Đức Lêô XIII – Đức Gioan Phaolô II

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI

ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE

2000

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 434

Giới thiệu thông điệp

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI

Redemtoris Hominis

ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II

Liên hệ đến vấn đề Nhân Quyền.

04/03/1979

GIỚI THIỆU

Thời kỳ lịch sử khai mở các thông điệp Mater et

Magistra (1961) và Pacem in terris (1963), đạt tới cao điểm với

các văn kiện công đồng lớn như Gaudium et Spes và

Dignitatis humanae (1965); cùng với chúng người ta có thể

gộp cả thông điệp Populorum progressio (1967), và thời kỳ ấy

kết thúc vào 1971 với các thông điệp Octogesima adveniens

và Justitia in mundo, hai văn kiện sau cùng này bộc lộ khá rõ

vẻ nhập nhằng, có cảm hứng rõ khác.

Thời kỳ sau đó hiếm muộn những diễn văn trọng thể

của Huấn Quyền: đó là thời gian gạn lọc “tại thực địa”, với

mọi ý nghĩa, nhiều quan điểm khác nhau, kể cả những dấn

thân trong hành động, và đôi khi bằng những định thức lý

thuyết. Tại Châu Mỹ LaTinh, đặc biệt hơn, những xung đột do

cách suy diễn sẽ làm sáng tỏ mối quan hệ giữa Giáo Hội và

thế giới, Tin Mừng và những biến chuyển xã hội. Thượng Hội

Đồng thế giới 1974 cố gằng tìm hiểu những căng thẳng này

có mặt khắp trong toàn Giáo Hội, và Đức Phaolô VI đã dựa

trên suy tư tập thể đó để khuyến dụ toàn thể cộng đồng Công

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 435

Giáo hướng tới sự truyền giảng Tin Mừng (Tin Mừng hóa)

đích thực trong thế giới ngày nay (tông huấn Evangelii

Nuntiandi, 8/12/1975). Nhưng còn phải đợi đến ngày lên ngôi

của Giáo hoàng Wojtyla, ngày 22/10/1978, một thời kỳ mới

huy hoàng trở lại mở ra đối với các diễn từ xã hội của Giáo

Hội, trước một thế giới đã đổi mới.

***

Thời đại đã đổi thay. Tiếp theo 30 năm của hoà bình và

thịnh vượng sau Thế Chiến Thứ Hai, cũng là thời kỳ cho ngày

càng nhiều quốc gia tự khẳng định mình trong bản hoà âm các

quốc gia trên thế giới và thực hiện cuộc phát triển của mình

với vài tín hiệu hy vọng thành công, là đến thời kỳ của những

năm cay đắng nhất: những thất bại về kinh tế, bất hoàn chính

trị, thù nghịch và chia rẽ ở tầm mức quốc tế, cứng rắn trong

thái độ cư xử lẫn nhau, dường như mọi sự đều phát sinh một

cảm giác như bất lực và lẫn xen sự cam chịu trước cái tệ hại

nhất. Một số người để tìm giải đáp cho những khó khăn của

mọi phía đã trở nên tin cậy vào những lời biện minh to tát,

bấp bênh giữa các quốc gia. Khắp nơi trên thế giới xuất hiện

trở lại những nỗ lực trang bị vũ khí; các chính phủ cũng như

công luận chọn cho mình vị thế an toàn; những cuộc xung đột

địa phương chỗ này chỗ kia cho ta cảm tưởng như chúng được

nuôi dưỡng, chăm chút, thay thế cho việc kiểm tra chất lượng

dự phòng quân bị của các phe chủ chốt; chính với vũ khí trên

tay, với những hệ thống do thám luôn sẵn sàng báo động mà

các bên hằng cảnh giác nhau…

Đức Gioan Phaolô, 20 tuổi vào năm 1940. Là con cái

của một dân tộc đã từ lâu bị từ chối như không hiện hữu về

chính trị “bộ phận Ba Lan” kéo dài từ 1795 – 1918), Ngài cùng

với dân tộc phải chịu nỗi đau khổ và nhục nhã vì cuộc xâm

chiếm mới. Người Đức ở phía Tây và người Nga ở phía Đông,

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 436

chính thức bắt đầu cuộc Thế Chiến thứ hai. Tại Liên Hiệp

Quốc, New York, 2/10/1979, Ngài gợi lại, nói lâu về “những

kinh nghiệm đau thương” “những khổ đau của hàng triệu

người”, đó thể như là cái giá phải trả thay cho cuộc chiến

đáng lẽ đã có giữa mọi phe chống đối nhau. Ngài nhắc tới

Auschwitz, trại hủy diệt tập trung, là “một trong những nơi đau

khổ nhất và ngập đầy những khinh miệt xúc phạm con người

và những quyền căn bản của con người”. Ngài cũng khơi lại

ý thức kinh nghiệm của nhân loại thời kỳ đó: “chiến tranh,

trong ý nghĩa đệ nhất và cơ bản của nó, cốt yếu nảy sinh và

chín muồi ở những nơi nào mà quyền bất khả chuyển nhượng

của con người bị xâm phạm”. Ngài ca ngợi bản tuyên ngôn

quốc tế nhân quyền được liên Hiệp Quốc chấp nhận

10/12/1948, như “một cột mốc ngàn dặm được cắm trên con

đường dài và khó khăn của loài người”. 40 năm sau cuộc xâm

chiếm Ba Lan, Đức Giáo hoàng Wojtyla đã khẩn xin các vị đại

biểu của Liên Hiệp Quốc: các Chính phủ và Nhà Nước trên

toàn thế giới đã hiểu rằng, nếu như họ không muốn tấn công,

và tiêu diệt lẫn nhau, họ phải đoàn kết lại: mà con đường đích

thực, con đường cơ bản dẫn đưa tới đó phải đi qua mỗi một

con người, qua việc xác định, qua sự nhìn nhận và qua sự tôn

trọng những quyền không thể chuyển nhượng của nhân vị và

của cộng đồng các dân tộc.

***

Việc nại đến phẩm giá hoặc các quyền cơ bản nhất của

nhân vị chắc hẳn không phải là chuyện mới mẻ trong Giáo

Hội. Nếu như thực sự Giáo Hội đã không bao giờ lấy quan

niệm phóng khoáng về quyền con người được xây dựng ở

Châu Au, và được chế định công khai qua tuyên ngôn cách

mạng 1789 ở Pháp, làm của mình, thì chính vì muốn tôn trọng

phẩm giá con người mà Đức Lêô XIII đã nhắc tới sự kiện đó

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 437

(Rerum Novarum 32); chính vì liên hệ đến quyền con người

mà Đức Piô XI đã kết án chủ nghĩa cộng sản vô thần (Divini

redemptoris 27-28). Chính vì dựa trên quyền con người, một

điều xa lạ với chủ nghĩa tập thể, mà Ngài kết án chủ nghĩa

quốc gia và đặt chủ nghĩa sắc tộc (Mit brennender Sorge 37),

và 4 năm sau, 1941, Đức Piô XI đã viện dẫn đến chính những

quyền cá nhân của con người khi nói tới những nguyên tắc

nền tảng của đời sống xã hội (Radio – Message 21) chúng ta

đã biết Đức Gioan XXIII rồi đến Công đồng sẽ lấy lại và mở

rộng như thế nào diễn văn Công Giáo về quyền con người.

Chúng ta đã chọn đưa vào sưu tập này một bản văn có ý

nghĩa đặc biệt của Đức Gioan Phaolo II, trong số tất cả những

bản văn mà chính Ngài đã dành hết tâm tư để viết về quyền

con người: một trích đoạn của thông điệp đầu tay đời Giáo

Hoàng của Ngài, được công bố ngày 04/ 03/1979, thông điệp:

“Redemptoris Hominis” (Đấng Cứu Chuộc con người). Chúng

ta sẽ nhận thấy trong đó những điểm nhấn chính yếu mà Đức

Giáo hoàng sẽ triển khai qua những diễn văn khác nhau và

trong mọi chuyến viếng thăm khắp nơi trên thế giới: vấn đề

không chỉ là công bố các quyền con người, nhưng còn là phải

đem chúng vào thực tế; đứng trước cám dỗ của con người

muốn đặt niềm tin tưởng vào một Nhà Nước độc tài, người ta

phải khẩn cấp bảo vệ quyền được tự do lương tâm. Ngay từ

phần đầu của Thông điệp, Đức Gioan Phaolô II đã khẳng định

rằng: phẩm giá của nhân vị phải làm sao trở thành một phần

của việc loan báoTin Mừng, cả khi không dùng đến lời nói,

chỉ nhờ vào cách hành xử có ý hướng đến điều đó.

(Redemptoris Hominis 12,2). Trong buổi hội kiến với Hồng Y

đoàn ngày 22 tháng 12 năm 1979, nói về những quyền căn

bản của cá nhân và cộng đồng của các dân tộc, ngài nói

thêm: “Giáo Hội có quyền và có nghĩa vụ can thiệp nếu vẫn

muốn trung thành với sứ mạng của mình…Những chuyến đi

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 438

khác nhau do Chúa Quan Phòng đã cho tôi thực hiện trong

năm nay rõ ràng đã cho thấy chiều kích này, như ơn gọi đầu

tiên của Giáo Hội trong thế giới ngày nay”.

BẢN TÓM LƯỢC

[…]

17. Các quyền con người: “mặt chữ” hay “tinh thần”?

(1-4).

Được thỏa thuận trên lý thuyết, thực tế bị xâm phạm (5-

6).

Cám dỗ về một Nhà Nước độc tài (7).

Một quyền chủ chốt: tự do lương tâm (8-9).

[…]

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 439

Thông điệp

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI

Thông điệp Đấng Cứu Chuộc con người của Đức Giáo

hoàng Gioan-Phaolô II gửi các anh em trong hàng giám mục,

các linh mục, các dòng tu, các tín hữu nam nữ trong Giáo hội

cùng tất cả mọi người thiện chí vào lúc bắt đầu nhiệm kỳ giáo

chủ của người.

Anh em đáng kính, các con thân mến, xin gửi đến anh

em và các con lời chào và chúc lành Tòa thánh.

I. DI SẢN

1. Vào cuối thiên niên kỷ thứ hai.

Đấng Cứu chuộc con người, Đức Giêsu Kitô, là trung

tâm vũ trụ và lịch sử. Tư tưởng và tâm tình tôi hướng cả về

Người trong ngày giờ trọng đại Giáo hội và toàn thể gia đình

loài người hiện nay đang sống. Thật thế, thời buổi Thiên Chúa

trong ý định nhiệm mầu của Ngài đã trao phó cho tôi trách

nhiệm kế tiếp vị tiền nhiệm của tôi là Đức Gioan-Phaolô I,

phục vụ mọi người trong cương vị Tòa thánh Phêrô tại Rôma,

thời buổi này đã gần kề năm 2000 lắm rồi. Thật khó mà nói

được ngay từ bây giờ là năm đó sẽ đánh dấu sự tiến triển của

lịch sử nhân loại như thế nào, và năm đó sẽ ra sao đối với mỗi

dân tộc, quốc gia, xứ sở và lục địa, mặc dù ngay từ bây giờ

người ta cũng đang thử đoán trước một số biến cố. Đối với

Giáo hội, đối với dân Thiên Chúa trải rộng đến tận cùng trái

đất, đã hẳn là một cách không đồng đều, năm đó sẽ là một

năm kỷ niệm lớn. Dẫu có phải tôn trọng tất cả những đính

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 440

chính cần thiết cho đúng hẳn về thời gian, chúng ta từ nay vẫn

khá gần thời điểm phải nhắc chúng ta nhớ và làm mới lại một

cách đặc biệt ý thức về chân lý then chốt của Đức tin đã được

Tin mừng theo thánh Gioan diễn tả ngay từ những dòng đầu:

“Lời đã thành xác phàm và đã lưu trú nơi chúng tôi” 182, và

chỗ khác nữa: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã thí ban

Người Con một, ngõ hầu phàm ai tin vào Người thì khỏi phải

hư đi, nhưng được sống đời đời”183.

Cả chúng ta nữa, chúng ta đang sống một cách nào đó

trong thời gian của một Mùa Vọng mới, một thời gian mong

chờ. “Đã lắm phen cùng nhiều cách, xưa kia Thiên Chúa đã

nói với cha ông nơi các tiên tri. Vào thời sau hết, tức là những

ngày này, Ngài đã nói với chúng ta nơi một Người Con…”184,

nơi Ngôi Lời, Đấng làm người và sinh bởi Đức Trinh nữ Maria.

Ngay trong hành vi cứu chuộc này, lịch sử con người đã đạt

tới đỉnh cao trong ý định yêu thương của Thiên Chúa. Thiên

Chúa đã đi vào trong lịch sử nhân loại và với tư cách là người,

Ngài đã trở nên thành phần của lịch sử, một trong hàng tỷ

thành phần khác tuy vẫn là Đấng Duy Nhất. Nhờ sự Nhập

Thể, Thiên Chúa đã ban cho đời sống con người cái kích

thước mà Ngài vốn đã muốn ban cho con người ngay từ giây

phút đầu tiên, và Ngài đã ban dứt khoát, theo cách mà chỉ một

mình Ngài có thể làm, chiếu theo tình yêu muôn đời và lòng

nhân từ của Ngài, với tất cả sự tự do của Thiên Chúa, Ngài

cũng đã ban với tất cả lòng quảng đại khiến chúng ta, dù

đứng trước tội nguyên tổ và tất cả lịch sử tội lỗi của loài

người, đứng trước những sai lầm của trí khôn, của ý chí và trái

tim con người, vẫn có thể thán phục lặp lại những lời Phụng

182 Ga 1,14

183 Ga 3,16

184 Dt 1,1-2

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 441

vụ: “Ôi tội hồng phúc bởi đã đem lại cho chúng ta một Đấng

Cứu Chuộc lớn lao như thế”185.

2. Những lời đầu tiên của nhiệm kỳ giáo hoàng mới.

Tôi đã đưa tâm tình và tư tưởng tôi lên hướng về Đức

Kitô cứu chuộc ngày 16.10 năm ngoái, sau cuộc bầu cử theo

giáo luật, khi được hỏi: “Ngài có chấp nhận không?”. Lúc đó

tôi đã trả lời: “Vì vâng phục Đức Kitô là Chúa tôi trong đức

tin, vì trông cậy vào Thánh mẫu của Đức Kitô và của Giáo

hội, và mặc dầu có những khó khăn lớn biết bao, tôi xin

nhận”. Câu trả lời ấy, tôi muốn công bố cho tất cả mọi người

không trừ ai được biết để chứng tỏ rằng sứ vụ đã trở nên

nghĩa vụ đặc biệt của tôi tại Tòa Thánh Phêrô này khi tôi

chấp nhận được chọn làm giám mục Rôma và kế vị thánh

tông đồ, cũng là sứ vụ gắn liền với chân lý đầu tiên và căn

bản của mầu nhiệm Nhập thể nhắc đến trên đây.

Tôi đã muốn mang chính những danh hiệu mà Đức

Gioan-Phaolô I, vị tiền nhiệm rất được yêu mến của tôi đã

chọn. Quả vậy, ngày 26.8.1978, khi Người tuyên bố với Đoàn

Hồng Y là Người muốn danh xưng là Gioan Phaolô – một danh

hiệu kép như thế chưa từng có trong lịch sử các giáo hoàng –

thì ngay bấy giờ tôi đã coi đó là một tiếng hùng hồn kêu xin

ơn xuống trên nhiệm kỳ giáo hoàng mới. Vì nhiệm kỳ giáo

hoàng này chỉ kéo dài không tới 30 ngày, cho nên phần tôi

không những là phải tiếp tục nó mà còn như phải bắt đầu lại

từ cùng một khởi điểm. Đó chính là điều tôi muốn xác nhận

bằng việc chọn danh hiệu kép kia. Làm như thế, theo gương

vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, tôi muốn như Người, bày tỏ

lòng yêu mến di sản đặc thù do hai đức Gioan XXIII và

185 Bài mừng vui lên (Exultet) trong đêm phục sinh.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 442

Phaolô VI để lại cho Giáo hội cũng như cho bản thân tôi sẵn

sàng, nhờ ơn Chúa giúp, làm cho di sản ấy sinh hoa kết quả.

Qua hai tên gọi này và hai triều đại này, tôi liên kết với

tất cả truyền thống của Tông Tòa, cùng với các vị tiền nhiệm

của tôi ở thế kỷ XX và các thế kỷ trước và đi ngược dòng thời

gian cho tới những thời xa xôi nhất, tôi cũng tự nối mình hơn

mãi với kích thước của sứ mệnh và thừa tác vụ đã dành cho

Tòa Thánh Phêrô một chỗ đứng hoàn toàn đặc biệt trong Giáo

hội. Đức Gioan XXIII và Đức Phaolô VI làm thành một giai

đoạn mà tôi muốn trực tiếp tham chiếu như một khởi điểm để

từ đó tôi muốn như cùng với Đức Gioan-Phaolô I tiếp tục tiến

về tương lai. Với một lòng tin tưởng vô biên, tôi sẽ lấy sự tuân

phục Chúa Thánh Thần làm chỉ đạo, Thánh Thần mà Đức Kitô

đã hứa và đã gửi đến cho Giáo hội của Người. Quả vậy,

Người đã phán với các tông đồ trước ngày thụ nạn: “Thầy ra

đi thì ích lợi hơn cho anh em, vì nếu Thầy không ra đi thì Đấng

Bàu Chữa không đến với anh em”186. “Khi Đấng Bàu Chữa

đến, Đấng Thầy sẽ gửi đến từ nơi Cha, Thần Khí sự thật từ

Cha xuất ra, Ngài sẽ làm chứng về Thầy. Và các anh em cũng

làm chứng vì từ ban đầu anh em hằng ở với Thầy”187. “Khi

nào Ngài đến, vì là Thần khí sự thật, Ngài sẽ đưa anh em vào

tất cả sự thật; vì không phải tự mình mà Ngài nói, nhưng nghe

gì Ngài sẽ nói ra và Ngài sẽ loan báo cho anh em những điều

sẽ đến”188.

3. Tin tưởng ở Thánh Thần chân lý và tình thương.

Vậy với lòng tin tưởng hoàn toàn ở Thánh Thần chân lý,

tôi bước vào trong di sản phong phú của các nhiệm kỳ giáo

186 Ga 16,7

187 Ga 15,26-27

188 Ga 16,13

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 443

hoàng vừa qua. Di sản này ăn rễ vững chắc vào ý thức Giáo

hội, một cách hoàn toàn mới mẻ và chưa từng thấy từ trước

đến nay, nhờ Công đồng Vat.II do Đức Gioan XXIII đã triệu

tập và bắt đầu rồi do Đức Phaolô VI đã kết thúc một cách tốt

đẹp và kiên trì đem ra thực hành. Tôi đã có thể quan đát thật

gần hoạt động của Đức Phaolô VI. Tôi đã luôn luôn cảm phục

sự khôn ngoan sâu sắc và lòng dũng cảm của Người, cũng

như sự bền chí kiên tâm của Người trong thời Hậu Công đồng

đầy khó khăn của nhiệm kỳ Người. Là kẻ cầm lái Giáo hội,

con thuyền của Thánh Phêrô, Người đã biết giữ sự bình tĩnh

và quân bình được Chúa sắp đặt cả trong những lúc gay go

nhất, khi mà Giáo hội như bị lay chuyển từ bên trong, và

Người đã luôn giữ vững một niềm cậy trông không thể giao

động vào sự đồng tâm nhất trí của Giáo hội, Bởi vì điều mà

Thánh Thần đã dùng Công đồng vừa rồi để nói với Giáo hội

trong thời đại chúng ta, điều mà trong Giáo hội này, Thánh

Thần đang nói với tất cả các Giáo hội189, điều ấy chỉ có thể –

mặc dù đôi lúc có những lo âu – làm cho dân Thiên Chúa ý

thức về sứ mệnh cứu độ của mình mà đồng tâm nhất trí hơn

nữa.

Đức Phaolô VI đã lấy ý thức hiện đại của Giáo hội làm

đề tài đầu tiên cho Thông điệp căn bản của Người, Thông

điệp mở đầu bằng mấy chữ Ecclesiam suam (Giáo hội của

Đức Kitô). Tôi xin được tham chiếu Thông điệp ấy trước hết

và liên hệ với nó trong văn kiện đầu tiên cũng được kể là văn

kiện khai mạc nhiệm kỳ giáo hoàng này. Nhờ Thánh Thần soi

sáng và nâng đỡ Giáo hội ngày càng có một ý thức sâu sắc

hơn về mầu nhiệm thiên linh của mình, về sứ mệnh nhân gian

và cả về những yếu đuối phàm nhân của mình: chính ý thức

ấy là và phải còn là nguồn mạch đầu tiên cho lòng yêu

189 x. Kh 2,7

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 444

thương Giáo hội, cũng như lòng yêu thương lại góp phần củng

cố và đào sâu ý thức ấy. Đức Phaolô VI đã để lại cho chúng

ta bằng chứng một ý thức hết sức sắc bén về Giáo hội. Qua

nhiều hợp tố phức tạp lắm khi đầy day dứt của nhiệm kỳ

Người, Người đã dạy cho chúng ta một tình yêu kiên cường

đối với Giáo hội là “Bí tích, nghĩa là vừa là dấu chỉ vừa là

phương thế cho sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa và cho sự

thống nhất toàn thể loài người”, như Công đồng đã nói190.

4. Tham chiếu Thông điệp đầu tiên của Đức

Phaolô VI.

Chính vì lý do trên mà ý thức Giáo hội phải đi đôi với

một thái độ cởi mở đối với tất cả để mọi người tìm được nơi

Giáo hội “sự phong phú khôn dò của Đức Kitô”191 mà vị tông

đồ các dân ngoại nói tới. Sự cởi mở này, nối kết một cách

hữu cơ với ý thức về bản chất của Giáo hội, với xác tín về

chân lý của Giáo hội như Đức Kitô đã dạy: “Lời anh em nghe

đây không phải là của Thầy nhưng là của Cha, Đấng đã sai

Thầy”192, chính sự cởi mở như thế quy định tính năng động

tông đồ, nghĩa là tính năng động thừa sai của Giáo hội vẫn

tuyên xưng và công bố toàn vẹn tất cả chân lý đã được Đức

Kitô truyền đạt cho. Đồng thời Giáo hội cũng phải thiết lập

cuộc “đối thoại” mà Đức Phaolô VI trong Thông điệp Giáo

hội Đức Kitô đã gọi là “đối thoại cứu độ”, khi vạch rõ từng

phạm vi một trong các phạm vi đối thoại193. Ngày nay khi

tham chiếu văn kiện đó là văn kiện đã xác định chương trình

nhiệm kỳ giáo hoàng của Đức Phaolô VI, tôi không ngừng

190 LG 1; AAS 57, 1965,5.

191 Ep 3,8

192 Ga 14,24

193 Thông điệp ES, AAS 56, 1964, 650 tt.

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 445

cảm tạ Thiên Chúa, bởi vì vị tiền nhiệm lớn này đồng thời

cũng thật là người cha đối với tôi, đã biết bày tỏ cho bên

ngoài, ad extra, khuôn mặt đích thực của Giáo hội, mặc dù đã

có những yếu kém xảy ra trong Giáo hội thời hậu Công đồng.

