Đức Lêô XIII – Đức Gioan Phaolô II
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI
ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE
2000
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 518
Giới thiệu Thông điệp
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI
Laborem Exercens
Của Đức Gioan Phaolô II
nhân kỷ niệm 90 năm ban hành thông điệp Rerum Novarum
(9-1981)
(Dịch từ nguyên bản tiếng Pháp của ấn bản đa ngữ).
Vatican ISBN 2.227.43029.X.
LỜI GIỚI THIỆU
(của Gérard Defcis, Tổng thư ký hội đồng Giáo Mục
Pháp)
Nhân Bản Hóa Lao Động.
Bản thông điệp của ĐGH Phaolô II được dành để trình
bày về một đề tài cũ xưa như trái đất : Vấn đề lao động, ngay
từ những trang đầu của sách Sáng Thế chúng ta đã thấy Đấng
tạo Hóa gắn lao động liền với con người, coi đó như một sứ
vụ, một tương lai : “Hãy sinh sản hãy gia tăng đầy dãy trái
đất và hãy bắt nó phục tùng” hoạt động của con người trên
thế gian là tiếp tục công việc tạo dựng lưu truyền đời sống và
biến đổi thiên nhiên đi song song với nhau.
Tuy nhiên người ta không thể phủ nhận sự tiến hóa kỳ
lạ của các hình thức lao động, có từ những ngày đầu và nhất
là từ một thế kỷ – nói cho thật đúng là từ 90 năm nay – kể từ
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 519
khi đức Giáo Hoàng Lêô XIII phát biểu lần đầu tiên trong lịch
sử Giáo hội về “vấn đề thợ thuyền”. Ngày nay, vào kỷ
nguyên của những máy vi phát, máy điện toán, của sự dự
phòng xã hội và các quyền nghiệp đoàn, các tổ chức đa quốc
gia và cuộc khủng hoảng việc làm trên khắp nơi, các dự kiện
hoàn toàn khác hẳn và các trách nhiệm ngày càng thêm lớn
lao. Thế giới lao động là một thế giới đầy khủng hoảng căng
thẳng. Trong sự kiện lịch sử này ĐGH kêu gọi tất cả chúng ta
phải lưu tâm dùng đạo đức và ý thức luân lý để đem lại nhân
tính cho hoạt động của con người với các điều kiện tổ chức và
các hợp lực tối tân của hoạt động này.
Lao động phục vụ cho con người chứ không phải
con người phục vụ cho lao động.
Ngày nay lao động của con người đang đứng giữa hai
ngả đường. Con đường của kỹ thuật : Các ngành kỹ nghệ phát
triển, những kỹ thuật tân tiến, điện tử, điện toán, viễn toán …
đã mở rộng tầm quan hệ giữa con người và thiên nhiên đến
mức độ biến máy móc thành tác giả thứ nhất của việc biến
đổi sự vật. Con đường của kinh tế : giá cả của năng lượng và
nguyên liệu, ý thức của con người trước tính chất hạn chế của
tài nguyên thiên nhiên và những nguy cơ của ô nhiễm, sự
xuất hiện trên chính trường thế giới của những dân tộc mới
đây còn bị lệ thuộc, ngày nay đòi hỏi chỗ đứng trong việc đưa
ra những quyết định quốc tế. Việc phân phối lao động thế
giới trở thành một vấn đề đặc biệt và sự thất nghiệp là dấu
hiệu sự thất bại ê chề của tiến bộ, sự tiến bộ vẫn tự phụ là sẽ
đảm bảo cho mọi người được sống đầy đủ dư dật.
Đối với các Kitô hữu, nhân tính của lao động là tính chất
chủ chốt của tất cả “vấn đề xã hội”. Nó đáng để cho chúng ta
dừng chân suy nghĩ để phán đoán về những phán đoán mới
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 520
đây theo ý nghĩa hiện đại của hoạt động con người cũng như
về những công việc mới đang chờ đợi chúng ta.
ĐGH tự hỏi không biết có phải con người đã đảo lộn
bậc thang giá trị trong các xã hội hiện đang tăng trưởng
không. Kỹ thuật – tức là lao động theo ý nghĩa khách quan –
cung cấp cho người lao động những dụng cụ gia tăng gấp trăm
sức mạnh hoạt động của họ, làm dễ dàng, tăng thêm tốc độ
và hoàn bị cho lao động; Kỹ thuật là đồng minh của con người
song nó cũng có thể phản lại trở thành một kẻ thù địch khi
việc cơ giới hóa hất chân con người, làm họ mất những sảng
khoái trong công việc, ngăn chặn óc sáng tạo và giảm bớt tinh
thần trách nhiệm của họ; phát sinh ra nạn thất nghiệp và nô lệ
hóa con người, khiến họ còn chỉ là người thi hành lệnh của
các tác phẩm của mình. Nhân phẩm của lao động như bị tha
hóa tận gốc rễ khi con người và nhiệm vụ của họ bị chủ nghĩa
duy vật và duy kinh tế biến thành một thứ hàng hóa, một thứ
lực lượng trong lao động, một thứ “dụng cụ sản xuất”. Sự đảo
lộn các giá trị là một sự kiện hiển nhiên; trong chế độ tư bản,
nó được khoác bộ áo chủ thuyết. Người lao động được đối xử
không khác gì toàn bộ các phương tiện vật chất của sản xuất
và không được coi là mục tiêu của tất cả tiến trình kinh tế: nói
tóm lại, họ bị khai thác cho các mưu lợi về vật chất.
Con người là chủ thể của lao động tức là lao động theo
nghĩa chủ quan như Đức Gioan Phao Lô II nói – có nghĩa là
nhân vị của con người phải là một nhân tố đứng ở trên. Và
đây là vấn đề thuộc đạo đức học. Trong việc làm, sinh vật tự
biểu lộ ra với chính mình, nhờ làm chủ được các sự vật và
nhờ khả năng quyết đoán của mình; họ nuôi sống gia đình và
tham gia làm giàu cho di sản lịch sử và xã hội của đất nước.
Họ hiểu rõ mình liên đới với tất cả các người lao động trong
gia đình nhân loại. Lao động con người liên đới chúng ta lại
với nhau. Lời Kinh Thánh kêu gọi “hãy chế ngự trái đất” tuy
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 521
vẳng lại từ ngàn xưa, song vẫn luôn luôn thúc giục tất cả mọi
người của mọi thời đại và đòi hỏi phải lựa chọn, phải phân
biệt thứ tự ưu tiên; đó là tất cả những gì cần thiết để giúp cho
nhân phẩm được tôn trọng. Việc làm tăng giá trị cho vật chất
không thể làm cho người lao động mất giá trị. Tất cả những
việc trên đây bó buộc chúng ta về tinh thần phải bắt hoạt
động kinh tế nằm trong một “nền trật tự về xã hội về lao
động” bởi vì, dù kỹ nghệ có tiến bộ trở thành phức tạp đến
đâu, vấn đề nghiên cứu tìm hiểu và các dịch vụ có được nâng
cao tới mức độ nào, thì lao động vẫn phục dịch cho con người
chứ con người không phục dịch cho lao động.
“Tư bản phục vụ cho lao động
chứ không phải lao động phục vụ cho tư bản”
Muốn giáo hóa, nhân bản hóa lao động ngày nay, đương
nhiên phải tiến vào một cuộc tranh chấp lịch sử: tranh chấp
giữa lao động với tư bản. Lòng tin vào một Đấng Tạo Hóa nền
tảng của một trật tự xã hội và văn hóa, một quyền của quốc
gia và quốc tế, đi ngược lại với những “giáo điều” của chủ
thuyết tự do, thứ chủ thuyết giao phó việc giải quyết các mối
tương quan của loài người cho hệ thống trao đổi tài chánh.
Thứ chủ thuyết tự do này làm giàu thêm cho một số nhỏ
những người nắm giữ những phương tiện sản xuất và làm
nghèo thêm, cả về tài chánh lẫn văn hóa, các người lao động.
Sự cách biệt lợi nhuận của một số và đồng lương của những
người khác, giữa sự an toàn của những người này và sự bất ổn
của một số khác,tất nhiên sẽ gây ra một cuộc tranh chấp xã
hội kinh tế. Đó là bối cảnh của thế kỷ chúng ta. Hơn thế nữa,
với sự bất bình đẳng giữa hai miền Bắc và Nam của trái đất,
tình trạng căng thẳng từ nay bao trùm toàn thể thế giới.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 522
Tại đây, Đ.G.H không muốn tự giam mình trong khung
cảnh những tranh luận về ý thức hệ giữa chế độ tự do và chế
độ Mác Xít; cả hai chế độ đều có cùng một ngộ nhận, và tùy
theo những bức thiết của sản xuất hoặc chính trị, cũng đều đi
đến chỗ làm thu hẹp nhãn giới của con người và nhân phẩm
của họ. Muốn thành lập một tổ chức xã hội, trong phạm vi
một xí nghiệp hoặc trên bình diện thế giới, và thành lập trên
tinh thần đạo đức của con người, phải tìm cách định giá lại các
hệ thống mậu dịch, sản xuất và hùn vốn .
