Đức Lêô XIII – Đức Gioan Phaolô II

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI

ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE

2000

BÁT THẬP NIÊN 381

Thông điệp

BÁT THẬP NIÊN

Octogesima Adveniens

Trả lời cho những nhu cầu mới mẻ của một thế giới

đang biến đổi.

14/05/1971

GIỚI THIỆU

Tông thư kỷ niệm 80 năm thông điệp “Rerum Novarum”

(Octogesima adveniens) này của Đức Phaolô VI gởi cho đức

hồng y Roy, chủ tịch Ủy Ban “Công Lý và Hòa Bình” và Hội

đồng Giáo hoàng đặc trách về giáo dân, lặp lại cùng một

nghĩa cử như các đức Giáo hoàng tiền nhiệm : đánh dấu cuộc

kỷ niệm này trong một chuỗi liên tục và với tinh thần canh

tân, qua một biểu lộ có ý nghĩa liên kết với những tiến bộ

đương thời.

Tiến bộ xã hội

Vào năm 1971, hoàn cảnh kinh tế trên thế giới khá

thuận lợi. Từ hai mươi lăm năm nay, những nước phát triển ghi

nhận được một sự tăng triển liên tục và mức sống được nâng

cao đáng kể. Hẳn là, các nước đang phát triển đang ở một

mức chênh lệch khá lớn, đó là điều mà đức Phaolô VI muốn

gây sự chú ý cấp thiết trong thông điệp về “Phát triển các

dân tộc”. Những căng thẳng quốc tế dường như giảm bớt;

cuộc chung sống hòa bình, có lẽ còn mong manh, vẫn chất

chứa niềm hy vọng.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 382

Quan tâm của đức Phaolô tập trung vào những vấn đề

xã hội phải đảm lấy ngay từ bây giờ, nếu không “chúng sẽ trở

nên quá trầm trọng đến nỗi không thể mong có được một giải

pháp hòa bình” (9). Vậy đó là những vấn đề xã hội nào?

– Đô thị hóa

Hiện tượng chính yếu này lan rộng nhanh chóng nhất là

trong các nước đang phát triển với mọi hậu quả xã hội do làn

sóng bỏ xứ miền quê: đánh mất đi những tập quán nông

nghiệp, đổ dồn về những thành phố lớn với nạn bần cùng hóa

lan tràn; đó là sự mất thăng bằng giữa văn minh nông thôn và

văn minh đô thị. Lần đầu tiên, một văn kiện tòa thánh đề cập

tới đề tài xã hội với một tầm mức rộng rãi. Vận dụng nó như

thế nào? Nó có ý nghĩa ra sao?

– Sự phát triển những phương tiện truyền thông xã hội

Một thay đổi lớn khác của thời đại chúng ta đã được

khẳng định, đó là vai trò ngày càng lớn của truyền hình,

truyền thanh và những phương tiện truyền thông đại chúng

khác. Thông điệp và thông tin trở nên luôn sẵn có đến độ

thừa thãi, làm thay đổi tâm trạng, kiến thức, văn hóa của con

người. Chúng tạo nên những quyền lực mới quyền lực thứ tư-

càng mạnh mẽ hơn vì chúng làm cho đại đa số những ai tiếp

nhận chúng trở nên thụ động. Phải thẩm định cả những điểm

lợi lẫn điểm nguy (20).

– Chất vấn các khoa học nhân văn (38,39,40)

Các khoa học lấy con người làm đối tượng nghiên cứu

khẳng định tính độc lập đối với triết học, trong sự đa dạng và

chuyên môn riêng của mỗi ngành. Chúng đòi hỏi một quy

chế khoa học, dựa vào những phương pháp chặt chẽ, những

kết quả khách quan và tham vọng lý giải mạch lạc phổ quát

BÁT THẬP NIÊN 383

của chúng. Chúng cũng còn nhằm định hướng những hành

động biến đổi con người và xã hội. Phải có thái độ nào đối

với chúng đây? Từ khước hay ngờ vực? Hoặc đón nhận rồi

phân định? Giáo hội vạch ra những giới hạn; nhưng “bên trong

những giới hạn này, các khoa học nhân văn đảm trách được

một nhiệm vụ tích cực mà Giáo hội sẵn sàng công nhận.”

– Chất vấn các ý thức hệ

Những ý thức hệ xã hội, được xây dựng ở thế kỷ XIX,

được áp đặt như một khuôn mẫu cho suy tư và hành động của

thế kỷ XX. Người ta bắt đầu nhận thấy những lệch lạc của

chúng so với những tiến bộ hiện thực; lệch lạc của chúng

trong việc phân tích những hoàn cảnh đương thời và trong khả

năng hành động nhằm thiết lập những hệ thống xã hội thích

ứng, ngay cả khi chúng vẫn còn hấp dẫn nhiều tâm trí. Đây là

thời điểm cần xem xét lại các ý thức hệ này và chất vấn mục

tiêu tối hậu của chúng. Cần gỡ bỏ sự mập mờ của chúng,

ngay cả đối với ý thức hệ về sự tiến bộ có mặt khắp nơi xuất

hiện từ thế kỷ XIX (41). Vậy, sự phục hưng những chủ thuyết

không tưởng, đang không ngừng lật đổ các chân trời triển

vọng và ý thức hệ, có ý nghĩa gì? (37).

– Chất vấn về con người

Trước những biến chuyển hiện nay, rất sâu sắc và rất

nhanh chóng, bước đi đầu tiên là phải chú ý tới những nạn

nhân mới của những chuyển biến này (người nhập cư, người

trẻ, người già). Nhưng nhất là mỗi ngày con người tự khám

phá thấy mình mới mẻ, và họ tự hỏi về ý nghĩa của chính bản

thân mình và của sự tồn sinh của cả loài người (7). Con người

hoang mang về ý nghĩa và về lịch sử.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 384

Chính trong bối cảnh tiến bộ, rộ lên và mang nhiều vấn

nạn hơn là sự chắc chắn, mà đức Phoalô VI gởi Tông thư này

đến đức hồng y Roy.

Bối cảnh của giáo hội

Hẳn là để đánh dấu cuộc kỷ niệm 80 năm; nhưng còn

hơn thế nữa tông thư “Bát Thập Niên” tiếp nối công việc của

Công đồng Vatican II. Qua Hiến Chế mục vụ “Giáo Hội trong

thế giới ngày nay”, Công đồng cách nào đó đã đảm nhận, xác

định chính thức, và còn mở rộng giáo huấn xã hội của các đức

Giáo hoàng tiền nhiệm; Hiến Chế “Vui Mừng và Hy Vọng”

tạo nên một nền tảng khởi hành mới. Lại nữa, Đức Phaolô VI,

khác với các văn kiện của đức Piô XI (Kỷ niệm 40 năm) và

của đức Gioan XXIII (Kỷ niệm 70 năm), ở đầu bức tông thư,

cho rằng không cần thiết phải làm một bản tóm lược diễn giải

những lập trường có trước ngài; ngoài ra ý kiến đó cũng thấy

nơi thông điệp “Phát triển các dân tộc” (1967), và nơi đức

Gioan-Phaolô II khi ngài nói về “lao động con người”(1981).

Tông thư “Bát Thập Niên” mang dấu vết của Công đồng

Vatican II không chỉ bằng việc tiếp tục triển khai các chủ đề

dù có nhiều chủ đề được đề cập tới một cách rất độc đáo –

nhưng còn bởi hai khía cạnh khác. Một khía cạnh đặc thù: bức

Thư gởi cho đức hồng y Roy là một “tông thư” trước hết gởi

đến những cơ quan phát sinh từ Công đồng: Ủy Ban “Công Lý

và Hòa Bình” và Hội đồng Giáo hoàng đặc trách về giáo dân,

qua đó người ta muốn nói lên tầm quan trọng của chúng. Khía

cạnh kia rộng lớn hơn nhiều và nảy sinh, không phải từ một

quá trình chuyển tiếp, nhưng từ một cái nhìn của Giáo hội.

Giáo hội tụ tại Roma để họp Công đồng Vatican II đã

khám phá ra mình thật phong phú và hiệp nhất bởi cùng một

đức tin vào Đức Kitô phục sinh và do cùng một Thánh Thần

BÁT THẬP NIÊN 385

làm sinh động, nhưng đa dạng theo nhiều lục địa, chủng tộc,

văn hóa; đa dạng còn bởi những môi trường nơi Giáo hội hiện

hữu hôm nay. Hơn nữa, tính tập đoàn của các Giám mục

chung quanh đức Giáo hoàng và hiệp thông với ngài đã là

một khẳng định nổi bật của Hiến Chế tín lý về Giáo hội. Toàn

bộ các vấn đề này được phản ánh trong lời giới thiệu của đức

Phaolô VI, điểm mở đầu độc đáo. Một đàng, ngài khẳng định :

“Trước những hoàn cảnh khá đa dạng, chúng ta khó có một

lời công bố duy nhất, như đưa ra một giải đáp có giá trị phổ

quát. Điều đó không phải là tham vọng cũng không phải là sứ

mạng của chúng ta “(4); tuy nhiên, lời mở đầu ấy không ngăn

ngài ngỏ lời với hết mọi kitô hữu, với đầy đủ ý nghĩa của

trách nhiệm ngài trong lãnh vực này, như ngài đã từng làm

năm 1967 về “Phát triển các dân tộc”. Đàng khác, và chính vì

thế mà ngài chuyển giao cho các cộng đoàn kitô hữu, trong sự

hiệp thông với các đức Giám mục hữu trách, trách nhiệm nắm

bắt lấy những vấn đề xã hội, suy tư về chúng dưới ánh sáng

Tin Mừng và tư tưởng của Giáo hội, tìm kiếm những giải đáp

thích hợp mà không quên chiều kích phổ quát của Giáo hội.

Đó cũng là một việc tiếp tục triển khai Hiến Chế về Giáo hội:

Giáo hội, chính là Dân Thiên Chúa được tổ chức thành những

cộng đoàn kitô hữu, có khả năng đề ra những sáng kiến, có

khả năng hiện diện và hành động trong những môi trường và

hoàn cảnh khác nhau. Đó là xúc tiến đường lối tản quyền

trong thực hành với tinh thần phụ túc, mà vẫn duy trì tính hiệp

nhất về nguyên tắc và cảm hứng. Tuy nhiên, khi xét thấy

rằng những vấn đề quốc tế trở nên vượt trổi, quan điểm của

đức Giáo hoàng vẫn rất cần thiết, bởi lẽ ngài nhận thức rõ hơn

nhiều mặt khác nhau của nó.

Bối cảnh cuối cùng trực tiếp hơn: Tông thư của đức

Phaolô VI đề ngày 14/5/1971, trong khi đó Thượng hội đồng

Giám mục sẽ họp tại Roma vào tháng 10/1971 về chủ đề

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 386

“Công bằng trên thế giới”. Đức Phaolô VI không muốn đi

trước những nỗ lực làm việc này, cũng như không muốn cung

cấp dữ kiện để thay cho các tài liệu chuẩn bị; ngài chỉ khích

lệ chúng(6). Nhưng ngài vẫn giữ quyền tự do và sáng kiến

phát biểu, bằng uy quyền riêng của mình. Hẳn là, do sự thận

trọng hơn, ngài đã chọn hình thức của một Tông thư thay vì

soạn thảo một thông điệp. Nhưng những nhà chú giải đã

không lầm; dù cho hình thức có đặc thù và tương đối ngắn

gọn, nó vẫn là một trong những văn kiện giáo hoàng quan

trọng về vấn đề xã hội.

Khai sinh bản văn

Bức Tông thư trước hết phản ánh sự nhạy cảm của đức

Phaolô liên quan tới những chuyến công du gần đây của ngài

trên các lục địa khác nhau. Sự đổi mới trong việc đức Giáo

hoàng di chuyển ngoài Roma đó sẽ được đức Gioan-Phaolô II

lặp lại và mở rộng hơn. “Chúng tôi đã đến gần dân chúng và

nghe những tiếng kêu than của họ, tiếng kêu trong khốn quẫn

và đồng thời trong hy vọng” (2).

Tông thư có tham chiếu Công đồng Vatican II và những

thông điệp mới đây: đó là điều rõ ràng. Nhưng cần ý thức đây

là một thủ đắc dù cho việc áp dụng còn chậm trễ hơn- cần

phải tiếp tục theo đuổi. Một sắc thái mang tính cá nhân: đó là

sự quan tâm đến tương lai: sự phân tích phải nối kết các yếu

tố của tiến bộ dài hạn; cần phải dung nạp những thái độ thăm

dò tương lai và chứng tỏ khả năng tưởng tượng sáng tạo.

Chính Giáo hội cũng có bổn phận phải nhìn thấy trước những

thay đổi hầu định hướng chúng tốt hơn. Tuy nhiên, Tông thư

luôn yêu cầu dựa vào kinh nghiệm lịch sử của Giáo hội và sự

thôi thúc của Tin Mừng, đó là hai nguồn mạch của sự canh

tân.

BÁT THẬP NIÊN 387

Bản văn ít trích Kinh thánh quả thật vì nó ngắn gọn cô

đọng không mở rộng thành những triển khai lớn. Dầu vậy,

cũng giống như cách thức của Hiến chế “Vui mừng và Hy

vọng”, nó có khá nhiều ghi chú về mặt linh đạo và thần học,

nhưng cũng thận trọng, nhằm đưa ra một hướng đi hoàn toàn

mới cho suy tư về xã hội; khẳng định vai trò của Chúa Thánh

Thần và mầu nhiệm phục sinh, khi đề cập đến thuyết không

tưởng, tự do, tiến bộ, dấn thân trong hành động…

Chắc chắn, đức Phaolô VI đã để ý đến những nghiên

cứu khác đang tiến hành trong các trung tâm xã hội kitô giáo

khác nhau có cả ở Pháp- liên quan đến tiến triển của các ý

thức hệ, đến vị trí ngày càng lớn của chiều kích chính trị trong

xã hội con người.

