Đức Lêô XIII – Đức Gioan Phaolô II
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI
ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE
2000
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 434
Giới thiệu thông điệp
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI
Redemtoris Hominis
ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II
Liên hệ đến vấn đề Nhân Quyền.
04/03/1979
GIỚI THIỆU
Thời kỳ lịch sử khai mở các thông điệp Mater et
Magistra (1961) và Pacem in terris (1963), đạt tới cao điểm với
các văn kiện công đồng lớn như Gaudium et Spes và
Dignitatis humanae (1965); cùng với chúng người ta có thể
gộp cả thông điệp Populorum progressio (1967), và thời kỳ ấy
kết thúc vào 1971 với các thông điệp Octogesima adveniens
và Justitia in mundo, hai văn kiện sau cùng này bộc lộ khá rõ
vẻ nhập nhằng, có cảm hứng rõ khác.
Thời kỳ sau đó hiếm muộn những diễn văn trọng thể
của Huấn Quyền: đó là thời gian gạn lọc “tại thực địa”, với
mọi ý nghĩa, nhiều quan điểm khác nhau, kể cả những dấn
thân trong hành động, và đôi khi bằng những định thức lý
thuyết. Tại Châu Mỹ LaTinh, đặc biệt hơn, những xung đột do
cách suy diễn sẽ làm sáng tỏ mối quan hệ giữa Giáo Hội và
thế giới, Tin Mừng và những biến chuyển xã hội. Thượng Hội
Đồng thế giới 1974 cố gằng tìm hiểu những căng thẳng này
có mặt khắp trong toàn Giáo Hội, và Đức Phaolô VI đã dựa
trên suy tư tập thể đó để khuyến dụ toàn thể cộng đồng Công
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 435
Giáo hướng tới sự truyền giảng Tin Mừng (Tin Mừng hóa)
đích thực trong thế giới ngày nay (tông huấn Evangelii
Nuntiandi, 8/12/1975). Nhưng còn phải đợi đến ngày lên ngôi
của Giáo hoàng Wojtyla, ngày 22/10/1978, một thời kỳ mới
huy hoàng trở lại mở ra đối với các diễn từ xã hội của Giáo
Hội, trước một thế giới đã đổi mới.
***
Thời đại đã đổi thay. Tiếp theo 30 năm của hoà bình và
thịnh vượng sau Thế Chiến Thứ Hai, cũng là thời kỳ cho ngày
càng nhiều quốc gia tự khẳng định mình trong bản hoà âm các
quốc gia trên thế giới và thực hiện cuộc phát triển của mình
với vài tín hiệu hy vọng thành công, là đến thời kỳ của những
năm cay đắng nhất: những thất bại về kinh tế, bất hoàn chính
trị, thù nghịch và chia rẽ ở tầm mức quốc tế, cứng rắn trong
thái độ cư xử lẫn nhau, dường như mọi sự đều phát sinh một
cảm giác như bất lực và lẫn xen sự cam chịu trước cái tệ hại
nhất. Một số người để tìm giải đáp cho những khó khăn của
mọi phía đã trở nên tin cậy vào những lời biện minh to tát,
bấp bênh giữa các quốc gia. Khắp nơi trên thế giới xuất hiện
trở lại những nỗ lực trang bị vũ khí; các chính phủ cũng như
công luận chọn cho mình vị thế an toàn; những cuộc xung đột
địa phương chỗ này chỗ kia cho ta cảm tưởng như chúng được
nuôi dưỡng, chăm chút, thay thế cho việc kiểm tra chất lượng
dự phòng quân bị của các phe chủ chốt; chính với vũ khí trên
tay, với những hệ thống do thám luôn sẵn sàng báo động mà
các bên hằng cảnh giác nhau…
Đức Gioan Phaolô, 20 tuổi vào năm 1940. Là con cái
của một dân tộc đã từ lâu bị từ chối như không hiện hữu về
chính trị “bộ phận Ba Lan” kéo dài từ 1795 – 1918), Ngài cùng
với dân tộc phải chịu nỗi đau khổ và nhục nhã vì cuộc xâm
chiếm mới. Người Đức ở phía Tây và người Nga ở phía Đông,
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 436
chính thức bắt đầu cuộc Thế Chiến thứ hai. Tại Liên Hiệp
Quốc, New York, 2/10/1979, Ngài gợi lại, nói lâu về “những
kinh nghiệm đau thương” và “những khổ đau của hàng triệu
người”, đó thể như là cái giá phải trả thay cho cuộc chiến
đáng lẽ đã có giữa mọi phe chống đối nhau. Ngài nhắc tới
Auschwitz, trại hủy diệt tập trung, là “một trong những nơi đau
khổ nhất và ngập đầy những khinh miệt xúc phạm con người
và những quyền căn bản của con người”. Ngài cũng khơi lại
ý thức kinh nghiệm của nhân loại thời kỳ đó: “chiến tranh,
trong ý nghĩa đệ nhất và cơ bản của nó, cốt yếu nảy sinh và
chín muồi ở những nơi nào mà quyền bất khả chuyển nhượng
của con người bị xâm phạm”. Ngài ca ngợi bản tuyên ngôn
quốc tế nhân quyền được liên Hiệp Quốc chấp nhận
10/12/1948, như “một cột mốc ngàn dặm được cắm trên con
đường dài và khó khăn của loài người”. 40 năm sau cuộc xâm
chiếm Ba Lan, Đức Giáo hoàng Wojtyla đã khẩn xin các vị đại
biểu của Liên Hiệp Quốc: các Chính phủ và Nhà Nước trên
toàn thế giới đã hiểu rằng, nếu như họ không muốn tấn công,
và tiêu diệt lẫn nhau, họ phải đoàn kết lại: mà con đường đích
thực, con đường cơ bản dẫn đưa tới đó phải đi qua mỗi một
con người, qua việc xác định, qua sự nhìn nhận và qua sự tôn
trọng những quyền không thể chuyển nhượng của nhân vị và
của cộng đồng các dân tộc.
***
Việc nại đến phẩm giá hoặc các quyền cơ bản nhất của
nhân vị chắc hẳn không phải là chuyện mới mẻ trong Giáo
Hội. Nếu như thực sự Giáo Hội đã không bao giờ lấy quan
niệm phóng khoáng về quyền con người được xây dựng ở
Châu Au, và được chế định công khai qua tuyên ngôn cách
mạng 1789 ở Pháp, làm của mình, thì chính vì muốn tôn trọng
phẩm giá con người mà Đức Lêô XIII đã nhắc tới sự kiện đó
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 437
(Rerum Novarum 32); chính vì liên hệ đến quyền con người
mà Đức Piô XI đã kết án chủ nghĩa cộng sản vô thần (Divini
redemptoris 27-28). Chính vì dựa trên quyền con người, một
điều xa lạ với chủ nghĩa tập thể, mà Ngài kết án chủ nghĩa
quốc gia và đặt chủ nghĩa sắc tộc (Mit brennender Sorge 37),
và 4 năm sau, 1941, Đức Piô XI đã viện dẫn đến chính những
quyền cá nhân của con người khi nói tới những nguyên tắc
nền tảng của đời sống xã hội (Radio – Message 21) chúng ta
đã biết Đức Gioan XXIII rồi đến Công đồng sẽ lấy lại và mở
rộng như thế nào diễn văn Công Giáo về quyền con người.
Chúng ta đã chọn đưa vào sưu tập này một bản văn có ý
nghĩa đặc biệt của Đức Gioan Phaolo II, trong số tất cả những
bản văn mà chính Ngài đã dành hết tâm tư để viết về quyền
con người: một trích đoạn của thông điệp đầu tay đời Giáo
Hoàng của Ngài, được công bố ngày 04/ 03/1979, thông điệp:
“Redemptoris Hominis” (Đấng Cứu Chuộc con người). Chúng
ta sẽ nhận thấy trong đó những điểm nhấn chính yếu mà Đức
Giáo hoàng sẽ triển khai qua những diễn văn khác nhau và
trong mọi chuyến viếng thăm khắp nơi trên thế giới: vấn đề
không chỉ là công bố các quyền con người, nhưng còn là phải
đem chúng vào thực tế; đứng trước cám dỗ của con người
muốn đặt niềm tin tưởng vào một Nhà Nước độc tài, người ta
phải khẩn cấp bảo vệ quyền được tự do lương tâm. Ngay từ
phần đầu của Thông điệp, Đức Gioan Phaolô II đã khẳng định
rằng: phẩm giá của nhân vị phải làm sao trở thành một phần
của việc loan báoTin Mừng, cả khi không dùng đến lời nói,
chỉ nhờ vào cách hành xử có ý hướng đến điều đó.
(Redemptoris Hominis 12,2). Trong buổi hội kiến với Hồng Y
đoàn ngày 22 tháng 12 năm 1979, nói về những quyền căn
bản của cá nhân và cộng đồng của các dân tộc, ngài nói
thêm: “Giáo Hội có quyền và có nghĩa vụ can thiệp nếu vẫn
muốn trung thành với sứ mạng của mình…Những chuyến đi
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 438
khác nhau do Chúa Quan Phòng đã cho tôi thực hiện trong
năm nay rõ ràng đã cho thấy chiều kích này, như ơn gọi đầu
tiên của Giáo Hội trong thế giới ngày nay”.
BẢN TÓM LƯỢC
[…]
17. Các quyền con người: “mặt chữ” hay “tinh thần”?
(1-4).
Được thỏa thuận trên lý thuyết, thực tế bị xâm phạm (5-
6).
Cám dỗ về một Nhà Nước độc tài (7).
Một quyền chủ chốt: tự do lương tâm (8-9).
[…]
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 439
Thông điệp
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI
Thông điệp Đấng Cứu Chuộc con người của Đức Giáo
hoàng Gioan-Phaolô II gửi các anh em trong hàng giám mục,
các linh mục, các dòng tu, các tín hữu nam nữ trong Giáo hội
cùng tất cả mọi người thiện chí vào lúc bắt đầu nhiệm kỳ giáo
chủ của người.
Anh em đáng kính, các con thân mến, xin gửi đến anh
em và các con lời chào và chúc lành Tòa thánh.
I. DI SẢN
1. Vào cuối thiên niên kỷ thứ hai.
Đấng Cứu chuộc con người, Đức Giêsu Kitô, là trung
tâm vũ trụ và lịch sử. Tư tưởng và tâm tình tôi hướng cả về
Người trong ngày giờ trọng đại Giáo hội và toàn thể gia đình
loài người hiện nay đang sống. Thật thế, thời buổi Thiên Chúa
trong ý định nhiệm mầu của Ngài đã trao phó cho tôi trách
nhiệm kế tiếp vị tiền nhiệm của tôi là Đức Gioan-Phaolô I,
phục vụ mọi người trong cương vị Tòa thánh Phêrô tại Rôma,
thời buổi này đã gần kề năm 2000 lắm rồi. Thật khó mà nói
được ngay từ bây giờ là năm đó sẽ đánh dấu sự tiến triển của
lịch sử nhân loại như thế nào, và năm đó sẽ ra sao đối với mỗi
dân tộc, quốc gia, xứ sở và lục địa, mặc dù ngay từ bây giờ
người ta cũng đang thử đoán trước một số biến cố. Đối với
Giáo hội, đối với dân Thiên Chúa trải rộng đến tận cùng trái
đất, đã hẳn là một cách không đồng đều, năm đó sẽ là một
năm kỷ niệm lớn. Dẫu có phải tôn trọng tất cả những đính
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 440
chính cần thiết cho đúng hẳn về thời gian, chúng ta từ nay vẫn
khá gần thời điểm phải nhắc chúng ta nhớ và làm mới lại một
cách đặc biệt ý thức về chân lý then chốt của Đức tin đã được
Tin mừng theo thánh Gioan diễn tả ngay từ những dòng đầu:
“Lời đã thành xác phàm và đã lưu trú nơi chúng tôi” 182, và
chỗ khác nữa: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã thí ban
Người Con một, ngõ hầu phàm ai tin vào Người thì khỏi phải
hư đi, nhưng được sống đời đời”183.
Cả chúng ta nữa, chúng ta đang sống một cách nào đó
trong thời gian của một Mùa Vọng mới, một thời gian mong
chờ. “Đã lắm phen cùng nhiều cách, xưa kia Thiên Chúa đã
nói với cha ông nơi các tiên tri. Vào thời sau hết, tức là những
ngày này, Ngài đã nói với chúng ta nơi một Người Con…”184,
nơi Ngôi Lời, Đấng làm người và sinh bởi Đức Trinh nữ Maria.
Ngay trong hành vi cứu chuộc này, lịch sử con người đã đạt
tới đỉnh cao trong ý định yêu thương của Thiên Chúa. Thiên
Chúa đã đi vào trong lịch sử nhân loại và với tư cách là người,
Ngài đã trở nên thành phần của lịch sử, một trong hàng tỷ
thành phần khác tuy vẫn là Đấng Duy Nhất. Nhờ sự Nhập
Thể, Thiên Chúa đã ban cho đời sống con người cái kích
thước mà Ngài vốn đã muốn ban cho con người ngay từ giây
phút đầu tiên, và Ngài đã ban dứt khoát, theo cách mà chỉ một
mình Ngài có thể làm, chiếu theo tình yêu muôn đời và lòng
nhân từ của Ngài, với tất cả sự tự do của Thiên Chúa, Ngài
cũng đã ban với tất cả lòng quảng đại khiến chúng ta, dù
đứng trước tội nguyên tổ và tất cả lịch sử tội lỗi của loài
người, đứng trước những sai lầm của trí khôn, của ý chí và trái
tim con người, vẫn có thể thán phục lặp lại những lời Phụng
182 Ga 1,14
183 Ga 3,16
184 Dt 1,1-2
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 441
vụ: “Ôi tội hồng phúc bởi đã đem lại cho chúng ta một Đấng
Cứu Chuộc lớn lao như thế”185.
2. Những lời đầu tiên của nhiệm kỳ giáo hoàng mới.
Tôi đã đưa tâm tình và tư tưởng tôi lên hướng về Đức
Kitô cứu chuộc ngày 16.10 năm ngoái, sau cuộc bầu cử theo
giáo luật, khi được hỏi: “Ngài có chấp nhận không?”. Lúc đó
tôi đã trả lời: “Vì vâng phục Đức Kitô là Chúa tôi trong đức
tin, vì trông cậy vào Thánh mẫu của Đức Kitô và của Giáo
hội, và mặc dầu có những khó khăn lớn biết bao, tôi xin
nhận”. Câu trả lời ấy, tôi muốn công bố cho tất cả mọi người
không trừ ai được biết để chứng tỏ rằng sứ vụ đã trở nên
nghĩa vụ đặc biệt của tôi tại Tòa Thánh Phêrô này khi tôi
chấp nhận được chọn làm giám mục Rôma và kế vị thánh
tông đồ, cũng là sứ vụ gắn liền với chân lý đầu tiên và căn
bản của mầu nhiệm Nhập thể nhắc đến trên đây.
Tôi đã muốn mang chính những danh hiệu mà Đức
Gioan-Phaolô I, vị tiền nhiệm rất được yêu mến của tôi đã
chọn. Quả vậy, ngày 26.8.1978, khi Người tuyên bố với Đoàn
Hồng Y là Người muốn danh xưng là Gioan Phaolô – một danh
hiệu kép như thế chưa từng có trong lịch sử các giáo hoàng –
thì ngay bấy giờ tôi đã coi đó là một tiếng hùng hồn kêu xin
ơn xuống trên nhiệm kỳ giáo hoàng mới. Vì nhiệm kỳ giáo
hoàng này chỉ kéo dài không tới 30 ngày, cho nên phần tôi
không những là phải tiếp tục nó mà còn như phải bắt đầu lại
từ cùng một khởi điểm. Đó chính là điều tôi muốn xác nhận
bằng việc chọn danh hiệu kép kia. Làm như thế, theo gương
vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, tôi muốn như Người, bày tỏ
lòng yêu mến di sản đặc thù do hai đức Gioan XXIII và
185 Bài mừng vui lên (Exultet) trong đêm phục sinh.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 442
Phaolô VI để lại cho Giáo hội cũng như cho bản thân tôi sẵn
sàng, nhờ ơn Chúa giúp, làm cho di sản ấy sinh hoa kết quả.
Qua hai tên gọi này và hai triều đại này, tôi liên kết với
tất cả truyền thống của Tông Tòa, cùng với các vị tiền nhiệm
của tôi ở thế kỷ XX và các thế kỷ trước và đi ngược dòng thời
gian cho tới những thời xa xôi nhất, tôi cũng tự nối mình hơn
mãi với kích thước của sứ mệnh và thừa tác vụ đã dành cho
Tòa Thánh Phêrô một chỗ đứng hoàn toàn đặc biệt trong Giáo
hội. Đức Gioan XXIII và Đức Phaolô VI làm thành một giai
đoạn mà tôi muốn trực tiếp tham chiếu như một khởi điểm để
từ đó tôi muốn như cùng với Đức Gioan-Phaolô I tiếp tục tiến
về tương lai. Với một lòng tin tưởng vô biên, tôi sẽ lấy sự tuân
phục Chúa Thánh Thần làm chỉ đạo, Thánh Thần mà Đức Kitô
đã hứa và đã gửi đến cho Giáo hội của Người. Quả vậy,
Người đã phán với các tông đồ trước ngày thụ nạn: “Thầy ra
đi thì ích lợi hơn cho anh em, vì nếu Thầy không ra đi thì Đấng
Bàu Chữa không đến với anh em”186. “Khi Đấng Bàu Chữa
đến, Đấng Thầy sẽ gửi đến từ nơi Cha, Thần Khí sự thật từ
Cha xuất ra, Ngài sẽ làm chứng về Thầy. Và các anh em cũng
làm chứng vì từ ban đầu anh em hằng ở với Thầy”187. “Khi
nào Ngài đến, vì là Thần khí sự thật, Ngài sẽ đưa anh em vào
tất cả sự thật; vì không phải tự mình mà Ngài nói, nhưng nghe
gì Ngài sẽ nói ra và Ngài sẽ loan báo cho anh em những điều
sẽ đến”188.
3. Tin tưởng ở Thánh Thần chân lý và tình thương.
Vậy với lòng tin tưởng hoàn toàn ở Thánh Thần chân lý,
tôi bước vào trong di sản phong phú của các nhiệm kỳ giáo
186 Ga 16,7
187 Ga 15,26-27
188 Ga 16,13
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 443
hoàng vừa qua. Di sản này ăn rễ vững chắc vào ý thức Giáo
hội, một cách hoàn toàn mới mẻ và chưa từng thấy từ trước
đến nay, nhờ Công đồng Vat.II do Đức Gioan XXIII đã triệu
tập và bắt đầu rồi do Đức Phaolô VI đã kết thúc một cách tốt
đẹp và kiên trì đem ra thực hành. Tôi đã có thể quan đát thật
gần hoạt động của Đức Phaolô VI. Tôi đã luôn luôn cảm phục
sự khôn ngoan sâu sắc và lòng dũng cảm của Người, cũng
như sự bền chí kiên tâm của Người trong thời Hậu Công đồng
đầy khó khăn của nhiệm kỳ Người. Là kẻ cầm lái Giáo hội,
con thuyền của Thánh Phêrô, Người đã biết giữ sự bình tĩnh
và quân bình được Chúa sắp đặt cả trong những lúc gay go
nhất, khi mà Giáo hội như bị lay chuyển từ bên trong, và
Người đã luôn giữ vững một niềm cậy trông không thể giao
động vào sự đồng tâm nhất trí của Giáo hội, Bởi vì điều mà
Thánh Thần đã dùng Công đồng vừa rồi để nói với Giáo hội
trong thời đại chúng ta, điều mà trong Giáo hội này, Thánh
Thần đang nói với tất cả các Giáo hội189, điều ấy chỉ có thể –
mặc dù đôi lúc có những lo âu – làm cho dân Thiên Chúa ý
thức về sứ mệnh cứu độ của mình mà đồng tâm nhất trí hơn
nữa.
Đức Phaolô VI đã lấy ý thức hiện đại của Giáo hội làm
đề tài đầu tiên cho Thông điệp căn bản của Người, Thông
điệp mở đầu bằng mấy chữ Ecclesiam suam (Giáo hội của
Đức Kitô). Tôi xin được tham chiếu Thông điệp ấy trước hết
và liên hệ với nó trong văn kiện đầu tiên cũng được kể là văn
kiện khai mạc nhiệm kỳ giáo hoàng này. Nhờ Thánh Thần soi
sáng và nâng đỡ Giáo hội ngày càng có một ý thức sâu sắc
hơn về mầu nhiệm thiên linh của mình, về sứ mệnh nhân gian
và cả về những yếu đuối phàm nhân của mình: chính ý thức
ấy là và phải còn là nguồn mạch đầu tiên cho lòng yêu
189 x. Kh 2,7
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 444
thương Giáo hội, cũng như lòng yêu thương lại góp phần củng
cố và đào sâu ý thức ấy. Đức Phaolô VI đã để lại cho chúng
ta bằng chứng một ý thức hết sức sắc bén về Giáo hội. Qua
nhiều hợp tố phức tạp lắm khi đầy day dứt của nhiệm kỳ
Người, Người đã dạy cho chúng ta một tình yêu kiên cường
đối với Giáo hội là “Bí tích, nghĩa là vừa là dấu chỉ vừa là
phương thế cho sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa và cho sự
thống nhất toàn thể loài người”, như Công đồng đã nói190.
4. Tham chiếu Thông điệp đầu tiên của Đức
Phaolô VI.
Chính vì lý do trên mà ý thức Giáo hội phải đi đôi với
một thái độ cởi mở đối với tất cả để mọi người tìm được nơi
Giáo hội “sự phong phú khôn dò của Đức Kitô”191 mà vị tông
đồ các dân ngoại nói tới. Sự cởi mở này, nối kết một cách
hữu cơ với ý thức về bản chất của Giáo hội, với xác tín về
chân lý của Giáo hội như Đức Kitô đã dạy: “Lời anh em nghe
đây không phải là của Thầy nhưng là của Cha, Đấng đã sai
Thầy”192, chính sự cởi mở như thế quy định tính năng động
tông đồ, nghĩa là tính năng động thừa sai của Giáo hội vẫn
tuyên xưng và công bố toàn vẹn tất cả chân lý đã được Đức
Kitô truyền đạt cho. Đồng thời Giáo hội cũng phải thiết lập
cuộc “đối thoại” mà Đức Phaolô VI trong Thông điệp Giáo
hội Đức Kitô đã gọi là “đối thoại cứu độ”, khi vạch rõ từng
phạm vi một trong các phạm vi đối thoại193. Ngày nay khi
tham chiếu văn kiện đó là văn kiện đã xác định chương trình
nhiệm kỳ giáo hoàng của Đức Phaolô VI, tôi không ngừng
190 LG 1; AAS 57, 1965,5.
191 Ep 3,8
192 Ga 14,24
193 Thông điệp ES, AAS 56, 1964, 650 tt.
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 445
cảm tạ Thiên Chúa, bởi vì vị tiền nhiệm lớn này đồng thời
cũng thật là người cha đối với tôi, đã biết bày tỏ cho bên
ngoài, ad extra, khuôn mặt đích thực của Giáo hội, mặc dù đã
có những yếu kém xảy ra trong Giáo hội thời hậu Công đồng.