Người ta không thể tách rời tư bản với người lao động.
Tư bản không phải là một chủ thể, một quyền lực hoàn hành
tự do không đếm xỉa đến những gì nó sản xuất lợi ích vô danh
để chỉ huy vận mệnh của loài người. Các người lao động phải
được quyền ưu tiên trong việc quản trị một xí nghiệp, nếu
không chế độ kinh tế đó sẽ nuôi dưỡng bất công và hợp pháp
hóa những hành động bóc lột nhiều hình thức để rồi nô lệ
hóa người lao động. Và sau đây là hai hậu quả cụ thể cực kỳ
quan trọng:
1. Trước hết về phương diện quyền tư hữu đối với các
phương tiện sản xuất. Theo giáo lý truyền thống của Giáo hội,
quyền tư hữu không phải là một quyền tuyệt đối và bất khả
xâm phạm. Tất cả mọi sở hữu đều tùy thuộc và việc sử dụng
chung và vào mục đích phổ quát của các của cải; quyền sở
hữu đối với các phương tiện sản xuất chỉ có ý nghĩa nếu nó
phụ thuộc vào lao động và bảo đảm được viễn ảnh việc sử
dụng chung. Trên danh nghĩa đó, phải nói là nguồn mạch của
nhiệm vụ hơn là quyền lợi. Ở đây, quan điểm của thứ chế độ
“tư bản cứng nhắc” trong đời sống kinh tế, là một quan điểm
không thể chấp nhận được.
2. Thứ đến, về phương diện quyền sở hữu tập thể đối
với các tư liệu sản xuất, Đức Giáo Hoàng không dùng danh từ
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 523
“Quốc hữu hóa”, mà dùng danh từ “Xã hội hóa”. Ngài cho
rằng đó là việc hợp pháp đối với một số các tư liệu sản xuất,
nhất là vì tư bản luôn luôn được gia tăng thêm nhờ hành động.
Nguyên việc “Quốc gia hóa” các phương tiện sản xuất hoàn
toàn không đủ đảm bảo cho sự công bằng và cho nhân tính
của lao động, vì một số nhóm người có thể bóc lột các người
lao động, nhân danh một thứ tư bản của Nhà Nước, một thứ
chế độ cướp mất óc sáng kiến và phẩm cách của người lao
động qua mạng lưới của một thứ chế độ văn hóa quan liêu.
Tư bản là để phục dịch cho con người. Như thế có nghĩa
là người lao động phải có khả năng khuất phục được tư bản
nhân danh một quan niệm cá nhân và nhân bản về hoạt động
của họ và nhờ vào những cơ cấu có tính cách đồng trách
nhiệm khiến họ ý thức rằng: họ “làm việc cho chính mình”…
Những liên đới về lịch sử
Đức Gioan Phaolô II cho rằng “sự phản ứng chống lại
chế độ bất công và tác hại mà tiếng kêu báo oán thấu tới
trời” trong buổi đầu của chế độ tư bản là một phản ứng chính
đáng về phương diện đạo đức xã hội. Phong trào thợ thuyền,
xuất phát từ phản ứng đó, được coi như việc người ta ý thức
về quyền người lao động. Tinh thần liên đới này đã tạo ra
những biến đổi sâu xa trong công việc phân phối và các điều
kiện của lao động. Đức Giáo Hoàng xác định rằng những
quyền lợi khách quan của người lao động là tiêu chuẩn tương
xứng và căn bản trong việc hình thành bất cứ một chế độ kinh
tế nào. Về phương diện này, Ngài trình bày rất dài về các
điều kiện lao động của con người trong thời đại ngày này, về
chính sách quốc gia và quốc tế và những thỏa ước tập thể.
Ngài xác định một cách rõ ràng hơn nữa: quyền công
đoàn là một nhân quyền, quyền họp hội, một sự phấn khởi
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 524
của tinh thần liên đới trong hành động và trong cuộc chung
sức tranh đấu chống lại giảm giá của lao động và việc bóc lột
sức lao động. Ngài ao ước trong các xí nghiệp, sự tham gia
vào việc quản trị và kiểm soát sản xuất được mở rộng hơn.
Mục đích của cộng đoàn, trong một diện kinh tế có khi đòi
hỏi phải nhắm đến thực tại, là làm thế nào để người lao động
có được chất sống, trở thành một ” hữu thể nhiều hơn”, một
hữu thể mệnh danh là nhân phẩm.
Tất cả phong trào có tính chất nghiệp đoàn, thợ thuyền
và nông dân này là một trong những lực hợp thành cần thiết
cho một “trật tự xã hội” trong đó sự lao động, được coi như
một biểu lộ của con người, phải tìm được vị trí ưu tiên của
mình trong các chế độ kinh tế, dù họ là một người tật nguyền,
di trú hay chỉ là một người vô sản…
Nền đạo đức học về lao động
Chúa Kitô của chúng ta là một người lao động, một
người lao động chân tay. Một thứ hoạt động mà cả một thời cổ
xa xưa dành cho hạng nô lệ, được Thiên Chúa chọn lấy để
chứng tỏ Ngài gần gũi với loài người. Một “Giáo Hội của
người nghèo”, trong cảnh cực nhọc của loài người và trong
niềm hy vọng của một thế giới mới, trong lao động vất vả
cũng như trong tạo dựng hân hoan, Giáo Hội thông phần với
sức động lực của sự chết và phục sinh của chính Đấng hành
động trong tâm hồn con người, thông phần với sự tiến bộ của
thế giới, bằng uy lực của Thần Linh Chúa.
GÉRARD DEFOIS
Tổng thư ký Hội đồng Giáo Mục Pháp
525
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 526
MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU của Gérard Defois, Tổng Thư Ký Hội
Đồng Giám Mục Pháp. (5)
I. NHẬP ĐỀ.
1. Lao động của con người 90 năm sau thông điệp
Rerum Novarum. (13)
2. Trong thế chuyển khai cơ hữu về hành động và lời
giáo huấn xã hội của giáo hội. (15)
3. Vấn đề lao động, chủ chốt của vấn đề xã hội. (18)
II. LAO ĐỘNG VÀ CON NGƯỜI.
4. Trong Sách Sáng Thế. (20)
5. Lao động theo nghĩa khách quan:Kỹ thuật chuyên môn. (22)
6. Lao động theo nghĩa chủ quan:Con người, chủ thể của
lao động. (25)
7. Mối đe dọa đối với hệ thống đích thực của các giá trị.
(28)
8. Sự liên đới của các người lao động. (30)
9. Lao động va phẩm giá của con người. (34)
10. Lao động và xã hội: Gia đình, quốc gia. (37)
III. CUỘC TRANH CHẤP GIỮA LAO ĐỘNG VÀ TƯ BẢN.
527
TRONG GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ HIỆN TẠI.
11.Chiều kích cuộc tranh chấp. (39)
12.Ưu tiên của lao động. (42)
13.Chủ thuyết duy kinh tế và chủ thuyết duy vật. (46)
14.Lao động và sở hửu. (50)
15.Luận cứ nhân vị. (54)
IV. QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG.
16.Trong lãnh vực rộng lớn của nhân quyền. (56)
17.Chủ thuê:“gián tiếp” và “trực tiếp”. (58)
18.Vấn đề kiếm việc làm. (60)
19.Lương bổng và các chiếu cố xã hội. (64)
20.Sự quan trọng của các nghiệp đoàn. (67)
21.Phẩm cách của lao động nông nghiệp. (71)
22.Người tật nguyền và lao động. (73)
23.Lao động và vấn đề di trú. (75)
V.NHỮNG YẾU TỐ ỨNG DỤNG CHO MỘT NỀN ĐẠO
ĐỨC CỦA LAO ĐỘNG.
24.Vai trò đặc biệt của giáo hội. (76)
25.Lao động việc tham dự vào công cuộc của Đấng Tạo
Hóa. (77)
26 Đức Kitô: con người của lao động (81)
27. Lao động của con người dưới ánh sáng của thập giá và
phục sinh của Đức Kitô (84)
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 528
Thông Điệp
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI
của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
Cùng anh chị em đáng kính,
Cùng các con yêu dấu
xin gửi lời chào và chúc lành Tòa Thánh.
Chính nhờ lao động mà con người kiếm ra được lương
thực hằng ngày và đóng góp vào sự tiến bộ liên tục của khoa
học kỹ thuật và nhất là làm cho cộng đồng xã hội anh em của
mình luôn luôn thăng tiến về văn hóa và đạo đức. Danh từ
“lao động” hiểu là tất cả mọi việc làm cho con người hoàn
thành dưới bất cứ hình thức đặc biệt và hoàn cảnh nào; nói
cách khác, giữa muôn vàn sinh hoạt phong phú mà người ta,
hễ đã là người do bản tính bẩm sinh của mình vẫn có khả
năng, thì tất cả hoạt động nào có thể và phải coi là công việc
làm ăn, đều là lao động cả. Con người được tạo dựng theo
hình ảnh giống như chính Thiên Chúa để sống trong thế giới
hữu hình và được đặt trong thế giới này để làm chủ trái đất ;
vì thế, ngay từ đầu con người đã được kêu gọi để lao động.