Nhờ vậy một phần lớn gia đình nhân loại, trong những môi

trường khác nhau của cuộc sống phức tạp, theo như tôi nghĩ,

đã ý thức hơn là mình tuyệt đối cần đến Giáo hội của Đức

Kitô, cần đến sứ vụ và việc phục vụ của Giáo hội. Ý thức ấy

đôi khi đã tỏ ra mạnh mẽ hơn những thái độ phê phán công

kích Giáo hội từ bên trong, ab intra, công kích các thể chế và

cơ cấu của Giáo hội, các thành phần của Giáo hội và hoạt

động của họ. Việc phê phán ngày càng tăng thêm này dĩ

nhiên đã có những nguyên nhân khác nhau, và chúng ta chắc

chắn rằng không phải bao giờ nó cũng thiếu một lòng yêu

mến đích thực đối với Giáo hội. Đã đành nó biểu lộ cùng với

điều này điều nọ khuynh hướng muốn ra khỏi cái gọi là óc

hiếu thắng đã hay được bàn đến trong thời gian Công đồng.

Nhưng nếu quả thật Giáo hội, theo gương Thầy mình là Đấng

“khiêm nhượng trong lòng”194 cũng đặt nền tảng của mình

trên đức khiêm tốn, có tinh thần phê phán đối với tất cả

những gì làm nên tính cách và hoạt động phàm nhân của

mình, luôn nghiêm khắc đối với chính mình, thì những kẻ phê

phán Giáo hội, về phần họ, cũng phải giữ những giới hạn

phải chăng. Bằng không việc phê phán không còn là xây

dựng, không còn tỏ bày chân lý, lòng biết ơn đối với ân sủng

mà chúng ta được chia sẻ một cách chính yếu và đầy đủ trong

Giáo hội và nhờ Giáo hội. Ngoài ra, óc phê phán không nói

lên thái độ phục vụ mà chỉ để lộ ý muốn điều khiển ý kiến

kẻ khác theo ý kiến riêng của mình và ý kiến riêng này lắm

khi lại được công bố một cách quá nhẹ dạ.

194 Mt 11,29

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 446

Chúng ta phải biết ơn Đức Phaolô VI vì người vừa tôn

trọng từng mảnh chân lý trong các ý kiến khác nhau của loài

người, vừa giữ được sự quân bình cần thiết của người lái

tàu195. Giáo hội được giao phó cho tôi hầu như liền sau Người

– thông qua Đức Gioan-Phaolô I – chắc hẳn không thiếu những

khó khăn và căng thẳng bên trong. Nhưng đồng thời Giáo hội

được phòng bị tốt hơn từ bên trong để chống lại những cái

quá đáng của việc tự phê: nói được là Giáo hội sẵn tinh thần

phê phán hơn đối với những thứ phê phán nhẹ dạ, có sức

kháng cự hơn trước những cái “mới lạ”, chín chắn hơn trong

sự cân nhắc, có khả năng hơn để rút ra từ kho tàng vĩnh cửu

của mình “cái mới và cái cũ”196, biết tập trung hơn vào chính

mầu nhiệm mình, và nhờ tất cả những mặt tích cực đó, sẵn

sàng hơn để thi hành sứ mệnh cứu độ mọi người: Thiên Chúa

“muốn cho mọi người được cứu thoát và được nhìn biết sự

thật”197.

195 Ở đây phải lưu ý các văn kiện chính trong thời đại Đức Phaolô

VI. Chính Ngài đã trích dẫn một số các văn kiện đó trong bài giảng

ngày lễ mừng kính trọng thể Thánh Phêrô và Phaolô 1978. Tđ ES: AAS

56, 1964, 609-659; Tông thư investigabiles divitias Christi : AAS 57,

1965, 298-301; Tđ Mysterium fidei : AAS 57, 1965, 753-774; Tđ

Sacerdotalis caelibatus : AAS 59, 1967, 657-696; Sollemnis Professie

Fidei : AAS 60, 1968, 433-445; Tđ Humanae vitae : AAS 60,1968,481-

503; Tông huấn Quinque iam anni : AAS 63, 1971, 97-106; Tông huấn

Evangelica testificatio: AAS, 63, 1971, 487-535; Tông huấn Paterna cum

benevolentia: AAS 67, 1975, 5-23; Tông huấn Gaudete in Domini: AAS

67, 1975, 289-322; Tông huấn Evangelii nuntiandi: AAS 68, 1976, 5-76.

196 Mt 13,52

197 1Tm 2,4

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 447

5. Tập đoàn tính và việc tông đồ.

Trái với mọi vẻ bề ngoài Giáo hội ngày nay hiệp nhất

hơn trong sự hiệp thông phục vụ và trong ý thức tông đồ. Sự

hiệp nhất này xuất phát từ nguyên tắc tập đoàn tính được

Công đồng Vat.II nhắc lại và chính Đức Kitô đã ban cho Đoàn

mười hai tông đồ, đứng đầu là thánh Phêrô, và Người ban lại

liên tục cho Đoàn Giám mục. Đoàn giám mục này không

ngừng gia tăng trên khắp thế giới mà vẫn hiệp nhất với Đấng

kế vị Thánh Phêrô và do Người lãnh đạo. Công đồng không

những đã nhắc lại nguyên tắc tập đoàn này của các giám

mục, mà còn đem lại cho nó một sức sống mãnh liệt, như khi

ước mong thành lập một cơ cấu thường trực, mà Đức Phaolô

VI đã thực hiện, đó là thượng hội đồng các giám mục. Hoạt

động của hội đồng này đã đem lại cho nhiệm kỳ Giáo hoàng

của Người một kích thước mới và hơn nữa đã phản chiếu rõ

ràng ngay từ những ngày đầu tiên trên nhiệm kỳ Đức Gioan-

Phaolô I và trên nhiệm kỳ của kẻ kế vị bất xứng này.

Nguyên tắc tập đoàn đã chứng tỏ là rất hợp thời trong

thời khó khăn hậu Công đồng: Lúc ấy giám mục đoàn đã bày

tỏ sự hiệp nhất với Người kế vị thánh Phêrô, nhất là qua

thượng hội đồng. Lập trường chung và nhất trí của các giám

mục đã góp phần đánh tan những mối nghi ngờ và cũng vạch

ra cho thấy con đường đúng để canh tân Giáo hội trên khắp

thế giới. Quả thế, từ Thượng hội đồng đã phát sinh, bên cạnh

những hoa trái khác, cái sức đẩy thiết yếu hướng về việc

phúc âm hóa; sức đẩy này đã được diễn tả trong Tông Huấn

Evangelii Nuntiandi198 (rao giảng Tin mừng) mà người ta đã

hân hoan đón tiếp như là chương trình canh tân có tính cách

vừa tông đồ, vừa mục vụ. Cũng một đường hướng như thế đã

198 Phaolô VI, EN : AAS 68, 1976, 5-76

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 448

được tiếp tục trong khóa họp thường lệ sau cùng của Thượng

hội đồng một năm trước khi Đức Giáo hoàng Phaolô VI từ

trần. Như mọi người biết, khóa họp đã bàn về việc huấn giáo.

Hiện Tòa thánh còn đang phải tổng hợp những kết quả của

khóa làm việc này và soạn thành những văn kiện chính thức.

Vì chúng ta đang nói tới sự phát triển hiển nhiên từ

những hình thức biểu lộ tập đoàn tính của các giám mục, thì ít

nữa cũng phải nhắc lại quá trình củng cố các hội đồng giám

mục quốc gia trong toàn thể Giáo hội, và những cơ cấu tập

đoàn khác có tính cách quốc tế hay lục địa. Chiếu theo truyền

thống lâu đời của Giáo hội, cũng nên chú ý đến hoạt động

của các hội đồng địa phương. Thật vậy, ý tưởng của Công

đồng như Đức Phaolô VI đã đem ra thực hiện một cách mạch

lạc, là những cơ cấu loại ấy, đã từng được Giáo hội thí nghiệm

từ bao nhiêu thế kỷ, và cả những hình thức cộng tác tập đoàn

khác giữa các giám mục, chẳng hạn như giáo tỉnh, chưa nói tới

riêng mỗi giáo phận, đều hoạt động với ý thức đầy đủ về

chân tính của mình và đồng thời về tính cách độc đáo của

mình trong sự duy nhất của Giáo hội ở khắp thế giới. Cũng

một tinh thần cộng tác và đồng trách nhiệm như thế đang lan

ra giữa các linh mục nữa, bằng chứng là rất nhiều hội đồng

linh mục đã ra đời sau Công đồng. Tinh thần này cũng đã lan

rộng tới các giáo dân, không những xác nhận những tổ chức

tông đồ giáo dân sẵn có mà còn tạo nên những cơ cấu mới

lắm lúc mang một sắc thái khác và một sức bật phi thường.

Ngoài ra, người giáo dân ý thức về trách nhiệm của họ trong

Giáo hội, đã tự nguyện dấn thân cộng tác với các chủ chăn,

với các đại diện các dòng tu, trong khuôn khổ những hội

đồng giáo phận hoặc những hội đồng mục vụ của các giáo xứ

và giáo phận.

Tôi phải nghĩ tới tất cả những điều ấy khi bắt đầu nhiệm

kỳ giáo hoàng của tôi để cảm tạ Thiên Chúa, để thiết tha

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 449

khuyến khích tất cả các anh em chị em tôi và cũng để nhắc lại

với lòng biết ơn sâu đậm công trình của Công đồng Vat.II và

của các vị tiền nhiệm của tôi đã tạo nên đà tiến mới cho đời

sống Giáo hội, một đà tiến mạnh mẽ hơn hẳn những triệu

chứng ngờ vực, đổ vỡ, khủng hoảng.

6. Đường đưa tới sự hiệp nhất các Kitô hữu.

Và phải nói thế nào về tất cả những sáng kiến do chiều

hướng đại kết mới đã dấy lên ? Đức Gioan XXIII, vị Giáo chủ

không ai quên được, một cách sáng sủa như Tin mừng, đã đặt

vấn đề hiệp nhất các Kitô hữu như một hậu quả tất nhiên của

ý muốn của chính Chúa Giêsu Kitô, vị thầy chúng ta, đã

khẳng định nhiều lần và diễn tả một cách đặc biệt trong lời

cầu nguyện tại phòng tiệc ly, trước ngày Người chịu chết:

“Lạy Cha… con cầu xin … để tất cả nên một”199. Công đồng

Vat.II đáp lại đòi hỏi này dưới một hình thức gọn ghẽ là sắc

lệnh về Đại kết. Đức Giáo hoàng Phaolô VI dựa vào sinh hoạt

của văn phòng hiệp nhất Kitô hữu đã đi những bước đầu khó

khăn trên con đường thực hiện sự hiệp nhất ấy. Chúng ta đã

đi khá xa chưa trên con đường này ? Không dám đưa ra một

câu trả lời chi tiết, chúng ta có thể nói rằng chúng ta đã có

những bước tiến thực sự và những bước tiến quan trọng. Và

một điều chắc chắn là chúng ta đã làm một cách kiên trì và

mạch lạc, và còn có những đại diện của các Giáo hội và các

cộng đoàn Kitô hữu khác cùng đi với chúng ta nữa. Chúng ta

thành thật biết ơn họ. Một điều chắc chắn nữa là trong hoàn

cảnh lịch sử hiện nay của Kitô giáo và của thế giới, không

thấy có khả năng nào khác để hoàn thành sứ mạng phổ quát

của Giáo hội trong những gì liên quan tới các vấn đề đại kết,

ngoài khả năng tìm kiếm một cách ngay thẳng, bền chí, khiêm

199 Ga 17,21; x. Ga 17,11.22-23; Ga 10,16; Lc 9,49-50.54

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 450

tốn và can đảm nữa, những con đường xích lại gần nhau và

hiệp nhất, như Đức Phaolô VI đã đích thân nêu gương cho

chúng ta. Vậy chúng ta đã tìm kiếm sự hiệp nhất mà không

nản lòng trước những khó khăn có thể xẩy đến hoặc chồng

chất dọc theo con đường này; bằng không, chúng ta sẽ không

trung thành với Lời Đức Kitô, chúng ta sẽ không thi hành lời

di chúc của Người. Có được phép liều lĩnh như vậy không ?

Có những kẻ vì gặp phải những khó khăn hay vì đánh

giá các kết quả của những công việc đại kết đầu tiên là tiêu

cực, có lẽ đã muồn trở gót. Có người còn nói ra cả ý kiến là

những nỗ lực kia có hại cho sự nghiệp Tin mừng, dẫn tới một

sự đổ vỡ mới trong Giáo hội, tạo nên tình trạng lù mù tư tưởng

trong các vấn đề đức tin và đạo đức, cuối cùng đưa tới một

chủ trương dửng dưng tiêu biểu. Các phát ngôn viên của

những ý kiến như thế có nói ra những lo ngại âu cũng là điều

hay, nhưng ở đây cũng thế, cần phải giữ những giới hạn đúng

đắn. Hiển nhiên là giai đoạn mới này trong đời sống Giáo hội

đòi hỏi chúng ta phải có một đức tin đặc biệt có ý thức, sâu

sắc và có tinh thần trách nhiệm. Sinh hoạt đại kết đích thực có

nghĩa là cởi mở, xích lại gần, sẵn sằng đối thoại, cùng nhau

tìm kiếm chân lý theo nghĩa hoàn toàn Phúc âm và Kitô giáo;

nhưng nó không hề có nghĩa và không thể có nghĩa là người

ta từ bỏ hoặc làm phương hại cách nào tới những kho tàng

chân lý của Thiên Chúa vẫn không ngừng được Giáo hội

tuyên xưng và giảng dạy. Với tất cả những ai, bất kỳ vì lý do

nào, muốn khuyên can Giáo hội đừng tìm đến một sự hiệp

nhất tất cả mọi Kitô hữu, ta cần phải nhắc lại một lần nữa:

chúng ta có được phép không làm việc đó chăng ? Mặc dù tất

cả sự yếu đuối loài người, tất cả mọi thiếu sót chồng chất

trong các thế kỷ qua – chúng ta có được phép không tin tưởng

vào ơn sủng Chúa chúng ta, như thấy tỏ ra gần đây bằng lời

Chúa Thánh Thần mà chúng ta đã nghe trong Công đồng

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 451

chăng ? Làm như thế, chúng ta sẽ chối bỏ chân lý liên quan

tới chính chúng ta và đã được Thánh Phaolô tông đồ diễn tả

một cách hùng hồn biết bao: “Hiện tôi có là gì, là bởi ơn

Thiên Chúa, và ơn Ngài ban cho tôi đã không ra vô ích”200.

Cho dù theo cách nào khác và với những dị biệt cần

thiết cũng cần áp dụng những suy nghĩ trên đây vào hoạt

động nhằm xích lại các đại diện của các tôn giáo ngoài Kitô

giáo. Hoạt động này diễn ra trong các cuộc đối thoại, tiếp

xúc, cầu nguyện chung, nghiên cứu các kho tàng linh đạo của

loài người, vì chúng ta biết rõ là các thành phần của những

tôn giáo đó không thiếu những kho tàng như thế. Phải chăng

nhiều khi lòng tin vững chắc của các thành phần những tôn

giáo ngoài Kitô giáo – vốn cũng là hiệu quả của Thánh Thần

chân lý tác động xa hơn những biên giới hữu hình của Thân

mình mầu nhiệm – lòng tin ấy đáng làm cho các Kitô hữu hổ

thẹn vì quá nhiều khi họ đâm ra nghi ngờ những chân lý do

Thiên Chúa mạc khải và Giáo hội rao giảng, vì họ quá dễ

dàng buông lỏng các nguyên tắc luân lý và mở rộng cửa cho

một thứ luân lý tùy tiện ? Sẵn sàng hiểu từng người, phân tách

từng hệ thống, nhìn nhận những gì đúng, đều là thái độ cao

quý, nhưng như thế không hề có nghĩa là bỏ mất xác tín về

đức tin của mình201 hoặc làm suy yếu các nguyên tắc luân lý.

Nếu không có những nguyên tắc luân lý này thì người ta sẽ

chóng cảm thấy ảnh hưởng trong đời sống của trọn cả nhiều

xã hội vì những hậu quả tai hại do đó mà sinh ra, chưa kể

nhiều chuyện khác.

200 1Cr 15,10

201 x. Vat.I Dei Filius, ch.III De Fide, s.6: Conciliorum

Oecumenicorum Decreta, nxb Istituto per le Scienze Religiose, Bologna

1973. tr. 811.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 452

II. MẦU NHIỆM CỨU ĐỘ

7. Trong mầu nhiệm Đức Kitô .

Những con đường mà Công đồng thế kỷ chúng ta đã

đưa Giáo hội vào và Đức Cố Giáo hoàng Phaolô VI đã chỉ rõ

cho chúng ta trong Thông điệp đầu tiên của Người, sẽ vẫn

còn là con đường mà tất cả chúng ta đều phải theo. Nhưng

đồng thời, trong chặng đường mới này, chúng ta có thể tự hỏi

một cách chính đáng: phải tiến tới như thế nào, theo cách thức

nào? Phải làm gì để cho Mùa Vọng mới này của Giáo hội,

mùa vọng liên hệ tới những năm cuối thiên niên kỷ thứ hai,

đưa chúng ta lại gần Đấng mà Kinh Thánh gọi là Cha muôn

thuở “Pater Futuri Saeculi”202. Đó là câu hỏi căn bản mà vị tân

Giáo hoàng phải đặt ra cho mình, khi lấy tinh thần vâng phục

trong đức tin mà nhận lệnh Đức Kitô đã nhiều lần truyền trao

cho Phêrô và nay trở nên tiếng gọi cho mình: “Hãy chăn giữ

chiên của ta”203, có nghĩa là: hãy làm kẻ chăn đàn chiên của

ta, và sau nữa: ”…Phần anh, khi trở lại rồi, thì lo cho anh em

được vững mạnh”204.

Anh em và các con rất thân mến, chính ở đây đã sẵn

một câu trả lời căn bản và cốt yếu, tức là : định hướng duy

nhất cho tinh thần, hướng đi duy nhất cho trí tuệ, cho ý chí,

cho lòng ta là Chúa Kitô, Đấng cứu chuộc con người, Chúa

Kitô, Đấng cứu chuộc thế giới. Chúng ta muốn đưa mắt hướng

về Người, bởi vì chỉ nơi Người, Con Thiên Chúa, mới có ơn

cứu độ, và chúng ta lặp lại lời tuyên xưng của Phêrô : “Lạy

202 Is 9,6

203 Ga 21,15

204 Lc 22,32

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 453

Thầy, chúng tôi sẽ đi đến cùng ai nữa ! Thầy mới có những lời

ban sự sống đời đời”205.

Nhờ Công đồng, Giáo hội đã phát triển thật tốt ý thức

về chính mình. Nay ở mọi bình diện của ý thức ấy, trong mọi

địa hạt sinh hoạt là chỗ Giáo hội tự diễn tả mình, tự gặp lại

mình, tự khẳng định mình, chúng ta luôn luôn vươn tới Đấng

“là đầu”206, Đấng mà “mọi sự có tự Người, và chúng ta cũng

có tự Người”207, Đấng vừa “là đường, là sự thật”208, vừa là “sự

sống lại và là sự sống”209, Đấng mà hễ chúng ta thấy Người

là thấy Cha210, Đấng phải lìa biệt chúng ta mà đi211 – ta hãy

hiểu là : Người phải chết trên thập giá và sau đó siêu thăng

lên trời – để cho Đấng an ủi đến và tiếp tục đến mãi với

chúng ta như thần khí của sự thật212. Nơi Người có “hết thảy

mọi kho tàng khôn ngoan thông thái”213 và Giáo hội là thân

mình Người214. “Giáo hội trong Chúa Kitô, là như bí tích, tức

là dấu chỉ và phương thế cho sự kết hợp mật thiết với Thiên

Chúa và sự hiệp nhất toàn thể nhân loại”215. Và Người là

nguồn! Chính Người, Người là Đấng cứu chuộc!

Giáo hội không ngừng lắng nghe, đọc đi đọc lại các lời

của Người, và hết lòng mộ mến tìm lại tất cả mọi chi tiết đời

Người. Những Lời ấy, cũng được cả những người ngoài Kitô

205 Ga 6,68; x Cv 4,8-12

206 x. Ep 1,10.22; 4,25; Cl 1,18

207 1Cr 8,6 ;x. Cl 1,17

208 Ga 14,6

209 Ga 11,25

210 x. Ga 14,9

211 x. Ga 16,7

212 x. Ga 16,7.13

213 Cl 2,3

214 x. Rm 12,5; 1Cr 6,15; 10,17; 12,12.27; Ep 1,23; 2,16; 4,4; Cl 1,24; 3,15

215 Vat.II LG 1; AAS 57, 1965,5

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 454

giáo lắng nghe. Cuộc đời Đức Kitô đồng thời nói với nhiều

người hiện chưa thể lặp lại như thánh Phêrô: “Thầy là Đức

Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”216. Là Con Thiên Chúa

hằng sống, Người còn nói với người ta với tư cách là người

nữa: chính cuộc đời của Người, nhân tính của Người, sự trung

thành của Người đối với chân lý, lòng yêu thương của Người

lan rộng tới mọi người tất cả đều nói. Sự chết của Người trên

thập giá tức là chiều sâu khôn dò của những thống khổ và

cảnh bị bỏ rơi của Người cũng nói. Giáo hội không bao giờ

thôi sống lại cái chết của Người trên thập giá và sự phục sinh

của Người: đó là nội dung sự sống hằng ngày của Giáo hội.

Quả thế, do sự uỷ thác của chính Đức Kitô, thầy của mình,

Giáo hội không ngừng cử hành nhiệm tích Thánh Thể, tìm

thấy ở đó “nguồn sống và nguồn thánh thiện”217, dấu chỉ kiến

hiệu của ân sủng và sự giao hòa với Thiên Chúa, bảo chứng

cho sự sống đời đời. Giáo hội sống mầu nhiệm Đức Kitô,

hưởng dùng mầu nhiệm ấy mà không hề mỏi mệt và liên tục

tìm mọi cách để làm cho mầu nhiệm Thầy và Chúa mình gần

gũi với loài người, với các dân tộc, các nước, các thế hệ nối

tiếp nhau, với riêng từng người, như thế, Giáo hội theo gương

thánh Tông đồ mà cứ lặp lại mãi: “Ở nơi anh em, tôi đã quyết

chẳng muốn biết gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô, và là Đức

Giêsu Kitô đã bị đóng đinh”218. Giáo hội ở lại trong cõi mầu

nhiệm cứu chuộc, và đích thị mầu nhiệm ấy đã trở nên

nguyên lý căn bản cho sự sống và sứ mệnh của Giáo hội.

216 Mt 16,16

217 x. Kinh cầu Trái Tim Đức Chúa Giêsu.

