Đức Lêô XIII – Đức Gioan Phaolô II
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI
ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE
2000
THÔNG ĐIỆP PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC
Populorum Progressio
GIỚI THIỆU
Thông điệp “Phát triển các dân tộc” (Populorum
progessio) của Đức Phao lô VI xuất hiện trong dịp El Phục
Sinh năm 1967 (26/03) để mang đến ánh sáng của Tin Mừng
và của sự Phục sinh cho các vấn đề xã hội của thời đại.
Thông điệp trực tiếp đưa ra lời mời gọi thay đổi tầm nhìn.
“Ngày nay sự kiện quan trọng mà mỗi người đều phải ý thức,
đó là vấn đề xã hội đã trở nên mang tính toàn cầu”. Vấn đề
đã mở rộng đến tầm mức hoàn vũ, nhưng cũng có kèm theo
những hệ lụy liên quan đến cá nhân từng người trong bối
cảnh quốc tế những năm 60 và khoảng thời gian sau Công
đồng Vatican II.
Bối cảnh xã hội trên toàn cầu thập niên 60
Có rất nhiều hiện tượng lớn lao đánh dấu thời kỳ này và
tạo nên một hậu cảnh cho Thông điệp.
Trước hết là sự kiện giải phóng các thuộc địa, sẽ lan
rộng ra trong khoảng 20 năm, dẫn tới sự độc lập chính trị của
nhiều quốc gia mới và trẻ trung, và Liên Hiệp Quốc phát triển
về số lượng thành viên. Trong giai đoạn chuyển mình đó, các
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 322
quốc gia ấy đối mặt với các cường quốc lớn, trong những
tương quan lực lượng đã thay đổi.
Để không trở thành trò lừa bịp, sự độc lập về chính trị
đòi phải có một sự độc lập về kinh tế tối thiểu. Làm thế nào
để sống trong công bằng, liên đới, trong sự tôn trọng lẫn nhau
trong các quan hệ quốc tế mới nhằm ưu tiên phát ttriển các
dân tộc đó cũng như cho họ được hưởng cách công bằng
những tài nguyên có sẵn, tự nhiên cũng như do chế biến mà
không quên những thiện ích về sức khoẻ, về giáo dục…
Trong suốt thập niên 50 và 60, những nước phát triển đã
tăng trưởng môt cách mạnh mẽ về kinh tế và mở rộng đường
cho những trao đổi thương mại, với mức sống được nâng cao,
đầy dẫy những nhu cầu mới, cuộc sống ổn định sung túc, nếu
không nói là dư giả. Nhiều dân tộc hoàn toàn trở nên giàu có.
Trong lúc đó, nhiều dân tộc khác lại kém phát triển và lệ
thuộc, mà dân số lại gia tăng mạnh mẽ; Như thế, những vùng
nghèo dù tương đối hay tuyệt đối, lại càng nhiều hơn. Tình
trạng chênh lệch này, đặc biệt giữa các dân tộc giàu và các
dân tộc nghèo là một tình trạng không chấp nhận được như
một ngòi nổ, Đức Phao lô VI tố giác tình trạng đó nhân danh
tình liên đới nhân loại phổ quát và sự công bằng. Ngài kêu
gọi mỗi người hãy ra sức sửa chữa lại tình trạng đấy. Thông
Điệp mở đầu và kết thúc với cùng một tiếng kêu ngôn sứ, lo
sợ và khẩn thiết
(Số 4 và 87)
Trong những năm 50 và 60, người ta xúc tiến việc hợp
tác quốc tế nhằm đáp ứng thách thức của cuối thế kỷ XX đó.
Phát triển tổ chức FAO (Về nông nghiệp và lương thực); Khai
sinh ra CNUCED (Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Thương
mại và Phát triển). Thập kỷ phát triển thứ nhất (1960 –1970 );
Chương trình hỗ trợ song phương và đa phương. Làm thế nào
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 323
để Giáo Hội và các Kitô hữu tham gia vào những sáng kiến
này và làm cho chúng nên hữu hiệu hơn nữa?
Dù cho có những hoàn cảnh khó khăn, đôi khi đạt đến
cực điểm (Vụ tên lửa Cuba), giữa hai cường quốc lớn, người ta
cũng cố thiết lập tình trạng hòa hoãn giữa Đông và Tây, tuy
vẫn không ngừng “Chạy đua vũ trang đến mức kiệt cạn”. Hy
vọng được nhóm lên vì lẽ sự phát triển liên đới của các dân
tộc trở nên điều bảo đảm tốt nhất cho hòa bình thế giới. Đức
Phao lô VI đã phát biểu như thế tại Liên Hiệp Quốc năm 1964
một cách mạnh mẽ và bức xúc; ở đây Ngài lập lại như một
niềm xác tín dựa trên “Phát triển là tên gọi mới của hòa bình”
( Số 76).
Giáo hội của Vaticanô II
Dù cho bắt nguồn từ thông điệp Mater et Magistra
(1961) của Đức Gioan XXIII, là tài liệu đã bàn đến những
quan hệ giữa các nước phát triển và các nước kém phát triển
(MM số 157-185), thông điệp này của Đức Phaolô VI là một
hệ quả trực tiếp của Công Đồng Vaticanô II, theo 3 cách:
Trước hết, Công đồng đã tiếp đón các Giám Mục thuộc
mọi miền trên thế giới; Những hàng Giáo phẩm bản địa, được
thiết đặt sớm và vào lúc được độc lập chính trị, cũng hiện
diện và có tiếng nói của mình. Trong quá trình soạn thảo Hiến
Chế Mục Vụ “Giáo Hội trong thế giới ngày nay”, các Giám
mục Á châu, Phi châu, Mỹ châu La tinh, vì e ngại văn kiện
thiên về Tây phương chỉ quan tâm đến những vấn đề của các
nước phát triển đã nhấn mạnh rằng, ngay từ đầu trong phần
trình bày về những mất quân bình của thế giới hiện nay, phải
làm nổi bật lên những “chênh lệch” giữa các nước giàu, các
nước ít giàu hơn và các nước nghèo (GS 8) và việc phân phối
của cải không công bằng; Những chủ đề được nhắc lại nhiều
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 324
lần
(GS 29,63,83)
Hơn nữa, Công Đồng đã bày tỏ mong ước thành lập một
cơ quan thường trực của Giáo Hội để theo đuổi những vấn đề
được đặt ra bởi công cuộc phát triển. Đó sẽ là việc làm của
Đức Phaolô VI: Thiết lập ủy ban Giáo hoàng “Công lý và Hòa
Bình” đi liền với thông điệp (GS 90, 3; PP 5).
Sau cùng, Công Đồng giúp Giáo Hội tự ý thức về mình
tốt hơn nữa cũng như ý thức về trách nhiệm của mình trong
việc biến đổi thế giới. Mối quan hệ của Giáo Hội với thế giới
được soi sáng bởi hiến chế Gaudium et Spes. Đức Phaolô VI
sẽ đem ứng dụng vào việc phát triển các dân tộc (pp số 12
đến 22); ngài sử dụng lại những từ ngữ của Công Đồng: Giáo
Hội, chuyên viên về con người, theo dõi các “dấu chỉ của thời
đại” và tự đặt mình vào vị thế phục vụ cho con người bằng
những phương thế đặc biệt và trong một nhãn giới toàn cục
về lịch sử. Đức Phaolô VI đã nói minh nhiên ở phần đầu
thông điệp. “Thời gian ngay sau Công Đồng chung Vatican II,
nhờ ý thức mới mẻ về sứ điệp Tin Mừng, Giáo Hội thấy mình
có bổn phận làm người phục vụ cho con người nhằm giúp họ
nắm bắt hết mọi chiều kích của vấn đề hê trọng này và nhằm
thuyết phục họ cấp bách phải liên đới với nhau vào thời kỳ
bước ngoặt quyết định này của lịch sử nhân loại.” (pp 1)
* Các nguồn
Ngoài những văn kiện của Vatican II, đặc biệt là
Gaudium et spes, là nơi thông điệp chính yếu múc lấy cảm
hứng của mình, những nguồn tài liệu khác đều thuộc về Đức
Phaolô VI.
Trước hết, những tham chiếu Kinh thánh, có rất nhiều,
đã làm cho văn kiện mang đậm sắc Tin Mừng; tất cả những dụ
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 325
ngôn về người giàu và người nghèo đều được nhắc tới; và sức
mạnh của lời chất vấn ngôn sứ thu hút sự chú ý của mọi
người và mỗi người hướng đến những tình thế không thể chấp
nhận được nữa, sự phán xét của Thiên Chúa được chuẩn bị và
sẽ tỏ lộ! Do đó, để loan báo trước sự phán xét ấy, một lời kêu
gọi chung nhất được gởi tới “Hết mọi người và hết mọi dân
tộc hãy đảm nhận lấy trách nhiệm của mình” (PP số 80). Khác
với những Thông Điệp trước, đường lối của giáo huấn xã hội
này của Giáo Hội đi tới một cam kết trực tiếp hơn, nhân danh
Tin Mừng, mà không thông qua những diễn dịch triết học – dù
cho nó có vay mượn ngữ vựng của một thứ triết học nào đó
(“hiện hữu” và “sở hữu”) – cũng không vòng qua quyền tự
nhiên thuần túy.
Một điểm mới nữa, đó là Đức Phaolô VI đã tham khảo
tới công trình của các nhà thần học, triết học, các chuyên gia
và nhắc đến họ một cách minh nhiên. các Cha như: Lubac và
Chenu, Đức Cha Larrain (Chilê), J. Maritain và nhất là Cha
Lebret, người sáng lập ra “Kinh tế và chủ nghĩa Nhân Bản” là
những người mà Thông Điệp cậy nhờ đến rất nhiều: họ giúp
cho biết nhạy cảm hơn với các vấn đề, với các cách diễn đạt,
với những giải pháp khả dĩ; trong Thông Điệp ta cũng còn
thấy những yếu tố của tư tưởng của nhà kinh tế học F.
Perroux. Suy tư còn để mở ngỏ. Dẫu sao, Thông Điệp, trước
hết là mọt lời kêu gọi (ý thức và mời gọi hành động), không
trực tiếp đóng vai trò như một sưu liệu rộng rãi, đôi khi mang
tính kỹ thuật như mười lăm năm qua đã tập trung vào những
vấn đề phát triểnvà quan hệ giữa các nước giàu và các nước
nghèo. Đây trước hết là một cái nhìn, một cảm nhận, một trình
bày với những nét lớn khiêm tốn có tính độc đáo biểu hiện
hoàn cảnh chung. Những “dữ kiện của vấn đề” chiếm một
chỗ giới hạn (vài đoạn ngắn từ số 6 đến số 12), với tầm nhãn
giới mở rộngvà nhấn mạnh đến những điểm cấp thiết: khát
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 326
vọng của con người (số 6), thực dân và chủ nghĩa thực dân
(7), sự chênh lệch gia tăng (8), tăng triển lương tâm (9), va
chạm giữa các nền văn minh (10), và cuối cùng là một lời
cảnh báo về những mối nguy hiểm trầm trọng có thể phát
sinh từ những hoàn cảnh đó (11).
Nguồn mạch sau cùng có tính cách cá nhân: đó là
những chuyến du hành của Đức Phaolô VI trước và trong triều
đại Giáo hoàng của ngài, đến châu Mỹ Latinh, Châu Phi, Ấn
Độ, Cận Đông và đến Liên Hiệp Quốc. Đức Phaolô VI, vốn
không phải là người của đám đông lớn, đã được khắc ghi bởi
những gì Ngài đã thấy, đã nghe, đã chạm tới trong thời gian
những lần di chuyển nhanh chóng đó. Nhờ đó, Ngài có thể
phát biểu bằng những lời lẽ cụ thể với từng độc giả dưới hình
thức tự vấn của một lương tâm đã canh tân (47) và lời kêu gọi
thay đổi tùy theo lãnh vực của người vai chính và lãnh vực mà
họ trách nhiệm. Trong chương cuối, ngài lần lượt nói với
những người Công Giáo, những Kitô hữu, những kẻ tin, với
những người thiện chí, với các viên chức Nhà Nước, với các
hiền nhân, và cũng nói với những người trẻ, những chuyên
viên…
* Cấu trúc và lý luận
Phát triển, là ý tưởng chủ đạo của Thông Điệp, bảo đảm
tính thống nhất của Thông Điệp; nhiều tính từ được đưa ra để
thử xác định nội dung của nó: nó phải đúng, đầy đủ, trọn vẹn,
có tính liên đới… Nó vượt xa hơn chứ không chỉ đơn thuần là
sự tăng triển kinh tế, tuy tăng triển ấy là cần thiết và những
kết qủa của nó phải được phân phối công bằng giữa các dân
tộc. Nhưng cái đích nhắm sâu xa là sự phát triển của con
người, của toàn thể con người và của mọi người, nhắm đến
“hiện hữu” của con người hơn là “sở hữu”.
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 327
Hai phần đã tạo nên cấu trúc văn kiện và, nhờ tiêu
đề, chúng cho thấy những dòng khẩu hiệu hành động: “vì
một sự phát triển toàn diện của con người” (phần I, khía
cạnh con người cá nhân) và “hướng đến sự phát triển nhân
loại trong tình liên đới” (phần II, khía cạnh tập thể nhiều
hơn); và ta nhận thấy trong hai kiểu thức này, cái sắc thái
riêng của những từ ngữ được dùng: vì, một, toàn diện, (tiêu
đề 1) và hướng đến, sự liên đới (tiêu đề 2).
Nhân học Kitô giáo về phát triển trở thành ơn gọi của
con người (15); con người đó đem thực hiện những năng lực
của trí tuệ, tự do và hành động mà Thiên Chúa đã phú cho.
Trong sự phát triển, có những ngưỡng cửa mà con người phải
vượt qua để có thể trở nênlà người hơn (số 20 và 21), với cả
một thang những giá trị để đánh giá các giai đoạn này.
Khái niệm phát triển các dân tộc không dễ gì xác định.
Tại khởi điểm, có một cái ngưỡng phải vượt qua (cuộc đấu
tranh chống cái đói) và những mức sống tối thiểu phải đạt cho
được, đáp ứng những nhu cầu cốt yếu (sức khỏe, việc làm,
giáo dục…); kế đến là sự thăng tiến về mặt xã hội, chính trị
và văn hoá trong sự tôn trọng những nét đặc thù của từng dân
tộc, sau cùng là cùng thỏa thuận chung quanh các giá trị luân
lý. Công cuộc phát triển các dân tộc này phải được khai sinh
từ mong muốn có một tình liên đới giữa mọi người, nhờ việc
thăng tiến công lý và tình huynh đệ; nó được đặt trong khuôn
khổ những mối quan hện quốc tế, với mong ước sự hợp tác
quốc tếsẽ đạt tới mức tạo lập được một trật tự pháp lý cả thế
giới công nhận (78) và thậm chí xây dựng được – như Đức
Gioan XXIII đã nói đến trong Thông Điệp Pacem in Terris –
“một quyền lực quốc tế hữu hiệu”. Chính trong viễn cảnh lớn
lao như thế mà công cuộc phát triển sẽ phục vụ cho nền hoà
bình thế giới và sẽ mang cùng tên gọi đó (76).