Lao động là một trong những đặc tính phân biệt con người với
tất cả tạo vật khác mà hoạt động, vì chỉ liên hệ với vấn đề
sống còn, nên không thể được gọi là lao động. Chỉ có con
người mới có khả năng lao động. Chỉ có con người mới thực
hiện được lao động, và chính vì vậy, nhờ lao động, con người
mới gây dựng cuộc sống mình trên trái đất. vì thế, lao động
mang dấu chỉ riêng của con người và của nhân loại, dấu chỉ
của một người hành động trong một cộng đồng nhân loại; và
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 529
dấu chỉ đó xác định phẩm chất nội tại của họ; hiểu theo một ý
nghĩa nào đó, dấu chỉ này tạo thành chính bản chất con người.
I. NHẬP ĐỀ
1. Lao động của con người.
90 năm sau thông điệp rerum novarum.
Vào ngày 15 tháng 5 năm nay, 90 năm trôi qua kể từ
ngày đức Lêô XIII, vị Giáo Hoàng vĩ đại của “vấn đề xã hội”,
đã ban hành bức thông điệp có tầm quan trọng quyết định bắt
đầu bằng hai tiếng Rerum novarum. Vì thế tôi muốn dành tài
liệu này để trình bày về lao động của con người; hơn thế nữa,
tôi muốn cống hiến nó cho con người trong khung cảnh rộng
lớn mênh mông của thực tại là vấn đề lao động. Quả vậy, như
tôi đã nói trong bức thông điệp Redemptor homonis được
công bố vào những ngày tôi bắt đầu phục vụ trên tông tòa
Roma của Thánh Phêrô. “Con người là con đường đầu tiên và
là con đường căn bản của Giáo Hội”. căn cứ vào mầu nhiệm
khôn dò là mầu nhiệm Cứu chuộc trong Đức Kitô, chúng ta
phải luôn luôn trở lại và luôn luôn tiến trên con đường ấy, tùy
theo những hình thái khác nhau mà con đường ấy trình bày
cho ta tất cả sự phong phú cũng như tất cả những khó khăn
của đời sống con người trên trái đất.
Lao động là một trong những khía cạnh ấy, một khía
cạnh thường xuyên và căn bản, luôn luôn hiện tại và không
ngừng đòi hỏi chúng ta chú tâm trở lại và quyết tâm trở thành
những chứng nhân. Luôn luôn có những câu hỏi mới, những
vấn đề mới được đặt ra, và những vấn đề ấy luôn làm nảy
sinh những niềm hy vọng mới, nhưng đồng thời cũng tạo ra
niềm sợ hãi, những mối đe dọa gắn liền với kích thước căn
bản của đời sống loài người; nhờ kích thước đó, sự sống con
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 530
người được xây dựng mỗi ngày và tìm thấy trong đó chính
phẩm giá đặc biệt của mình, nhưng đồng thời trong đó cũng
bao hàm thường xuyên phần cực nhọc của con người, phần
đau khổ, sự thiệt hại, sự bất công ăn rễ sâu vào đời sống mỗi
quốc gia và giữa các quốc gia. Nếu quả thật con người kiếm
sống bằng đôi tay, nghĩa là nuôi sống mình không những bằng
lương thực nuôi thân xác mà cả bằng chất bồi dưỡng của khoa
học, tiến bộ, văn minh và văn hóa, thì cũng có một điều
không kém hiển nhiên là họ phải tìm kiếm lương thực ấy
bằng chính mồ hôi trán của mình, nói cách khác, bằng sự cố
gắng và lao nhọc bản thân giữa không biết bao nhiêu tình
trạng căng thẳng tranh chấp và khủng hoảng. Những việc ấy
liên kết với thực tại của lao động khiến cho đời sống của mỗi
xã hội và của cả nhân loại bị xáo trộn.
Chúng ta mừng kỷ niệm 90 năm, ngày ban hành thông
điệp Rerum novarum vào một lúc sắp có những phát triển của
những điều kiện chuyên môn, kinh tế và chính trị, và theo
nhiều nhà chuyên gia, những phát triển này sẽ có ảnh hưởng
đến thế giới lao động và sản xuất không kém gì cuộc cách
mạng kỹ nghệ của thế kỷ trước. Ta thấy xuất hiện những dữ
kiện có tầm phổ quát như : vấn đề tự động hóa trở thành phổ
biến trong nhiều lĩnh vực sản xuất, việc giá cả năng lượng và
các nguyên liệu gia tăng; việc con người ý thức sâu xa hơn về
tính cách hạn chế của di sản thiên nhiên của mình và tình
trạng ô nhiễm quá đáng; việc có nhiều dân tộc sau bao năm bị
đô hộ, nay xuất hiện trên chính trường đòi chỗ đứng cho họ
và yêu cầu được hỏi ý kiến trong những quyết định có tính
cách quốc tế. Những điều kiện và đòi hỏi mới đó buộc phải
tổ chức và sắp xếp lại các cơ cấu kinh tế hiện nay cũng như
vấn đề phân phối lao động. Nhưng tiếc thay, đối với hàng
triệu người có tay nghề, những thay đổi như thế dẫn đến sự
thất nghiệp, ít ra tạm thời, hoặc họ học lại một nghề mới; đối
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 531
với những nước phát triển hơn, vấn đề thay đổi ấy có thể sẽ
khiến cho vấn đề phúc lợi bị giảm bớt đi hoặc phát triển chậm
hơn; tuy nhiên, đối với hàng triệu người sống trong cảnh khốn
cùng tủi nhục và bất xứng thì những thay đổi này mang cho
họ niềm an ủi và hy vọng.
Giáo hội không có nhiệm vụ phân tách một cách khoa
học những hậu quả khả dĩ có thể có của những biến đổi trên
đối với đời sống của xã hội loài người, nhưng cảm thấy có
bổn phận luôn nhắc nhở người ta nhớ đến phẩm giá và quyền
lợi của người lao động, phải lên án những điều kiện trong đó
có quyền lợi này bị vi phạm và phải đóng góp phần mình
trong việc hướng những biến đổi này sao cho bảo đảm sự tiến
bộ của con người và của xã hội.
2. Trong thế triển khai cơ hữu về hành động và
lời giáo huấn xã hội của giáo hội.
Có một điều chắc chắn là: lao động là vấn đề của con
người nằm ngay trung tâm của vấn đề xã hội. Trong gần trăm
năm qua, kể từ ngày bức thông điệp nói trên được ban hành,
các giáo huấn của Giáo Hội cũng như bao nhiêu sáng kiến mà
Giáo Hội đưa ra đều hướng về đó. Khi tôi muốn chú tâm đến
vấn đề lao động với những suy tư sau đây, tôi không chú ý
trình bày độc đáo mà chỉ muốn trước nhất nêu rõ: những suy
tư đó có liên hệ cơ hữu với tất cả truyền thống của lời giáo
huấn và các sáng kiến vừa nói. Đồng thời tôi làm việc này
theo hướng của Tin Mừng đã rút ra từ trong di sản của Tin
Mừng cả cái cũ lẫn cái mới. Điều ta có thể chắc chắn là: lao
động là vấn đề “xưa cũ”, xưa cũ không kém gì con người trên
trái đất. Tuy nhiên, hoàn cảnh con người trong thế giới ngày
nay, nếu căn cứ vào chẩn đoán và phân tích dưới các khía
cạnh: địa lý, văn hóa, văn minh thì hoàn cảnh đó đòi hỏi
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 532
chúng ta phải khám phá ra những ý nghĩa mới của lao động
con người và xác định những nhiệm vụ mới phải làm, vì ở
trong lãnh vực này, đó là những vấn đề đặt ra cho con người,
mỗi gia đình, cho mỗi quốc gia riêng biệt, cho toàn thể nhân
loại, và cuối cùng cho chính Giáo Hội.
Trong những năm qua, kể từ ngày công bố thông điệp
Rerum novarum, vấn đề xã hội luôn luôn được Giáo Hội quan
tâm đến. Chúng ta có nhiều chứng từ trong những tài liệu của
Huấn quyền, hoặc của các vị Giáo Hoàng hoặc của công
đồng Vaticanô II; chúng ta có những chứng từ nơi hàng Giám
Mục; chúng ta có những chứng từ qua hoạt động của nhiều
trung tâm tư tưởng và những sáng kiến tông vụ cụ thể, hoặc
trên bình diện quốc tế hoặc trên bình diện các Giáo Hội địa
phương. Ở đây thật khó liệt kê một cách chi tiết tất cả những
hành động và việc biểu lộ sự dấn thân tận tình của Giáo Hội
và của người kitô hữu vào lãnh vực xã hội, vì chúng quá
nhiều. Một trong những kết quả của công đồng là việc thành
lập Uỷ ban Giáo Hoàng “Công Lý và hòa bình” (justitia et
pax), một uỷ ban đã trở thành trung tâm điều hợp chính yếu
trong lãnh vực này cùng với những cơ quan cùng với tổ chức
tương ứng thuộc phạm vi hoạt động của Hội Đồng Giám Mục.