Nhờ vậy một phần lớn gia đình nhân loại, trong những môi
trường khác nhau của cuộc sống phức tạp, theo như tôi nghĩ,
đã ý thức hơn là mình tuyệt đối cần đến Giáo hội của Đức
Kitô, cần đến sứ vụ và việc phục vụ của Giáo hội. Ý thức ấy
đôi khi đã tỏ ra mạnh mẽ hơn những thái độ phê phán công
kích Giáo hội từ bên trong, ab intra, công kích các thể chế và
cơ cấu của Giáo hội, các thành phần của Giáo hội và hoạt
động của họ. Việc phê phán ngày càng tăng thêm này dĩ
nhiên đã có những nguyên nhân khác nhau, và chúng ta chắc
chắn rằng không phải bao giờ nó cũng thiếu một lòng yêu
mến đích thực đối với Giáo hội. Đã đành nó biểu lộ cùng với
điều này điều nọ khuynh hướng muốn ra khỏi cái gọi là óc
hiếu thắng đã hay được bàn đến trong thời gian Công đồng.
Nhưng nếu quả thật Giáo hội, theo gương Thầy mình là Đấng
“khiêm nhượng trong lòng”194 cũng đặt nền tảng của mình
trên đức khiêm tốn, có tinh thần phê phán đối với tất cả
những gì làm nên tính cách và hoạt động phàm nhân của
mình, luôn nghiêm khắc đối với chính mình, thì những kẻ phê
phán Giáo hội, về phần họ, cũng phải giữ những giới hạn
phải chăng. Bằng không việc phê phán không còn là xây
dựng, không còn tỏ bày chân lý, lòng biết ơn đối với ân sủng
mà chúng ta được chia sẻ một cách chính yếu và đầy đủ trong
Giáo hội và nhờ Giáo hội. Ngoài ra, óc phê phán không nói
lên thái độ phục vụ mà chỉ để lộ ý muốn điều khiển ý kiến
kẻ khác theo ý kiến riêng của mình và ý kiến riêng này lắm
khi lại được công bố một cách quá nhẹ dạ.
194 Mt 11,29
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 446
Chúng ta phải biết ơn Đức Phaolô VI vì người vừa tôn
trọng từng mảnh chân lý trong các ý kiến khác nhau của loài
người, vừa giữ được sự quân bình cần thiết của người lái
tàu195. Giáo hội được giao phó cho tôi hầu như liền sau Người
– thông qua Đức Gioan-Phaolô I – chắc hẳn không thiếu những
khó khăn và căng thẳng bên trong. Nhưng đồng thời Giáo hội
được phòng bị tốt hơn từ bên trong để chống lại những cái
quá đáng của việc tự phê: nói được là Giáo hội sẵn tinh thần
phê phán hơn đối với những thứ phê phán nhẹ dạ, có sức
kháng cự hơn trước những cái “mới lạ”, chín chắn hơn trong
sự cân nhắc, có khả năng hơn để rút ra từ kho tàng vĩnh cửu
của mình “cái mới và cái cũ”196, biết tập trung hơn vào chính
mầu nhiệm mình, và nhờ tất cả những mặt tích cực đó, sẵn
sàng hơn để thi hành sứ mệnh cứu độ mọi người: Thiên Chúa
“muốn cho mọi người được cứu thoát và được nhìn biết sự
thật”197.
195 Ở đây phải lưu ý các văn kiện chính trong thời đại Đức Phaolô
VI. Chính Ngài đã trích dẫn một số các văn kiện đó trong bài giảng
ngày lễ mừng kính trọng thể Thánh Phêrô và Phaolô 1978. Tđ ES: AAS
56, 1964, 609-659; Tông thư investigabiles divitias Christi : AAS 57,
1965, 298-301; Tđ Mysterium fidei : AAS 57, 1965, 753-774; Tđ
Sacerdotalis caelibatus : AAS 59, 1967, 657-696; Sollemnis Professie
Fidei : AAS 60, 1968, 433-445; Tđ Humanae vitae : AAS 60,1968,481-
503; Tông huấn Quinque iam anni : AAS 63, 1971, 97-106; Tông huấn
Evangelica testificatio: AAS, 63, 1971, 487-535; Tông huấn Paterna cum
benevolentia: AAS 67, 1975, 5-23; Tông huấn Gaudete in Domini: AAS
67, 1975, 289-322; Tông huấn Evangelii nuntiandi: AAS 68, 1976, 5-76.
196 Mt 13,52
197 1Tm 2,4
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 447
5. Tập đoàn tính và việc tông đồ.
Trái với mọi vẻ bề ngoài Giáo hội ngày nay hiệp nhất
hơn trong sự hiệp thông phục vụ và trong ý thức tông đồ. Sự
hiệp nhất này xuất phát từ nguyên tắc tập đoàn tính được
Công đồng Vat.II nhắc lại và chính Đức Kitô đã ban cho Đoàn
mười hai tông đồ, đứng đầu là thánh Phêrô, và Người ban lại
liên tục cho Đoàn Giám mục. Đoàn giám mục này không
ngừng gia tăng trên khắp thế giới mà vẫn hiệp nhất với Đấng
kế vị Thánh Phêrô và do Người lãnh đạo. Công đồng không
những đã nhắc lại nguyên tắc tập đoàn này của các giám
mục, mà còn đem lại cho nó một sức sống mãnh liệt, như khi
ước mong thành lập một cơ cấu thường trực, mà Đức Phaolô
VI đã thực hiện, đó là thượng hội đồng các giám mục. Hoạt
động của hội đồng này đã đem lại cho nhiệm kỳ Giáo hoàng
của Người một kích thước mới và hơn nữa đã phản chiếu rõ
ràng ngay từ những ngày đầu tiên trên nhiệm kỳ Đức Gioan-
Phaolô I và trên nhiệm kỳ của kẻ kế vị bất xứng này.
Nguyên tắc tập đoàn đã chứng tỏ là rất hợp thời trong
thời khó khăn hậu Công đồng: Lúc ấy giám mục đoàn đã bày
tỏ sự hiệp nhất với Người kế vị thánh Phêrô, nhất là qua
thượng hội đồng. Lập trường chung và nhất trí của các giám
mục đã góp phần đánh tan những mối nghi ngờ và cũng vạch
ra cho thấy con đường đúng để canh tân Giáo hội trên khắp
thế giới. Quả thế, từ Thượng hội đồng đã phát sinh, bên cạnh
những hoa trái khác, cái sức đẩy thiết yếu hướng về việc
phúc âm hóa; sức đẩy này đã được diễn tả trong Tông Huấn
Evangelii Nuntiandi198 (rao giảng Tin mừng) mà người ta đã
hân hoan đón tiếp như là chương trình canh tân có tính cách
vừa tông đồ, vừa mục vụ. Cũng một đường hướng như thế đã
198 Phaolô VI, EN : AAS 68, 1976, 5-76
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 448
được tiếp tục trong khóa họp thường lệ sau cùng của Thượng
hội đồng một năm trước khi Đức Giáo hoàng Phaolô VI từ
trần. Như mọi người biết, khóa họp đã bàn về việc huấn giáo.
Hiện Tòa thánh còn đang phải tổng hợp những kết quả của
khóa làm việc này và soạn thành những văn kiện chính thức.
Vì chúng ta đang nói tới sự phát triển hiển nhiên từ
những hình thức biểu lộ tập đoàn tính của các giám mục, thì ít
nữa cũng phải nhắc lại quá trình củng cố các hội đồng giám
mục quốc gia trong toàn thể Giáo hội, và những cơ cấu tập
đoàn khác có tính cách quốc tế hay lục địa. Chiếu theo truyền
thống lâu đời của Giáo hội, cũng nên chú ý đến hoạt động
của các hội đồng địa phương. Thật vậy, ý tưởng của Công
đồng như Đức Phaolô VI đã đem ra thực hiện một cách mạch
lạc, là những cơ cấu loại ấy, đã từng được Giáo hội thí nghiệm
từ bao nhiêu thế kỷ, và cả những hình thức cộng tác tập đoàn
khác giữa các giám mục, chẳng hạn như giáo tỉnh, chưa nói tới
riêng mỗi giáo phận, đều hoạt động với ý thức đầy đủ về
chân tính của mình và đồng thời về tính cách độc đáo của
mình trong sự duy nhất của Giáo hội ở khắp thế giới. Cũng
một tinh thần cộng tác và đồng trách nhiệm như thế đang lan
ra giữa các linh mục nữa, bằng chứng là rất nhiều hội đồng
linh mục đã ra đời sau Công đồng. Tinh thần này cũng đã lan
rộng tới các giáo dân, không những xác nhận những tổ chức
tông đồ giáo dân sẵn có mà còn tạo nên những cơ cấu mới
lắm lúc mang một sắc thái khác và một sức bật phi thường.
Ngoài ra, người giáo dân ý thức về trách nhiệm của họ trong
Giáo hội, đã tự nguyện dấn thân cộng tác với các chủ chăn,
với các đại diện các dòng tu, trong khuôn khổ những hội
đồng giáo phận hoặc những hội đồng mục vụ của các giáo xứ
và giáo phận.
Tôi phải nghĩ tới tất cả những điều ấy khi bắt đầu nhiệm
kỳ giáo hoàng của tôi để cảm tạ Thiên Chúa, để thiết tha
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 449
khuyến khích tất cả các anh em chị em tôi và cũng để nhắc lại
với lòng biết ơn sâu đậm công trình của Công đồng Vat.II và
của các vị tiền nhiệm của tôi đã tạo nên đà tiến mới cho đời
sống Giáo hội, một đà tiến mạnh mẽ hơn hẳn những triệu
chứng ngờ vực, đổ vỡ, khủng hoảng.
6. Đường đưa tới sự hiệp nhất các Kitô hữu.
Và phải nói thế nào về tất cả những sáng kiến do chiều
hướng đại kết mới đã dấy lên ? Đức Gioan XXIII, vị Giáo chủ
không ai quên được, một cách sáng sủa như Tin mừng, đã đặt
vấn đề hiệp nhất các Kitô hữu như một hậu quả tất nhiên của
ý muốn của chính Chúa Giêsu Kitô, vị thầy chúng ta, đã
khẳng định nhiều lần và diễn tả một cách đặc biệt trong lời
cầu nguyện tại phòng tiệc ly, trước ngày Người chịu chết:
“Lạy Cha… con cầu xin … để tất cả nên một”199. Công đồng
Vat.II đáp lại đòi hỏi này dưới một hình thức gọn ghẽ là sắc
lệnh về Đại kết. Đức Giáo hoàng Phaolô VI dựa vào sinh hoạt
của văn phòng hiệp nhất Kitô hữu đã đi những bước đầu khó
khăn trên con đường thực hiện sự hiệp nhất ấy. Chúng ta đã
đi khá xa chưa trên con đường này ? Không dám đưa ra một
câu trả lời chi tiết, chúng ta có thể nói rằng chúng ta đã có
những bước tiến thực sự và những bước tiến quan trọng. Và
một điều chắc chắn là chúng ta đã làm một cách kiên trì và
mạch lạc, và còn có những đại diện của các Giáo hội và các
cộng đoàn Kitô hữu khác cùng đi với chúng ta nữa. Chúng ta
thành thật biết ơn họ. Một điều chắc chắn nữa là trong hoàn
cảnh lịch sử hiện nay của Kitô giáo và của thế giới, không
thấy có khả năng nào khác để hoàn thành sứ mạng phổ quát
của Giáo hội trong những gì liên quan tới các vấn đề đại kết,
ngoài khả năng tìm kiếm một cách ngay thẳng, bền chí, khiêm
199 Ga 17,21; x. Ga 17,11.22-23; Ga 10,16; Lc 9,49-50.54
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 450
tốn và can đảm nữa, những con đường xích lại gần nhau và
hiệp nhất, như Đức Phaolô VI đã đích thân nêu gương cho
chúng ta. Vậy chúng ta đã tìm kiếm sự hiệp nhất mà không
nản lòng trước những khó khăn có thể xẩy đến hoặc chồng
chất dọc theo con đường này; bằng không, chúng ta sẽ không
trung thành với Lời Đức Kitô, chúng ta sẽ không thi hành lời
di chúc của Người. Có được phép liều lĩnh như vậy không ?
Có những kẻ vì gặp phải những khó khăn hay vì đánh
giá các kết quả của những công việc đại kết đầu tiên là tiêu
cực, có lẽ đã muồn trở gót. Có người còn nói ra cả ý kiến là
những nỗ lực kia có hại cho sự nghiệp Tin mừng, dẫn tới một
sự đổ vỡ mới trong Giáo hội, tạo nên tình trạng lù mù tư tưởng
trong các vấn đề đức tin và đạo đức, cuối cùng đưa tới một
chủ trương dửng dưng tiêu biểu. Các phát ngôn viên của
những ý kiến như thế có nói ra những lo ngại âu cũng là điều
hay, nhưng ở đây cũng thế, cần phải giữ những giới hạn đúng
đắn. Hiển nhiên là giai đoạn mới này trong đời sống Giáo hội
đòi hỏi chúng ta phải có một đức tin đặc biệt có ý thức, sâu
sắc và có tinh thần trách nhiệm. Sinh hoạt đại kết đích thực có
nghĩa là cởi mở, xích lại gần, sẵn sằng đối thoại, cùng nhau
tìm kiếm chân lý theo nghĩa hoàn toàn Phúc âm và Kitô giáo;
nhưng nó không hề có nghĩa và không thể có nghĩa là người
ta từ bỏ hoặc làm phương hại cách nào tới những kho tàng
chân lý của Thiên Chúa vẫn không ngừng được Giáo hội
tuyên xưng và giảng dạy. Với tất cả những ai, bất kỳ vì lý do
nào, muốn khuyên can Giáo hội đừng tìm đến một sự hiệp
nhất tất cả mọi Kitô hữu, ta cần phải nhắc lại một lần nữa:
chúng ta có được phép không làm việc đó chăng ? Mặc dù tất
cả sự yếu đuối loài người, tất cả mọi thiếu sót chồng chất
trong các thế kỷ qua – chúng ta có được phép không tin tưởng
vào ơn sủng Chúa chúng ta, như thấy tỏ ra gần đây bằng lời
Chúa Thánh Thần mà chúng ta đã nghe trong Công đồng
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 451
chăng ? Làm như thế, chúng ta sẽ chối bỏ chân lý liên quan
tới chính chúng ta và đã được Thánh Phaolô tông đồ diễn tả
một cách hùng hồn biết bao: “Hiện tôi có là gì, là bởi ơn
Thiên Chúa, và ơn Ngài ban cho tôi đã không ra vô ích”200.
Cho dù theo cách nào khác và với những dị biệt cần
thiết cũng cần áp dụng những suy nghĩ trên đây vào hoạt
động nhằm xích lại các đại diện của các tôn giáo ngoài Kitô
giáo. Hoạt động này diễn ra trong các cuộc đối thoại, tiếp
xúc, cầu nguyện chung, nghiên cứu các kho tàng linh đạo của
loài người, vì chúng ta biết rõ là các thành phần của những
tôn giáo đó không thiếu những kho tàng như thế. Phải chăng
nhiều khi lòng tin vững chắc của các thành phần những tôn
giáo ngoài Kitô giáo – vốn cũng là hiệu quả của Thánh Thần
chân lý tác động xa hơn những biên giới hữu hình của Thân
mình mầu nhiệm – lòng tin ấy đáng làm cho các Kitô hữu hổ
thẹn vì quá nhiều khi họ đâm ra nghi ngờ những chân lý do
Thiên Chúa mạc khải và Giáo hội rao giảng, vì họ quá dễ
dàng buông lỏng các nguyên tắc luân lý và mở rộng cửa cho
một thứ luân lý tùy tiện ? Sẵn sàng hiểu từng người, phân tách
từng hệ thống, nhìn nhận những gì đúng, đều là thái độ cao
quý, nhưng như thế không hề có nghĩa là bỏ mất xác tín về
đức tin của mình201 hoặc làm suy yếu các nguyên tắc luân lý.
Nếu không có những nguyên tắc luân lý này thì người ta sẽ
chóng cảm thấy ảnh hưởng trong đời sống của trọn cả nhiều
xã hội vì những hậu quả tai hại do đó mà sinh ra, chưa kể
nhiều chuyện khác.
200 1Cr 15,10
201 x. Vat.I Dei Filius, ch.III De Fide, s.6: Conciliorum
Oecumenicorum Decreta, nxb Istituto per le Scienze Religiose, Bologna
1973. tr. 811.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 452
II. MẦU NHIỆM CỨU ĐỘ
7. Trong mầu nhiệm Đức Kitô .
Những con đường mà Công đồng thế kỷ chúng ta đã
đưa Giáo hội vào và Đức Cố Giáo hoàng Phaolô VI đã chỉ rõ
cho chúng ta trong Thông điệp đầu tiên của Người, sẽ vẫn
còn là con đường mà tất cả chúng ta đều phải theo. Nhưng
đồng thời, trong chặng đường mới này, chúng ta có thể tự hỏi
một cách chính đáng: phải tiến tới như thế nào, theo cách thức
nào? Phải làm gì để cho Mùa Vọng mới này của Giáo hội,
mùa vọng liên hệ tới những năm cuối thiên niên kỷ thứ hai,
đưa chúng ta lại gần Đấng mà Kinh Thánh gọi là Cha muôn
thuở “Pater Futuri Saeculi”202. Đó là câu hỏi căn bản mà vị tân
Giáo hoàng phải đặt ra cho mình, khi lấy tinh thần vâng phục
trong đức tin mà nhận lệnh Đức Kitô đã nhiều lần truyền trao
cho Phêrô và nay trở nên tiếng gọi cho mình: “Hãy chăn giữ
chiên của ta”203, có nghĩa là: hãy làm kẻ chăn đàn chiên của
ta, và sau nữa: ”…Phần anh, khi trở lại rồi, thì lo cho anh em
được vững mạnh”204.
Anh em và các con rất thân mến, chính ở đây đã sẵn
một câu trả lời căn bản và cốt yếu, tức là : định hướng duy
nhất cho tinh thần, hướng đi duy nhất cho trí tuệ, cho ý chí,
cho lòng ta là Chúa Kitô, Đấng cứu chuộc con người, Chúa
Kitô, Đấng cứu chuộc thế giới. Chúng ta muốn đưa mắt hướng
về Người, bởi vì chỉ nơi Người, Con Thiên Chúa, mới có ơn
cứu độ, và chúng ta lặp lại lời tuyên xưng của Phêrô : “Lạy
202 Is 9,6
203 Ga 21,15
204 Lc 22,32
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 453
Thầy, chúng tôi sẽ đi đến cùng ai nữa ! Thầy mới có những lời
ban sự sống đời đời”205.
Nhờ Công đồng, Giáo hội đã phát triển thật tốt ý thức
về chính mình. Nay ở mọi bình diện của ý thức ấy, trong mọi
địa hạt sinh hoạt là chỗ Giáo hội tự diễn tả mình, tự gặp lại
mình, tự khẳng định mình, chúng ta luôn luôn vươn tới Đấng
“là đầu”206, Đấng mà “mọi sự có tự Người, và chúng ta cũng
có tự Người”207, Đấng vừa “là đường, là sự thật”208, vừa là “sự
sống lại và là sự sống”209, Đấng mà hễ chúng ta thấy Người
là thấy Cha210, Đấng phải lìa biệt chúng ta mà đi211 – ta hãy
hiểu là : Người phải chết trên thập giá và sau đó siêu thăng
lên trời – để cho Đấng an ủi đến và tiếp tục đến mãi với
chúng ta như thần khí của sự thật212. Nơi Người có “hết thảy
mọi kho tàng khôn ngoan thông thái”213 và Giáo hội là thân
mình Người214. “Giáo hội trong Chúa Kitô, là như bí tích, tức
là dấu chỉ và phương thế cho sự kết hợp mật thiết với Thiên
Chúa và sự hiệp nhất toàn thể nhân loại”215. Và Người là
nguồn! Chính Người, Người là Đấng cứu chuộc!
Giáo hội không ngừng lắng nghe, đọc đi đọc lại các lời
của Người, và hết lòng mộ mến tìm lại tất cả mọi chi tiết đời
Người. Những Lời ấy, cũng được cả những người ngoài Kitô
205 Ga 6,68; x Cv 4,8-12
206 x. Ep 1,10.22; 4,25; Cl 1,18
207 1Cr 8,6 ;x. Cl 1,17
208 Ga 14,6
209 Ga 11,25
210 x. Ga 14,9
211 x. Ga 16,7
212 x. Ga 16,7.13
213 Cl 2,3
214 x. Rm 12,5; 1Cr 6,15; 10,17; 12,12.27; Ep 1,23; 2,16; 4,4; Cl 1,24; 3,15
215 Vat.II LG 1; AAS 57, 1965,5
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 454
giáo lắng nghe. Cuộc đời Đức Kitô đồng thời nói với nhiều
người hiện chưa thể lặp lại như thánh Phêrô: “Thầy là Đức
Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”216. Là Con Thiên Chúa
hằng sống, Người còn nói với người ta với tư cách là người
nữa: chính cuộc đời của Người, nhân tính của Người, sự trung
thành của Người đối với chân lý, lòng yêu thương của Người
lan rộng tới mọi người tất cả đều nói. Sự chết của Người trên
thập giá tức là chiều sâu khôn dò của những thống khổ và
cảnh bị bỏ rơi của Người cũng nói. Giáo hội không bao giờ
thôi sống lại cái chết của Người trên thập giá và sự phục sinh
của Người: đó là nội dung sự sống hằng ngày của Giáo hội.
Quả thế, do sự uỷ thác của chính Đức Kitô, thầy của mình,
Giáo hội không ngừng cử hành nhiệm tích Thánh Thể, tìm
thấy ở đó “nguồn sống và nguồn thánh thiện”217, dấu chỉ kiến
hiệu của ân sủng và sự giao hòa với Thiên Chúa, bảo chứng
cho sự sống đời đời. Giáo hội sống mầu nhiệm Đức Kitô,
hưởng dùng mầu nhiệm ấy mà không hề mỏi mệt và liên tục
tìm mọi cách để làm cho mầu nhiệm Thầy và Chúa mình gần
gũi với loài người, với các dân tộc, các nước, các thế hệ nối
tiếp nhau, với riêng từng người, như thế, Giáo hội theo gương
thánh Tông đồ mà cứ lặp lại mãi: “Ở nơi anh em, tôi đã quyết
chẳng muốn biết gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô, và là Đức
Giêsu Kitô đã bị đóng đinh”218. Giáo hội ở lại trong cõi mầu
nhiệm cứu chuộc, và đích thị mầu nhiệm ấy đã trở nên
nguyên lý căn bản cho sự sống và sứ mệnh của Giáo hội.
216 Mt 16,16
217 x. Kinh cầu Trái Tim Đức Chúa Giêsu.
