùy theo mực độ

phù hợp của những trào lưu đó với những nguyên tắc lành

mạnh của lý trí và thích hợp với những nguyện vọng chính

đáng của con người, hỏi rằng ai có thể cấm không cho nhận,

trong những trào lưu đó, những yếu tố tích cực và đáng được

tán thưởng?

  1. Bởi thế, rất có thể rằng : những cuộc gặp gỡ thuộc

phạm vi thực tế, từ trước đến nay người ta cho là không hợp

thời và vô ích, ngày nay lại có thể đem lại những lợi ích đích

thực, và những hứa hẹn tươi đẹp cho tương lai. Nhưng, sự xét

đoán đã đến lúc thích thời hay chưa, và sự ấn định những thể

thức và mực độ trong việc phối trí những cố gắng về kinh tế,

xã hội, văn hóa hay chính trị nhằm mưu công ích cho toàn thể

cộng đồng : đó là những vấn đề phải được giải quyết và cân

nhắc tùy theo đức khôn ngoan đứng trên để điều hòa tất cả

các nhân đức khác liên hệ đến cuộc sống cá nhân và xã hội.

Trong trường hợp những người Công giáo, sự quyết định

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 316

những vấn đề đó thuộc thẩm quyền, trước hết, của những

người có uy tín nhất trong phạm vi chính trị, và nhiều khả

năng hơn hết trong vấn đề liên hệ; mặc dầu, trung thành với

những nguyên tắc của luật thiên nhiên những người này tuân

theo học thuyết xã hội của Giáo hội và vâng phục các chỉ thị

của các vị có thẩm quyền trong Giáo hội. Thực ra nên nhớ

rằng : không phải Giáo hội chỉ có quyền lợi và nghĩa vụ bảo

vệ cho giáo thuyết về đức tin hay luân lý được toàn vẹn,

nhưng, đối với những con cái của mình, quyền bính của Giáo

hội còn bao trùm cả phạm vi thế tục, mỗi khi cần phải quyết

định về sự ứng dụng học thuyết trên vào những trường hợp

cụ thể 68 .

Hoạt động từng giai đoạn.

  1. Không thiếu những người có tâm hồn quảng đại, khi

gặp những cảnh ngộ ít phù hợp hay trái ngược với đức công

bình, họ sốt sắng khởi xướng một cuộc cải cách toàn diện,

nhưng vì đi quá đà, muốn một lúc vượt thắng hết mọi giai

đoạn, lúc ấy, công việc của họ có hình thức hầu như cách

mạng.

Với những người này Ta muốn nhắc cho họ nhớ rằng :

nhịp tiệm tiến là luật của mọi cuộc sống, và những chế độ

loài người cũng chỉ có thể cải thiện với điều kiện là biết chế

ngự nó từ bên trong, và phải theo luật tiệm tiến. Đức Tiên

Giáo Hoàng Piô XII đã chỉ giáo : “Không phải cuộc cách

mạng, nhưng một cuộc tiến hóa điều hòa, sẽ đem lại sự cứu

thoát và công bình. Công việc của bạo lực chỉ luôn luôn nhằm

phá hoại chứ không bao giờ xây dựng, chỉ nhằm khích động

các đam mê, chứ không bao giờ thắng đoạt nó. Là nguyên

nhân phát động sự thù ghét và tai biến, chứ không lo đoàn tụ

con người trong tình huynh đệ, nó đẩy người ta và các đảng

phái vào con đường cùng, con đường phải kiến thiết lại dần

dần, sau những ngày thử thách đau thương, trên những đổ nát

chất đống bởi bất hòa”

68 Gioan XXIII, MM; Lêô XIII, Thông điệp Immortale Dei; Piô XI,

Thông điệp Ubi Arcanmo; Piô XII, bài phát biểu cho phái đoàn liên đới

phụ nữ quốc tế Công giáo ngày 11- 9 – 1947

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 317

Công việc bao la.

  1. Hết thảy những người thiện chí ngày nay đều phải

đảm nhận một trách vụ bao la, là nối lại những mối liên quan

của cuộc sống trong xã hội trên những nền tảng luân lý, công

bình, bác ái và tự do : liên quan giữa các tư nhân với nhau,

liên quan giữa công dân và quốc gia, liên quan giữa các quốc

gia với nhau, sau hết, liên quan giữa các cá nhân, các gia đình,

các đoàn thể trung gian với quốc gia, với cộng đồng thế giới.