Danh xưng của uỷ ban rất có ý nghĩa và chỉ rõ rằng vấn đề xã
hội cần được giải quyết một cách toàn bộ, trong toàn thể
chiều kích của nó. Việc dấn thân hoạt động cho công lý cần
liên kết chặt chẽ với việc dấn thân cho hoạt động hòa bình
trong thế giới hiện đại. Một bài học đau đớn khiến chúng ta
phải dấn thân cả hai phương diện đó là hai trận chiến, trong
90 năm qua, đã làm đảo lộn biết bao quốc gia không những
thuộc lục địa Châu Âu mà một phần của các lục địa khác nữa,
đặc biệt xảy ra trong trận thế chiến thứ hai, là hiểm họa
thường xuyên của một cuộc chiến tranh nguyên tử và viễn
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 533
ảnh của một sự tự hủy diệt ghê gớm hậu quả của cuộc chiến
tranh nầy.
Nếu chúng ta theo đúng đường hướng triển khai của các
tài liệu thuộc lời giáo huấn tối cao của Giáo Hội, chúng ta sẽ
thấy chính trong đó sự công khai xác nhận lối đặt vấn đề như
vậy. Vị trí cốt yếu liên quan vấn đề hòa bình trên thế giới,
chính là vị trí thông điệp Pacem in terris của Đức Gioan XXIII.
Ngoài ra nếu xét đến phương diện biến hóa của vấn đề công
lý xã hội, người ta sẽ thấy rằng, trong thời gian từ thông điệp
Quadragesimo anno của Đức Piô XI, giáo huấn của Giáo Hội
đặc biệt chú trọng đến việc giải quyết vấn đề thợ thuyền một
cách công bằng trong khung cảnh những quốc gia riêng biệt;
còn trong giai đoạn sau đó, lời giáo huấn mở rộng nhãn giới,
bao quát cả thế giới. Sự phân phối không đồng đều về của cải
và sự khốn cùng, hiện tượng có nhiều quốc gia , đại lục phát
triển và những quốc gia, đại lục không phát triển, những sự
việc ấy đòi hỏi có sự quân phân cho đều và phải tìm biện
pháp làm sao cho tất cả có thể phát triển một cách công bằng.
Đó là hướng đi của lời giáo huấn chứa trong thông điệp Mater
et Magistra của Đức Gioan XXIII, trong hiến chế mục vụ
Gaudium et Spes của Công đồng Vat.II và trong thông điệp
Populorum Progressio của Đức Phaolô VI.
Thế khai triển của lời giáo huấn và hành động dấn thân
của Giáo hội trong vấn đề xã hội hoàn toàn thích ứng với sự
quan sát khách quan những tình trạng thực tế. Ngày xưa, tại
trung tâm vấn đề, người ta làm nổi bật vấn đề “giai cấp” còn
mới đây, vấn đề “thế giới” được đưa lên hàng đầu. Vì thế,
người ta không chỉ quan tâm đến cái khung cảnh giai cấp, mà
người ta chú ý đến khung cảnh của những tình trạng không
đồng đều, những bất công trên bình diện thế giới, và do đó,
không chỉ còn chú trọng nguyên đến chiều kích của giai cấp
mà chú tâm đến chiều kích thế giới của những nhiệm vụ phải
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 534
làm để tiến tới một tình trạng công bằng hơn trong một thế
giới hiện đại. Việc phân tách đầy đủ về tình trạng thế giới
ngày nay làm nổi bật ý nghĩa trước đây của những bất công
xã hội một cách hiển nhiên, sâu xa và trọn vẹn hơn, một ý
nghĩa mà ngày nay phải đem làm ứng dụng vào những nỗ lực
cố gắng thiết lập nền công bình trên thế giới, song không
phải vì thế mà che dấu những cơ cấu tổ chức bất công, trái lại
phải cứu xét và biến đổi chúng trên một bình diện, tỷ lệ phổ
quát hơn.
3. Đề tài lao động, then chốt của vấn đề xã hội.
Giữa tất cả các diễn tiến này – kể cả việc chẩn đoán về
thực tại xã hội khách quan cũng như lời giáo huấn của Giáo
hội trong vấn đề xã hội, một vấn đề phức tạp và đa diện – lao
động của con người là vấn đề tự nhiên xuất hiện thường
xuyên nhất. Hiểu theo một nghĩa riêng, nó là một thành phần
cố định trong lời giáo huấn của Giáo hội cũng như trong đời
sống xã hội. Ngoài ra, trong lời giáo huấn đó, vấn đề này
được lưu tâm tới từ lâu trước 90 năm qua. Quả vậy, giáo lý về
xã hội của giáo hội bắt nguồn từ trong Kinh Thánh, bắt đầu từ
Sáng Thế, và đặc biệt trong Tin Mừng và trong các văn bản
của các Thánh Tông Đồ. Ngay từ đầu, giáo lý ấy nằm trong
giáo huấn của Giáo hội, trong quan niệm của Giáo hội về con
người và về đời sống xã hội, đặc biệt là trong nền đạo đức xã
hội được dày công xây dựng tùy theo nhu cầu từng thời kỳ
khác nhau. Di sản truyền thống này sau đó trở thành gia
nghiệp và được khai triển bằng lời giáo huấn của các vị Giáo
Hoàng về vấn đề xã hội hiện đại, và khởi đầu bằng thông
điệp Rerum novarum. Trong phần nội dung của vấn đề này,
đề tài lao động luôn được đào sâu, rọi sáng thêm mỗi ngày,
nhưng căn bản bao giờ cũng vẫn là chân lý Kitô giáo mà ta có
thể coi như một căn bản trường tồn.
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 535
Trong tài liệu này, chúng ta trở lại vấn đề trên – nhưng
không cốt ý trình bày tất cả các khía cạnh, chúng ta không
muốn nhắc lại những gì đã bao hàm trong lời giáo huấn của
giáo hội, mà muốn làm nổi bật hơn bao giờ hết sự việc này:
lao động của con người là then chốt, có lẽ là then chốt quan
yếu của tất cả vấn đề xã hội, nếu chúng ta quan sát nó dưới
khía cạnh lợi ích của con người. Giải quyết một vấn đề, hay
nói đúng hơn giải quyết từng bước vấn đề xã hội, gặp thường
xuyên và ngày càng phức tạp, là nỗ lực cố gắng “làm cho đời
sống con người trở nên con người hơn”, thì vấn đề lao động
của con người đúng là then chốt có tầm quan trọng chủ yếu
và quyết định.
II. LAO ĐỘNG VÀ CON NGƯỜI
4. Trong sách Sáng thế
Giáo hội xác tín rằng lao động mang một tầm vóc cốt
yếu trong đời sống của con người trên trái đất. Niềm tin ấy
càng thêm vững chắc nhờ căn cứ vào toàn bộ di sản của các
ngành khoa học nghiên cứu về loài người như: nhân loại học,
cổ sinh vật học, sử học, xã hội học, tâm lý học v.v…tất cả các
ngành khoa học ấy hầu như chứng minh thực tại đó một cách
hết sức chắc chắn , tuy nhiên, trước hết Giáo hội có được
niềm xác tín đó nhờ ở Lời mạc khải của Thiên Chúa, và vì thế
niềm xác tín của Giáo hội vừa là một niềm xác tín của tri thức
vừa là một niềm xác tín của đức tin. Lí do là vì – đây là điều
chúng ta nên lưu ý tới ngay từ bây giờ – Giáo hội tin tưởng
vào con người: Giáo hội nghĩ tới con người, ngỏ lời với con
người, không những dựa vào ánh sáng của kinh nghiệm lịch
sử hoặc dựa vào các phương pháp của tri thức khoa học, mà
nhất là còn dựa vào lời mạc khải của Thiên Chúa hằng sống.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 536
Giáo hội đề cập đến con người và tìm cách diễn tả những ý
định muôn đời và những vận mệnh siêu việt mà Thiên Chúa
hằng sống là Đấng Tạo hóa và là Đấng Cứu chuộc, đã gắn
liền vào với con người. Giáo hội tìm thấy ngay trong những
trang đầu của sách Sáng thế niềm xác tín rằng: lao động là
một chiều kích căn bản của đời sống con người trên trái đất.
Khi phân tích đoạn văn này, chúng ta ý thức được rằng ngay
cả trong mầu nhiệm tạo thành, những đoạn văn ấy cũng đã
biểu lộ những chân lí căn bản về con người – thỉnh thoảng với
một hình thức diễn tả cổ sơ. Đó là những chân lí quyết định số
phận của con người ngay từ những ngày đầu và đồng thời
cũng diễn tả các đường nét chính của đời sống con người trên
trần gian, không những trong tình trạng công chính nguyên
thủy mà cả trong tình trạng tội lỗi đã phá vỡ giao ước nguyên
thủy giữa Đấng Tạo hóa và tạo vật. Khi con người, được tạo
dựng “giống hình ảnh của Thiên Chúa…, cả nam lẫn nữ”,
nghe lời Chúa phán bảo “Hãy sinh sản, gia tăng thêm nhiều
đầy dẫy trái đất và hãy bắt nó phục tùng” thì mặc dầu những
lời đó không trực tiếp hay minh nhiên nói đến vấn đề lao
động, chúng vẫn cũng ám chỉ một cách gián tiếp đến lao
động, coi như đó là một hoạt động của con người trên trần
gian. Hơn thế nữa, chúng còn chứng tỏ một cách rõ ràng bản
chất sâu xa của lao động. Sở dĩ con người là hình ảnh Thiên
Chúa, nhất là vì họ được Đấng tạo hóa uỷ nhiệm cho việc
khuất phục và cai trị cả trái đất. Khi thi hành lời uỷ nhiệm đó,
mọi người phản ảnh chính công việc làm của Đấng tạo thành
vũ trụ.