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 328
Để tiến gần đến những niềm hy vọng này, Đức Phaolô
VI, vượt qua những tranh luận ý thức hệ về các cơ cấu xã hội
mà mỗi quốc gia tự chọn cho mình; nhấn mạnh đến những
việc phải làm và đề nghị thành lập những tổ chức (Qũy phát
triển thế giới). Ngài mau chóng đụng chạm tới vô số vấn đề
của con người liên quan đến phát triển: dân số, xoá nạn mù
chữ, lao động nhập cư, kế hoạch hóa, đón nhận các sinh
viên… Chấp nhận sự đa dạng, đồng thời nhắc đến vài tư tưởng
nền tảng về quyền sở hữu, về lao động, về cám dỗ bạo
động…
Một vấn đề độc đáo và thời sự được bàn tới một cách
sâu xa hơn: sự công bằng đối xử trong những quan hệ thương
mại quốc tế (57 đến 66), với việc nghiên cứu về những cách
thức trao đổi mua bán với giá cả hợp lý và về những điều
kiện để xây dựng hợp đồng công bằng.
Những vấn đề khó khăn này, trong khảng thời gian ấy,
đã được đề cập đến tại các hội nghị Liên Hiệp Quốc về
thương mại và phát triển (1964, 1968, 1972,…) mà Tòa Thánh
có tham dự.
* Tầm mức và ảnh hưởng
Thông điệp về “Phát triển các dân tộc” đã được đón
nhận một cách tích cực khôbg những với các nhà chức trách
về chính trị và kinh tế, mà còn bởi các tổ chức tư nhân và
công luận. Nó khích lệ và định hướng cho các Kitô hữu đang
dấn thân trong công tác phát triển; nó khơi dậy những ơn gọi
mới mẻ và nhắc mỗi người ý thức trách nhiệm của mình khi
đứng trước thách thức lớn của giai đoạn cuối thế kỷ XX này.
Thông Điệp đã góp phần mở rộng tầm nhìn. Không đưa ra
những giải pháp hoặc mô hình có sẵn,mà chỉ đề nghị những
hướng đi và khơi dậy những động cơ hành động. Hẳn nhiên,
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 329
để trở nên khả thi, những khuyến dụ này cần phải được trải
qua một cuộc phân tích chặt chẽ nhiều hoàn cảnh khác nhau
và những nguyên nhân của tình trạng kém phát triển. Kế đến
vấn đề còn lại là lựa chọn những mục tiêu cần đạt được và
những chiến lược phát triển để theo đó mà thi hành, đồng thời
phải xét tới những cản trở và các giai đoạn, liên hệ tới biến
chuyển thời cuộc quốc tế: khủng hoảng kinh tế; biến chuyển
về những tương quan lực lượng trong những lãnh vực kỹ thuật
công nghệ, tài chánh, quân sự…; những thay đổi về cách suy
nghĩ và việc thích ứng giữa các nền văn hoá… thiện chí thôi
thì không đủ, kể cả khi có những dự án hào phóng nhất cũng
thế thôi, nếu thiếu cố gắng liên hệ thực tế.
Năm 1967, những lời ngôn sứ này của Đức Phaolô VI
đã được phát đi; nó đã được nhiều người đón nhận; đã nảy
mầm và triển nở thành rất nhiều sáng kiến, những sáng kiến
ấy, nếy muốn hữu hiệu và được triển khai rộng cần phải xét
tới những chuyển biến thời cuộc, những khó khăn do hoàn
cảnh, và cả kinh nghiệm nữa, đã làm thay đổi theo thời gian
những hoài bão trong thực tại.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 330
DÀN BÀI
Vấn đề xã hội ngày nay mang tính toàn cầu.
Sự phát triển các dân tộc. Giáo huấn xã hội của các Đức
Giáo Hoàng. Một sự kiện lớn. Những cuộc du hành công lý
và hoà bình {1-5}
I- Vì một sự phát triển toàn diện cuả con người.
1- Những dữ kiện của vấn đề. Những khát vọng của con
người.Thực dân và chủ nghĩa thực dân. Chênh lệch
ngày càng tăng. Nhận thức lương tâm tăng triển. Đụng
chạm giữa các nền văn minh.
Kết luận {6-11}
2- Giáo Hội và phát triển. Việc làm cuả các nhà truyền
giáo. Giáo Hội và thế giới. Nhãn quan Kitô về phát
triển ơn gọi hướng tới sự tăng triển. Một nghĩa vụ cá
nhân, và cộng đoàn. Thang giá trị tăng triển hai mặt.
Hướng tới một điều kiện sống nhân bản hơn. Lý tưởng
theo đuổi {12-21}
3-Việc phải tiến hành mục đích chung của cải {22}. Sự
sở hữu {23}. Sử dụng những lợi tức(24). Công nghiệp
hóa (25). Chủ nghĩa tư bản tự do (26). Việc làm (27).
Tính hai mặt của nó (28). Việc làm cấp bách (29). Cám
dỗ bạo động (30). Cách mạng (31). Cải cách (32).
Chương trình đã kế hoạch hóa (33). Để phục vụ con
người (34). Xóa mù chữ (35). Gia đình (36). Dân số
(37). Các tổ chức nghề nghiệp (38). Chủ nghĩa đa
nguyên hợp pháp (39). Phát triển văn hoá (40). Cám
dỗ duy vật (41). Hướng tới chủ nghĩa nhân bản toàn
diện (42)
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 331
II-Hướng tới sự liên đới phát triển của nhân loại.
Dẫn nhập:Tình huynh đệ giữa các dân tộc (43-44)
1- Hỗ trợ kẻ yếu kém: Đấu tranh chống cái đói. Ngày
nay, ngày mai. Nghĩa vụ liên đới với nhau. Sự thặng
dư. Những chương trình Qũy quốc tế, những thuận lợi,
sự cấp bách, đối thoại để thành lập, sự cần thiết (45-
55).
2- Công bằng trong những quan hệ thương mại. Bất
công ngày càng tăng. Bên kia chủ nghiã tư bản tự do.
Lẽ công bằng trong các thoả ước giữa các dân tộc.
Những biện pháp cần sử dụng. Công ước quốc tế.
Những trở ngại phải vượt qua: chủ nghĩa quốc gia; chủ
nghiã sắc tộc. Hướng tới một thế giới liên kết. Các dân
tộc tự thực hiện vận mạng của mình ( 57 – 65 ).
3- Đức ái phổ quát: nghĩa vụ đón tiếp. Thảm kịch của
các sinh viên trẻ. Những người lao động nhập cư. Ý
nghĩa xã hội. Sứ mạng phát triển. Phẩm chất của các
chuyên gia. Đối thoại giữa các nền văn minh. Lời kêu
gọi thanh niên. Cầu nguyện và hành động (67 -75).
4- Phát triển là tên gọi mới của hòa bình. Ra khỏi tình
trạng cô lập. Hướng tới một thẩm quyền quốc tế hữu
hiệu. Niềm hy vọng dựa trên một thế giới tốt hơn. Tất
cả mọi người liên kết với nhau (76 -80).
Lời kêu gọi sau cùng: ngỏ với những người Công
Giáo; với các Kitô hữu và những kẻ tin; với những
người thiện chí; với các nhà cầm quyền; với các bậc
hiền giả. Mọi người cùng bắt tay hành động (81 -87).
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 332
THÔNG ĐIỆP PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC
Thông điệp Phát triển các dân tộc của Đức Giáo Hoàng
Phaolô VI.
gởi các giám mục linh mục, tu sĩ, giáo hữu và mọi người
thiện chí về vấn đề phát triển các dân tộc.
MỞ ĐẦU
VẤN ĐỀ XÃ HỘI NGÀY NAY
ĐÃ TRỞ THÀNH MỘT VẤN ĐỀ CỦA THẾ GIỚI
Giáo hội chú ý tới sự phát triển của các dân tộc
1. Sự phát triển của các dân tộc, nhất là những dân tộc
đang cố thoát khỏi cảnh ô nhục vì đói khát, cùng cực, bệnh
tật, ngu dốt; đang tìm cách tham gia nhiều hơn vào thành quả
của văn minh; đang đòi hỏi phải đánh giá đúng mức hơn
những khả năng của con người họ trong mọi hoạt dộng; đang
quyết chí vươn mình tới một sự nảy nở trọn vẹn: sự phát triển
của các dân tộc đó được Giáo Hội Công giáo hằng tha thiết
lưu ý .
Thực vậy, sau khi công đồng Vat II kết thúc, Giáo hội
đã nhận thấy rõ ràng và sâu xa hơn đòi hỏi của Phúc Âm là
phải dấn thân phục vụ con người, không những để giúp họ
nhận rõ tất cả mọi kích thước của vấn dề tối quan trọng này,
mà còn để thuyết phục họ phải cấp tốc hành động liên đới
với mọi người trong khúc quanh quyết định này của lịch sử
nhân loại.
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 333
Giáo huấn của các Giáo Hoàng về vấn đề xã
hội .
2. Các vị Giáo Hoàng trước chúng tôi như Đức Lêô XIII
trong thông điệp “RERUM NOVARUM”75, Đức Piô XI trong thông
điệp “QUADRAGESIMO ANNO”76, Gioan XXIII trong “MATER ET
MAGISTRA”77 và “PACEM IN TERRIS”78. Khỏi nói đến Đức Piô
XII với các sứ điệp truyền thanh gửi toàn thế giới79- các vị
giáo hoàng đó đã chu toàn sứ mạng của mình là luôn luôn
chiếu sáng Phúc âm trên những vấn đề xã hội của thời đại
các Ngài.
Một vấn đề mà mọi người dều biết .
3.- Ngày nay, có một điều mà mọi người đều biết chắc
là vấn đề xã hội đã trở thành một vấn đề của thế giới. – Đức
Gioan XXIII đã quả quyết rõ ràng điều đó80, và Công Đồng
cũng nhắc lại trong Hiến chế mục vụ “Về giáo hội trong thế
75 Thông điệp quan trọng đầu tiên về vấn đề xã hội (15-5-1891)
76 Thông điệp nhân ngày kỷ niệm 50 năm ban hành thông điệp RN
(15-5-1931) Đức Piô XI xác định lại học thuyết của Đức Leo XIII và đề
cập tới những sự kiện và vấn đề trong khoảng 40 năm qua .
77 Thông điệp MM, một thông điệp xã hội rất quan trọng, sau RN và
QA.
78 Thông điệp nói về hòa bình và nhưng điều kiện để thể hiện
Hòa bình.
79 Trong số những thông điệp quan trọng của Đức Piô XII về vấn đề
xã hội có thể kể là:
-Thông điệp 1-6-1941 để kỷ niệm 50 năm thông điệp Rerum
Novarum
– Thông điệp Giáng Sinh năm 1942
80Thông điệp Mater et Magistra
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 334
giới ngày nay”81.Giáo huấn này hết sức quan trọng, vì thế
phải cấp bách thi hành. Các dân tộc đói khổ đang hạch sách
các dân tộc giầu sang. Giáo hội cũng động lòng run rảy khi
nghe tiếng kêu phát ra tự niềm thao thức ấy, và kêu gọi mọi
người hãy vì yêu thương đáp lại tiếng gọi của người anh em
mình .
Chính Đức PhaoLô VI đã thấy trong các cuộc
du hành.
4.- Trước khi lên Ngôi giáo hoàng, trong hai chuyến đi
Nam mỹ năm 1960 và Phi Châu năm 1962, Chúng tôi đã được
tiếp xúc trực tiếp với những khó khăn ghê gớm đang bóp chặt
hai lục địa đầy sức sống và đầy hy vọng .
Sau khi được chọn làm giáo hoàng Chúng tôi cũng được
thấy tận mắt và như sờ tận tay, ở Thánh Địa cũng như ở Ấn
độ, những nỗi khổ cực mà những dân tộc có nền văn minh cổ
kính ấy phải chịu đựng để cố gắng mở mang xứ sở .
Lúc Công Đồng Vat.II sắp kết thúc, do Thiên Chúa sắp
đặt, chúng tôi đã được tới trụ sở liên hiệp quốc để biện hộ
cho các dân tộc nghèo trước hội trường rộng lớn đó.
Một chương trình gồm hai điểm : Công Bằng
Và Hòa Bình
5. – Sau hết, vừa rồi đây để thể hiện nguyện vọng của
Công Đồng và cũng để cho mọi người thấy Tòa Thánh ủng
hộ chính nghĩa của các dân tộc đang cố gắng phát triển như
thế nào, chúng tôi thấy có bổn phận phải thiết lập thêm tại
Giáo triều Roma một uỷ ban trực thuộc giáo hoàng, có nhiệm
81 Hiến chế mục vụ về “Giáo hội trong thế giới ngày nay “số 63-72
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 335
vụ “làm cho toàn thể dân Chúa ý thức trọn vẹn được vai trò
mà thời đại hiện tại đang đòi hỏi ở mình, giúp cho các dân
tộc nghèo được thăng tiến: làm cho có sự công bằng giữa các
dân tộc; viện trợ cho các dân tộc kém mở mang, để họ có thể
tự phát triển”82. “Công bằng và hòa bình” là tên và là chương
trình của uỷ ban này. Chúng tôi nghĩ rằng chương trình này có
thể liên kết những người thiện chí với người công giáo, con
cái chúng tôi, và các Giáo hữu Kitô, anh em chúng tôi – vì thế
hôm nay Chúng tôi long trọng kêu gọi mọi người liên kết ý
kiến và hành động để phát triển toàn diện mỗi một con người
và cùng phát triển mối liên đới giữa mọi người .
PHẦN I
ĐỂ TIẾN TỚI MỘT SỰ PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN
CỦA CON NGƯỜI
1. NHỮNG VẤN ĐỀ HIỆN TẠI
Khát vọng của con người .
6.- Khát vọng của con người hôm nay là có được chắc
chắn của ăn, sức khỏe, việc làm ổn định; là có được trách
nhiệm nhiều hơn, để khỏi bị áp bức, để thoát cảnh nhục nhã
xâm phạm đến con người; là được học hành hơn. nói tóm lại
là được LÀM được BIẾT, được có nhiều hơn, để sống cho ra
người hơn. Thế mà một số lớn đang phải ở trong những điều
kiện không bao giờ thể hiện được khát vọng nói trên. Hơn
nữa những dân tộc, mới thâu hồi được độc lập, thấy không
82 Tự sắc “Giáo hội Công giáo của Chúa Kitô” (6-1-1967) là văn
kiện thành lập Uỷ ban “Công lý và Hòa bình”.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 336
những cần có quyền tự do chính trị, mà còn cần cả quyền
phát triển tự lập về kinh tế và xã hội. Có như thế mới mong
làm cho dân chúng phát triển đầy đủ và dám nhận lấy chỗ
đứng của mình trong cộng đoàn các dân tộc .
Cơ cấu của thực dân để lại .
7.- Để thể hiện công cuộc khó khăn và tối quan trọng
ấy, những phương tiện của thời xưa để lại như một di sản, tuy
thiếu sót, nhưng không phải là hoàn toàn không có. Thực ra
nên nhìn nhận các nước thực dân đã luôn luôn chỉ tìm lợi lộc,
quyền hành và vinh danh của họ. Vì thế khi ra đi họ để lại
một tình trạng kinh tế què quặt. Chẳng hạn, chỉ dựa vào
nguyên một loại canh tác độc nhất. Giá cả của hoa mầu nay
lại lên xuống thất thường – Nếu phải nhìn nhận một số tai hại
và ác quả của chế độ thực dân, thì đồng thời cũng phải ghi
nhận công trạng của những thực dân, nhờ có khoa học và kỹ
thuật nơi nhiều miền xấu số những thành quả tốt – các cơ sở
để lại, tuy không hoàn bị, nhưng cũng có thể giúp chiến đấu
với ngu dốt bệnh tật, thiết lập giao thông thuận lợi và cải tiến
đời sống .