Tông thư có đặc biệt phản ánh những mối bận tâm của

các xã hội công nghiệp tiên tiến không? Nếu đọc qua quá

nhanh có thể tưởng rằng thế. Tuy nhiên, đức Phaolô VI trong

lúc nêu lên những vấn đề mới: đô thị hóa, việc làm, di cư,

định chế về người phụ nữ… đã nhấn mạnh rằng chúng liên hệ

một cách khẩn thiết hơn đến các nước đang phát triển; trong

những chuyến công du, ngài đã đích thân nghiệm thấy chúng.

Tính sư phạm của Tông thư thể hiện qua bốn thái độ ăn

khớp nhau: ý thức đúng lúc những vấn đề mới để nhìn thấy

trước các giải đáp; cố gắng làm chủ được những biến chuyển;

tìm kiếm những giải pháp và thử nghiệm chúng bằng cách tỏ

hiện tính sáng tạo; và đặc biệt là nhận định. Từ ngữ này đặc

trưng cho phần đóng góp và thái độ của các kitô hữu. Những

phán quyết của Tông thư khá tế nhị và cởi mở, vì chúng có

xét đến tiến triển của những hoàn cảnh và tư tưởng. Trái

ngược với những gì người ta đã nói hay viết, đức Phaolô VI

không giới thiệu một “con đường thứ ba” giữa chủ thuyết tư

bản tự do và chủ thuyết mác-xít; ngài mời gọi các kitô hữu

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 388

hãy phân định để biết phát triển như thế nào trong những

hoàn cảnh và chế độ mà họ dấn thân.

Ngoài đức hồng y Roy, là người nhận chính, bức Tông

thư “Bát Thập Niên” ngỏ lời với mọi kitô hữu. Đức Phaolô VI

nói một cách minh nhiên điều đó : “Chính với hết mọi kitô hữu

mà Chúng tôi, một lần nữa và một cách cấp bách, gởi đến

một lời kêu gọi hãy hành động”(48). Lời kêu gọi đặc biệt,

nhưng không giới hạn, gởi đến các tổ chức kitô giáo. Ngài

nhấn mạnh đồng thời đến tương quan thiết yếu giữa Lời nhận

lãnh từ Thiên Chúa và hành động phải thực hiện nhằm phục

vụ anh em, và đến tính đặc thù bất khả thay thế của sự hiện

diện của người kitô hữu trong thế giới, một sự hiện diện mà

không tự tách mình khỏi một “tương lai mà từ nay đã trở

thành của chung”.

Dàn bài và những điểm chính yếu

Dàn bài thì đơn giản. Giữa phần dẫn nhập (mở đầu và

nhận định) và lời kêu gọi hành động (kết luận), là ba phần

khác : những vấn đề xã hội mới (những điểm đáng chú ý trình

bày cách cô đọng và cụ thể); những khát vọng căn bản và các

trào lưu tư tưởng (nhận định về các ý thức hệ đang trên đà

tiến triển); Những kitô hữu đứng trước những vấn đề mới (xác

định về những điều kiện dấn thân).

Vì là một bức Thư, bản văn không mang một tựa đề nói

lên cái cốt lõi nội dung. Có nhiều tựa đề khác nhau đã được

đề nghị, không có tính cách chính thức, theo từng cách đọc.

CERAS về phần mình đã lấy tựa đề “Trách nhiệm chính trị

của người kitô hữu” nhằm bình luận thời cuộc. Quả thực đó là

một điểm lớn và độc đáo; lãnh vực kinh tế và lãnh vực xã hội

gắn liền với lãnh vực chính trị, là chiều kích bao quát của xã

hội (24 và 25); chính trị là lãnh vực của các quyền lực, mà đó

BÁT THẬP NIÊN 389

cũng là một cách thức dấn thân phục vụ con người. “Chính trị

là một cách thế đòi hỏi nhưng không phải là cách thế duy

nhất- để kitô hữu sống dấn thân nhằm phục vụ tha nhân”(46).

Một điểm chính yếu khác: phân tích các trào lưu ý thức

hệ khác nhau hiện nay và những chuyển biến lịch sử của

chúng, với những phê phán vững chắc và tinh tế về các chủ

nghĩa xã hội khác nhau, về thuyết Mác xít và về thuyết tư bản

tự do trong những hình thức hiện tại. Sự dấn thân của các kitô

hữu trong hoạt động phục vụ tha nhân làm phát sinh những

xác quyết sau: Giá trị của tư tưởng xã hội của Giáo hội là tư

tưởng có tính khởi hứng và giáo dục, là nguồn mạch của sự

phân định và phán đoán; nhưng Giáo hội không đề nghị một

mô hình được tiền chế (42), mà để cho có sự đa dạng trong

lựa chọn: “Cùng một đức tin kitô có thể dẫn đến những dấn

thân khác biệt”, mỗi người phải kiểm nghiệm lấy tính chân

thực (50).

Tông thư OA đã có tầm ảnh hưởng và phổ biến vượt rất

xa người nhận chính thức, là Đức Hồng Y Roy, và hai uỷ ban

(công lý và hòa bình, Hội đồng về giáo dân) mà tông thư

nhằm khích lệ sự làm việc. Do tính cách lớn lao và mới mẻ

của những chủ đề hướng tới tương lai, do những quyền tự do

được gợi lên nơi những cộng đoàn kitô hữu, tông thư này đã

trở thành một điểm tựa cho rất nhiều trường hợp dấn thân;

đồng thời nó cũng đã trở thành điểm tham khảo cho các văn

kiện quốc gia.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 390

BẢN TÓM LƯỢC

Dẫn nhập.

Lời kêu gọi phổ quát cho một nền công bình tốt hơn.

Những hoàn cảnh khác nhau của các kitô hữu trong thế giới.

Sứ điệp đặc biệt của Giáo hội. Tầm mức lớn lao của những

biến chuyển hiện nay (số 1-7).

I. Những vấn đề xã hội mới

Đô thị hóa và những kitô hữu trong đô thị (số 8-12).

Giới trẻ, vị trí của người phụ nữ, những người lao động

(số 13-14).

Những nạn nhân của biến chuyển thời cuộc; những sự

kỳ thị (15-16).

quyền di trú (số 17).

Tạo ra công ăn việc làm (số 18-19).

Những phương tiện truyền thông xã hội (số 20).

Môi trường (số 21).

II. Những khát vọng căn bản và các trào lưu tư tưởng (22)

Những ưu điểm và giới hạn của những công nhận pháp

lý (số 23).

Xã hội chính trị (số 24-25).

Các ý thức hệ và những quyền tự do con người (số 16-

19).

Các trào lưu lịch sử (30).

Sự hấp dẫn của những trào lưu xã hội chủ nghĩa (31).

Tiến hóa lịch sử của thuyết Macxit (32-34).

BÁT THẬP NIÊN 391

Ý thức hệ tư bản tự do (35).

Sự biện phân kitô (36).

Sự phục hưng của những không tưởng (37)

Chất vấn của các khoa học nhân văn (38-40).

Tính mập mờ của sự tiến bộ (41).

III. Người kitô hữu đứng trước những vấn đề mới này

Tính năng động của giáo huấn xã hội của Giáo hội (42).

Cho một nền công bình lớn lao hơn (43-44).

Biến đổi tâm hồn và cơ cấu (45).

Ý nghĩa kitô giáo của hoạt động chính trị (46).

Chia sẻ các trách nhiệm (47).

Kết luận.

Lời kêu gọi hành động. Sự cần thiết của dấn thân trong

hoạt động. Tính đa dạng trong các lựa chọn (48-52).

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 392

TÔNG THƯ CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHAOLÔ VI

Gởi Đức Hồng Y Maurice Roy, chủ tịch Hội đồng giáo

hoàng đặc trách về “công lý và hòa bình” nhân dịp 80 năm kỷ

niệm thông điệp RN.

Dẫn nhập

Kính thưa Đức Hồng Y,

1. Dịp kỷ niệm 80 năm việc ban hành thông điệp RN là

thông điệp vẫn còn tiếp tục gợi hứng cho hoạt động vì công

bằng xã hội, đã thúc đẩy chúng tôi lấy lại và tiếp nối giáo

huấn của các vị tiền nhiệm của chúng tôi, nhằm đáp ứng

những nhu cầu mới của một thế giới đang biến chuyển. Thật

vậy, Giáo hội đồng hành với nhân loại và cùng chia sẻ số

phận nhân loại giữa lòng lịch sử. Trong khi loan báo cho con

người Tin mừng yêu thương của Thiên Chúa và ơn cứu độ

trong Chúa Kitô, Giáo hội soi rọi ánh sáng của Tin mừng vào

sinh hoạt của con người và nhờ đó giúp đỡ họ đáp trả ý định

yêu thương của Thiên Chúa và thực hiện cách viên mãn

những khát vọng của họ.

Lời kêu gọi phổ quát cho một nền công bình tốt hơn.

2. Trong niềm tin tưởng, chúng tôi nhận thấy Thánh

Thần của Chúa theo đuổi công trình của Ngài giữa lòng nhân

loại và quy tụ khắp nơi những cộng đoàn kitô hữu ý thức

trách nhiệm của họ trong xã hội. Trong tất cả các lục địa, giữa

mọi dân tộc, quốc gia, nền văn hóa, ngay giữa hết thảy mọi

hoàn cảnh sống, Chúa vẫn tiếp tục khơi dậy nhiều tông đồ

đích thực của Tin mừng.

BÁT THẬP NIÊN 393

Chúng tôi đã có dịp được gặp gỡ những người đó,

chiêm ngưỡng họ, khích lệ họ trong suốt những chuyến công

du gần đây của chúng tôi. Chúng tôi đã đến gần dân chúng

và đã nghe những tiếng kêu than của họ, tiếng kêu trong

khốn quẫn và đồng thời trong hy vọng. Trong những hoàn

cảnh ấy, chúng tôi thấy những vấn đề hệ trọng của thời đại

chúng ta xuất hiện với một nét đặc sắc mới mẻ, như những

đặc thù của từng miền, nhưng lại những vấn đề chung của

nhân loại đang tự vấn về tương lai của mình, về hướng đi và ý

nghĩa của những biến chuyển đang xảy ra. Những chênh lệch

hiển nhiên tồn tại trong phát triển kinh tế, văn hóa và chính trị

của các quốc gia: bên cạnh những miền công nghiệp hóa

mạnh mẽ, còn những miền khác vẫn đang còn trong giai đoạn

nông nghiệp; bên cạnh những đất nước đang sống sung túc,

nhiều nước khác còn đang đấu tranh chống nạn đói; bên cạnh

các dân tộc có nền văn hóa cao, nhiều dân tộc khác còn đang

luôn gia sức xóa nạn mù chữ. Khắp nơi đều trổi lên khát vọng

một nền công bình tốt hơn nữa và dâng trào ước muốn một

nền hòa bình đảm bảo hơn, trong sự tôn trọng lẫn nhau giữa

người với người, giữa dân tộc với dân tộc.

Những hoàn cảnh khác nhau của các kitô hữu

trong thế giới.

3. Hẳn là có nhiều hoàn cảnh rất khác nhau trong đó các

kitô hữu đang dấn mình, dù muốn hay không tùy theo vùng,

tùy theo hệ thống xã hội – chính trị, tùy theo nền văn hóa. Nơi

này, họ rút vào im lặng, bị ngờ vực và có thể nói họ bị đẩy ra

ngoài lề xã hội, bị vây bọc không tự do trong một hệ thống

độc tài. Nơi kia, họ là thiểu số yếu ớt mà tiếng nói khó được

nghe. Trong những quốc gia khác, chỗ đứng của Giáo hội

được nhìn nhận, đôi khi một cách chính thức, thì chính Giáo

hội lại phải chịu lụy những hậu quả của cuộc khủng hoảng

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 394

làm đảo điên xã hội, và một số thành phần của Giáo hội bị

cám dỗ chạy theo những giải pháp cực đoan và bạo lực mà họ

tưởng có thể hy vọng đạt được một kết quả mang lại hạnh

phúc hơn. Trong khi một số này, không ý thức về những bất

công hiện tại, nỗ lực duy trì tình cảnh hiện có, một số khác để

mình bị lôi cuốn theo các ý thức hệ cách mạng hứa hẹn với

họ, một lời hứa ảo tưởng một thế giới dứt khoát tốt đẹp hơn.

4. Trước nhiều hoàn cảnh khác biệt như thế, rất khó cho

chúng tôi công bố một lời lẽ duy nhất, cũng như đề nghị một

giải pháp có giá trị phổ quát. Đó không phải là tham vọng mà

cũng không là sứ mạng của chúng tôi. Chính các cộng đoàn

kitô hữu phải phân tích một cách khách quan hoàn cảnh riêng

của đất nước mình, làm nó sáng tỏ bằng ánh sáng của lời bất

biến của Tin mừng, múc lấy những nguyên tắc suy tư, những

chuẩn mực cho phán đoán và chỉ nam cho hành động nơi giáo

huấn xã hội của Giáo hội như đã được soạn thảo trong dòng

lịch sử và nhất là, trong kỷ nguyên công nghiệp này, tính từ

mốc lịch sử của sứ điệp của đức Lêô XIII về “tình trạng của

những người công nhân”, mà chúng ta vinh đự và hân hoan

mừng kỷ niệm hôm nay. Chính các cộng đồng kitô hữu này

phải biện phân, với sự giúp đỡ của Chúa Thánh Thần, trong

sự hiệp thông với các Giám mục hữu trách, trong đối thoại với

những anh em kitô hữu khác và với mọi người thiện chí, để

chọn lựa lập trường và cách dấn thân phù hợp nhằm thực hiện

những biến đổi xã hội, chính trị và kinh tế nào tỏ ra hết sức

cần thiết trong từng trường hợp. Trong cuộc tìm kiếm nhằm

hoàn thiện những đổi thay đó, kitô hữu trước hết phải canh

tân lòng tin tưởng của họ vào sức mạnh và sự độc đáo của

những đòi hỏi Tin mừng. Tin mừng không bị lỗi thời do nó đã

được loan báo, được viết, được sống trong một bối cảnh văn

hóa – xã hội khác. Tính cách linh hứng của nó, được phong

phú hóa bởi kinh nghiệm sống động của truyền thống kitô

BÁT THẬP NIÊN 395

giáo qua các thế kỷ, vẫn luôn luôn mới mẻ giúp con người

hoán cải và đời sống xã hội tiến bộ, nhưng không vì thế mà đi

đến chỗ sử dụng Tin mừng để hỗ trợ những lựa chọn đặc thù

trong lãnh vực trần thế, trong khi lại bỏ quên sứ điệp phổ quát

và vĩnh cửu của nó.143

Sứ điệp đặc biệt của Giáo hội.