218 1Cr 2,2
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 455
8. Cứu chuộc: tạo thành được đổi mới.
Đấng cứu chuộc thế gian ! nơi Ngài đã được mạc khải
một cách mới mẻ và kỳ diệu hơn chân lý căn bản về thế giới
thụ tạo, điều mà sách Sáng thế xác nhận khi lặp đi lặp lại
nhiều lần: “Thiên Chúa thấy như thế là tốt lành”219. Sự thiện
bắt nguồn từ sự khôn ngoan và từ tình thương yêu. Thế giới
hữu hình Thiên Chúa đã dựng nên cho con người220, thế giới
đã phải lụy phục sự hư nát khi tội lỗi lọt vào221, thế giới ấy
nay tìm lại được trong Đức Giêsu Kitô mối tương quan nguyên
thủy với ngọn nguồn khôn ngoan và yêu thương là Thiên
Chúa. Thật thế, “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi
đã ban Con Một mình”222. Mối tương quan kia đã bị đứt mất
nơi con người – Ađam thế nào thì nay nơi con người – Đức Kitô
đã được nối lại như thế223. Có lẽ chúng ta là người của thế kỷ
20, chúng ta không xác tín về những lời mà vị tông đồ của
các dân tộc đã nói ra một cách hùng hồn lôi cuốn về “tạo
thành, cùng nhau rên xiết, cùng nhau quằn quại như ở cữ cho
đến bây giờ”224 và đang “ngong ngóng trông chờ việc mặc
khải con cái Thiên Chúa”225, về “cõi tạo thành “đã phải chịu
lâm cảnh hư luống” ? Nhưng chính sự tiến bộ bao la, trước
đây không hề có, đã tỏ hiện đặc biệt vào thế kỷ chúng ta
trong địa hạt con người làm chủ thế giới, lại chẳng cho thấy sự
lâm vào cảnh “hư luống” đủ cách và tới mức độ chưa từng
biết đó sao ? Ở đây chỉ cần nhắc lại một vài sự kiện như là
219 x. St 1, trong suốt chương 4 (passim)
220 x. St 1,26-30
221 x. Rm 8,20; hoặc 8,19-22; Vat.II GS 2.13
222 Ga 3,16
223 x. Rm 5,12-21
224 Rm 8,22
225 Rm 8,19
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 456
nguy cơ ô nhiễm môi trường thiên nhiên ở những nơi được
công nghiệp hóa nhanh chóng, hoặc những cuộc xung đột vũ
trang cứ bùng nổ và tái diễn liên miên, hoặc là viễn tượng tự
diệt bằng các vũ khí nguyên tử, khinh khí và trung hòa tử và
những loại khác tương tự, sự thiếu tôn trọng đối với trẻ thơ
còn trong lòng mẹ. Thế giới của thời đại mới, thế giới của
những chuyến bay vũ trụ, thế giới của những chinh phục về
khoa học và kỹ thuật chưa hề bao giờ đạt được, phải chăng
đồng thời cũng là thế giới “rên xiết và quằn quại như ở cữ”226
và “ngong ngóng mong chờ sự mặc khải con cái Thiên
Chúa”?227
Công đồng Vat.II khi phân tích sâu sắc “thế giới hiện
thời” đã đạt tới điểm quan trọng hơn cả của thế giới hữu hình,
tức là con người, bằng cách như Đức Kitô đi vào tận chỗ thâm
sâu nhất trong ý thức con người cho thấu tới mầu nhiệm bên
trong của con người mà ngôn ngữ Kinh Thánh và cả Kinh
Thánh diễn tả bằng chữ “lòng dạ”. Đức Kitô, Đấng cứu chuộc
thế giới, là Đấng đã đi vào mầu nhiệm con người một cách
độc nhất vô nhị và đã vào trong “lòng dạ” con người. Cho
nên Công đồng Vat.II dạy một cách đích đáng rằng: “Thực
vậy, mầu nhiệm con người chỉ thực sự sáng tỏ là trong mầu
nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể. Bởi vì Ađam, con người đầu tiên đã
là hình bóng của Đấng sẽ đến (Rm 5,14), là Chúa Kitô. Là
Ađam mới, Chúa Kitô, trong chính mặc khải về Chúa Cha và
tình yêu thương của Ngài, đã tỏ cho con người biết rõ chính
mình và thấy được thiên chức cao cả của họ. Và còn dạy : Là
“hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15), Người là con
người hoàn hảo đã phục hồi trong dòng dõi Ađam hình ảnh
Thiên Chúa đã lu mờ vì tội nguyên tổ. Bởi vì nơi Người, bản
226 Rm 8,22
227 Rm 8,19
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 457
tính nhân loại đã được đảm nhận chứ không bị nuốt mất,
chính nhờ đó cả nơi chúng ta nữa, bản tính ấy cũng được nâng
lên một phẩm giá vô song. Vì do mầu nhiệm Nhập thể, Con
Thiên Chúa đã như tự kết hiệp chính mình với mọi người.
Người đã làm việc với bàn tay con người, đã suy nghĩ bằng trí
óc con người, đã hành động với ý chí con người, đã yêu
thương với lòng dạ con người. Sinh bởi Đức Trinh nữ Maria,
Người đã thực sự trở nên một người giữa chúng ta, “giống
chúng ta về mọi mặt, ngoại trừ tội lỗi”228. Người là Đấng cứu
chuộc con người !
9. Kích thước Thiên Chúa của mầu nhiệm cứu chuộc.
Khi suy nghĩ lại về bản văn đáng phục trên của Công
đồng, chúng ta không quên, cho dù trong khoảnh khắc, rằng
Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, đã trở nên mối
giao hòa chúng ta với Chúa Cha229, Chính Người và duy một
mình Người đã đáp ứng đầy đủ lòng yêu mến đời đời của
Chúa Cha, đáp ứng tình cha mà Thiên Chúa đã tỏ ra từ thuở
ban đầu khi tạo dựng thế giới, khi ban cho con người tất cả sự
phong phú của giới thọ tạo, khi tác thành con người “không
thua kém các thiên thần bao nhiêu”230 vì được dựng nên “theo
hình ảnh Thiên Chúa”231 Đức Kitô đã đáp ứng đầy đủ tình cha
và lòng yêu mến đó của Thiên Chúa, khi mà con người đã từ
chối lòng yêu mến đó bằng việc phá vỡ giao ước đầu tiên232
và tất cả những giao ước mà về sau Thiên Chúa đã nhiều lần
ban tặng cho loài người233. Việc cứu chuộc thế giới là mầu
228 GS 22
229 x. Rm 5,11; Cl 1,20
230 Tv 8,6
231 x. St 1,26
232 x. St 3,6-13
233 x. Kinh nguyện thánh thể IV.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 458
nhiệm kinh hồn của lòng yêu mến đã canh tân giới thụ tạo234.
Từ những cội rễ sâu xa nhất, đó là sự đầy đủ công chính trong
trái tim một con người, trong trái tim người Con đầu lòng, để
có thể trở nên sự công chính trong lòng nhiều người, những ai
từ đời đời đã được tiền định trong lòng người Con đầu lòng
ấy, để trở nên con cái Thiên Chúa235 và được kêu gọi đón
nhận ân sủng và đến với lòng yêu mến. Thập giá núi sọ, trên
đó Đức Giêsu Kitô – là người, là con Trinh nữ Maria, được coi
là con của Giuse ở Nadaret – “lìa khỏi” thế gian này, thập giá
ấy đồng thời cũng là một biểu lộ mới về tình Cha đời đời của
Thiên Chúa là Đấng trong Đức Kitô lại trở nên gần gũi với
nhân loại, với mọi người, khi ban cho họ “Thần khí sự thật” ba
lần thánh236.
Việc mặc khải Chúa Cha và đổ tràn Thánh Thần như thế
in dấu khôn nhòa vào mầu nhiệm cứu chuộc, làm cho ta hiểu
ý nghĩa của thập giá và sự chết của Đức Kitô . Thiên Chúa tạo
thành tự mặc khải mình là Thiên Chúa cứu chuộc, Thiên Chúa
“trung tín với chính mình”237, trung tín với lòng Ngài thương
yêu con người và thế giới, như Ngài đã từng tự mặc khải trong
ngày tạo dựng. Và lòng yêu mến của Ngài là một lòng yêu
mến không lùi bước trước bất cứ điều gì mà sự công chính
của Ngài đòi hỏi. Vì thế cho nên Con của Ngài, “Đấng không
hề biết tội, thì Thiên Chúa đã làm cho thành sự tội vì ta”238.
Nếu Ngài đã làm cho Đấng tuyệt đối vô tội “thành sự tội” thì
chính là để mặc khải lòng yêu mến bao giờ cũng lớn lao hơn
tất cả mọi thụ tạo, lòng yêu mến là chính mình Ngài, “vì Thiên
234 x. GS 37; LG 48
235 x. Rm 8,29-30; Ep 1,8
236 x. Ga 16,13
237 x. 1Tx 5,24
238 2Cr 5,21; x. Gl 3,13
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 459
Chúa là lòng yêu mến”239 và nhất là lòng yêu mến lớn hơn tội
lỗi, lớn hơn sự yếu đuối và sự hư luống của tạo vật240, mạnh
hơn sự chết; đó là một lòng yêu mến luôn luôn sẵn sàng đi
đón đứa con hoang đàng241, luôn luôn tìm kiếm “việc mặc khải
con cái Thiên Chúa”242, là những kẻ đã được gọi đến vinh
quang243. Lòng yêu mến được mặc khải đây cũng là lòng
nhân từ244, và sự mặc khải lòng yêu mến và lòng nhân từ này
trong lịch sử con người có một khuôn mặt và một tên gọi: đó
là Đức Giêsu Kitô.
10. Kích thước con người của mầu nhiệm cứu chuộc.
Con người không thể sống mà không có tình yêu
thương. Con người vẫn là một cái gì không thể hiểu được đối
với chính mình, cuộc sống con người mất ý nghĩa nếu không
nhận lấy mặc khải về tình yêu thương, nếu không gặp tình
yêu thương và không chiếm tình yêu thương thành của mình,
không dự phần vào đó cách mãnh liệt. Cho nên, như đã nói,
Đức Kitô cứu chuộc mặc khải đầy đủ về con người cho chính
con người. Có thể nói đó là kích thước con người của mầu
nhiệm cứu chuộc. Trong kích thước này, con người tìm lại
được sự cao cả, phẩm cách và giá trị đặc biệt của nhân tính
mình. Trong mầu nhiệm cứu chuộc, con người thấy mình được
“xác nhận” lại và kể như được tái tạo. Được tái tạo ! “Không
còn Do thái hay Hylạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ vì anh em
hết thảy chỉ là một trong Đức Giêsu Kitô”245. Con người muốn
239 1Ga 4,8.16
240 x. Rm 8,20
241 x. Lc 15,11-32
242 Rm 8,19
243 x. Rm 8,18
244 x. Tôma Summa théologique III, q.46, a. I, ad 3.
245 Gl 3,29
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 460
hiểu mình đến nơi đến chốn thì không thể bằng lòng với
những tiêu chuẩn và kích thước trước mắt, thiên lệch, nhiều
khi hời hợt và thậm chí chỉ là bề ngoài, nhưng phải đến gần
Đức Kitô với tất cả những xao xuyến và bấp bênh, thậm chí
với cả những yếu đuối và tội lỗi của mình, với sự sống và sự
chết của mình. Nói được là phải vào trong Chúa Kitô với toàn
thân của mình, phải thu nhận và đồng hóa tất cả thực tại Nhập
thể và cứu chuộc thì mới tìm lại được chính mình. Con người
phải có giá trị biết bao trước mắt Đấng tạo hóa nếu đã “đáng
được một Đấng cứu chuộc lớn lao dường ấy”246, nếu “Thiên
Chúa đã ban Con Ngài”, để cho mình, là người, “không phải
hư đi, nhưng được sự sống muôn đời”!247
Quả thật, sự thán phục sâu xa ấy trước giá trị và phẩm
giá con người được diễn tả bằng chính hai chữ Tin Mừng. Nó
cũng gắn liền với đạo Kitô. Sự thán phục ấy biện minh cho sứ
mạng của Giáo hội trên thế giới, và có lẽ còn hơn nữa, “trong
thế giới hiện thời”. Sự thán phục ấy đồng thời cũng là xác tín
và biết chắc, cái biết chắc này trong cội rễ căn bản là cái biết
chắc của đức tin nhưng vẫn không ngừng tạo sinh khí một
cách kín ẩn và huyền nhiệm cho tất cả mọi mặt của nền nhân
bản đích thực; sự thán phục ấy gắn liền với Chúa Kitô. Chính
nó cũng xác định vị trí Đức Kitô và nói được là quyền có chỗ
đứng của Người trong lịch sử con người và nhân loại. Vốn
không ngừng chiêm niệm toàn bộ mầu nhiệm Đức Kitô, Giáo
hội, với tất cả sự chắc chắn của lòng tin, biết rằng ơn cứu
chuộc thực hiện bằng thập giá đã dứt khoát trả lại cho con
người phẩm giá và ý nghĩa sự hiện hữu của con người trong
thế giới, khi mà con người đã đánh mất phần lớn ý nghĩa ấy vì
tội lỗi. Bởi vậy, ơn cứu chuộc đã được hoàn thành trong mầu
246 Bài Mừng Vui Lên trong đêm phục sinh
247 x. Ga 3,16
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 461
nhiệm vượt qua là mầu nhiệm dẫn qua thập giá và sự chết
đến Phục sinh.
Ở mọi thời đại, và đặc biệt hơn nữa, ở thời đại chúng ta,
nhiệm vụ căn bản của Giáo hội là đưa tầm mắt con người
hướng ý thức và kinh nghiệm của tất cả nhân loại về mầu
nhiệm Chúa Kitô, giúp mọi người làm quen với chiều sâu của
ơn cứu chuộc thực hiện trong Đức Giêsu Kitô. Làm như thế là
đồng thời đạt tới cõi thâm sâu nhất của con người, tức là lòng
dạ, ý thức và sự sống con người.
11. Mầu nhiệm Chúa Kitô ở nền tảng sứ mệnh
của Giáo hội và của Kitô giáo.
Công đồng Vat.II đã hoàn thành một công trình bao la
để đào tạo ý thức đầy đủ và phổ quát về Giáo hội mà Đức
giáo hoàng Phaolô VI đã bàn đến trong Thông điệp đầu tiên
của Người. Ý thức đó – hay đúng hơn là sự tự ý thức của Giáo
hội – được đào luyện trong “đối thoại”. Việc đối thoại này,
trước khi thành đàm thoại, phải làm ta hướng sự chú ý tới
“người khác”, tới người ta muốn nói chuyện. Công đồng
chung đã tạo một đà cơ bản để đào luyện sự tự ý thức của
Giáo hội khi trình bày một cách đầy đủ và quán xuyến cái
nhìn về toàn bộ thế giới như một “bản đồ” các tôn giáo khác
nhau. Ngoài ra, trên bản đồ các tôn giáo của thế giới này,
Công đồng đã cho thấy còn chồng lên theo từng lớp như thế
nào – một điều chưa hề thấy trước kia mà lại là đặc điểm của
thời đại chúng ta – hiện tượng vô thần dưới nhiều dạng khác
nhau, bắt đầu từ chủ nghĩa vô thần có kế hoạch, có tổ chức và
được cấu trúc hóa thành hệ thống chính trị.
Còn về tôn giáo, thì trước tiên đây là tôn giáo như là
một hiện tượng phổ quát, thuộc lịch sử con người từ đầu; rồi
đến các tôn giáo khác nhau ngoài Kitô giáo và sau hết là
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 462
chính Kitô giáo. Đặc biệt văn kiện Công đồng dành cho các
tôn giáo ngoài Kitô giáo thì tràn đầy một niềm quý trọng sâu
sắc đối với những giá trị thiêng liêng trọng đại, và hơn nữa,
đối với những quyền ưu tiên của những gì là thiêng liêng và
trong cuộc sống nhân loại đã được biểu lộ nơi tôn giáo, rồi nơi
đạo đức phản ảnh vào tất cả văn hóa. Các giáo phụ thật có lý
khi coi các tôn giáo khác nhau đều như những phản ảnh của
một chân lý duy nhất, đều như những “hạt giống Lời”248. Như
thế, các ngài làm chứng rằng khát vọng sâu xa nhất của tinh
thần con người, dầu cho đường lối có khác nhau, vẫn quy về
một hướng duy nhất, khi nó được biểu lộ trong việc tìm kiếm
Thiên Chúa, và đồng thời, qua nỗ lực tìm về Thiên Chúa này,
cũng được biểu lộ trong sự tìm kiếm kích thước toàn diện của
nhân tính, tức là ý nghĩa đầy đủ của cuộc sống con người.
Công đồng đã chú ý đặc biệt đến Do thái giáo, khi nhắc lại
gia sản thiêng liêng quan trọng chung cho các tín hữu Kitô
giáo và Do thái giáo, và Công đồng đã bày tỏ lòng quý trọng
đối với các tín hữu đạo Hồi mà đức tin cũng quy chiếu về
Abraham249.
Nhờ Công đồng Vat.II mở lối, Giáo hội và tất cả các
Kitô hữu đã đạt được một ý thức đầy đủ hơn về mầu nhiệm
Đức Kitô, “mầu nhiệm được dấu kín từ muôn thuở”250 nơi
Thiên Chúa, để được mặc khải trong thời gian – trong con
người Giêsu Kitô – và để được mặc khải ra liên tục, trong mọi
thời. Trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô, Thiên Chúa đã mặc
khải mình cách đầy đủ cho loài người và đã dứt khoát trở nên
248 x. Th. Justinô, I Apologia, 46, 1-4; II Apologia 7(8), 1-4; 10,1-
3;13,3-4; Florilegium Patristicum II, Bonn 1911, tr.81,125,129,133;
Clementê Alexandria, Stromata I, 19,91,94: Ch,117-118; 119-120; Ad
Gentes II; LG 17.
249 Vat.II NA 3-4
250 Cl 1,26
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 463
gần gũi loài người; đồng thời trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô,
con người đã có được một ý thức đầy đủ về phẩm giá của
mình, về sự vinh thăng của mình, về cả giá trị siêu việt của
loài người, về ý nghĩa của cuộc sống loài người.
Vậy tất cả chúng ta, đồ đệ của Đức Kitô, chúng ta phải
gặp nhau và hiệp nhất với nhau chung quanh Người. Sự hiệp
nhất này, trong các địa hạt của cuộc sống, của truyền thống,
của các cơ cấu và kỷ luật của mỗi Giáo hội và cộng đồng
Giáo hội, không thể thực hiện được nếu không có hành động
nghiêm túc nhằm hiểu biết lẫn nhau và hủy bỏ những trở ngại
vẫn còn trên con đường đi tới hiệp nhất hoàn toàn. Tuy vậy,
ngay từ bây giờ chúng ta có thể và phải đạt tới hiệp nhất và
bày tỏ nó ra: bằng cách loan báo mầu nhiệm Chúa Kitô, chỉ
cho người ta thấy kích thước vừa thuộc Thiên Chúa vừa thuộc
con người của ơn cứu chuộc, đấu tranh một cách bền bỉ không
mệt mỏi cho phẩm giá mà mỗi người đã đạt tới và có thể đạt
tới mãi trong Chúa Kitô, đó là phẩm giá được ơn Thiên Chúa
nhận làm con và đồng thời cũng là phẩm giá của chân lý bên
trong nhân tính. Nếu phẩm giá này đã thành nổi bật một cách
thật căn bản trong ý thức chung của thế giới hiện thời, thì nó
lại càng hiển nhiên hơn nữa đối với chúng ta, trong ánh sáng
của thực tại kia là chính Đức Giêsu Kitô vậy.
Đức Giêsu Kitô là nguyên lý vững bền và trung tâm
thường xuyên của sứ mệnh mà chính Thiên Chúa đã trao cho
con người. Tất cả chúng ta đều phải tham gia vào sứ mệnh ấy,
phải dồn tất cả sức lực mình vào đó, bởi vì sứ mệnh ấy cần
cho nhân loại ngày nay hơn bao giờ hết.
Và nếu trong thời đại chúng ta sứ mệnh ấy có vẻ như
gặp những sự chống đối hơn ở bất kỳ thời nào khác, thì điều
đó cho thấy sứ mệnh ấy hiện nay lại còn cần thiết hơn nữa, và
– mặc dù có những chống đối – lại còn được mong đợi hơn bao
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 464
giờ. Ở đây chúng ta gián tiếp đụng tới mầu nhiệm của kế đồ
Thiên Chúa đã kết hợp sự cứu độ và ân sủng với thập giá. Lời
của Chúa Kitô đâu có phải là vô lối: “Nước trời chịu sự mạnh
bạo, và những kẻ mạnh bạo đang chiếm đoạt lấy”251, và cũng
có lời: “Con cái thế gian này khôn hơn con cái sự sáng”252.
Chúng ta sẵn lòng nhận lấy lời trách móc ấy để được giống
như những người “mạnh bạo vì Thiên Chúa” mà chúng ta đã
thấy biết bao nhiêu lần trong lịch sử Giáo hội và ngày nay vẫn
còn đang thấy, để hiệp nhất với nhau một cách có ý thức
trong sứ mệnh lớn lao là mặc khải Đức Kitô cho thế giới, là
giúp mỗi người tìm lại chính mình nơi Người, là giúp các thế
hệ hiện thời của anh chị em chúng ta, các dân tộc, các quốc
gia, các chính phủ, nhân loại, các nước chưa phát triển và các
nước giàu có, tắt một lời, là giúp cho tất cả mọi người được
biết “sự phong phú khôn dò của Đức Kitô ”253 bởi vì sự phong
phú này được dành cho mọi người và làm nên cơ nghiệp của
mỗi người.
12. Sứ mệnh của Giáo hội và tự do của con
người.
Trong sự hiệp nhất trên bình diện sứ vụ đó, mà cốt yếu
là do chính Chúa Kitô quyết định mọi Kitô hữu phải khám phá
ra điều gì đã hiệp nhất họ với nhau, ngay cả trước khi sự hiệp
thông đầy đủ được thực hiện. Đó là sự hiệp nhất tông đồ và
truyền giáo, truyền giáo và tông đồ. Nhờ sự hiệp nhất này,
chúng ta có thể cùng nhau tìm đến gần gia sản tuyệt diệu của
tinh thần con người, đã thể hiện trong mọi tôn giáo, như Công
251 Mt 11,12
252 Lc 16,8
253 Ep 3,8
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 465
đồng Vat.II đã nói trong tuyên ngôn Thời đại chúng ta254. Nhờ
đó, chúng ta đồng thời đến với mọi văn hóa, mọi ý thức hệ,
mọi người thiện chí. Chúng ta đến gần như thế với lòng quý
chuộng, tôn trọng và biện biệt là những đặc điểm của thái độ
truyền giáo và của người truyền giáo từ thời các tông đồ. Chỉ
cần nhắc tới Thánh Phaolô và chẳng hạn bài Người nói trên
đồi Are ở Athena255. Thái độ truyền giáo luôn bắt đầu bằng
một tâm tình quý chuộng sâu sắc đối với những gì chính họ
vẫn ấp ủ tự đáy lòng256 về những vấn đề sâu xa và quan trọng
nhất, đó là tôn trọng tất cả những gì Thần khí “muốn thổi đâu
thì thổi”257 đã tác động nơi họ. Truyền giáo không bao giờ là
phá hủy, nhưng là đảm nhận những giá trị và xây dựng lại,
cho dù trong thực hành không phải bao giờ người ta cũng đã
đáp ứng đầy đủ một lý tưởng cao như thế. Còn sự trở lại vốn
phải bắt rễ từ việc truyền giáo thì chúng ta biết rõ đó là công
trình của ân sủng khiến con người tìm lại được đầy đủ chính
mình.
Vì thế cho nên Giáo hội thời đại chúng ta đặt một tầm
quan trọng rất lớn vào tất cả những gì Công đồng Vat.II đã
trình bày trong tuyên ngôn về Tự do tôn giáo, cả trong phần
thứ nhất lẫn phần thứ hai của văn kiện này258. Chúng ta cảm
thấy một cách sâu sắc rằng chân lý do Thiên Chúa mặc khải
đòi hỏi phải dấn thân. Đặc biệt chúng ta mang một ý thức
trách nhiệm rất nhậy bén đối với chân lý ấy. Giáo hội được
Đức Kitô thiết lập làm kẻ giữ gìn và giảng dạy chân lý ấy,
chính vì thế mà đã được ban cho một ơn phù trợ đặc biệt của
254 Vat.II NA 1-2
255 Cv 17,22-31
256 Ga 2,25
257 Ga 3,8
258 x. AAS 58, 1966, 929-946
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 466
Thánh Thần, để có thể trung thành gìn giữ và giảng dạy
nguyên vẹn chân lý ấy259. Trong khi chu toàn sứ mệnh này,
chúng ta hãy nhìn chính Đức Kitô, Người là kẻ đầu tiên loan
báo tin mừng260, cũng hãy nhìn các Tông đồ, các vị tử đạo,
các vị Tuyên tín của Người. Tuyên ngôn về Tự do tôn giáo có
sức thuyết phục cho thấy rằng, trong khi loan báo chân lý
không từ loài người nhưng từ Thiên Chúa mà đến (“Đạo lý Ta
dạy không phải là của Ta, mà là của Đấng đã sai Ta”261, tức
là của Chúa Cha), và tuy vẫn hành động với tất cả sức mạnh
tinh thần mình, Đức Kitô , và sau đó các Tông đồ của Người,
vẫn giữ sự quý chuộng sâu sắc đối với con người, đối với trí
tuệ, ý chí, ý thức và tự do của con người262. Như thế, phẩm
giá con người lại thuộc phần sự loan báo đó, dù không dùng
tới lời nói, mà chỉ duy bằng cung cách đối xử với người ta.