218 1Cr 2,2

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 455

8. Cứu chuộc: tạo thành được đổi mới.

Đấng cứu chuộc thế gian ! nơi Ngài đã được mạc khải

một cách mới mẻ và kỳ diệu hơn chân lý căn bản về thế giới

thụ tạo, điều mà sách Sáng thế xác nhận khi lặp đi lặp lại

nhiều lần: “Thiên Chúa thấy như thế là tốt lành”219. Sự thiện

bắt nguồn từ sự khôn ngoan và từ tình thương yêu. Thế giới

hữu hình Thiên Chúa đã dựng nên cho con người220, thế giới

đã phải lụy phục sự hư nát khi tội lỗi lọt vào221, thế giới ấy

nay tìm lại được trong Đức Giêsu Kitô mối tương quan nguyên

thủy với ngọn nguồn khôn ngoan và yêu thương là Thiên

Chúa. Thật thế, “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi

đã ban Con Một mình”222. Mối tương quan kia đã bị đứt mất

nơi con người – Ađam thế nào thì nay nơi con người – Đức Kitô

đã được nối lại như thế223. Có lẽ chúng ta là người của thế kỷ

20, chúng ta không xác tín về những lời mà vị tông đồ của

các dân tộc đã nói ra một cách hùng hồn lôi cuốn về “tạo

thành, cùng nhau rên xiết, cùng nhau quằn quại như ở cữ cho

đến bây giờ”224 và đang “ngong ngóng trông chờ việc mặc

khải con cái Thiên Chúa”225, về “cõi tạo thành “đã phải chịu

lâm cảnh hư luống” ? Nhưng chính sự tiến bộ bao la, trước

đây không hề có, đã tỏ hiện đặc biệt vào thế kỷ chúng ta

trong địa hạt con người làm chủ thế giới, lại chẳng cho thấy sự

lâm vào cảnh “hư luống” đủ cách và tới mức độ chưa từng

biết đó sao ? Ở đây chỉ cần nhắc lại một vài sự kiện như là

219 x. St 1, trong suốt chương 4 (passim)

220 x. St 1,26-30

221 x. Rm 8,20; hoặc 8,19-22; Vat.II GS 2.13

222 Ga 3,16

223 x. Rm 5,12-21

224 Rm 8,22

225 Rm 8,19

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 456

nguy cơ ô nhiễm môi trường thiên nhiên ở những nơi được

công nghiệp hóa nhanh chóng, hoặc những cuộc xung đột vũ

trang cứ bùng nổ và tái diễn liên miên, hoặc là viễn tượng tự

diệt bằng các vũ khí nguyên tử, khinh khí và trung hòa tử và

những loại khác tương tự, sự thiếu tôn trọng đối với trẻ thơ

còn trong lòng mẹ. Thế giới của thời đại mới, thế giới của

những chuyến bay vũ trụ, thế giới của những chinh phục về

khoa học và kỹ thuật chưa hề bao giờ đạt được, phải chăng

đồng thời cũng là thế giới “rên xiết và quằn quại như ở cữ”226

“ngong ngóng mong chờ sự mặc khải con cái Thiên

Chúa”?227

Công đồng Vat.II khi phân tích sâu sắc “thế giới hiện

thời” đã đạt tới điểm quan trọng hơn cả của thế giới hữu hình,

tức là con người, bằng cách như Đức Kitô đi vào tận chỗ thâm

sâu nhất trong ý thức con người cho thấu tới mầu nhiệm bên

trong của con người mà ngôn ngữ Kinh Thánh và cả Kinh

Thánh diễn tả bằng chữ “lòng dạ”. Đức Kitô, Đấng cứu chuộc

thế giới, là Đấng đã đi vào mầu nhiệm con người một cách

độc nhất vô nhị và đã vào trong “lòng dạ” con người. Cho

nên Công đồng Vat.II dạy một cách đích đáng rằng: “Thực

vậy, mầu nhiệm con người chỉ thực sự sáng tỏ là trong mầu

nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể. Bởi vì Ađam, con người đầu tiên đã

là hình bóng của Đấng sẽ đến (Rm 5,14), là Chúa Kitô. Là

Ađam mới, Chúa Kitô, trong chính mặc khải về Chúa Cha và

tình yêu thương của Ngài, đã tỏ cho con người biết rõ chính

mình và thấy được thiên chức cao cả của họ. Và còn dạy : Là

“hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15), Người là con

người hoàn hảo đã phục hồi trong dòng dõi Ađam hình ảnh

Thiên Chúa đã lu mờ vì tội nguyên tổ. Bởi vì nơi Người, bản

226 Rm 8,22

227 Rm 8,19

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 457

tính nhân loại đã được đảm nhận chứ không bị nuốt mất,

chính nhờ đó cả nơi chúng ta nữa, bản tính ấy cũng được nâng

lên một phẩm giá vô song. Vì do mầu nhiệm Nhập thể, Con

Thiên Chúa đã như tự kết hiệp chính mình với mọi người.

Người đã làm việc với bàn tay con người, đã suy nghĩ bằng trí

óc con người, đã hành động với ý chí con người, đã yêu

thương với lòng dạ con người. Sinh bởi Đức Trinh nữ Maria,

Người đã thực sự trở nên một người giữa chúng ta, “giống

chúng ta về mọi mặt, ngoại trừ tội lỗi”228. Người là Đấng cứu

chuộc con người !

9. Kích thước Thiên Chúa của mầu nhiệm cứu chuộc.

Khi suy nghĩ lại về bản văn đáng phục trên của Công

đồng, chúng ta không quên, cho dù trong khoảnh khắc, rằng

Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, đã trở nên mối

giao hòa chúng ta với Chúa Cha229, Chính Người và duy một

mình Người đã đáp ứng đầy đủ lòng yêu mến đời đời của

Chúa Cha, đáp ứng tình cha mà Thiên Chúa đã tỏ ra từ thuở

ban đầu khi tạo dựng thế giới, khi ban cho con người tất cả sự

phong phú của giới thọ tạo, khi tác thành con người “không

thua kém các thiên thần bao nhiêu”230 vì được dựng nên “theo

hình ảnh Thiên Chúa”231 Đức Kitô đã đáp ứng đầy đủ tình cha

và lòng yêu mến đó của Thiên Chúa, khi mà con người đã từ

chối lòng yêu mến đó bằng việc phá vỡ giao ước đầu tiên232

và tất cả những giao ước mà về sau Thiên Chúa đã nhiều lần

ban tặng cho loài người233. Việc cứu chuộc thế giới là mầu

228 GS 22

229 x. Rm 5,11; Cl 1,20

230 Tv 8,6

231 x. St 1,26

232 x. St 3,6-13

233 x. Kinh nguyện thánh thể IV.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 458

nhiệm kinh hồn của lòng yêu mến đã canh tân giới thụ tạo234.

Từ những cội rễ sâu xa nhất, đó là sự đầy đủ công chính trong

trái tim một con người, trong trái tim người Con đầu lòng, để

có thể trở nên sự công chính trong lòng nhiều người, những ai

từ đời đời đã được tiền định trong lòng người Con đầu lòng

ấy, để trở nên con cái Thiên Chúa235 và được kêu gọi đón

nhận ân sủng và đến với lòng yêu mến. Thập giá núi sọ, trên

đó Đức Giêsu Kitô – là người, là con Trinh nữ Maria, được coi

là con của Giuse ở Nadaret – “lìa khỏi” thế gian này, thập giá

ấy đồng thời cũng là một biểu lộ mới về tình Cha đời đời của

Thiên Chúa là Đấng trong Đức Kitô lại trở nên gần gũi với

nhân loại, với mọi người, khi ban cho họ “Thần khí sự thật” ba

lần thánh236.

Việc mặc khải Chúa Cha và đổ tràn Thánh Thần như thế

in dấu khôn nhòa vào mầu nhiệm cứu chuộc, làm cho ta hiểu

ý nghĩa của thập giá và sự chết của Đức Kitô . Thiên Chúa tạo

thành tự mặc khải mình là Thiên Chúa cứu chuộc, Thiên Chúa

“trung tín với chính mình”237, trung tín với lòng Ngài thương

yêu con người và thế giới, như Ngài đã từng tự mặc khải trong

ngày tạo dựng. Và lòng yêu mến của Ngài là một lòng yêu

mến không lùi bước trước bất cứ điều gì mà sự công chính

của Ngài đòi hỏi. Vì thế cho nên Con của Ngài, “Đấng không

hề biết tội, thì Thiên Chúa đã làm cho thành sự tội vì ta”238.

Nếu Ngài đã làm cho Đấng tuyệt đối vô tội “thành sự tội” thì

chính là để mặc khải lòng yêu mến bao giờ cũng lớn lao hơn

tất cả mọi thụ tạo, lòng yêu mến là chính mình Ngài, “vì Thiên

234 x. GS 37; LG 48

235 x. Rm 8,29-30; Ep 1,8

236 x. Ga 16,13

237 x. 1Tx 5,24

238 2Cr 5,21; x. Gl 3,13

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 459

Chúa là lòng yêu mến”239 và nhất là lòng yêu mến lớn hơn tội

lỗi, lớn hơn sự yếu đuối và sự hư luống của tạo vật240, mạnh

hơn sự chết; đó là một lòng yêu mến luôn luôn sẵn sàng đi

đón đứa con hoang đàng241, luôn luôn tìm kiếm “việc mặc khải

con cái Thiên Chúa”242, là những kẻ đã được gọi đến vinh

quang243. Lòng yêu mến được mặc khải đây cũng là lòng

nhân từ244, và sự mặc khải lòng yêu mến và lòng nhân từ này

trong lịch sử con người có một khuôn mặt và một tên gọi: đó

là Đức Giêsu Kitô.

10. Kích thước con người của mầu nhiệm cứu chuộc.

Con người không thể sống mà không có tình yêu

thương. Con người vẫn là một cái gì không thể hiểu được đối

với chính mình, cuộc sống con người mất ý nghĩa nếu không

nhận lấy mặc khải về tình yêu thương, nếu không gặp tình

yêu thương và không chiếm tình yêu thương thành của mình,

không dự phần vào đó cách mãnh liệt. Cho nên, như đã nói,

Đức Kitô cứu chuộc mặc khải đầy đủ về con người cho chính

con người. Có thể nói đó là kích thước con người của mầu

nhiệm cứu chuộc. Trong kích thước này, con người tìm lại

được sự cao cả, phẩm cách và giá trị đặc biệt của nhân tính

mình. Trong mầu nhiệm cứu chuộc, con người thấy mình được

“xác nhận” lại và kể như được tái tạo. Được tái tạo ! “Không

còn Do thái hay Hylạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ vì anh em

hết thảy chỉ là một trong Đức Giêsu Kitô”245. Con người muốn

239 1Ga 4,8.16

240 x. Rm 8,20

241 x. Lc 15,11-32

242 Rm 8,19

243 x. Rm 8,18

244 x. Tôma Summa théologique III, q.46, a. I, ad 3.

245 Gl 3,29

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 460

hiểu mình đến nơi đến chốn thì không thể bằng lòng với

những tiêu chuẩn và kích thước trước mắt, thiên lệch, nhiều

khi hời hợt và thậm chí chỉ là bề ngoài, nhưng phải đến gần

Đức Kitô với tất cả những xao xuyến và bấp bênh, thậm chí

với cả những yếu đuối và tội lỗi của mình, với sự sống và sự

chết của mình. Nói được là phải vào trong Chúa Kitô với toàn

thân của mình, phải thu nhận và đồng hóa tất cả thực tại Nhập

thể và cứu chuộc thì mới tìm lại được chính mình. Con người

phải có giá trị biết bao trước mắt Đấng tạo hóa nếu đã “đáng

được một Đấng cứu chuộc lớn lao dường ấy”246, nếu “Thiên

Chúa đã ban Con Ngài”, để cho mình, là người, “không phải

hư đi, nhưng được sự sống muôn đời”!247

Quả thật, sự thán phục sâu xa ấy trước giá trị và phẩm

giá con người được diễn tả bằng chính hai chữ Tin Mừng. Nó

cũng gắn liền với đạo Kitô. Sự thán phục ấy biện minh cho sứ

mạng của Giáo hội trên thế giới, và có lẽ còn hơn nữa, “trong

thế giới hiện thời”. Sự thán phục ấy đồng thời cũng là xác tín

và biết chắc, cái biết chắc này trong cội rễ căn bản là cái biết

chắc của đức tin nhưng vẫn không ngừng tạo sinh khí một

cách kín ẩn và huyền nhiệm cho tất cả mọi mặt của nền nhân

bản đích thực; sự thán phục ấy gắn liền với Chúa Kitô. Chính

nó cũng xác định vị trí Đức Kitô và nói được là quyền có chỗ

đứng của Người trong lịch sử con người và nhân loại. Vốn

không ngừng chiêm niệm toàn bộ mầu nhiệm Đức Kitô, Giáo

hội, với tất cả sự chắc chắn của lòng tin, biết rằng ơn cứu

chuộc thực hiện bằng thập giá đã dứt khoát trả lại cho con

người phẩm giá và ý nghĩa sự hiện hữu của con người trong

thế giới, khi mà con người đã đánh mất phần lớn ý nghĩa ấy vì

tội lỗi. Bởi vậy, ơn cứu chuộc đã được hoàn thành trong mầu

246 Bài Mừng Vui Lên trong đêm phục sinh

247 x. Ga 3,16

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 461

nhiệm vượt qua là mầu nhiệm dẫn qua thập giá và sự chết

đến Phục sinh.

Ở mọi thời đại, và đặc biệt hơn nữa, ở thời đại chúng ta,

nhiệm vụ căn bản của Giáo hội là đưa tầm mắt con người

hướng ý thức và kinh nghiệm của tất cả nhân loại về mầu

nhiệm Chúa Kitô, giúp mọi người làm quen với chiều sâu của

ơn cứu chuộc thực hiện trong Đức Giêsu Kitô. Làm như thế là

đồng thời đạt tới cõi thâm sâu nhất của con người, tức là lòng

dạ, ý thức và sự sống con người.

11. Mầu nhiệm Chúa Kitô ở nền tảng sứ mệnh

của Giáo hội và của Kitô giáo.

Công đồng Vat.II đã hoàn thành một công trình bao la

để đào tạo ý thức đầy đủ và phổ quát về Giáo hội mà Đức

giáo hoàng Phaolô VI đã bàn đến trong Thông điệp đầu tiên

của Người. Ý thức đó – hay đúng hơn là sự tự ý thức của Giáo

hội – được đào luyện trong “đối thoại”. Việc đối thoại này,

trước khi thành đàm thoại, phải làm ta hướng sự chú ý tới

“người khác”, tới người ta muốn nói chuyện. Công đồng

chung đã tạo một đà cơ bản để đào luyện sự tự ý thức của

Giáo hội khi trình bày một cách đầy đủ và quán xuyến cái

nhìn về toàn bộ thế giới như một “bản đồ” các tôn giáo khác

nhau. Ngoài ra, trên bản đồ các tôn giáo của thế giới này,

Công đồng đã cho thấy còn chồng lên theo từng lớp như thế

nào – một điều chưa hề thấy trước kia mà lại là đặc điểm của

thời đại chúng ta – hiện tượng vô thần dưới nhiều dạng khác

nhau, bắt đầu từ chủ nghĩa vô thần có kế hoạch, có tổ chức và

được cấu trúc hóa thành hệ thống chính trị.

Còn về tôn giáo, thì trước tiên đây là tôn giáo như là

một hiện tượng phổ quát, thuộc lịch sử con người từ đầu; rồi

đến các tôn giáo khác nhau ngoài Kitô giáo và sau hết là

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 462

chính Kitô giáo. Đặc biệt văn kiện Công đồng dành cho các

tôn giáo ngoài Kitô giáo thì tràn đầy một niềm quý trọng sâu

sắc đối với những giá trị thiêng liêng trọng đại, và hơn nữa,

đối với những quyền ưu tiên của những gì là thiêng liêng và

trong cuộc sống nhân loại đã được biểu lộ nơi tôn giáo, rồi nơi

đạo đức phản ảnh vào tất cả văn hóa. Các giáo phụ thật có lý

khi coi các tôn giáo khác nhau đều như những phản ảnh của

một chân lý duy nhất, đều như những “hạt giống Lời”248. Như

thế, các ngài làm chứng rằng khát vọng sâu xa nhất của tinh

thần con người, dầu cho đường lối có khác nhau, vẫn quy về

một hướng duy nhất, khi nó được biểu lộ trong việc tìm kiếm

Thiên Chúa, và đồng thời, qua nỗ lực tìm về Thiên Chúa này,

cũng được biểu lộ trong sự tìm kiếm kích thước toàn diện của

nhân tính, tức là ý nghĩa đầy đủ của cuộc sống con người.

Công đồng đã chú ý đặc biệt đến Do thái giáo, khi nhắc lại

gia sản thiêng liêng quan trọng chung cho các tín hữu Kitô

giáo và Do thái giáo, và Công đồng đã bày tỏ lòng quý trọng

đối với các tín hữu đạo Hồi mà đức tin cũng quy chiếu về

Abraham249.

Nhờ Công đồng Vat.II mở lối, Giáo hội và tất cả các

Kitô hữu đã đạt được một ý thức đầy đủ hơn về mầu nhiệm

Đức Kitô, “mầu nhiệm được dấu kín từ muôn thuở”250 nơi

Thiên Chúa, để được mặc khải trong thời gian – trong con

người Giêsu Kitô – và để được mặc khải ra liên tục, trong mọi

thời. Trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô, Thiên Chúa đã mặc

khải mình cách đầy đủ cho loài người và đã dứt khoát trở nên

248 x. Th. Justinô, I Apologia, 46, 1-4; II Apologia 7(8), 1-4; 10,1-

3;13,3-4; Florilegium Patristicum II, Bonn 1911, tr.81,125,129,133;

Clementê Alexandria, Stromata I, 19,91,94: Ch,117-118; 119-120; Ad

Gentes II; LG 17.

249 Vat.II NA 3-4

250 Cl 1,26

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 463

gần gũi loài người; đồng thời trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô,

con người đã có được một ý thức đầy đủ về phẩm giá của

mình, về sự vinh thăng của mình, về cả giá trị siêu việt của

loài người, về ý nghĩa của cuộc sống loài người.

Vậy tất cả chúng ta, đồ đệ của Đức Kitô, chúng ta phải

gặp nhau và hiệp nhất với nhau chung quanh Người. Sự hiệp

nhất này, trong các địa hạt của cuộc sống, của truyền thống,

của các cơ cấu và kỷ luật của mỗi Giáo hội và cộng đồng

Giáo hội, không thể thực hiện được nếu không có hành động

nghiêm túc nhằm hiểu biết lẫn nhau và hủy bỏ những trở ngại

vẫn còn trên con đường đi tới hiệp nhất hoàn toàn. Tuy vậy,

ngay từ bây giờ chúng ta có thể và phải đạt tới hiệp nhất và

bày tỏ nó ra: bằng cách loan báo mầu nhiệm Chúa Kitô, chỉ

cho người ta thấy kích thước vừa thuộc Thiên Chúa vừa thuộc

con người của ơn cứu chuộc, đấu tranh một cách bền bỉ không

mệt mỏi cho phẩm giá mà mỗi người đã đạt tới và có thể đạt

tới mãi trong Chúa Kitô, đó là phẩm giá được ơn Thiên Chúa

nhận làm con và đồng thời cũng là phẩm giá của chân lý bên

trong nhân tính. Nếu phẩm giá này đã thành nổi bật một cách

thật căn bản trong ý thức chung của thế giới hiện thời, thì nó

lại càng hiển nhiên hơn nữa đối với chúng ta, trong ánh sáng

của thực tại kia là chính Đức Giêsu Kitô vậy.

Đức Giêsu Kitô là nguyên lý vững bền và trung tâm

thường xuyên của sứ mệnh mà chính Thiên Chúa đã trao cho

con người. Tất cả chúng ta đều phải tham gia vào sứ mệnh ấy,

phải dồn tất cả sức lực mình vào đó, bởi vì sứ mệnh ấy cần

cho nhân loại ngày nay hơn bao giờ hết.

Và nếu trong thời đại chúng ta sứ mệnh ấy có vẻ như

gặp những sự chống đối hơn ở bất kỳ thời nào khác, thì điều

đó cho thấy sứ mệnh ấy hiện nay lại còn cần thiết hơn nữa, và

– mặc dù có những chống đối – lại còn được mong đợi hơn bao

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 464

giờ. Ở đây chúng ta gián tiếp đụng tới mầu nhiệm của kế đồ

Thiên Chúa đã kết hợp sự cứu độ và ân sủng với thập giá. Lời

của Chúa Kitô đâu có phải là vô lối: “Nước trời chịu sự mạnh

bạo, và những kẻ mạnh bạo đang chiếm đoạt lấy”251, và cũng

có lời: “Con cái thế gian này khôn hơn con cái sự sáng”252.

Chúng ta sẵn lòng nhận lấy lời trách móc ấy để được giống

như những người “mạnh bạo vì Thiên Chúa” mà chúng ta đã

thấy biết bao nhiêu lần trong lịch sử Giáo hội và ngày nay vẫn

còn đang thấy, để hiệp nhất với nhau một cách có ý thức

trong sứ mệnh lớn lao là mặc khải Đức Kitô cho thế giới, là

giúp mỗi người tìm lại chính mình nơi Người, là giúp các thế

hệ hiện thời của anh chị em chúng ta, các dân tộc, các quốc

gia, các chính phủ, nhân loại, các nước chưa phát triển và các

nước giàu có, tắt một lời, là giúp cho tất cả mọi người được

biết “sự phong phú khôn dò của Đức Kitô ”253 bởi vì sự phong

phú này được dành cho mọi người và làm nên cơ nghiệp của

mỗi người.

12. Sứ mệnh của Giáo hội và tự do của con

người.

Trong sự hiệp nhất trên bình diện sứ vụ đó, mà cốt yếu

là do chính Chúa Kitô quyết định mọi Kitô hữu phải khám phá

ra điều gì đã hiệp nhất họ với nhau, ngay cả trước khi sự hiệp

thông đầy đủ được thực hiện. Đó là sự hiệp nhất tông đồ và

truyền giáo, truyền giáo và tông đồ. Nhờ sự hiệp nhất này,

chúng ta có thể cùng nhau tìm đến gần gia sản tuyệt diệu của

tinh thần con người, đã thể hiện trong mọi tôn giáo, như Công

251 Mt 11,12

252 Lc 16,8

253 Ep 3,8

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 465

đồng Vat.II đã nói trong tuyên ngôn Thời đại chúng ta254. Nhờ

đó, chúng ta đồng thời đến với mọi văn hóa, mọi ý thức hệ,

mọi người thiện chí. Chúng ta đến gần như thế với lòng quý

chuộng, tôn trọng và biện biệt là những đặc điểm của thái độ

truyền giáo và của người truyền giáo từ thời các tông đồ. Chỉ

cần nhắc tới Thánh Phaolô và chẳng hạn bài Người nói trên

đồi Are ở Athena255. Thái độ truyền giáo luôn bắt đầu bằng

một tâm tình quý chuộng sâu sắc đối với những gì chính họ

vẫn ấp ủ tự đáy lòng256 về những vấn đề sâu xa và quan trọng

nhất, đó là tôn trọng tất cả những gì Thần khí “muốn thổi đâu

thì thổi”257 đã tác động nơi họ. Truyền giáo không bao giờ là

phá hủy, nhưng là đảm nhận những giá trị và xây dựng lại,

cho dù trong thực hành không phải bao giờ người ta cũng đã

đáp ứng đầy đủ một lý tưởng cao như thế. Còn sự trở lại vốn

phải bắt rễ từ việc truyền giáo thì chúng ta biết rõ đó là công

trình của ân sủng khiến con người tìm lại được đầy đủ chính

mình.

Vì thế cho nên Giáo hội thời đại chúng ta đặt một tầm

quan trọng rất lớn vào tất cả những gì Công đồng Vat.II đã

trình bày trong tuyên ngôn về Tự do tôn giáo, cả trong phần

thứ nhất lẫn phần thứ hai của văn kiện này258. Chúng ta cảm

thấy một cách sâu sắc rằng chân lý do Thiên Chúa mặc khải

đòi hỏi phải dấn thân. Đặc biệt chúng ta mang một ý thức

trách nhiệm rất nhậy bén đối với chân lý ấy. Giáo hội được

Đức Kitô thiết lập làm kẻ giữ gìn và giảng dạy chân lý ấy,

chính vì thế mà đã được ban cho một ơn phù trợ đặc biệt của

254 Vat.II NA 1-2

255 Cv 17,22-31

256 Ga 2,25

257 Ga 3,8

258 x. AAS 58, 1966, 929-946

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 466

Thánh Thần, để có thể trung thành gìn giữ và giảng dạy

nguyên vẹn chân lý ấy259. Trong khi chu toàn sứ mệnh này,

chúng ta hãy nhìn chính Đức Kitô, Người là kẻ đầu tiên loan

báo tin mừng260, cũng hãy nhìn các Tông đồ, các vị tử đạo,

các vị Tuyên tín của Người. Tuyên ngôn về Tự do tôn giáo có

sức thuyết phục cho thấy rằng, trong khi loan báo chân lý

không từ loài người nhưng từ Thiên Chúa mà đến (“Đạo lý Ta

dạy không phải là của Ta, mà là của Đấng đã sai Ta”261, tức

là của Chúa Cha), và tuy vẫn hành động với tất cả sức mạnh

tinh thần mình, Đức Kitô , và sau đó các Tông đồ của Người,

vẫn giữ sự quý chuộng sâu sắc đối với con người, đối với trí

tuệ, ý chí, ý thức và tự do của con người262. Như thế, phẩm

giá con người lại thuộc phần sự loan báo đó, dù không dùng

tới lời nói, mà chỉ duy bằng cung cách đối xử với người ta.