Đây mới thật là các trách vụ cao quí hơn hết, bởi vì mục tiêu

của nó là nhằm mở đường thống trị cho nền hòa bình đích

thực, trong trật tự Thiên Chúa đã thiết lập.

Những người tham gia vào công việc đó quả thực là quá

ít ỏi, nhưng họ đã có công lao rực rỡ đối với xã hội loài người,

và hôm nay đây, Ta để lời ca ngợi họ một cách công khai.

Đồng thời, Ta khuyến khích họ cứ gia tăng những hành động

tác thiện của họ. Ta dám hy vọng rằng : sau họ sẽ có nhiều

người khác kế tiếp, nhất là những tín hữu, giàu lòng bác ái và

có lương tâm đối với nghĩa vụ. Mỗi tín hữu, trong thế giới

ngày nay, phải là như một tia sáng rực rỡ, một trung tâm bác

ái và một lớp men cho cả toàn khối. Điều đó, mỗi người sẽ

thực hiện được, tùy theo mức độ họ biết kết hợp với Thiên

Chúa.

69 Bài phát biểu cho công nhân Ý, ngày 13-6-1943

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 318

Thực ra, hòa bình sẽ không thể vãn hồi giữa nhân loại,

nếu trước hết nó không vãn hồi trong từng cá nhân, nghĩa là,

nếu mỗi người tự mình không tuân giữ các trật tự mà Thiên

Chúa đã thiết lập. “Linh hồn ngươi muốn thắng các đam mê

trong mình ư ?” Thánh Augustinô hỏi. Và ngài trả lời : “Thì nó

cứ tuân phục Đấng ở trên đi, rồi nó sẽ thắng được kẻ ở

dưới.Và người sẽ được hòa bình: hòa bình đích thực, hòa bình

không mập mờ, hòa bình được hoàn toàn thiết lập trên trật tự.

Và trật tự riêng biệt của hòa bình là gì ? Là Thiên Chúa điều

khiển linh hồn, điều khiển thể xác. Không có gì qui củ hơn” 70.

Chúa của hòa bình.

  1. Lời giáo huấn mà Ta vừa mới dành riêng cho những

vấn đề giờ đây đang là mối âu lo vĩ đại cho nhân loại và liên

hệ trực tiếp đến mức thăng tiến của xã hội loài người, đã

được bộc phát trong Ta bởi một ngưỡng vọng sâu xa, mà Ta

biết rằng nó cũng là ngưỡng vọng của tất cả những người

thiện chí : tức là được trông thấy trên thế giới, một nền hòa

bình vững chắc hơn.

Mặc dầu bất xứng, nhưng Đại diện cho Đấng mà tiên tri

đã báo trước là “Chúa Hòa Bình”71, Ta nghĩ rằng Ta có nghĩa

vụ phải cống hiến tất cả nỗi lo lắng, cũng như các nghị lực

của Ta để cố đem lai đặc ân này cho toàn thể nhân loại.

Nhưng hòa bình chỉ là một tiếng trống rỗng, không có nghĩa,

nếu nó không được xây trên “trật tự” mà, với một niềm hy

vọng nồng nhiệt, Ta đã phác họa những nét chính trong

Thông điệp này: Trật tự đặt trên chân lý, xây theo đức công

bình, lĩnh nhận từ đức bác ái sức sống và mức sung mãn, và

sau cùng, được biểu thị, một cách sung mãn trong tự do.

Thực ra, đây là một công trình siêu việt, cao quý : con

người với sức riêng mình khó mà thực hiện nổi, cho dù có

thiện chí đáng phục đến đâu đi nữa. Nhưng, để xã hội loài

người có thể tái diễn nơi mình, một cách y hệt cái hình ảnh

của Nước Thiên Chúa, lẽ cố nhiên cần phải có ơn trên.