Hiện tình càng ngày càng chênh lệch.
8.- Tuy phải nói và nhìn nhận điều đó, sự thật quá hiển
nhiên vẫn là sự trang bị ấy không đủ để đối phó với thực
trạng kinh tế khó khăn ngày nay. Cứ bỏ mặc theo đà tự nhiên
của nó thì guồng máy kinh tế hiện tại sẽ đem thế giới tới
những mức sống chênh lệch trầm trọng hơn, chứ đừng nói
giảm bớt. Các nước giầu phát triển nhanh, trong lúc các nước
nghèo phát triển chậm. Sự chênh lệch cứ tăng thêm; Có nước
sản xuất thực phẩm thừa thãi, có nước lại thiếu thốn một cách
tàn nhẫn. Những nước này nếu có nguồn lợi dư thừa nào, thì
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 337
hoặc khi có khi không, hoặc không chắc gì đã có thị trường
để xuất cảng .
Ý thức càng ngày càng cao.
9.- Trong lúc đó, những vụ tranh chấp trên những vấn
đề xã hội đã lan rộng gần khắp thế giới. Những xáo trộn trước
kia chỉ xâm nhập các giai cấp nghèo trong các nước kỹ nghệ,
giờ đây lan đến những miền mà kinh tế gần như hoàn toàn
dựa vào nông nghiệp. Người nông dân cũng ý thức được cảnh
bần cùng oan ức của họ83. Thêm vào đó còn có những chênh
lệch bất xứng và nhục nhã không những trong việc hưởng thụ
của cải, mà cả trong việc sử dụng quyền hành. Ở nhiều
miềm, chỉ một thiểu số được ưu đãi sống trên nhung lụa, còn
lại tất cả dân chúng, nghèo nàn và tản mác, không còn có thể
có sáng kiến và trách nhiệm và lắm lúc phải ở trong một hoàn
cảnh sinh sống và làm việc bất xứng với phẩm giá con
người84.
Sự đụng độ giữa hai văn minh.
10.- Hơn nữa nền văn minh cổ truyền và văn minh kỹ
nghệ mới đang đụng độ nhau, làm tan vỡ những cơ cấu không
còn thích ứng với nhu cầu của thời đại, do đó những người lớn
tuổi nghĩ rằng khuôn khổ cũa nền văn minh cổ truyền, tuy
càng ngày càng thu hẹp, vẫn còn có thể là nơi nương tựa cho
đời sống cá nhân cũng gia đình, vì thế họ cố bám vào đó. Trái
lại vì cho rằng đó chỉ là một chướng ngại vật vô bổ, lớp trẻ
tìm cách thoát ly để hăng say hướng đến một hình thức mới
của đời sống xã hội. Vì đụng độ giữa hai thế hệ mà người ta
đi đến chỗ phải lựa chọn bi đát như sau : hoặc giữ lại cơ cấu
83 Thông điệp Rerum Novarum
84 Hiến chế mục vụ về “Giáo hội trong thế giới ngày nay”, số 63
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 338
và tư tưởng của cha ông, thì phải từ chối tiến bộ; hoặc đón
nhận kỹ thuật và văn minh ở ngoài đem đến thì phải bỏ tập
tục cổ truyền với những giá trị nhân bản của nó. Thực ra lắm
lúc chúng tôi thấy rằng nghị lực luân lý, tinh thần, và tôn giáo
của một số người lớn tuổi suy giảm và hơn nữa họ không
chen chân vào được trong thế giới mới này .
Kết luận
11.- Trong cơn khủng hoảng đó người ta rất dễ bị lôi
cuốn theo những lời hứa hẹn rất hấp dẫn, những giả dối của
những kẻ tự nhận là cứu tinh mới. Ai lại chẳng thấy những
nguy hiểm do đó mà phát xuất ra, như phản ứng bạo động của
quần chúng , nổi loạn hỗn độn, nghiêng về những ý thức hệ
độc tài? Tầm quan trọng của vấn đề đó, chắc ai cũng thấy.
2. GIÁO HỘI VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN.
Sự nghiệp của các vị thừa sai .
12. – giáo hội hằng trung thành với giáo huấn và gương
mẫu của Chúa Kitô, Đấng đã lấy việc loan báo Tin mừng cho
người nghèo khó, làm như dấu hiệu của sứ mệnh Ngài85. Vì
thế, giáo hội đem Tin Mừng đến đâu thì cũng cố gắng giúp
phát triển con người dân tộc ở đó. Các thừa sai của giáo hội
trong lúc xây dựng Thánh đường, cũng lo xây dựng dưỡng
đường, bệnh viện, và trường học đủ các cấp. Họ dạy cho
người bản xứ phương thức khai thác một cách đầy đủ những
tài nguyên thiên nhiên của họ, và còn bảo vệ họ khỏi lòng
tham của ngoại nhân. Lẽ dĩ nhiên, các thừa sai cũng là người,
công việc của họ có thể thiếu sót: có những kẻ đem pha trộn
lối sống và lối suy tư của xứ sở họ vào việc loan báo Tin
85 Lc 7,22 .
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 339
Mừng của Chúa Kitô. Nhưng đồng thời họ cũng biết không
những tôn trọng mà còn làm phát triển các cơ cấu địa phương.
Có nhiều vị được kể vào số những chiến sĩ tiền phong phát
động tiến bộ vật chất và văn hóa. Chỉ cần nhắc lại gương của
Cha Charles de Foucauld cũng đủ. Ngài đã sống một đời yêu
thương và đáng gọi là “anh em của mọi người”, chính Ngài đã
soạn thảo một cuốn tự điển giá trị về tiếng Touareg. Đó là
những kẻ đã được tình yêu của Chúa Kitô thúc đẩy, họ đã đi
tiền phong, nhưng ít ai biết đến. Bổn phận của chúng ta là
phải ca ngợi họ, cũng như phải ca ngợi những người kế tiếp
họ, theo gương họ, những kẻ ngày nay còn đang phục vụ một
cách đại độ và vô vị lợi, ở những nơi mà họ đến để giảng Tin
mừng .
Sứ mạng của giáo hội.
13.-Nhưng từ nay, sáng kiến của một người hay của
nhiều người ở từng địa phương không còn đủ nữa. Tình thế
của thế giới hiện tại đòi hỏi phải có một hành động chung,
căn cứ trên một cái nhìn sáng suốt bao gồm tất cả mọi vấn đề:
kinh tế, xã hội, văn hóa và tinh thần. Giáo hội hiểu biết rất
nhiều về những vấn đề của nhân loại, nhưng giáo hội không
can dự vào chuyện chính trị. Giáo hội chỉ có nhằm một mục
đích duy nhất là tiếp tục, dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh
Thần, công việc của Chúa kitô, Đấng đã đến trong trần gian
để làm chứng về sự thật, để cứu rỗi, chứ không phải để lên
án, để phục vụ chớ không phải để được phục vụ86. giáo hội
được thiết lập là để xây dựng ngay tự đây nước trời ở trần
gian, chớ không phải để chiếm đoạt một quyền lực trần thế.
Vì thế giáo hội quả quyết rõ ràng rằng : hai lãnh vực này khác
86 Hiến chế mục vụ … 32.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 340
biệt, cũng như hai quyền lực, giáo quyền và chính quyền, đều
là hai quyền tối thượng, mỗi bên trong phạm vi của mình87.
Nhưng giáo hội lại sống giữa loài người, nên phải tìm
hiểu những dấu chỉ của thời đại và giải thích những dấu chỉ ấy
theo ánh sáng của phúc âm88. Những khát vọng đẹp đẽ nhất
của con người cũng là của giáo hội, nên giáo hội đau buồn
khi thấy những khát vọng ấy không được toại nguyện. Vì thế
nên giáo hội muốn giúp họ đạt tới sự phát triển đầy đủ của
họ, đề nghị với họ điều mà giáo hội có được, là một cái nhìn
toàn diện về con người và nhân loại .
Tất cả con người và tất cả mọi người.
14.- Sự phát triển không chỉ nhằm nguyên việc mở
mang kinh tế. Bởi vì sự phát triển đích thực là sự phát triển
toàn diện, nghĩa là thăng tiến tất cả mọi người và toàn thể con
người. Một chuyên viên lỗi lạc đã nói rất đúng về điều đó :
“Chúng tôi không chấp nhận việc tách rời kinh tế khỏi vấn đề
của con người, việc tách rời vấn đề phát triển khỏi nền văn
minh liên hệ. Điều đáng kể đối với chúng ta là con người, là
mỗi người, là mỗi đoàn người cho đến toàn thể nhân loại89.
Mỗi người phải phát triển.
15.- Trong ý định của Thiên Chúa, mỗi người sinh ra là
để được phát triển, vì mỗi đời sống là một sứ mạng. Thực
vậy, từ khi mới sinh ra, mỗi người đã được những đức tính và
năng khiếu như những mầm mống phải vun trồng cho lớn lên
: nhờ giáo dục của xã hội hay cố gắng riêng của mình, những
87 Thông điệp Immortale Dei (1-11-1885) của Đức Leo XIII
88 Hiến chế mục vụ số 4 đoạn 1 .
89 L.J.Lebert “Dynamique concrète du développement” Paris 1961
trang 28
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 341
đức tính và năng khiếu lớn mạnh để mỗi người có thể đạt tới
đích mà Đấng tạo hóa đã chỉ định cho mình. Vì con người có
trí tuệ và tự do, nên con người có trách nhiệm về sự phát
triển, cũng như về sự cứu rỗi của mình. Con người thường
được những nhà giáo dục và những kẻ sống quanh mình giúp
đỡ, nhưng cũng đôi khi bị họ gây trở ngại. Tuy ảnh hưởng đó
thế nào đi nữa thì sự thành công hay thất bại của mỗi người
cũng là chính do mỗi người tạo nên. Mỗi người có thể nhờ
thông minh và ý chí, mà lớn lên trong đạo làm người, mà có
thêm giá trị, mà sống ra người hơn.
Bổn phận của mọi người.
16.-Đàng khác, việc phát triển này không phải là việc
để tùy ý. Cũng như tất cả thụ tạo phải hướng về Đấng tạo
hóa, thì vật thụ tạo có lý trí cũng có nhiệm vụ phải tất nhiên
hướng cuộc đời mình về Thiên Chúa, là chân lý nguyên khởi
và thiện hảo tối thượng. Vì thế, việc phát triển con người
được coi là tột đỉnh nghĩa vụ của chúng ta. Hơn thế nữa bản
tính con người vốn đã điều hòa tốt đẹp, lại được mỗi người
bằng việc làm và ý thức trách nhiệm của mình, kiện toàn mỗi
ngày một hơn, bản tính ấy còn được quy hướng về một phẩm
giá cao trọng hơn. Tháp nhập vào Chúa Kitô là Đấng đã làm
cho ta được sống, con người còn tiến tới một sự phát triển
khác, một nền nhân bản siêu việt làm cho con người được
sống đầy đủ tột độ. Đó là mục đích tối hậu của việc phát triển
con người .
Bổn phận của cộng đoàn.
17.-Nhưng mỗi người còn là thành phần của xã hội :
mỗi người thuộc về toàn thể nhân loại. Vì thế không phải là
người này hay người kia mà là tất cả mọi người đều được gọi
để thực hiện sự phát triển toàn vẹn này. Các nền văn minh
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 342
sinh ra, lớn lên rồi chết đi nhưng cũng như những đợt sóng
thủy triều đang lên, mỗi đợt tiến thêm một chút vào bờ, nhân
loại cũng tiến như thế trên đường lịch sử. Là người được thừa
hưởng của các thế hệ đã qua và đang thụ hưởng công việc
của người đương thời, chúng ta có những nghĩa vụ đối với tất
cả, và chúng ta không có quyền thờ ơ với những người sẽ đến
sau chúng ta để làm rộng lớn thêm đại gia đình nhân loại.
Tình liên đới đại đồng là một điều có thực. Nó đem lại cho ta
không những lợi ích mà còn bổn phận nữa .
Sắp đặt các giá trị.
18.-Việc phát triển của mỗi người và của toàn thể nhân
loại sẽ bị tổn thương, nếu không đặt mỗi việc theo đúng giá
trị quan trọng của nó. Con người có quyền ước muốn những
của cải cần thiết để sống và có bổn phận phải làm việc để có
những của cải đó : “Nếu ai không muốn làm thì người ấy cũng
đừng ăn” 90. Nhưng việc tìm kiếm của cải có thể đem con
người đến lòng ham muốn quá độ, ham muốn có nhiều của
cải hơn, có nhiều quyền lực hơn. Tật tham lam của mỗi người
cũng như của các gia đình, các dân tộc có thể làm thấm nhập
vào người nghèo nhất cũng như người giầu nhất và gây cho
cả đôi bên một tinh thần duy vật bóp nghẹt tâm hồn .
Hai bộ mặt của sự phát triển.
19.-Đối với một dân tộc cũng như đối với một cá nhân
có thêm nhiều của hơn không phải là mục đích tối hậu. Mỗi
một sự thăng tiến đều có hai mặt : nó cần thiết để con người
được nên người hơn, nhưng đồng thời nó cũng giam hãm con
người một khi nó trở thành giá trị cao cả thật, không còn cho
thấy giá trị nào khác. Lúc đó, lòng người trở nên chai đá và
90 2Tx 3,10 .
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 343
tinh thần khép kín lại, con người không còn đến với nhau vì
tình nghĩa, nhưng chỉ vì lợi lộc. Lợi lộc để làm cho con người
chống đối nhau và chia rẽ nhau. Vì thế nếu chỉ tìm của cải mà
thôi thì không những sẽ làm cản trở cho sự phát triển của con
người, mà còn phản lại sự cao cả bẩm sinh của con người. Đối
với một quốc gia cũng như đối với một con người, tội tham
lam là một hình thức lộ liễu nhất của tình trạng luân lý thấp
kém.
Tiến tới một điều kiện xứng với con người hơn .
20.- Nếu để xúc tiến việc phát triển, cần phải có
chuyên viên mỗi ngày mỗi nhiều, thì càng cần phải có nhiều
hơn nữa những nhà hiền triết để suy nghĩ sâu xa, để tìm kiếm
một thuyết nhân bản mới. Nhờ đó con người hiện đại như tìm
lại được chính mình vì thấm nhuần những giá trị cao quý của
tình yêu, tình bạn, cầu nguyện và chiêm ngắm91 Có thế, mới
thực hiện được trọn vẹn sự phát triển đích thực. Một sự phát
triển đích thực đối với mỗi người cũng như đối với mọi người,
là đi từ những điều kiện ít xứng với con người đến những
điều kiện xứng với con người hơn .
Lý tưởng phải theo đuổi .
21.-Sống trong những điều kiện ít xứng với con người :
trước tiên có nghĩa là những kẻ sống trong hoàn cảnh thiếu
thốn về vật chất như thiếu ăn thiếu mặc, thiếu thốn về tinh
thần như xa đọa ích kỷ quá độ.