Thái độ đó xem ra tương ứng với những nhu cầu đặc biệt của
thời đại chúng ta. Tự do thực sự của con người không phải ở
tất cả những gì các hệ thống khác nhau và cả các cá nhân nữa
coi là tự do và phổ biến như là tự do; thế nghĩa là Giáo hội, do
sứ mệnh Thiên Chúa ban cho, lại càng trở nên người gìn giữ
sự tự do kia và là điều kiện và nền tảng cho phẩm giá thật của
con người…
Đức Giêsu Kitô tìm gặp con người mọi thời đại, kể cả
thời đại chúng ta, trước sau cũng vẫn một lời: “Anh em sẽ được
biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng anh em”263. Những lời
này bao hàm một đòi hỏi căn bản và đồng thời một lời nhắn
nhủ: đòi hỏi lương thiện trước sự thật là điều kiện để có tự do
259 x. Ga 14,26
260 Phaolô VI, EN 6.
261 Ga 7,16
262 x. AAS 58, 1966, 936-938
263 Ga 8,32
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 467
chân thực, và cũng nhắn nhủ hãy tránh mọi thứ tự do bề
ngoài, mọi thứ tự do hời hợt và một chiều, mọi thứ tự do
không đi cho tới cùng sự thật về con người và thế giới. Ngày
nay, sau hai ngàn năm, Đức Kitô vẫn còn xuất hiện như Đấng
đem đến cho con người sự tự do dựa trên chân lý, như Đấng
giải phóng con người khỏi những gì giới hạn, giảm bớt và có
thể nói là hủy diệt tận căn sự tự do đó trong tinh thần, trong
lòng, trong ý thức con người. Về điều ấy, có bằng chứng
tuyệt vời biết bao của những người, nhờ Đức Kitô và trong
Đức Kitô, đã đạt tới tự do thực sự, và đã làm chứng ngay cả
trong hoàn cảnh có cưỡng bức từ bên ngoài.
Và khi chính Đức Giêsu Kitô ra trước tòa Philatô như
một người tù và bị ông này xét hỏi về điều các đại diện Công
hội tố cáo Người, Người đã chẳng trả lời: “Tôi đã sinh ra và
đã đến trong thế gian này để làm chứng cho sự thật”264 đó sao
? Bằng những lời như thế nói trước vị thẩm phán vào một giây
phút quyết định, Người như xác nhận thêm một lần nữa điều
Người đã nói trước kia: “Anh em sẽ được biết sự thật, và sự
thật sẽ giải phóng anh em”. Trải qua các thế kỷ và các thế hệ,
bắt đầu từ thời các tông đồ, há chẳng phải chính Đức Giêsu
Kitô đã bao lần ra tòa bên cạnh những người bị xét xử vì chân
lý, và đã đi chịu chết với những người bị lên án vì chân lý đó
sao ? Có khi nào Người lại thôi làm người phát ngôn và bào
chữa cho con người sống “trong Thần Khí và sự thật”265?
Không, Người không bao giờ thôi làm việc đó trước tôn nhan
Chúa Cha, và cũng không thôi làm việc đó trước lịch sử con
người. Đến lượt Giáo hội, mặc dù có những yếu đuối vốn
thuộc về lịch sử nhân thế của mình, cũng không ngừng đi
theo Đấng đã nói: “Giờ sẽ đến – và là ngay bây giờ – những kẻ
264 Ga 18,37
265 x. Ga 4,23
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 468
thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Cha trong Thần khí và sự
thật, vì Cha chỉ muốn gặp thấy những kẻ thờ phượng Ngài như
thế. Thiên Chúa là Thần khí, nên những kẻ thờ phượng cũng
phải thờ phượng trong Thần Khí và sự thật”266..
III. CON NGƯỜI ĐƯỢC CỨU CHUỘC
VÀ HOÀN CẢNH CON NGƯỜI TRONG THẾ GIỚI
NGÀY NAY
13. Chúa Kitô kết hợp với từng người.
Khi xuyên qua kinh nghiệm của gia đình nhân loại ngày
càng nhanh chóng gia tăng liên tục, chúng ta vào sâu trong
mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô, chúng ta hiểu rõ hơn rằng, ở giữa
tất cả những con đường mà Giáo hội thời đại chúng ta phải đi
để tiếp tục cuộc hành trình của mình, đúng theo những hướng
dẫn khôn ngoan của Đức Phaolô VI267, có một con đường vô
song: con đường đã được thử nghiệm từ nhiều thế kỷ mà
đồng thời cũng là con đường cho tương lai. Chúa Kitô đã chỉ
cho con đường ấy nhất là khi, như theo lời lẽ của Công đồng
“nhờ việc Nhập Thể, Con Thiên Chúa đã kết hợp một cách
nào đó với mọi người”268, Như vậy, Giáo hội nhìn nhận nghĩa
vụ căn bản của mình khi hành động sao cho sự kết hợp kia
không ngừng tiếp diễn trong hiện tại. Giáo hội muốn phục vụ
mục tiêu duy nhất này là mọi người có thể gặp lại Đức Kitô,
ngõ hầu Đức Kitô có thể đi con đường đời, bên cạnh mỗi
người, với sức mạnh của chân lý về con người và về thế giới
chứa sẵn trong mầu nhiệm Nhập thể và cứu chuộc và với sức
266 Ga 4,23-24
267 Tđ “GH Chúa Kitô” (ES).
268 Vat.II GS 22
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 469
mạnh của tình thương yêu tỏa ra từ đó. Trong bối cảnh những
phát triển vẫn ngày càng lớn hơn theo dòng lịch sử và xem ra
đang gia tăng đặc biệt ở thời đại chúng ta trong phạm vi
những hệ thống, những quan niệm ý thức hệ về thế giới và
những chế độ khác nhau. Đức Giêsu Kitô, một cách nào đó,
lại có mặt, mặc dù bề ngoài có vẻ như Người vắng mặt, mặc
dù sự có mặt và hoạt động thể chế của Giáo hội bị đủ thứ hạn
chế. Đức Giêsu Kitô trở nên hiện diện với sức mạnh của chân
lý và tình thương yêu đã được biểu lộ nơi Người một cách đầy
đủ, độc nhất vô nhị và vô tiền khoáng hậu, tuy cuộc đời trần
thế của Ngài đã thật ngắn ngủi và thời gian hoạt động công
khai của Ngài còn ngắn ngủi hơn.
Đức Giêsu Kitô là con đường chính của Giáo hội. Chính
Người là đường chúng ta đi về “nhà Cha”269 và Người cũng là
đường cho mọi người. Trên đường đưa từ Đức Kitô đến con
người đó, trên con đường Đức Kitô kết hợp với từng người
đó, Giáo hội không thể bị ai ngăn chận. Lợi ích trần thế và lợi
ích đời đời của con người đòi hỏi như vậy. Vì lòng tôn trọng
Đức Kitô và do bởi mầu nhiệm làm thành sự sống của chính
mình, Giáo hội không thể thờ ơ đối với tất cả những gì phục
vụ lợi ích thật của con người, cũng như không thể vô tình đối
với những gì đe dọa lợi ích này. Nhiều chỗ trong các văn kiện
Công đồng Vat.II đã nói lên mối quan tâm căn bản ấy của
Giáo hội, là làm sao cho cuộc sống trên thế giới này “xứng
hợp hơn với phẩm giá cao cả của con người”270 về mọi
phương diện, để cuộc sống đó thành “nhân đạo hơn mãi”271.
Mối quan tâm đó cũng là mối quan tâm của chính Đức Kitô ,
Đấng chăn chiên tốt lành của tất cả mọi người. Nhân danh
269 x. Ga 14,1tt
270 Vat.II GS 24
271 sđd số 38.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 470
mối quan tâm đó, như chúng ta đọc được trong Hiến chế Mục
vụ của Công đồng, “Giáo hội do bởi trách nhiệm và thẩm
quyền riêng của mình không lẫn lộn được bất kỳ cách nào với
cộng đồng chính trị và không bị ràng buộc với một hệ thống
chính trị nào hết, nhưng Giáo hội vừa là dấu chỉ vừa là bảo
đảm cho tính cách siêu việt của bản vị con người”272.
Vậy đây là nói về con người trong tất cả sự thật, trong
đầy đủ kích thước của con người. Không phải là con người
“trừu tượng”, nhưng là con người hiện thực, “cụ thể”, “lịch
sử”. Đây là từng người một, bởi vì mỗi người đã được bao
hàm trong mầu nhiệm cứu chuộc, và Đức Giêsu Kitô đã kết
hợp với từng người một, mãi mãi, qua mầu nhiệm này. Người
nào cũng vậy, đến với cuộc đời khi thành thai trong lòng mẹ
và từ lòng mẹ sinh ra, và chính do bởi mầu nhiệm cứu độ mà
được trao phó cho Giáo hội chăm lo. Mối quan tâm này bao
quát toàn diện con người và quy về con người một cách đặc
biệt. Đối tượng của sự chú ý sâu xa này là con người trong
thực tại làm người có một không hai, vô tiền khóng hậu, và
còn giữ nguyên vẹn hình ảnh của chính Thiên Chúa273. Đó
chính là điều Công đồng chỉ dẫn khi nói về hình ảnh Thiên
Chúa mà nhắc lại rằng “con người là thụ tạo duy nhất trên
mặt đất đã được Thiên Chúa tạo nên vì chính họ”274. Con
người, như đã được Thiên Chúa “muốn” đã được Ngài “chọn”
từ đời đời, được gọi, được tiền định để hưởng ân sủng và vinh
quang: đó chính là “mọi” người, con người “cụ thể hơn cả”,
“hiện thực hơn cả”. Chính như thế đó là con người trong tất cả
sự đầy đủ của mầu nhiệm mà con người được tham dự nơi
Đức Giêsu Kitô và mỗi người trong bốn tỷ người đang sống
272 Sđd số 76
273 x. St 1,27
274 Vat.II GS 24
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 471
trên hành tinh chúng ta cũng được tham dự, ngay từ giây phút
thành thai gần bên trái tim mẹ mình.
14. Tất cả mọi con đường của Giáo hội đều đưa
tới con người.
Giáo hội không thể bỏ rơi con người khi mà “định
mệnh” con người tức là việc được chọn, được gọi, được sinh
ra và được chết, được cứu độ hay hư mất đều liên hệ một
cách chặt chẽ và dứt khoát với Đức Kitô . Và đây chính là
mỗi con người sống trên hành tinh này, trên trái đất này mà
Tạo hóa đã ban cho con người đầu tiên khi nói với người nam
và người nữ: “Hãy khắc phục và thống trị nó”275. Đây chính là
mọi con người trong tất cả thực tại tuyệt đối duy nhất của hữu
thể và hành động, trí tuệ và ý chí, ý thức và lòng dạ của họ.
con người, trong thực tại độc nhất vô nhị của mình (bởi vì là
một “bản vị”), có một lịch sử riêng tư của linh hồn mình. Con
người đúng theo sự cởi mở bên trong tinh thần và cũng theo
biết bao nhiêu nhu cầu này nọ của thân xác và cuộc sống tại
thế, vẫn viết nên lịch sử riêng tư kia qua rất nhiều liên hệ,
tiếp xúc, hoàn cảnh, cơ cấu xã hội nối kết mình với những
người khác. Và con người làm điều ấy từ giây phút đầu tiên
của hiện hữu trên trái đất, từ giây phút thành thai và sinh ra.
Con người, trong chân lý đầy đủ của cuộc sống mình, của hữu
thể riêng mình và đồng thời của hữu thể cộng đồng và xã hội
của mình – trong vòng gia đình bên trong những xã hội và
những khung cảnh rất khác nhau, trong khuôn khổ quốc gia
hay dân tộc mình (và có lẽ còn hơn nữa trong khuôn khổ bộ
lạc hay sắc tộc của mình), ngay cả trong khuôn khổ toàn thể
nhân loại, con người đó là con đường đầu tiên mà Giáo hội
phải đi qua khi làm tròn sứ mệnh của mình: con người đó là
275 St 1,28
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 472
con đường đầu tiên và con đường căn bản của Giáo hội, con
đường do chính Đức Kitô vạch ra, con đường mãi mãi đi
xuyên qua mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu chuộc.
Chính con người đó, trong tất cả sự thật của đời sống
mình, trong ý thức mình, trong xu hướng luôn nghiêng theo tội
lỗi và đồng thời trong niềm khát vọng không ngừng hướng về
sự thật, điều tốt, cái đẹp, công lý, tình thương, chính con
người đó là con người Công đồng Vat.II đã có trước mắt khi
mô tả hoàn cảnh của họ trong thế giới ngày nay mà đã luôn
luôn đi từ những yếu tố bề ngoài của hoàn cảnh ấy để thấu
đạt chân lý bên trong của nhân tính: “Ngay chính trong con
người có nhiều yếu tố xung khắc nhau. Một đàng, vì là tạo
vật, con người kinh nghiệm mình bị giới hạn nhiều bề; đàng
khác, lại cảm thấy mình có những khát vọng vô biên và được
mời gọi sống một cuộc sống cao cả hơn. Giữa đủ thứ thôi
thúc, con người không ngừng bị bắt buộc phải chọn lựa và từ
bỏ. Tệ hơn nữa, vì yếu đuối và tội lỗi, con người hay làm điều
mình không muốn và không làm được chút nào điều mình
muốn. Rốt cuộc, con người phải chịu sự chia rẽ ngay trong
bản thân mình và chính do đó mà sinh ra bao nhiêu bất hòa
lớn lao giữa lòng xã hội”276.
Con người như thế là con đường của Giáo hội, con
đường mở ra, một cách nào đó, từ nền tảng mọi con đường
Giáo hội phải đi, bởi vì con người – mọi người, không trừ một
ai – đã được Đức Kitô cứu chuộc, bởi vì Đức Kitô kết hợp
cách nào đó với con người, với từng người một không trừ ai,
ngay cả khi họ không ý thức: “Đức Kitô , chết và sống lại cho
tất cả, ban cho con người” – cho người nào cũng vậy và cho
276 GS 10.
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 473
tất cả mọi người – “ánh sáng và sức lực để họ có thể đáp ứng
với ơn kêu gọi cao cả của mình”277.
Vì con người đó là con đường của Giáo hội, con đường
cho cuộc sống và những kinh nghiệm hằng ngày, cho sứ
mệnh và lao khổ của Giáo hội, nên Giáo hội thời đại chúng
ta, phải ý thức và luôn canh tân ý thức về hoàn cảnh con
người. Giáo hội như vậy phải ý thức về các khả năng của con
người được biểu lộ qua việc luôn đi vào một phương hướng
mới; Giáo hội đồng thời phải ý thức về các mối đe dọa xảy
đến cho con người. Giáo hội cũng phải ý thức về tất cả những
gì xem ra trái ngược với cố gắng làm cho “cuộc sống con
người luôn nhân đạo hơn”278, ngõ hầu tất cả những gì hợp
thành cuộc sống đó tương ứng với phẩm giá thật của con
người. Tóm lại, Giáo hội phải ý thức về tất cả những gì trái
ngược với tiến trình đó.
15. Những gì con người ngày nay lo sợ.
Trong khi vẫn ghi nhớ một các sống động hình ảnh đã
được Công đồng Vat.II vạch ra một cách sáng suốt và có thẩm
quyền như thế, chúng ta một lần nữa sẽ thử thích nghi với
những đòi hỏi của hoàn cảnh không ngừng thay đổi tuy vẫn
diễn biến theo những chiều hướng nhất định.
Con người ngày nay xem như luôn bị đe dọa bởi cái
mình làm ra, tức là kết quả của công lao bàn tay mình, và hơn
nữa của lao công trí óc mình, của các xu hướng ý chí mình.
Một cách quá nhanh chóng và thường bất ngờ, các kết quả
của hoạt động đa dạng kia của con người không chỉ và không
hẳn là đối tượng cho sự “tha hóa”, tức là đơn thuần bị cướp
277 Sđd số 10
278 Sđd số 38; Thông điệp Populorum Progressio 21
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 474
mất khỏi tay kẻ làm ra chúng, nhưng các kết quả ấy còn quay
ra chống lại chính con người, ít nữa một phần nào và trong
hiệu lực gián tiếp của chúng; chúng bị vận dụng hay có thể bị
vận dụng theo chiều hường chống lại con người. Phần chính
yếu trong bi kịch cuộc sống con người ngày nay, trong kích
thước rộng rãi hơn cả và phổ biến hơn cả xem ra là ở chỗ đó.
Bởi vậy, con người sống trong lo sợ hơn mãi. Con người sợ
những sản phẩm của mình, dĩ nhiên không phải là tất cả, cũng
không phải là phần lớn, nhưng một số nào đó, mà lại là chính
những sản phẩm chứa đựng một phần đặc biệt của thiên tài và
óc sáng tạo của mình, sợ những sản phẩm này có thể quay ra
chống hẳn lại chính mình. Sợ chúng có thể trở thành những
phương tiện và công cụ cho một họa tự diệt không tưởng
tượng nổi, vì so với họa tự diệt này, mọi tai ương thảm họa
trong lịch sử xem ra không đáng kể gì nữa. Như vậy, một câu
hỏi phải được nêu lên : Vì sao cái quyền lực được ban cho con
người từ thuở đầu và phải cho phép con người thống trị trái
đất (98), thì quay ra chống lại chính con người, gây nên một
tình trạng lo âu rất dễ hiểu, một tình trạng sợ hãi có ý thức
hay vô ý thức và đầy đe dọa đang lan rộng cách này hay cách
khác đến toàn thể gia đình nhân loại hiện thời và đang tỏ ra
dưới mọi hình thức?
Tình trạng đầy đe dọa đối với con người xuất phát từ
những sản phẩm của con người, được tỏ lộ theo những hướng
khác nhau và gồm những cường độ khác nhau. Xem ra chúng
ta ngày càng ý thức hơn về sự kiện là việc khai thác trái đất,
hành tinh trên đó chúng ta sống, cần phải có kế hoạch hợp lý
và đúng đắn. Đồng thời, việc khai thác ấy khi nhằm những
mục đích không phải chỉ là kỹ nghệ mà còn là quân sự và
việc phát triển kỹ thuật khi không được kiểm soát và tổ chức
trên bình diện toàn cầu và một cách thật nhân bản, đều hay
bao hàm một mối đe dọa cho môi trường tự nhiên của con
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 475
người, tha hóa con người trong những quan hệ đối với thiên
nhiên và khiến con người xa rời thiên nhiên. Con người nhiều
khi làm như không nhận ra môi trường tự nhiên của mình có ý
nghĩa nào khác ngoài những cái lợi cho việc sử dụng và tiêu
thụ trước mắt. Trái lại, ý Tạo hóa là con người thông hiệp với
thiên nhiên như người “làm chủ” và “bảo vệ” thiên nhiên một
cách thông minh và cao quý279, chứ không phải như kẻ khai
thác và phá hoại thiên nhiên không nương tay.
Nhờ làm chủ kỹ thuật mà có, sự phát triển kỹ thuật và
văn minh thời đại chúng ta đòi hỏi một sự phát triển tương
xứng trong đời sống đạo đức. Nhưng tiếc thay, sự phát triển
đạo đức này xem ra luôn ở lại phía sau. Đã đành tiến bộ kỹ
thuật và văn minh kia là tuyệt diệu và khó mà không thấy ở
đó những dấu hiệu đích thực về sự cao cả của con người với
tính sáng tạo đã được mặc khải tiềm tàng trong những trang
Sách Sáng thế, kể từ trình thuật về tạo dựng280. Tuy nhiên
cũng chính tiến bộ đó không thể không sinh ra rất nhiều nỗi
lo âu. Nỗi lo âu trước tiên nhằm vào vấn đề cốt yếu và căn
bản: tiến bộ do con người làm ra và bảo vệ có khiến cho đời
sống con người trên trái đất trở nên “nhân đạo hơn” về mọi
phương diện chăng ? Không thể nghi ngờ là có như thế về
một số mặt nào đó. Tuy vậy, câu hỏi kia vẫn cứ trở lại ở điểm
cốt yếu: con người với tư cách là con người, trong khung cảnh
tiến bộ, có thực sự khá hơn không, nghĩa là chín chắn hơn về
mặt tinh thần, ý thức hơn về nhân phẩm mình, có trách nhiệm
hơn, cởi mở hơn với kẻ khác, đặc biệt với những kẻ thiếu
thốn và yếu kém nhất, sẵn sằng giúp đỡ mọi người hơn ?
Đó là câu hỏi mà các Kitô hữu phải tự nêu lên cho
chính mình vì Đức Kitô đã làm cho họ nhạy cảm đối với mọi
279 St 1,28
280 St 1-2.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 476
mặt vấn đề con người. Đó cũng là câu hỏi mà mọi người phải
tự nêu lên cho mình, đặc biệt là những ai thuộc về những môi
trường xã hội tích cực dành công sức cho sự phát triển và tiến
bộ ở thời đại chúng ta. Khi theo dõi các tiến triển này và dự
phần vào đó, chúng ta không thể để mình rơi vào cơn sảng
khoái, và càng không thể để mình bốc lên theo niềm phấn
khởi một chiều vì chinh phục của chúng ta: nhưng tất cả
chúng ta đều phải hết sức ngay thẳng, khách quan và đem
một ý thức về trách nhiệm tinh thần mà tự đặt cho mình
những câu hỏi cốt yếu liên quan đến hoàn cảnh con người
ngày nay và trong tương lai. Tất cả những chinh phục đã đạt
được cho tới nay và những chinh phục mà kỹ thuật dự trù sẽ
thực hiện trong tương lai, có đi đôi với tiến bộ đạo đức và tinh
thần của con người không ? Trong khung cảnh đó, phải chăng
con người, với tư cách là con người, được phát triển và tiến
bộ, hay phải chăng con người đang thoái hóa và sa sút trong
nhân tính mình ? Phải chăng nơi loài người, “trong thế giới con
người” vốn tự nó là một thế giới của cái tốt và cái xấu tinh
thần, cái tốt đang hơn cái xấu ! Phải chăng tình thương xã hội,
lòng tôn trọng quyền lợi kẻ khác – mọi người, mọi quốc gia,
mọi dân tộc – đang tăng lên thực sự trong loài người, giữa
người với người, hay phải chăng ngược lại, chỉ có tăng thêm
các mối ích kỷ ở những bình diện này nọ, các chủ nghĩa quốc
gia quá đáng thay vì lòng yêu nước đích thực, chưa kể khuynh
hướng vượt quá những quyền hạn riêng và những công lao
chính đáng của mình mà thống trị kẻ khác, cũng như khuynh
hướng khai thác tiến bộ vật chất, kỹ thuật và sản xuất cho
mục đích độc nhất là thống trị kẻ khác hay làm lợi cho đế
quốc này hay đế quốc nọ.