5. Giữa những nhiễu loạn và hoang mang của thời cuộc

hiện nay, Giáo hội có một sứ điệp đặc biệt phải công bố, một

điểm tựa để trao ban cho con người hầu giúp đỡ họ trong nỗ

lực nắm giữ và định hướng tương lai của họ. Kể từ lúc thông

điệp RN tố giác một cách mãnh liệt và cấp bách vụ bê bối về

tình trạng thợ thuyền trong xã hội công nghiệp mới phát sinh,

sự tiến triển lịch sử đã gây ý thức, như các thông điệp Tứ

Thập niên, 144 và Mẫu sư 145 đã ghi nhận, về những chiều kích

khác và những ứng dụng khác của công bằng xã hội. Công

đồng mới đây, về phần mình, đã cố gắng nêu bật lên những

điều đó, đặc biệt qua hiến chế GS, chính chúng tôi cũng đã

tiếp nối những định hướng này qua thông điệp PP. Ngày nay,

sự kiện quan trọng mà mỗi người phải ý thức là vấn đề xã hội

đã trở nên có tính toàn cầu”146. “Ý thức đã được đổi mới về

những đòi hỏi của sứ điệp Tin mừng khiến Giáo hội thấy mình

có nghĩa vụ dấn thân phục vụ cho con người nhằm giúp họ

nắm bắt hết mọi chều kích của vấn đề hệ trọng này và nhằm

thuyết phục họ về sự cấp bách phải có một hành động liên

đới tại khúc quanh lịch sử này của nhân loại”147.

143 GS, 10.

144 QA, 107t.

145 MM, 122t.

146 PP, 3

147 ibid., 1

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 396

Nghĩa vụ này, điều mà chúng tôi rất ý thức, thúc đẩy

chúng tôi hôm nay đưa ra một vài suy nghĩ và đề xướng được

gợi ý bởi tầm mức lớn lao của những vấn đề đặt ra cho thế

giới ngày hôm nay.

6. Vả lại, thượng hội đồng Giám mục sắp tới sẽ đích

thân nghiên cứu sát gần hơn và đào sâu sứ mạng trước những

vấn đề nghiêm trọng do sự công bình trong thế giới đặt ra

ngày nay. Nhưng, thưa đức Hồng Y chủ tịch của uỷ ban “Công

lý và hòa bình” và của hội đồng đặc trách về giáo dân, dịp kỷ

niệm “thông điệp RN” này cho chúng tôi cơ hội tỏ bày những

ưu tư và suy nghĩ của chúng tôi khi đứng trước vấn đề này cho

ngài. Chúng tôi cũng muốn qua đây cổ võ các cơ quan này

của tòa thánh trong hoạt động của Giáo hội nhằm phục vụ cho

con người.

Tầm mức lớn lao của những biến chuyển hiện

nay.

7. Làm như thế, dù không quên những vấn đề thường

xuyên đã được đề cập đến bởi những vị tiền nhiện của chúng

tôi – mục đích của chúng tôi là lôi kéo sự chú ý đến một số

vấn đề, mà do tính cấp bách, mức độ lớn lao và phức tạp của

chúng, phải là những bận tâm chính yếu của các kitô hữu

trong những năm tới, để cùng với những người khác họ cố

gắng giải quyết những khó khăn mới đang lên án chính tương

lai của con người. Phải đặt những vấn đề xã hội phát sinh từ

nền kinh tế hiện đại – điều kiện nhân bản của việc sản xuất,

công bằng trong việc trao đổi của cải và phân phối tài

nguyên, ý nghĩa của những nhu cầu hưởng thụ gia tăng, chia

sẻ trách nhiệm – trong một bối cảnh rộng lớn hơn của nền văn

minh mới. Trong những biến chuyển hiện nay, rất sâu sắc và

rất nhanh chóng, mỗi ngày con người tự khám phá ra mình

BÁT THẬP NIÊN 397

mới mẻ và họ tự hỏi về ý nghĩa hiện hữu của chính mình và

của sự tồn sinh cộng đồng. Họ do dự đón lấy những bài học

của một quá khứ mà họ cho là đã trôi qua và quá khác biệt,

dẫu thế họ vẫn cần được soi rọi vào tương lai mình – một

tương lai mà họ nhận thấy bấp bênh hay thay đổi – bằng

những chân lý trường tồn, vĩnh cửu hẳn là vượt trên họ, nhưng

nếu như họ muốn họ có thể tự mình khám phá thấy những

dấu vết của chúng148.

NHỮNG VẤN ĐỀ XÃ HỘI MỚI

Đô thị hóa

8. Một hiện tượng lớn thu hút sự chú ý của chúng ta:

vấn đề đô thị hóa, trong những nước công nghiệp hóa cũng

như trong những nước đang phát triển.

Sau nhiều thế kỷ đằng đẵng, văn minh nông nghiệp yếu

dần đi. Vả chăng, người ta có quan tâm đủ đến việc quy

hoạch lại và cải thiện đời sống người nông dân: đời sống ở

trong hoàn cảnh kinh tế thấp kém và đôi khi cơ cực khiến họ

phải ra đi sống chen chúc ở những vùng ngoại ô thành phố,

nơi không có nhà cửa lẫn công ăn việc làm cho họ ?

Sự bỏ quê ra đi thường xuyên này, sự phát triển công

nghiệp, việc tăng vọt nhân khẩu liên tục, sự hấp dẫn của

những trung tâm đô thị dẫn đến sự tập trung dân số cao độ

đến nỗi khó có thể tưởng tượng được, vì rằng người ta nói

đến những thành phố khổng lồ tập trung hàng mấy chục triệu

dân. Chắc hẳn là có những thành phố mà kích thước của nó

bảo đảm được một sự cân bằng về dân số tốt hơn. Những

thành phố đó có khả năng cung ứng việc làm cho những

148 cf. 2Cr 4,17

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 398

người mà tiến bộ nông nghiệp đã biến họ thành kẻ rỗi rảnh,

chúng tạo điều kiện cho việc sắp xếp lại toàn thể dân sự

nhằm tránh tình trạng vô sản hóa (prolétarisation) và chen

chúc (entasssements) của các đô thị lớn.

9. Sự bành trướng vô lường của những đô thị này đi

kèm theo sau sự phát triển công nghiệp, nhưng không đồng

hóa với nó. Dựa trên việc nghiên cứu công nghệ và biến đổi

thiên nhiên, quá trình công nghiệp hóa luôn theo đuổi con

đường của mình, chứng tỏ một sự sáng tạo không ngừng.

Trong khi một số xí nghiệp khuếch trương và tập trung hóa, số

khác thì chết đi hoặc chuyển dời, làm nảy sinh những vấn đề

xã hội mới: nạn thất nghiệp vì nghề hay từng vùng, việc

chuyển đổi sản xuất và sự di động của những người lao động

phải thích ứng thường xuyên, sự chênh lệch những điều kiện

trong các ngành công nghiệp khác nhau. Sự cạnh tranh tự do,

sử dụng những phương tiện quảng cáo hiện đại, giới thiệu

liên tục những sản phẩm mới và cố gắng lôi cuốn người tiêu

thụ, đang khi những máy móc công nghiệp cũ kỹ, dù tình

trạng còn tốt, trở thành vô dụng. Trong lúc nhiều tầng lớp

rộng rãi dân chúng còn chưa thỏa mãn được những nhu cầu sơ

đẳng của họ, người ta lại chế tạo ra những nhu cầu dư thừa.

Thế nên ta có thể tự hỏi một cách ngay thẳng liệu con người,

mặc mọi nỗ lực chinh phục, có đưa những kết quả việc làm

của mình quay lại chống chính mình hay không. Sau khi đã

nắm chắc được sức ảnh hưởng trên thiên nhiên149, con người

giờ đây có trở nên nô lệ cho những đồ vật mà họ sản xuất

không ?

149 PP, 25

BÁT THẬP NIÊN 399

Người kitô hữu trong đô thị

10. Sự bộc phát của một nền văn minh đô thị hóa, đi

theo sau sự đi lên của nền văn minh công nghiệp, không phải

là một thách thức cho đầu óc khôn ngoan của con người, cho

năng lực tổ chức, cho trí tưởng tượng hướng đến tương lai của

họ sao ? Ở ngay giữa lòng xã hội công nghiệp, sự đô thị hóa

làm đảo lộn các cách thức sống và những cơ cấu quen thuộc

của cuộc sống: gia đình, xóm giềng, các khuôn khổ của chính

cộng đoàn kitô hữu. Con người cảm nghiệm một sự cô đơn

mới, không phải trước một thiên nhiên thù địch mà họ đã

dùng hàng bao thế kỷ để chế ngự, nhưng trong đám đông vô

danh đang bao quanh họ và ở đó họ cảm thấy mình là người

xa lạ. Hẳn là một giai đoạn không thể đảo ngược trong quá

trình phát triển của các xã hội con người, đô thị hóa đặt ra cho

con người nhiều vấn đề khó khăn: làm thế nào để làm chủ

được sự tăng trưởng của nó, điều hòa được tổ chức của nó,

đưa sự linh hoạt của nó tới sự thành đạt có ích cho mọi người

?

Trong sự tăng trưởng vô trật tự đó, quả thực đã nảy sinh

những tầng lớp vô sản mới. Họ cư ngụ giữa lòng các thành

phố mà những người giàu bỏ đi; họ cắm lều trong những vùng

ngoại ô, như vành đai khốn cùng đang vây hãm, trong một

thái độ phản kháng còn ngấm ngầm, lối sống xa hoa trơ trẽn

của những thành phố hưởng thụ và phung phí. Thay vì giúp

cho một cuộc gặp gỡ huynh đệ và tương trợ, thành phố lại làm

gia tăng những mối kỳ thị và cả sự lãnh đạm; nó làm duyên

cớ cho những hình thức bóc lột và thống trị mới, là nơi cho

một số người lợi dụng những nhu cầu của người khác hòng

rút tỉa những món lợi không thể chấp nhận được. Đàng sau

những mặt nổi, ẩn tàng vô số những cảnh khốn cùng, thậm

chí không được những láng giềng gần nhất biết đến; nhiều

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 400

người khác chìm đắm trong một cuộc sống không còn phẩm

giá con người: tình trạng tội phạm, tội ác, ma túy, dâm ô.

11. Thật ra chính những kẻ yếu thế nhất là nạn nhân

của những điều kiện sống phi nhân, mất nhân phẩm đối với

lương tâm và có hại cho định chế gia đình đó: sống chung

đụng trong những chung cư bình dân không thể có được sự

thân mật tối thiểu; những gia đình trẻ, mong chờ trong vô

vọng được một chỗ ở đàng hoàng với giá phải chăng, dễ nản

lòng và sự chung thủy của họ thậm chí có thể bị tổn thương,

thanh thiếu niên trốn chạy khỏi gia đình lúc nhúc của mình và

tìm ở ngoài đường phố những bù trừ và những quan hệ bạn

bè không kiểm soát được. Các nhà chức trách có nhiệm vụ

nặng nề phải tìm cách kềm chế và định hướng được quá trình

này.

Ở từng cấp đường phố, khu phố hay toàn thành phố,

phải khẩn cấp tái lập môi trường xã hội nơi con người có thể

triển nở được những nhu cầu của nhân cách. Cần phải xây

dựng và phát triển những tụ điểm và từng trung tâm văn hóa

ở cấp độ cộng đồng giáo xứ, trong những hình thức hiệp hội

khác nhau này, những câu lạc bộ giải trí, những nơi hội họp,

những cuộc gặp gỡ mang màu sắc tâm linh và cộng đoàn, nơi

mỗi con người, thoát khỏi được nỗi cô độc, sẽ tạo lập lại

những tương giao huynh đệ.

12. Việc xây dựng thành phố hôm nay, là môi trường

sống của con người và của những cộng đồng nới rộng của họ,

việc kiến tạo những cách thế mới mẻ để gần gũi và quan hệ

với nhau, việc nhận thức một áp dụng độc đáo của công bằng

xã hội, việc đảm trách một tương lai tập thể đầy khó khăn, đó

là một bổn phận mà các kitô hữu phải tham gia. Đối với

những con người sống chen chúc chung đụng trong những khu

ổ chuột khó chịu ở thành phố đó, phải làm sao mang lại cho

BÁT THẬP NIÊN 401

họ một sứ điệp của hy vọng, bằng một tình huynh đệ sống

động và một sự công bằng cụ thể. Ước mong sao những người

kitô hữu, ý thức được trách nhiệm mới mẻ này, đừng đánh

mất trái tim giữa đô thị bao la lãnh đạm, nhưng luôn nhớ đến

ngôn sứ Giona, đi dọc suốt thành Ninivê rộng lớn để loan báo

Tin mừng về lòng thương xót của Thiên Chúa, được nâng đỡ

trong sự yếu kém của mình bởi sức mạnh duy nhất của Lời

Thiên Chúa Toàn năng.

Trong Kinh thánh, đô thị thường là nơi chốn của tội lỗi

và của lòng kiêu ngạo, lòng kiêu ngạo của một con người

cảm thấy mình đủ khả năng xây dựng một cuộc sống không

cần Thiên Chúa và thậm chí tự khẳng định mình mạnh mẽ đủ

để chống đối Ngài. Tuy nhiên, đó cũng là Giêrusalem, Thành

thánh, là nơi gặp gỡ Thiên Chúa, là lời hứa cho hình ảnh của

thành phố được hứa từ trên cao.150

Giới trẻ

13. Cuộc sống đô thị và biến chuyển công nghiệp đặt ra

cách sống động những vấn đề mà cho đến nay vẫn chưa được

nhận thức đúng. Chẳng hạn như, trong thế giới đang hình

thành đâu là chỗ đứng của người phụ nữ và của người trẻ ?

Ở khắp nơi đều thấy có những khó khăn trong cuộc đối

thoại giữa người trẻ, mang nhiều khát vọng, mang đổi mới

nhưng cũng bất an đối với tương lai, và các thế hệ người lớn.