Lao động được coi như một “hành động ngoại thi” có
nghĩa là nó bắt nguồn từ một chủ thể là con người, nhưng
hướng về một đối tượng bên ngoài. Vì thế phải hiểu : lao
động chính là việc con người chế ngự “trái đất” một cách đặc
biệt, con người xác định và phát triển sự chế ngự đó. Đành
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 537
rằng, danh từ “trái đất” nói trong Kinh Thánh trước hết chỉ
một phần vũ trụ hữu hình, nơi con người sinh sống, song hiểu
rộng ra, nó chỉ tất cả cái thế giới hữu hình nằm dưới tầm ảnh
hưởng của con người, nhất là khi con người hành động theo
nhu cầu của họ. Từ ngữ “hãy bắt trái đất phục tùng” có tầm
giá trị vô biên. Nó chỉ tất cả mọi tài nguyên mà trái đất (và
gián tiếp là cả thế giới hữu hình) chứa đựng bên trong và con
người có thể dùng hoạt động tri thức của mình để khám phá
và sử dụng theo ý của họ. Chính vì thế nên những lời này, đặt
ngay nơi trang đầu của bộ Kinh Thánh, luôn luôn có giá trị
hiện tại. Nó áp dụng không những cho các thời đại văn minh,
kinh tế đã qua mà cho tất cả những giai đoạn phát triển sắp tới
có lẽ lúc này mới khởi sự thành hình, nhưng hiện thời phần
lớn như còn ẩn tàng, chưa được con người biết tới.
Thỉnh thoảng người ta có nói đến những giai đoạn “gia
tốc” trong đời sống kinh tế trong nền văn minh của nhân loại
hay của một số quốc gia, nghĩa là những giai đoạn tiến bộ đặc
biệt của khoa học, kỹ thuật và nhất là những khám phá có
ảnh hưởng quyết định tới đời sống kinh tế, xã hội, nhưng có
thể nói là không một giai đoạn “gia tốc” nào vượt quá nội
dung cốt yếu đã được trình bày trong đoạn văn rất cổ nói trên
của kinh Thánh. Khi dùng sức lao động để trở nên chủ nhân
có uy quyền hơn trên trái đất và khi sử dụng sức lao động để
củng cố uy quyền của mình trên thế giới hữu hình, thì trong
mỗi bước tiến tới, mỗi giai đoạn tiến bộ, con người luôn luôn
nằm trên con đường mà Đấng tạo hóa đã vạch ra từ hồi
nguyên thủy; chương trình kế hoạch của Đấng tạo hóa được
nhất thiết gắn liền chặt chẽ với sự kiện này là: con người,
nam và nữ, đã được tạo dựng “Giống hình ảnh của Thiên
Chúa” đây là một diễn tiến có tính cách phổ quát, vì nó liên
quan tới tất cả mọi người, mọi thế hệ. Mọi giai đoạn phát triển
kinh tế và văn hóa; đồng thời đây cũng là một diễn tiến được
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 538
thực hiện trong mỗi một con người, một vật thụ tạo có ý thức.
Diễn tiến đó liên quan đến tất cả, đến mỗi một người. Mọi
người và từng người, tùy theo một chiều kích thích ứng và
dưới muôn vàn thể thức, đều tham dự vào diễn tiến khổng lồ,
trong đó con người “bắt trái đất phải phục tùng” bằng sức lao
động của họ.
5. Lao động theo ý nghĩa khách quan: kỹ thuật
chuyên môn.
Đặc tính phổ quát và đa dạng của diễn tiến “Con người
bắt trái đất phục tùng” làm nổi bật giá trị lao động của con
người, lý do vì việc con người chế ngự trái đất được thể hiện
trong sự lao động, và nhờ lao động. Từ đó, ta thấy xuất hiện ý
nghĩa của lao động hiểu theo nghĩa khách quan, ý nghĩa đó
được biểu lộ tùy theo mỗi giai đoạn của nền văn hóa và văn
minh. ngay từ buổi sơ khai, con người đã chế ngự trái đất bằng
cách thuần hóa loài vật, nuôi chúng và bắt chúng phải cung
cấp của ăn áo mặc, và cũng bằng khai thác từ lòng đất, biển
cả những tài nguyên thiên nhiên. Dần dần về sau sự chế ngự
ấy gia tăng khi con người biết cách gieo trồng, cày cấy và khi
biết biến chế các sản phẩm để thích ứng với nhu cầu của họ.
Và như thế, nông nghiệp đã trở thành một ngành sơ khai của
hoạt động kinh tế, nhờ lao động của con người, nông nghiệp
là một nhân tố cần yếu của sản xuất. Và sau đó đến lượt kỹ
nghệ, một ngành hoạt động phối hợp các tài nguyên của trái
đất- các tài nguyên còn nguyên chất của thiên nhiên, các
nông sản, các tài nguyên khoáng sản và hóa chất- với sức lao
động chân tay và trí óc của con người. Cả nền kỹ nghệ phục
vụ cũng như trong ngành nghiên cứu thuần túy hay ứng dụng
cũng tương tự như thế.
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 539
Ngày nay, trong ngành kỹ nghệ và nông nghiệp, có rất
nhiều trường hợp, hoạt động của con người không là hoạt
động chân tay nữa bởi vì chân tay và bắp thịt đỡ phải vất vả
mệt nhọc nhờ việc sử dụng các máy móc, cơ khí mỗi ngày
một hoàn bị hơn. Trong kỹ nghệ và ngay cả trong nông
nghiệp, chúng ta đã chứng kiến những biến đổi do sự phát
triển đều đặn và không ngừng của khoa học và kỹ thuật. Xét
chung, về phương diện lịch sử, sự kiện này tạo ra những bước
ngoặc quan trọng của nền văn minh, kể từ đầu “kỷ nguyên kỹ
nghệ” đến các giai đoạn phát triển tiếp theo đó nhờ những kỹ
thuật mới như điện tử hoặc các máy vi phát trong những năm
gần đây.
Người ta có thể cho rằng trong diễn tiến kỹ nghệ, chính
máy móc mới “làm việc”, còn con người chỉ có việc kiểm soát
máy, giúp nó vận hành hoặc trợ giúp nó cách này hay cách
khác; nhưng thực sự chính sự kiện đó mà sự phát triển kỹ
nghệ đặt ra một cái mốc khởi hành để có thể đặt lại lao động
một cách mới mẻ. Việc kỹ nghệ hóa đầu tiên đã tạo ra vấn đề
lao động cũng như những biến đổi giai đoạn kỹ nghệ và hậu
kỹ nghệ xảy ra sau đó chứng minh một cách hết sức rõ ràng,
ngay trong giai đoạn “lao động” cơ khí hóa thêm mãi, chủ thể
thực sự của lao động vẫn là con người. Sự phát triển của kỹ
nghệ và các ngành liên hệ, kể cả những kỹ thuật mới mẻ
nhất của điện tử, đặc biệt là trong lãnh vực vi hóa, điện toán,
điện thư…,tất cả đều chứng minh rằng, trong giai đoạn cộng
hưởng giữa chủ thể và đối tượng của lao động (hiểu theo
nghĩa rộng nhất) kỹ thuật, một thứ đồng minh của lao động do
tư tưởng của con người tác tạo ra, đóng một vai trò rộng lớn
quan trọng như thế nào ? trong trường hợp này, nếu kỹ thuật
được hiểu là toàn bộ những dụng cụ con người đem sử dụng
trong lao động chứ không phải là một khả năng hay một tài
năng lao động, thì quả thực, kỹ thuật đúng là một đồng minh
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 540
của con người. Kỹ thuật làm cho lao động dễ dàng hoàn bị
hơn, nhanh chóng hơn và nhiều hơn. Kỹ thuật giúp cho sản
phẩm của lao động thêm nhiều hơn và phẩm chất của phần
đông cũng tốt hơn . Ngoài ra có sự kiện này là: Trong một số
trường hợp việc cơ khí hóa lao động, đã “hất chân” con người
bằng cách khiến cho họ mất hết niềm thỏa mãn riêng, hết
mọi phát huy sáng kiến hết tinh thần trách nhiệm, khi nó làm
cho nhiều người thợ không còn việc làm hoặc khi vì quá đề
cao máy móc, con người trở thành nô lệ của máy móc.