Thái độ đó xem ra tương ứng với những nhu cầu đặc biệt của

thời đại chúng ta. Tự do thực sự của con người không phải ở

tất cả những gì các hệ thống khác nhau và cả các cá nhân nữa

coi là tự do và phổ biến như là tự do; thế nghĩa là Giáo hội, do

sứ mệnh Thiên Chúa ban cho, lại càng trở nên người gìn giữ

sự tự do kia và là điều kiện và nền tảng cho phẩm giá thật của

con người…

Đức Giêsu Kitô tìm gặp con người mọi thời đại, kể cả

thời đại chúng ta, trước sau cũng vẫn một lời: “Anh em sẽ được

biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng anh em”263. Những lời

này bao hàm một đòi hỏi căn bản và đồng thời một lời nhắn

nhủ: đòi hỏi lương thiện trước sự thật là điều kiện để có tự do

259 x. Ga 14,26

260 Phaolô VI, EN 6.

261 Ga 7,16

262 x. AAS 58, 1966, 936-938

263 Ga 8,32

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 467

chân thực, và cũng nhắn nhủ hãy tránh mọi thứ tự do bề

ngoài, mọi thứ tự do hời hợt và một chiều, mọi thứ tự do

không đi cho tới cùng sự thật về con người và thế giới. Ngày

nay, sau hai ngàn năm, Đức Kitô vẫn còn xuất hiện như Đấng

đem đến cho con người sự tự do dựa trên chân lý, như Đấng

giải phóng con người khỏi những gì giới hạn, giảm bớt và có

thể nói là hủy diệt tận căn sự tự do đó trong tinh thần, trong

lòng, trong ý thức con người. Về điều ấy, có bằng chứng

tuyệt vời biết bao của những người, nhờ Đức Kitô và trong

Đức Kitô, đã đạt tới tự do thực sự, và đã làm chứng ngay cả

trong hoàn cảnh có cưỡng bức từ bên ngoài.

Và khi chính Đức Giêsu Kitô ra trước tòa Philatô như

một người tù và bị ông này xét hỏi về điều các đại diện Công

hội tố cáo Người, Người đã chẳng trả lời: “Tôi đã sinh ra và

đã đến trong thế gian này để làm chứng cho sự thật”264 đó sao

? Bằng những lời như thế nói trước vị thẩm phán vào một giây

phút quyết định, Người như xác nhận thêm một lần nữa điều

Người đã nói trước kia: “Anh em sẽ được biết sự thật, và sự

thật sẽ giải phóng anh em”. Trải qua các thế kỷ và các thế hệ,

bắt đầu từ thời các tông đồ, há chẳng phải chính Đức Giêsu

Kitô đã bao lần ra tòa bên cạnh những người bị xét xử vì chân

lý, và đã đi chịu chết với những người bị lên án vì chân lý đó

sao ? Có khi nào Người lại thôi làm người phát ngôn và bào

chữa cho con người sống “trong Thần Khí và sự thật”265?

Không, Người không bao giờ thôi làm việc đó trước tôn nhan

Chúa Cha, và cũng không thôi làm việc đó trước lịch sử con

người. Đến lượt Giáo hội, mặc dù có những yếu đuối vốn

thuộc về lịch sử nhân thế của mình, cũng không ngừng đi

theo Đấng đã nói: “Giờ sẽ đến – và là ngay bây giờ – những kẻ

264 Ga 18,37

265 x. Ga 4,23

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 468

thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Cha trong Thần khí và sự

thật, vì Cha chỉ muốn gặp thấy những kẻ thờ phượng Ngài như

thế. Thiên Chúa là Thần khí, nên những kẻ thờ phượng cũng

phải thờ phượng trong Thần Khí và sự thật”266..

III. CON NGƯỜI ĐƯỢC CỨU CHUỘC

VÀ HOÀN CẢNH CON NGƯỜI TRONG THẾ GIỚI

NGÀY NAY

13. Chúa Kitô kết hợp với từng người.

Khi xuyên qua kinh nghiệm của gia đình nhân loại ngày

càng nhanh chóng gia tăng liên tục, chúng ta vào sâu trong

mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô, chúng ta hiểu rõ hơn rằng, ở giữa

tất cả những con đường mà Giáo hội thời đại chúng ta phải đi

để tiếp tục cuộc hành trình của mình, đúng theo những hướng

dẫn khôn ngoan của Đức Phaolô VI267, có một con đường vô

song: con đường đã được thử nghiệm từ nhiều thế kỷ mà

đồng thời cũng là con đường cho tương lai. Chúa Kitô đã chỉ

cho con đường ấy nhất là khi, như theo lời lẽ của Công đồng

“nhờ việc Nhập Thể, Con Thiên Chúa đã kết hợp một cách

nào đó với mọi người”268, Như vậy, Giáo hội nhìn nhận nghĩa

vụ căn bản của mình khi hành động sao cho sự kết hợp kia

không ngừng tiếp diễn trong hiện tại. Giáo hội muốn phục vụ

mục tiêu duy nhất này là mọi người có thể gặp lại Đức Kitô,

ngõ hầu Đức Kitô có thể đi con đường đời, bên cạnh mỗi

người, với sức mạnh của chân lý về con người và về thế giới

chứa sẵn trong mầu nhiệm Nhập thể và cứu chuộc và với sức

266 Ga 4,23-24

267 Tđ “GH Chúa Kitô” (ES).

268 Vat.II GS 22

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 469

mạnh của tình thương yêu tỏa ra từ đó. Trong bối cảnh những

phát triển vẫn ngày càng lớn hơn theo dòng lịch sử và xem ra

đang gia tăng đặc biệt ở thời đại chúng ta trong phạm vi

những hệ thống, những quan niệm ý thức hệ về thế giới và

những chế độ khác nhau. Đức Giêsu Kitô, một cách nào đó,

lại có mặt, mặc dù bề ngoài có vẻ như Người vắng mặt, mặc

dù sự có mặt và hoạt động thể chế của Giáo hội bị đủ thứ hạn

chế. Đức Giêsu Kitô trở nên hiện diện với sức mạnh của chân

lý và tình thương yêu đã được biểu lộ nơi Người một cách đầy

đủ, độc nhất vô nhị và vô tiền khoáng hậu, tuy cuộc đời trần

thế của Ngài đã thật ngắn ngủi và thời gian hoạt động công

khai của Ngài còn ngắn ngủi hơn.

Đức Giêsu Kitô là con đường chính của Giáo hội. Chính

Người là đường chúng ta đi về “nhà Cha”269 và Người cũng là

đường cho mọi người. Trên đường đưa từ Đức Kitô đến con

người đó, trên con đường Đức Kitô kết hợp với từng người

đó, Giáo hội không thể bị ai ngăn chận. Lợi ích trần thế và lợi

ích đời đời của con người đòi hỏi như vậy. Vì lòng tôn trọng

Đức Kitô và do bởi mầu nhiệm làm thành sự sống của chính

mình, Giáo hội không thể thờ ơ đối với tất cả những gì phục

vụ lợi ích thật của con người, cũng như không thể vô tình đối

với những gì đe dọa lợi ích này. Nhiều chỗ trong các văn kiện

Công đồng Vat.II đã nói lên mối quan tâm căn bản ấy của

Giáo hội, là làm sao cho cuộc sống trên thế giới này “xứng

hợp hơn với phẩm giá cao cả của con người”270 về mọi

phương diện, để cuộc sống đó thành “nhân đạo hơn mãi”271.

Mối quan tâm đó cũng là mối quan tâm của chính Đức Kitô ,

Đấng chăn chiên tốt lành của tất cả mọi người. Nhân danh

269 x. Ga 14,1tt

270 Vat.II GS 24

271 sđd số 38.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 470

mối quan tâm đó, như chúng ta đọc được trong Hiến chế Mục

vụ của Công đồng, “Giáo hội do bởi trách nhiệm và thẩm

quyền riêng của mình không lẫn lộn được bất kỳ cách nào với

cộng đồng chính trị và không bị ràng buộc với một hệ thống

chính trị nào hết, nhưng Giáo hội vừa là dấu chỉ vừa là bảo

đảm cho tính cách siêu việt của bản vị con người”272.

Vậy đây là nói về con người trong tất cả sự thật, trong

đầy đủ kích thước của con người. Không phải là con người

“trừu tượng”, nhưng là con người hiện thực, “cụ thể”, “lịch

sử”. Đây là từng người một, bởi vì mỗi người đã được bao

hàm trong mầu nhiệm cứu chuộc, và Đức Giêsu Kitô đã kết

hợp với từng người một, mãi mãi, qua mầu nhiệm này. Người

nào cũng vậy, đến với cuộc đời khi thành thai trong lòng mẹ

và từ lòng mẹ sinh ra, và chính do bởi mầu nhiệm cứu độ mà

được trao phó cho Giáo hội chăm lo. Mối quan tâm này bao

quát toàn diện con người và quy về con người một cách đặc

biệt. Đối tượng của sự chú ý sâu xa này là con người trong

thực tại làm người có một không hai, vô tiền khóng hậu, và

còn giữ nguyên vẹn hình ảnh của chính Thiên Chúa273. Đó

chính là điều Công đồng chỉ dẫn khi nói về hình ảnh Thiên

Chúa mà nhắc lại rằng “con người là thụ tạo duy nhất trên

mặt đất đã được Thiên Chúa tạo nên vì chính họ”274. Con

người, như đã được Thiên Chúa “muốn” đã được Ngài “chọn”

từ đời đời, được gọi, được tiền định để hưởng ân sủng và vinh

quang: đó chính là “mọi” người, con người “cụ thể hơn cả”,

“hiện thực hơn cả”. Chính như thế đó là con người trong tất cả

sự đầy đủ của mầu nhiệm mà con người được tham dự nơi

Đức Giêsu Kitô và mỗi người trong bốn tỷ người đang sống

272 Sđd số 76

273 x. St 1,27

274 Vat.II GS 24

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 471

trên hành tinh chúng ta cũng được tham dự, ngay từ giây phút

thành thai gần bên trái tim mẹ mình.

14. Tất cả mọi con đường của Giáo hội đều đưa

tới con người.

Giáo hội không thể bỏ rơi con người khi mà “định

mệnh” con người tức là việc được chọn, được gọi, được sinh

ra và được chết, được cứu độ hay hư mất đều liên hệ một

cách chặt chẽ và dứt khoát với Đức Kitô . Và đây chính là

mỗi con người sống trên hành tinh này, trên trái đất này mà

Tạo hóa đã ban cho con người đầu tiên khi nói với người nam

và người nữ: “Hãy khắc phục và thống trị nó”275. Đây chính là

mọi con người trong tất cả thực tại tuyệt đối duy nhất của hữu

thể và hành động, trí tuệ và ý chí, ý thức và lòng dạ của họ.

con người, trong thực tại độc nhất vô nhị của mình (bởi vì là

một “bản vị”), có một lịch sử riêng tư của linh hồn mình. Con

người đúng theo sự cởi mở bên trong tinh thần và cũng theo

biết bao nhiêu nhu cầu này nọ của thân xác và cuộc sống tại

thế, vẫn viết nên lịch sử riêng tư kia qua rất nhiều liên hệ,

tiếp xúc, hoàn cảnh, cơ cấu xã hội nối kết mình với những

người khác. Và con người làm điều ấy từ giây phút đầu tiên

của hiện hữu trên trái đất, từ giây phút thành thai và sinh ra.

Con người, trong chân lý đầy đủ của cuộc sống mình, của hữu

thể riêng mình và đồng thời của hữu thể cộng đồng và xã hội

của mình – trong vòng gia đình bên trong những xã hội và

những khung cảnh rất khác nhau, trong khuôn khổ quốc gia

hay dân tộc mình (và có lẽ còn hơn nữa trong khuôn khổ bộ

lạc hay sắc tộc của mình), ngay cả trong khuôn khổ toàn thể

nhân loại, con người đó là con đường đầu tiên mà Giáo hội

phải đi qua khi làm tròn sứ mệnh của mình: con người đó là

275 St 1,28

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 472

con đường đầu tiên và con đường căn bản của Giáo hội, con

đường do chính Đức Kitô vạch ra, con đường mãi mãi đi

xuyên qua mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu chuộc.

Chính con người đó, trong tất cả sự thật của đời sống

mình, trong ý thức mình, trong xu hướng luôn nghiêng theo tội

lỗi và đồng thời trong niềm khát vọng không ngừng hướng về

sự thật, điều tốt, cái đẹp, công lý, tình thương, chính con

người đó là con người Công đồng Vat.II đã có trước mắt khi

mô tả hoàn cảnh của họ trong thế giới ngày nay mà đã luôn

luôn đi từ những yếu tố bề ngoài của hoàn cảnh ấy để thấu

đạt chân lý bên trong của nhân tính: “Ngay chính trong con

người có nhiều yếu tố xung khắc nhau. Một đàng, vì là tạo

vật, con người kinh nghiệm mình bị giới hạn nhiều bề; đàng

khác, lại cảm thấy mình có những khát vọng vô biên và được

mời gọi sống một cuộc sống cao cả hơn. Giữa đủ thứ thôi

thúc, con người không ngừng bị bắt buộc phải chọn lựa và từ

bỏ. Tệ hơn nữa, vì yếu đuối và tội lỗi, con người hay làm điều

mình không muốn và không làm được chút nào điều mình

muốn. Rốt cuộc, con người phải chịu sự chia rẽ ngay trong

bản thân mình và chính do đó mà sinh ra bao nhiêu bất hòa

lớn lao giữa lòng xã hội”276.

Con người như thế là con đường của Giáo hội, con

đường mở ra, một cách nào đó, từ nền tảng mọi con đường

Giáo hội phải đi, bởi vì con người – mọi người, không trừ một

ai – đã được Đức Kitô cứu chuộc, bởi vì Đức Kitô kết hợp

cách nào đó với con người, với từng người một không trừ ai,

ngay cả khi họ không ý thức: “Đức Kitô , chết và sống lại cho

tất cả, ban cho con người” – cho người nào cũng vậy và cho

276 GS 10.

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 473

tất cả mọi người – “ánh sáng và sức lực để họ có thể đáp ứng

với ơn kêu gọi cao cả của mình”277.

Vì con người đó là con đường của Giáo hội, con đường

cho cuộc sống và những kinh nghiệm hằng ngày, cho sứ

mệnh và lao khổ của Giáo hội, nên Giáo hội thời đại chúng

ta, phải ý thức và luôn canh tân ý thức về hoàn cảnh con

người. Giáo hội như vậy phải ý thức về các khả năng của con

người được biểu lộ qua việc luôn đi vào một phương hướng

mới; Giáo hội đồng thời phải ý thức về các mối đe dọa xảy

đến cho con người. Giáo hội cũng phải ý thức về tất cả những

gì xem ra trái ngược với cố gắng làm cho “cuộc sống con

người luôn nhân đạo hơn”278, ngõ hầu tất cả những gì hợp

thành cuộc sống đó tương ứng với phẩm giá thật của con

người. Tóm lại, Giáo hội phải ý thức về tất cả những gì trái

ngược với tiến trình đó.

15. Những gì con người ngày nay lo sợ.

Trong khi vẫn ghi nhớ một các sống động hình ảnh đã

được Công đồng Vat.II vạch ra một cách sáng suốt và có thẩm

quyền như thế, chúng ta một lần nữa sẽ thử thích nghi với

những đòi hỏi của hoàn cảnh không ngừng thay đổi tuy vẫn

diễn biến theo những chiều hướng nhất định.

Con người ngày nay xem như luôn bị đe dọa bởi cái

mình làm ra, tức là kết quả của công lao bàn tay mình, và hơn

nữa của lao công trí óc mình, của các xu hướng ý chí mình.

Một cách quá nhanh chóng và thường bất ngờ, các kết quả

của hoạt động đa dạng kia của con người không chỉ và không

hẳn là đối tượng cho sự “tha hóa”, tức là đơn thuần bị cướp

277 Sđd số 10

278 Sđd số 38; Thông điệp Populorum Progressio 21

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 474

mất khỏi tay kẻ làm ra chúng, nhưng các kết quả ấy còn quay

ra chống lại chính con người, ít nữa một phần nào và trong

hiệu lực gián tiếp của chúng; chúng bị vận dụng hay có thể bị

vận dụng theo chiều hường chống lại con người. Phần chính

yếu trong bi kịch cuộc sống con người ngày nay, trong kích

thước rộng rãi hơn cả và phổ biến hơn cả xem ra là ở chỗ đó.

Bởi vậy, con người sống trong lo sợ hơn mãi. Con người sợ

những sản phẩm của mình, dĩ nhiên không phải là tất cả, cũng

không phải là phần lớn, nhưng một số nào đó, mà lại là chính

những sản phẩm chứa đựng một phần đặc biệt của thiên tài và

óc sáng tạo của mình, sợ những sản phẩm này có thể quay ra

chống hẳn lại chính mình. Sợ chúng có thể trở thành những

phương tiện và công cụ cho một họa tự diệt không tưởng

tượng nổi, vì so với họa tự diệt này, mọi tai ương thảm họa

trong lịch sử xem ra không đáng kể gì nữa. Như vậy, một câu

hỏi phải được nêu lên : Vì sao cái quyền lực được ban cho con

người từ thuở đầu và phải cho phép con người thống trị trái

đất (98), thì quay ra chống lại chính con người, gây nên một

tình trạng lo âu rất dễ hiểu, một tình trạng sợ hãi có ý thức

hay vô ý thức và đầy đe dọa đang lan rộng cách này hay cách

khác đến toàn thể gia đình nhân loại hiện thời và đang tỏ ra

dưới mọi hình thức?

Tình trạng đầy đe dọa đối với con người xuất phát từ

những sản phẩm của con người, được tỏ lộ theo những hướng

khác nhau và gồm những cường độ khác nhau. Xem ra chúng

ta ngày càng ý thức hơn về sự kiện là việc khai thác trái đất,

hành tinh trên đó chúng ta sống, cần phải có kế hoạch hợp lý

và đúng đắn. Đồng thời, việc khai thác ấy khi nhằm những

mục đích không phải chỉ là kỹ nghệ mà còn là quân sự và

việc phát triển kỹ thuật khi không được kiểm soát và tổ chức

trên bình diện toàn cầu và một cách thật nhân bản, đều hay

bao hàm một mối đe dọa cho môi trường tự nhiên của con

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 475

người, tha hóa con người trong những quan hệ đối với thiên

nhiên và khiến con người xa rời thiên nhiên. Con người nhiều

khi làm như không nhận ra môi trường tự nhiên của mình có ý

nghĩa nào khác ngoài những cái lợi cho việc sử dụng và tiêu

thụ trước mắt. Trái lại, ý Tạo hóa là con người thông hiệp với

thiên nhiên như người “làm chủ” “bảo vệ” thiên nhiên một

cách thông minh và cao quý279, chứ không phải như kẻ khai

thác và phá hoại thiên nhiên không nương tay.

Nhờ làm chủ kỹ thuật mà có, sự phát triển kỹ thuật và

văn minh thời đại chúng ta đòi hỏi một sự phát triển tương

xứng trong đời sống đạo đức. Nhưng tiếc thay, sự phát triển

đạo đức này xem ra luôn ở lại phía sau. Đã đành tiến bộ kỹ

thuật và văn minh kia là tuyệt diệu và khó mà không thấy ở

đó những dấu hiệu đích thực về sự cao cả của con người với

tính sáng tạo đã được mặc khải tiềm tàng trong những trang

Sách Sáng thế, kể từ trình thuật về tạo dựng280. Tuy nhiên

cũng chính tiến bộ đó không thể không sinh ra rất nhiều nỗi

lo âu. Nỗi lo âu trước tiên nhằm vào vấn đề cốt yếu và căn

bản: tiến bộ do con người làm ra và bảo vệ có khiến cho đời

sống con người trên trái đất trở nên “nhân đạo hơn” về mọi

phương diện chăng ? Không thể nghi ngờ là có như thế về

một số mặt nào đó. Tuy vậy, câu hỏi kia vẫn cứ trở lại ở điểm

cốt yếu: con người với tư cách là con người, trong khung cảnh

tiến bộ, có thực sự khá hơn không, nghĩa là chín chắn hơn về

mặt tinh thần, ý thức hơn về nhân phẩm mình, có trách nhiệm

hơn, cởi mở hơn với kẻ khác, đặc biệt với những kẻ thiếu

thốn và yếu kém nhất, sẵn sằng giúp đỡ mọi người hơn ?

Đó là câu hỏi mà các Kitô hữu phải tự nêu lên cho

chính mình vì Đức Kitô đã làm cho họ nhạy cảm đối với mọi

279 St 1,28

280 St 1-2.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 476

mặt vấn đề con người. Đó cũng là câu hỏi mà mọi người phải

tự nêu lên cho mình, đặc biệt là những ai thuộc về những môi

trường xã hội tích cực dành công sức cho sự phát triển và tiến

bộ ở thời đại chúng ta. Khi theo dõi các tiến triển này và dự

phần vào đó, chúng ta không thể để mình rơi vào cơn sảng

khoái, và càng không thể để mình bốc lên theo niềm phấn

khởi một chiều vì chinh phục của chúng ta: nhưng tất cả

chúng ta đều phải hết sức ngay thẳng, khách quan và đem

một ý thức về trách nhiệm tinh thần mà tự đặt cho mình

những câu hỏi cốt yếu liên quan đến hoàn cảnh con người

ngày nay và trong tương lai. Tất cả những chinh phục đã đạt

được cho tới nay và những chinh phục mà kỹ thuật dự trù sẽ

thực hiện trong tương lai, có đi đôi với tiến bộ đạo đức và tinh

thần của con người không ? Trong khung cảnh đó, phải chăng

con người, với tư cách là con người, được phát triển và tiến

bộ, hay phải chăng con người đang thoái hóa và sa sút trong

nhân tính mình ? Phải chăng nơi loài người, “trong thế giới con

người” vốn tự nó là một thế giới của cái tốt và cái xấu tinh

thần, cái tốt đang hơn cái xấu ! Phải chăng tình thương xã hội,

lòng tôn trọng quyền lợi kẻ khác – mọi người, mọi quốc gia,

mọi dân tộc – đang tăng lên thực sự trong loài người, giữa

người với người, hay phải chăng ngược lại, chỉ có tăng thêm

các mối ích kỷ ở những bình diện này nọ, các chủ nghĩa quốc

gia quá đáng thay vì lòng yêu nước đích thực, chưa kể khuynh

hướng vượt quá những quyền hạn riêng và những công lao

chính đáng của mình mà thống trị kẻ khác, cũng như khuynh

hướng khai thác tiến bộ vật chất, kỹ thuật và sản xuất cho

mục đích độc nhất là thống trị kẻ khác hay làm lợi cho đế

quốc này hay đế quốc nọ.