Đó là những câu hỏi cốt yếu mà Giáo hội không thể
không tự nêu lên cho mình, khi mà hàng tỷ người hiện sống
trên thế giới đang tự nêu lên cho họ những câu hỏi ấy một
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 477
cách ít nhiều minh nhiên. Đề tài phát triển và tiến bộ ở trên
môi mọi người và xuất hiện trên các cột báo chí và ấn phẩm,
trong hầu hết mọi thứ tiếng của thế giới ngày nay. Tuy nhiên,
chúng ta đừng quên rằng, đề tài ấy không phải chỉ bao hàm
những quả quyết và những cái chắc chắn, mà còn cả những
câu hỏi và những lo âu ray rứt nữa. Những câu hỏi và những
lo âu này không kém phần quan trọng. Chúng phù hợp với
bản chất ý thức con người, và hơn nữa với nhu cầu căn bản
của con người là quan tâm đến con người, đến nhân tính, đến
tương lai loài người trên trái đất. Nhờ lòng tin hướng về cánh
chung, Giáo hội coi mối quan tâm đến con người, đến nhân
tính, đến tương lai loài người trên trái đất và vì vậy cũng là
mối quan tâm đến phương hướng của toàn bộ sự phát triển và
tiến bộ kia, như một yếu tố cốt yếu trong sứ mệnh của mình
và không thể tách rời ra được. Và Giáo hội tìm được nguyên
lý của mối quan tâm đó trong chính Đức Giêsu Kitô, như các
Tin mừng làm chứng. Vì vậy trong Người, Giáo hội muốn
thường xuyên tăng thêm mối quan tâm đó bằng cách nhìn lại
hoàn cảnh con người trong thế giới ngày nay dưới ánh sáng
những dấu hiệu quan trọng hơn cả của thời chúng ta.
16. Tiến bộ hay đe dọa ?
Như thế nếu thời chúng ta, thời thế hệ chúng ta, thời
gần cuối thiên niên kỷ thứ hai của kỷ nguyên Kitô giáo, tỏ ra
trước mắt chúng ta như một thời có những tiến bộ lớn thì nó
cũng xuất hiện như một thời mang đủ thứ đe dọa đối với con
người: Giáo hội phải nói và đối thoại với mọi người thiện chí
về vấn đề này. Vì hoàn cảnh con người trong thế giới ngày
nay xem ra ở xa những đòi hỏi khách quan của trật tự đạo
đức, cũng như những đòi hỏi của công bình và, còn hơn nữa,
của tình thương xã hội. Đây chỉ là những gì được bày tỏ trong
sứ điệp đầu tiên mà Tạo hóa đã truyền cho con người, khi
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 478
giao phó trái đất cho con người “khuất phục”281. Sứ điệp đầu
tiên đó đã được Đức Kitô xác nhận trong mầu nhiệm cứu
chuộc. Công đồng Vat.II nói lên điều này trong những chương
thật hay về “Vương quyền” của con người, nghĩa là về việc
con người được mời gọi dự phần vào việc phục vụ hoàng
vương – munus regale – của chính Đức Kitô282. Ý nghĩa căn
bản của “vương quyền” này và của việc trị vì trên thế giới hữu
hình mà Tạo hóa đã giao cho con người như một nghĩa vụ, ý
nghĩa đó là đạo đức có quyền ưu tiên đối với kỹ thuật, con
người ở trên các đồ vật, và tinh thần cao quý hơn vật chất.
Chính vì thế cần phải chú ý theo dõi tất cả các giai đoạn
của tiến bộ ngày nay: phải làm như thể “rọi điện” từ quan
điểm kia vào từng giai đoạn một. Vấn đề là phát triển những
con người chứ không phải chỉ là tăng số lượng những đồ vật
mà con người có thể sử dụng. Như một triết gia hiện đại đã
nói và như Công đồng cũng từng quả quyết, vấn đề không
phải ở chỗ “có nhiều hơn” cho bằng ở chỗ “là gì hơn”283. Quả
thế, đã có một nguy cơ thực sự và nhận ra được: trong khi sự
thống trị của con người trên thế giới các đồ vật đang tiến bộ
lớn lao, thì con người lại có thể đánh mất những mối dây chỉ
đạo cho sự thống trị này. Có thể thấy nhân tính mình chịu
khuất phục cách này cách nọ trước thế giới đồ vật và chính
mình trở thành đồ vật cho người ta mặc tình sử dụng đủ kiểu –
không phải luôn trực tiếp thấy rõ được – qua toàn thể tổ chức
đời sống cộng đồng, qua hệ thống sản xuất, bằng áp lực của
các phương tiện truyền thông xã hội. Con người không thể từ
bỏ chính mình hay chỗ đứng đặc biệt của mình, không thể trở
281 St 1,28; Vat.II sắc lệnh IM 6; GS 74.78
282 Vat.II LG 10. 36
283 Vat.II GS 35; Phaolô VI diễn văn cho ngoại giao đoàn 7.1.1965 và
th6ng điệp PP 14.
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 479
thành nô lệ cho các đồ vật, nô lệ cho các hệ thống kinh tế,
cho việc sản xuất, cho chính các sản phẩm của mình. Một nền
văn minh có dạng thuần vật chất bắt buộc con người phải nô
lệ như thế, ngay cả khi, dĩ nhiên, điều ấy xảy ra trái ngược với
các ý hướng và nguyên tắc của các kẻ đi đầu. Chắc hẳn vấn
đề đó nằm ở nền tảng nỗi lo lắng hiện đại về con người. Ở
đây không phải chỉ có việc đem lại một giải đáp trừu tượng
cho câu hỏi : con người là ai ? nhưng đây là vấn đề liên quan
đến tất cả động lực của đời sống và nền văn minh. Đây là vấn
đề ý nghĩa của các khởi xướng này nọ trong cuộc sống hằng
ngày, và đồng thời, của các khởi điểm cho nhiều chương trình
văn minh, chương trình chính trị, kinh tế, xã hội, nhà nước và
nhiều chương trình khác nữa.
Sở dĩ chúng ta dám đánh giá hoàn cảnh con người trong
thế giới ngày nay là đang xa cách những đòi hòi khách quan
của trật tự đạo đức, xa cách những đòi hỏi của công bằng và
còn xa cách hơn nữa những đòi hỏi của tình yêu thương xã
hội, chính vì đó là điều đã từng được xác nhận bằng những sự
kiện và những ví dụ rất quen thuộc và đã nhiều lần có tiếng
vang trong các văn kiện của các Đức Giáo hoàng, của Công
đồng hay của Thượng hội đồng giám mục284. Hoàn cảnh con
284 x. Đức Piô XII, thông điệp truyền thanh kỷ niệm 50 năm thông
điệp Rerum Novarum (1.6.1941); thông điệp truyền thanh đêm giáng
sinh (24.12.1942), thông điệp truyền thanh đêm giáng sinh (24.12.1943);
thông điệp truyền thanh đêm giáng sinh (24.12.1944); diễn từ gửi các
hồng Y (24.12.1945); diễn từ gửi các hồng Y (24.12.1946); diễn từ gửi
các hồng Y (24.12.1947); thông điệp truyền thanh đêm giáng sinh
(24.12.1947); Đức Gioan XXIII Pacem in Teris; Phaolô VI ES; diễn văn
đọc trước Hội nghị Liên Hiệp Quốc (4.10.1965); Populorum progressio;
Diễn từ gửi các nông dân ở Colombia (23.8.1968); Diễn văn đọc trước
hội nghị của Tổ Chức Lương Nông quốc tế FAO (16.11.1970); Tông thư
Octogesima adviens; Diễn từ gửi các hồng Y (23.6.1972) ; J-P.II Diễn
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 480
người trong thời đại chúng ta, chắc chắn không phải là đồng
nhất nhưng trở nên khác biệt bằng nhiều cách. Những khác
biệt này cũng có những nguyên nhân lịch sử của chúng,
nhưng chúng cũng có âm hưởng luân lý mạnh mẽ, quả vậy,
người ta thừa biết cái khung cảnh văn minh tiêu thụ là nhiều
xã hội – thường là những xã hội giầu và rất phát triển – dư
thừa những của cải cần cho con người, khi mà các xã hội
khác, hay ít nữa là nhiều tầng lớp đông đảo trong các xã hội
này, lại phải đói khổ và nhiều người vẫn chết hằng ngày vì
không có ăn và thiếu dinh dưỡng. Song song với tình hình trên
là việc có những kẻ lạm dụng sự tự do cách nào đó, chính vì
ham mê tiêu thụ mà không chịu sự kiểm soát của đạo đức, và
việc lạm dụng này lại giới hạn sự tự do của những kẻ khác,
tức là của những kẻ đang chịu những thiếu thốn trầm trọng và
bị đưa đẩy tới những tình cảnh cơ cực và túng thiếu còn nguy
kịch hơn nữa.
Cái ví dụ ở đâu cũng thấy được đó là cảnh tương phản
mà các giáo hoàng thế kỷ chúng ta, như gần đây Đức Gioan
XXIII và Phaolô VI, đã chiếu theo trong các văn kiện của các
ngài285 đều như đang tiếp diễn bằng những kích thước khổng
lồ câu chuyện dụ ngôn Kinh thánh về người nhà giàu tối ngày
yến tiệc linh đình và người kẻ khó Ladarô286.
Tầm rộng lớn của hiện tượng khiến phải thắc mắc về
các cơ cấu và guồng máy tài chánh, tiền tệ, sản xuất và buôn
bán đang dựa vào những áp lực chính trị này nọ mà chi phối
văn đọc tại hội nghị các Giám Mục Mỹ Châu La Tinh kỳ III (28.1.1979);
Diễn từ gửi các người Da Đỏ ở Cuilapan (29.1.1979); Diễn văn gửi các
thợ thuyền ở Monterrey (21.1.1979) ; Vat.II DH; GS; Hội nghị các Giám
mục thế giới , De iustitia sin mundo.
285 Gioan XXIII MM; PI; Phaolô VI PP
286 Lc 16,19-31
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 481
nền kinh tế thế giới: chúng tỏ ra bất lực không thể tiêu trừ
những bất công do quá khứ để lại và không thể đương đầu
với những thách thức khẩn cấp và những đòi hỏi đạo đức
trong hiện tại. Trong khi vẫn khiến con người phải chịu khuất
phục trước những căng thẳng do chính mình tạo ra, vẫn phá
tán theo một nhịp độ ngày càng nhanh chóng các tài nguyên
vật chất và năng lượng, vẫn làm nguy hại cho môi trường địa –
vật lý, các cơ cấu kia còn làm cho những vùng nghèo khổ
không ngừng mở rộng và các nỗi khốn cùng, thất vọng, đắng
cay cũng lan rộng theo287.
Ở đây chúng ta đứng trước một thảm kịch có tầm rộng
lớn không để ai có thể dửng dưng được. Đó là kẻ một đàng
đang cố thu lợi tối đa, và kẻ đàng khác phải lãnh chịu những
thiệt thòi và bất công, vẫn đều là con người, thảm kịch còn bi
đát hơn vì lại xảy ra bên cạnh những tầng lớp xã hội được ưu
đãi, những nước giàu có cứ chồng chất thêm của cải một cách
quá đáng và chính vì quá đáng mà sự giàu có của họ rất
thường trở thành nguyên nhân nhiều rối loạn. Thêm vào đó
cơn sốt lạm phát và bệnh thất nghiệp dai dẳng là những triệu
chứng khác của tình trạng hỗn loạn tinh thần thấy được trong
hoàn cảnh thế giới và đòi hỏi những đổi mới bạo dạn và sáng
tạo, phù hợp với phẩm giá đích thực của con người288.
Công việc này không phải là không thể làm được.
Nguyên tắc liên đới theo nghĩa rộng phải thúc đẩy việc tìm
cho ra những cơ chế và guồng máy thích đáng. Đây vừa là
trong phạm vi những trao đổi hàng hóa cần tuân theo những
quy luật của sự thi đua lành mạnh, vừa là vấn đề phân phối lại
287 J-P.II Bài giảng tại Saint Domingue (25.1.1979), s.3; Diễn văn gửi
các người Da Đỏ và các nông dân ở Oaxaca (30.1.1979), s.2; Diễn văn
gửi các thợ thuyền tại Monterrey (31.1.1979) , s.4.
288 x. Phaolô VI OA, s.42
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 482
của cải một cách rộng rãi và trực tiếp hơn và kiểm soát những
của cải này, ngõ hầu các dân tộc trên đường phát triển kinh tế
có thể không những thỏa mãn các nhu cầu cốt yếu của mình
mà còn phát triển dần dần và hữu hiệu.
Người ta chỉ tiến tới trên con đường khó khăn đó, trên
con đường cần thiết phải hoán cải các cơ cấu đời sống kinh tế,
là nhờ trí tuệ, ý chí và lòng dạ có hối cải thực sự. Công việc
đòi hỏi sự dấn thân quyết liệt của những con người và những
dân tộc tự do và liên đới. Quá nhiều khi người ta nhầm lẫn sự
tự do với bản năng bảo vệ lợi ích cá nhân hay tập thể, hay với
cả bản năng tranh chấp và thống trị nữa. Dầu cho người ta có
sơn phết các bản năng này bằng những mầu sắc ý thức hệ gì
đi nữa. Điều chắc chắn là các bản năng này có thật và tác
động, nhưng sẽ chỉ có thể có một nền kinh tế thật xứng với
con người nếu những sức lực sâu xa nhất trong con người và
có ảnh hưởng quyết định đối với văn hóa đích thực của các
dân tộc lại cũng đảm nhận, định hướng và làm chủ các bản
năng kia. Chính từ những nguồn đó phải nảy sinh nỗ lực nói
lên sự tự do đích thực của con người và sẽ có sức bảo đảm
cho sự tự do này cả trong lãnh vực kinh tế nữa. Sự phát triển
kinh tế, cùng với tất cả những gì chỉ thuộc về cách thức hoạt
động riêng và thích hợp của nó, phải thường xuyên được kế
hoạch hóa và thực hiện bên trong một viễn cảnh phát triển
toàn diện và liên đới giữa người với người và các dân tộc với
nhau, như Đức Phaolô VI, vị tiền nhiệm của tôi đã từng mạnh
mẽ nhắc lại trong Thông điệp Populorum Progressio (Phát
triển các dân tộc), bằng không, chỉ riêng phạm trù “tiến bộ
kinh tế” lại trở thành một phạm trù tối thượng khiến tất cả
cuộc sống con người phải lệ thuộc vào những đòi hỏi thiên
lệch của nó, bóp nghẹt con người, làm tan rã các xã hội và
cuối cùng tự sa lầy trong những mâu thuẫn và thái quá của nó.
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 483
Nghĩa vụ trên có thể chu toàn được: bằng chứng là
những sự kiện đã được xác nhận và những kết quả khó kể ra
hết ở đây một cách phân tích hơn. Dẫu sao có một điều chắc
chắn: ở nền tảng nỗ lực lớn lao đó phải đặt, phải nhận và đào
sâu ý thức về trách nhiệm đạo đức mà con người cần đảm
nhận. Lại vẫn con người. Một lần nữa chúng ta được đưa trở
lại với vấn đề trách nhiệm đạo đức mà chủ thể không phải là
ai khác ngoài con người. Đối với chúng ta là những người Kitô
hữu, một trách nhiệm như thế trở thành đặc biệt hiển nhiên,
khi chúng ta gợi lên – và vẫn phải luôn nhắc lại – cảnh tượng
phán xét cuối cùng, như lời Đức Kitô trong Tin mừng theo
Thánh Matthêô289.
Cảnh tượng cánh chung đó phải luôn được áp dụng vào
lịch sử con người, phải luôn được lấy làm một lược đồ cốt yếu
cho mỗi người và mọi người tự vấn lương tâm : “Xưa Ta đói
mà các người không cho ta ăn… Ta mình trần mà các ngươi
không cho mặc… Ta ở tù mà các ngươi đã không thăm
viếng”290. Những lời như thế càng thêm giá trị cảnh cáo nếu
chúng ta nghĩ tới tình trạng là thay vì đem cơm bánh và sự trợ
giúp văn hóa đến cho các chính phủ và các nước mới độc lập,
nhiều khi người ta lại chỉ cung cấp dồi dào những vũ khí hiện
đại và những phương tiện phá hoại để phục vụ cho những
xung đột vũ trang và những cuộc chiến tranh. Những xung đột
và chiến tranh này lại không phải do nhu cầu bảo vệ các
quyền lợi chính đáng và chủ quyền của các nước đó cho bằng
là một hình thức chủ nghĩa Sô – vanh, chủ nghĩa đế quốc, chủ
nghĩa thực dân mới đủ loại. Ai cũng thừa rõ là các khu vực
nghèo đói trên trái đất chúng ta có thể được “cải tạo thành
phì nhiêu” trong một thời gian ngắn, nếu các khoản đầu tư
289 x. Mt 25,31-46.
290 Mt 25,42.43
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 484
khổng lồ vẫn được dồn vào việc trang bị vũ khí phục vụ
chiến tranh và hủy diệt lại được biến thành những khoản đầu
tư vào việc sản xuất lương thực phục vụ sự sống.
Có lẽ nhận định trên đây vẫn còn là “trừu tượng” phần
nào, có lẽ nó sẽ đem lại cơ hội cho “phe này” hay “phe kia”
tố cáo lẫn nhau mà quên đi những lỗi lầm riêng của mình. Có
lẽ nó sẽ còn gây nên những lời tố cáo mới nhằm vào Giáo
hội. Tuy vậy, vì không sẵn khí cụ nào khác ngoài những khí
cụ của tinh thần, lời nói và tình thương, Giáo hội không thể từ
bỏ việc rao giảng “lời… lúc thuận cũng như lúc nghịch”291. Vì
vậy, Giáo hội không ngừng nhân danh Chúa và nhân danh
con người yêu cầu mỗi phe và yêu cầu mọi người: chớ giết
người ! Xin đừng sửa soạn tàn phá và tiêu diệt loài người. Xin
nghĩ đến những anh em của quý vị đang khốn khổ vì nghèo
đói ! Xin hãy tôn trọng phẩm giá và sự tự do của mỗi người !.
17. Quyền lợi con người : “Chủ nghĩa” hay “tinh thần”
?
Thế kỷ chúng ta cho tới nay đã là một thế kỷ đầy những
tai họa lớn cho con người, những tàn phá, không phải chỉ về
mặt vật chất mà còn về mặt tinh thần, và có lẽ nhất là về mặt
tinh thần. Đã hẳn là về mặt này không dễ gì so sánh các thời
đại và các thế kỷ với nhau, bởi vì cũng tùy những tiêu chuẩn
lịch sử vẫn thay đổi. Tuy nhiên, dẫu không so sánh như thế thì
cũng phải nhận thấy rằng, cho đến nay, thế kỷ này đã là một
thế kỷ mà loài người tự bày ra cho chính mình rất nhiều bất
công, đau khổ. Diễn tiến đó phải chăng đã được hãm lại thực
sự? Dẫu sao đối với những tình cảm trọng vọng đối với quá
khứ và hy vọng sâu sắc đối với tương lai, không thể không
291 2Tm 4,2
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 485
nhắc lại ở đây nỗ lực tuyệt vời đã được thực hiện để đem lại
sự sống cho tổ chức Liên Hiệp Quốc, nỗ lực nhằm xác định
và thiết lập các quyền khách quan và bất khả xâm phạm của
con người, bắt buộc các nước thành viên tôn trọng nghiêm
nhặt các quyền đó một cách có qua có lại. Sự cam kết này đã
được hầu hết các nước ngày nay chấp nhận và phê chuẩn và
điều đó đáng lý phải thành một bảo đảm để trên khắp thế
giới các quyền con người trở nên một nguyên tắc căn bản cho
các cố gắng được thực hiện vì lợi ích con người.
Giáo hội không cần khẳng định lại là vấn đề trên nối
liền chặt chẽ đến đâu với sứ mệnh của mình trong thế giới
ngày nay. Quả thế, nó nằm ngay không nền tảng hòa bình xã
hội và quốc tế, như Đức Gioan XXIII, Công đồng Vat.II, rồi
Đức Phaolô VI đã tuyên bố trong các văn kiện bàn đến nó
một cách chi tiết. Rốt cuộc, hòa bình chỉ là sự tôn trọng các
quyền bất khả xâm phạm của con người – opus iustitiae pax,
trong khi chiến tranh lại sinh ra từ sự vi phạm các quyền đó và
kéo theo những vi phạm còn trầm trọng hơn nữa. Nếu các
quyền con người bị vi phạm trong thời bình thì thành ra đặc
biệt đau xót, xét theo quan điểm của tiến bộ, đó là một hiện
tượng chống lại con người không sao hiểu nổi, và sự kiện này
không cách gì có thể phù hợp với bất cứ chương trình nào tự
cho là “nhân bản”. Thế mà có chương trình xã hội, kinh tế,
chính trị, văn hóa nào có thể không tự nhận là nhân bản ?
Chúng ta vốn giữ một niềm xác tín sâu sắc là ngày nay trên
thế giới không có một chương trình nào, kể cả khi kèm theo
những ý thức hệ đối chọi nhau về vũ trụ quan, mà lại không
đặt con người lên hàng đầu.
Thế mà, mặc dù có những tiền đề như trên, nếu các
quyền của con người bị vi phạm cách này cách khác, nếu,
trong thực tế, chúng ta chứng kiến những trại tập trung, sự bạo
hành, tra tấn, khủng bố và nhiều thứ kỳ thị, thì đó phải là hậu
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 486
quả của những tiền đề khác đang ăn mòn hay nhiều khi còn
như đang tiêu hủy hiệu năng của những tiền đề nhân bản
trong các chương trình và hệ thống hiện đại kia. Khi đó nghĩa
vụ cần thiết là phải thường xuyên dựa vào những quyền
khách quan và bất khả xâm phạm của con người mà duyệt lại
các chương trình kia.
Việc tuyên bố các quyền con người và cả việc thành
lập tổ chức Liên hiệp quốc chắc chắn không tự giới hạn vào ý
muốn đoạn tuyệt với những kinh nghiệm khủng khiếp của
cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng còn nhằm tạo nền
tảng cho việc duyệt xét lại thường xuyên các chương trình, hệ
thống, chế độ kia, chính từ quan điểm duy nhất và căn bản là
lợi ích của con người – hãy nói là của bản vị trong cộng đồng –
và quan điểm này, như một yếu tố căn bản cho công ích, phải
làm thành tiêu chuẩn cốt yếu cho mọi chương trình, hệ thống
và chế độ. Trong trường hợp ngược lại, cuộc sống con người,
ngay cả trong thời bình, không sao tránh khỏi nhiều thứ khốn
khổ, và đồng thời, kèm theo những nỗi khốn khổ này là sự
phát triển đủ hình thức thống trị, độc tài và thực dân mới cũng
đe dọa những quan hệ giữa các nước. Thật vậy, một sự kiện
có ý nghĩa và đã nhiều lần được các kinh nghiệm lịch sử xác
nhận, đó là việc xâm phạm các quyền con người vẫn đi đôi
với việc xâm phạm các quyền của quốc gia vì con người được
nối kết bằng những quan hệ hữu cơ với quốc gia như với một
gia đình mở rộng.