Nếu từ ngữ của Kinh Thánh “Hãy bắt trái đất phục
tùng” mà con người được nghe từ thuở ban đầu được hiểu
trong khung cảnh của toàn thể thời đại kỹ nghệ và hậu kỹ
nghệ ngày nay, thì nhất định nó cũng mang ý nghĩa một mối
liên quan với kỹ thuật, với thế giới của cơ khí hóa và máy
móc, một mối liên hệ kết quả lao động trí óc con người và
xác định tính cách lịch sử việc con người chế ngự thiên nhiên.
Thời đại mới đây của lịch sử nhân loại và đặc biệt của
một vài xã hội, tự nó cũng xác minh : Kỹ thuật là một nhân tố
cốt yếu của tiến bộ kinh tế; nhưng đồng thời chính sự xác
minh ấy đã và còn luôn luôn làm phát sinh ra những vấn đề
có liên hệ tới sự lao động của con người, xét về khía cạnh
những tương quan của nó đối với chủ thể là chính con người.
Những vấn đề này bao hàm một toàn bộ riêng biệt những
nhân tố và những vấn đề gay cấn có tính cách đạo đức và cả
tính cách đạo đức xã hội nữa. Vì thế chúng thường xuyên trở
thành một thách đố đối với nhiều cơ cấu tổ chức, đối với các
quốc gia và chính phủ, đối với các chế độ và tổ chức quốc tế
và đồng thời cũng là thách đố đối với giáo hội.
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 541
6. Lao động theo nghĩa chủ quan :
con người, chủ thể của lao động.
Muốn tiếp tục việc phân tách về vấn đề lao động bằng
cách dựa vào Kinh Thánh (theo đó con người phải chế ngự
trái đất), chúng ta phải chú trọng vào ý nghĩa chủ quan của lao
động. Chú trọng nhiều hơn là vào ý nghĩa khách quan : chúng
ta thực sự chỉ mới lướt qua vấn đề rộng rãi lớn lao này, một
vấn đề mà các chuyên gia thuộc nhiều ngành và cả những
người thuộc giới lao động hoàn toàn hiểu rõ từng chi tiết, mỗi
người hiểu theo lãnh vực mình. Trong việc phân tách trên
đây, những lời trong sách sáng thế mà ta trích dẫn chỉ nói một
cách gián tiếp đến lao động hiểu theo nghĩa khách quan, và
khi nói đến chủ thể của lao động thì cũng nói gián tiếp như
thế; tuy nhiên, điều mà những lời Kinh Thánh nói lên rất
hùng biện và súc tích ý nghĩa.
Con người phải chế ngự trái đất, phải bắt nó phục tùng,
vì họ là “hình ảnh của Thiên Chúa”, họ là một nhân vị, nghĩa
là một chủ thể, một chủ thể có khả năng hành động một cách
có kế hoạch và hợp lý, có khả năng tự quyết định và hướng
tới sự thành tựu của bản thân mình. Chính vì là một nhân vị,
nên con người mới là chủ thể của lao động, bất kể nội dung
khách quan của nó như thế nào, các hoạt động này phải thực
hiện nhân tính của con người và hoàn thành thiên chức của
một nhân vị hay ơn gọi làm người của mình. Nhưng chân lý
chính yếu về vấn đề này mới đây đã được cộng đồng
Vaticanô II nhắc lại trong hiến chế Gaudium et spes, đặc biệt
nơi chương I nói về thiên chức của con người.
Vì thế vấn đề “chế ngự” được nói đến trong đoạn Kinh
Thánh mà ta suy ngẫm nơi đây không phải chỉ liên quan đến
khía cạnh khách quan của lao động, mà nó còn đồng thời giúp
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 542
ta hiểu cả tầm vóc chủ quan của nó nữa. Sự lao động được
hiểu theo một diễn tiến, theo đó con người và nhân loại chế
ngự trái đất, lao động ấy chỉ tương ứng với ý niệm căn bản
của Kinh Thánh khi trong suốt diễn tiến đó, con người đồng
thời cũng biểu hiện và tự xác định rằng mình là người “làm
chủ” hiểu theo một ý nghĩa nào đó, sự chế ngự này liên quan
đến khía cạnh chủ quan nhiều hơn khía cạnh khách quan :
khía cạnh đó là điều kiện của tính chất đạo đức của lao động.
Quả vậy, có một điều không nghi ngờ là lao động con người
có giá trị đạo đức trực tiếp gắn liền, không qua trung gian nào,
với sự việc này là : người thực hiện lao động ấy là một nhân
vị, một chủ thể có ý thức và tự do, nghĩa là một chủ thể tự
quyết định.
Có thể nói : chân lý này là điểm trung tâm và thường
trực của giáo lý Kitô Giáo về lao động của con người; chân lý
đó đã và đang tiếp tục có một ý nghĩa căn bản cho việc đặt ra
những vấn đề xã hội quan trọng trong suốt các thời đại.
Trong thời đại cổ, con nười được phân chia một cách
đặc thù thành từng nhóm tùy theo việc làm. Người ta giao cho
nô lệ làm những công việc đòi hỏi phải sử dụng sức mạnh
thân xác, phải sử dụng đến chân tay và bắp thịt, vì người ta
cho sự lao động ấy không xứng đáng đối với người tự do. Kitô
giáo đã mở rộng tầm nhìn có sẵn trong cựu ước và đem lại
một sự thay đổi căn bản các quan niệm, tuy là Thiên Chúa, đã
trở nên hoàn toàn giống chúng ta đã hiến phần lớn đời mình
ở trần gian cho lao động chân tay nơi xưởng mộc của mình.
Hoàn cảnh này, tự nó, chính là một “Tin Mừng” hùng hồn
nhất “về lao động”. Do đó, căn bản giúp chúng ta xác định giá
trị của lao động con người không phải cốt ở loại việc làm mà
ở sự kiện này : người làm công việc ấy là một người. Nguồn
gốc phẩm giá của lao động không thể tìm thấy nơi chiều kích
khách quan nhưng phải tìm nơi chiều kích chủ quan của nó.
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 543
Với quan niệm như thế, đương nhiên người ta không
còn có thể chấp nhận căn bản xưa được dùng để phân biệt
loài người thành từng nhóm, dựa theo loại công việc họ làm
điều đó không có nghĩa rằng không bao giờ có thể hoặc nên
định giá lao động con người về phương diện khách quan. Điều
đó chỉ có nghĩa rằng căn bản đầu tiên dùng để định giá lao
động là chính con người, là chủ thể của lao động. Ngay tại
đây ta có thể rút ra một kết luận rất quan trọng có tính chất
đạo đức : mặc dầu con người được chỉ định và kêu gọi lao
động thật, nhưng trước hết có lao động là “vì con người” chứ
không phải con người sinh ra cốt “để lao động”. Xuất phát từ
kết luận này, chúng ta đương nhiên sẽ phải công nhận tính
cách ưu việt của ý nghĩa chủ quan của lao động đối với ý
nghĩa khách quan của nó. và cũng xuất phát nhìn sự việc trên
đây, cộng thêm với việc chấp nhận rằng các công việc làm do
con người thực hiện có thể có ít nhiều giá trị khách quan,
chúng ta tìm cách để xác minh rằng: mỗi công việc đó phải
được đánh giá trước hết căn cứ vào tầm vóc giá trị của chủ
thể của chính công việc, nghĩa là giá trị của cá thể, của con
người thực hiện công việc ấy. Mặt khác, bất kể công việc gì
được mọi người làm (và giả dụ rằng, công việc đó trở thành
mục đích hoạt động của họ)- và thỉnh thoảng mục đích này
chiếm hết thời gian, tâm trí họ – thì chính mục đích ấy không
mang trong nó một ý nghĩa quyết định. Và cuối cùng, mục
đích của lao động – dù là công việc hết sức hèn mọn, một lao
động cực kỳ đơn điệu xét theo bậc thang định giá thông
thường, một lao động tầm thường nhất – mục đích ấy bao giờ
cũng là chính con người.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 544
7. Mối đe dọa đối với bậc thang giá trị đích
thực:
Những xác định chủ yếu trên đây về vấn đề lao động
luôn luôn bắt nguồn từ chân lý phong phú của KiTô Giáo,
nhất là từ chính bản sứ điệp của “Tin Mừng lao động” chúng
tạo thành nền tảng của cách suy nghĩ, phán đoán và hành
động mới của con người. Vào thời đại ngày nay, ngay từ đầu
kỷ nguyên kỹ nghệ, chân lý Kitô giáo về lao động phải đối
đầu với những luồng tư tưởng duy vật và duy kinh tế.