Sống trong những điều kiện ít xứng với con người : còn
là những kẻ bị cơ cấu của xã hội đè nén: những cơ cấu do sự
lạm dụng sở hữu, lạm dụng quyền hành, bóc lột nhân công
cũng như buôn bán gian lận tạo nên.
91 x. J.Maritain “Les conditions spirituelles du progrès et de la paix”.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 344
Xứng với con người hơn, có nghĩa làm cho con người từ
nghèo đói đến no đủ, loại trừ các tệ đoan xã hội, mở rộng
được kiến thức, hấp thụ được văn hóa. Xứng với con người
hơn : còn có nghĩa là kính trọng nhân phẩm của người khác
hơn, hướng về một tinh thần nghèo khó92, mưu cầu ích chung,
quyết tâm hòa bình. Xứng hợp với con người hơn còn có
nghĩa là con người nhìn nhận những giá trị tối cao, và nhìn
nhận Thiên Chúa là nguồn gốc và là cùng đích của mọi giá trị
.
Xứng hợp với con người hơn, sau hết và hơn hết, là có
nghĩa rằng : con người thành tâm đón nhận đức tin, tức là đón
nhận ân huệ của Thiên Chúa, và hòa hợp các tâm hồn trong
tình thương yêu của Đức Kitô, Đấng đã gọi chúng ta để được
làm con, tham gia vào sự sống của Thiên Chúa hằng sống,
Cha của mọi người .
3. CÔNG CUỘC PHẢI THỂ HIỆN
Của cải là của mọi người .
22.- ở ngay trang đầu của Kinh Thánh, chúng tôi đọc
được lời này : “Hãy lan tràn khắp mặt đất và hãy khắc phục
trái đất”93. Lời đó dạy chúng ta rằng tất cả vũ trụ này được
tạo dựng nên cho con người; con người có bổn phận phải
dùng tài năng của mình để tăng giá trị của vũ trụ, và dùng
việc làm của mình mà hoàn thành vũ trụ để hưởng dụng. Trái
đất đã được tạo dựng nên để cung cấp phương tiện sinh sống
và khí cụ tiến bộ cho mỗi người, thì mỗi người có quyền tìm
thấy ở trong đó những điều cần thiết cho mình. Công đồng
cũng đã nhắc lại điều đó rằng: “Thiên Chúa đã tạo dựng trái
92 Mt 5,3.
93 Sách Sáng thế 1,28.
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 345
đất và mọi vật trên đó là để mọi người và mọi dân tộc sử
dụng. Vì thế của cải trần gian phải tràn đầy đồng đều cho
mọi người, theo luật công bằng là một luật đi liền với luật Bác
ái”94.
Định luật này phải được ưu tiên trên mọi quyền hạn
khác, bất cứ là quyền nào kể cả quyền tư hữu và quyền tự do
buôn bán. Các quyền khác không những không được cản trở,
mà trái lại phải giúp định luật này thể hiện dễ dàng. Vì đó,
phải hiểu rằng bổn phận xã hội quan trọng và cấp bách nhất :
là phải quy hướng các quyền nói trên về với cùng đích tiên
khởi của chúng.
Quyền tư hữu.
23.-“Kẻ có của cải trên đời, nếu thấy anh em mình phải
túng bấn, mà đi khóa lòng dạ lại không thương nó, thì lòng
mến Thiên Chúa ở trong kẻ ấy thế nào?”95.
Mỗi người đều biết các giáo phụ đã nói mạnh mẽ như
thế nào về bổn phận phải có của người giầu đối với những kẻ
đang lâm cảnh túng thiếu. Thánh Ambrosio nói: “Anh cho
người nghèo, nhưng đó không phải anh lấy của anh mà cho,
mà anh chỉ trả lại cho họ của cải của họ. Bởi vì của cải là để
cho mọi người dùng chung, thì anh đã dành lấy một mình cho
anh. Trái đất này là của mọi người, chứ không phải của người
giầu” 96 Những lời đó có nghĩa là quyền tư hữu không cho
một ai có quyền tuyệt đối và vô điều kiện. Không ai có
quyền dành riêng, cho một mình mình, của dư thừa khi có
những người khác đang thiếu những gì cần thiết để sống. Nói
94 GS số 69 đoạn 1.
95 Thư thứ nhất của Thánh Gioan 3,17
96 Xem 1 R.Palanque “Saint Ambroise et l’Empire romain” – Paris
1933 trang 336
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 346
tóm lại, theo học thuyết truyền thống của các giáo phụ, và
các nhà thần học danh tiếng thì không bao giờ được sử dụng
quyền tư hữu khi thiệt hại đến ích lợi chung. Nếu có sự tranh
chấp giữa quyền tư nhân đã được xác nhận và đòi hỏi quan
trọng của cộng đoàn, thì chính phủ phải lo giải quyết với sự
tham gia tích cực của các tư nhân và các tập thể.97
Sử dụng lợi tức.
24.-Vậy lắm lúc vì ích chung phải truất hữu. Chẳng hạn
như khi sở hữu làm cản trở sự thịnh vượng chung vì rộng lớn
quá, không khai thác đủ hoặc không khai thác được và gây
khổ cực cho dân chúng hoặc làm thiệt hại lớn cho quốc gia.
Công đồng Vat.II đã quả quyết rõ ràng điều đó và còn nhấn
mạnh rằng : Không phải ai muốn sử dụng lợi tức của mình thế
nào thì cứ sử dụng, và phải cấm đoán những vụ đầu cơ ích kỷ.
Có những công dân có lợi tức dư thừa nhờ tài nguyên và sinh
hoạt quốc gia, họ đem chuyển một phần lớn tài sản đó ra
ngoại quốc để mình sử dụng riêng, mà không để ý tới thiệt
hại tỏ tường của xứ sở98.
Kỹ nghệ hóa.
25.- Việc kỹ nghệ hóa là một điều cần thiết cho sự phát
triển kinh tế và cho sự tiến bộ của con người99. Kỹ nghệ vừa
là dấu hiệu vừa là động cơ của sự phát triển. Con người nhờ
xử dụng trí thông minh của mình và chịu khó làm việc, đã
khám phá được lần hồi những định luật bí ẩn của vũ trụ và
làm cho kho tàng phong phú của nó trở nên thêm hữu dụng.
97 Thư gởi tuần lễ xã hội ở Brest (đọc trong “L’homme et la
révolution urbaine” Lyon 1965 trang 8-9
98 Hiến chế mục vụ … số 71 đoạn 6.
99 Hiến chế mục vụ … số 65 đoạn 3
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 347
Do đó con người vừa điều hòa được nếp sống của mình vừa
mở mang thêm óc tìm tòi và phát minh. Con người cũng nhờ
đó trở nên can đảm, dám mạo hiểm, dám kinh doanh, dám có
sáng kiến, dám lãnh trách nhiệm .
Chủ nghĩa tư bản .
26.- Nhưng từ những điều kiện mới mẻ ấy của xã hội,
không biết sao lại phát sinh ra một chủ trương lấy lợi làm
động cơ căn bản để phát triển, lấy tự do cạnh tranh làm định
luật tối cao của kinh tế, lấy việc nắm giữ riêng những phương
tiện sản xuất làm quyền tuyệt đối, bất chấp giới hạn và nghĩa
vụ xã hội liên hệ. Thứ “tự do kinh tế” phóng túng này đã dẫn
đưa tới một lối độc tài mà Đức Piô XI đã tố cáo đúng lý như
cha đẻ của “đế quốc tiền bạc quốc tế“100. Những thứ lạm dụng
kinh tế như thế không bao giờ bài xích cho đủ, bởi vì, còn
phải long trọng lập lại một lần nữa, kinh tế là để phục vụ con
người101. Quả thực có một hình thức tư bản nào đó đã phát
sinh ra bấy nhiêu đau thương, bất công, và tranh chấp giữa anh
em gây nên thiệt hại lâu dài. Nhưng thực là sai lầm nếu đem
gán ghép cho chính việc kỹ nghệ hóa những tệ hại đó, là
những tệ hại của một chủ nghĩa sai lạc cùng phát triển một lúc
với việc kỹ nghệ hóa mà thôi. Cần phải công minh nhìn nhận
sự góp phần cần thiết của sự tổ chức việc làm cách khoa học
và những tiến bộ của kỹ thuật vào công cuộc phát triển .
Giá trị của việc làm .
27.- Cũng vậy, mặc dầu đôi lúc người ta đề cao quá
đáng giá trị của việc làm, nhưng không phải vì thế mà không
nhìn nhận rằng chính Thiên Chúa đã truyền phải làm việc và
100 thông điệp Quadragesimo Anno
101 thông điệp Quadragesimo Anno
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 348
chúc lành cho công việc làm. Bởi vì đã được tạo dựng nên
theo hình ảnh Thiên Chúa “con người phải cộng tác với Đấng
Tạo hóa để hoàn thành công cuộc tạo dựng và cũng để ghi
dấu thiêng liêng của mình trên trái đất”102. Thiên Chúa đã ban
cho con người trí thông minh, óc tưởng tượng, và giác quan
tức là đã cho con người phương tiện để như hoàn tất công
cuộc của Ngài, bởi vì mỗi một người khi làm việc, dù là người
nghệ sĩ hay thủ công, chủ nhân, công nhân, hay nông dân,
đều làm công việc tạo dựng. Khi nghiêng mình làm việc trên
một chất liệu rắn rỏi, người lao động in vào đó dấu riêng của
mình, đồng thời cho mình thêm tính kiên nhẫn, tài khéo léo
và óc sáng tạo. Hơn thế nữa, khi làm việc, chung đụng với
nhau, cùng chia sẻ hy vọng, đau khổ, hoài bão và vui thú. Do
đó việc làm nối kết các ý chí, kéo gần các tâm trí, hàn gắn
các tâm hồn. Nhờ làm việc mà con người khám phá ra mình là
anh em với nhau103.
Việc làm dị nghĩa.
28.- Việc làm đã hẳn là dị nghĩa, vì nó hứa hẹn tiền tài,
lạc thú, thể lực, lôi kéo lớp người này vào ích kỷ, lớp người
kia vào nổi loạn. Tuy nhiên nó cũng làm phát huy lương tâm
nghề nghiệp, ý thức bổn phận, và tình thương đối với người
bên cạnh. Ngày nay việc làm khoa học và có tổ chức hơn,
nhưng cũng vì thế mà có thể trở nên vô nhân đạo đối với
người lao động : Người nô lệ đã trở thành như nô lệ của việc
102 x.chẳng hạn “Colin Clark, The conditions of economic progress”
New York 1965 trg 6
103 Xem chẳng hạn M.D.Chenu “Pour une théologie du travail”, Seuil
1955
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 349
làm. Việc làm chỉ có thể nói được là của con người, khi con
người làm việc một cách thông minh và tự do104.
Đức Gioan XIII đã khẩn khoản nhắc nhở rằng phải cấp
bách trả lại nhân phẩm cho người lao động và phải làm cho họ
tham gia thực sự vào công cuộc chung: “Phải làm thế nào để
xí nghiệp trở thành một cộng đoàn giữa người với người trong
các mối liên lạc, việc làm, hoàn cảnh của mỗi người trong xí
nghiệp”.
Sau hết đối với người giáo hữu, việc làm còn có sứ
mạng cộng tác vào công cuộc tạo dựng một thế giới siêu
nhiên105. Thế giới đó phải hoàn thành cho tới ngày mà tất cả
chúng ta làm thành con người hoàn hảo mà Thánh Phaolô nói:
“Con người thể hiện được sự viên mãn của Đức Kitô”106.
Hành động cấp bách.
29.- Phải hành động gấp, bởi vì số người đau khổ còn
quá nhiều và khoảng cách giữa người tiến bộ và những người
không tiến bộ ngày càng lớn. Hơn nữa công cuộc phải làm
cần phải được xúc tiến một cách hòa hợp, nếu không sẽ mất
thăng bằng cần thiết .
Một cuộc cải cách điền địa thiếu sửa soạn chẳng hạn sẽ
không đạt được kết quả. Một công cuộc kỹ nghệ hóa vội
vàng có thể làm rối loạn các cơ cấu còn cần thiết, và gây nên
những khổ cực trong xã hội. Đó lại là thoái hóa đối với văn
minh nhân loại .
104 Mater et magistra
105 x. chẳng hạn O.Von Nel Breuning:“Wirtschaft und Gesellschaft”
Herder 1956 t.I tr.183
106 Thư Thánh phaolô gởi giáo hữu Ephêso 4,13.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 350
Dùng vũ lực .
30.-Quả đang có những tình trạng bất công kêu thấu tận
trời. Thực vậy, khi dân chúng thiếu cả những điều cần thiết
để sống, phải lệ thuộc vào người khác đến độ không còn
quyền có sáng kiến và trách nhiệm, không còn tiến triển về
mặt văn hóa và tham gia được vào đời sống xã hội và chính
trị, thì người ta dễ dàng bị lôi cuốn muốn dùng vũ lực để
chấm dứt cảnh nhục mạ nhân phẩm con người như thế .
Nổi loạn và cách mạng.
31.- Nhưng, ngoại trừ trường hợp để đánh đổ một chế
độ độc tài rõ rệt và kéo dài đã quá lâu làm thương tổn nặng
nề đến những quyền căn bản của con người và nguy hại lớn
cho lợi ích quốc gia, những cuộc nổi loạn và cách mạng làm
cho thêm bất công, đem đến thêm chênh lệch, và gây thêm
tàn phá. Điều đó ai cũng biết – Như thế, người ta đâu có
quyền diệt trừ một sự dữ trước mắt bằng một đường lối có thể
đem đến một sự dữ tàn khốc hơn.
Cải cách .
32.- Chúng tôi muốn câu nói của chúng tôi được hiểu
đúng như thế này là phải can đảm đối phó với hoàn cảnh hiện
tại và phải diệt trừ cho được những bất công của nó. Sự phát
triển đòi hỏi những thay đổi táo bạo, những đổi mới sâu xa.
Phải khởi công ngay những cải cách mà không trì hoãn: Mỗi
người phải đại độ lãnh lấy phần của mình, nhất là những
người nhờ giáo dục, nhờ địa vị, nhờ quyền hành, có nhiều
khả năng hành động. Ước gì, để làm gương họ lấy chính tài
sản của họ để thể hiện điều đó, như nhiều Giám Mục, anh em
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 351
của chúng tôi đã làm.107 Có như thế họ mới đáp ứng sự chờ
đợi của loài người và trung thành với Thánh Thần Chúa, bởi vì
“Chính Phúc âm đã làm dạy lên và đang làm dạy lên, như
men, trong lòng người, một đòi hỏi nhân phẩm không thể đè
bẹp được”.108
Chương trình và kế hoạch.
33.-Thực ra sáng kiến cá nhân và luật cạnh tranh mà
thôi không làm cho việc phát triển được thành công mỹ mãn.
Bởi vì không được phép liều lĩnh để cho tài sản và quyền lực
của kẻ giầu gia tăng, để cho sự cùng cực của người nghèo
thêm rõ rệt và để cho ách nô lệ của những kẻ bị áp bức thêm
nặng nề. Vì thế phải có chương trình để “nâng đỡ, khuyến
khích phối hiệp, thay thế và bổ khuyết “109 hoạt động của cá
nhân cũng như của các tập thể trung gian. Chính phủ có
quyền quyết định và bắt thể hiện những mục tiêu phải theo
đuổi, những đích phải đạt, những phương tiện phải dùng để đi
tới. Chính phủ cũng có bổn phận phải thúc đẩy nghị lực của
tất cả những ai có trách nhiệm về công cuộc chung này.