Đó là những câu hỏi cốt yếu mà Giáo hội không thể

không tự nêu lên cho mình, khi mà hàng tỷ người hiện sống

trên thế giới đang tự nêu lên cho họ những câu hỏi ấy một

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 477

cách ít nhiều minh nhiên. Đề tài phát triển và tiến bộ ở trên

môi mọi người và xuất hiện trên các cột báo chí và ấn phẩm,

trong hầu hết mọi thứ tiếng của thế giới ngày nay. Tuy nhiên,

chúng ta đừng quên rằng, đề tài ấy không phải chỉ bao hàm

những quả quyết và những cái chắc chắn, mà còn cả những

câu hỏi và những lo âu ray rứt nữa. Những câu hỏi và những

lo âu này không kém phần quan trọng. Chúng phù hợp với

bản chất ý thức con người, và hơn nữa với nhu cầu căn bản

của con người là quan tâm đến con người, đến nhân tính, đến

tương lai loài người trên trái đất. Nhờ lòng tin hướng về cánh

chung, Giáo hội coi mối quan tâm đến con người, đến nhân

tính, đến tương lai loài người trên trái đất và vì vậy cũng là

mối quan tâm đến phương hướng của toàn bộ sự phát triển và

tiến bộ kia, như một yếu tố cốt yếu trong sứ mệnh của mình

và không thể tách rời ra được. Và Giáo hội tìm được nguyên

lý của mối quan tâm đó trong chính Đức Giêsu Kitô, như các

Tin mừng làm chứng. Vì vậy trong Người, Giáo hội muốn

thường xuyên tăng thêm mối quan tâm đó bằng cách nhìn lại

hoàn cảnh con người trong thế giới ngày nay dưới ánh sáng

những dấu hiệu quan trọng hơn cả của thời chúng ta.

16. Tiến bộ hay đe dọa ?

Như thế nếu thời chúng ta, thời thế hệ chúng ta, thời

gần cuối thiên niên kỷ thứ hai của kỷ nguyên Kitô giáo, tỏ ra

trước mắt chúng ta như một thời có những tiến bộ lớn thì nó

cũng xuất hiện như một thời mang đủ thứ đe dọa đối với con

người: Giáo hội phải nói và đối thoại với mọi người thiện chí

về vấn đề này. Vì hoàn cảnh con người trong thế giới ngày

nay xem ra ở xa những đòi hỏi khách quan của trật tự đạo

đức, cũng như những đòi hỏi của công bình và, còn hơn nữa,

của tình thương xã hội. Đây chỉ là những gì được bày tỏ trong

sứ điệp đầu tiên mà Tạo hóa đã truyền cho con người, khi

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 478

giao phó trái đất cho con người “khuất phục”281. Sứ điệp đầu

tiên đó đã được Đức Kitô xác nhận trong mầu nhiệm cứu

chuộc. Công đồng Vat.II nói lên điều này trong những chương

thật hay về “Vương quyền” của con người, nghĩa là về việc

con người được mời gọi dự phần vào việc phục vụ hoàng

vương – munus regale – của chính Đức Kitô282. Ý nghĩa căn

bản của “vương quyền” này và của việc trị vì trên thế giới hữu

hình mà Tạo hóa đã giao cho con người như một nghĩa vụ, ý

nghĩa đó là đạo đức có quyền ưu tiên đối với kỹ thuật, con

người ở trên các đồ vật, và tinh thần cao quý hơn vật chất.

Chính vì thế cần phải chú ý theo dõi tất cả các giai đoạn

của tiến bộ ngày nay: phải làm như thể “rọi điện” từ quan

điểm kia vào từng giai đoạn một. Vấn đề là phát triển những

con người chứ không phải chỉ là tăng số lượng những đồ vật

mà con người có thể sử dụng. Như một triết gia hiện đại đã

nói và như Công đồng cũng từng quả quyết, vấn đề không

phải ở chỗ “có nhiều hơn” cho bằng ở chỗ “là gì hơn”283. Quả

thế, đã có một nguy cơ thực sự và nhận ra được: trong khi sự

thống trị của con người trên thế giới các đồ vật đang tiến bộ

lớn lao, thì con người lại có thể đánh mất những mối dây chỉ

đạo cho sự thống trị này. Có thể thấy nhân tính mình chịu

khuất phục cách này cách nọ trước thế giới đồ vật và chính

mình trở thành đồ vật cho người ta mặc tình sử dụng đủ kiểu –

không phải luôn trực tiếp thấy rõ được – qua toàn thể tổ chức

đời sống cộng đồng, qua hệ thống sản xuất, bằng áp lực của

các phương tiện truyền thông xã hội. Con người không thể từ

bỏ chính mình hay chỗ đứng đặc biệt của mình, không thể trở

281 St 1,28; Vat.II sắc lệnh IM 6; GS 74.78

282 Vat.II LG 10. 36

283 Vat.II GS 35; Phaolô VI diễn văn cho ngoại giao đoàn 7.1.1965 và

th6ng điệp PP 14.

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 479

thành nô lệ cho các đồ vật, nô lệ cho các hệ thống kinh tế,

cho việc sản xuất, cho chính các sản phẩm của mình. Một nền

văn minh có dạng thuần vật chất bắt buộc con người phải nô

lệ như thế, ngay cả khi, dĩ nhiên, điều ấy xảy ra trái ngược với

các ý hướng và nguyên tắc của các kẻ đi đầu. Chắc hẳn vấn

đề đó nằm ở nền tảng nỗi lo lắng hiện đại về con người. Ở

đây không phải chỉ có việc đem lại một giải đáp trừu tượng

cho câu hỏi : con người là ai ? nhưng đây là vấn đề liên quan

đến tất cả động lực của đời sống và nền văn minh. Đây là vấn

đề ý nghĩa của các khởi xướng này nọ trong cuộc sống hằng

ngày, và đồng thời, của các khởi điểm cho nhiều chương trình

văn minh, chương trình chính trị, kinh tế, xã hội, nhà nước và

nhiều chương trình khác nữa.

Sở dĩ chúng ta dám đánh giá hoàn cảnh con người trong

thế giới ngày nay là đang xa cách những đòi hòi khách quan

của trật tự đạo đức, xa cách những đòi hỏi của công bằng và

còn xa cách hơn nữa những đòi hỏi của tình yêu thương xã

hội, chính vì đó là điều đã từng được xác nhận bằng những sự

kiện và những ví dụ rất quen thuộc và đã nhiều lần có tiếng

vang trong các văn kiện của các Đức Giáo hoàng, của Công

đồng hay của Thượng hội đồng giám mục284. Hoàn cảnh con

284 x. Đức Piô XII, thông điệp truyền thanh kỷ niệm 50 năm thông

điệp Rerum Novarum (1.6.1941); thông điệp truyền thanh đêm giáng

sinh (24.12.1942), thông điệp truyền thanh đêm giáng sinh (24.12.1943);

thông điệp truyền thanh đêm giáng sinh (24.12.1944); diễn từ gửi các

hồng Y (24.12.1945); diễn từ gửi các hồng Y (24.12.1946); diễn từ gửi

các hồng Y (24.12.1947); thông điệp truyền thanh đêm giáng sinh

(24.12.1947); Đức Gioan XXIII Pacem in Teris; Phaolô VI ES; diễn văn

đọc trước Hội nghị Liên Hiệp Quốc (4.10.1965); Populorum progressio;

Diễn từ gửi các nông dân ở Colombia (23.8.1968); Diễn văn đọc trước

hội nghị của Tổ Chức Lương Nông quốc tế FAO (16.11.1970); Tông thư

Octogesima adviens; Diễn từ gửi các hồng Y (23.6.1972) ; J-P.II Diễn

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 480

người trong thời đại chúng ta, chắc chắn không phải là đồng

nhất nhưng trở nên khác biệt bằng nhiều cách. Những khác

biệt này cũng có những nguyên nhân lịch sử của chúng,

nhưng chúng cũng có âm hưởng luân lý mạnh mẽ, quả vậy,

người ta thừa biết cái khung cảnh văn minh tiêu thụ là nhiều

xã hội – thường là những xã hội giầu và rất phát triển – dư

thừa những của cải cần cho con người, khi mà các xã hội

khác, hay ít nữa là nhiều tầng lớp đông đảo trong các xã hội

này, lại phải đói khổ và nhiều người vẫn chết hằng ngày vì

không có ăn và thiếu dinh dưỡng. Song song với tình hình trên

là việc có những kẻ lạm dụng sự tự do cách nào đó, chính vì

ham mê tiêu thụ mà không chịu sự kiểm soát của đạo đức, và

việc lạm dụng này lại giới hạn sự tự do của những kẻ khác,

tức là của những kẻ đang chịu những thiếu thốn trầm trọng và

bị đưa đẩy tới những tình cảnh cơ cực và túng thiếu còn nguy

kịch hơn nữa.

Cái ví dụ ở đâu cũng thấy được đó là cảnh tương phản

mà các giáo hoàng thế kỷ chúng ta, như gần đây Đức Gioan

XXIII và Phaolô VI, đã chiếu theo trong các văn kiện của các

ngài285 đều như đang tiếp diễn bằng những kích thước khổng

lồ câu chuyện dụ ngôn Kinh thánh về người nhà giàu tối ngày

yến tiệc linh đình và người kẻ khó Ladarô286.

Tầm rộng lớn của hiện tượng khiến phải thắc mắc về

các cơ cấu và guồng máy tài chánh, tiền tệ, sản xuất và buôn

bán đang dựa vào những áp lực chính trị này nọ mà chi phối

văn đọc tại hội nghị các Giám Mục Mỹ Châu La Tinh kỳ III (28.1.1979);

Diễn từ gửi các người Da Đỏ ở Cuilapan (29.1.1979); Diễn văn gửi các

thợ thuyền ở Monterrey (21.1.1979) ; Vat.II DH; GS; Hội nghị các Giám

mục thế giới , De iustitia sin mundo.

285 Gioan XXIII MM; PI; Phaolô VI PP

286 Lc 16,19-31

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 481

nền kinh tế thế giới: chúng tỏ ra bất lực không thể tiêu trừ

những bất công do quá khứ để lại và không thể đương đầu

với những thách thức khẩn cấp và những đòi hỏi đạo đức

trong hiện tại. Trong khi vẫn khiến con người phải chịu khuất

phục trước những căng thẳng do chính mình tạo ra, vẫn phá

tán theo một nhịp độ ngày càng nhanh chóng các tài nguyên

vật chất và năng lượng, vẫn làm nguy hại cho môi trường địa –

vật lý, các cơ cấu kia còn làm cho những vùng nghèo khổ

không ngừng mở rộng và các nỗi khốn cùng, thất vọng, đắng

cay cũng lan rộng theo287.

Ở đây chúng ta đứng trước một thảm kịch có tầm rộng

lớn không để ai có thể dửng dưng được. Đó là kẻ một đàng

đang cố thu lợi tối đa, và kẻ đàng khác phải lãnh chịu những

thiệt thòi và bất công, vẫn đều là con người, thảm kịch còn bi

đát hơn vì lại xảy ra bên cạnh những tầng lớp xã hội được ưu

đãi, những nước giàu có cứ chồng chất thêm của cải một cách

quá đáng và chính vì quá đáng mà sự giàu có của họ rất

thường trở thành nguyên nhân nhiều rối loạn. Thêm vào đó

cơn sốt lạm phát và bệnh thất nghiệp dai dẳng là những triệu

chứng khác của tình trạng hỗn loạn tinh thần thấy được trong

hoàn cảnh thế giới và đòi hỏi những đổi mới bạo dạn và sáng

tạo, phù hợp với phẩm giá đích thực của con người288.

Công việc này không phải là không thể làm được.

Nguyên tắc liên đới theo nghĩa rộng phải thúc đẩy việc tìm

cho ra những cơ chế và guồng máy thích đáng. Đây vừa là

trong phạm vi những trao đổi hàng hóa cần tuân theo những

quy luật của sự thi đua lành mạnh, vừa là vấn đề phân phối lại

287 J-P.II Bài giảng tại Saint Domingue (25.1.1979), s.3; Diễn văn gửi

các người Da Đỏ và các nông dân ở Oaxaca (30.1.1979), s.2; Diễn văn

gửi các thợ thuyền tại Monterrey (31.1.1979) , s.4.

288 x. Phaolô VI OA, s.42

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 482

của cải một cách rộng rãi và trực tiếp hơn và kiểm soát những

của cải này, ngõ hầu các dân tộc trên đường phát triển kinh tế

có thể không những thỏa mãn các nhu cầu cốt yếu của mình

mà còn phát triển dần dần và hữu hiệu.

Người ta chỉ tiến tới trên con đường khó khăn đó, trên

con đường cần thiết phải hoán cải các cơ cấu đời sống kinh tế,

là nhờ trí tuệ, ý chí và lòng dạ có hối cải thực sự. Công việc

đòi hỏi sự dấn thân quyết liệt của những con người và những

dân tộc tự do và liên đới. Quá nhiều khi người ta nhầm lẫn sự

tự do với bản năng bảo vệ lợi ích cá nhân hay tập thể, hay với

cả bản năng tranh chấp và thống trị nữa. Dầu cho người ta có

sơn phết các bản năng này bằng những mầu sắc ý thức hệ gì

đi nữa. Điều chắc chắn là các bản năng này có thật và tác

động, nhưng sẽ chỉ có thể có một nền kinh tế thật xứng với

con người nếu những sức lực sâu xa nhất trong con người và

có ảnh hưởng quyết định đối với văn hóa đích thực của các

dân tộc lại cũng đảm nhận, định hướng và làm chủ các bản

năng kia. Chính từ những nguồn đó phải nảy sinh nỗ lực nói

lên sự tự do đích thực của con người và sẽ có sức bảo đảm

cho sự tự do này cả trong lãnh vực kinh tế nữa. Sự phát triển

kinh tế, cùng với tất cả những gì chỉ thuộc về cách thức hoạt

động riêng và thích hợp của nó, phải thường xuyên được kế

hoạch hóa và thực hiện bên trong một viễn cảnh phát triển

toàn diện và liên đới giữa người với người và các dân tộc với

nhau, như Đức Phaolô VI, vị tiền nhiệm của tôi đã từng mạnh

mẽ nhắc lại trong Thông điệp Populorum Progressio (Phát

triển các dân tộc), bằng không, chỉ riêng phạm trù “tiến bộ

kinh tế” lại trở thành một phạm trù tối thượng khiến tất cả

cuộc sống con người phải lệ thuộc vào những đòi hỏi thiên

lệch của nó, bóp nghẹt con người, làm tan rã các xã hội và

cuối cùng tự sa lầy trong những mâu thuẫn và thái quá của nó.

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 483

Nghĩa vụ trên có thể chu toàn được: bằng chứng là

những sự kiện đã được xác nhận và những kết quả khó kể ra

hết ở đây một cách phân tích hơn. Dẫu sao có một điều chắc

chắn: ở nền tảng nỗ lực lớn lao đó phải đặt, phải nhận và đào

sâu ý thức về trách nhiệm đạo đức mà con người cần đảm

nhận. Lại vẫn con người. Một lần nữa chúng ta được đưa trở

lại với vấn đề trách nhiệm đạo đức mà chủ thể không phải là

ai khác ngoài con người. Đối với chúng ta là những người Kitô

hữu, một trách nhiệm như thế trở thành đặc biệt hiển nhiên,

khi chúng ta gợi lên – và vẫn phải luôn nhắc lại – cảnh tượng

phán xét cuối cùng, như lời Đức Kitô trong Tin mừng theo

Thánh Matthêô289.

Cảnh tượng cánh chung đó phải luôn được áp dụng vào

lịch sử con người, phải luôn được lấy làm một lược đồ cốt yếu

cho mỗi người và mọi người tự vấn lương tâm : “Xưa Ta đói

mà các người không cho ta ăn… Ta mình trần mà các ngươi

không cho mặc… Ta ở tù mà các ngươi đã không thăm

viếng”290. Những lời như thế càng thêm giá trị cảnh cáo nếu

chúng ta nghĩ tới tình trạng là thay vì đem cơm bánh và sự trợ

giúp văn hóa đến cho các chính phủ và các nước mới độc lập,

nhiều khi người ta lại chỉ cung cấp dồi dào những vũ khí hiện

đại và những phương tiện phá hoại để phục vụ cho những

xung đột vũ trang và những cuộc chiến tranh. Những xung đột

và chiến tranh này lại không phải do nhu cầu bảo vệ các

quyền lợi chính đáng và chủ quyền của các nước đó cho bằng

là một hình thức chủ nghĩa Sô – vanh, chủ nghĩa đế quốc, chủ

nghĩa thực dân mới đủ loại. Ai cũng thừa rõ là các khu vực

nghèo đói trên trái đất chúng ta có thể được “cải tạo thành

phì nhiêu” trong một thời gian ngắn, nếu các khoản đầu tư

289 x. Mt 25,31-46.

290 Mt 25,42.43

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 484

khổng lồ vẫn được dồn vào việc trang bị vũ khí phục vụ

chiến tranh và hủy diệt lại được biến thành những khoản đầu

tư vào việc sản xuất lương thực phục vụ sự sống.

Có lẽ nhận định trên đây vẫn còn là “trừu tượng” phần

nào, có lẽ nó sẽ đem lại cơ hội cho “phe này” hay “phe kia”

tố cáo lẫn nhau mà quên đi những lỗi lầm riêng của mình. Có

lẽ nó sẽ còn gây nên những lời tố cáo mới nhằm vào Giáo

hội. Tuy vậy, vì không sẵn khí cụ nào khác ngoài những khí

cụ của tinh thần, lời nói và tình thương, Giáo hội không thể từ

bỏ việc rao giảng “lời… lúc thuận cũng như lúc nghịch”291. Vì

vậy, Giáo hội không ngừng nhân danh Chúa và nhân danh

con người yêu cầu mỗi phe và yêu cầu mọi người: chớ giết

người ! Xin đừng sửa soạn tàn phá và tiêu diệt loài người. Xin

nghĩ đến những anh em của quý vị đang khốn khổ vì nghèo

đói ! Xin hãy tôn trọng phẩm giá và sự tự do của mỗi người !.

17. Quyền lợi con người : “Chủ nghĩa” hay “tinh thần”

?

Thế kỷ chúng ta cho tới nay đã là một thế kỷ đầy những

tai họa lớn cho con người, những tàn phá, không phải chỉ về

mặt vật chất mà còn về mặt tinh thần, và có lẽ nhất là về mặt

tinh thần. Đã hẳn là về mặt này không dễ gì so sánh các thời

đại và các thế kỷ với nhau, bởi vì cũng tùy những tiêu chuẩn

lịch sử vẫn thay đổi. Tuy nhiên, dẫu không so sánh như thế thì

cũng phải nhận thấy rằng, cho đến nay, thế kỷ này đã là một

thế kỷ mà loài người tự bày ra cho chính mình rất nhiều bất

công, đau khổ. Diễn tiến đó phải chăng đã được hãm lại thực

sự? Dẫu sao đối với những tình cảm trọng vọng đối với quá

khứ và hy vọng sâu sắc đối với tương lai, không thể không

291 2Tm 4,2

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 485

nhắc lại ở đây nỗ lực tuyệt vời đã được thực hiện để đem lại

sự sống cho tổ chức Liên Hiệp Quốc, nỗ lực nhằm xác định

và thiết lập các quyền khách quan và bất khả xâm phạm của

con người, bắt buộc các nước thành viên tôn trọng nghiêm

nhặt các quyền đó một cách có qua có lại. Sự cam kết này đã

được hầu hết các nước ngày nay chấp nhận và phê chuẩn và

điều đó đáng lý phải thành một bảo đảm để trên khắp thế

giới các quyền con người trở nên một nguyên tắc căn bản cho

các cố gắng được thực hiện vì lợi ích con người.

Giáo hội không cần khẳng định lại là vấn đề trên nối

liền chặt chẽ đến đâu với sứ mệnh của mình trong thế giới

ngày nay. Quả thế, nó nằm ngay không nền tảng hòa bình xã

hội và quốc tế, như Đức Gioan XXIII, Công đồng Vat.II, rồi

Đức Phaolô VI đã tuyên bố trong các văn kiện bàn đến nó

một cách chi tiết. Rốt cuộc, hòa bình chỉ là sự tôn trọng các

quyền bất khả xâm phạm của con người – opus iustitiae pax,

trong khi chiến tranh lại sinh ra từ sự vi phạm các quyền đó và

kéo theo những vi phạm còn trầm trọng hơn nữa. Nếu các

quyền con người bị vi phạm trong thời bình thì thành ra đặc

biệt đau xót, xét theo quan điểm của tiến bộ, đó là một hiện

tượng chống lại con người không sao hiểu nổi, và sự kiện này

không cách gì có thể phù hợp với bất cứ chương trình nào tự

cho là “nhân bản”. Thế mà có chương trình xã hội, kinh tế,

chính trị, văn hóa nào có thể không tự nhận là nhân bản ?

Chúng ta vốn giữ một niềm xác tín sâu sắc là ngày nay trên

thế giới không có một chương trình nào, kể cả khi kèm theo

những ý thức hệ đối chọi nhau về vũ trụ quan, mà lại không

đặt con người lên hàng đầu.

Thế mà, mặc dù có những tiền đề như trên, nếu các

quyền của con người bị vi phạm cách này cách khác, nếu,

trong thực tế, chúng ta chứng kiến những trại tập trung, sự bạo

hành, tra tấn, khủng bố và nhiều thứ kỳ thị, thì đó phải là hậu

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 486

quả của những tiền đề khác đang ăn mòn hay nhiều khi còn

như đang tiêu hủy hiệu năng của những tiền đề nhân bản

trong các chương trình và hệ thống hiện đại kia. Khi đó nghĩa

vụ cần thiết là phải thường xuyên dựa vào những quyền

khách quan và bất khả xâm phạm của con người mà duyệt lại

các chương trình kia.

Việc tuyên bố các quyền con người và cả việc thành

lập tổ chức Liên hiệp quốc chắc chắn không tự giới hạn vào ý

muốn đoạn tuyệt với những kinh nghiệm khủng khiếp của

cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng còn nhằm tạo nền

tảng cho việc duyệt xét lại thường xuyên các chương trình, hệ

thống, chế độ kia, chính từ quan điểm duy nhất và căn bản là

lợi ích của con người – hãy nói là của bản vị trong cộng đồng –

và quan điểm này, như một yếu tố căn bản cho công ích, phải

làm thành tiêu chuẩn cốt yếu cho mọi chương trình, hệ thống

và chế độ. Trong trường hợp ngược lại, cuộc sống con người,

ngay cả trong thời bình, không sao tránh khỏi nhiều thứ khốn

khổ, và đồng thời, kèm theo những nỗi khốn khổ này là sự

phát triển đủ hình thức thống trị, độc tài và thực dân mới cũng

đe dọa những quan hệ giữa các nước. Thật vậy, một sự kiện

có ý nghĩa và đã nhiều lần được các kinh nghiệm lịch sử xác

nhận, đó là việc xâm phạm các quyền con người vẫn đi đôi

với việc xâm phạm các quyền của quốc gia vì con người được

nối kết bằng những quan hệ hữu cơ với quốc gia như với một

gia đình mở rộng.