70 Miscellanes Augustiana

71 Is. 9,6

HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI 319

  1. Đó chính là lý do khiến cho, trong những ngày thánh

này, lời cầu nguyện của Ta dâng lên, cách sốt sắng hơn, trước

tôn nhan Đấng mà hồi xưa đã dùng cuộc khổ nạn và cái chết

của mình để thắng tội lỗi, nguồn mạch thứ nhất sinh ra tất cả

các mối bất hòa, các nỗi cùng cực và các cảnh chênh lệch :

với Máu cực thánh, Ngài đã hòa giải nhân loại với Cha Ngài

ngự trên trời. “Chính Ngài là Hòa Bình của ta, Ngài là Đấng,

từ hai dân tộc đã qui tụ thành một … Ngài đã đến để công bố

Hòa Bình, Hòa Bình cho các người ở nơi xa, cũng như Hòa

Bình cho các người ở gần” 72. Cũng một tín điệp hòa bình nói

đây hiện còn vang dội trong Phụng Vụ của những ngày Tuần

Thánh : “Chúa Giêsu, phục sinh, ngự giữa các môn đệ, và nói

cho họ : Bình an cho chúng con, Alleluia. Và các môn đệ được

trông thấy Chúa đã vui mừng khôn xiết”73. Cũng một Chúa

Kitô đem lại cho ta sự hòa bình :“Cha để lại cho chúng con sự

hòa bình, sự hòa bình của Cha. Hòa bình của Cha ban xuống

khác với hòa bình của thế gian”74. Chính sự hòa bình do Chúa

Cứu Thế đem lại là ơn Ta khẩn khoản cầu xin trong các kinh

nguyện của Ta. Xin Ngài xua đuổi ra khỏi tâm hồn những gì

có thể nguy hại cho hòa bình, xin Ngài biến đổi hết mọi người

thành những chứng nhân của chân lý, công bình và tình yêu

huynh đệ. Xin Ngài soi sáng cho những người nắm trong tay

vận mệnh các dân tộc, để họ lo mưu hạnh phúc chính đáng

cho dân chúng, họ bảo tồn ân huệ vô giá của hòa bình, sau

hết, xin Chúa Kitô đốt cháy lòng hết mọi người và thúc họ

đập tan các hàng rào chia rẽ, thắt chặt dây tương thân tương

ái, biết am hiểu người khác và tha thứ cho những ai đã gây

thiệt hại cho mình. Và như thế, nhờ Chúa, tất cả các dân tộc

trên mặt đất kết thành một cộng đồng huynh đệ thực sự, và

giữa họ với nhau hòa bình sẽ tươi nở và tồn tại vĩnh viễn.

Để hòa bình trên đây có thể dội xuống trên tất cả đoàn

chiên mà Chư Huynh có nhiệm vụ chăn dắt, nhất là trên các

lớp người nghèo khó cần được giúp đỡ và che chở cách riêng,

Ta rộng tay ban xuống cho Chư Huynh đáng kính, cho các

Linh Mục triều và dòng, cho các Tu sĩ và Nữ tu, cho toàn thể

giáo hữu, nhất là cho những ai nhiệt tâm đáp lại lời Ta khuyên

nhủ, Phép lành Tòa Thánh. Với tất cả những người thiện chí

sẽ đọc bức Thông điệp này, Ta nguyện xin Thiên Chúa Tối

Cao ban xuống cho họ niềm hạnh phúc và hưng thịnh.

72 Eph. 2, 14 – 17

73 Resp. ad Mat. in feria VI infra oct. Paschae

74 Yn 14, 27

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 320

 

 

Ban hành tại Rôma, gần điện Thánh Phêrô,

ngày 11.4.1963, năm thứ 5 Triều đại của Ta.

GIOAN XXIII, GIÁO HOÀNG

11/04/1963

MỤC LỤC

THÔNG ĐIỆP HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI

Giới thiệu thông điêp

Một thế giới bị đe doạ bởi những xung đột

Nét mới mẻ từ cảm hứng

Hòa bình do biết tôn trọng trật tự được thiên chúa

thiết lập

THÔNG ĐIỆP HÒA BÌNH TRÊN THẾ GIỚI

Nhập đề

Trật tự trong vũ trụ

Trật tự trong nhân loại

Trật tự giữa cá nhân mỗi cá nhân là một nhân vị,
có quyền lợi và nghĩa vụ

Trước hết, phải đề cập đến trật tự giữa
cá nhân với nhau

Những mối tương quan giữa cá nhân với công
quyền trong một cộng đồng chính trị

III. Những tương quan giữa các cộng đồng chính trị

Tương quan giữa các cá nhân và các cộng đồng
quốc gia với cộng đồng thế giới

Các huấn thị mục vụ