Nhưng chính phủ cũng phải lưu tâm để các tư nhân và các tập
thể trung gian có thể giúp sáng kiến vào đó. Có thế thì mới
tránh được nạn tập sản hóa tuyệt đối và kế hoạch hóa độc
đoán, xâm phạm đến tự do và sử dụng các quyền căn bản của
con người .
107 Xem chẳng hạn Mg. Larrain Errazruriz “Lettre pastorale sur le
développement et la paix”. Paris 1965
108 Hiến chế mục vụ, số 26 đoạn 4
109 Thông điệp Mater et Magistra ibid trang 414
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 352
Phục vụ con người.
34.- Lập nên chương trình là để gia tăng sản xuất. Do đó
một chương trình chỉ có lý do để tồn tại là khi phục vụ con
người. Như thế chương trình là để làm giảm bớt chênh lệch,
loại bỏ kỳ thị, giải thoát con người khỏi xiềng xích nô lệ, làm
cho con người có thể tự mình cải tiến đời sống vật chất của
mình, phát huy đời sống tinh thần và làm nảy nở đời sống siêu
nhiên.
Khi nói “phát triển” là chúng tôi muốn nói tới sự quan
tâm đến tiến bộ xã hội cũng bằng tiến bộ kinh tế. Bởi vì gia
tăng tài sản chung cũng đủ để có sự phân phối công minh. kỹ
thuật tiến bộ cũng không đủ để quả địa cầu này trở nên nhân
đạo hơn, dễ cư ngụ hơn. Vì thế mà những nước đang mở
mang phải chú ý tới những sai lầm của những kẻ đi trước, để
tránh được nguy hiểm trong lãnh vực này. Nếu những ngày
gần đây chế dộ chuyên viên trị thịnh hành, thì rồi cũng lại
phát sinh ra những hiểm họa khủng khiếp không kém những
hiểm họa do chủ nghĩa kinh tế tự do trước kia. Kinh tế và kỹ
thuật không có nghĩa gì nếu không hướng về ích lợi con người
để phục vụ. Và con người chỉ thực sự là con người trong mức
độ mình làm chủ được hành động của mình và hiểu được tầm
quan trọng của nó để tự mình làm cho mình phát triển. Sự
phát triển này cũng phải phù hợp với bản tính mà Đấng Tạo
hóa tối cao đã phú cho, gồm có những khả năng và đòi hỏi
mà mình tự đón nhận .
Chống mù chữ .
35.-Người ta còn có thể quả quyết rằng sự phát triển
kinh tế tùy thuộc nhiều nhất ở sự tiến bộ về mặt xã hội. Do
đó giải quyết nạn mù chữ là mục tiêu thứ nhất của một
chương trình phát triển. Thiếu học cũng làm suy nhược quả
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 353
không kém thiếu ăn : Một người mù chữ là một trí óc không
được nuôi dưỡng đủ. Biết đọc, biết viết, biết được một nghề
là có được lòng tự tin và khám phá được rằng mình có thể
cùng tiến với người khác. Như chúng tôi đã nói trong điệp
văn gởi Đại hội UNESCO năm 1965 ở Teheran, biết chữ, đối
với con người, là một yếu tố thứ nhất và quan hệ nhất để đi
vào đời, cũng như để thêm giầu có riêng, còn đối với xã hội,
nó là một dụng cụ đặc biệt để tiến bộ về kinh tế và để phát
triển110. Do dó chúng tôi rất hoan hỷ khi thấy đã có nhiều
công cuộc được thực hiện do các sáng kiến cá nhân, các cơ
quan công quyền cũng như các tổ chức quốc tế trong địa hạt
này: đó là những kẻ góp công thứ nhất vào sự phát triển, bởi
vì họ làm cho con người có khả năng tự sức mình theo đuổi sự
phát triển.
Gia dình .
36.- Nhưng con người chỉ đầy đủ là con người trong môi
trường xã hội của mình. Trong đó, gia đình đóng một vai trò
chính yếu. Vai trò này có thể là quá đáng, khi ở một vài nơi
và một vài lúc, nó đã làm tổn thương đến những quyền tự do
căn bản của con người – những khung cảnh xã hội cũ của các
nước chậm tiến tuy lắm lúc quá cứng rắn và kém tổ chức,
nhưng vẫn còn cần thiết một thời nữa, nếu biết nới rộng dần
dần sự kiềm chế quá đáng của nó. Nhưng gia đình theo bản
chất tự nhiên của nó nghĩa là một vợ một chồng, và vĩnh viễn,
đã được Thiên Chúa dự liệu111 và đạo Kitô giáo thánh hóa, để
làm nơi gặp gỡ của nhiều thế hệ, để giúp nhau ngày thêm
khôn ngoan từng trải và dung hòa quyền lợi của con người với
110 Báo Osservatore Romano 11-9-1965
111 Matthêu 19, 6 .
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 354
những đòi buộc của đời sống xã hội. Gia đình đó chính là nền
tảng của xã hội112.
Vấn đề sinh sản .
37.- Không nên chối rằng lắm lúc dân số tăng lên mau
quá gây thêm khó khăn cho việc phát triển : Vì dân số tăng
nhanh hơn tài nguyên hiện có, nên người ta có cảm tưởng
không còn lối thoát. Lúc đó, người ta dễ chiều theo ý kiến
giảm bớt việc tăng gia sinh sản bằng những biện pháp cực
đoan.
Chắc chắn là các chính phủ, trong phạm vi quyền hạn
của mình, có thể can thiệp, bằng cách giáo dục dân chúng về
vấn đề ấy và dùng những biện pháp thích ứng, miễn là những
biện pháp đó phù hợp với đòi buộc của luân lý và tuyệt đối
kính trọng sự tự do chính đáng của vợ chồng. Bởi vì nếu
quyền kết hôn và sinh sản là những quyền cố định mà bị tước
đoạt thì còn gì là phẩm giá con người. Sau hết việc định đoạt
số con phải có là trách nhiệm của cha mẹ, một khi đã thấu
triệt vấn đề. Trách nhiệm ấy họ phải nhận lấy trước Thiên
Chúa, đối với nhau, đối với những đứa con đã được sinh ra và
đối với cộng đoàn liên hệ với họ theo đúng đòi buộc của
lương tâm đã được đào tạo trong lề luật Chúa giải thích một
cách trung thực, và đã được mạnh mẽ nhờ cậy tin ở Chúa113.
Các tổ chức nghề nghiệp.
38.-con người phát triển, trước nhất là nhờ có gia đình
nơi sinh sống, và thường cũng có các tổ chức nghề nghiệp
giúp đỡ. Các tổ chức này được lập ra để mưu cầu quyền lợi
cho các hội viên. Tuy nhiên vẫn có trách nhiệm lớn đối với
112 Hiến chế mục vụ … số 52 đoạn 2.
113 Như trên số 50 51 và 87 đoạn 2,3
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 355
vấn đề giáo dục, một công cuộc mà các tổ chức đó có thể
làm rất nhiều để giúp cho các hội viên ý thức được quyền lợi
chung và trách nhiệm của mỗi người đối với quyền lợi đó .
Chủ thuyết khác nhau .
39.- Mỗi một hoạt động xã hội đều có hàm chứa một
chủ thuyết. Người giáo hữu Kitô không thể chấp nhận một
chủ thuyết dựa trên triết lý duy vật và vô thần, không tôn
trọng hướng tôn giáo của cuộc đời là hướng về cùng đích tối
hậu đời đời, cũng như không tôn trọng tự do và phẩm giá của
con người. Tuy nhiên, miễn là không tổn thương đến những
giá trị đó, có thể chấp nhận nhiều tổ chức nghề nghiệp và
nghiệp đoàn khác nhau. Đứng về một vài phương diện, điều
đó lại có lợi, miễn là bảo đảm được tự do và khuyến khích sự
thi đua. Và chúng tôi hoan hỷ ca ngợi những ai đang cố gắng
hy sinh phục vụ anh em mình một cách vô vị lợi .
Phát triển văn hóa .
40.-Ngoài những tổ chức nghề nghiệp ấy, còn có những
cơ cấu đang hoạt động, để góp phần không kém vào việc
phát triển. Bằng những lời trịnh trọng Công đồng tuyên bố:
“Tương lai của thế giới sẽ lâm nguy, nếu thời đại chúng ta
không biết tạo nên cho mình những người hiền”. Công đồng
còn thêm: “Có nhiều quốc gia nghèo về vật chất, nhưng giầu
về tinh thần có thể giúp ích cho rất nhiều nước khác về
phương diện ấy“114. Giầu hay nghèo, mỗi xứ sở đều có một
nền văn minh do tiền nhân để lại: đó là những cơ cấu cần có
cho đời sống vật chất và những phát biểu cao thượng của đời
sống tinh thần như nghệ thuật, tri thức và tôn giáo. Nếu những
sinh hoạt tinh thấn này có hàm chứa những giá trị nhân bản
114 Như trên số 15 đoạn 3.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 356
đích thực, thì là một lầm lẫn lớn, khi bỏ nó để chỉ tìm những
thể hiện vật chất kia. Một dân tộc mà làm như thế là bỏ mất
cái gì quý giá nhất của mình và như thế là sống mà bỏ mất lý
do của cuộc sống. Lời dạy dỗ sau đây của Đức Kitô cũng áp
dụng cho các dân tộc: “Có cả thế giới ích gì cho con người,
nếu phải mất sự sống của mình“115.
Sự cám dỗ vật chất .
41.-Các dân tộc nghèo không bao giờ đề phòng cho đủ
để chống với sự cám dỗ vật chất do các dân tộc giầu đem
đến. Phơi bày những thành công mỹ mãn của kỹ thuật và văn
hóa, các dân tộc giầu, đồng thời cũng nêu cao nếp sống sinh
hoạt kinh tế chỉ nhằm theo đuổi sự thịnh vượng vật chất. Sự
thực vật chất tự nó không ngăn cản sinh hoạt tinh thần. Mà
trái lại, tinh thần, “ít phải lo lắng về vật chất, có thể dễ dàng
thờ phượng và chiêm ngắm Đấng Tạo Hóa hơn”116. Nền văn
minh hiện đại thường có thể làm cho khó gần Thiên Chúa
hơn. Điều đó không tự tại bản chất của nền văn minh, mà bởi
vì tại nền văn minh quá đi sâu vào vật chất117. Các dân tộc
kém mở mang, cần phải lựa chọn trong những điều người ta
đem đến cho mình : phải biết cân nhắc và loại bỏ những giá
trị giả dối, chỉ làm hạ thấp giá trị cao đẹp của con người; nhận
lấy giá trị tốt lành và hữu dụng để làm phát triển thêm cùng
một lúc với những tinh hoa của mình theo tài trí riêng của mỗi
dân tộc118.
115 Matthêu 16, 26
116 Hiến chế mục vụ … 57 đoạn 4.
117 Hiến chế mục vụ … 19 đoạn 2
118 Xem chẳng hạn J.Maritain “L’humanisme intégral” Paris 1936
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 357
Kết luận .
42.-Đó là một nền nhân bản hoàn hảo phải cổ võ. Nhân
bản hoàn hảo là gì, nếu không phải là phát triển toàn diện con
người và tất cả mọi người? Một nền nhân bản đóng kín không
chấp nhận những giá trị tinh thần cũng như không chấp nhận
Thiên Chúa là nguồn gốc những giá trị ấy, nền nhân bản đó
có thể chỉ thắng thế ngoài mặt. Đã hẳn là con người có thể tổ
chức thế giới này không có Thiên Chúa, nhưng loại bỏ Thiên
Chúa ra thì rốt cuộc con người chỉ có thể tổ chức để chống lại
con người. Một nền nhân bản không đếm xỉa gì tới những giá
trị khác, là một nền nhân bản phi nhân119. Vậy một nền nhân
bản chân thực chỉ có thể là một nền nhân bản hướng về
Thiên Chúa Chí Tôn, khi nhìn nhận bổn phận mà chúng ta
được mời gọi thể hiện là bổn phận đem lại cho đời sống con
người ý nghĩa chính xác. Không đời nào con người lại là tiêu
chuẩn cuối cùng cho con người. Con người chỉ thể hiện được
con người cho trọn vẹn một khi con người tự vượt lên khỏi
mình, đúng như một lời rất chí lý của Pascal: “Con người vượt
quá trăm ngàn lần con người”120.
119 H.de Lubac “Le drame de l’humanisme athée” Paris 1954 tr. 10
120 Pascal “Pensée”, Ed. Brunschvicg số 434. Xem M. Under
“L’homme passe l’homme” Paris 1954 trang 10
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 358
PHẦN II
ĐỂ TIẾN TỚI SỰ PHÁT TRIỂN LIÊN ĐỚI TOÀN
THỂ NHÂN LOẠI
Nhập đề
43.-Sự phát triển toàn diện của con người phải đi liền
với sự phát triển của nhân loại. Chúng tôi đã nói điều đó ở
Bombay: “Con người phải gặp con người, các quốc gia phải
gặp nhau như anh em, chị em, như con cái của Thiên Chúa.
Nhờ hiểu biết nhau, thân thiện nhau, và cảm thông với nhau
một cách linh thiêng, chúng ta cũng phải bắt đầu hoạt động
chung với nhau để xây dựng tương lai chung của nhân
loại”.121
Chúng tôi cũng đã đề nghị nên tìm những phương thức
tổ chức và hợp tác hữu hiệu, để chung góp những tài nguyên
sẵn có, và để thiết lập những liên hệ thực giữa các dân tộc .
Tình huynh đệ giữa các dân tộc.
44.-Đó trước tiên là bổn phận của các nước giầu có.
Bổn phận này bắt nguồn từ tình huynh tự nhiên và siêu nhiên
gồm ba khía cạnh : Trước tiên, bổn phận liên đới, là các nước
giầu phải giúp đỡ các nước kém mở mang, thứ đến, bổn phận
công bằng xã hội, là phải cải thiện mối quan hệ thương mại
giữa các nước mạnh và các nước yếu. Sau hết bổn phận bác
ái đại đồng là phải cố gắng dựng một thế giới nhân đạo hơn
cho mọi người, trong đó ai cũng phải cho, ai cũng được nhận,
mà sự phát triển của nước này không cản trở sự phát triển của
121 Diễn văn tiếp đại diện các tôn giáo ngoài Kytô giáo 3-12-1964
tại Bombay, AAS 57 (1965) trang 132 .
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 359
nước kia. Vấn đề này thật quan trọng bởi vì liên hệ tới tương
lai văn minh nhân loại.
Chống nạn đói .
45.-Thánh Giacôbê nói, “Nếu có người anh em hay chị
em không có áo mặc, không có cơm ăn, mà một người trong
anh em chỉ nói với họ rằng: chúc anh em về bình an, hay cố
mặc cho ấm, cố ăn cho no, rồi không cho họ gì cần cho thân
xác họ, thì lời nói đó nào có ích gì ?”122. Ngày nay không ai
mà không biết rằng : trên nhiều lục địa, biết bao người đang
bị nạn đói hành hạ; biết bao trẻ em thiếu ăn, đến nỗi một
phần lớn phải chết lúc còn nhỏ tuổi; bao nhiêu người khác
không phát triển được về vật chất lẫn tinh thần cũng vì đói.