Có ai lại không thấy nơi đó một nguồn phát sinh những xung

đột trầm trọng, những gẫy vỡ và từ nhiệm, ngay cả ở giữa

lòng gia đình, và một vấn đề được đặt ra về những cách thức

hành quyền, về giáo dục quyền tự do, về sự truyền đạt các

giá trị và tín ngưỡng chạm đến gốc rễ sâu xa nhất của xã hội ?

150 cf. Kh 3,12; 21,2

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 402

Vị trí của người phụ nữ

Cũng thế, trong nhiều nước, một quy chế về người phụ

nữ nhằm chấm dứt sự kỳ thị thực thụ và thiết lập những mối

tương quan bình đẳng về quyền lợi và sự tôn trọng phẩm giá

của họ là đối tượng của những nghiên cứu, đôi khi là đối

tượng của những yêu sách gay gắt. Chúng ta không nói về thứ

bình đẳng sai lạc phủ nhận những khác biệt mà chính Tạo

Hóa thiết lập ra ; thứ bình đẳng mâu thuẫn với vai trò đặc thù,

mà cũng rất chính yếu của người phụ nữ ở giữa tổ ấm gia

đình, cũng như ở giữa lòng xã hội. Ngược lại lập pháp phải

được phát huy theo chiều hướng bảo vệ ơn gọi riêng của họ,

đồng thời công nhận sự độc lập của họ như những nhân vị,

công nhận quyền bình đẳng về quyền được tham dự vào đời

sống văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội.

Người lao động

14. Giáo hội đã long trọng tái khẳng định ở Công đồng

cuối cùng vừa qua: “Nhân vị chính là và phải là nguyên lý,

chủ thể và cứu cánh của mọi định chế”.151 Mọi người ai cũng

có quyền lao động, quyền có thể phát triển các phẩm chất và

nhân cách của mình qua việc thực hành nghề nghiệp mình,

quyền được trả công xứng đáng sao cho con người có đủ khả

năng “xây dựng cho mình và gia đình một đời sống xứng hợp

cả về phương diện vật chất, xã hội, văn hóa cũng như tinh

thần152, quyền được trợ giúp khi có nhu cầu cần kíp, khi bệnh

hoạn hoặc già yếu.

Nếu như, vì để bảo vệ các quyền này, các xã hội dân

chủ chấp nhận nguyên tắc của quyền về nghiệp đoàn, nhưng

151 GS, 25

152 ibid., 67

BÁT THẬP NIÊN 403

lại không luôn cởi mở cho việc thi hành quyền này. Người ta

chấp nhận vai trò quan trọng của các nghiệp đoàn: chúng

nhằm mục tiêu đại diện cho nhiều giới người lao động, công

nhận sự hợp tác hợp pháp của chúng vào việc phát triển kinh

tế của xã hội, triển khai ý nghĩa của những trách nhiệm của

chúng, nhằm thực hiện công ích. Tuy nhiên, hoạt động của

các nghiệp đoàn không phải là không gặp khó khăn: cám dỗ

có thể xuất hiện, chỗ này chỗ kia, khi chúng lợi dụng quyền

lực mình có nhằm áp đặt, nhất là đình công – một quyền hẳn

là vẫn còn được công nhận như phương thế cuối cùng để tự

vệ, những điều kiện quá nặng nề đối với toàn thể nền kinh tế

hoặc đoàn thể xã hội hay nhằm sao cho đạt được những yêu

sách trực tiếp thuộc lãnh vực chính trị. Đặc biệt khi có liên hệ

đến những dịch vụ công cộng, thiết yếu cho đời sống thường

ngày của toàn thể một cộng đồng, người ta phải biết định ra

ranh giới cuối cùng mà nếu vượt qua thì sẽ phát sinh hậu quả

tai hại không thể chấp nhận được.

Những nạn nhân của biến chuyển thời cuộc

15. Một cách vắn tắt, có nhiều tiến bộ đã được thực

hiện nhằm đưa đến, ngay trong các quan hệ nhân bản, tình

trạng công bằng hơn và tham gia nhiều hơn vào các trách

nhiệm. Tuy nhiên, trong lãnh vực rộng lớn này, vẫn còn nhiều

điều phải làm. Vì thế, phải tích cực đeo đuổi việc suy tư,

nghiên cứu và thử nghiệm, nếu không thì sẽ vẫn ở lại trong

tình trạng chậm đáp ứng những khát vọng hợp pháp của người

lao động, những khát vọng dần dà được khẳng định hơn nữa

theo đà phát triển nơi người lao động về mặt: đào tạo ý thức

về phẩm giá, và sức mạnh của các tổ chức của họ. Tình ích

kỷ và óc thống trị là những cám dỗ thường tồn của con người.

Vì thế, cần thiết phải biết luôn biện phân tinh tế hơn nữa hàu

nắm được từ gốc rễ những hoàn cảnh bất công vừa phát sinh

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 404

và thiết lập dần dà một nền công bình ngày càng ít bất toàn

hơn. Trong cuộc biến chuyển công nghiệp, cuộc biến chuyển

đòi hỏi một sự thích nghi nhanh chóng và thường xuyên,

những người bị tổn hại sẽ ngày càng đông và càng bị bất lợi

trong việc làm cho mọi người nghe được tiếng nói của họ. Đối

với những “người nghèo” mới này – những người khuyết tật

và không thích nghi được, những người già cả, những kẻ sống

bên lề xã hội, thuộc mọi nguồn gốc khác nhau – Giáo hội cần

chú ý để nhận ra họ, giúp đỡ, bảo vệ chỗ đứng và phẩm giá

của họ trong một xã hội đang chai cứng lại bởi sự cạnh tranh

và mong ước sự thành đạt.

Những kỳ thị

16. Trong số những nạn nhân của tình trạng bất công –

tiếc rằng đây không phải là hiện tượng mới mẻ gì, – phải kể

đến những người là đối tượng của những sự kỳ thị, theo luật

pháp hoặc theo sự kiện thực tế, vì lý do chủng tộc, nguồn

gốc, màu da, văn hóa, phái tính hay tôn giáo của họ.

Sự kỳ thị chủng tộc, ngày nay, mang một nét thời sự

kịch liệt hơn do sự căng thẳng mà nó tạo ra trong nội bộ một

số nước cũng như trên chính bình diện quốc tế. Thật hợp lý

khi con người coi là không thể biện minh được khuynh hướng

muốn duy trì hoặc tạo ra một pháp luật hay những thái độ ứng

xử được gợi ra một cách hệ thống từ những thành kiến chủng

tộc: mọi phần tử của nhân loại chia sẻ cùng một bản tính và

do đó có cùng phẩm giá đồng thời có cùng quyền lợi và nghĩa

vụ căn bản như nhau, cũng như có cùng một định mệnh siêu

nhiên. Ở trong cùng một xứ sở chung, tất cả mọi người phải

được bình đẳng trước pháp luật, bình đẳng trong những

phương thế tiếp cận cuộc sống kinh tế, văn hóa, dân sự hay

xã hội, và được hưởng cách công bằng trong phân phối của

cải quốc gia.

BÁT THẬP NIÊN 405

Quyền được di trú

17. Chúng tôi cũng nghĩ đến tình cảnh bấp bênh của

một số lớn những người lao động nhập cư, mà tình trạng ngoại

kiều khiến họ càng gặp thêm khó khăn, trong việc đưa ra bất

cứ yêu sách xã hội nào cho dù họ có phần đóng góp thực sự

vào nền kinh tế của đất nước tiếp nhận. Người ta phải cấp

bách biết vượt qua một thái độ quốc gia chủ nghĩa hẹp hòi đối

với họ, để thiết lập một quy chế công nhận quyền được di trú,

tạo thuận lợi cho những người đó được hội nhập, giúp đỡ họ

thăng tiến nghề nghiệp và có chỗ ở xứng đáng, và nếu được,

đủ cho cả gia đình họ đoàn tụ.153

Gắn liền với tình cảnh này chính là những đoàn dân, để

tìm việc làm, để chạy trốn một họa tai hoặc khí hậu khắc

nghiệt, họ phải đành rời bỏ quê cha đất tổ của họ và sống mất

gốc ở giữa những người khác (xa lạ).

Bổn phận của mọi người – và nhất là của người kitô hữu

154- là phải hành động mạnh mẽ để kiến tạo một tình huynh

đệ phổ quát, là nền tảng thiết yếu cho một nền công bình

đích thực và là điều kiện cho một nền hòa bình lâu dài:

“Chúng ta không thể kêu cầu Thiên Chúa là cha mọi người,

nếu chúng ta từ chối xử sự như anh em đối với một số người,

cũng được tạo dựng giống hình ảnh Chúa. Quan hệ giữa con

người với Thiên Chúa là Cha và giữa con người với anh em

mình có liên quan mật thiết với nhau như lời Thánh Kinh: “Ai

không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa” 155(1Ga 4,8).

153 PP, 69

154 cf. Mt 25,35

155 Nostra Aetate, 23.10.1965, số 5

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 406

Tạo ra công ăn việc làm

18. Với sự gia tăng dân số, đặc biệt trong các quốc gia

non trẻ, số người không tìm được việc làm và buộc phải sống

trong cảnh cùng khổ hoặc sống nhờ sẽ ngày càng gia tăng

trong những năm sắp tới, nếu như sự thức tỉnh lương tâm

không đi đôi với một phong trào tỏ tình liên đới chung bằng

một chính sách hữu hiệu cho đầu tư, tổ chức sản xuất và

thương mại hóa, cũng như đào tạo. Chúng ta biết những cơ

quan đầu não quốc tế đang tập trung chú ý đến những vấn đề

này và chúng ta nóng lòng mong đợi các thành viên của

những cơ quan ấy không lần lữa đưa ra những hành động phù

hợp với tuyên ngôn của họ.

Chúng ta lo ngại thấy rằng trong lãnh vực này có một

thứ chủ thuyết định mệnh nào đó đang xâm nhập ý thức

nhiều nhà hữu trách. Tâm trạng này đôi khi dẫn đến những

giải pháp theo kiểu học thuyết Malthus được tuyên truyền, ca

tụng tích cực cổ võ ngừa thai và phá thai. Trong hoàn cảnh

gay gắt đó, ngược lại, phải khẳng định rằng gia đình, nếu

không có thì không xã hội nào có thể tồn tại, có quyền được

giúp đỡ để có những điều kiện phát triển cách lành mạnh.

“Chắc chắn, như đã nói trong thông điệp PP, các nhà cầm

quyền, trong giới hạn của khả năng của họ, có thể can thiệp,

bằng cách phát huy mạng lưới thông tin tích hợp và đưa ra

những biện pháp thích nghi, miễn sao chúng phù hợp với

những đòi hỏi của luật luân lý và tôn trọng quyền tự do chính

đáng của các đôi vợ chồng. Không có quyền kết hôn và sinh

sản, là một quyền không thể tước bỏ, thì sẽ không còn phẩm

giá con người”156

156 PP, 37

BÁT THẬP NIÊN 407

19. Chưa bao giờ ở bất cứ thời đại nào, có một lời kêu

gọi đến khả năng vận dụng óc sáng tạo xã hội rõ ràng như

thế. Con người phải dành nhiều tâm lực phát minh và vốn

liếng quan trọng như vốn liếng đã dành để đầu tư cho quân sự

hoặc cho những hiệu năng kỹ thuật. Nếu con người để mình

bị chìm ngập bởi những lo toan khác mà không thấy trước kịp

thời tính cấp bách của những vấn đề xã hội mới, chúng sẽ trở

nên quá trầm trọng đến nỗi không thể có được một giải pháp

hòa bình nào.

Những phương tiện truyền thông xã hội

20. Trong số những biến chuyển lớn của thời đại chúng

ta, chúng tôi không thể quên nhấn mạnh vai trò ngày càng

tăng của các phương tiện truyền thông xã hội cũng như ảnh

hưởng của chúng trên việc làm biến đổi tâm thức, tri thức,

những cơ cấu tổ chức và chính xã hội. Chắc chắn chúng có

những mặt tích cực: nhờ chúng, thông tin trên toàn thế giới

đến được chúng ta hầu như tức thì, tạo nên một sự liên lạc

vượt không gian và những yếu tố hiệp nhất mọi người; việc

đào tạo và văn hóa có thể được lan rộng ra hơn nữa. Tuy

nhiên, từ chỗ đó, những phương tiện truyền thông xã hội này,

qua chính hoạt động của mình, được coi như là một thứ quyền

lực mới. Do vậy làm sao lại không đặt vấn đề về những người

thực sự nắm quyền lực này, về những mục tiêu mà họ đeo

đuổi và những phương tiện mà họ sử dụng, và sau hết về sự

ảnh hưởng của những hoạt động đó, đối với sự thực thi những

quyền tự do cá nhân trong lãnh vực chính trị và ý thức hệ

cũng như trong đời sống xã hội, kinh tế và văn hóa ? Những

người nắm giữ quyền lực này có một trách nhiệm luân lý

nặng nề đối với sự thật của những thông tin mà họ phải phổ

biến, đối với những nhu cầu và những phản ứng mà họ làm

phát sinh, đối với những giá trị nà họ đề nghị. Hơn thế nữa,

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 408

với truyền hình, bắt đầu có một phương cách hiểu biết độc

đáo và một nền văn minh mới: nền văn minh của hình ảnh.

Một cách tự nhiên, các nhà cầm quyền không thể

không biết ảnh hưởng gia tăng của các phương tiện truyền

thông xã hội cũng như những thuận lợi hoặc nguy cơ do việc

sử dụng chúng mang lại cho sự phát triển và tiến bộ đích thực

của xã hội dân sự.