Đối với một số người theo các trào lưu tư tưởng này, lao
động được hiểu và đối xử y như một loại “hàng hóa” mà
người lao động và đặc biệt là người thợ trong kỹ nghệ bán
cho người chủ thuê là người đồng thời làm chủ vốn nghĩa là
làm chủ toàn bộ các dụng cụ lao động và những phương tiện
để sản xuất. Cách quan niệm về lao động như vậy có lẽ đặc
biệt phổ biến vào đầu thế kỷ thứ 19. Rồi sau đó, những định
thức minh nhiên thuộc loại này gần như hoàn toàn biến mất
và thay thế vào đó là một lối suy nghĩ và định giá một cách
nhân đạo hơn về lao động. Sự cộng hưởng giữa người lao
động và toàn bộ các dụng cụ, phương tiện sản xuất đã khiến
cho chủ nghĩa tư bản phát triển dưới nhiều hình thức song
song với các hình thức của chủ nghĩa tập thể, trong những
hình thức tư bản có xen vào nhiều nhân tố kinh tế xã hội phát
sinh do những hoàn cảnh thực tế mới, do sự hoạt động của
các liên đoàn thợ thuyền, của các cơ quan chính quyền, do sự
thành lập các đại xí nghiệp siêu quốc gia. Mặc dầu thế, người
ta vẫn thấy cái nguy cơ của khuynh hướng muốn coi lao động
như một thứ “hàng hóa suigeneris” (biệt loại) hoặc như một
thứ “lực lượng” vô danh cần cho sản xuất (có người dùng đến
cả danh từ “lực lao động”) nếu phương pháp trình bày và giải
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 545
quyết các vấn đề về kinh tế dựa trên những nguyên tắc của
“chủ nghĩa kinh tế” duy vật.
Đối với lối suy nghĩ và phán đoán này, cái tạo ra một cơ
hội có hệ thống, hay theo một ý nghĩa nào đó, trở thành một
động cơ kích thích, chính là diễn tiến phát triển gia tốc của
nền văn minh duy vật phiến diện, trong đó người ta quan
trọng hóa khía cạnh khách quan của lao động, trong khi kích
thước chủ quan – nghĩa là tất cả những gì có liên quan trực
tiếp hay gián tiếp với chính chủ thể của lao động đều bị liệt
kê vào hàng thứ yếu. Trong tất cả mọi trường hợp thuộc loại
này và trong mỗi hoàn cảnh xã hội thuộc kiểu đó, thấy xuất
hiện một sự hỗn độn và hơn thế, một sự đảo lộn trật tự đã
được thiết lập từ những ngày đầu do lời trong sách Sáng thế :
Lúc đó con người bị coi như một dụng cụ sản xuất, trong khi
họ – và chỉ mình họ thôi, chứ không kể đến công việc họ làm
– phải được coi như chủ thể hiệu năng, người thợ thực sự và
người tạo thành của công việc đó. Hãy bỏ qua một bên
chương trình, danh xưng của nó, chính ra sự đảo lộn trật tự đó,
hiểu theo ý nghĩa sẽ giải thích rộng rãi dưới đây, phải gọi là
“chủ nghĩa tư bản” mới đúng. Chúng ta biết rõ : chủ nghĩa tư
bản có một ý nghĩa lịch sử được xác định rõ ràng coi như một
chế độ kinh tế xã hội đối lập với “chủ nghĩa xã hội”hoặc
“cộng sản chủ nghĩa”. Nhưng nếu để ý phân tách thực tại căn
bản của tất cả các diễn tiến kinh tế và trước hết của các cơ
cấu tổ chức sản xuất (và chính lao động là như thế đó!) thì ta
nên ghi nhận rằng sự sai lầm của chủ nghĩa tư bản sơ khởi có
thể lại tái diễn bất cứ ở nơi nào mà con người bị xếp ngang
hàng với toàn bộ phương tiện vật chất dùng để sản xuất, bị
coi như một dụng cụ mà đáng lý ra theo đúng giá trị của lao
động phải được coi như một chủ thể, một tác giả, nói cách
khác, như chính mục đích của tất cả tiến trình của sản xuất.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 546
Đặt vấn đề như thế rồi, chúng ta sẽ hiểu rằng : việc dựa
vào ánh sáng của những lời Kinh Thánh liên quan đến quyền
“chế ngự” của con người trên trái đất để phân tách vấn đề lao
động của họ, việc phân tách này xen vào chính trung tâm của
vấn đề đạo đức xã hội. Quan niệm này cũng phải chiếm một
vị trí trung tâm của tất cả địa hạt chính trị kinh tế xã hội, trên
bình diện của những nước khác nhau, cũng như rộng hơn thế,
trên bình diện các mối liên lạc quốc tế và liên lục địa, đặc
biệt dựa vào những tình trạng căng thẳng trên thế giới, không
những giữa Đông-Tây mà cả giữa Nam-Bắc. Bức Thông điệp
Populorum progressio của Đức Phaolô VI đã đặc biệt chú tâm
trên những khía cạnh đó của các vấn đề đạo đức và xã hội
đương thời.
8. Sự liên đới của người lao động
Nói đến lao động của con người, hiểu theo chiều hướng
căn bản của chủ thể, nghĩa là con người trong tư cách một cá
thể thực hiện lao động ấy, ít ra chúng ta cũng phải thử ước
lượng sơ qua những phát triển đã xảy ra trong 90 năm qua kể
từ Thông điệp Rerum novarum, xét trên chiều kích chủ quan
của lao động. Quả vậy, chủ thể của lao động, tức là con
người, lúc nào cũng là một, thế nhưng đã có nhiều thay đổi
đáng kể xảy ra trong khía cạnh khách quan của lao động. Mặc
dù có thể nói rằng, xét về phương diện chủ thể, lao động chỉ
là một (là một với một tính chất không bao giờ có thể kiêm
một cái gì giống hệt như thế), nhưng nếu nghiên cứu các điều
kiện khách quan của nó, ta sẽ thấy có nhiều thứ lao động, có
rất nhiều loại công việc khác nhau. Về lãnh vực này, sự phát
triển của nền văn minh nhân loại là một nhân tố phong phú
hóa liên tục. Tuy nhiên cần phải ghi nhận rằng, trong diễn
tiến của sự phát triển này, trong khi có nhiều hình thức lao
động mới xuất hiện, thì đồng thời cũng có nhiều hình thức cũ
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 547
biến mất. Hãy cứ giả dụ rằng, trên nguyên tắc, đây là một
hiện tượng thông thường, nhưng ta cũng cần tìm hiểu xem liệu
trong hiện tượng đó, có lọt vào một vài sự gì bất thường có
tính sâu xa hay chỉ bên ngoài có thể trở thành nguy hại về
phương diện đạo đức xã hội không.
Chính trong thế kỷ trước, vì có một việc bất thường gây
ra phản ứng quan trọng như thế, nên đã nảy sinh ra vấn đề lao
động mà có người mệnh danh là “vấn đề giai cấp vô sản”.
Vấn đề này, cũng như các vấn đề có liên hệ đã gây ra một
phản ứng xã hội rất chính đáng và làm nảy sinh, có thể nói là
làm bùng lên một mối tình liên đới nhiệt thành giữa các người
lao động, nhất là những người lao động trong ngành kỹ nghệ.
Lời kêu gọi hãy liên kết với nhau và cùng chung sức hành
động được tung ra tới những con người lao động, có giá trị của
nó, một giá trị quan trọng và có một sức mạnh thuyết phục về
phương diện đạo đức xã hội, nhất là khi nó liên quan đến sự
lao động có tính chất khu vực, đơn điệu, phi nhân trong những
phức hợp kỹ nghệ, khi máy móc có khuynh hướng chế ngự
con người.
Đó là sự phản ứng chống lại sự giảm hóa con người,
chủ thể của lao động, chống lại tình trạng bóc lột chưa từng
thấy thường gắn liền vào đó trong lãnh vực lợi nhuận, điều
kiện làm việc và công tác chiếu cố săn sóc cho cá nhân người
lao động. Sức phản ứng đó đã liên kết thế giới công nhân lại
thành một cộng đồng có tinh thần liên đới rất cao.
Nương theo hướng đi của Thông điệp Rerum Novarum
và rất nhiều tài liệu giáo huấn sau đó của Giáo hội, chúng ta
phải thành thật công nhận sự hợp lý về phương diện đạo đức
xã hội của phản ứng chống lại chế độ bất công, tai hại mà
tiếng kêu oan đã vang thấu Trời, thứ chế độ đè nặng trên
người lao động trong giai đoạn kỹ nghệ hóa mau lẹ này. Tình
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 548
trạng xã hội trên đây lại tìm được một môi trường thuận tiện
trong chế độ xã hội chính trị tự do, một chế độ chủ trương
những nguyên tắc kinh tế riêng của những người nắm tư bản,
nhưng lại không chú trọng đầy đủ tới quyền lợi của người lao
động, vì họ khẳng quyết rằng: lao động của con người chỉ là
một dụng cụ sản xuất, rằng: tư bản là nền tảng, là nhân tố và
là mục tiêu của sản xuất.
Kể từ đó, trong nhiều trường hợp, tinh thần liên đới của
các người lao động cộng thêm việc có nhiều người bắt đầu ý
thức rõ ràng hơn và dấn thân hơn để hoạt động cho quyền lợi
của các người lao động, những yếu tố đã tạo ra nhiều thay đổi
sâu xa. Người ta nghĩ ra nhiều thứ chế độ mới, nhiếu hình
thức tân tư bản và tập sản chủ nghĩa được thành hình phát
triển. Trong nhiều trường hợp và ở nhiều nơi, người lao động
được tham gia và thực sự tham gia vào việc quản lý, kiểm soát
công việc sản xuất của xí nghiệp. Với những tổ chức liên
đoàn thích hợp, họ có ảnh hưởng đối với các điều kiện làm
việc cũng như chế độ lương bổng và tới cả nền pháp chế xã
hội nữa. Nhưng đồng thời, có những chế độ xây dựng trên
căn bản ý thức hệ hoặc trên quyền hành, cũng như có những
mối quan hệ mới xuất hiện trên những bình diện khác nhau
của đời sống xã hội, những cái đó đã lưu giữ lại những
chuyện bất công rành rành hoặc tạo ra những bất công mới.