Ngay từ nửa đầu thế kỷ này, trong thời kỳ nhiều quốc
gia độc tài đã phát triển và, như người ta biết quá rõ, đã đưa
tới tai họa khủng khiếp là chiến tranh, Giáo hội đã từng minh
định rõ ràng lập trường của mình đối với các chế độ ấy. Bề
ngoài, chúng xem ra hoạt động cho một lợi ích cao hơn, tức là
lợi ích quốc gia, thế mà lịch sử về sau chứng minh ngược lại
đó chỉ là lợi ích của một phe phái đã tự đồng hóa mình với
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 487
quốc gia292. Thực ra, các chế độ ấy đã thu hẹp các quyền của
người công dân bằng cách chối từ không chịu nhìn nhận cho
họ những quyền bất khả xâm phạm của con người đã được
minh định vào giữa thế kỷ này trên bình diện quốc tế. Chia sẻ
niềm vui vì thành công ấy với tất cả những người thiện chí,
với tất cả những người thực sự yêu chuộng công lý và hòa
bình, nhưng vì ý thức rằng chữ nghĩa suông thì có thể giết
chết, chỉ “tinh thần mới làm cho sống”293, Giáo hội phải kết
hợp với những người thiện chí kia để không ngừng hỏi xem
Tuyên ngôn nhân quyền và việc chấp nhận nó về mặt “chữ
nghĩa” phải chăng ở đâu cũng đồng thời có nghĩa là thực hiện
“tinh thần” của nó. Thật vậy, đang nổi lên mối lo sợ có căn cứ
rằng rất nhiều khi chúng ta còn ở xa việc thực hiện kia và đôi
khi tinh thần đời sống xã hội và công cộng đang đối nghịch
đau xót với “chữ nghĩa” các quyền con người như thấy được
trong Tuyên ngôn. Tình trạng đó đầy hậu quả nghiêm trọng
đối với nhiều xã hội khác nhau, hẳn còn đặc biệt khiến những
kẻ góp phần gây ra nó phải chịu trách nhiệm nặng nề hơn đối
với các xã hội này và lịch sử loài người.
Ý nghĩa căn bản của nhà nước với tư cách là cộng đồng
chính trị, là ở chỗ xã hội làm nên nhà nước, tức là nhân dân
làm chủ vận mệnh mình. Ý nghĩa đó không được thực hiện
nếu, thay vì một quyền bính được thi hành với sự tham dự tinh
thần của xã hội hay nhân dân, chúng ta lại chứng kiến một
quyền lực do một nhóm nhất định áp đặt cho tất cả các thành
phần khác của xã hội. Đó là những điều cốt yếu trong thời đại
chúng ta khi mà ý thức xã hội của người ta tăng lên rất nhiều
và đồng thời với ý thức đó là việc các công dân có nhu cầu
292 Piô XI, QA; Tđ Non abbiamo bisogno; T9d Divini Redemtoris; Tđ
Mit brennender Sorge; Piô XII Tđ Summi pontificatus.
293 x. 2Cr 3,6
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 488
được tham dự đúng đắn vào đời sống của cộng đồng chính trị,
một khi đã xét tới hoàn cảnh thực tế của mỗi dân tộc và sự
cần thiết có một công quyền đủ mạnh294. Đó là những vấn đề
quan trọng hàng đầu trong những gì liên quan đến sự tiến bộ
của chính con người và sự phát triển chung của nhân tính.
Giáo hội đã luôn dạy phải hành động cho lợi ích chung
và làm như vậy cũng là đã giáo dục được những công dân tốt
cho mỗi nước. Ngoài ra, Giáo hội đã luôn dạy rằng nghĩa vụ
căn bản về phía quyền bính là quan tâm đến những lợi ích
chung của xã hội: vì do đó mà có cơ sở cho những quyền căn
bản của quyền bính. Nhân danh những tiền đề liên quan đến
trật tự đạo đức khách quan, các quyền của quyền bính chỉ có
thể được hiểu trên nền tảng tôn trọng các quyền khách quan
và bất khả xâm phạm của con người. Lợi ích chung kia mà
quyền hành nhà nước phải phục vụ, chỉ được thực hiện đầy
đủ khi nào tất cả mọi công dân được bảo đảm về các quyền
của họ. Bằng không là đi tới tình trạng xã hội tan rã, các công
dân chống lại nhà cầm quyền, hay còn đi tới một hoàn cành
đàn áp, đe dọa, bạo hành, khủng bố như các nền độc tài thế
kỷ này đã cho chúng ta nhiều ví dụ. Chính như thế mà
nguyên tắc các quyền con người liên hệ sâu sa tới lãnh vực
công bình xã hội và thành mực thước để kiểm nghiệm một
cách căn bản về công bình xã hội trong đời sống các cơ chế
chính trị.
Trong số các quyền nói trên người ta kể tới một cách
chính đáng quyền tự do tôn giáo bên cạnh quyền tự do lương
tâm. Công đồng Vat.II đã cho là đặc biệt cần thiết phải soạn
thảo một tuyên ngôn có tầm cỡ hơn về đề tài này. Đó là văn
kiện mang tựa đề Dignitatis humanae (Phẩm giá con người)295:
294 Vat.II GS, 31
295 x. AAS 58, 1966, 929-946
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 489
Văn kiện trình bày không những quan niệm thần học về vấn
đề này mà còn là quan niệm xuất phát từ luật tự nhiên, tức là
từ một góc nhìn “thuần túy con người”, trên căn bản những
tiền đề do chính kinh nghiệm con người, lý trí con người và ý
thức con người về phẩm giá của mình nói lên. Đã hẳn, sự giới
hạn tự do tôn giáo của các cá nhân và cộng đồng không
những là một kinh nghiệm đau xót cho họ, mà còn đụng chạm
trước tiên đến chính phẩm giá con người, bất kỳ đạo mà các
cá nhân và cộng đồng ấy tuyên xưng hay quan niệm về thế
giới của họ là gì. Giới hạn và vi phạm tư do tôn giáo đều mâu
thuẫn với phẩm giá và các quyền khách quan của con người.
Văn kiện Công đồng nêu trên nói khá rõ thế nào là giới hạn
và vi phạm tự do tôn giáo như vậy. Chắc chắn là trong trường
hợp ấy chúng ta đứng trước một bất công triệt để phạm tới cái
đặc biệt sâu xa trong con người, cái đích thật là người. Thực
ra, ngay cả hiện tượng vô tín ngưỡng, có thái độ vô tôn giáo
và vô thần, như là hiện tượng thuộc về con người, chỉ có thể
hiểu được trong quan hệ với hiện tượng tôn giáo và đức tin.
Bởi vậy, ngay cả từ một quan điểm “thuần túy con người”,
khó mà chấp nhận được một lập trường chủ trương chỉ riêng
thuyết vô thần là có quyền tồn tại trong đời sống công cộng
và xã hội, còn những kẻ có tín ngưỡng, như thể là cứ theo
nguyên tắc, chỉ được tạm dung mà thôi, hay còn bị đối xử như
công dân “hạng dưới”, và cuối cùng bị mất hết các quyền
công dân như đã từng xảy ra.
Phải bàn tới đề tài đó, dù chỉ vắn tắt, vì nó cũng nằm
trong toàn bộ phức tạp những hoàn cảnh con người trong thế
giới ngày nay, và nó cũng làm chứng là hoàn cảnh này mắc
míu đủ thứ thành kiến và bất công đến đâu. Nếu chúng ta
tránh đi vào chi tiết trong lãnh vực này – và chúng ta hẳn có
quyền và nghĩa vụ đặc biệt để đi vào như thế – thì trước hết là
do bởi vốn kết hợp với tất cả những ai phải chịu kỳ thị và
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 490
bách hại vì danh Thiên Chúa, chúng ta được lòng tin vào sức
mạnh cứu chuộc của thánh giá Đức Kitô hướng dẫn. Tuy
nhiên, vì chức vụ của tôi, tôi muốn nhân danh tất cả mọi tín
hữu trên toàn thế giới, ngỏ lời với những vị cách này hay cách
khác có quyền định đoạt việc tổ chức đời sống xã hội và
công cộng, để khẩn thiết yêu cầu họ tôn trọng các quyền của
tôn giáo và của sinh hoạt Giáo hội. Đây không phải là yêu
cầu một đặc ân nào cả mà là yêu cầu sự tôn trọng một quyền
sơ đẳng. Việc thực hiện quyền này là một trong những trắc
nghiệm căn bản để kiểm nghiệm xem con người có được tiến
bộ đích thực hay không ở mọi chế độ, trong mọi xã hội, hệ
thống hay môi trường.
IV. SỨ MỆNH GIÁO HỘI VÀ VẬN MỆNH CON
NGƯỜI
18. Giáo hội quan tâm đến ơn gọi của con người
trong Đức Kitô .
Cái nhìn tất nhiên sơ sài về hoàn cảnh của con người
trong thế giới ngày nay khiến chúng ta càng hướng tâm trí
mình về Đức Giêsu Kitô, về mầu nhiệm cứu độ là nơi vấn đề
con người được ghi với một sức chân lý và tình thương đặc
biệt. Nếu Đức Kitô “một cách nào đó đã kết hợp với tất cả
mọi người”296, thì Giáo hội, khi đi vào bề thâm sâu của mầu
nhiệm này, trong ngôn ngữ phong phú và phổ quát của nó, lại
cũng sống sâu sắc hơn bản tính và sứ mệnh của mình. Không
phải uổng công mà Tông đồ nói tới Thân mình Đức Kitô là
296 GS, 22
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 491
Giáo hội297. Nếu nhiệm thể Đức Kitô là Dân Thiên Chúa – như
Công đồng Vat.II sau này sẽ nói, căn cứ vào tất cả truyền
thống Thánh Kinh và giáo phụ – điều đó có nghĩa là mọi
người trong thân mình ấy được luồng sinh khí từ Đức Kitô tới
thâm nhập. Cũng theo nghĩa này thì quay về con người, về
những vấn đề đích thực, về những hy vọng và những đau
khổ, về những chinh phục và những sa ngã của con người,
đều làm cho chính Giáo hội trong tư cách là thân mình, là cơ
chế, là đơn vị xã hội, nhận ra những thúc đẩy từ Thiên Chúa,
những ánh sáng và sức lực của Thánh Thần phát xuất từ Đức
Kitô chịu đóng đinh và sống lại – và đó chính là lý do sống
còn của Giáo hội. Giáo hội không có sự sống nào khác ngoài
sự sống mà phu quân và Chúa mình ban cho mình. Thật vậy,
bởi vì Đức Kitô đã kết hợp với Giáo hội trong sứ vụ cứu độ
của Người, nên Giáo hội cũng phải kết hợp chặt chẽ với từng
người.
Đức Kitô kết hợp với con người như thế vốn là một mầu
nhiệm, từ đó sinh ra “người mới”, được gọi tham dự đời sống
Thiên Chúa298, được tái tạo trong Đức Kitô và được nâng lên
tới sung mãn ân sủng và chân lý299. Sự kết hợp với Đức Kitô
là sức mạnh của con người, và là nguồn sức mạnh đó, theo
cách nói sắc bén của thánh Gioan trong lời tựa Tin mừng Ngài
soạn: “Lời đã ban cho quyền làm con Thiên Chúa”300. Đó là
sức thay đổi bên trong con người, như nguyên lý một đời sống
mới không biến mất cũng chẳng qua đi, nhưng tồn tại cho
cuộc sống vĩnh cửu301. đời sống đó đã được Chúa Cha hứa và
297 x. 1Cr 6,15; 11,3; 12,12-13; Ep 1,22-23; 2,15-16; 4,4-5; 5,30;
Cl 1,18; 3,15; Rm 12,4-5.30; Gl 3,28
298 2Pr 1,4
299 x. Ep 2,10; Ga 1,14-16
300 Ga 1,12
301 x. Ga 4,14
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 492
ban cho mỗi người trong Đức Giêsu Kitô là Con Một đời đời,
đã thành xác phàm và sinh bởi Trinh nữ Maria, “khi thời viên
mãn đến”302, đời sống đó là sự thành tựu cuối cùng của sứ
mệnh con người. Đó như là sự hoàn thành “vận mệnh” mà
Thiên Chúa đã chuẩn bị cho con người từ muôn muôn thuở.
“Vận mệnh thần linh” này diễn tiến ở bên kia mọi bí ẩn, bất
ngờ, khúc khuỷu, quanh co của “vận mệnh nhân sinh” trong
trần thế. Thật vậy, vì một tất yếu không thể tránh được, và tuy
đời sống trần gian quả là phong phú nếu tất cả rồi cũng đưa
tới biên giới sự chết và sự tiêu hủy thân xác con người, thì
Đức Kitô lại xuất hiện với chúng ta ở bên kia biên giới ấy,
“Ta là sự phục sinh và sự sống; ai tin vào Ta… sẽ không phải
chết bao giờ”303. Nơi Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh, an táng
trong mồ và sau đó sống lại đã “bừng lên cho chúng ta một
niềm hy vọng vững chắc là được sống lại hiển vinh… một lời
hứa được phúc trường sinh bất diệt”304: hướng về đích đó con
người tiến bước, xuyên qua cái chết của thân xác, chia sẻ với
mọi tạo vật hữu hình cái điều tất yếu mà vật chất phải tuân
theo. Chúng ta tìm cách đào sâu thêm mãi lời lẽ của chân lý
mà Đấng Cứu chuộc con người đã đặt vào câu này: “Thần khí
mới tác sinh, xác thịt thì không ích gì”305. Những lời này, tuy
không có vẻ, lại nói lên khẳng định cao nhất về con người: đó
là khẳng định về thân xác mà Thần Khí làm cho sống !
Giáo hội sống thực tại ấy, sống bằng chân lý ấy về con
người: nhờ nó, Giáo hội vượt được biên giới của thời-gian-tính
và đồng thời lại có thể đem lòng ân cần và yêu thương đặc
biệt mà nghĩ tời tất cả những gì – bên trong những kích thước
302 Gl 4,4
303 Ga 11,25-26
304 Kinh tiền tụng I lễ cầu hồn.
305 Ga 6,63
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 493
của thời-gian-tính-đó – có ảnh hưởng trên đời sống con người,
trên đời sống của tinh thần con người vẫn biểu lộ niềm khắc
khoải như thánh Âu Tinh đã nói tới: “Lạy Chúa, Chúa đã
dựng nên chúng con cho Chúa và lòng chúng con còn khắc
khoải mãi cho tới khi được an nghỉ trong Chúa”306. Tất cả
những gì là bề sâu của con người đều phập phồng trong niềm
khắc khoải sáng tạo ấy: tìm kiếm chân lý, khát khao sự thiện,
thèm muốn tự do, hoài mộ cái đẹp, tiếng nói lương tâm. Giáo
hội khi tìm cách nhìn con người như “với đôi mắt của chính
Đức Kitô” thì luôn ý thức hơn là mình đang giữ gìn một kho
tàng lớn lao mà mình không được quyền phung phí, nhưng
phải luôn làm tăng thêm. Quả vậy, Chúa Giêsu đã nói: “Ai
không cùng Ta thu hợp, tức là làm phân tán”307. Kho tàng ấy
của nhân loại thêm dồi dào nhờ mầu nhiệm khôn tả làm con
Thiên Chúa308, nhờ ơn thành “nghĩa tử” 309trong Con Một
Thiên Chúa khiến chúng ta được thưa với Thiên Chúa là
Abba, Cha310. Kho tàng ấy đồng thời lại là một sức mạnh lớn
lao thống nhất Giáo hội nhất là từ bên trong, và làm cho tất cả
sinh hoạt của Giáo hội có ý nghĩa. Nhờ sức mạnh này, Giáo
hội kết hợp với Thần Khí Đức Kitô, với Thánh Thần mà Đấng
Cứu Chuộc đã hứa, và luôn thông ban. Việc Thánh Thần đến,
được tỏ ra trong ngày Ngũ Tuần, vẫn còn đó mãi mãi. Như
thế, các sức lực của Thần Khí311, các ân huệ Thần Khí312, các
hoa quả Thần Khí313 tự mạc khải nơi loài người. Và Giáo hội
306 Confessio I,I
307 Mt 12,30
308 x. Ga 1,12
309 Gl 4,5
310 Gl 4,6; Rm 8,15
311 x. Rm 15,13; 1Cr 1,24
312 x. Is 11,2tt; Cv 2,38
313 x. Gl 5,22-23
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 494
thời đại chúng ta như lặp lại một cách ngày càng sốt sắng và
tha thiết hơn: “Lạy Thánh Thần khấn xin ngự đến” Xin ngự
đến ! Xin ngự đến ! “Hết những gì nhơ bẩn, xin rửa cho sạch
trong, tưới gội nơi khô cạn, chữa lành mọi vết thương. Cứng
cỏi uốn cho mềm, lạnh lùng xin sưởi cho ấm, những nẻo
đường sai lầm, sửa sang cho ngay thẳng !”314.
Lời khấn nài Thánh Thần như trên để được Thần khí, lại
là câu trả lời cho mọi “chủ nghĩa duy vật” thời đại chúng ta.
Chính những chủ nghĩa này làm nẩy sinh bao hình thức khao
khát khôn nguôi của lòng người. Lời khấn nài trên được cảm
thấy từ nhiều phía, và xem ra đem lại kết quả bằng rất nhiều
cách. Có thể nói được chăng là Giáo hội không khẩn nài như
vậy một mình ? Vâng, có thể nói được như thế, vì “nhu cầu”
về thiêng liêng lại cũng được những người ở ngoài biên
cương hữu hình của Giáo hội nói lên315. Điều ấy há chẳng
được xác nhận bởi chân lý sau đây về Giáo hội, chân lý mà
Công đồng vừa rồi đã làm rõ ra một cách sắc bén biết bao
trong hiến chế tín lý “Ánh sáng muôn dân” sao ? Trong hiến
chế này Công đồng dạy rằng Giáo hội là “bí tích, tức vừa là
dấu hiệu vừa là phương thế kết hợp mật thiết với Thiên Chúa
và hiệp nhất toàn thể nhân loại”316. Lời kêu cầu với Thần khí
và nhờ Thần khí chẳng qua chỉ là một cách kiên trì đi vào kích
thước đầy đủ của mầu nhiệm cứu chuộc. Theo mầu nhiệm
này, Đức Kitô, kết hợp cùng Cha và với mọi người, thông
truyền liên lỉ cho chúng ta Thần Khí đó là Đấng đặt vào trong
chúng ta những tâm tình của Chúa Con và hướng ta về Chúa
Cha317. Chính vì lẽ đó mà Giáo hội thời đại chúng ta – một thời
314 Ca tiếp liên lễ Hiện Xuống
315 LG, 16
316 Sđd, số 1.
317 x. Rm 8,15; Gl 4,6
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 495
đại đặc biệt khát khao Thần khí bởi vì khát khao công lý, hòa
bình, tình thương, nhân từ, sức lực, trách nhiệm, nhân phẩm –
cần tập trung và họp lại chung quanh mầu nhiệm ấy, để tìm
lại được ở đó ánh sáng và sức lực cần thiết cho chính sứ mệnh
mình. Thật vậy, nếu như đã nói trước đây, con người là con
đường đời sống thường ngày của Giáo hội thì chính Giáo hội
cần phải luôn luôn ý thức về phẩm giá con người được nhìn
nhận làm con cái Thiên Chúa trong Đức Kitô, nhờ ân sủng
Thánh Thần318, và ý thức rằng con người được hướng về ân
sủng và vinh quang319. Nhờ luôn suy nghĩ lại về tất cả những
điều đó và đón nhận với một niềm tin ý thức hơn mãi và một
lòng yêu thương vững vàng hơn mãi, Giáo hội càng được
thêm khả năng phục vụ con người như Chúa Kitô đã kêu gọi
Giáo hội làm việc ấy khi Người nói: “Con Người không đến để
được hầu hạ, mà là để hầu hạ”320. Giáo hội thi hành sứ vụ ấy
bằng cách tham gia vào “ba chức năng” đặc biệt của Thầy và
Đấng cứu chuộc mình. Giáo lý này căn cứ vào Thánh Kinh đã
được Công đồng Vat.II làm sáng tỏ mà mưu ích nhiều cho đời
sống Giáo hội. Là vì khi chúng ta ý thức về sự tham gia vào
ba sứ mệnh Đức Kitô, vào ba chức năng của Người – tư tế,
ngôn sứ và vương giả321 – thì chúng ta đồng thời cũng ý thức
hơn toàn thể Giáo hội, với tư cách xã hội và cộng đồng dân
Thiên Chúa trên trần gian, là để làm gì, và chúng ta lại cũng
hiểu mỗi người chúng ta phải tham gia thế nào vào sứ mệnh
và việc phục vụ kia.
318 x. Rm 8,15
319 x. Rm 8,30
320 Mt 20,28
321 LG, 31-36
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 496
19. Giáo hội có trách nhiệm về chân lý.
Như thế, dưới ánh sáng giáo lý công đồng Vat.II, Giáo
hội xuất hiện trước mắt chúng ta như chủ thể chịu trách nhiệm
xã hội về chân lý của Thiên Chúa. Chúng ta rất xúc động khi
nghe chính Đức Kitô tuyên bố: “Lời anh em nghe đây không
phải là của tôi, mà là của Cha, Đấng đã sai tôi”322. Trong quả
quyết này của Thầy chúng ta, há không phải thấy trách nhiệm
kia về chân lý mặc khải là “sở hữu” của một mình Thiên
Chúa, vì ngay cả Người là “Con Một”, sống “trong cung lòng
Cha”323, thế mà khi thông truyền chân lý đó với tư cách ngôn
sứ và thầy, cũng cảm thấy cần nhấn mạnh là mình hành động
hoàn toàn trung thành với nguồn chân lý là Thiên Chúa ?
Cũng lòng trung thành ấy phải là một tính cách làm nên đức
tin của Giáo hội, khi giảng dạy hoặc khi tuyên xưng đức tin
này. Đức tin, vì là đức tính siêu nhiên đặc biệt được ban cho
trí tuệ con người, làm cho ta được tham dự vào sự thông hiểu
Thiên Chúa, đáp lại lời Ngài mặc khải. Cho nên, Giáo hội khi
tuyên xưng và giảng dạy đức tin, cần bám chặt vào chân lý
của Thiên Chúa324 và điều đó phải được tỏ ra bằng một thái
độ sống phục tùng hợp với lý trí325. Ngay Đức Kitô, để bảo
đảm lòng trung thành với chân lý của Thiên Chúa cũng đã
hứa cho Giáo hội được Thánh Thần chân lý giúp đỡ đặc biệt.
Người đã ban ơn vô ngộ326 cho những ai được Người trao
nhiệm vụ thông truyền và giảng dạy chân lý đó327 – như Công
322 Ga 14,24
323 Ga 1,18
324 DV, 5.10.21
325 Vat.II Dei Filius, ch.3
326 Vat.II PA; LG, 25
327 x. Mt 28,19
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 497
đồng Vat.I đã xác nhận rõ ràng328 và như Công đồng Vat.II đã
tái quả quyết theo329 – và Người còn ban cho toàn thể dân
Thiên Chúa một cảm quan đặc biệt về đức tin330.