Do đó việc của họ là phải thực thi chức năng phục vụ

cho công ích một cách tích cực, bằng cách cổ võ cho những

sáng kiến xây dựng và làm chỗ dựa cho các cá nhân và tập

thể hoạt động nhằm bảo vệ những giá trị nền tảng của nhân

vị và cộng đồng con người. Đàng khác, họ cố gắng tránh,

bằng những biện pháp hợp thời, không để lan truyền những gì

tự bản chất làm hại tới gia sản chung gồm những giá trị làm

nền tảng cho tiến bộ đích thực của xã hội.157

Môi trường

21. Trong khi tầm nhìn của con người thay đổi bắt đầu từ

những hình ảnh mà người ta chọn lựa cho họ, thì một sự biến

đổi khác xuất hiện, là hậu quả, cũng bi thảm và bất ngờ, của

sinh hoạt con người. Con người bất ngờ ý thức điều đó: do

khai thác thiên nhiên một cách thiếu suy nghĩ, nguy cơ xảy

đến là thiên nhiên bị hủy hoại và đến lượt con người trở thành

nạn nhân của sự hủy hoại đó. Không chỉ môi trường vật chất

trở thành một mối đe dọa thường xuyên: ô nhiễm và rác rưởi,

những căn bệnh mới, sức mạnh hủy diệt tuyệt đối; nhưng

chính con người cũng không còn làm chủ được khung cảnh

sống như thế, nó tạo ra cho ngày mai một môi trường mà có lẽ

157 Vat.II, décret Inter mirifica (4.12.1963), 12

BÁT THẬP NIÊN 409

họ sẽ không chịu đựng nổi. Đó là vấn đề xã hội lớn quan hệ

đến toàn thể gia đình nhân loại.

Người kitô hữu phải quay về với chính những nhận thức

mới này để rồi, cùng với những người khác, đảm trách một

vận mệnh mà từ này đã trở thành của chung.

Những khát vọng căn bản và các trào lưu tư

tưởng

22. Đang khi tiến bộ khoa học và kỹ thuật tiếp tục làm

đảo lộn những khung cảnh sống của con người, những cách

thức để hiểu biết, lao động, hưởng thụ và quan hệ luôn luôn

tỏ lộ, trong những bối cảnh mới, một khát vọng kép ngày

càng mãnh liệt hơn trong quá trình thông tin và giáo dục của

con người phát triển: đó là khát vọng về công bằng, khát

vọng được tham gia; hai hình thức của phẩm giá con người và

của quyền tự do con người.

Những ưu điểm và giới hạn của những công

nhận pháp lý

23. Để ghi khắc khát vọng kép này vào trong những sự

kiện và cơ cấu, người ta đã thực hiện được nhiều bước tiến

trong việc tuyên bố về quyền con người cũng như trong việc

tìm kiếm những hiệp ước quốc tế nhằm áp dụng những quyền

này.158 Tuy nhiên, những sự kỳ thị – về chủng tộc, văn hóa,

tôn giáo, chính trị…- vẫn luôn nảy sinh. Thực ra, nhân quyền

vẫn còn rất thường bị coi thường, nếu không muốn nói bị

nhạo báng, hoặc sự tôn trọng nhân quyền chỉ ở mức hình

thức. Trong nhiều trường hợp, pháp luật đi chậm hơn hoàn

158 PT, 15tt.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 410

cảnh thực tế. Nó tuy cần thiết nhưng không đủ để xây dựng

những mối quan hệ đích thực công bằng và bình đẳng. Tin

mừng, khi dạy chúng ta về đức ái, cũng dạy ta biết tôn trọng

một cách đặc biệt những người nghèo và tình cảnh đặc thù

của họ trong xã hội: những người được ưu đãi nhất phải từ

chối một số quyền lợi nào đó của mình, để dành của cải của

họ một cách rộng rãi hơn để phục vụ những người khác. Thật

ra, nếu như bên kia những quy tắc pháp lý mà thiếu một tinh

thần sâu sắc biết tôn trọng và phục vụ tha nhân, thì ngay cả

quyền bình đẳng trước pháp luật có thể sẽ chỉ là cái cớ che

đậy những kỳ thị hiển nhiên, những sự bóc lột tiếp tục, một

thái độ khinh người trong thực tế. Nếu không có một nền giáo

dục đổi mới hướng đến tinh thần liên đới, thì sự khẳng định

quá độ quyền bình đẳng có thể làm phát sinh một thứ chủ

nghĩa cá nhân mà mỗi người sẽ đòi hỏi quyền lợi của mình

mà không ý thức trách nhiệm đến công ích.

Trong lãnh vực này, ai mà lại không thấy phần đóng

góp quan trọng của tư tưởng kitô giáo, có thể làm thỏa mãn

những khát vọng được yêu thương của con người ? “Tình yêu

con người, là giá trị đầu tiên của trật tự trần thế”, bảo đảm

những điều kiện cho nền hòa bình, xã hội cũng như quốc tế,

bằng cách xác định tình huynh đệ phổ quát của chúng ta.159

Xã hội chính trị

24. Niềm khát vọng hai mặt hướng về sự bình đẳng và

sự tham gia tìm cách phát triển một kiểu xã hội dân chủ. Có

nhiều mô hình khác nhau được đề nghị, một số được thử

nghiệm; không một mô hình nào thỏa mãn được một cách

hoàn toàn và việc tìm kiếm vẫn mở ra cho các các khuynh

hướng ý thức hệ và các khuynh hướng thực hành kitô hữu có

159 Phaolô VI, Sứ điệp ngày thế giới hòa bình (14.11.1970)

BÁT THẬP NIÊN 411

bổn phận tham gia vào cuộc tìm kiếm này và vào việc tổ chức

cũng như vào cuộc sống xã hội chính trị. Là một hữu thể xã

hội, con người xây dựng vận mệnh của mình trong một chuỗi

cộng đoàn đặc thù hướng đến, như để thực hiện chính mình

và như một điều kiện thiết yếu cho sự phát triển mình, một

cộng đoàn rộng lớn hơn, có tính chất phổ quát, đó là xã hội

chính trị. Mọi hoạt động riêng biệt phải được đặt lại trong

cộng đoàn mở rộng này và qua đó, mang chiều kích của công

ích.160

Do đó, việc giáo dục đời sống trong xã hội là điều kiện

quan trọng: ngoài việc thông tin về các quyền của mỗi người,

còn phải nhắc đến tính chất quan hệ hỗ tương cần thiết của

những quyền đó : nhìn nhận những bổn phận đối với người

khác; ý nghĩa và sự thực hành bổn phận chính chúng bị điều

kiện hóa bởi sự làm chủ bản thân, bởi sự nhận lấy trách

nhiệm và những hạn chế đặt ra cho việc thi hành quyền tự do

của cá nhân cũng như tập thể.

25. Hành động chính trị có cần phải lưu ý rằng trước hết

điều quan trọng là hành động chứ không phải là ý thức hệ

phải dựa trên một dự án của xã hội, một dự án liên kết chặt

chẽ với các phương tiện cụ thể của nó và với những gì nó gợi

ý, được nuôi dưỡng bởi một quan niệm toàn diện về ơn gọi

con người và những biểu hiện xã hội khác nhau của nó. Cả

nhà nước lẫn các đảng phải chính trị chỉ nhằm lợi ích cục bộ,

không được tìm cách áp đặt một ý thức hệ nào, qua những

phương tiện nhằm đạt đến một nền độc tài về mặt tư tưởng, là

thứ độc tài sâu xa nhất. Chính các đoàn thể văn hóa và tôn

giáo – trên cơ sở quyền tự do gia nhập – có nghĩa vụ, một cách

vô vị lợi và bằng những phương thế riêng, phát triển trong

160 GS, 74

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 412

toàn xã hội những xác tín tối hậu về bản chất, nguồn gốc và

cứu cánh của con người và xã hội.

Trong lãnh vực này, ta nên nhắc lại nguyên tắc đã được

Công đồng Vat.II tuyên bố: “Chân lý chỉ áp đặt bằng chính

sức mạnh của chân lý, sức mạnh ấy ăn sâu vào tâm hồn một

cách vừa êm dịu vừa mãnh liệt.”161

Các ý thức hệ và quyền tự do con người

26. Vì thế, người kitô hữu muốn sống đức tin trong một

hoạt động chính trị được quan niệm như một sự phục vụ, nếu

không muốn tự mâu thuẫn, thì không thể tham gia vào những

hệ tư tưởng đối kháng với đức tin tự căn hoặc trên những

điểm cốt yếu cũng như với quan niệm của họ về con người,

như: ý thức hệ Macxit, chủ nghĩa duy vật vô thần, biện chứng

pháp về bạo lực của nó, cách thức nó thủ tiêu quyền tự do cá

nhân trong tập thể, đồng thời chối bỏ tính siêu việt nơi con

người và lịch sử, cá nhân và tập thể; ý thức hệ tư bản tự do,

đề cao quyền tự do cá nhân bằng nhiều cách như : xóa bỏ

mọi giới hạn, thúc giục con người chỉ lo tìm kiếm lợi nhuận và

quyền lực, và coi những liên đới xã hội như là hệ quả ít nhiều

mang tính tự động của sáng kiến cá nhân chứ không phải như

là một mục tiêu và là một tiêu chuẩn chính yếu đánh giá việc

tổ chức xã hội.

27. Có cần thiết phải nhấn mạnh đến sự mập mờ khả dĩ

của tất cả các ý thức hệ xã hội ? Có lúc chúng kể hành động

chính trị hay xã hội chỉ đơn thuần là sự áp dụng một ý tưởng

trừu tượng, thuần túy lý thuyết; có lúc biến tư tưởng thành

một khí cụ thuần túy phục vụ cho hành động như phương thế

đơn thuần của một chiến lược. Trong cả hai trường hợp, phải

161 Dignitatis humanae,1

BÁT THẬP NIÊN 413

chăng đều có nguy cơ con người bị tha hóa ? Đức tin kitô giáo

nằm ở trên và đôi khi đối nghịch với các ý thức hệ trong mức

độ đức tin nhìn nhận Thiên Chúa, là Đấng siêu việt và tạo

hóa, Đấng đòi hỏi con người cư xử như hữu thể tự do và có

trách nhiệm xuyên qua mọi mức độ của tạo thành.

28. Một nguy hiểm nữa, đó là khi tham gia hoàn toàn

vào một ý thức hệ không đặt nền tảng trên một học thuyết

đích thực và có hệ thống mà núp bóng dưới đó xem đó như là

lời giải thích cuối cùng và đầy đủ cho mọi sự và như thế tự

dựng lên một ngẫu tượng mới, một thứ thần tượng mà người ta

chấp nhận, đôi khi không ý thức, tính cách độc tài và cưỡng

bức. Và người ta nghĩ đã tìm thấy ở đó một sự biện minh cho

hành động thậm chí mang tính bạo lực của mình, một sự đáp

ứng cho lòng ước muốn phục vụ quảng đại của mình; Lòng

ước muốn vẫn còn đó, nhưng đã bị hòa tan trong một ý thức

hệ – cả khi ý thức hệ đề nghị một con đường để giải phóng

con người – cuối cùng rồi cũng biến họ thành nô lệ cho nó.

29. Nếu như người ta đã có thể nói rằng ngày nay các ý

thức hệ đang thụt lùi, thì có lẽ đây là lúc thuận tiện để con

người cởi mở trước sự siêu việt cụ thể của kitô giáo. Cũng có

thể có xu hướng nghiêng về một thứ chủ nghĩa tân thực

chứng: Kỹ thuật được toàn cầu hóa như một hình thức thống

trị sinh hoạt con người, như một thể thức hiện hữu tràn ngập

khắp nơi, thậm chí như một ngôn ngữ, nhưng vấn đề ý nghĩa

của nó lại không được thực sự đặt ra.

Các trào lưu lịch sử

30. Nhưng bên ngoài chủ nghĩa thực chứng này, một

chủ nghĩa giản lược con người thành chỉ còn một chiều kích –

dẫu cho chiều kích đó ngày nay là quan trọng – và như thế đã

làm tổn thương con người, người kitô hữu, trong hành động

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 414

của mình, gặp thấy những trào lưu lịch sử cụ thể, xuất thân từ

những ý thức hệ nhưng đàng khác lại khác với những ý thức

hệ đó. Đấng tiền nhiệm khả kính của tôi, đức Gioan 23, trong

thông điệp PT, đã cho thấy rằng có thể có sự phân biệt đó:

“Chúng ta không thể đồng hóa những triết thuyết sai lầm về

bản chất, nguồn gốc và cứu cánh của thế giới và con người,

với những trào lưu lịch sử đặt nền tảng trên một mục tiêu kinh

tế, xã hội, văn hóa hay chính trị, cả khi chúng xuất thân từ

những triết thuyết này và vẫn còn lấy nguồn hứng từ đó. Một

học thuyết, một khi đã được ấn định và công thức hóa, không

còn thay đổi nữa, trong khi đó các trào lưu nhắm đối tượng là

những điều kiện cụ thể và thay đổi của cuộc sống lại không bị

ảnh ưởng rộng rãi bởi tiến bộ. Vả chăng, trong mức độ mà

các trào lưu này hòa hợp với những nguyên lý đúng đắn của

lý trí và đáp ứng những khát vọng chính đáng của con người,

ai có thể từ chối không công nhận nơi chúng những nhân tố

tích cực và đáng khen ?”162

Sự hấp dẫn của những trào lưu xã hội chủ nghĩa

31. Ngày nay nhiều kitô hữu bị thu hút bởi trào lưu xã

hội chủ nghĩa và những chuyển biến khác nhau của chúng.

Họ cố nhận ra ở nơi đó có một số khát vọng mà họ đang

mang trong chính mình nhân danh đức tin của họ. Họ cảm

thấy được đưa vào trong trào lưu lịch sử này và muốn ra tay

hành động. Ngoài ra, tùy theo từng lục địa và văn hóa, trào

lưu lịch sử này mang những hình thức khác nhau dưới cùng

một từ ngữ, cả khi nó đã và vẫn còn, trong nhiều trường hợp

được gợi hứng bởi những ý thức hệ không tương hợp với đức

tin. Cần có biện phân thận trọng. Những kitô hữu bị hấp dẫn

bởi chủ nghĩa xã hội rất thường có khuynh hường lý tưởng

162 PT, 159

BÁT THẬP NIÊN 415

hóa nó bằng những từ ngữ rất tổng quát: ước muốn công

bằng, liên đới và bình đẳng. Họ không thừa nhận các cưỡng

chế của các phong trào lịch sử xã hội này, chúng vẫn còn bị

ảnh hưởng bởi những ý thức nguyên thủy. Giữa các mức độ

diễn tả khác nhau của chủ nghĩa xã hội – một khát vọng

quảng đại và một sự tìm kiếm một xã hội công bằng hơn,

những trào lưu lịch sử có một tổ chức và một mục tiêu chính

trị, một ý thức hệ có tham vọng đưa ra một quan điểm toàn

diện và tự trị về con người, – ta cần thiết lập những sự phân

biệt hầu sẽ hướng dẫn cho những chọn lựa cụ thể. Tuy nhiên,

không nên để những phân biệt này hướng đến việc xem

những mức độ đó như hoàn toàn tách biệt và độc lập nhau.