Ngay từ nửa đầu thế kỷ này, trong thời kỳ nhiều quốc

gia độc tài đã phát triển và, như người ta biết quá rõ, đã đưa

tới tai họa khủng khiếp là chiến tranh, Giáo hội đã từng minh

định rõ ràng lập trường của mình đối với các chế độ ấy. Bề

ngoài, chúng xem ra hoạt động cho một lợi ích cao hơn, tức là

lợi ích quốc gia, thế mà lịch sử về sau chứng minh ngược lại

đó chỉ là lợi ích của một phe phái đã tự đồng hóa mình với

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 487

quốc gia292. Thực ra, các chế độ ấy đã thu hẹp các quyền của

người công dân bằng cách chối từ không chịu nhìn nhận cho

họ những quyền bất khả xâm phạm của con người đã được

minh định vào giữa thế kỷ này trên bình diện quốc tế. Chia sẻ

niềm vui vì thành công ấy với tất cả những người thiện chí,

với tất cả những người thực sự yêu chuộng công lý và hòa

bình, nhưng vì ý thức rằng chữ nghĩa suông thì có thể giết

chết, chỉ “tinh thần mới làm cho sống”293, Giáo hội phải kết

hợp với những người thiện chí kia để không ngừng hỏi xem

Tuyên ngôn nhân quyền và việc chấp nhận nó về mặt “chữ

nghĩa” phải chăng ở đâu cũng đồng thời có nghĩa là thực hiện

“tinh thần” của nó. Thật vậy, đang nổi lên mối lo sợ có căn cứ

rằng rất nhiều khi chúng ta còn ở xa việc thực hiện kia và đôi

khi tinh thần đời sống xã hội và công cộng đang đối nghịch

đau xót với “chữ nghĩa” các quyền con người như thấy được

trong Tuyên ngôn. Tình trạng đó đầy hậu quả nghiêm trọng

đối với nhiều xã hội khác nhau, hẳn còn đặc biệt khiến những

kẻ góp phần gây ra nó phải chịu trách nhiệm nặng nề hơn đối

với các xã hội này và lịch sử loài người.

Ý nghĩa căn bản của nhà nước với tư cách là cộng đồng

chính trị, là ở chỗ xã hội làm nên nhà nước, tức là nhân dân

làm chủ vận mệnh mình. Ý nghĩa đó không được thực hiện

nếu, thay vì một quyền bính được thi hành với sự tham dự tinh

thần của xã hội hay nhân dân, chúng ta lại chứng kiến một

quyền lực do một nhóm nhất định áp đặt cho tất cả các thành

phần khác của xã hội. Đó là những điều cốt yếu trong thời đại

chúng ta khi mà ý thức xã hội của người ta tăng lên rất nhiều

và đồng thời với ý thức đó là việc các công dân có nhu cầu

292 Piô XI, QA; Tđ Non abbiamo bisogno; T9d Divini Redemtoris; Tđ

Mit brennender Sorge; Piô XII Tđ Summi pontificatus.

293 x. 2Cr 3,6

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 488

được tham dự đúng đắn vào đời sống của cộng đồng chính trị,

một khi đã xét tới hoàn cảnh thực tế của mỗi dân tộc và sự

cần thiết có một công quyền đủ mạnh294. Đó là những vấn đề

quan trọng hàng đầu trong những gì liên quan đến sự tiến bộ

của chính con người và sự phát triển chung của nhân tính.

Giáo hội đã luôn dạy phải hành động cho lợi ích chung

và làm như vậy cũng là đã giáo dục được những công dân tốt

cho mỗi nước. Ngoài ra, Giáo hội đã luôn dạy rằng nghĩa vụ

căn bản về phía quyền bính là quan tâm đến những lợi ích

chung của xã hội: vì do đó mà có cơ sở cho những quyền căn

bản của quyền bính. Nhân danh những tiền đề liên quan đến

trật tự đạo đức khách quan, các quyền của quyền bính chỉ có

thể được hiểu trên nền tảng tôn trọng các quyền khách quan

và bất khả xâm phạm của con người. Lợi ích chung kia mà

quyền hành nhà nước phải phục vụ, chỉ được thực hiện đầy

đủ khi nào tất cả mọi công dân được bảo đảm về các quyền

của họ. Bằng không là đi tới tình trạng xã hội tan rã, các công

dân chống lại nhà cầm quyền, hay còn đi tới một hoàn cành

đàn áp, đe dọa, bạo hành, khủng bố như các nền độc tài thế

kỷ này đã cho chúng ta nhiều ví dụ. Chính như thế mà

nguyên tắc các quyền con người liên hệ sâu sa tới lãnh vực

công bình xã hội và thành mực thước để kiểm nghiệm một

cách căn bản về công bình xã hội trong đời sống các cơ chế

chính trị.

Trong số các quyền nói trên người ta kể tới một cách

chính đáng quyền tự do tôn giáo bên cạnh quyền tự do lương

tâm. Công đồng Vat.II đã cho là đặc biệt cần thiết phải soạn

thảo một tuyên ngôn có tầm cỡ hơn về đề tài này. Đó là văn

kiện mang tựa đề Dignitatis humanae (Phẩm giá con người)295:

294 Vat.II GS, 31

295 x. AAS 58, 1966, 929-946

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 489

Văn kiện trình bày không những quan niệm thần học về vấn

đề này mà còn là quan niệm xuất phát từ luật tự nhiên, tức là

từ một góc nhìn “thuần túy con người”, trên căn bản những

tiền đề do chính kinh nghiệm con người, lý trí con người và ý

thức con người về phẩm giá của mình nói lên. Đã hẳn, sự giới

hạn tự do tôn giáo của các cá nhân và cộng đồng không

những là một kinh nghiệm đau xót cho họ, mà còn đụng chạm

trước tiên đến chính phẩm giá con người, bất kỳ đạo mà các

cá nhân và cộng đồng ấy tuyên xưng hay quan niệm về thế

giới của họ là gì. Giới hạn và vi phạm tư do tôn giáo đều mâu

thuẫn với phẩm giá và các quyền khách quan của con người.

Văn kiện Công đồng nêu trên nói khá rõ thế nào là giới hạn

và vi phạm tự do tôn giáo như vậy. Chắc chắn là trong trường

hợp ấy chúng ta đứng trước một bất công triệt để phạm tới cái

đặc biệt sâu xa trong con người, cái đích thật là người. Thực

ra, ngay cả hiện tượng vô tín ngưỡng, có thái độ vô tôn giáo

và vô thần, như là hiện tượng thuộc về con người, chỉ có thể

hiểu được trong quan hệ với hiện tượng tôn giáo và đức tin.

Bởi vậy, ngay cả từ một quan điểm “thuần túy con người”,

khó mà chấp nhận được một lập trường chủ trương chỉ riêng

thuyết vô thần là có quyền tồn tại trong đời sống công cộng

và xã hội, còn những kẻ có tín ngưỡng, như thể là cứ theo

nguyên tắc, chỉ được tạm dung mà thôi, hay còn bị đối xử như

công dân “hạng dưới”, và cuối cùng bị mất hết các quyền

công dân như đã từng xảy ra.

Phải bàn tới đề tài đó, dù chỉ vắn tắt, vì nó cũng nằm

trong toàn bộ phức tạp những hoàn cảnh con người trong thế

giới ngày nay, và nó cũng làm chứng là hoàn cảnh này mắc

míu đủ thứ thành kiến và bất công đến đâu. Nếu chúng ta

tránh đi vào chi tiết trong lãnh vực này – và chúng ta hẳn có

quyền và nghĩa vụ đặc biệt để đi vào như thế – thì trước hết là

do bởi vốn kết hợp với tất cả những ai phải chịu kỳ thị và

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 490

bách hại vì danh Thiên Chúa, chúng ta được lòng tin vào sức

mạnh cứu chuộc của thánh giá Đức Kitô hướng dẫn. Tuy

nhiên, vì chức vụ của tôi, tôi muốn nhân danh tất cả mọi tín

hữu trên toàn thế giới, ngỏ lời với những vị cách này hay cách

khác có quyền định đoạt việc tổ chức đời sống xã hội và

công cộng, để khẩn thiết yêu cầu họ tôn trọng các quyền của

tôn giáo và của sinh hoạt Giáo hội. Đây không phải là yêu

cầu một đặc ân nào cả mà là yêu cầu sự tôn trọng một quyền

sơ đẳng. Việc thực hiện quyền này là một trong những trắc

nghiệm căn bản để kiểm nghiệm xem con người có được tiến

bộ đích thực hay không ở mọi chế độ, trong mọi xã hội, hệ

thống hay môi trường.

IV. SỨ MỆNH GIÁO HỘI VÀ VẬN MỆNH CON

NGƯỜI

18. Giáo hội quan tâm đến ơn gọi của con người

trong Đức Kitô .

Cái nhìn tất nhiên sơ sài về hoàn cảnh của con người

trong thế giới ngày nay khiến chúng ta càng hướng tâm trí

mình về Đức Giêsu Kitô, về mầu nhiệm cứu độ là nơi vấn đề

con người được ghi với một sức chân lý và tình thương đặc

biệt. Nếu Đức Kitô “một cách nào đó đã kết hợp với tất cả

mọi người”296, thì Giáo hội, khi đi vào bề thâm sâu của mầu

nhiệm này, trong ngôn ngữ phong phú và phổ quát của nó, lại

cũng sống sâu sắc hơn bản tính và sứ mệnh của mình. Không

phải uổng công mà Tông đồ nói tới Thân mình Đức Kitô là

296 GS, 22

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 491

Giáo hội297. Nếu nhiệm thể Đức Kitô là Dân Thiên Chúa – như

Công đồng Vat.II sau này sẽ nói, căn cứ vào tất cả truyền

thống Thánh Kinh và giáo phụ – điều đó có nghĩa là mọi

người trong thân mình ấy được luồng sinh khí từ Đức Kitô tới

thâm nhập. Cũng theo nghĩa này thì quay về con người, về

những vấn đề đích thực, về những hy vọng và những đau

khổ, về những chinh phục và những sa ngã của con người,

đều làm cho chính Giáo hội trong tư cách là thân mình, là cơ

chế, là đơn vị xã hội, nhận ra những thúc đẩy từ Thiên Chúa,

những ánh sáng và sức lực của Thánh Thần phát xuất từ Đức

Kitô chịu đóng đinh và sống lại – và đó chính là lý do sống

còn của Giáo hội. Giáo hội không có sự sống nào khác ngoài

sự sống mà phu quân và Chúa mình ban cho mình. Thật vậy,

bởi vì Đức Kitô đã kết hợp với Giáo hội trong sứ vụ cứu độ

của Người, nên Giáo hội cũng phải kết hợp chặt chẽ với từng

người.

Đức Kitô kết hợp với con người như thế vốn là một mầu

nhiệm, từ đó sinh ra “người mới”, được gọi tham dự đời sống

Thiên Chúa298, được tái tạo trong Đức Kitô và được nâng lên

tới sung mãn ân sủng và chân lý299. Sự kết hợp với Đức Kitô

là sức mạnh của con người, và là nguồn sức mạnh đó, theo

cách nói sắc bén của thánh Gioan trong lời tựa Tin mừng Ngài

soạn: “Lời đã ban cho quyền làm con Thiên Chúa”300. Đó là

sức thay đổi bên trong con người, như nguyên lý một đời sống

mới không biến mất cũng chẳng qua đi, nhưng tồn tại cho

cuộc sống vĩnh cửu301. đời sống đó đã được Chúa Cha hứa và

297 x. 1Cr 6,15; 11,3; 12,12-13; Ep 1,22-23; 2,15-16; 4,4-5; 5,30;

Cl 1,18; 3,15; Rm 12,4-5.30; Gl 3,28

298 2Pr 1,4

299 x. Ep 2,10; Ga 1,14-16

300 Ga 1,12

301 x. Ga 4,14

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 492

ban cho mỗi người trong Đức Giêsu Kitô là Con Một đời đời,

đã thành xác phàm và sinh bởi Trinh nữ Maria, “khi thời viên

mãn đến”302, đời sống đó là sự thành tựu cuối cùng của sứ

mệnh con người. Đó như là sự hoàn thành “vận mệnh”

Thiên Chúa đã chuẩn bị cho con người từ muôn muôn thuở.

“Vận mệnh thần linh” này diễn tiến ở bên kia mọi bí ẩn, bất

ngờ, khúc khuỷu, quanh co của “vận mệnh nhân sinh” trong

trần thế. Thật vậy, vì một tất yếu không thể tránh được, và tuy

đời sống trần gian quả là phong phú nếu tất cả rồi cũng đưa

tới biên giới sự chết và sự tiêu hủy thân xác con người, thì

Đức Kitô lại xuất hiện với chúng ta ở bên kia biên giới ấy,

“Ta là sự phục sinh và sự sống; ai tin vào Ta… sẽ không phải

chết bao giờ”303. Nơi Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh, an táng

trong mồ và sau đó sống lại đã “bừng lên cho chúng ta một

niềm hy vọng vững chắc là được sống lại hiển vinh… một lời

hứa được phúc trường sinh bất diệt”304: hướng về đích đó con

người tiến bước, xuyên qua cái chết của thân xác, chia sẻ với

mọi tạo vật hữu hình cái điều tất yếu mà vật chất phải tuân

theo. Chúng ta tìm cách đào sâu thêm mãi lời lẽ của chân lý

mà Đấng Cứu chuộc con người đã đặt vào câu này: “Thần khí

mới tác sinh, xác thịt thì không ích gì”305. Những lời này, tuy

không có vẻ, lại nói lên khẳng định cao nhất về con người: đó

là khẳng định về thân xác mà Thần Khí làm cho sống !

Giáo hội sống thực tại ấy, sống bằng chân lý ấy về con

người: nhờ nó, Giáo hội vượt được biên giới của thời-gian-tính

và đồng thời lại có thể đem lòng ân cần và yêu thương đặc

biệt mà nghĩ tời tất cả những gì – bên trong những kích thước

302 Gl 4,4

303 Ga 11,25-26

304 Kinh tiền tụng I lễ cầu hồn.

305 Ga 6,63

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 493

của thời-gian-tính-đó – có ảnh hưởng trên đời sống con người,

trên đời sống của tinh thần con người vẫn biểu lộ niềm khắc

khoải như thánh Âu Tinh đã nói tới: “Lạy Chúa, Chúa đã

dựng nên chúng con cho Chúa và lòng chúng con còn khắc

khoải mãi cho tới khi được an nghỉ trong Chúa”306. Tất cả

những gì là bề sâu của con người đều phập phồng trong niềm

khắc khoải sáng tạo ấy: tìm kiếm chân lý, khát khao sự thiện,

thèm muốn tự do, hoài mộ cái đẹp, tiếng nói lương tâm. Giáo

hội khi tìm cách nhìn con người như “với đôi mắt của chính

Đức Kitô” thì luôn ý thức hơn là mình đang giữ gìn một kho

tàng lớn lao mà mình không được quyền phung phí, nhưng

phải luôn làm tăng thêm. Quả vậy, Chúa Giêsu đã nói: “Ai

không cùng Ta thu hợp, tức là làm phân tán”307. Kho tàng ấy

của nhân loại thêm dồi dào nhờ mầu nhiệm khôn tả làm con

Thiên Chúa308, nhờ ơn thành “nghĩa tử” 309trong Con Một

Thiên Chúa khiến chúng ta được thưa với Thiên Chúa là

Abba, Cha310. Kho tàng ấy đồng thời lại là một sức mạnh lớn

lao thống nhất Giáo hội nhất là từ bên trong, và làm cho tất cả

sinh hoạt của Giáo hội có ý nghĩa. Nhờ sức mạnh này, Giáo

hội kết hợp với Thần Khí Đức Kitô, với Thánh Thần mà Đấng

Cứu Chuộc đã hứa, và luôn thông ban. Việc Thánh Thần đến,

được tỏ ra trong ngày Ngũ Tuần, vẫn còn đó mãi mãi. Như

thế, các sức lực của Thần Khí311, các ân huệ Thần Khí312, các

hoa quả Thần Khí313 tự mạc khải nơi loài người. Và Giáo hội

306 Confessio I,I

307 Mt 12,30

308 x. Ga 1,12

309 Gl 4,5

310 Gl 4,6; Rm 8,15

311 x. Rm 15,13; 1Cr 1,24

312 x. Is 11,2tt; Cv 2,38

313 x. Gl 5,22-23

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 494

thời đại chúng ta như lặp lại một cách ngày càng sốt sắng và

tha thiết hơn: “Lạy Thánh Thần khấn xin ngự đến” Xin ngự

đến ! Xin ngự đến ! “Hết những gì nhơ bẩn, xin rửa cho sạch

trong, tưới gội nơi khô cạn, chữa lành mọi vết thương. Cứng

cỏi uốn cho mềm, lạnh lùng xin sưởi cho ấm, những nẻo

đường sai lầm, sửa sang cho ngay thẳng !”314.

Lời khấn nài Thánh Thần như trên để được Thần khí, lại

là câu trả lời cho mọi “chủ nghĩa duy vật” thời đại chúng ta.

Chính những chủ nghĩa này làm nẩy sinh bao hình thức khao

khát khôn nguôi của lòng người. Lời khấn nài trên được cảm

thấy từ nhiều phía, và xem ra đem lại kết quả bằng rất nhiều

cách. Có thể nói được chăng là Giáo hội không khẩn nài như

vậy một mình ? Vâng, có thể nói được như thế, vì “nhu cầu”

về thiêng liêng lại cũng được những người ở ngoài biên

cương hữu hình của Giáo hội nói lên315. Điều ấy há chẳng

được xác nhận bởi chân lý sau đây về Giáo hội, chân lý mà

Công đồng vừa rồi đã làm rõ ra một cách sắc bén biết bao

trong hiến chế tín lý “Ánh sáng muôn dân” sao ? Trong hiến

chế này Công đồng dạy rằng Giáo hội là “bí tích, tức vừa là

dấu hiệu vừa là phương thế kết hợp mật thiết với Thiên Chúa

và hiệp nhất toàn thể nhân loại”316. Lời kêu cầu với Thần khí

và nhờ Thần khí chẳng qua chỉ là một cách kiên trì đi vào kích

thước đầy đủ của mầu nhiệm cứu chuộc. Theo mầu nhiệm

này, Đức Kitô, kết hợp cùng Cha và với mọi người, thông

truyền liên lỉ cho chúng ta Thần Khí đó là Đấng đặt vào trong

chúng ta những tâm tình của Chúa Con và hướng ta về Chúa

Cha317. Chính vì lẽ đó mà Giáo hội thời đại chúng ta – một thời

314 Ca tiếp liên lễ Hiện Xuống

315 LG, 16

316 Sđd, số 1.

317 x. Rm 8,15; Gl 4,6

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 495

đại đặc biệt khát khao Thần khí bởi vì khát khao công lý, hòa

bình, tình thương, nhân từ, sức lực, trách nhiệm, nhân phẩm –

cần tập trung và họp lại chung quanh mầu nhiệm ấy, để tìm

lại được ở đó ánh sáng và sức lực cần thiết cho chính sứ mệnh

mình. Thật vậy, nếu như đã nói trước đây, con người là con

đường đời sống thường ngày của Giáo hội thì chính Giáo hội

cần phải luôn luôn ý thức về phẩm giá con người được nhìn

nhận làm con cái Thiên Chúa trong Đức Kitô, nhờ ân sủng

Thánh Thần318, và ý thức rằng con người được hướng về ân

sủng và vinh quang319. Nhờ luôn suy nghĩ lại về tất cả những

điều đó và đón nhận với một niềm tin ý thức hơn mãi và một

lòng yêu thương vững vàng hơn mãi, Giáo hội càng được

thêm khả năng phục vụ con người như Chúa Kitô đã kêu gọi

Giáo hội làm việc ấy khi Người nói: “Con Người không đến để

được hầu hạ, mà là để hầu hạ”320. Giáo hội thi hành sứ vụ ấy

bằng cách tham gia vào “ba chức năng” đặc biệt của Thầy và

Đấng cứu chuộc mình. Giáo lý này căn cứ vào Thánh Kinh đã

được Công đồng Vat.II làm sáng tỏ mà mưu ích nhiều cho đời

sống Giáo hội. Là vì khi chúng ta ý thức về sự tham gia vào

ba sứ mệnh Đức Kitô, vào ba chức năng của Người – tư tế,

ngôn sứ và vương giả321 – thì chúng ta đồng thời cũng ý thức

hơn toàn thể Giáo hội, với tư cách xã hội và cộng đồng dân

Thiên Chúa trên trần gian, là để làm gì, và chúng ta lại cũng

hiểu mỗi người chúng ta phải tham gia thế nào vào sứ mệnh

và việc phục vụ kia.

318 x. Rm 8,15

319 x. Rm 8,30

320 Mt 20,28

321 LG, 31-36

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 496

19. Giáo hội có trách nhiệm về chân lý.

Như thế, dưới ánh sáng giáo lý công đồng Vat.II, Giáo

hội xuất hiện trước mắt chúng ta như chủ thể chịu trách nhiệm

xã hội về chân lý của Thiên Chúa. Chúng ta rất xúc động khi

nghe chính Đức Kitô tuyên bố: “Lời anh em nghe đây không

phải là của tôi, mà là của Cha, Đấng đã sai tôi”322. Trong quả

quyết này của Thầy chúng ta, há không phải thấy trách nhiệm

kia về chân lý mặc khải là “sở hữu” của một mình Thiên

Chúa, vì ngay cả Người là “Con Một”, sống “trong cung lòng

Cha”323, thế mà khi thông truyền chân lý đó với tư cách ngôn

sứ và thầy, cũng cảm thấy cần nhấn mạnh là mình hành động

hoàn toàn trung thành với nguồn chân lý là Thiên Chúa ?

Cũng lòng trung thành ấy phải là một tính cách làm nên đức

tin của Giáo hội, khi giảng dạy hoặc khi tuyên xưng đức tin

này. Đức tin, vì là đức tính siêu nhiên đặc biệt được ban cho

trí tuệ con người, làm cho ta được tham dự vào sự thông hiểu

Thiên Chúa, đáp lại lời Ngài mặc khải. Cho nên, Giáo hội khi

tuyên xưng và giảng dạy đức tin, cần bám chặt vào chân lý

của Thiên Chúa324 và điều đó phải được tỏ ra bằng một thái

độ sống phục tùng hợp với lý trí325. Ngay Đức Kitô, để bảo

đảm lòng trung thành với chân lý của Thiên Chúa cũng đã

hứa cho Giáo hội được Thánh Thần chân lý giúp đỡ đặc biệt.

Người đã ban ơn vô ngộ326 cho những ai được Người trao

nhiệm vụ thông truyền và giảng dạy chân lý đó327 – như Công

322 Ga 14,24

323 Ga 1,18

324 DV, 5.10.21

325 Vat.II Dei Filius, ch.3

326 Vat.II PA; LG, 25

327 x. Mt 28,19

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 497

đồng Vat.I đã xác nhận rõ ràng328 và như Công đồng Vat.II đã

tái quả quyết theo329 – và Người còn ban cho toàn thể dân

Thiên Chúa một cảm quan đặc biệt về đức tin330.