Cũng vì vậy mà dân chúng trong bao nhiêu miền rộng lớn
đang lâm vào cảnh tuyệt vọng thê thảm .
1. Giúp đỡ các nước nghèo .
Hôm nay :
46.-Nhiều lời kêu gọi cứu trợ đã vang lên thống thiết.
Lời kêu gọi của Đức Gioan XXIII đã được nhiệt liệt đón
tiếp123. Chúng tôi cũng đã lặp lại lời kêu gọi đó trong Thông
điệp Giáng Sinh 1963124, và vừa rồi đây năm 1966 để cứu trợ
Ấn độ125. Chiến dịch chống nạn đói do “Tổ Chức Lương Nông
Quốc Tế” khởi xướng và Tòa Thánh khuyến khích đã được
hưởng ứng một cách rộng rãi. Tổ chức Caritas quốc tế của
Chúng tôi cũng đang hoạt động khắp nơi. Và nhiều Tín hữu
122 Thư của Thánh Giacôbê 2, 15-16
123 Mater et Magistra ibid trang 440 .
124 AAS 56 (1964) 57-58
125 Documentation Catholique quyển 43, 1965 cột 403-40
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 360
Công giáo, do sự thôi thúc của các Giám Mục, anh em chúng
tôi, hy sinh không tiếc gì cả, để giúp đỡ những ai đang quẫn
bách, tăng thêm số người anh em thân cận .
Ngày mai :
47.-Nhưng những công cuộc cứu trợ đó, cũng như
những việc bỏ vốn tư và công, viện trợ và cho vay, đều
không đủ. Bởi vì không phải chỉ có chuyện thắng nạn đói và
giảm bớt nạn khổ: chống bần cùng, tuy cấp bách và cần thiết,
nhưng không đủ. Vấn đề chính là thiết lập một xã hội trong
đó, mỗi người, không phân biệt nòi giống, tôn giáo, quốc tịch,
có thể sống một cuộc sống đầy đủ là con người – Con người
không còn bị con người áp bức, không còn bị thiên nhiên
chưa được chế ngự hành hạ. Chúng tôi muốn nói tới một xã
hội, trong đó tự do không còn là một danh từ trống rỗng và
người nghèo như Ladarô cũng được ngồi vào một bàn ăn với
người giầu126. Điều này đòi hỏi ở người giầu nhiều đại độ,
nhiều hy sinh và một cố gắng không ngừng. Mỗi người phải
tự xét lương tâm. Lương tâm như đang nói với thời đại chúng
ta bằng một âm thanh mới. Mỗi người có sẵn sàng bỏ tiền của
để nâng đỡ các cơ cấu và tổ chức nhằm giúp đỡ người nghèo
không ? Mỗi người có sẵn sàng đóng thêm thuế để chính phủ
có thể gia tăng nỗ lực phát triển không ? Mỗi người có sẵn
sàng mua đắt thêm những hàng hóa nhập cảng để người làm
ra hàng hóa ấy được hưởng lương tương xứng không ? Mỗi
người có sẵn sàng rời bỏ quê hương, khi cần và khi tuổi còn
cường tráng, để giúp phát triển ở các nước kém mở mang
không ?
126 Luca 16, 19-31.
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 361
Bổn phận liên đới
48.- Bởi vì bổn phận liên đới giữa người với người cũng
là bổn phận liên đới giữa các dân tộc với các dân tộc, “nên
các dân tộc … đã mở mang có bổn phận rất khẩn cấp là phải
giúp các dân tộc đang mở mang.”127 Tài liệu Công đồng đó
cần phải được đem áp dụng. Bất cứ dân tộc nào quả cũng có
quyền hưởng dụng ưu tiên tài nguyên thiên nhiên cũng như
của cải do chính mình làm ra. Nhưng không một dân tộc nào
được phép giữ lấy tài sản cho một mình mình hưởng dụng.
Mỗi dân tộc đều phải sản xuất nhiều hơn và tốt hơn để cho
mọi người dân trong nước có được một mức sống xứng với
phẩm giá con người và đồng thời để giúp nhân loại cùng phát
triển. Khi còn có nhiều nước kém mở mang mỗi ngày một đói
khổ, thì phải coi là chuyện thường, nếu một nước giầu đem
nhường một phần tài sản của mình để giúp các nước đó. Cũng
là chuyện thường khi một nước tiên tiến đào tạo giáo sư, kỹ
sư, chuyên viên, bác học để cho họ đem hiểu biết và kinh
nghiệm phụng sự các nước đó.
Phần dư thừa .
49.-Cũng cần nhắc lại rằng : phần dư thừa của các nước
giầu phải đem giúp các nước nghèo. Giới luật, ngày xưa bắt
phải giúp đỡ người thân cận, ngày nay bắt phải giúp đỡ tất cả
mọi người nghèo trên thế giới. Làm như thế, kẻ giầu là người
trước tiên được lợi. Trái lại nếu cứ keo kiệt mãi thì sẽ bị Thiên
Chúa nguyền rủa và người nghèo phẫn nộ : hậu quả sẽ khôn
lường. Các nước hiện nay giầu có phủ phê mà chỉ lo cho
quyền lợi của mình, sẽ làm tổn thương đến những giá trị cao
quý nhất của mình, nếu muốn thâu hoạch thêm nhiều của cải
127 Hiến chế mục vụ 86 : 3 .
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 362
là đóng một vai trò trọng đại và chính đáng hơn (trong cộng
đồng các dân tộc).
Có thể đem áp dụng cho các nước đó dụ ngôn về người
phú hộ gặt hái về không biết để đâu: “Chúa bảo người đó: dồ
dại dột, ngay đêm nay, người ta sẽ lấy mạng sống của
ngươi”128.
Chương trình .
50.- Những cố gắng đó muốn thực hiện hữu hiệu,
không thể để trong một tình trạng phân tán và rời rạc, càng
không thể để đối chọi nhau vì uy thế hay quyền lợi của một
số người: hoàn cảnh hiện tại đòi hỏi những chương trình có
phối hợp, bởi vì một sự giúp đỡ có kế hoạch bao giờ cũng
hữu hiệu hơn một sự giúp đỡ, tùy cơ hội, do thiện chí của
từng người. Như chúng tôi đã nói ở trên, cần phải nghiên cứu
kỹ lưỡng, nêu rõ mục tiêu, chỉ định phương tiện, tập trung các
nỗ lực, để đáp ứng các nhu cầu hiện tại và những đòi hỏi của
tương lai. Hơn nữa những chương trình như thế còn vượt quá
những mục tiêu của việc phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội :
nghĩa là làm cho công cuộc sẽ thực hiện có ý nghĩa, có giá trị,
và làm cho con người có thêm phẩm giá trong lúc chỉnh trang
thế giới.
Ngân quỹ quốc tế.
51.- Còn phải đi xa hơn nữa. Tại Bombay,chúng tôi đã
kêu gọi thiết lập một ngân quỹ quốc tế đóng góp bởi một
phần kinh phí, để đem giúp đỡ những nước đói kém nhất129.
Chống nghèo đói cần thiết như thế nào thì phát triển các dân
tộc cũng cần thiết như vậy. Ngân quỹ quốc tế này vừa là hình
128 Luca 12,20 .
129 Điệp văn gởi thế giới 4-12-1964 AAS 57 (1965) trang 135 .
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 363
ảnh, vừa là khí cụ của sự hợp tác giữa các dân tộc. Chỉ có sự
hợp tác như thế, mới có thể giúp vượt qua được những tranh
chấp vô ích và khơi nguồn cho một cuộc đối thoại phong phú
và thanh bình giữa các dân tộc .
Ích lợi của ngân quỹ quốc tế.
52.- Lẽ dĩ nhiên hiệp ước ký kết giữa hai nước hoặc
nhiều nước vẫn còn nên giữ lại vì những hiệp ước ấy thiết lập
những mối giao hảo thân thiện và bình đẳng về pháp lý cũng
như chính trị để thay thế cho những mối tương quan bất bình
đẳng và hằn học dưới thời thực dân. Những hiệp ước đó, nếu
được đặt trong một chương trình hợp tác quốc tế, sẽ tránh
được mọi nghi ngờ. Thực vậy các nước được hưởng viện trợ
sẽ bớt lo ngại rằng: một thứ thực dân mới có thể núp dưới
hình thức viện trợ tài chánh và kỹ thuật, để gây áp lực chính
trị và đô hộ kinh tế, đồng thời để củng cố hoặc để thiết lập sự
thống trị của một thiểu số .
Cần cấp thời.
53.- Vả lại ai mà không thấy rằng, Ngân quỹ quốc tế
như chúng tôi đã đề cập tới, sẽ cho phép trích bớt đi một số
chi phí mà người ta phải hao tốn vì sợ hãi hay kiêu căng ! Một
khi bao dân tộc còn đói khát, bao gia đình còn đau khổ vì túng
quẫn, bao người còn chìm đắm trong dốt nát, bao trường học,
bệnh xá, nhà ở hẳn hoi còn chưa xây cất, thì tất cả những phí
phạm công hay tư, tất cả nhưng chi tiêu huênh hoang của nhà
nước hay cá nhân, tất cả cuộc chạy đua võ trang đến kiệt quệ,
tất cả điều đó trở thành một điều ô nhục không tha thứ được,
chúng tôi có nhiệm vụ nặng nề phải tố cáo điều đó, xin các vị
hữu trách hãy nghe chúng tôi, trước khi quá trễ .
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 364
Đối thoại
54.- Vì thế các dân tộc cần phải đối thoại với nhau, đối
thoại như chúng tôi đã tha thiết mời gọi trong Thông điệp đầu
tiên, ECCLESIAM SUAM130. Nếu có được đối thoại như thế
giữa những nước giúp phương tiện và những nước lãnh nhận
thì dễ dàng tính toán đúng những sự giúp đỡ cần thiết không
những tùy theo lòng quảng đại và khả năng của bên cung
cấp, nhưng còn tùy theo những nhu cầu thực sự và những khả
năng hưởng dụng của bên lãnh nhận. Như vậy, các nước kém
mở mang khỏi bị đeo nợ nặng nề, và chỉ lo trả lãi là hết lợi
tức rồi. Vậy phải quy định số phân lãi và thời hạn trả nợ, sao
cho cả đôi bên có thể chịu đựng được, nghĩa là quân bình
những món biếu không, nhưng khoản vay khỏi mất lãi hay lãi
rất nhẹ, và thời hạn các khoản phải trả dần. Cũng phải bảo
đảm cho những kẻ trả vốn, đảm bảo về việc sử dụng ngân
khoản theo một kế hoạch đã đồng ý và với một hiệu năng
hợp lý, bởi vì không nên khuyến khích những kẻ lười biếng
và ăn bám. Về phía người hưởng dụng sẽ có thể đòi hỏi
người ta không được can thiệp vào nội bộ chính trị, cũng
không được làm xáo trộn cơ cấu xã hội của mình. Là những
quốc gia có chủ quyền, chỉ có họ mới có quyền điều khiển
công việc, hoạch định chính sách và tự do lựa chọn chính thể
của mình. Vậy phải đi đến một sự cộng tác tự nguyện, một sự
tham dự hữu hiệu của cả đôi bên, trong tinh thần tôn trọng lẫn
nhau, để xây dựng một thế giới nhân đạo hơn?
Sự cần thiết .
55.- Đề nghị trên đây hầu như không thể thực hiện được
trong những vùng mà việc lo ăn hằng ngày đã chiếm hết cuộc
sống gia đình đến nỗi không còn lòng trí nào để nghĩ tới một
130 Rerum Novarum (xem acta Leonis XIII (1892) trang 13) .
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 365
chương trình khả dĩ sửa soạn cho một tương lai bớt cùng cực.
Nhưng chính những người đó là những người cần được giúp
đỡ, cần được khuyến khích để họ vừa tự nguyện bước vào
con đường tiến bộ của họ, vừa tự mình tìm lấy những phương
tiện cần thiết để tiến bộ. Chắc chắn công cuộc này đòi hỏi
góp sức kiên trì và can đảm. Nhưng mỗi người phải thâm tín
rằng đây là một vấn đề sống còn của các dân tộc nghèo, của
sự hòa hợp dân tộc trong các nước kém mở mang, và của hòa
bình thế giới.
2. Công bằng trong giao dịch thương mại
56.-Tất cả cố gắng để giúp đỡ các nước kém mở mang
về phương diện tài chánh và kỹ thuật, dầu lớn lao đến đâu,
quan hệ thương mại giữa nước giầu và nước nghèo làm cho
những sự giúp đỡ kia một phần nào bớt hiệu lực. Các nước
nghèo sẽ hết tín nhiệm ở nước giầu khi họ có cảm tưởng là
tay này cho vay tay kia lấy lại .
Tình trạng chênh lệch
57.- Các nước đã có kỹ nghệ cao, thì xuất cảng nhiều
nhất là các hàng hóa chế tạo, còn các nước kém mở mang thì
chỉ có thể bán ra các nông phẩm và nguyên liệu. Nhờ có tiến
bộ kỹ thuật và hàng hóa các nước kỹ nghệ tăng giá trị nhanh
chóng và bán được dễ dàng. Trái lại, những nguyên liệu của
các nước kém mở mang bán ra lại thường bị nạn giá cả lên
xuống bất ngờ và quá đáng : nếu giá trị hàng hóa còn lâu mới
tăng được đều đặn. Các nước kém kỹ nghệ gặp khó khăn
trầm trọng, khi phải đặt một phần lớn hy vọng vào việc xuất
cảng để quân bình nền kinh tế và thực hiện kế hoạch phát
triển. Vì thế, các dân tộc đã nghèo lại càng nghèo thêm, các
dân tộc đã giầu thì càng giầu hơn nữa .
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 366
Tự do trao đổi
58.-Như thế có nghĩa là luật “tự do trao đổi” một mình
nó mà thôi, không còn đủ để chi phối mối quan hệ giữa các
dân tộc. Khi các nước hiệp thương với nhau mà tình trạng kinh
tế không quá chênh lệch, thì tự do trao đổi quả là có lợi, bởi
vì nó kích thích phát triển và tương lệ nỗ lực. Vì thế mà các
nước có kỹ nghệ phát triển cho rằng nguyên tắc tự do trao đổi
là một luật công bằng. Nhưng giữa các nước có tình trạng kinh
tế quá chênh lệch, thì không còn nói như thế được nữa : vì giá
cả “tự do thỏa thuận” trên thị trường có thể đưa tới những hậu
quả bất công. Phải nhìn nhận rằng: cần xét lại chính cái
nguyên tắc căn bản của thuyết “tự do” dùng làm quy luật cho
các cuộc giao thương .
Công bằng trong các thỏa ước quốc tế .