Cần phải nhận ra mối quan hệ giữa các mức độ tùy theo hoàn

cảnh và sự sáng suốt này sẽ giúp cho các kitô hữu xem xét

mức độ dấn thân khả dĩ trên con đường này và đồng thời bảo

toàn các giá trị, đặc biệt về tự do, trách nhiệm và cởi mở tinh

thần, bảo đảm cho sự triển nở toàn của con người.

Tiến hóa lịch sử của thuyết Macxit

32. Có những kitô hữu tự hỏi khi thuyết Macxit có

những chuyển biến theo dòng lịch sử, có được phép thực hiện

hành động tiếp cận cụ thể không ? Quả thật ta nhận thấy một

sự bùng nổ nào đó của thuyết Macxit, là thuyết cho đến nay

đã được trình bày như một ý thức hệ thống nhất, khoa học lý

giải được toàn thể về con người và thế giới trong quá trình

phát triển của nó, và là thuyết vô thần. Ở bên ngoài sự đối

đầu ý thức hệ chính thức tách rời các nhà bảo vệ chủ nghĩa

Mác Lê khác nhau trong đường lối giải thích tư tưởng của

những nhà sáng lập, và những đối lập công khai giữa các hệ

thống chính trị dựa trên tư tưởng đó ngày nay, một số người

nêu lên những phân biệt về các mức độ khác nhau trong việc

thể hiện thuyết Macxit.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 416

33. Đối với những người này, thuyết Macxit chủ yếu

vẫn là một thực hành chủ động của công cuộc đấu tranh giai

cấp. Kinh nghiệm về những tương quan mãnh liệt luôn hiện

thực và không ngừng nảy sinh nhằm thống trị và bóc lột giữa

người với người, họ giản lược thuyết Macxit chỉ còn là cuộc

đấu tranh, đôi khi không có dự định nào khác, cuộc đấu tranh

phải theo đuổi và thậm chí được khơi lên thường xuyên. Đối

với những người khác, trước hết, nó là sự hành xử tập thể một

quyền lực chính trị và kinh tế dưới sự lãnh đạo của một đảng

duy nhất, đảng này muốn mình và chỉ một mình là biểu hiệu

và là bảo đảm của lợi ích mọi người, tước bỏ nơi cá nhân và

tập thể khác mọi khả năng sáng kiến và lựa chọn. Ở một mức

độ thứ ba, thuyết Macxit – dù có nắm quyền lực hay không –

liên hệ tới một ý thức hệ xã hội chủ nghĩa đặt nền tảng trên

thuyết duy vật lịch sử và chối bỏ mọi sự siêu việt. Sau cùng,

nó còn xuất hiện dưới một hình thức nhẹ nhàng hơn, hấp dẫn

hơn đối với con người hiện đại: như một hoạt động khoa học,

như một phương pháp chặt chẽ để khảo sát thực tại xã hội và

chính trị, như dây liên kết hợp lý và đã trải qua thực nghiệm

lịch sử giữa tri thức lý thuyết và sự thực hành biến đổi cách

mạng. Dù cho kiểu phân tích này coi trọng một số mặt nào đó

của thực tại và coi nhẹ những mặt khác, và giải thích chúng

theo ý thức hệ, tuy vậy nó cũng tạo ra cho một số người, với

một dụng cụ làm việc, một xác tín trước khi hành động, với

tham vọng đọc ra được, bằng một cách thức “khoa học”,

những động lực của tiến hóa xã hội.

34. Nếu như xuyên qua thuyết Macxit, như nó đã được

sống cách cụ thể, mà người ta có thể phân biệt được những

mặt khác nhau này và những vấn đề chúng đặt ra cho người

kitô hữu suy nghĩ và hành động, thì cũng sẽ là ảo tưởng và

nguy hiểm nếu từ đó mà quên đi dây liên kết chúng từ trong

cội rễ thâm sâu, nếu chấp nhận những yếu tố của phân tích

BÁT THẬP NIÊN 417

Macxit mà không nhận ra tương quan của chúng với ý thức

hệ, nếu đi vào thực hành đấu tranh giai cấp và cách giải thích

Macxit của nó mà lại không nhận thấy kiểu xã hội độc tài và

hung bạo mà quá trình này đang hướng tới.

Ý thức hệ tư bản tự do

35. Mặt khác, người ta đang chứng kiến một cuộc đổi

mới ý thức hệ tư bản tự do. Trào lưu này tự khẳng định mình,

hoặc nhân danh tính hiệu quả kinh tế, hoặc để bảo vệ cá nhân

chống lại những ảnh hưởng ngày càng lan tràn của các tổ

chức, hoặc để chống lại các khuynh hướng độc tài về quyền

lực chính trị. Và, chắc chắn là sáng kiến cá nhân phải được

duy trì và phát huy. Nhưng phải chăng các kitô hữu đang dấn

thân trên con đường này đến lượt họ có khuynh hướng lý

tưởng hóa chủ nghĩa tư bản tự do, như một tiếng kêu đòi

quyền tự do ? Họ muốn một mô hình mới phù hợp hơn với

điều kiện hiện nay, nhưng lại dễ dàng quên rằng, trong chính

cội rễ của nó, chủ nghĩa tự do triết học là một khẳng định sai

lầm về sự độc lập của cá nhân, trong hành động, động cơ, sự

thực hành quyền tự do của nó. Nói thế có nghĩa là, đối với ý

thức hệ tự do ta cũng phải có sự biện phân thận trọng.

Sự biện phân kitô

36. Trong khi đổi mới cách tiếp cận với những ý thức hệ

khác nhau, ở những nguồn mạch đức tin của mình và ở trong

giáo huấn của Giáo hội, kitô hữu sẽ múc những nguyên tắc

và tiêu chuẩn hợp thời để tránh không để mình bị cuốn hút và

rồi khép kín lại trong một hệ thống mà những hạn chế và sự

độc tài của nó có nguy cơ tỏ ra hiện thực đối với họ một khi

đã quá trễ, nếu như họ không nhìn chúng từ trong gốc rễ của

chúng. Kitô hữu, vượt qua mọi hệ thống mà không từ bỏ dấn

thân cụ thể phục vụ anh em mình, sẽ khẳng định, ngay giữa

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 418

những chọn lựa của mình, những đóng góp đặc thù của kitô

giáo nhằm một biến đổi tích cực cho xã hội.163

Sự phục hưng của những không tưởng

(Renaissance des utopies)

37. Ngày nay, những nhược điểm của các ý thức hệ

được thấy rõ hơn qua các hệ thống cụ thể mà chúng cố thể

hiện mình. Chủ nghĩa xã hội quan liêu, chủ nghĩa tư bản thống

trị bằng kỹ thuật, dân chủ độc tài tất cả đều gặp khó khăn

trong việc giải quyết vấn đề lớn lao là làm sao con người có

thể chung sống với nhau trong công bằng và bình đẳng. Làm

thế nào họ có thể thực sự thoát khỏi chủ nghĩa duy vật, duy

kỷ hoặc sự ràng buộc luôn song hành với họ như là định

mệnh ? một sự tranh cãi nổi lên đây đó khắp nơi, là dấu hiệu

của một bất ổn sâu sắc đến từ đâu đang khi người ta chứng

kiến sự phục hưng của cái gọi là “không tưởng” (les utopies),

có tham vọng, hơn cả các ý thức hệ, giải quyết các vấn đề

chính trị của các xã hội hiện đại ? Quả là nguy hiểm nếu ta

hiểu nó không đúng, nại đến không tưởng này (l’utopie)

thường như là một cái cớ thuận tiện cho những ai muốn tránh

né những việc bổn phận cụ thể để ẩn mình trong một thế giới

tưởng tượng. Sống trong một tương lai giả định là một cớ vắng

mặt dễ dãi hầu xua đẩy những trách nhiệm tức thời. Tuy

nhiên cần phải hiểu nó cho đúng, hình thức phê phán xã hội

hiện hữu này luôn khơi gợi sự tưởng tượng hướng về tương

lai, vừa để nhận thức trong hiện tại cái khả thể không được

biết tới được khắc tại đó, vừa để hướng tới một tương lai mới

như thế nó nâng đỡ động lực xã hội bằng cách tạo niềm tin

tưởng vào các sức mạnh sáng tạo của trí tuệ và tâm hồn con

người, và, nếu như nó không chối bỏ bất kỳ sự tiến bộ nào,

163 GS, 11

BÁT THẬP NIÊN 419

nó cũng có thể gặp gỡ tiếng gọi kitô giáo. Thánh Thần của

Chúa, Đấng tác động con người đã được đổi mới trong Đức

Kitô, không ngừng đẩy sang chân trời (là nơi trí thông minh

của con người tìm được sự yên ổn) và những giới hạn (là nơi

hành động của con người sẵn sàng khép kín lại) một sức

mạnh cư ngụ nơi con người kêu gọi họ vượt trên mọi hệ

thống và mọi ý thức hệ. Giữa lòng thế giới vẫn có mầu nhiệm

con người, khám phá mình là con cái Thiên Chúa giữa dòng

một quá trình lịch sử và tâm lý. Quá trình trong đó những ràng

buộc và tự do, sức nặng của tội lỗi và hơi thở của Thánh Thần

đấu tranh nhau và xen lẫn.

Sự năng động của đức tin kitô giáo chiến thắng những

tính toán hẹp hòi của lòng ích kỷ. Được linh hoạt bởi sức

mạnh của Thánh Thần Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ con

người, được đức Cậy nâng đỡ, kitô hữu dấn thân xây dựng

một thành đô nhân loại, hòa bình, công chính và huynh đệ, là

một lễ phẩm đẹp lòng Thiên Chúa.164 Quả thật “sự trông đợi

đất mới không được làm suy giảm, trái lại phải kích thích nỗ

lực phát triển trái đất này, nơi mà thân thể gia đình nhân loại

mới đang tăng trưởng và tiên báo một vài hình ảnh của thời

đại mới”.165

Chất vấn các khoa học nhân văn

38. Trong một thế giới bị thống trị bởi biến chuyển khoa

học và kỹ thuật như thế, biến chuyển có nguy cơ dẫn đến một

thứ chủ nghĩa thực chứng mới, một nỗi hoài nghi khác nẩy

sinh, nó cốt yếu hơn. Sau khi đã ra sức chế ngự thiên nhiên

một cách hữu lý, giờ đây con người thấy chính mình bị nhốt

kín trong chính lý tính của mình, đến lượt mình con người trở

164 cf. Rm 15,16

165 GS, 39.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 420

nên đối tượng cho khoa học. Các “khoa học nhân văn ngày

nay có một bước tiến bộ đáng kể. Một đàng, chúng khảo hạch

các quyết định khó khăn và triệt để các kiến thức được con

người chấp nhận cho đến nay, bởi đối với chúng những kiến

thức này có vẻ hoặc là quá thường nghiệm hoặc quá là lý

thuyết. Đàng khác, sự bó buộc về phương pháp luận cũng như

tính tiên thiên (a priori) thuộc hệ ý thức rất thường xuyên đưa

chúng đến chỗ cô lập, qua những hoàn cảnh khác nhau, một

số mặt của con người, và tuy thế lại cho chúng một lời giải

thích với tham vọng là một lời giải thích phổ quát, hoặc ít là

một sự suy diễn hướng tới tổng thể khởi đi từ một quan điểm

thuần lượng tính hay hiện tượng luận. Sự giản lược “khoa học”

này để lộ ra một tham vọng nguy hiểm. Coi trọng một khía

cạnh nào đó trong khi phân tích là bóp méo con người và,

dưới những biểu hiện của một quá trình khoa học, làm cho

không thể hiểu được con người trong tổng thể của nó.

39. Không được ít lưu tâm đến hành động mà các “khoa

học nhân văn” có thể gợi ra, trong khi soạn thảo những mô

hình xã hội mà người ta muốn đem áp dụng sau đó như những

kiểu mẫu cư xử đã qua thử nghiệm “khoa học”. Như thế con

người có thể trở thành đối tượng của những thao túng, chúng

định hướng những ước muốn và nhu cầu của con người, thay

đổi thái độ ứng xử của họ và thậm chí thay đổi cả hệ thống

giá trị của họ. Đó chắc chắn là một mối nguy trầm trọng cho

các xã hội tương lai và cho chính con người. Bởi lẽ nếu mọi

người đều thỏa thuận cùng xây dựng một xã hội mới phục vụ

cho con người, thì còn phải biết đó là con người nào.