Hậu quả là chúng ta được tham dự vào sứ mệnh của
Đức Kitô ngôn sứ và nhân danh chính sứ mệnh ấy, chúng ta
cùng với Người phục vụ chân lý của Thiên Chúa trong Giáo
hội. Trách nhiệm về chân lý này cũng có nghĩa là chúng ta
phải yêu mến nó, tìm hiểu nó cho đúng. Làm sao cho chính
mình và kẻ khác tới được với nó hơn trong tất cả sức cứu độ
của nó, trong cái huy hoàng, cái sâu sắc và đồng thời trong cái
đơn giản của nó. Lòng mộ mến và khát vọng tìm hiểu chân lý
như thế phải đồng tiến, như lịch sử các thánh trong Giáo hội
cho thấy. Các thánh được soi sáng hơn ai hết bởi ánh sáng
đích thực phản chiếu chân lý của Thiên Chúa và gần với thực
tại Thiên Chúa; vì họ đã đến gần chân lý với lòng kính trọng
yêu mến: yêu mến trước hết Đức Kitô , Lời Hằng sống của
Thiên Chúa, đồng thời yêu mến lối diễn tả chân lý ấy bằng
ngôn ngữ loài người trong Tin mừng, trong truyền thống, trong
thần học. Ngày nay cũng vậy, trước hết cần phải hiểu và giải
thích Lời Chúa như thế, cần phải có một nền thần học như
thế. Thần học bao giờ cũng đã có và vẫn tiếp tục có một tầm
quan trọng lớn lao để Giáo hội, dân Thiên Chúa, có thể tham
gia một cách sáng tạo và phong phú vào chức vụ ngôn sứ của
Đức Kitô. Cho nên các nhà thần học với tư cách là kẻ phục
vụ chân lý của Thiên Chúa, dành công việc nghiên cứu và
biên soạn của họ để tìm hiểu thấu đáo hơn nữa chân lý ấy và
không bao giờ có thể quên ý nghĩa việc họ phục vụ Giáo hội,
ý nghĩa được bao hàm trong khái niệm “intellectus fidei”. Khái
328 Vat.II PA
329 LG, 18-27
330 Sđd, 12,35
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 498
niệm này hầu như có một chức năng hai chiều, đúng theo
thành ngữ “intellege ut credas – crede ut intellegas” (hiểu để
tin, tin để hiểu)331 và nó được dùng đứng đắn khi mà nhà thần
học tìm cách phục vụ Huấn quyền là quyền trong Giáo hội
được trao cho các giám mục kết hợp bằng mối giây hiệp
thông phẩm trật với Người kế vị Phêrô, và cả khi họ ra công
phục vụ nỗi lo lắng giảng dạy và làm mục vụ của các giám
mục cũng như những nỗ lực dấn thân Tông đồ của toàn thể
dân Thiên Chúa.
Như các thời trước và có lẽ ngày nay còn hơn nữa, các
nhà thần học và mọi nhà khoa học của Giáo hội đều được
mời gọi kết hợp đức tin với khoa học và với hiền minh để góp
phần giúp những thực tại đó thấu suốt lẫn nhau, như ta đọc
trong lời cầu nguyện phụng vụ ngày lễ thánh Alberto, Tiến sĩ
Giáo hội. Việc dấn thân này ngày nay phát triển rất mạnh vì
mức tiến bộ trong tri thức loài người, trong các phương pháp
và các chinh phục của tri thức để hiểu biết vũ trụ và con
người. Điều này liên quan đến các khoa học chính xác cũng
như các khoa học nhân văn, và cả đến triết học đã từng được
Công đồng Vat.II nhắc lại332.
Trong lãnh vực hiểu biết kia của loài người là lãnh vực
không ngừng mở rộng và thêm chuyên biệt, đức tin cũng phải
luôn đào sâu, bằng cách làm sáng tỏ tầm rộng của mầu nhiệm
mặc khải và cố hướng tới sự am hiểu chân lý bắt nguồn duy
nhất và tối cao từ nơi Thiên Chúa. Tuy công cuộc lớn lao phải
thực hiện trong chiều hướng đó được phép chú trọng – và còn
phải mong nó chú trọng nữa – tới một thứ đa dạng nào đó về
mặt phương pháp luận, nhưng một công cuộc như thế vẫn
không thể xa rời sự nhất trí căn bản trong việc giảng dạy đức
331 Th. Augustino, Sermo 43,7-9; PL 38, 257-258
332 GS, 47,57,59,62; OT, 15
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 499
tin và đạo đức, là cứu cánh riêng biệt của nó. Do đó một sự
hợp tác chặt chẽ giữa thần học và Quyền giáo huấn là thiết
yếu. Nhà thần học nào cũng phải đặc biệt ý thức điều chính
Đức Kitô đã bày tỏ khi Người nói: “Lời anh em nghe đây
không phải là của Thầy mà là của Cha, Đấng đã sai Thầy”333.
Thế thì, chẳng một ai được làm thần học như thể thần học chỉ
là để trình bầy những ý kiến tư riêng của mình, nhưng mỗi
người phải ý thức mình kết hợp chặt chẽ với sứ mệnh giảng
dạy chân lý mà Giáo hội có trách nhiệm.
Có tham dự vào chức năng ngôn sứ của Đức Kitô toàn
thể Giáo hội mới sống đúng theo kích thước căn bản của
mình. Sự tham dự đặc biệt vào chức năng này là phần các chủ
chăn trong Giáo hội, để giảng dạy và luôn bằng cách này hay
cách khác loan báo, thông truyền giáo lý, đức tin và đạo đức
Kitô giáo. Việc giảng dạy này, dưới hình thức truyền giáo
hoặc dưới hình thức thông thường, đều giúp vào việc hợp
nhất dân Thiên Chúa chung quanh Đức Kitô, sửa soạn cho
việc tham dự vào nhiệm tích Thánh Thể, vạch đường cho đời
sống bí tích. Thượng hội đồng giám mục năm 1977 đã đặc
biệt quan tâm đến công cuộc huấn giáo trong thế giới ngày
nay, và kết quả của những thảo luận, những kinh nghiệm, và
những gợi ý sẽ sớm được nói lên trong một văn kiện tòa
thánh, thể theo đề nghị của các thành viên Thượng hội đồng.
Điều chắc chắn là ngành huấn giáo là một hình thức sinh hoạt
Giáo hội vừa thường xuyên vừa căn bản và tỏ rõ đoàn sủng
ngôn sứ của Giáo hội: làm chứng và giảng dạy đi đôi với
nhau. Tuy ở đây trước tiên nói đến linh mục, nhưng cũng
không thể không nhắc tới đông đảo các tu sĩ nam nữ chuyên
lo công việc huấn giáo vì lòng yêu mến Thầy Chí Thánh. Và
333 Ga 14,24
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 500
cũng khó mà không nói đến bao giáo dân vẫn làm công việc
này để biểu lộ niềm tin và trách nhiệm tông đồ của mình.
Ngoài ra, bao giờ cũng phải nhằm sao cho các hình thức
huấn giáo trong những lãnh vực khác nhau – bắt đầu từ hình
thức căn bản, là “gia huấn”, tức là cha mẹ huấn giáo cho
chính con cái mình – đều biểu lộ việc toàn dân Thiên Chúa
cùng tham dự cả vào chức năng ngôn sứ của chính Đức Kitô .
Muốn thế, thì trách nhiệm của Giáo hội đối với chân lý của
Thiên Chúa phải được mọi người chia sẻ ngày càng nhiều
hơn, và bằng rất nhiều cách. Và phải nói gì đây về các
chuyên ga các nghành khác nhau, về các nhà khoa học, các
nhà văn, các y sĩ, luật gia, nghệ sĩ và kỹ thuật viên, các nhà
giáo dục mọi cấp và mọi môn ? Tất cả, với tư cách thành phần
dân Thiên Chúa, đều có vai trò của mình trong sứ mệnh ngôn
sứ của Đức Kitô, trong việc Người phục vụ chân lý của Thiên
Chúa, kể cả khi họ chân thành tìm kiếm chân lý trong mọi
lãnh vực, theo mức độ họ đào luyện tha nhân đến với chân lý,
dạy dỗ tha nhân lớn lên trong yêu thương và công bình. Như
vậy, ý thức trách nhiệm đối với chân lý là một trong những
điểm căn bản để Giáo hội gặp gỡ mỗi người, và cũng là một
trong những đòi hỏi căn bản ấn định sứ mệnh con người trong
cộng đồng Giáo hội. Giáo hội thời chúng ta, nhờ ý thức trách
nhiệm về chân lý hướng dẫn, phải bền lòng trung thành với
bản chất riêng của mình vốn gồm cả sứ mệnh ngôn sứ đã
được Đức Kitô giao cho: “Cũng như Cha đã sai Thầy, Thầy
cũng sai anh em đi… Hãy nhận lấy Thánh Linh”334.
20. Thánh thể và sám hối.
Trong mầu nhiệm cứu chuộc, nghĩa là trong công trình
cứu độ do Đức Kitô hoàn thành, Giáo hội chẳng những tham
334 Ga 20,21-22
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 501
dự vào Tin mừng của Thầy mình nhờ trung thành với Lời
Người và phục vụ chân lý, mà còn nhờ lòng tuân phục đầy hy
vọng và yêu thương, tham dự vào sức tác động cứu chuộc
Người đã biểu lộ và đặt trong các nhiệm tích, nhất là trong
Thánh Thể335. Thánh Thể là trung tâm và tuyệt đỉnh của toàn
thể đời sống nhiệm tích vẫn đem sức cứu độ của ơn cứu
chuộc đến cho mỗi Kitô hữu, bắt đầu từ mầu nhiệm Thánh
tẩy, là nhiệm tích dìm chúng ta vào trong sự chết của Đức
Kitô để chúng ta được dự phần vào sự Phục sinh của Người336
như lời Thánh Phaolô dạy. Nhờ giáo lý này soi sáng, người ta
còn thấy rõ hơn lý do tại sao tất cả đời sống nhiệm tích của
Giáo hội và của mỗi Kitô hữu đạt tới tuyệt đỉnh và viên mãn
trong nhiệm tích Thánh Thể. Quả vậy, trong nhiệm tích này,
mầu nhiệm Đức Kitô dâng mình tế hiến cho Chúa Cha trên
cây thập giá không ngừng là hiện tại cho chúng ta như ý
Người muốn. Chúa Cha đã nhận cuộc tế hiến này: Ngài đáp
lại việc Con Ngài tận hiến vì đã “vâng phục cho đến chết”337,
bằng việc chính Ngài ban ơn nặng tình Cha là ban cho sự sống
mới và bất diệt trong phục sinh, bởi vì Chúa Cha là nguồn
sống đầu tiên và là Đấng ban sự sống từ nguyên thủy. Sự
sống mới ấy đã bao hàm việc tôn vinh thân xác Đức Kitô chịu
đóng đinh, đã trở thành dấu chỉ hữu hiệu của ân huệ mới mẻ
được ban cho loài người. Ân huệ này là Thánh Thần làm cho
sự sống Thiên Chúa mà Chúa Cha vốn có nơi Ngài và ban cho
Con Ngài338 lại cùng được truyền tới tất cả những người kết
hợp với Đức Kitô.
335 SC, 10
336 x. Rm 6,3-5
337 Pl 2,8
338 x. Ga 5,26; 1Ga 5,11
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 502
Thánh Thể là nhiệm tích hoàn hảo nhất của sự kết hợp
này. Khi cử hành và tham dự Thánh Thể, chúng ta được kết
hợp với Đức Kitô dưới đất và trên trời là Đấng can thiệp cho
ta bên cạnh Cha339, nhưng chúng ta chỉ được kết hợp với
Người qua hành động cứu chuộc là việc Người đã tự hiến tế
để chuộc lại chúng ta, mà “chuộc lại với giá cao”340. Cái “giá
cao” để cứu chuộc chúng ta vừa cho thấy giá trị con người đối
với chính Thiên Chúa, vừa cho thấy phẩm giá chúng ta trong
Đức Kitô . Khi trở nên “con Thiên Chúa” 341, “nghĩa tử”342, thì
chúng ta đồng thời giống như Người, trở nên một “vương quốc
tư tế” và lãnh nhận “chức tư tế hoàng vương”343, nghĩa là
chúng ta tham dự vào công trình hoàn lại con người và vũ trụ
cho Chúa Cha, một công trình độc nhất và không thể xoay
ngược lại do chính Người, vừa là Con vĩnh cửu344 vừa là người
thực sự, đã hoàn thành một lần dứt khoát. Thánh thể là nhiệm
tích diễn tả đầy đủ nhất thực thể mới của chúng ta, và cũng là
chỗ chính Đức Kitô một cách liên tiếp và luôn luôn mới mẻ,
“làm chứng” trong Thánh thần với thần hồn chúng ta345 rằng
mỗi người chúng ta, vì tham dự vào mầu nhiệm cứu chuộc,
nên được hưởng hiệu quả ơn hòa giải con cái với Thiên
Chúa346 do chính Người đã thực hiện và còn thực hiện luôn
mãi giữa chúng ta bằng sứ vụ của Giáo hội.
339 Dt 9,24; 1Ga 2,1
340 1Cr 6,20
341 Ga 1,12
342 x. Rm 8,23
343 Kh 5,10; 1Pr 2,9
344 x. Ga 1,1-4.18; Mt 3,17; 11,27; 17,5; Mc 1,11; Lc 1,32-35; 3,22;
Rm 1,4; 2Cr 1,19; 1Ga 5,5.20; 2Pr 1,17; Dt 1,2
345 x. 1Ga 5,5-11
346 x. Rm 5,10.11; 2Cr 5,18-19; Cl 1,20.22
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 503
Có một chân lý cốt yếu không những về mặt giáo lý mà
còn về mặt hiện hữu, đó là nhiệm tích Thánh Thể xây dựng
Giáo hội347, và xây dựng thành cộng đồng đích thực của dân
Thiên Chúa, thành cộng đoàn tín hữu mang dấu ấn tín hợp
nhất đã có giữa các tông đồ và các môn đệ đầu tiên của
Chúa. Thánh Thể luôn xây dựng lại cộng đồng và tính hợp
nhất đó, xây dựng và phục hồi luôn mãi từ cuộc tế hiến của
Đức Kitô, vì là nhiệm tích kính nhớ việc Người chết trên thập
giá348 làm giá cứu chuộc chúng ta. Bởi vậy nói được là trong
nhiệm tích Thánh Thể chúng ta tiếp xúc với chính mầu nhiệm
Mình và Máu Chúa, đúng như những lời đã được Chúa dùng
để thiết lập nhiệm tích và đã vì sự thiết lập ấy mà trở nên
những lời cử hành vĩnh viễn Thánh Thể cho những ai được
gọi làm sứ vụ đó.
Giáo hội sống nhờ nhiệm tích Thánh Thể, nhờ sự viên
mãn của bí tích này mà ý nghĩa và nội dung đáng khâm phục
đã nhiều lần được Quyền giáo huấn của Giáo hội nói lên từ
những thời xa xưa nhất cho đến ngày nay349. Dù vậy chúng ta
có thể nói chắc chắn rằng giáo lý đó tuy được làm nổi bật giá
trị bởi các nhà thần học, bởi những người tin sâu nguyện
thành, bởi các bậc khổ hạnh và thần bí hoàn toàn trung thành
với mầu nhiệm Thánh Thể, nhưng vẫn đáng kể như còn ở
ngưỡng cửa mầu nhiệm, bởi vì nó không thể nào thấu hiểu
được và nói ra được nên lời thế nào là nhiệm tích Thánh Thể
cho thật đầy đủ, những gì nhiệm tích này biểu lộ và thực hiện.
Thánh Thể đúng là bí tích khôn tả ! Sự dấn thân chính thân
chính yếu, và trên tất cả, ân sủng hữu hình và vọt tràn của sức
347 LG, 11; Phaolô VI, Diễn văn trong cuộc tiếp kiến chung ngày
15.9.1965
348 SC, 47
349 Phaolô VI, Mysterium fidei
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 504
siêu nhiên của Giáo hội với tư cách là dân Thiên Chúa, cốt ở
chỗ kiên trì và luôn tiến tới trong đời sống Thánh Thể, trong
lòng tôn sùng Thánh Thể, lớn lên về mặt thiêng liêng trong
bầu khí Thánh Thể. Đã vậy thì trong cách chúng ta suy nghĩ,
sống và hành động, càng không được phép làm cho nhiệm
tích thật chí thánh này mất đi kích thước toàn diện và ý nghĩa
thiết yếu của nó. Thánh Thể đồng thời là nhiệm tích và tế lễ,
nhiệm tích và hiệp thông, nhiệm tích và hiện diện. Và tuy
thực sự nhiệm tích Thánh thể đã luôn luôn và còn phải là
cách mặc khải sâu sắc nhất, cách cử hành tốt đẹp nhất tình
anh em giữa các môn đệ Đức Kitô và những ai làm chứng cho
Người, nhưng không được coi nhiệm tích ấy như chỉ là một
“cơ hội” để bày tỏ tình huynh đệ mà thôi. Trong việc cử hành
nhiệm tích Mình và Máu Chúa, phải tôn trọng kích thước đầy
đủ của mầu nhiệm Thiên Chúa, ý nghĩa trọn vẹn của dấu
nhiệm tích này nơi chúng ta được rước Đức Kitô hiện diện
thực sự, linh hồn được tràn trề ân sủng và chúng ta được nhận
lãnh bảo đảm cho vinh quang sau này350. Do đó mà có nghĩa
vụ phải tuân giữ nghiêm túc các quy tắc phụng vụ và tất cả
những gì làm chứng cho việc tôn thờ cộng đồng dâng lên
Thiên Chúa, nhất là vì trong dấu chỉ nhiệm tích nói đây, Chúa
phú thác mình cho chúng ta với một lòng tín cẩn vô hạn, làm
như Người không kể gì tới tình cảnh yếu đuối, bất xứng của
chúng ta, tới thói quen nhờn, chiếu lệ hay ngay cả khả năng
lăng nhục nữa. Mọi người trong Giáo hội, nhưng nhất là các
giám mục, linh mục, phải lo sao cho nhiệm tích yêu thương
này được ở trung tâm đời sống dân Thiên Chúa, ngõ hầu qua
tất cả những biểu lộ sự tôn thờ phải dành cho nhiệm tích ấy,
người ta làm thế nào để đem lòng yêu mến đáp lại lòng yêu
mến của Đức Kitô , và Người thực sự trở nên “sự sống linh
350 SC, 47
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 505
hồn chúng ta”351. Và mặt khác chúng ta sẽ không bao giờ
quên được lời Thánh Phaolô: “Mỗi người hãy tự hạch xét
chính mình, rồi sau đó mới ăn bánh và uống chén ấy”352.
Khuyến cáo này của thánh tông đồ cho thấy ít nữa một
cách gián tiếp là có một mối liên hệ chặt chẽ giữa Thánh Thể
và sám hối. Và quả nhiên, nếu lời giảng dạy đầu tiên của Đức
Kitô, nếu câu đầu tiên của Tin mừng là hãy hối cải và tin vào
tin mừng (metanoia)353, thì nhiệm tích của thụ nạn, của thập
giá và của phục sinh xem như tăng cường và củng cố một
cách rất đặc biệt lời kêu gọi đó trong tâm hồn chúng ta. Như
vậy Thánh Thể và Sám hối trở nên, trong một nghĩa nào
đó,hai kích thước liên quan chặt chẽ với nhau của đời sống
đích thực theo tinh thần Tin mừng, của đời sống thật sự Kitô
giáo. Đức Kitô, Đấng mời dự tiệc Thánh thể vẫn là Đức Kitô
kêu gọi sám hối và nhắc bảo: “Hãy hối cải”354. Không có cố
gắng bền bỉ và luôn luôn bắt đầu lại để hối cải, thì sự tham dự
tiệc Thánh Thể hẳn sẽ thiếu đi hiệu năng cứu độ đầy đủ. Vì
như thế trong nhiệm tích Thánh thể sẽ thiếu mất hay ít ra sẽ
suy giảm sự đặc biệt sẵn sằng dâng lên Thiên Chúa lễ tế
thiêng liêng355 nhờ đó ta biểu lộ một cách thiết yếu và phổ
quát việc ta tham dự vào chức vụ tư tế của Đức Kitô. Thật
vậy, trong Đức Kitô, chức vụ tư tế kết hợp với chính lễ tế của
Người cùng việc Người hiến chính mình cho Chúa Cha. Việc
hiến dâng này chính là vì vô hạn – lại làm nảy ra nơi chúng ta,
những kẻ lệ thuộc nhiều giới hạn, nhu cầu quay về với Thiên
351 x. Ga 6, 52-58; 14,6; Gl 2,20
352 1Cr 11,28
353 Mc 1,15
354 Sđd.
355 x. 1Pr 2,5
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 506
Chúa một cách chín chắn hơn mãi, nhờ một sự hối cải liên tục
và sâu xa hơn mãi.
Trong những năm gần đây, người ta đã làm rất nhiều để
làm nổi bật khía cạnh cộng đồng của sám hối, và nhất là của
bí tích sám hối trong cách thực hành của Giáo hội, đó cũng chỉ
là điều phù hợp với truyền thống cổ kính nhất của Giáo hội.
Những sáng kiến này có ích và hẳn sẽ giúp cho việc thực
hành sám hối của Giáo hội thời nay thêm phong phú. Tuy
nhiên chúng ta không thể quên rằng hối cải là một việc trong
lòng có bề sâu đặc biệt nên con người không thể để kẻ khác
làm bù cho mình, không thể để cộng đồng “thay thế” mình.
Đành rằng cộng đồng anh em tín hữu tham dự vào việc cử
hành sám hối giúp nhiều cho việc hối cải của từng người,
nhưng rốt cuộc thì việc đó vẫn phải là hành động của chính cá
nhân, trong bề sâu nhất của lương tâm mình, với cảm thức
trọn vẹn về tội trạng của mình và về lòng mình tin cậy vào
Thiên Chúa, khi đến trước thánh nhan Ngài để thú nhận như
trong Thánh vịnh: “Con đắc tội với Chúa”356. Cho nên Giáo
hội trung thành giữ cách thực hành nhiệm tích sám hối đã có
từ nhiều thế kỷ – tức là việc xưng tội cá nhân kết hợp với việc
đích thân ăn năn, dốc lòng chừa cải và đền tội, vẫn bảo vệ
quyền riêng của tâm hồn con người. Đó là quyền mỗi người
được đích thân gặp gỡ Đức Kitô chịu đóng đinh mà tha thứ,
gặp gỡ Đức Kitô là Đấng đã nói qua trung gian thừa tác viên
nhiệm tích hòa giải: “Tội lỗi con được tha”357; “Đi đi và từ nay
đừng phạm tội nữa”358. Rõ ràng đây đồng thời cũng là quyền
của chính Đức Kitô đối với từng người đã được Chúa cứu
chuộc. Đó là quyền gặp gỡ mỗi người chúng ta vào lúc quan
356 Tv 50 (51),6
357 Mc 2,5
358 Ga 8,11
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 507
trọng nhất này đời sống linh hồn tức là lúc hối cải và lúc được
tha thứ. Khi bảo toàn nhiệm tích sám hối, Giáo hội minh nhiên
khẳng định niềm tin của mình vào mầu nhiệm cứu chuộc như
thực tại sống động và làm cho sống, tương ứng với chân lý
bên trong của con người, với tình trạng đắc tội của con người
và với những ước mong của lương tâm con người nữa. “Phúc
cho kẻ đói khát sự công chính, vì họ sẽ được no nê”359. Nhiệm
tích sám hối là phương thế làm cho con người được no nê sự
công chính phát xuất từ Đấng cứu chuộc.