Hậu quả là chúng ta được tham dự vào sứ mệnh của

Đức Kitô ngôn sứ và nhân danh chính sứ mệnh ấy, chúng ta

cùng với Người phục vụ chân lý của Thiên Chúa trong Giáo

hội. Trách nhiệm về chân lý này cũng có nghĩa là chúng ta

phải yêu mến nó, tìm hiểu nó cho đúng. Làm sao cho chính

mình và kẻ khác tới được với nó hơn trong tất cả sức cứu độ

của nó, trong cái huy hoàng, cái sâu sắc và đồng thời trong cái

đơn giản của nó. Lòng mộ mến và khát vọng tìm hiểu chân lý

như thế phải đồng tiến, như lịch sử các thánh trong Giáo hội

cho thấy. Các thánh được soi sáng hơn ai hết bởi ánh sáng

đích thực phản chiếu chân lý của Thiên Chúa và gần với thực

tại Thiên Chúa; vì họ đã đến gần chân lý với lòng kính trọng

yêu mến: yêu mến trước hết Đức Kitô , Lời Hằng sống của

Thiên Chúa, đồng thời yêu mến lối diễn tả chân lý ấy bằng

ngôn ngữ loài người trong Tin mừng, trong truyền thống, trong

thần học. Ngày nay cũng vậy, trước hết cần phải hiểu và giải

thích Lời Chúa như thế, cần phải có một nền thần học như

thế. Thần học bao giờ cũng đã có và vẫn tiếp tục có một tầm

quan trọng lớn lao để Giáo hội, dân Thiên Chúa, có thể tham

gia một cách sáng tạo và phong phú vào chức vụ ngôn sứ của

Đức Kitô. Cho nên các nhà thần học với tư cách là kẻ phục

vụ chân lý của Thiên Chúa, dành công việc nghiên cứu và

biên soạn của họ để tìm hiểu thấu đáo hơn nữa chân lý ấy và

không bao giờ có thể quên ý nghĩa việc họ phục vụ Giáo hội,

ý nghĩa được bao hàm trong khái niệm “intellectus fidei”. Khái

328 Vat.II PA

329 LG, 18-27

330 Sđd, 12,35

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 498

niệm này hầu như có một chức năng hai chiều, đúng theo

thành ngữ “intellege ut credas – crede ut intellegas” (hiểu để

tin, tin để hiểu)331 và nó được dùng đứng đắn khi mà nhà thần

học tìm cách phục vụ Huấn quyền là quyền trong Giáo hội

được trao cho các giám mục kết hợp bằng mối giây hiệp

thông phẩm trật với Người kế vị Phêrô, và cả khi họ ra công

phục vụ nỗi lo lắng giảng dạy và làm mục vụ của các giám

mục cũng như những nỗ lực dấn thân Tông đồ của toàn thể

dân Thiên Chúa.

Như các thời trước và có lẽ ngày nay còn hơn nữa, các

nhà thần học và mọi nhà khoa học của Giáo hội đều được

mời gọi kết hợp đức tin với khoa học và với hiền minh để góp

phần giúp những thực tại đó thấu suốt lẫn nhau, như ta đọc

trong lời cầu nguyện phụng vụ ngày lễ thánh Alberto, Tiến sĩ

Giáo hội. Việc dấn thân này ngày nay phát triển rất mạnh vì

mức tiến bộ trong tri thức loài người, trong các phương pháp

và các chinh phục của tri thức để hiểu biết vũ trụ và con

người. Điều này liên quan đến các khoa học chính xác cũng

như các khoa học nhân văn, và cả đến triết học đã từng được

Công đồng Vat.II nhắc lại332.

Trong lãnh vực hiểu biết kia của loài người là lãnh vực

không ngừng mở rộng và thêm chuyên biệt, đức tin cũng phải

luôn đào sâu, bằng cách làm sáng tỏ tầm rộng của mầu nhiệm

mặc khải và cố hướng tới sự am hiểu chân lý bắt nguồn duy

nhất và tối cao từ nơi Thiên Chúa. Tuy công cuộc lớn lao phải

thực hiện trong chiều hướng đó được phép chú trọng – và còn

phải mong nó chú trọng nữa – tới một thứ đa dạng nào đó về

mặt phương pháp luận, nhưng một công cuộc như thế vẫn

không thể xa rời sự nhất trí căn bản trong việc giảng dạy đức

331 Th. Augustino, Sermo 43,7-9; PL 38, 257-258

332 GS, 47,57,59,62; OT, 15

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 499

tin và đạo đức, là cứu cánh riêng biệt của nó. Do đó một sự

hợp tác chặt chẽ giữa thần học và Quyền giáo huấn là thiết

yếu. Nhà thần học nào cũng phải đặc biệt ý thức điều chính

Đức Kitô đã bày tỏ khi Người nói: “Lời anh em nghe đây

không phải là của Thầy mà là của Cha, Đấng đã sai Thầy”333.

Thế thì, chẳng một ai được làm thần học như thể thần học chỉ

là để trình bầy những ý kiến tư riêng của mình, nhưng mỗi

người phải ý thức mình kết hợp chặt chẽ với sứ mệnh giảng

dạy chân lý mà Giáo hội có trách nhiệm.

Có tham dự vào chức năng ngôn sứ của Đức Kitô toàn

thể Giáo hội mới sống đúng theo kích thước căn bản của

mình. Sự tham dự đặc biệt vào chức năng này là phần các chủ

chăn trong Giáo hội, để giảng dạy và luôn bằng cách này hay

cách khác loan báo, thông truyền giáo lý, đức tin và đạo đức

Kitô giáo. Việc giảng dạy này, dưới hình thức truyền giáo

hoặc dưới hình thức thông thường, đều giúp vào việc hợp

nhất dân Thiên Chúa chung quanh Đức Kitô, sửa soạn cho

việc tham dự vào nhiệm tích Thánh Thể, vạch đường cho đời

sống bí tích. Thượng hội đồng giám mục năm 1977 đã đặc

biệt quan tâm đến công cuộc huấn giáo trong thế giới ngày

nay, và kết quả của những thảo luận, những kinh nghiệm, và

những gợi ý sẽ sớm được nói lên trong một văn kiện tòa

thánh, thể theo đề nghị của các thành viên Thượng hội đồng.

Điều chắc chắn là ngành huấn giáo là một hình thức sinh hoạt

Giáo hội vừa thường xuyên vừa căn bản và tỏ rõ đoàn sủng

ngôn sứ của Giáo hội: làm chứng và giảng dạy đi đôi với

nhau. Tuy ở đây trước tiên nói đến linh mục, nhưng cũng

không thể không nhắc tới đông đảo các tu sĩ nam nữ chuyên

lo công việc huấn giáo vì lòng yêu mến Thầy Chí Thánh. Và

333 Ga 14,24

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 500

cũng khó mà không nói đến bao giáo dân vẫn làm công việc

này để biểu lộ niềm tin và trách nhiệm tông đồ của mình.

Ngoài ra, bao giờ cũng phải nhằm sao cho các hình thức

huấn giáo trong những lãnh vực khác nhau – bắt đầu từ hình

thức căn bản, là “gia huấn”, tức là cha mẹ huấn giáo cho

chính con cái mình – đều biểu lộ việc toàn dân Thiên Chúa

cùng tham dự cả vào chức năng ngôn sứ của chính Đức Kitô .

Muốn thế, thì trách nhiệm của Giáo hội đối với chân lý của

Thiên Chúa phải được mọi người chia sẻ ngày càng nhiều

hơn, và bằng rất nhiều cách. Và phải nói gì đây về các

chuyên ga các nghành khác nhau, về các nhà khoa học, các

nhà văn, các y sĩ, luật gia, nghệ sĩ và kỹ thuật viên, các nhà

giáo dục mọi cấp và mọi môn ? Tất cả, với tư cách thành phần

dân Thiên Chúa, đều có vai trò của mình trong sứ mệnh ngôn

sứ của Đức Kitô, trong việc Người phục vụ chân lý của Thiên

Chúa, kể cả khi họ chân thành tìm kiếm chân lý trong mọi

lãnh vực, theo mức độ họ đào luyện tha nhân đến với chân lý,

dạy dỗ tha nhân lớn lên trong yêu thương và công bình. Như

vậy, ý thức trách nhiệm đối với chân lý là một trong những

điểm căn bản để Giáo hội gặp gỡ mỗi người, và cũng là một

trong những đòi hỏi căn bản ấn định sứ mệnh con người trong

cộng đồng Giáo hội. Giáo hội thời chúng ta, nhờ ý thức trách

nhiệm về chân lý hướng dẫn, phải bền lòng trung thành với

bản chất riêng của mình vốn gồm cả sứ mệnh ngôn sứ đã

được Đức Kitô giao cho: “Cũng như Cha đã sai Thầy, Thầy

cũng sai anh em đi… Hãy nhận lấy Thánh Linh”334.

20. Thánh thể và sám hối.

Trong mầu nhiệm cứu chuộc, nghĩa là trong công trình

cứu độ do Đức Kitô hoàn thành, Giáo hội chẳng những tham

334 Ga 20,21-22

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 501

dự vào Tin mừng của Thầy mình nhờ trung thành với Lời

Người và phục vụ chân lý, mà còn nhờ lòng tuân phục đầy hy

vọng và yêu thương, tham dự vào sức tác động cứu chuộc

Người đã biểu lộ và đặt trong các nhiệm tích, nhất là trong

Thánh Thể335. Thánh Thể là trung tâm và tuyệt đỉnh của toàn

thể đời sống nhiệm tích vẫn đem sức cứu độ của ơn cứu

chuộc đến cho mỗi Kitô hữu, bắt đầu từ mầu nhiệm Thánh

tẩy, là nhiệm tích dìm chúng ta vào trong sự chết của Đức

Kitô để chúng ta được dự phần vào sự Phục sinh của Người336

như lời Thánh Phaolô dạy. Nhờ giáo lý này soi sáng, người ta

còn thấy rõ hơn lý do tại sao tất cả đời sống nhiệm tích của

Giáo hội và của mỗi Kitô hữu đạt tới tuyệt đỉnh và viên mãn

trong nhiệm tích Thánh Thể. Quả vậy, trong nhiệm tích này,

mầu nhiệm Đức Kitô dâng mình tế hiến cho Chúa Cha trên

cây thập giá không ngừng là hiện tại cho chúng ta như ý

Người muốn. Chúa Cha đã nhận cuộc tế hiến này: Ngài đáp

lại việc Con Ngài tận hiến vì đã “vâng phục cho đến chết”337,

bằng việc chính Ngài ban ơn nặng tình Cha là ban cho sự sống

mới và bất diệt trong phục sinh, bởi vì Chúa Cha là nguồn

sống đầu tiên và là Đấng ban sự sống từ nguyên thủy. Sự

sống mới ấy đã bao hàm việc tôn vinh thân xác Đức Kitô chịu

đóng đinh, đã trở thành dấu chỉ hữu hiệu của ân huệ mới mẻ

được ban cho loài người. Ân huệ này là Thánh Thần làm cho

sự sống Thiên Chúa mà Chúa Cha vốn có nơi Ngài và ban cho

Con Ngài338 lại cùng được truyền tới tất cả những người kết

hợp với Đức Kitô.

335 SC, 10

336 x. Rm 6,3-5

337 Pl 2,8

338 x. Ga 5,26; 1Ga 5,11

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 502

Thánh Thể là nhiệm tích hoàn hảo nhất của sự kết hợp

này. Khi cử hành và tham dự Thánh Thể, chúng ta được kết

hợp với Đức Kitô dưới đất và trên trời là Đấng can thiệp cho

ta bên cạnh Cha339, nhưng chúng ta chỉ được kết hợp với

Người qua hành động cứu chuộc là việc Người đã tự hiến tế

để chuộc lại chúng ta, mà “chuộc lại với giá cao”340. Cái “giá

cao” để cứu chuộc chúng ta vừa cho thấy giá trị con người đối

với chính Thiên Chúa, vừa cho thấy phẩm giá chúng ta trong

Đức Kitô . Khi trở nên “con Thiên Chúa” 341, “nghĩa tử”342, thì

chúng ta đồng thời giống như Người, trở nên một “vương quốc

tư tế” và lãnh nhận “chức tư tế hoàng vương”343, nghĩa là

chúng ta tham dự vào công trình hoàn lại con người và vũ trụ

cho Chúa Cha, một công trình độc nhất và không thể xoay

ngược lại do chính Người, vừa là Con vĩnh cửu344 vừa là người

thực sự, đã hoàn thành một lần dứt khoát. Thánh thể là nhiệm

tích diễn tả đầy đủ nhất thực thể mới của chúng ta, và cũng là

chỗ chính Đức Kitô một cách liên tiếp và luôn luôn mới mẻ,

“làm chứng” trong Thánh thần với thần hồn chúng ta345 rằng

mỗi người chúng ta, vì tham dự vào mầu nhiệm cứu chuộc,

nên được hưởng hiệu quả ơn hòa giải con cái với Thiên

Chúa346 do chính Người đã thực hiện và còn thực hiện luôn

mãi giữa chúng ta bằng sứ vụ của Giáo hội.

339 Dt 9,24; 1Ga 2,1

340 1Cr 6,20

341 Ga 1,12

342 x. Rm 8,23

343 Kh 5,10; 1Pr 2,9

344 x. Ga 1,1-4.18; Mt 3,17; 11,27; 17,5; Mc 1,11; Lc 1,32-35; 3,22;

Rm 1,4; 2Cr 1,19; 1Ga 5,5.20; 2Pr 1,17; Dt 1,2

345 x. 1Ga 5,5-11

346 x. Rm 5,10.11; 2Cr 5,18-19; Cl 1,20.22

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 503

Có một chân lý cốt yếu không những về mặt giáo lý mà

còn về mặt hiện hữu, đó là nhiệm tích Thánh Thể xây dựng

Giáo hội347, và xây dựng thành cộng đồng đích thực của dân

Thiên Chúa, thành cộng đoàn tín hữu mang dấu ấn tín hợp

nhất đã có giữa các tông đồ và các môn đệ đầu tiên của

Chúa. Thánh Thể luôn xây dựng lại cộng đồng và tính hợp

nhất đó, xây dựng và phục hồi luôn mãi từ cuộc tế hiến của

Đức Kitô, vì là nhiệm tích kính nhớ việc Người chết trên thập

giá348 làm giá cứu chuộc chúng ta. Bởi vậy nói được là trong

nhiệm tích Thánh Thể chúng ta tiếp xúc với chính mầu nhiệm

Mình và Máu Chúa, đúng như những lời đã được Chúa dùng

để thiết lập nhiệm tích và đã vì sự thiết lập ấy mà trở nên

những lời cử hành vĩnh viễn Thánh Thể cho những ai được

gọi làm sứ vụ đó.

Giáo hội sống nhờ nhiệm tích Thánh Thể, nhờ sự viên

mãn của bí tích này mà ý nghĩa và nội dung đáng khâm phục

đã nhiều lần được Quyền giáo huấn của Giáo hội nói lên từ

những thời xa xưa nhất cho đến ngày nay349. Dù vậy chúng ta

có thể nói chắc chắn rằng giáo lý đó tuy được làm nổi bật giá

trị bởi các nhà thần học, bởi những người tin sâu nguyện

thành, bởi các bậc khổ hạnh và thần bí hoàn toàn trung thành

với mầu nhiệm Thánh Thể, nhưng vẫn đáng kể như còn ở

ngưỡng cửa mầu nhiệm, bởi vì nó không thể nào thấu hiểu

được và nói ra được nên lời thế nào là nhiệm tích Thánh Thể

cho thật đầy đủ, những gì nhiệm tích này biểu lộ và thực hiện.

Thánh Thể đúng là bí tích khôn tả ! Sự dấn thân chính thân

chính yếu, và trên tất cả, ân sủng hữu hình và vọt tràn của sức

347 LG, 11; Phaolô VI, Diễn văn trong cuộc tiếp kiến chung ngày

15.9.1965

348 SC, 47

349 Phaolô VI, Mysterium fidei

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 504

siêu nhiên của Giáo hội với tư cách là dân Thiên Chúa, cốt ở

chỗ kiên trì và luôn tiến tới trong đời sống Thánh Thể, trong

lòng tôn sùng Thánh Thể, lớn lên về mặt thiêng liêng trong

bầu khí Thánh Thể. Đã vậy thì trong cách chúng ta suy nghĩ,

sống và hành động, càng không được phép làm cho nhiệm

tích thật chí thánh này mất đi kích thước toàn diện và ý nghĩa

thiết yếu của nó. Thánh Thể đồng thời là nhiệm tích và tế lễ,

nhiệm tích và hiệp thông, nhiệm tích và hiện diện. Và tuy

thực sự nhiệm tích Thánh thể đã luôn luôn và còn phải là

cách mặc khải sâu sắc nhất, cách cử hành tốt đẹp nhất tình

anh em giữa các môn đệ Đức Kitô và những ai làm chứng cho

Người, nhưng không được coi nhiệm tích ấy như chỉ là một

“cơ hội” để bày tỏ tình huynh đệ mà thôi. Trong việc cử hành

nhiệm tích Mình và Máu Chúa, phải tôn trọng kích thước đầy

đủ của mầu nhiệm Thiên Chúa, ý nghĩa trọn vẹn của dấu

nhiệm tích này nơi chúng ta được rước Đức Kitô hiện diện

thực sự, linh hồn được tràn trề ân sủng và chúng ta được nhận

lãnh bảo đảm cho vinh quang sau này350. Do đó mà có nghĩa

vụ phải tuân giữ nghiêm túc các quy tắc phụng vụ và tất cả

những gì làm chứng cho việc tôn thờ cộng đồng dâng lên

Thiên Chúa, nhất là vì trong dấu chỉ nhiệm tích nói đây, Chúa

phú thác mình cho chúng ta với một lòng tín cẩn vô hạn, làm

như Người không kể gì tới tình cảnh yếu đuối, bất xứng của

chúng ta, tới thói quen nhờn, chiếu lệ hay ngay cả khả năng

lăng nhục nữa. Mọi người trong Giáo hội, nhưng nhất là các

giám mục, linh mục, phải lo sao cho nhiệm tích yêu thương

này được ở trung tâm đời sống dân Thiên Chúa, ngõ hầu qua

tất cả những biểu lộ sự tôn thờ phải dành cho nhiệm tích ấy,

người ta làm thế nào để đem lòng yêu mến đáp lại lòng yêu

mến của Đức Kitô , và Người thực sự trở nên “sự sống linh

350 SC, 47

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 505

hồn chúng ta”351. Và mặt khác chúng ta sẽ không bao giờ

quên được lời Thánh Phaolô: “Mỗi người hãy tự hạch xét

chính mình, rồi sau đó mới ăn bánh và uống chén ấy”352.

Khuyến cáo này của thánh tông đồ cho thấy ít nữa một

cách gián tiếp là có một mối liên hệ chặt chẽ giữa Thánh Thể

và sám hối. Và quả nhiên, nếu lời giảng dạy đầu tiên của Đức

Kitô, nếu câu đầu tiên của Tin mừng là hãy hối cải và tin vào

tin mừng (metanoia)353, thì nhiệm tích của thụ nạn, của thập

giá và của phục sinh xem như tăng cường và củng cố một

cách rất đặc biệt lời kêu gọi đó trong tâm hồn chúng ta. Như

vậy Thánh Thể và Sám hối trở nên, trong một nghĩa nào

đó,hai kích thước liên quan chặt chẽ với nhau của đời sống

đích thực theo tinh thần Tin mừng, của đời sống thật sự Kitô

giáo. Đức Kitô, Đấng mời dự tiệc Thánh thể vẫn là Đức Kitô

kêu gọi sám hối và nhắc bảo: “Hãy hối cải”354. Không có cố

gắng bền bỉ và luôn luôn bắt đầu lại để hối cải, thì sự tham dự

tiệc Thánh Thể hẳn sẽ thiếu đi hiệu năng cứu độ đầy đủ. Vì

như thế trong nhiệm tích Thánh thể sẽ thiếu mất hay ít ra sẽ

suy giảm sự đặc biệt sẵn sằng dâng lên Thiên Chúa lễ tế

thiêng liêng355 nhờ đó ta biểu lộ một cách thiết yếu và phổ

quát việc ta tham dự vào chức vụ tư tế của Đức Kitô. Thật

vậy, trong Đức Kitô, chức vụ tư tế kết hợp với chính lễ tế của

Người cùng việc Người hiến chính mình cho Chúa Cha. Việc

hiến dâng này chính là vì vô hạn – lại làm nảy ra nơi chúng ta,

những kẻ lệ thuộc nhiều giới hạn, nhu cầu quay về với Thiên

351 x. Ga 6, 52-58; 14,6; Gl 2,20

352 1Cr 11,28

353 Mc 1,15

354 Sđd.

355 x. 1Pr 2,5

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 506

Chúa một cách chín chắn hơn mãi, nhờ một sự hối cải liên tục

và sâu xa hơn mãi.

Trong những năm gần đây, người ta đã làm rất nhiều để

làm nổi bật khía cạnh cộng đồng của sám hối, và nhất là của

bí tích sám hối trong cách thực hành của Giáo hội, đó cũng chỉ

là điều phù hợp với truyền thống cổ kính nhất của Giáo hội.

Những sáng kiến này có ích và hẳn sẽ giúp cho việc thực

hành sám hối của Giáo hội thời nay thêm phong phú. Tuy

nhiên chúng ta không thể quên rằng hối cải là một việc trong

lòng có bề sâu đặc biệt nên con người không thể để kẻ khác

làm bù cho mình, không thể để cộng đồng “thay thế” mình.

Đành rằng cộng đồng anh em tín hữu tham dự vào việc cử

hành sám hối giúp nhiều cho việc hối cải của từng người,

nhưng rốt cuộc thì việc đó vẫn phải là hành động của chính cá

nhân, trong bề sâu nhất của lương tâm mình, với cảm thức

trọn vẹn về tội trạng của mình và về lòng mình tin cậy vào

Thiên Chúa, khi đến trước thánh nhan Ngài để thú nhận như

trong Thánh vịnh: “Con đắc tội với Chúa”356. Cho nên Giáo

hội trung thành giữ cách thực hành nhiệm tích sám hối đã có

từ nhiều thế kỷ – tức là việc xưng tội cá nhân kết hợp với việc

đích thân ăn năn, dốc lòng chừa cải và đền tội, vẫn bảo vệ

quyền riêng của tâm hồn con người. Đó là quyền mỗi người

được đích thân gặp gỡ Đức Kitô chịu đóng đinh mà tha thứ,

gặp gỡ Đức Kitô là Đấng đã nói qua trung gian thừa tác viên

nhiệm tích hòa giải: “Tội lỗi con được tha”357; “Đi đi và từ nay

đừng phạm tội nữa”358. Rõ ràng đây đồng thời cũng là quyền

của chính Đức Kitô đối với từng người đã được Chúa cứu

chuộc. Đó là quyền gặp gỡ mỗi người chúng ta vào lúc quan

356 Tv 50 (51),6

357 Mc 2,5

358 Ga 8,11

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 507

trọng nhất này đời sống linh hồn tức là lúc hối cải và lúc được

tha thứ. Khi bảo toàn nhiệm tích sám hối, Giáo hội minh nhiên

khẳng định niềm tin của mình vào mầu nhiệm cứu chuộc như

thực tại sống động và làm cho sống, tương ứng với chân lý

bên trong của con người, với tình trạng đắc tội của con người

và với những ước mong của lương tâm con người nữa. “Phúc

cho kẻ đói khát sự công chính, vì họ sẽ được no nê”359. Nhiệm

tích sám hối là phương thế làm cho con người được no nê sự

công chính phát xuất từ Đấng cứu chuộc.