40. Sự ngờ vực của các khoa học nhân văn đụng chạm

tới những kitô hữu hơn những người khác, nhưng họ không

chịu thua. Bởi lẽ, như chính chúng tôi đã viết trong thông điệp

PP, chính nơi đó Giáo hội đóng góp cách đặc biệt cho các nền

văn minh: “Hiệp thông vào những khát vọng tốt lành của con

BÁT THẬP NIÊN 421

người và đau khổ thấy họ không được thỏa mãn, Giáo hội ước

mong giúp đỡ họ triển nở cách sung mãn, và đây là lý do tại

sao Giáo hội đề nghị với con người điều mà Giáo hội thực sự

có, một cái nhìn toàn diện về con người và nhân loại”166 vậy

Giáo hội có phải tranh cãi với các khoa học nhân văn về cách

tiến hành của chúng và tố cáo tham vọng của chúng ? Cũng

như đối với các khoa học tự nhiên, Giáo hội tin tưởng sự

nghiên cứu này và mời gọi các kitô hữu hãy có mặt tích cực ở

đó167. Được khuấy động bởi cùng một đòi hỏi khoa học và

ước muốn biết con người hơn nữa, nhưng đồng thời lại được

đức tin soi sáng, những kitô hữu đang miệt mài với các khoa

học nhân văn sẽ khai mở một cuộc đối thoại, hứa hẹn nhiều

kết quả giữa Giáo hội và lãnh vực của những khám phá mới

mẻ này. Hẳn là, mỗi ngành “khoa học”, trong tính cách đặc

thù của nó, chỉ có thể nắm được một khía cạnh riêng biệt

nhưng đúng đắn, của con người; Tính toàn diện và ý nghĩa thì

vượt quá tầm của nó. Nhưng bên trong những giới hạn này,

các khoa học nhân văn bảo đảm một nhiệm vụ tích cực mà

Giáo hội sẵn sàng công nhận. Chúng thậm chí có thể mở rộng

những viễn ảnh của tự do con người một cách rộng rãi hơn

những cương tỏa đã biết cho phép nhìn thấy. Chúng cũng có

thể giúp đỡ nền luân lý xã hội kitô giáo, nền luân lý hẳn là sẽ

thấy phạm vi của mình hạn chế khi muốn đề nghị một số mô

hình xã hội nào đó, trong khi nhiệm vụ phê bình và vượt lên

của luân lý đó sẽ được củng cố bằng cách chứng tỏ tính chất

tương đối của những lối xử thế và những giá trị mà xã hội nào

đó đưa ra những giá trị dứt khoát và gắn liền với bản tính con

người. Là điều kiện vừa cần thiết vừa không đủ cho một sự

khám phá hơn nữa về con người, các khoa học này là một thứ

ngôn ngữ ngày càng phức tạp, nhưng mở rộng, hơn là thỏa

166 PP, 13

167 GS, 36

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 422

mãn được mầu nhiệm của tâm hồn con người, và không mang

lại giải đáp đầy đủ và dứt khoát cho ước muốn từ nơi sâu

thẳm nhất của con người.

Tính mập mờ của sự tiến bộ

41. Biết rõ con người hơn sẽ giúp ta phê bình và khai

sáng tốt hơn một khái niệm căn bản ở tầng nền của các xã hội

hiện đại, vừa như là động cơ, vừa như là kích thước và như là

mục đích: sự tiến bộ. Kể từ thế kỷ 19, những xã hội Tây

phương và nhiều xã hội khác liên hệ đã đặt hy vọng vào một

sự tiến bộ không ngừng được đổi mới, vô hạn. Đối với họ sự

tiến bộ này dường như là nỗ lực giải phóng con người khỏi

những bó buộc của thiên nhiên và những ràng buộc xã hội;

những cái từ trước đến nay là điều kiện và thước đo tự do con

người. Được lan truyền qua những phương tiện thông tin hiện

đại và nhờ sự thúc đẩy của nhu cầu hiểu biết và hưởng thụ

rộng lớn hơn, sự tiến bộ trở thành một ý thức hệ có mặt ở

khắp mọi nơi. Tuy nhiên, ngày nay nổi lên một hoài nghi về

giá trị và về sự kết thúc của nó. Cuộc tìm kiếm khắc nghiệt sự

tiến bộ đó, cuộc tiến bộ thoắt biến mỗi khi người ta tưởng

rằng đã chinh phục được nó, có ý nghĩa gì ? Sự tiến bộ không

được chế ngự vẫn còn làm ta chưa thỏa. Hẳn là người ta đã tố

giác đúng đắn những giới hạn và cả những tác hại của sự tăng

trưởng kinh tế chỉ quan tâm đến số lượng, và người ta mong

cũng sẽ đạt được những mục tiêu về phương diện phẩm chất.

Phẩm chất và sự thật của những tương quan con người, mức

độ tham gia và gánh trách nhiệm không kém ý nghĩa và quan

trọng đối với sự hình thành xã hội hơn số lượng và sự đa dạng

của những của cải được sản xuất và tiêu thụ. Vượt lên trên cái

cám dỗ muốn đo lường mọi sự theo tiêu chuẩn hiệu năng và

trao đổi, theo tương quan sức mạnh và lợi nhuận, con người

ngày nay muốn thay thế dần dần những tiêu chuẩn dựa vào số

BÁT THẬP NIÊN 423

lượng bằng cường độ truyền thông, chuyển thông sự hiểu biết

và văn hóa, sự phục vụ lẫn nhau, chung nhau bàn tính vì một

nhiệm vụ chung. Phải chăng sự tiến bộ đích thực là tiến bộ

trong sự phát triển ý thức luân lý, là ý thức sẽ dẫn đưa con

người đến chỗ đảm nhận lấy tình liên đới mở rộng và cởi mở

tâm hồn với tha nhân và với Chúa ? Đối với một kitô hữu, sự

tiến bộ tất yếu phải gặp gỡ thực tại cánh chung là mầu nhiệm

sự chết: Sự chết của Đức Kitô và sự sống lại của Người, sự

thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, giúp con người định vị sự tự

do sáng tạo và nhận thức của mình, trong mọi tiến bộ chân

thực, trong niềm hy vọng duy nhất không làm thất vọng.168

NGƯỜI KITÔ HỮU ĐỨNG TRƯỚC NHỮNG VẤN ĐỀ MỚI

Tính năng động của giáo huấn về xã hội của

Giáo hội

42. Đứng trước nhiều vấn đề mới như thế, Giáo hội nỗ

lực suy nghĩ để trả lời, trong lãnh vực riêng của mình, cho

mong đợi của con người. Nếu như ngày nay những vấn đề tỏ

ra độc đáo bởi tầm mức lớn lao và cấp bách của chúng, con

người có thiếu trang bị để mà giải quyết chúng không ? Với

tất cả tính năng động của mình, giáo huấn về xã hội của Giáo

hội đồng hành với con người trong cuộc tìm kiếm của họ. Nếu

giáo huấn không can thiệp nhằm chính thức hóa một cơ cấu

có sẵn hoặc đưa ra một mô hình tiền chế, thì Giáo hội cũng

không giới hạn mình trong việc chỉ nhắc nhớ đôi ba nguyên

tắc tổng quát nhưng triển khai giáo huấn bằng một suy tư liên

hệ tới những tình thế thay đổi của thế giới này, dưới sự thúc

đẩy của Tin mừng như một nguồn mạch canh tân, từ khi mà sứ

168 cf. Rm 5,6.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 424

điệp của Tin mừng được đón nhận trong toàn thể và trong

những đòi hỏi của nó. Giáo huấn cũng được triển khai với sự

nhạy cảm riêng của Giáo hội, một Giáo hội nổi bật bởi ý

muốn vô tư muốn phục vụ và quan tâm đến những người

nghèo hèn nhất. Sau cùng, giáo huấn cũng múc từ vốn kinh

nghiệm phong phú tích lũy qua nhiều thế kỷ, vốn đó cho

phép Giáo hội đảm nhận, giữa bao mối bận tâm thường xuyên

liên tục, một cuộc canh tân mạnh dạn và sáng tạo mà hoàn

cảnh hiện tại của thế giới đòi hỏi.

Cho một nền công bình lớn lao hơn

43. Cần phải thiết lập một sự công bằng hơn nữa trong

việc phân phối của cải, trong nội bộ các cộng đoàn quốc gia

cũng như trên bình diện quốc tế. Trong những trao đổi quốc

tế, phải vượt qua những tương quan quyền lực để đạt đến

những thỏa thuận sau khi bàn bạc chung nhằm đến lợi ích cho

mọi người. Thật vậy, những tương quan dựa trên quyền lực đã

chưa bao giờ thiết lập được sự công bằng bền vững và đích

thực, ngay cả khi, vào một số thời kỳ, sự hóan chuyển các vị

trí thường có thể giúp tìm thấy những điều kiện dễ dàng hơn

để đối thoại. Vả lại việc sử dụng quyền lực sẽ gây nên tình

thế phía đối nghịch cũng đối phó lại bằng quyền lực, từ đó

một bầu khí đấu tranh nổ ra tạo nên những tình trạng bạo lực

và lạm dụng tối đa.169 Nhưng, như chúng tôi đã luôn khẳng

định, nghĩa vụ quan trọng nhất của mọi nền công bình là làm

sao cho phép mỗi đất nước phát huy được đường lối phát triển

của riêng mình, trong bối cảnh của sự hợp tác loại trừ mọi não

trạng muốn thống trị, về kinh tế cũng như chính trị. Chắc hẳn

là các vấn đề được nêu lên hết sức phức tạp trong tình thế

phụ thuộc lẫn nhau chằng chịt như hiện nay; còn phải có can

169 PP,56tt

BÁT THẬP NIÊN 425

đảm xem xét lại các mối tương quan giữa các quốc gia, đặc

biệt là sự phân phối sản phẩm trên thế giới, cơ cấu trao đổi,

kiểm soát lợi nhuận, hệ thống tiền tệ – không quên những

hoạt động tỏ tình liên đới về mặt nhân đạo – đặt vấn đề về

các mô hình tăng trưởng của các nước giàu, thay đổi não trạng

để cởi mở cho việc ưu tiên đối với nghĩa vụ quốc tế, đổi mới

các tổ chức quốc tế để đạt hiệu quả cao hơn.

44. Dưới sự thúc đẩy của các hệ thống sản xuất mới,

biên giới các quốc gia vỡ tung và người ta thấy xuất hiện

những quyền lực kinh tế mới, những công ty đa quốc gia, mà

nhờ sự tập trung và uyển chuyển về các phương tiện chúng

có thể điều hành những chiến lược độc lập mà đa số là độc

lập đối với những quyền lực chính trị quốc gia, và do đó thiếu

sự kiểm soát theo quan điểm công ích. Bằng cách mở rộng

hoạt động, những tổ chức tư nhân này có thể tiến tới một hình

thức lạm dụng mới về thống trị kinh tế trên lãnh vực xã hội,

văn hóa và thậm chí chính trị. Sự tập trung quá mức các

phương tiện và quyền lực, mà đức Piô XI đã từng tố cáo trong

dịp kỷ niệm 40 thông điệp RN, mang một bộ mặt cụ thể mới.

Biến đổi tâm hồn và cơ cấu

45. Ngày nay, con người khát khao được giải phóng

khỏi nhu cầu và sự lệ thuộc. Nhưng sự giải phóng này khởi

đầu bằng sự tự do nội tâm mà họ phải tìm lại trước của cải và

quyền lực của họ; họ chỉ đạt được điều đó bằng một tình yêu

siêu việt đối với con người, và bởi đó bằng một thái độ sẵn

sàng phục vụ thực sự. Nếu không, như người ta thấy quá rõ

những ý thức hệ cách mạng nhất cuối cùng rồi cũng chỉ đi tới

chỗ đổi chủ mà thôi: đến lượt họ nắm quyền lực, những ông

chủ mới lại tạo ra quanh mình những đặc ân, hạn chế các

quyền tự do và thiết lập nên những hình thức bất công khác.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 426

Vì thế, từ chỗ đó mà những người tự hỏi về chính mô

hình xã hội. Tham vọng của nhiều quốc gia, trong cuộc cạnh

tranh làm họ trở thành đối thủ của nhau và lôi kéo họ theo, là

làm sao đạt được sức mạnh về kỹ thuật, kinh tế, quân sự; tham

vọng đó đối kháng với việc đặt các cơ cấu cho đúng, trong đó

nhịp độ tiến triển sẽ được điều chỉnh phù hợp với một nền

công bình lớn hơn nữa, thay vì nhấn mạnh tới những chênh

lệch và sống trong một bầu khí ngờ vực và đấu tranh không

ngừng làm hại đến nền hòa bình.

Ý nghĩa kitô giáo của hoạt động chính trị

46. Phải chăng chính ở chỗ này xuất hiện mỗi giới hạn

căn bản của kinh tế ? Hoạt động kinh tế, rất cần thiết, nếu

nhằm phục vụ con người, có thể “là nguồn mạch của tình

huynh đệ và là dấu chỉ của sự quan phòng”170; nó là cơ hội

cho những trao đổi cụ thể giữa con người với nhau, cho quyền

con người công nhận, cho những phục vụ được thành hiện

thực, cho phẩm giá được khẳng định trong lao động. Thường

là mảnh đất cho sự đối đấu và thống trị, nó có thể mở ra

những cuộc đối thoại và khơi dậy sự hợp tác. Tuy nhiên, nó

có nguy cơ hút hết cách thái quá sức lực và tự do171. Đó là lý

do cho sự cần thiết phải vượt qua kinh tế để đi tới chính trị.

Hẳn là, dưới thuật ngữ “chính trị” có thể có nhiều lẫn lộn và

cần phải được làm sáng tỏ – nhưng mỗi người cảm thấy rằng,

trong các lãnh vực xã hội và kinh tế – ở bình diện quốc gia

cũng như quốc tế, – quyết định cuối cùng dành cho quyền lực

chính trị.