Giáo hội, nhất là ở thời chúng ta, quen sum họp đặc biệt
quanh Thánh Thể và mong muốn cộng đồng Thánh Thể đích
thực trở nên dấu hiệu hợp nhất của mọi Kitô hữu, một sự hợp
nhất dần dần chín muồi hơn. Trong hoàn cảnh như thế, người
ta phải cảm thấy thấm thía nhu cầu sám hối, cả dưới khía cạnh
nhiệm tích360 lẫn dưới khía cạnh nhân đức. Khía cạnh thứ hai
này đã được Đức Phaolô VI nói lên trong Hiến chế tông vụ
Paenitemini361. Một trong những nghĩa vụ của Giáo hội là đem
ra thực hiện lời Ngài chỉ dạy: đây là một chủ đề mà chắc chắn
chúng ta sẽ phải đào sâu hơn trong một suy nghĩ chung, và sẽ
là đối tượng của nhiều quyết định sau này, theo tinh thần tập
đoàn trong mục vụ và vẫn phải chú ý đến những truyền thống
khác nhau về vấn đề, chú ý đến cả những hoàn cảnh khác
biệt của đời sống loài người thời chúng ta. Tuy nhiên chắc
chắn là Giáo hội của Mùa vọng mới, Giáo hội đang luôn luôn
chuẩn bị đón Chúa lại đến phải là Giáo hội của Thánh Thể và
359 Mt 5,6
360 Thánh bộ giáo lý đức tin, Normae pastorales circa absolutionem
sacramentalem generali modo impertiendam; Phaolô VI, bài nói chuyện
với phái đoàn giám mục Hoa Kỳ đến viếng “ad limina” (20.4.1978);
J-P.II , bài nói chuyện với phái đoàn giám mục Gianãđại đến viếng “ad
limina” (17.11.1978)
361 x. AAS 58, 1966, 177-198
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 508
sám hối. Chỉ từ góc độ thiêng liêng này của sức sống và hoạt
động của mình Giáo hội mới là Giáo hội của sứ mệnh Thiên
Chúa ban cho, Giáo hội trong tư cách được sai đi – imastatu
missionis – như Công đồng Vat.II đã tỏ cho thấy khuôn mặt
của Giáo hội như thế.
21. Ơn gọi Kitô hữu: phục vụ và làm chủ.
Khi Công đồng Vat.II dựa vào các nền tảng của Giáo
hội mà họa hình ảnh Giáo hội như Dân Thiên Chúa, bằng
cách làm nổi rõ ba sứ mệnh của Đức Kitô và sự kiện chúng ta
thực sự thành Dân Thiên Chúa nhờ được tham dự vào ba sứ
mệnh của Người, Công đồng cũng đã làm nổi rõ đặc điểm
này trong ơn gọi Kitô hữu là đặc điểm “hoàng vương”. Để
trình bày tất cả giáo lý phong phú của Công đồng, có lẽ phải
nhắc tới nhiều chương nhiều đoạn trong hiến chế LG và nhiều
văn kiện khác nữa của Công đồng. Tuy nhiên, giữa tất cả sự
phong phú ấy, một điểm có vẻ nổi bật, đó là việc tham dự
vào sứ mệnh hoàng vương của Đức Kitô, nghĩa là việc khám
phá lại nơi mình và nơi người khác phẩm tước đặc biệt của ơn
gọi chúng ta, phẩm tước có thể được xác định trong thái độ
sẵn sàng phục vụ theo gương Đức Kitô , Đấng “không đến để
được hầu hạ, nhưng là để hầu hạ”362. Như vậy, nếu chỉ có thể
“làm vua” thực sự là bằng cách “hầu hạ” như trong thái độ
Đức Kitô đã chứng tỏ, thì việc “hầu hạ” đồng thời lại đòi hỏi
một sự chín chắn tinh thần tới mức nó thật đáng được xác định
là một vương quyền. Để có thể phục vụ kẻ khác một cách
xứng đáng và hữu hiệu, cần phải biết làm chủ chính mình,
phải có những đức tính cần thiết để tự chủ được. Như thế,
việc chúng ta tham dự vào sứ mệnh “hoàng vương”, và chính
xác hơn vào “chức năng làm vua” (munus regale) của Đức
362 Mt 20,28
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 509
Kitô gắn liền chặt chẽ với toàn thể lãnh vực đạo đức Kitô
giáo và cả lãnh vực đạo đức nhân bản nữa.
Khi trình bày một cái nhìn đầy đủ về dân Thiên Chúa và
khi nhắc lại vị trí không những của các linh mục mà còn của
các giáo dân, không những của các vị đại diện cho giáo phẩm
mà còn của các đại diện các dòng tu nam nữ, Công đồng
Vat.II đã không chỉ rút hình ảnh đó ra từ những tiền đề xã hội
học mà thôi. Xét như một xã hội loài người, hẳn Giáo hội
cũng có thể được nghiên cứu và định nghĩa theo những tiêu
chuẩn mà khoa học thường dùng đối với mọi xã hội loài
người. Nhưng những phạm trù đó không đủ. Đối với toàn thể
cộng đồng Dân Thiên Chúa và đối với mỗi phần tử trong
cộng đồng này, vấn đề không phải chỉ là “thuộc về một xã
hội” nhất định nào đó, nhưng điều cốt yếu đối với mỗi người
và mọi người lại là một “ơn gọi” đặc biệt. Thậy vậy, Giáo hội,
với tư cách là Dân Thiên Chúa, cũng là “nhiệm thể của Chúa
Kitô”, theo lời dạy của Thánh Phaolô mà tôi đã trích dẫn và
đã được Đức Piô XII nhắc lại một cách đáng khâm phục363.
Việc thuộc về Giáo hội bắt nguồn từ một lời mời gọi đặc biệt
nối liền với tác động cứu độ của ân sủng. Như vậy, nếu
chúng ta muốn xét cộng đồng Dân Thiên Chúa, một cộng
đồng rộng lớn và đa dạng biết bao, thì trước hết chúng ta phải
nhìn lên Đức Kitô , Đấng một cách này hay cách khác đã kêu
gọi mỗi phần tử trong cộng đồng đó: “Hãy theo Ta”364. Cộng
đồng các môn đệ là thế đó, một cộng đồng mà mỗi thành
phần theo Đức Kitô một cách, có khi rất ý thức và mạch lạc,
nhưng cũng có khi không mấy ý thức và thiếu mạch lạc.
Điểm này cũng cho thấy khía cạnh tôn trọng sâu xa bản vị
mỗi người và cho thấy kích thước thật của cộng đồng Giáo hội
363 Piô XII, MS
364 Ga 1,43
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 510
: dù có tất cả những thiếu xót trên bình diện đời sống cộng
đồng theo nghĩa loài người của chữ này, Giáo hội vẫn là một
cộng đồng chính nhờ sự kiện là tất cả làm thành cộng đồng
ấy cùng với Đức Kitô, ít nữa cũng bởi vì họ đều mang trong
linh hồn mình dấu ấn không thể xóa bỏ được của người Kitô
hữu.
Công đồng Vat.II đã đặc biệt chú trọng đến việc làm
cho mọi người thấy cộng đồng có tính cách “hữu thể” là cộng
đồng các môn đệ và chứng nhân của Đức Kitô phải ngày
càng trở nên, cả trên bình diện “con người”, một cộng đồng ý
thức hơn như thế nào về đời sống và những hoạt động riêng
của mình. Những gì Công đồng đã khởi xướng trong lãnh vực
này được tiếp tục trong nhiều khởi xướng về sau của Thượng
hội đồng giám mục, của Tông tòa hay từ cơ sở. Tuy nhiên,
chúng ta phải nhớ chân lý này là một khởi xướng chỉ giúp
canh tân Giáo hội cách đích thực và góp phần đem lại ánh
sáng thật là Đức Kitô365 trong mức độ khởi xướng ấy dựa trên
một ý thức đúng đắn về ơn gọi và về trách nhiệm đối với ân
sủng đặc biệt, có một không hai và không tiền khoáng hậu,
ân sủng làm cho mỗi Kitô hữu thuộc cộng đồng Dân Thiên
Chúa xây dựng thân mình Đức Kitô. Là nguyên tắc then chốt
của tất cả mọi hoạt động Kitô giáo – hoạt động tông đồ, mục
vụ, các thực hành đời sống nội tâm và đời sống xã hội –
nguyên tắc ấy phải được áp dụng cách đúng mức cho mọi
người và cho mỗi người. Ngay cả Giáo hoàng, cũng như mỗi
giám mục, cũng phải áp dụng nguyên tắc ấy cho chính mình.
Các linh mục, các tu sĩ nam nữ đều phải trung thành với
nguyên tắc tắc đó. Chính trên nền tảng ấy mà mọi người, vợ
chồng, cha mẹ, nam nữ thuộc mọi thành phần xã hội và mọi
nghề nghiệp, từ những người giữ trọng trách cao trọng nhất
365 LG, 1
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 511
trong xã hội cho đến những người làm những công việc tầm
thường nhất đều phải xây dựng đời sống mình. Đó đúng là
nguyên tắc của “việc phục vụ hoàng vương”, nguyên tắc buộc
mỗi người chúng ta, theo gương Đức Kitô, có bổn phận đòi
hỏi chính mình phải làm đúng những gì chúng ta được kêu gọi
để làm, những gì mỗi người chúng ta đích thân phải làm, nhờ
ơn Thiên Chúa, để đáp ứng với ơn kêu gọi mình. Trung thành
như thế với ơn kêu gọi, nhờ ơn Thiên Chúa qua trung gian
Đức Kitô, cũng là dự phần vào trách nhiệm tập thể đối với
Giáo hội, điều mà Công đồng Vat.II muốn dạy cho mọi Kitô
hữu. Thật vậy, trong Giáo hội cũng như trong cộng đồng Dân
Thiên Chúa do Thánh Thần hướng dẫn, mỗi người có “đặc
sủng riêng”, như lời Thánh Phaolô366. Đặc sủng này, tuy vẫn
là ơn gọi riêng của mỗi người vì là một cách tham dự vào
công cuộc cứu độ của Giáo hội, nhưng cũng hữu ích cho kẻ
khác, cũng góp phần xây dựng Giáo hội và các cộng đồng
huynh đệ trong những lãnh vực này nọ của đời sống con
người trên trái đất này.
Sự trung thành với ơn gọi, tức là bền chí sẵn sàng làm
“công việc phục vụ hoàng vương”, có một ý nghĩa đặc biệt
đối với việc xây dựng phức tạp kia, nhất là trong những gì
liên quan tới những cam kết trọng đại có ảnh hưởng lớn trên
đời sống của đồng loại và của toàn thể xã hội. Vợ chồng phải
nổi bật bằng sự trung tín với ơn gọi riêng của mình, như bản
tính bất khả phân ly của nhiệm tích hôn phối đòi hỏi. Các linh
mục phải nổi bật bằng lòng trung tín tương tự đối với ơn gọi
riêng của mình, vì nhiệm tích truyền chức đã in sâu vào linh
hồn họ một dấu ấn không thể xóa được, khi lãnh nhận nhiệm
tích này, chúng ta cam kết một cách ý thức và tự do, trong
Giáo hội Latinh, là sẽ sống độc thân, và vì vậy mỗi người
366 1Cr 7,7; x. 12,7.27; Rm 12,6; Ep 4,7
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 512
chúng ta phải làm hết sức mình với ơn Chúa, để tỏ lòng biết
ơn về hồng ân ấy và để trung tín với lời cam kết vĩnh viễn ấy.
Vợ chồng cũng thế, họ phải hết sức cố gắng sống thủy chung
trong hôn nhân, lấy việc làm chứng bằng tình yêu như vậy mà
xây dựng cộng đồng gia đình và giáo dục các thế hệ mới cho
đủ khả năng hiến trọn cuộc đời mình cho ơn gọi riêng của họ,
nghĩa là cho “việc phục vụ hoàng vương” mà Đức Kitô đã là
gương mẫu đẹp đẽ nhất cho chúng ta. Giáo hội của Người,
làm bằng tất cả chúng ta, là Giáo hội “cho con người” theo
nghĩa này; nhờ dựa vào gương mẫu Đức Kitô367 và cộng tác
với ân sủng Người đã nhận được cho chúng ta, chúng ta có
thể đạt tới “vương quyền” đó, nghĩa là thực hiện được trong
mọi người chúng ta một nhân tính hoàn toàn nẩy nở có nghĩa
là chúng ta tận dụng được quyền tự do mà tạo hóa đã ban cho
chúng ta khi Ngài tạo thành con người “theo hình ảnh của
Thiên Chúa”. Hồng ân tự do này được thực hiện đầy đủ khi
con người hiến toàn thân mình không bớt xén, trong một tinh
thần yêu thương như tình nghĩa trăm năm đối với Đức Kitô và,
cùng với Đức Kitô, đối với mọi người. Đức Kitô vẫn phái đến
với họ những tu sĩ nam nữ đã tận hiến cho Người theo các lời
khuyên của Tin mừng. Đó là lý tưởng đời sống tu trì vẫn được
các dòng cổ kính cũng như các dòng mới lập và các thế viện
đảm nhận.
Trong thời đại chúng ta đang sống nhiều khi người ta
quan niệm một cách lệch lạc rằng tự do là để tự do chứ chẳng
có cứu cánh nào khác, rằng con người được tự do là khi được
sử dụng tự do tùy thích và cần phải hướng tới mục tiêu ấy
trong đời sống cá nhân cũng như trong đời sống các xã hội.
Nhưng trái lại tự do chỉ là ơn huệ lớn lao khi chúng ta biết
khôn ngoan dùng tự do để làm tất cả những gì thật tốt lành.
367 LG, 36
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 513
Đức Kitô dạy chúng ta rằng cách sử dụng tự do tốt nhất là bác
ái, mà bác ái thì được thực hiện bằng hiến tặng và phục vụ.
“Đức Kitô đã giải phóng chúng ta chính là để chúng ta được
tự do” như thế368 và Người mãi mãi giải phóng chúng ta. Ở
đây Giáo hội tìm thấy nguồn cảm hứng bất tận, lời mời gọi và
đà để thi hành sứ mệnh và công việc phục vụ của mình giữa
mọi người. Chân lý đầy đủ về tự do của con người được ghi
sâu trong mầu nhiệm cứu chuộc. Giáo hội phục vụ nhân loại
thực sự khi bảo toàn chân lý ấy với một mối quan tâm không
biết mệt mỏi, với một lòng yêu thương nồng nhiệt, với một
thế dấn thân chín chắn, và khi truyền lại và thực hiện chân lý
ấy trong đời sống con người, giữa toàn thể cộng đồng Giáo
hội và nhờ mỗi Kitô hữu biết trung thành với ơn gọi của mình.
22. Đức Maria, người mẹ làm cho chúng ta hy vọng.
Ở đầu nhiệm kỳ Giáo hoàng này, khi tôi hướng lòng trí
tôi về Đấng Cứu thế là tôi muốn nhờ đó đi vào sâu trong nhịp
sống sâu xa nhất của Giáo hội. Thật vậy, nếu Giáo hội sống
sự sống đặc biệt của mình, thì đó là nhờ Giáo hội lấy sức sống
này nơi Đức Kitô, Đấng lúc nào cũng chỉ có một ý nguyện là :
chúng ta được sống và sống dồi dào369. Sự sống viên mãn ở
nơi Người cũng được dành cho con người. Chính vì thế, nhờ
chia sẻ tất cả sự phong phú của mầu nhiệm cứu chuộc, Giáo
hội trở thành một Giáo hội những người sống, sống vì được
“Thánh Thần chân lý”370 làm cho sống bên trong, vì được
thăm viếng bởi tình thương mà Thánh Thần tuôn vào lòng dạ
chúng ta371. Mục đích của mọi phục vụ trong Giáo hội, dù là
368 Gl 5,1; x. 5,13
369 x. Ga 10,10
370 Ga 16,13
371 x. Rm 5,5
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 514
phục vụ trong tư cách tông đồ, chủ chăn, linh mục hay giám
mục đều là duy trì tương quan sống động giữa mầu nhiệm cứu
chuộc và mọi người.
Nếu chúng ta ý thức được nhiệm vụ đó, chúng ta có thể
hiểu rõ hơn theo nghĩa nào Giáo hội là mẹ372 và cả theo nghĩa
nào Giáo hội luôn luôn cần một người Mẹ, nhất là trong thời
chúng ta. Chúng ta phải đặc biệt nhớ ơn các nghị phụ trong
Công đồng Vat.II đã diễn tả chân lý ấy trong hiến chế LG và
trong giáo lý phong phú về Đức Maria373. Vì Đức Phaolô VI đã
dựa vào giáo lý ấy mà tuyên bố Thánh mẫu của Đức Kitô là
“Mẹ của Giáo hội”374 và vì tước hiệu này đã được hưởng ứng
rộng rãi, cho nên, kẻ kế vị bất xứng này của Đức Phaolô VI
cũng xin hướng về Đức Maria, Mẹ của Giáo hội, để kết thúc
những nhận định đã đáng được khai triển ở đầu nhiệm kỳ
giáo hoàng này. Đức Maria là mẹ của Giáo hội vì theo sự
tuyển chọn khôn tả của chính Chúa Cha vĩnh cửu375 và nhờ
tác động đặc biệt của Thánh thần yêu thương376, Đức Mẹ đã
đem lại sự sống con người cho Con Thiên Chúa là Đấng “có
vạn vật vì Người và do bởi Người”377, Đấng ban cho toàn thể
Dân Thiên Chúa ân sủng và phẩm cách làm dân được tuyển
chọn. Chính Con của Đức Maria đã rõ ràng muốn mở rộng
tình nghĩa mẫu tử của Đức Mẹ – và mở rộng một cách dễ hiểu
cho mọi tâm hồn – khi trên thập giá Người đã trối môn đệ yêu
quý của mình làm con Đức Mẹ378. Sau khi Chúa chúng ta lên
372 LG, 63-64
373 x. Sđd, 52-69
374 Phaolô VI, Diễn văn bế mạc khóa III, Công Đồng Vat.II
(21.11.1964)
375 LG, 56
376 Sđd.
377 Dt 2,10
378 x. Ga 19,26
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 515
trời, Thánh Thần đã dun dủi Đức Maria ở lại giữa các tông đồ
để tĩnh tâm cầu nguyện và chờ đợi cùng với họ cho đến ngày
Hiện xuống là ngày Giáo hội phải ra khỏi bóng tối mà phát
sinh một cách hữu hình379. Rồi từ đó, mọi thế hệ môn đồ và
tất cả những ai yêu thương Đức Kitô và làm chứng cho Người,
đều như tông đồ Gioan, đón rước Đức Mẹ một cách thiêng
liêng vào nhà mình380. Như vậy là từ khởi đầu, nghĩa là từ lúc
được thiên sứ truyền tin, Đức Mẹ vẫn luôn có chỗ trong lịch
sử cứu độ và trong sứ mệnh của Giáo hội. Vì thế tất cả chúng
ta là thế hệ các đồ đệ hiện nay của Đức Kitô, chúng ta mong
muốn kết hợp với Đức Mẹ một cách đặc biệt. Chúng ta làm
như vậy với trọn niềm khăng khít đối với cổ truyền mà đồng
thời vẫn rất mực kính trọng và yêu thương các thành phần
thuộc mọi cộng đồng Kitô giáo.
Chúng ta làm như vậy là do nhu cầu sâu xa của đức tin,
đức cậy và đức mến thúc đẩy. Thật vậy, nếu trong giai đoạn
khó khăn và trọng yếu này của lịch sử Giáo hội và loài người,
chúng ta cảm thấy cần phải đặc biệt hướng về Đức Kitô là
Chúa của Giáo hội và Chúa của lịch sử loài người thể theo
mầu nhiệm cứu chuộc, thì chúng ta tin rằng không ai như Đức
Maria có thể đưa chúng ta vào kích thước Thiên Chúa và con
người của mầu nhiệm này. Không ai đã được chính Thiên
Chúa đưa vào đó như Đức Maria. Tính cách phi thường của ơn
được là Mẹ Thiên Chúa chính là ở chỗ ấy. Không những
phẩm giá tước vị Mẹ Thiên Chúa là có một không hai và tuyệt
đối đặc thù trong lịch sử loài người, mà điều cũng độc nhất vô
nhị do bởi có ảnh hưởng sâu rộng chính là Đức Maria, vì là
Mẹ Thiên Chúa, được tham dự vào ý định của Thiên Chúa
muốn cứu độ loài người, qua mầu nhiệm cứu chuộc.
379 x. Cv 1,14; 2.
380 x. Ga 19,27
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 516
Tình yêu thương muôn đời của Chúa Cha đã được tỏ ra
trong lịch sử nhân loại nơi Chúa Con, Đấng mà Chúa Cha đã
ban cho “ngõ hầu ai tin vào Người thì khỏi phải hư đi, nhưng
được có sự sống đời đời”381. Tình thương yêu ấy nhờ Đức Mẹ
lại được nên gần gũi mỗi người chúng ta và như vậy được tỏ
bày một cách dễ hiểu và vừa tầm hơn cho mỗi người. Vì thế,
Đức Maria phải có mặt trên mọi nẻo đường của đời sống
thường ngày của Giáo hội. Nhờ Người hiện diện như một
người Mẹ, Giáo hội biết chắc được rằng mình đang sống thực
sự đời sống của Thầy và Chúa mình, và mình sống mầu
nhiệm cứu chuộc trong tất cả chiều sâu và sức tác sinh đầy đủ
của mầu nhiệm đó. Và khi ăn rễ vào nhiều lãnh vực khác
nhau của đời sống nhân loại ngày nay, cũng chính Giáo hội
còn được biết chắc và kể như được cả kinh nghiệm là mình
gần gũi với con người, với mỗi người, mình là Giáo hội của
họ, Giáo hội của dân Thiên Chúa.
Trước những nhiệm vụ xuất hiện dọc theo những con
đường Giáo hội đi, dọc theo các con đường Đức Phaolô VI đã
chỉ cho chúng ta trong bức Thông điệp đầu tiên của Người,
chính chúng ta vì ý thức cả sự cần thiết tuyệt đối của các con
đường ấy lẫn các khó khăn đang dồn dập trên đó, chúng ta
càng cảm thấy cần phải gắn bó sâu xa với Đức Kitô. Lời của
Người vang lên trong chúng ta: “Ngoài Ta, anh em không thể
làm được gì”382. Chúng ta cảm thấy toàn thể Giáo hội không
những cần mà còn có bổn phận cấp bách phải cầu nguyện
rộng rãi hơn, sốt sắng và nhiều hơn. Chỉ có cầu nguyện mới
có thể làm cho tất cả các nhiệm vụ lớn lao trên và những khó
khăn gắn liền với chúng không trở thành những nguồn khủng
hoảng, mà lại thành cơ hội hay là những khởi điểm cho /dân
381 Ga 3,16
382 Ga 15,5
ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI 517
Thiên Chúa luôn tiến sâu hơn trên con đường đưa về đất hứa,
trong giai đoạn lịch sử đang dẫn chúng ta đến cuối thiên niên
kỷ thứ hai này. Tuy vậy, khi tôi kết thúc cuộc suy niệm này
bằng lời nguyện khiêm tốn và nhiệt thành kêu gọi Giáo Hội
cầu nguyện, tôi cũng mong muốn mọi người bền lòng cầu
nguyện như thế trong sự kết hợp với Đức Maria, Mẹ Đức
Giêsu383, như xưa kia các tông đồ và các môn đệ của Chúa đã
bền lòng cầu nguyện tại nhà Tiệc ly ở Giêrusalem, sau khi
Chúa lên trời384. Tôi khẩn cầu đặc biệt Đức Maria, Mẹ trên
trời của Giáo hội, xin Người luôn cùng với chúng ta cầu
nguyện như thế trong Mùa Vọng mới của nhân loại, để chúng
ta làm thành Giáo hội, Thân Mình huyền nhiệm của Con Một
của Người. Tôi trông cậy rằng, nhờ lời cầu nguyện đó, chúng
ta sẽ có thể lãnh nhận Thánh Thần xuống trên chúng ta385 và
nhờ thế, trở nên những chứng nhân của Đức Kitô “đến tận
cùng trái đất”386 như những người xưa kia đã ra khỏi nhà Tiệc
ly tại Giêrusalem trong ngày hiện xuống.
Với phép lành Tòa Thánh của tôi.
Làm tại Rôma, gần đền thờ Thánh Phêrô, ngày
4.3.1979.
Chủ nhật thứ nhất Mùa Chay, năm đầu tiên tôi làm giáo hoàng.
Gioan – Phaolô II.
383 x. Cv 1,14
384 x.Cv 1,13
385 x. Cv 1,8
386 Sđd.