Giáo hội, nhất là ở thời chúng ta, quen sum họp đặc biệt

quanh Thánh Thể và mong muốn cộng đồng Thánh Thể đích

thực trở nên dấu hiệu hợp nhất của mọi Kitô hữu, một sự hợp

nhất dần dần chín muồi hơn. Trong hoàn cảnh như thế, người

ta phải cảm thấy thấm thía nhu cầu sám hối, cả dưới khía cạnh

nhiệm tích360 lẫn dưới khía cạnh nhân đức. Khía cạnh thứ hai

này đã được Đức Phaolô VI nói lên trong Hiến chế tông vụ

Paenitemini361. Một trong những nghĩa vụ của Giáo hội là đem

ra thực hiện lời Ngài chỉ dạy: đây là một chủ đề mà chắc chắn

chúng ta sẽ phải đào sâu hơn trong một suy nghĩ chung, và sẽ

là đối tượng của nhiều quyết định sau này, theo tinh thần tập

đoàn trong mục vụ và vẫn phải chú ý đến những truyền thống

khác nhau về vấn đề, chú ý đến cả những hoàn cảnh khác

biệt của đời sống loài người thời chúng ta. Tuy nhiên chắc

chắn là Giáo hội của Mùa vọng mới, Giáo hội đang luôn luôn

chuẩn bị đón Chúa lại đến phải là Giáo hội của Thánh Thể và

359 Mt 5,6

360 Thánh bộ giáo lý đức tin, Normae pastorales circa absolutionem

sacramentalem generali modo impertiendam; Phaolô VI, bài nói chuyện

với phái đoàn giám mục Hoa Kỳ đến viếng “ad limina” (20.4.1978);

J-P.II , bài nói chuyện với phái đoàn giám mục Gianãđại đến viếng “ad

limina” (17.11.1978)

361 x. AAS 58, 1966, 177-198

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 508

sám hối. Chỉ từ góc độ thiêng liêng này của sức sống và hoạt

động của mình Giáo hội mới là Giáo hội của sứ mệnh Thiên

Chúa ban cho, Giáo hội trong tư cách được sai đi – imastatu

missionis – như Công đồng Vat.II đã tỏ cho thấy khuôn mặt

của Giáo hội như thế.

21. Ơn gọi Kitô hữu: phục vụ và làm chủ.

Khi Công đồng Vat.II dựa vào các nền tảng của Giáo

hội mà họa hình ảnh Giáo hội như Dân Thiên Chúa, bằng

cách làm nổi rõ ba sứ mệnh của Đức Kitô và sự kiện chúng ta

thực sự thành Dân Thiên Chúa nhờ được tham dự vào ba sứ

mệnh của Người, Công đồng cũng đã làm nổi rõ đặc điểm

này trong ơn gọi Kitô hữu là đặc điểm “hoàng vương”. Để

trình bày tất cả giáo lý phong phú của Công đồng, có lẽ phải

nhắc tới nhiều chương nhiều đoạn trong hiến chế LG và nhiều

văn kiện khác nữa của Công đồng. Tuy nhiên, giữa tất cả sự

phong phú ấy, một điểm có vẻ nổi bật, đó là việc tham dự

vào sứ mệnh hoàng vương của Đức Kitô, nghĩa là việc khám

phá lại nơi mình và nơi người khác phẩm tước đặc biệt của ơn

gọi chúng ta, phẩm tước có thể được xác định trong thái độ

sẵn sàng phục vụ theo gương Đức Kitô , Đấng “không đến để

được hầu hạ, nhưng là để hầu hạ”362. Như vậy, nếu chỉ có thể

“làm vua” thực sự là bằng cách “hầu hạ” như trong thái độ

Đức Kitô đã chứng tỏ, thì việc “hầu hạ” đồng thời lại đòi hỏi

một sự chín chắn tinh thần tới mức nó thật đáng được xác định

là một vương quyền. Để có thể phục vụ kẻ khác một cách

xứng đáng và hữu hiệu, cần phải biết làm chủ chính mình,

phải có những đức tính cần thiết để tự chủ được. Như thế,

việc chúng ta tham dự vào sứ mệnh “hoàng vương”, và chính

xác hơn vào “chức năng làm vua” (munus regale) của Đức

362 Mt 20,28

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 509

Kitô gắn liền chặt chẽ với toàn thể lãnh vực đạo đức Kitô

giáo và cả lãnh vực đạo đức nhân bản nữa.

Khi trình bày một cái nhìn đầy đủ về dân Thiên Chúa và

khi nhắc lại vị trí không những của các linh mục mà còn của

các giáo dân, không những của các vị đại diện cho giáo phẩm

mà còn của các đại diện các dòng tu nam nữ, Công đồng

Vat.II đã không chỉ rút hình ảnh đó ra từ những tiền đề xã hội

học mà thôi. Xét như một xã hội loài người, hẳn Giáo hội

cũng có thể được nghiên cứu và định nghĩa theo những tiêu

chuẩn mà khoa học thường dùng đối với mọi xã hội loài

người. Nhưng những phạm trù đó không đủ. Đối với toàn thể

cộng đồng Dân Thiên Chúa và đối với mỗi phần tử trong

cộng đồng này, vấn đề không phải chỉ là “thuộc về một xã

hội” nhất định nào đó, nhưng điều cốt yếu đối với mỗi người

và mọi người lại là một “ơn gọi” đặc biệt. Thậy vậy, Giáo hội,

với tư cách là Dân Thiên Chúa, cũng là “nhiệm thể của Chúa

Kitô”, theo lời dạy của Thánh Phaolô mà tôi đã trích dẫn và

đã được Đức Piô XII nhắc lại một cách đáng khâm phục363.

Việc thuộc về Giáo hội bắt nguồn từ một lời mời gọi đặc biệt

nối liền với tác động cứu độ của ân sủng. Như vậy, nếu

chúng ta muốn xét cộng đồng Dân Thiên Chúa, một cộng

đồng rộng lớn và đa dạng biết bao, thì trước hết chúng ta phải

nhìn lên Đức Kitô , Đấng một cách này hay cách khác đã kêu

gọi mỗi phần tử trong cộng đồng đó: “Hãy theo Ta”364. Cộng

đồng các môn đệ là thế đó, một cộng đồng mà mỗi thành

phần theo Đức Kitô một cách, có khi rất ý thức và mạch lạc,

nhưng cũng có khi không mấy ý thức và thiếu mạch lạc.

Điểm này cũng cho thấy khía cạnh tôn trọng sâu xa bản vị

mỗi người và cho thấy kích thước thật của cộng đồng Giáo hội

363 Piô XII, MS

364 Ga 1,43

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 510

: dù có tất cả những thiếu xót trên bình diện đời sống cộng

đồng theo nghĩa loài người của chữ này, Giáo hội vẫn là một

cộng đồng chính nhờ sự kiện là tất cả làm thành cộng đồng

ấy cùng với Đức Kitô, ít nữa cũng bởi vì họ đều mang trong

linh hồn mình dấu ấn không thể xóa bỏ được của người Kitô

hữu.

Công đồng Vat.II đã đặc biệt chú trọng đến việc làm

cho mọi người thấy cộng đồng có tính cách “hữu thể” là cộng

đồng các môn đệ và chứng nhân của Đức Kitô phải ngày

càng trở nên, cả trên bình diện “con người”, một cộng đồng ý

thức hơn như thế nào về đời sống và những hoạt động riêng

của mình. Những gì Công đồng đã khởi xướng trong lãnh vực

này được tiếp tục trong nhiều khởi xướng về sau của Thượng

hội đồng giám mục, của Tông tòa hay từ cơ sở. Tuy nhiên,

chúng ta phải nhớ chân lý này là một khởi xướng chỉ giúp

canh tân Giáo hội cách đích thực và góp phần đem lại ánh

sáng thật là Đức Kitô365 trong mức độ khởi xướng ấy dựa trên

một ý thức đúng đắn về ơn gọi và về trách nhiệm đối với ân

sủng đặc biệt, có một không hai và không tiền khoáng hậu,

ân sủng làm cho mỗi Kitô hữu thuộc cộng đồng Dân Thiên

Chúa xây dựng thân mình Đức Kitô. Là nguyên tắc then chốt

của tất cả mọi hoạt động Kitô giáo – hoạt động tông đồ, mục

vụ, các thực hành đời sống nội tâm và đời sống xã hội –

nguyên tắc ấy phải được áp dụng cách đúng mức cho mọi

người và cho mỗi người. Ngay cả Giáo hoàng, cũng như mỗi

giám mục, cũng phải áp dụng nguyên tắc ấy cho chính mình.

Các linh mục, các tu sĩ nam nữ đều phải trung thành với

nguyên tắc tắc đó. Chính trên nền tảng ấy mà mọi người, vợ

chồng, cha mẹ, nam nữ thuộc mọi thành phần xã hội và mọi

nghề nghiệp, từ những người giữ trọng trách cao trọng nhất

365 LG, 1

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 511

trong xã hội cho đến những người làm những công việc tầm

thường nhất đều phải xây dựng đời sống mình. Đó đúng là

nguyên tắc của “việc phục vụ hoàng vương”, nguyên tắc buộc

mỗi người chúng ta, theo gương Đức Kitô, có bổn phận đòi

hỏi chính mình phải làm đúng những gì chúng ta được kêu gọi

để làm, những gì mỗi người chúng ta đích thân phải làm, nhờ

ơn Thiên Chúa, để đáp ứng với ơn kêu gọi mình. Trung thành

như thế với ơn kêu gọi, nhờ ơn Thiên Chúa qua trung gian

Đức Kitô, cũng là dự phần vào trách nhiệm tập thể đối với

Giáo hội, điều mà Công đồng Vat.II muốn dạy cho mọi Kitô

hữu. Thật vậy, trong Giáo hội cũng như trong cộng đồng Dân

Thiên Chúa do Thánh Thần hướng dẫn, mỗi người có “đặc

sủng riêng”, như lời Thánh Phaolô366. Đặc sủng này, tuy vẫn

là ơn gọi riêng của mỗi người vì là một cách tham dự vào

công cuộc cứu độ của Giáo hội, nhưng cũng hữu ích cho kẻ

khác, cũng góp phần xây dựng Giáo hội và các cộng đồng

huynh đệ trong những lãnh vực này nọ của đời sống con

người trên trái đất này.

Sự trung thành với ơn gọi, tức là bền chí sẵn sàng làm

“công việc phục vụ hoàng vương”, có một ý nghĩa đặc biệt

đối với việc xây dựng phức tạp kia, nhất là trong những gì

liên quan tới những cam kết trọng đại có ảnh hưởng lớn trên

đời sống của đồng loại và của toàn thể xã hội. Vợ chồng phải

nổi bật bằng sự trung tín với ơn gọi riêng của mình, như bản

tính bất khả phân ly của nhiệm tích hôn phối đòi hỏi. Các linh

mục phải nổi bật bằng lòng trung tín tương tự đối với ơn gọi

riêng của mình, vì nhiệm tích truyền chức đã in sâu vào linh

hồn họ một dấu ấn không thể xóa được, khi lãnh nhận nhiệm

tích này, chúng ta cam kết một cách ý thức và tự do, trong

Giáo hội Latinh, là sẽ sống độc thân, và vì vậy mỗi người

366 1Cr 7,7; x. 12,7.27; Rm 12,6; Ep 4,7

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 512

chúng ta phải làm hết sức mình với ơn Chúa, để tỏ lòng biết

ơn về hồng ân ấy và để trung tín với lời cam kết vĩnh viễn ấy.

Vợ chồng cũng thế, họ phải hết sức cố gắng sống thủy chung

trong hôn nhân, lấy việc làm chứng bằng tình yêu như vậy mà

xây dựng cộng đồng gia đình và giáo dục các thế hệ mới cho

đủ khả năng hiến trọn cuộc đời mình cho ơn gọi riêng của họ,

nghĩa là cho “việc phục vụ hoàng vương” mà Đức Kitô đã là

gương mẫu đẹp đẽ nhất cho chúng ta. Giáo hội của Người,

làm bằng tất cả chúng ta, là Giáo hội “cho con người” theo

nghĩa này; nhờ dựa vào gương mẫu Đức Kitô367 và cộng tác

với ân sủng Người đã nhận được cho chúng ta, chúng ta có

thể đạt tới “vương quyền” đó, nghĩa là thực hiện được trong

mọi người chúng ta một nhân tính hoàn toàn nẩy nở có nghĩa

là chúng ta tận dụng được quyền tự do mà tạo hóa đã ban cho

chúng ta khi Ngài tạo thành con người “theo hình ảnh của

Thiên Chúa”. Hồng ân tự do này được thực hiện đầy đủ khi

con người hiến toàn thân mình không bớt xén, trong một tinh

thần yêu thương như tình nghĩa trăm năm đối với Đức Kitô và,

cùng với Đức Kitô, đối với mọi người. Đức Kitô vẫn phái đến

với họ những tu sĩ nam nữ đã tận hiến cho Người theo các lời

khuyên của Tin mừng. Đó là lý tưởng đời sống tu trì vẫn được

các dòng cổ kính cũng như các dòng mới lập và các thế viện

đảm nhận.

Trong thời đại chúng ta đang sống nhiều khi người ta

quan niệm một cách lệch lạc rằng tự do là để tự do chứ chẳng

có cứu cánh nào khác, rằng con người được tự do là khi được

sử dụng tự do tùy thích và cần phải hướng tới mục tiêu ấy

trong đời sống cá nhân cũng như trong đời sống các xã hội.

Nhưng trái lại tự do chỉ là ơn huệ lớn lao khi chúng ta biết

khôn ngoan dùng tự do để làm tất cả những gì thật tốt lành.

367 LG, 36

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 513

Đức Kitô dạy chúng ta rằng cách sử dụng tự do tốt nhất là bác

ái, mà bác ái thì được thực hiện bằng hiến tặng và phục vụ.

“Đức Kitô đã giải phóng chúng ta chính là để chúng ta được

tự do” như thế368 và Người mãi mãi giải phóng chúng ta. Ở

đây Giáo hội tìm thấy nguồn cảm hứng bất tận, lời mời gọi và

đà để thi hành sứ mệnh và công việc phục vụ của mình giữa

mọi người. Chân lý đầy đủ về tự do của con người được ghi

sâu trong mầu nhiệm cứu chuộc. Giáo hội phục vụ nhân loại

thực sự khi bảo toàn chân lý ấy với một mối quan tâm không

biết mệt mỏi, với một lòng yêu thương nồng nhiệt, với một

thế dấn thân chín chắn, và khi truyền lại và thực hiện chân lý

ấy trong đời sống con người, giữa toàn thể cộng đồng Giáo

hội và nhờ mỗi Kitô hữu biết trung thành với ơn gọi của mình.

22. Đức Maria, người mẹ làm cho chúng ta hy vọng.

Ở đầu nhiệm kỳ Giáo hoàng này, khi tôi hướng lòng trí

tôi về Đấng Cứu thế là tôi muốn nhờ đó đi vào sâu trong nhịp

sống sâu xa nhất của Giáo hội. Thật vậy, nếu Giáo hội sống

sự sống đặc biệt của mình, thì đó là nhờ Giáo hội lấy sức sống

này nơi Đức Kitô, Đấng lúc nào cũng chỉ có một ý nguyện là :

chúng ta được sống và sống dồi dào369. Sự sống viên mãn ở

nơi Người cũng được dành cho con người. Chính vì thế, nhờ

chia sẻ tất cả sự phong phú của mầu nhiệm cứu chuộc, Giáo

hội trở thành một Giáo hội những người sống, sống vì được

“Thánh Thần chân lý”370 làm cho sống bên trong, vì được

thăm viếng bởi tình thương mà Thánh Thần tuôn vào lòng dạ

chúng ta371. Mục đích của mọi phục vụ trong Giáo hội, dù là

368 Gl 5,1; x. 5,13

369 x. Ga 10,10

370 Ga 16,13

371 x. Rm 5,5

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 514

phục vụ trong tư cách tông đồ, chủ chăn, linh mục hay giám

mục đều là duy trì tương quan sống động giữa mầu nhiệm cứu

chuộc và mọi người.

Nếu chúng ta ý thức được nhiệm vụ đó, chúng ta có thể

hiểu rõ hơn theo nghĩa nào Giáo hội là mẹ372 và cả theo nghĩa

nào Giáo hội luôn luôn cần một người Mẹ, nhất là trong thời

chúng ta. Chúng ta phải đặc biệt nhớ ơn các nghị phụ trong

Công đồng Vat.II đã diễn tả chân lý ấy trong hiến chế LG và

trong giáo lý phong phú về Đức Maria373. Vì Đức Phaolô VI đã

dựa vào giáo lý ấy mà tuyên bố Thánh mẫu của Đức Kitô là

“Mẹ của Giáo hội”374 và vì tước hiệu này đã được hưởng ứng

rộng rãi, cho nên, kẻ kế vị bất xứng này của Đức Phaolô VI

cũng xin hướng về Đức Maria, Mẹ của Giáo hội, để kết thúc

những nhận định đã đáng được khai triển ở đầu nhiệm kỳ

giáo hoàng này. Đức Maria là mẹ của Giáo hội vì theo sự

tuyển chọn khôn tả của chính Chúa Cha vĩnh cửu375 và nhờ

tác động đặc biệt của Thánh thần yêu thương376, Đức Mẹ đã

đem lại sự sống con người cho Con Thiên Chúa là Đấng “có

vạn vật vì Người và do bởi Người”377, Đấng ban cho toàn thể

Dân Thiên Chúa ân sủng và phẩm cách làm dân được tuyển

chọn. Chính Con của Đức Maria đã rõ ràng muốn mở rộng

tình nghĩa mẫu tử của Đức Mẹ – và mở rộng một cách dễ hiểu

cho mọi tâm hồn – khi trên thập giá Người đã trối môn đệ yêu

quý của mình làm con Đức Mẹ378. Sau khi Chúa chúng ta lên

372 LG, 63-64

373 x. Sđd, 52-69

374 Phaolô VI, Diễn văn bế mạc khóa III, Công Đồng Vat.II

(21.11.1964)

375 LG, 56

376 Sđd.

377 Dt 2,10

378 x. Ga 19,26

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 515

trời, Thánh Thần đã dun dủi Đức Maria ở lại giữa các tông đồ

để tĩnh tâm cầu nguyện và chờ đợi cùng với họ cho đến ngày

Hiện xuống là ngày Giáo hội phải ra khỏi bóng tối mà phát

sinh một cách hữu hình379. Rồi từ đó, mọi thế hệ môn đồ và

tất cả những ai yêu thương Đức Kitô và làm chứng cho Người,

đều như tông đồ Gioan, đón rước Đức Mẹ một cách thiêng

liêng vào nhà mình380. Như vậy là từ khởi đầu, nghĩa là từ lúc

được thiên sứ truyền tin, Đức Mẹ vẫn luôn có chỗ trong lịch

sử cứu độ và trong sứ mệnh của Giáo hội. Vì thế tất cả chúng

ta là thế hệ các đồ đệ hiện nay của Đức Kitô, chúng ta mong

muốn kết hợp với Đức Mẹ một cách đặc biệt. Chúng ta làm

như vậy với trọn niềm khăng khít đối với cổ truyền mà đồng

thời vẫn rất mực kính trọng và yêu thương các thành phần

thuộc mọi cộng đồng Kitô giáo.

Chúng ta làm như vậy là do nhu cầu sâu xa của đức tin,

đức cậy và đức mến thúc đẩy. Thật vậy, nếu trong giai đoạn

khó khăn và trọng yếu này của lịch sử Giáo hội và loài người,

chúng ta cảm thấy cần phải đặc biệt hướng về Đức Kitô là

Chúa của Giáo hội và Chúa của lịch sử loài người thể theo

mầu nhiệm cứu chuộc, thì chúng ta tin rằng không ai như Đức

Maria có thể đưa chúng ta vào kích thước Thiên Chúa và con

người của mầu nhiệm này. Không ai đã được chính Thiên

Chúa đưa vào đó như Đức Maria. Tính cách phi thường của ơn

được là Mẹ Thiên Chúa chính là ở chỗ ấy. Không những

phẩm giá tước vị Mẹ Thiên Chúa là có một không hai và tuyệt

đối đặc thù trong lịch sử loài người, mà điều cũng độc nhất vô

nhị do bởi có ảnh hưởng sâu rộng chính là Đức Maria, vì là

Mẹ Thiên Chúa, được tham dự vào ý định của Thiên Chúa

muốn cứu độ loài người, qua mầu nhiệm cứu chuộc.

379 x. Cv 1,14; 2.

380 x. Ga 19,27

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 516

Tình yêu thương muôn đời của Chúa Cha đã được tỏ ra

trong lịch sử nhân loại nơi Chúa Con, Đấng mà Chúa Cha đã

ban cho “ngõ hầu ai tin vào Người thì khỏi phải hư đi, nhưng

được có sự sống đời đời”381. Tình thương yêu ấy nhờ Đức Mẹ

lại được nên gần gũi mỗi người chúng ta và như vậy được tỏ

bày một cách dễ hiểu và vừa tầm hơn cho mỗi người. Vì thế,

Đức Maria phải có mặt trên mọi nẻo đường của đời sống

thường ngày của Giáo hội. Nhờ Người hiện diện như một

người Mẹ, Giáo hội biết chắc được rằng mình đang sống thực

sự đời sống của Thầy và Chúa mình, và mình sống mầu

nhiệm cứu chuộc trong tất cả chiều sâu và sức tác sinh đầy đủ

của mầu nhiệm đó. Và khi ăn rễ vào nhiều lãnh vực khác

nhau của đời sống nhân loại ngày nay, cũng chính Giáo hội

còn được biết chắc và kể như được cả kinh nghiệm là mình

gần gũi với con người, với mỗi người, mình là Giáo hội của

họ, Giáo hội của dân Thiên Chúa.

Trước những nhiệm vụ xuất hiện dọc theo những con

đường Giáo hội đi, dọc theo các con đường Đức Phaolô VI đã

chỉ cho chúng ta trong bức Thông điệp đầu tiên của Người,

chính chúng ta vì ý thức cả sự cần thiết tuyệt đối của các con

đường ấy lẫn các khó khăn đang dồn dập trên đó, chúng ta

càng cảm thấy cần phải gắn bó sâu xa với Đức Kitô. Lời của

Người vang lên trong chúng ta: “Ngoài Ta, anh em không thể

làm được gì”382. Chúng ta cảm thấy toàn thể Giáo hội không

những cần mà còn có bổn phận cấp bách phải cầu nguyện

rộng rãi hơn, sốt sắng và nhiều hơn. Chỉ có cầu nguyện mới

có thể làm cho tất cả các nhiệm vụ lớn lao trên và những khó

khăn gắn liền với chúng không trở thành những nguồn khủng

hoảng, mà lại thành cơ hội hay là những khởi điểm cho /dân

381 Ga 3,16

382 Ga 15,5

ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 517

Thiên Chúa luôn tiến sâu hơn trên con đường đưa về đất hứa,

trong giai đoạn lịch sử đang dẫn chúng ta đến cuối thiên niên

kỷ thứ hai này. Tuy vậy, khi tôi kết thúc cuộc suy niệm này

bằng lời nguyện khiêm tốn và nhiệt thành kêu gọi Giáo Hội

cầu nguyện, tôi cũng mong muốn mọi người bền lòng cầu

nguyện như thế trong sự kết hợp với Đức Maria, Mẹ Đức

Giêsu383, như xưa kia các tông đồ và các môn đệ của Chúa đã

bền lòng cầu nguyện tại nhà Tiệc ly ở Giêrusalem, sau khi

Chúa lên trời384. Tôi khẩn cầu đặc biệt Đức Maria, Mẹ trên

trời của Giáo hội, xin Người luôn cùng với chúng ta cầu

nguyện như thế trong Mùa Vọng mới của nhân loại, để chúng

ta làm thành Giáo hội, Thân Mình huyền nhiệm của Con Một

của Người. Tôi trông cậy rằng, nhờ lời cầu nguyện đó, chúng

ta sẽ có thể lãnh nhận Thánh Thần xuống trên chúng ta385 và

nhờ thế, trở nên những chứng nhân của Đức Kitô “đến tận

cùng trái đất”386 như những người xưa kia đã ra khỏi nhà Tiệc

ly tại Giêrusalem trong ngày hiện xuống.

Với phép lành Tòa Thánh của tôi.

Làm tại Rôma, gần đền thờ Thánh Phêrô, ngày

4.3.1979.

Chủ nhật thứ nhất Mùa Chay, năm đầu tiên tôi làm giáo hoàng.

Gioan – Phaolô II.

383 x. Cv 1,14

384 x.Cv 1,13

385 x. Cv 1,8

386 Sđd.