Quyền lực chính trị, là mối liên kết tự nhiên và cần thiết

để bảo đảm cho sự cố kết của cơ cấu xã hội, phải có mục

170 ibid., 86

171 GS,63

BÁT THẬP NIÊN 427

đích thực hiện công ích. Nó tác động, trong sự tôn trọng

những quyền tự do hợp pháp của các cá nhân, gia đình và tập

thể phụ túc, để tạo nên một cách hiệu quả và vì lợi ích của

mọi người, những điều kiện được thỉnh cầu nhằm đạt tới điều

thiện hảo đích thực và đầy đủ cho con người, bao gồm cả

cùng đích thiêng liêng của họ. Quyền lực chính trị hoạt động

trong những giới hạn về thẩm quyền của nó, những giới hạn

có thể khác nhau tùy từng nước và từng dân tộc. Nó luôn can

thiệp với thái độ bận tâm đến sự công bằng và hiến thân cho

công ích, là khả năng tối hậu của nó. Tuy vậy, nó không tước

khỏi các cá nhân và tổ chức trung gian môi trường hoạt động

của họ và trách nhiệm riêng của họ, trách nhiệm đưa họ đến

chỗ góp phần thực thi công ích này. Quả thật, “nội dung của

mọi sự can thiệp về xã hội là giúp đỡ các thành phần của cơ

cấu xã hội, chứ không phải tiêu diệt họ cũng không nuốt

chửng họ”172

Theo ơn gọi riêng của mình, quyền lực chính trị phải

biết tách mình ra khỏi những tư lợi đặc thù để chu toàn những

trách nhiệm của mình đối với lợi ích của tất cả mọi người,

bằng cách vượt qua cả các biên giới quốc gia. Có thái độ

nghiêm túc đối với chính trị trên mức độ khác nhau của nó –

cấp địa phương miền, quốc gia và quốc tế – đó là khẳng định

nghĩa vụ của con người, của mọi người, phải nhận thức thực

tế cụ thể và giá trị của sự tự do lựa chọn, đã được trao ban cho

họ, đường lối cùng nhau thực thi lợi ích của thành phố, của

quốc gia, của nhân loại. Chính trị là một phương thức rất đòi

hỏi – nhưng không duy nhất – để sống đời dấn thân kitô hữu

nhằm phục vụ tha nhân. Hẳn là không giải quyết hết mọi vấn

đề, chính trị cố gắng mang lại những giải pháp cho những

quan hệ giữa người với người. Lãnh vực rộng lớn và bao quát

172 QA, 87; cf. MM, số 51-53 và 111-114; GS 74-76

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 428

của nó không phải là độc tôn. Một thái độ phổ biến muốn

biến chính trị thành tuyệt đối sẽ là một mối nguy nghiêm

trọng. Hoàn toàn thừa nhận tính độc lập của thực tại chính trị,

các kitô hữu được khuyến khích đi vào hoạt động chính trị sẽ

nỗ lực tìm cách liên kết những chọn lựa của mình với Tin

mừng và, giữa lòng xã hội đa nguyên hợp pháp, nỗ lực làm

chứng, cách cá nhân và tập thể, cho đức tin nghiêm túc của

mình bằng cách phục vụ hữu hiệu và vô vị lợi con người.

Chia sẻ các trách nhiệm

47. Việc chuyển qua chiều kích chính trị cũng biểu lộ

một yêu cầu hiện nay của con người: những trách nhiệm và

quyết định cần phải được chia sẻ rộng rãi hơn nữa. Khát vọng

hợp pháp đó càng được bày tỏ khi trình độ văn hoá lên cao,

khi cảm thức về tự do gia tăng và khi con người nhận thức

được rõ hơn làm sao mà, trong một thế giới hướng mở về một

tương lai bấp bênh, những chọn lựa của ngày hôm nay đã chi

phối đến cuộc sống ngày mai. Trong thông điệp MM173, đức

Gioan 23 đã nhấn mạnh rất nhiều rằng đảm lấy trách nhiệm là

một đòi hỏi căn bản của bản tính con người, là một thực hành

cụ thể quyền tự do của họ, là một con đường cho họ phát

triển, và ngài cũng đã chỉ cách thế để sự tham dự vào trách

nhiệm đó phải được bảo đảm trong đời sống kinh tế và nhất là

trong xí nghiệp174. Ngày nay lãnh vực có rộng lớn hơn nó mở

rộng ra trên phạm vi xã hội và chính trị, nơi đó người ta phải

xây dựng và tăng cường việc chia sẻ cách hợp lý trong những

trách nhiệm và quyết định. Hẳn là những chọn lựa được đưa

ra cho việc quyết định ngày càng phức tạp; những cân nhắc

phải được xét đến thì vô số, phải thấy trước những hệ quả có

173 MM, 74-84

174 GS, 68

BÁT THẬP NIÊN 429

thể xảy ra, thậm chí các khoa học mới phải nỗ lực làm sáng tỏ

quyền tự do trong những thời điểm quan trọng. Tuy vậy, dù

cho đôi khi những giới hạn bắt buộc phải có, những trở ngại

đó không được làm chậm đi việc phổ biến rộng hơn cho sự

tham gia vào cuộc chuẩn bị cho quyết định, cũng như vào

chính những lựa chọn và việc áp dụng chúng. Để làm đối

trọng cho trào lưu kỹ thuật trị (technocratie) đang lớn dần, phải

nghĩ ra những hình thức dân chủ hiện đại, không những chỉ

trao cho con người khả năng được thông tin và phát biểu,

nhưng còn dẫn con người vào gánh vác trách nhiệm chung.

Như thế các tập thể con người dần dần biến đổi thành những

cộng đoàn của sự chia sẻ và sự sống. Như thế quyền tự do rất

thường được khẳng định như một thứ yêu sách đòi tự trị đối

kháng với tự do của người khác, được triển nở trong thực tại

nhân bản sâu sắc nhất: Dấn thân và ra sức để xây dựng tình

liên đới tích cực và cụ thể. Nhưng, đối với kitô hữu, chính

trong khi từ bỏ mình trong Chúa, là Đấng giải phóng mình, mà

con người tìm thấy một tự do đích thực, được đổi mới trong cái

chết và phục sinh của Chúa Kitô.

LỜI KÊU GỌI HÀNH ĐỘNG

Cần thiết phải dấn thân hoạt động

48. Trong lãnh vực xã hội, Giáo hội đã luôn luôn muốn

bảo đảm được một nhiệm vụ kép: soi sáng các tâm hồn để

giúp họ khám phá chân lý và phân định con đường phải theo

giữa muôn vàn học thuyết khác nhau đang thúc bách họ; hành

động và phổ biến những năng lực của Tin mừng, với mối ưu

tư thực sự muốn phục vụ và mang lại hiệu quả. Phải chăng

chính vì muốn trung thành với ý muốn đó mà Giáo hội đã sai

phái trong sứ mạng tông đồ, giữa những người lao động, các

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 430

linh mục chia sẻ trọn vẹn đời sống công nhân, giữa môi

trường đó các ngài muốn làm chứng cho mối ưu tư và việc

nghiên cứu của Giáo hội.

Một lần nữa và một cách cấp bách chúng tôi gởi đến

hết thảy mọi kitô hữu lời kêu gọi hãy hành động. Trong thông

điệp PP, chúng tôi đã nhắc lại rằng mọi người hãy bắt tay

hành động: “Người giáo dân phải đảm nhận như phận vụ của

riêng mình công cuộc canh tân trên bình diện trần thế; nếu

vai trò của giáo quyền là giáo huấn và giải thích một cách

đích thực các nguyên tắc luân lý phải theo trong lãnh vực này,

thì phần của họ, nhờ bởi những sáng kiến tự do của họ và

không thụ động chờ đợi lệnh truyền và chỉ dẫn, là đưa tinh

thần kitô giáo vào trong cách suy nghĩ cũng như những tập

tục, luật lệ cũng như cơ cấu của những cộng đồng họ đang

sống”175. Ước gì mỗi người hãy tự kiểm thảo để nhìn lại

những gì mình đã làm cho đến hôm nay và những gì còn phải

làm. Không thể cho là đủ nếu chỉ nhắc lại các nguyên tắc,

khẳng định những chủ tâm, nhấn mạnh đến những bất công

đáng phẫn nộ và thốt ra lời tố cáo mang tính ngôn sứ: Những

lời ấy chỉ có trọng lượng thực sự khi chúng có đi kèm theo đối

với mỗi người một ý thức mãnh liệt hơn về chính trách nhiệm

của mình và một hành động hữu hiệu. Rất là dễ đổ trách

nhiệm cho người khác về những bất công, nếu như người ta

không thấy được chính mình cũng có phần trách nhiệm đó và

đồng thời trước tiên cần phải hoán cải chính mình như thế

nào. Sự khiêm tốn nền tảng này sẽ cất bỏ khỏi hành động

mọi sự cứng nhắc và mọi kiểu bè phái; nó cũng tránh được

nỗi chán nản khi đối diện với một nhiệm vụ xem ra quá sức.

Niềm hy vọng kitô giáo đến với kitô hữu trước hết từ chỗ họ

biết rằng Chúa cùng hành động với chúng ta trong thế giới,

175 PP, 81

BÁT THẬP NIÊN 431

tiếp tục trong thân mình của Người là Giáo hội – và qua Giáo

hội trong toàn thể nhân loại – công trình cứu chuộc đã thực

hiện trên thập giá và đã chiến thắng hiển hách vào buổi sáng

ngày phục sinh.176 Niềm hy vọng đó cũng phát xuất từ chỗ

kitô hữu biết rằng những người khác đang làm việc để thực

hiện những hoạt động tập trung xây dựng công lý và hòa

bình; bởi lẽ giữa một vẻ bề ngoài dửng dưng, trong tâm hồn

của mỗi người đều có một ước muốn sống huynh đệ và một

khát khao nền công lý và hòa bình: điều cần được triển nở.

49. Như thế, trong những hoàn cảnh, phận vụ, tổ chức

đa dạng như vậy, mỗi người phải xác định trách nhiệm của

mình và phân định, trong lương tâm, đâu là những hoạt động

mình được mời gọi tham dự. Lẫn vào trong những trào lưu

khác nhau, bên cạnh những khát vọng hợp pháp, có lẻn vào

những xu hướng mập mờ hơn, kitô hữu phải cảnh giác lựa

chọn và tránh dấn mình vào sự hợp tác vô điều kiện và

nghịch với những nguyên tắc của nhân bản thuyết đích thực,

cả khi nhân danh tình liên đới thực sự gây cảm kích. Quả thực,

nếu họ muốn giữ một vai trò đặc biệt như một kitô hữu sống

thuận theo đức tin của mình – vai trò mà chính những người

không tin chờ đợi nơi họ – họ phải chú tâm, ngay giữa lúc

đang tích cực dấn thân, làm sáng tỏ những động lực của mình,

phải tỉnh thức vượt qua những mục tiêu được theo đuổi trong

một nhãn giới thấu tình đạt lý hơn, làm tránh được mối nguy

hiểm của chủ nghĩa đặc thù ích kỷ và của chủ nghĩa độc tài

áp bức.

Tính đa nguyên trong các lập trường

50. Trong những hoàn cảnh cụ thể và liên hệ đến tình

liên đới mà mỗi người sống, phải công nhận là có rất nhiều

176 cf. Mt 28,20; Pl 2,8-11

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 432

chọn lựa khả dĩ và hợp pháp khác nhau. Cùng một đức tin kitô

có thể dẫn đến những dấn thân khác nhau177. Giáo hội mời

gọi mọi kitô hữu lãnh lấy một nhiệm vụ kép vừa làm sinh

động, vừa đổi mới hầu làm cho những cơ cấu được tiến bộ để

chúng thích ứng với những nhu cầu đích thực hiện tại. Đối với

các kitô hữu thoạt tiên có vẻ như đối nghịch nhau do có

những chọn lựa khác nhau, Giáo hội yêu cầu họ cố gắng hiểu

nhau về quan điểm và động cơ của người kia; một sự kiểm

điểm trung thực những cách thế của người kia và sự ngay

thẳng của cách thế xử sự sẽ gợi ra nơi mỗi người một thái độ

bác ái sâu sắc hơn, thái độ đó, dù vẫn hoàn toàn nhận biết sự

khác biệt, vẫn tin tưởng hơn vào những khả năng đồng quy và

hiệp nhất. “Những gì nối kết các tín hữu thật ra còn mạnh hơn

những gì chia rẽ họ”178

Quả thực, nhiều người, được chen vào trong những cơ

cấu và những điều kiện sống hiện đại, bị giới hạn do những

tập quán tư duy của họ, bởi những chức vụ của họ, khi không

phải do việc bảo vệ quyền lợi vật chất. Nhiều người khác

cảm nhận rất sâu sắc những sự liên đới, của giai cấp và nền

văn hóa, đến nỗi họ đến chia sẻ toàn vẹn mọi phán đoán và

lựa chọn của môi trường của họ179. Mỗi người sẽ phải tự mình

cảm nghiệm trong tâm hồn và làm nổi bật lên sự tự do đích

thực theo Chúa Kitô này, một sự tự do cởi mở ra với hoàn vũ

ngay cả giữa những điều kiện rất đặc thù.

51. Cũng chính nơi đây mà các tổ chức kitô giáo dưới

các hình thức khác nhau, có trách nhiệm hành động tập thể.

Không thay thế các thiết chế xã hội dân sự, các tổ chức này

theo cách thế của chúng và bằng cách vượt qua nét đặc thù

177 GS, 43

178 ibid.,93

179 cf. 1Tx 5,21

BÁT THẬP NIÊN 433

của mình phải tỏ bày những đòi hỏi cụ thể của đức tin kitô

giáo trong sự biến đổi xã hội cách đúng đắn và cần thiết180.

Ngày nay hơn bao giờ hết Lời Thiên Chúa chỉ có thể

được loan báo và lắng nghe khi có kèm theo chứng từ của sự

thúc đẩy của Chúa Thánh thần, hoạt động trong công việc của

kitô hữu nhằm phục vụ anh em mình, đến mức liều cuộc sống

và tương lai của họ.

52. Kính thưa đức Hồng Y, trong khi gởi đến ngài những

suy tư này, hẳn là chúng tôi ý thức mình đã không đề cập đến

tất cả mọi vấn đề xã hội đặt ra hôm nay cho con người của

đức tin và cho những người thiện chí. Những tuyên bố gần

đây của chúng tôi – được bổ túc bởi thông điệp của ngài nhân

dịp khởi đầu thập kỷ thứ hai của phát triển – liên quan đặc biệt

đến nghĩa vụ của toàn thể các quốc gia trong vấn đề trọng đại

là sự phát triển cách trọn vẹn và liên đới của con người –

chúng vẫn còn nằm trong tâm trí. Chúng tôi gởi đến ngài

tuyên ngôn này với ý định cung cấp cho hội đồng về giáo dân

và uỷ ban giáo hoàng về “Công lý và hòa bình” những yếu tố

mới, đồng thời như một sự khích lệ để các ngài theo đuổi

phận vụ của mình là “thức tỉnh Dân Thiên Chúa để họ hiểu

biết đầy đủ vai trò của mình trong thời buổi hiện nay” và

“thăng tiến việc tông đồ trên bình diện quốc te”181

Kính thưa đức hồng Y, chính trong những tâm tình đó

mà chúng tôi ban cho quý ngài phép lành tòa thánh.

Từ Vatican, 14.5.1971

Phaolô VI.

180 cf. LG; sắc lệnh Apostolicam actuositatem số 5

181 cf. Phaolô VI, Motu proprio “catholicam Christi Ecclesiam”

(6.1.1967)