59.-Học thuyết của Đức Lêô XIII trong thông điệp
Rerum Novarum vẫn còn giá trị. Theo đó thì trong những điều
kiện cũng sẽ trở thành hoàn toàn ảo tưởng và vô ích, nếu
những quá xa nhau, sự đồng ý của hai bên ký kết không đủ
để đảm bảo cho tờ hợp đồng được công bằng, và luật tự do
ưng thuận còn phải lệ thuộc vào những đòi buộc của luật tự
nhiên131. Điều gì phải giữ để cho đồng lương của mỗi một
người thợ được công bằng, thì cũng phải đem áp dụng cho các
thỏa ước quốc tế. Bởi vì hệ thống thương mại không còn thể
chỉ dựa trên nguyên luật tự do cạnh tranh. Tuy nói tự do,
nhưng thường khi nó lại phát sinh một nền kinh tế độc tài. Tự
do giao thương chỉ công bằng khi nào tuân theo những đòi hỏi
của công bằng xã hội .
131 Rerum Novarum (xem acta Leonis XIII (1892) trang 98) .
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 367
Những biện pháp phải theo .
60.-Tuy nhiên chính những nước đã mở mang cũng đã
hiểu điều đó – họ cố gắng bằng những biện pháp thích ứng,
đem lại sự quân bình trong nền kinh tế gia, mà nếu để mặc
cho tự do cạnh tranh, thì sẽ xáo trộn nặng nề. Vì thế họ
thường nâng đỡ nông nghiệp bằng cách buộc các ngành kinh
tế thịnh vượng hơn phải hy sinh đóng góp. Cũng vì thế, để
nâng đỡ những giao dịch thương mại giữa các nước, nhất là
trong một thị trường chung, chính sách tài chánh, thuế khóa và
xã hội của họ phải cố giúp cho các ngành kỹ nghệ kém thịnh
đạt cũng có thể phát triển được như những ngành khác .
Những hiệp ước quốc tế .
61.-Cần phải dùng một đấu thực đồng đều để đo lường
đối với nền kinh tế của nước mình thế nào, đối với mối quan
hệ thương mại giữa các nước tiến bộ với nhau thế nào, thì đối
với cuộc quan hệ thương mại giữa những nước giầu với những
nước nghèo cũng vậy. Tuy không loại bỏ cạnh tranh trên thị
trường, nhưng phải giữ cho cạnh tranh đó ở trong giới hạn
công bằng, hợp đạo và xứng với con người hơn. Trong việc
thương mại giữa những nền kinh tế phồn thịnh với những nền
kinh tế kém mở mang, hoàn cảnh quá khác nhau và khả năng
cũng không đồng đều. Sự giao dịch thương mại giữa các nước,
muốn cho ngay thẳng và nhân đạo, theo luật công bằng, phải
cho hai bên, ít nhất, những sự may mắn mua bán đồng đều.
Đó là mục đích về lâu dài. Nhưng muốn đạt tới đó, phải tạo
lập ngay từ bây giờ sự công bằng thực sự trong các cuộc thảo
luận và thương thuyết. Trong các vấn đề này, nếu có được
những thỏa hiệp ký kết giữa một số đông quốc gia, thì rất lợi :
vì những thỏa hiệp đó sẽ đặt những nguyên tắc tổng quát để
điều hòa một số giá cả, để bảo đảm cho một số sản phẩm để
nâng đỡ một số kỹ nghệ mới phát sinh. Ai mà lại không thấy
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 368
rằng : một cố gắng chung để tiến tới công bằng hơn giao dịch
buôn bán giữa các nước, sẽ đem lại cho các quốc gia kém mở
mang một sự giúp đỡ hữu hiệu : kết quả tuy chưa thấy ngay,
những sẽ còn mãi .
Chủ nghĩa suy tôn quốc gia quá độ .
62.- Còn có những chướng ngại vật khác đang cản trở
việc xây dựng một thế giới công bằng hơn và có cơ cấu vững
chắc hơn trong tình liên đới nhân loại. Đó là : Chủ nghĩa suy
tôn quốc gia và chủng tộc quá độ .
Người ta nhận thấy rằng có những dân tộc mới thâu hồi
được độc lập, hết sức lo lắng bảo vệ một sự thống nhất chưa
có gì vững mạnh; cũng có những dân tộc có nền văn minh cổ
kính, hãnh diện về di sản của cha ông để lại. Những tâm tình
đó chính đáng, nhưng phải được nâng cao lên tới một mức độ
toàn thiện, nhờ một tình yêu đại đồng bao trùm lấy tất cả
nhân loại. Chủ nghĩa suy tôn quốc gia làm cho các dân tộc
chia rẽ nhau, và có hại cho lợi ích chính của họ. Tai hại nhất
là những miền mà kinh tế nghèo nàn đòi buộc phải góp
chung với nhau nỗ lực, hiểu biết và phương tiện tài chánh để
thể hiện những chương trình phát triển kinh tế và gia tăng trao
đổi thương mại và văn hóa .
Chủ nghĩa suy tôn chủng tộc quá độ .
63.-Đề cao chủng tộc quá độ không phải chỉ là chuyện
riêng của các quốc gia mới độc lập. Ở các xứ này, nó thường
là nguyên nhân của những vụ tranh chấp giữa các bộ lạc hay
đẳng phái chính trị, chẳng những vi phạm nặng nề đến đạo
công bằng, mà còn đe dọa đời sống yên hàn và sinh mạng
của dân chúng .
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 369
Dưới thời thực dân, nó thường xảy ra giữa kiều dân và
người bản xứ, cản trở cả đôi bên hiểu biết nhau một cách hữu
ích và gây nên nhiều hận thù vì những tủi nhục phải gánh
chịu. Nó cũng cản trở không cho các nước nghèo cộng tác với
nhau. Nó còn là một mầm chia rẽ và hận thù ngay giữa lòng
các dân tộc, khi người ta không kể gì những quyền bất khả di
nhượng của con người mà loại ra một bất công hoặc cá nhân
hoặc gia đình, không cho hưởng những quyền căn bản như
các công dân khác, chỉ vì mầu da hay chủng tộc .
Một thế giới liên đới hơn .
64.-Một tình trạng như thế đang đe dọa trầm trọng ngày
mai, làm cho chúng tôi đầy tràn lo âu và đau khổ. Nhưng
chúng tôi cũng hy vọng rằng nhờ có một ý chí cộng tác mỗi
ngày nột mạnh mẽ và một ý thức liên đới mỗi ngày một sâu
xa, Những nghi kỵ và ích kỷ cuối cùng cũng sẽ bị đánh bại.
chúng tôi hy vọng rằng các quốc gia kém mở mang biết lợi
dụng sự lân cận để cùng nhau tổ chức trên những phần đất
rộng lớn, làm những vùng phát triển có phối hiệp: như thiết
lập những chương trình chung, điều hợp với đầu tư, phân phối
khả năng sản xuất, và tổ chức trao đổi hàng hóa. Chúng tôi hy
vọng rằng các tổ chức đa phương hoặc quốc tế, rồi đây nhờ
cải tổ lại tùy nhu cầu, sẽ tìm thấy phương thức giúp đỡ các
nước kém mở mang thoát khỏi ngõ bí hiện tại của họ và để
chính họ khám phá ra con đường tiến bộ về xã hội cũng như
văn hóa, mà vẫn giữ được quốc tính của mình.
Ước nguyện của các dân tộc
65.-Đàng nào cũng phải tiến tới đó. Tình liên đới giữa
các dân tộc, mỗi ngày một hoạt động ráo riết, làm cho các
dân tộc có thể tự mình nắm lấy vận mệnh của mình. Trong
quá khứ, mối tương quan giữa các dân tộc thường chỉ là mạnh
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 370
được yếu thua. Ước gì tới ngày thanh bình, mối tương quan
giữa các dân tộc sẽ mang dấu: Tôn trọng lẫn nhau, thân thiện
với nhau, tùy thuộc vào nhau để cùng cộng tác, cùng thăng
tiến với nhau, nhưng mỗi người một trách nhiệm. Các nước
đang vươn lên còn thiếu thốn, cũng đòi được tham gia tích cực
vào việc xây dựng một thế giới đẹp hơn, kính trọng quyền lợi
và sứ mạng của mỗi người hơn. Đó là một ước nguyện chính
đáng, mỗi người phải lắng nghe và đáp ứng .
3. Tình thương yêu đại đồng .
Một xã hội thiếu tình huynh đệ.
66.- Xã hội loài người đang đau ốm trầm trọng. Nguyên
nhân của bệnh tình này không phải là tài nguyên của thiên
nhiên kiệt quệ hay lòng tham của một số người vơ vét, mà
chính là thiếu tình thương huynh đệ giữa người với người cũng
như giữa dân tộc với dân tộc .
Bổn phận đón tiếp .
67.-Vì thế Chúng tôi nghĩ rằng không bao giờ nói cho
đủ về bổn phận đón tiếp,-bổn phận đón tiếp vì liên đới con
người cũng như vì tình thương của Chúa Kitô,-bổn phận đón
tiếp trong các gia đình cũng như đón tiếp trong các tổ chức
văn hóa của các quốc gia có người tới cư ngụ. Nhất là đối với
lớp trẻ, cần phải có nhiều gia đình và cư xá hiếu khách. Trước
tiên là để cho họ khỏi cô đơn, tuyệt vọng làm suy giảm nghị
lực của họ; thứ đến là giúp họ khỏi rơi vào cảnh sa đọa của
nơi họ tới ở, khi bắt buộc phải so sánh cảnh cơ cực tuyệt độ
của quê hương họ với nếp sống sa hoa xài phí phủ phê đang
bao vây họ. Cũng để giúp họ khỏi bị lôi cuốn theo những học
thuyết khuấy rối và những cám dỗ bạo động luôn luôn ám
ảnh tâm tư họ, mỗi khi họ nhớ tới số phận bần cùng không
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 371
đáng phải chịu của dân tộc họ.132 Sau hết để họ có được một
bầu không khí huynh đệ, được thấy mẫu gương của một đời
sống lành mạnh và nhờ đó mà thấy được tình thương đích thực
của người giáo hữu Kitô, một tình thương hữu hiệu và yêu
mến những giá trị thiêng liêng cao cả .
Thảm trạng của các sinh viên du học .
68.-Thực là đau đớn cho chúng tôi khi nghĩ rằng có
nhiều thanh niên tới các nước giầu có để học về khoa học, kỹ
thuật và văn chương, mong có khả năng để phục vụ quê
hương quả họ đã được đào tạo hết sức đầy đủ, nhưng lắm lúc
họ cũng hết yêu chuộng những giá trị tinh thần, mà nền văn
minh của quê hương họ vẫn có như một gia tài quý báu .
Hoàn cảnh của các người di dân .
69.-Cũng phải dành một sự đón tiếp tương tự cho các
công nhân xa quê hương. lắm lúc họ sống trong những điều
kiện không xứng với con người, cố dành dụm một phần đồng
lương gởi về giúp đỡ gia đình đang sống cực khổ trên quê
hương.
Bổn phận xã hội của các nhà kinh doanh .
70.-Bằng lời khuyến dụ này chúng tôi lại muốn kêu gọi
những kẻ đến kinh doanh trong những nước mới kỹ nghệ hóa
: các kỹ nghệ gia, thương gia, chủ nhân hoặc đại diện các xí
nghiệp lớn. Ở trong nước họ, họ thường vẫn không thiếu tinh
thần xã hội. Nhưng tại sao, khi đến kinh doanh trong các nước
kém mở mang, họ lại trở về với nguyên tắc vô nhân đạo là
chỉ phục vụ lợi ích của mình ? Hoàn cảnh ưu đãi của họ đáng
lẽ thôi thúc họ dẫn đầu trong công cuộc phát triển xã hội và
132 Hiến chế mục vụ số 85 đoạn 2
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 372
tiến bộ con người, nơi họ đến kinh doanh – óc tổ chức của họ
đáng lẽ giúp họ tìm ra phương thức cải tiến việc làm của
người bản xứ, đào tạo thợ chuyên môn, sửa soạn cho có kỹ sư
và cấp lãnh đạo, cho họ có sáng kiến đem họ vào dần trong
những nhiệm sở cao cấp, giúp họ chia sẻ với mình, trong một
tương lai gần, trách nhiệm lãnh đạo. Ít nữa, ước gì luôn luôn
có sự công bằng làm mẹo mực trong mối liên lạc giữa cấp
trên và cấp dưới. Ước gì có những khế ước hợp pháp, nêu rõ
nghĩa vụ đôi bên, làm căn bản cho mọi liên lạc. Nhất là, ước
gì đừng có ai ở bất cứ cương vị nào, bị bất công vì chuyên
chế.
Sứ mạng của các chuyên viên .
71.- Chúng tôi rất hoan hỷ nhận thấy rằng : số chuyên
viên được các tổ chức quốc tế, tổ chức song phương hoặc cơ
quan tư nhân gởi đi giúp phát triển mỗi ngày một đông. Họ
đừng “xử sự như chủ mà chỉ nên xử sự như phụ tá và cộng tác
viên“133. Dân chúng thấy rất nhanh; ai đến giúp đỡ họ với yêu
thương, ai không; ai đến chỉ để áp dụng kỹ thuật, ai đến để
nâng cao phẩm giá con người. Tín thư của họ có thể không
được chấp nhận, nếu nó không được gói ghém trong một tình
yêu thương huynh đệ.
Đức tính của các chuyên viên.
72.-Nếu những khả năng chuyên môn là cần, thì càng
cần hơn nữa, kèm theo, những dấu hiệu đích thực biểu lộ một
tình thương vô vị lợi. Các chuyên viên phải không còn có tinh
thần suy tôn quốc gia mình quá độ và tránh mọi hình thức kỳ
thị chủng tộc; họ phải tập cộng tác với mọi người và bất cứ ai.
Họ nên chân thành nhìn nhận rằng kiến thức và khả năng
133 thông điệp Fidei Donum 21-4-1957 AAS 49 (1957) trang 246
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 373
chuyên môn của họ không cho họ đứng đầu trong mọi lãnh
vực. Cho dù nền văn minh đã đào tạo họ có chứa đựng ít
nhiều tính chất nhân bản đại đồng nhưng đừng nghĩ rằng nền
văn minh đó là độc nhất và hơn hết. Bởi thế khi đem du nhập
vào các nước ngoài thì phải được thích nghi đầy đủ với hoàn
cảnh địa phương. Những ai lãnh trách nhiệm như thế là phải
lưu tâm khám phá ra lịch sử cũng như những tính chất và kho
tàng văn hóa của xứ sở đón tiếp họ. Nhờ tiếp xúc với nhau
như thế, cả hai nền văn minh đều sẽ cùng thêm phong phú.
Đối thoại giữa các văn minh .
73.- Văn minh là văn minh, cũng như người đối thoại
với người chân thành dễ làm phát sinh đoàn kết và huynh đệ.
Công cuộc phát triển chung này sẽ làm cho các dân tộc thêm
gần nhau, nếu tất cả mọi người, từ những người đứng đầu và
những người đại diện họ cho tới một chuyên viên tầm thường
nhất đều có tình thương huynh đệ và đều chân thành mong
ước một nền văn minh đại đồng cho thế giới. Lúc đó mới bắt
đầu một cuộc đối thoại biết chú trọng đến con người chứ
không phải chỉ chú trọng đến tài nguyên và hàng hóa. Cuộc
đối thoại này sẽ có nhiều thành quả, nếu nó mở đường cho
các dân tộc trong cuộc phát triển kinh tế và nâng cao đời sống
tinh thần : nếu các kỹ thuật gia làm công việc của các nhà
giáo dục và nếu nền giáo dục này có được một sắc thái cao
quý hơn, ảnh hưởng đến tâm hồn cũng như phong tục, không
những làm phát triển kinh tế, mà còn làm thăng tiến con
người. Như thế, khi viện trợ đã chấm dứt, mối giây liên lạc đã
được thiết lập vẫn tồn tại vững mạnh. Ai lại không thấy những
mối giây liên lạc như thế sẽ góp phần vào việc bảo vệ hòa
bình trên thế giới ?
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 374
Kêu gọi Thanh Niên .
74.- Chúng tôi biết rằng có rất nhiều thanh niên đã hăng
hái và nhanh chóng đáp lại lời kêu gọi của Đức Piô XII để
làm thành một tổ chức giáo dân truyền giáo134. Ngoài ra
chúng tôi cũng biết, một số thanh niên khác đã tự nguện đặt
mình dưới quyền sử dụng của các tổ chức, công cũng như tư,
có mục đích nhằm cộng tác với các nước đang mở mang.
chúng tôi cũng hoan hỷ nghe tin rằng ở vài nước, “quân dịch”
có thể một phần trở thành “dịch vụ xã hội”, hoặc gọi tắt là
”dịch vụ”. Chúng tôi hoan hỷ chúc lành cho các sáng kiến đó
và những người có thiện chí thể hiện điều đó. Ước gì những
ai tự nhận mình là đồ đệ của Chúa Kitô hãy nghe tiếng gọi
của Người : “Ta đói và các con đã cho Ta ăn, Ta khát và các
con đã cho Ta uống, Ta từ xa tới, và các con đã đón tiếp Ta,
Ta bị tù và các con đã đến gặp Ta”.135 Không ai có quyền
thản nhiên nhìn số phận của người anh em mình, đang chìm
đắm trong bần cùng, đang bị ngu dốt dày vò, đang khổ cực vì
thiếu an ninh . Người tín hữu cũng phải chạnh lòng như Chúa
Kitô, Đấng đã nói ra “Ta thương xót quần chúng”.136
Cầu nguyện và hành động .
75.-Tất cả mọi người cũng thành khẩn kêu cầu Thiên
Chúa toàn năng, cho nhân loại, một khi đã thắng những tai
họa to lớn ấy, thì để lòng trí mà tìm cách đẩy lui nó. Cùng với
lời cầu nguyện đó, mỗi người còn phải tự nguyện dấn thân,
tùy sức lực và khả năng của mình, chiến đấu chống sự kém
mở mang của các dân tộc. Ước gì cá nhân, đoàn thể, tất cả
các quốc gia, nắm tay nhau như anh em, kẻ mạnh giúp kẻ yếu
134 Matthêu 25,35-36 .
135 Marco 8,2
136 Điệp văn của Đức Gioan XXIII dịp trao giải thưởng Balzan 10-5-1963
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 375
lớn lên, bỏ vào đó tất cả hiểu biết hăng say và tình thương vô
vị lợi của mình. Hơn ai hết, người có tình thương anh em sẽ có
biệt tài khám phá nguyên nhân của bần cùng, tìm thấy
phương thức để diệt trừ nó. Là người xây dựng hòa bình, “họ
lên đường, nét mặt vui tươi, đổ tràn ánh sáng và ân sủng vào
lòng mỗi người trên thế giới, giúp mọi người, dầu đi tới đâu,
dầu vượt ra ngoài biên giới, cũng nhận ra những bộ mặt anh
em và bạn hữu”137.
Một trật tự mới.
76.- Những chênh lệch quá lớn lao giữa các dân tộc về
phương diện kinh tế, xã hội, và chủ thuyết, gây nên hận thù
tranh chấp và đe dọa hòa bình thế giới. Như Chúng tôi đã nói
với các nghị phụ Công đồng sau khi đi Liên Hiệp Quốc về:
“Chúng ta phải chú trọng đến hoàn cảnh sống của các nước
kém mở mang; và nói rõ hơn, tình thương của chúng ta đối với
người nghèo vô số trên thế giới, phải vồn vã hơn, hữu hiệu
hơn và đại độ hơn”138. Chống bần cùng , chống bất công
không phải chỉ là làm cho đời song con người dễ chịu hơn, mà
còn phát huy tinh thần đạo đức của mọi người và mưu cầu lợi
ích chung của nhân loại. Hòa bình không phải chỉ là không có
chiến tranh, hòa bình cũng không phải là thành quả của một
sự quân bình giữa các sức mạnh, luôn bấp bênh – hòa bình
được xây dựng ngày này sang ngày khác bằng cách thiết lập
một trật tự công bằng hơn giữa loài người như Chúa muốn139.
137 Văn kiện Tòa Thánh AAS 57 (1965) trang 896 .
138 – Thông điệp Pacem in Terris (xem văn kiện Tòa Thánh AAS 55
(1963) trang 301
139 Văn kiện AAS 57 (1965) trang 880
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 376
Ra khỏi cảnh cô độc .
77- Các dân tộc chỉ thể hiện được sự mở mang của mình
khi tự mình đảm nhiệm lấy mọi trách nhiệm. Nhưng công
cuộc đó cũng không thể hoàn thành, nếu mỗi nước một mình
cô độc. Vậy phải có những thỏa ước ký kết giữa các dân tộc
nghèo cùng một miền, để giúp đỡ lẫn nhau; phải có những
thỏa hiệp rộng rãi hơn để giúp đỡ các nước đó; phải có những
hiệp ước khác quan trọng hơn giữa các nước khác nữa để thiết
lập những chương trình chung : đó là những thứ cột làm mục
tiêu trên con đường đưa đến những tiến bộ, đưa đến hòa bình
.
Một uy quyền quốc tế hữu hiệu .
78.-Sự cộng tác giữa các dân tộc trên thế giới đòi hỏi
những cơ cấu để sửa soạn, phối hiệp và điều khiển công cuộc
đó cho tới lúc có một cơ cấu pháp lý được mọi người nhìn
nhận. Chúng tôi hết lòng khuyến khích những tổ chức nhằm
cộng tác với nhau để giúp các dân tộc phát triển, và Chúng
tôi cầu chúc cho uy tín các tổ chức gia tăng. Vì thế khi ngỏ lời
trước các đại biểu Liên Hiệp Quốc tại Nữu Ước chúng tôi có
nói :“Sứ mạng của quý vị là cổ võ tình anh em, không phải chỉ
giữa một vài dân tộc, mà tất cả mọi dân tộc. (…) Ai lại không
thấy cần phải tiến dần như thế tới chỗ thiết lập một uy quyền
quốc tế khả dĩ hành động hữu hiệu trên bình diện pháp lý và
chính trị“140.
Hy vọng một thế giới tốt đẹp hơn .
79.-Có người sẽ cho những hy vọng như thế là không
tưởng. Có thể là lối nhận định thực tại của họ có gì thiếu sót.
Họ đã không nhận thấy động lực của một thế giới trong đó
140 Xem Ephéso 4,12 ; Hiến chế về Giáo hội số 13
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 377
con người đang muốn sống với nhau như anh em hơn; và con
người mặc dầu xa cách vì ngu dốt, lầm lạc, và mặc dầu mò
mẫm lầm lạc, và tội lỗi, mặc dầu lắm lúc sa đi ngã lại trong lối
sống man rợ, và mặc dầu mò mẫm dài dẳng xa con đường cứu
độ, con người ấy cho dầu không ý thức đi nữa vẫn dần dà
xích lại gần Đấng Tạo Hóa của mình. Đường lối tiến đến chỗ
nhân đạo hơn ấy đòi hỏi cố gắng và hy sinh, nhưng ngay cả
khổ đau khi được chấp nhận vì tình thương đối với anh em
chúng ta, cũng đem theo tiến bộ cho tất cả gia đình nhân loại.
Các người giáo hữu Kitô biết rằng kết hợp với lễ hy sinh của
Đấng Cứu Thế là để góp công xây dựng Thân Mình Đức Kitô
cho thành toàn, là để quy tụ dân Thiên Chúa lại141.
Tất cả mọi người đều liên đới.
80.- Trên con đường ấy, tất cả mọi người đều phải liên
đới. Do đó chúng tôi thấy có bổn phận nhắc nhở mọi người
về vấn đề rất nghiêm trọng ấy và về công cuộc phải cấp bách
thể hiện. Giờ hành động đã điểm, bởi vì sự sống của bao trẻ
em vô tội, hy vọng của bao gia đình nghèo khổ, hòa bình của
thế giới, văn minh của nhân loại, tất cả đang bị đe dọa, hết
thảy mọi người và hết thảy mọi dân tộc đều phải lãnh lấy
trách nhiệm.
Lời kêu gọi kết thúc
Nói với người công giáo .
81.-Trước tiên, chúng tôi khẩn khoản kêu gọi tất cả con
cái Chúng tôi. Bởi vì trong những nước kém mở mang cũng
như trong những nước khác, giáo dân có bổn phận phải cải
thiện đời sống xã hội của mình. Nếu vai trò của hàng Giáo
141 Sắc lệnh Công đồng về Tông đồ giáo dân số 7,13,24
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 378
phẩm là giảng dạy và giải thích, với thẩm quyền, các nguyên
tắc luân lý phải theo trong lãnh vực này, thì phần của các giáo
dân, là nhờ những sáng kiến tự do của họ và không vòng tay
ngồi đợi mệnh lệnh và chỉ thị, đưa tinh thần Chúa Kitô vào
trong não trạng và phong tục, luật lệ và cơ cấu của cộng đồng
mình sống.(68) Có những thay đổi cần thiết, có những cải tổ
sâu xa phải thực hiện ; thì nghĩa vụ của họ là làm hết sức để
thổi vào đó tinh thần Tin Mừng. Riêng với các con cái chúng
tôi thuộc về những nước may mắn thịnh vượng hơn, chúng tôi
yêu cầu họ đem khả năng chuyên môn cộng tác tích cực với
các tổ chức công, hay tư, đời hay đạo, có mục đích lướt thắng
những khó khăn của các nước còn phải mở mang. Chúng tôi
đoan chắc rằng họ sẽ sẵn sàng đứng đầu hàng ngũ những kẻ
không từ chối một cố gắng nào để xây dựng trong thực tế một
nền luân lý quốc tế hợp đạo công bình.
Nói với mọi tín hữu Chúa Kitô và những tín hữu khác
82.-Chúng tôi chắc rằng toàn thể các Kitô hữu, anh em
của chúng tôi sẽ muốn tăng sức cố gắng chung và đồng thời
nhằm giúp thế giới thắng được ích kỷ, kiêu hãnh, và các mối
tị hiềm, vượt lên trên những tham vọng và bất công, mở lối
cho tất cả đi vào một nếp sống cho ra người hơn trong đó ai
cũng được yêu thương và giúp đỡ như đồng loại, như anh em.
Và, lòng còn cảm xúc vì cảnh hội ngộ không thể quên được ở
Bombay với các anh em của chúng tôi ở ngoài Kitô giáo, một
lần nữa chúng tôi xin mời họ đem hết tất cả tâm trí ra hoạt
động để làm sao cho con cái loài người có cơ sống một cảnh
đời xứng đáng với con cái Thiên Chúa .
Nói với những người thành tâm .
83.-Sau cùng, Chúng tôi hướng về tất cả những người
thành tâm ý thức rằng con đường hòa bình phải đi qua phát
PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC 379
triển. Là các đại diện trong các cơ quan quốc tế, là các chính
khách, là các ký giả, là các nhà giáo dục, các ngài tất cả mỗi
người ở chỗ đứng của mình, đều là những kẻ xây dựng một
thế giới mới. Phần chúng tôi, Chúng tôi khẩn cầu Thiên Chúa
Toàn Năng soi sáng trí tuệ và củng cố lòng can đảm của các
ngài, để thức tỉnh lương tâm mọi người để ý tới những vấn đề
tối quan trọng và thúc đẩy các dân tộc tìm cách giải quyết
những vấn đề đó. Các nhà giáo dục, phần việc của các ngài
là nhóm lên từ thuở thơ ấu tình thương đối với các dân tộc
khốn cùng. Các ký giả, phần việc của các ngài là đưa ra trước
mắt chúng tôi những cố gắng đã được thực hiện để xúc tiến
việc tương trợ giữa các dân tộc cũng như ảnh tượng những
khốn cùng mà người ta dễ quên cho yên lương tâm : ước gì
những kẻ giầu ít ra cũng biết rằng các kẻ nghèo ở ngay trước
cửa nhà họ và đợi chờ phần thừa thãi từ các bữa tiệc của họ .
Nói với các chính khách .
84.-Các chính khách, nghĩa vụ của các ngài là làm cho
các cộng đoàn tùy thuộc các ngài liên đới chặt chẽ hơn với
mọi người; thuyết phục họ bằng lòng cho trích một phần xa
hoa xài phí của họ để xúc tiến việc mở mang các dân tộc và
bảo vệ hòa bình. Sau hết một phần lớn nhờ các ngài, quý vị
đại diện trong các cơ quan quốc tế, để có thể thay thế những
cuộc đụng độ bằng vũ lực nguy hiểm và vô bổ bằng sự hợp
tác tinh thần, ôn hòa và vô vị lợi, để cho nhân loại được phát
triển đồng đều và con người được nảy nở thêm lên.
Các người hiền .
85.-Thực ra thế giới bất ổn chẳng qua cũng vì thiếu suy
tư. Vì thế chúng tôi kêu gọi những kẻ thức thời và những
người hiền, những người công giáo và Kitô giáo, những kẻ
tôn thờ Thượng Đế, những ai khát vọng công bình và chân lý
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 380
tối cao, nghĩa là tất cả những ai thành tâm thiện chí chúng tôi
dám mượn lời của Đức Kitô khẩn khoản thỉnh cầu các ngài :
“Hãy tìm rồi sẽ gặp thấy”142, hãy mở rộng các nẻo đường cho
mọi người giúp đỡ nhau, hiểu biết thêm, yêu thương hơn, đưa
tới một đời sống huynh đệ hơn, trong một cộng đồng nhân
loại thật là đại đồng.
Tất cả mọi người tra tay vào việc .
86.-Sau hết anh em tất cả là những kẻ đã nghe tiếng
kêu than của các dân tộc nghèo khổ, ra sức đáp lại tiếng gọi
ấy. Có thể nói anh em là những tông đồ của một công cuộc
phát triển đích thực và hữu ích, nghĩa là không phải thứ phát
triển chỉ nhằm có của cải một cách ích kỷ và yêu mến nó như
một cùng đích, nhưng là một thứ phát triển dựa trên một nền
kinh tế nhằm phục vụ con người, nhằm phân phối đều cơm
bánh hằng ngày cho mọi người như một nguồn tình Tốt
nghiệp phổ thông 12/12=hương huynh đệ và dấu hiệu Chúa
quan phòng .
Chúc lành .
87.- Chúng tôi hết lòng chúc phúc cho anh em, và
chúng tôi kêu gọi mọi người thành tâm đến hợp sức với anh
em trong tình huynh đệ. Bởi vì nếu ngày hôm nay phát triển là
danh hiệu mới của hòa bình, thì ai lại không đem hết tâm trí
và sức lực vào công cuộc phát triển ấy ? Vì vậy chúng tôi
khuyên mời anh em, vì Danh Thiên Chúa, hãy mau đáp lại
tiếng gọi lo âu của chúng tôi .
Từ Vatican, Lễ Phục Sinh, 26-3-1967
142 Luca 11,9 .
Phao lô VI
26/03/1967