Trên bình diện thế giới, sự phát triển của nền văn minh và
các phương tiện giao thông đã giúp người ta chẩn đoán được
một cách đầy đủ hơn về các điều kiện sinh sống và làm việc
của con người trên khắp thế giới, nhưng đồng thời nó lại cũng
phát hiện ra những hình thức bất công khác còn lớn lao hơn cả
thời thế kỷ vừa qua, những bất công trước đây đã khiến cho
các người lao động phải hợp nhất lại với nhau trong một tinh
thần liên đới đặc biệt trong thế giới thợ thuyền. Đó là việc đã
xảy ra trong những nước đã thực hiện một thế diễn tiến của
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 549
cuộc cách mạng kỹ nghệ; và đó là việc cũng đã xảy ra trong
những nước mà công trường lao động lớn nhất vẫn là công
trường của nông nghiệp hoặc những hoạt động tương tự.
Cần có những phong trào liên đới trong lãnh vực lao
động – một thứ tinh thần liên đới không phải khép kín chẳng
chịu đối thoại hoặc cộng tác với người khác – những phong
trào liên đới có quan hệ cả với những tập thể xã hội từ trước
đến nay chưa gia nhập chung vào, xong do sự hoán chuyển
của các chế độ xã hội và điều kiện sinh sống, đã bị thực sự
“vô sản hóa” hoặc trên thực tế đã thực sự sống trong tình
trạng “gia cấp vô sản” và thật xứng đáng danh xưng đó, mặc
dầu họ không chính thức mang danh xưng này. Có thể liệt vào
hạng người này nhiều lớp người, nhiều nhóm “tri thức” lao
động,đặc biệt là khi chế độ giáo dục đã được mở rộng, số
những người học hành có bằng cấp nhờ việc học gia tăng
ngày một nhiều, trong khi chỗ làm việc ngày một giảm. Tình
trạng trí thức thất nghiệp ấy xảy ra hoặc gia tăng, nên người ta
mở rộng cửa học đường, song nền giáo dục lại không hướng
về những loại chức vụ và nghề nghiệp mà nhu cầu thực tế xã
hội đòi hỏi hoặc khi loại công việc mà người ta cần được
chuẩn bị bằng sự học văn hóa hay học nghề lại không được
trọng dụng hoặc là không được trả lương cao bằng công việc
tay chân. Đã hiển nhiên rằng tự nó vấn đề học vấn bao giờ
cũng có giá trị và làm cho giá trị con người thêm phong phú
hơn; tuy nhiên không phải thế mà tình trạng “vô sản hóa”
không xảy ra theo một vài diễn tiến.
Chính vì thế nên chúng ta vẫn phải tiếp tục tìm hiểu
thêm về chủ thể của lao động cũng như về về những điều
kiện sinh sống của chủ thể ấy. Muốn thể hiện sự công bằng
xã hội tại các miền đất trên thế giới, tại các quốc gia, trong
các quan hệ giữa các miền, các nước, chúng ta luôn luôn cần
phải có những phong trào liên đới mới của các người lao động
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 550
và với những người lao động. Phải có thứ tinh thần liên đới
như thế ở những nơi mà giá trị xã hội của chủ thể của lao
động bị hạ thấp xuống, những nơi người lao động bị bóc lột
và những miền đói khổ ngày một gia tăng. Giáo hội nhiệt tâm
dấn thân vào công cuộc này, vì Giáo Hội coi đó là sứ vụ, là
công việc của mình và là chứng nghiệm cho lòng trung thành
của mình đối với Đức Kitô, để có thể thực sự trở nên “Giáo
hội của những người nghèo”. Và những “người nghèo” này ở
dưới nhiều dạng thức, xuất hiện ở nhiều nơi và trong nhiều
lúc khác nhau; trong nhiều trường hợp họ là hậu quả của việc
vi phạm phẩm giá của lao động con người : hoặc do công việc
làm bị hạn chế – đó là tai họa của thất nghiệp – hoặc do việc
người ta coi nhẹ giá trị của lao động và các quyền lợi của nó,
đặc biệt là quyền được hưởng một đồng lương xứng đáng,
quyền được bảo vệ cho bản thân và gia đình người lao động.
9. Lao động và phẩm giá con người
Vẫn đứng về khía cạnh con người là chủ thể lao động,
chúng ta cũng nên bàn, ít ra một cách tổng hợp, về những vấn
đề có khả năng xác định sát hơn về phẩm giá của lao động
con người, vì chúng có thể giúp chúng ta biểu thị giá trị đạo
đức đặc thù của nó một cách đầy đủ hơn. Chúng ta phải làm
việc đó dưới ánh sáng lời Kinh Thánh : “Hãy bắt trái đất phục
tùng”, vì đó là lời kêu gọi biểu lộ ý muốn của Đấng tạo hóa,
để việc lao động giúp con người đạt tới “sự chế ngự” theo
đúng vai trò của mình trong thế giới hữu hình.
Ý định căn bản và đầu tiên của Thiên Chúa đối với con
người mà Ngài “đã dựng nên… giống Ngài, theo hình ảnh
Ngài” vẫn được giữ nguyên và không hề bị hủy bỏ, cả ngay
sau khi con người đã xé bỏ giao ước nguyên thủy với Thiên
Chúa rồi bị tuyên án : “Ngươi sẽ đổ mồ hôi trán ra để kiếm
miếng ăn”. Những lời này có ý chỉ sự mệt nhọc đôi khi nặng
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 551
nề được gắn liền với lao động kể từ ngày đó, nhưng nó không
làm thay đổi sự kiện này là : lao động luôn luôn là con đường
dẫn con người tới chỗ “chế ngự” thế giới hữu hình bằng cách
bắt trái đất “phải phục tùng”, đúng với vai trò của họ. Sự mệt
nhọc ấy mọi người đều được biết và đều đã trải qua. Sự mệt
nhọc là chuyện quá quen thuộc đối với những người lao động
về thân xác trong những hoàn cảnh đôi khi vô cùng khổ cực.
Sự mệt nhọc là chuyện quá quen thuộc đối với người nông
dân phải trải qua những ngày dài đằng đẵng cày sâu cuốc
bẫm trên những mãnh ruộng nhiều khi chỉ “sinh ra cỏ rả gai
góc”, đối với những người thợ mỏ trong các mỏ kim khí, khai
thác đá đối với những người thợ luyện kim làm việc bên
những lò nóng cháy; đối với những vất vã nơi các công
trường kiến trúc thuộc ngành xây dựng là nơi mà thường
xuyên tính mạng và an toàn của họ bị đe dọa. Sự mệt nhọc
cũng là chuyện quá quen thuộc đối với những người gắn liền
với công trường lao động trí óc, với những nhà bác học,
những người mang nặng trên vai trách nhiệm đưa ra những
quyết định hệ trọng ảnh hưởng lớn lao trên bình diện xã hội.
Sự mệt nhọc là chuyện quá quen thuộc đối với các bác sĩ và y
tá, ngày đêm săn sóc bên giường các bệnh nhân. Sự mệt nhọc
là chuyện quá quen thuộc đối với các phụ nữ ngày ngày vất
vã lo lắng việc nhà và giáo dục con cái, nỗi vất vả cực nhọc
mà ít khi xã hội và chính những người thân chịu để ý ghi
nhận. Đúng thế, tất cả các người lao động đều biết chuyện
mệt nhọc, vì lao động là một thiên chức phổ quát, một thiên
chức chung cho hết mọi con người.
Thế nhưng, mặc dầu có sự mệt nhọc như thế và có thể
nói, có lẽ chính vì sự mệt nhọc đó mà lao động là một cái lợi
ích của con người. Tuy lợi ích đó mang dấu ấn của một thứ
bonum arduum, thứ “lợi ích cực nhọc” theo danh từ thánh
Tôma dùng, thì với dấu ấn đó, nó vẫn là một lợi ích của con
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 552
người. Nó không phải chỉ là một lợi ích “hữu dụng” mà người
ta có thể “thụ hưởng” mà nó còn là một lợi ích “xứng đáng”,
có nghĩa là nó tương ứng với phẩm giá của con người, một lợi
ích biểu lộ và gia tăng phẩm giá đó. Muốn xác định rõ ràng
hơn ý nghĩa đạo đức của lao động, trước hết chúng ta phải chú
tâm đến chân lý ấy. Lao động là một lợi ích của con người,
một lợi ích của nhân tính họ – bởi vì, nhờ lao động, không
những con người chỉ biến đổi thiên nhiên bằng cách ứng dụng
nó vào nhu cầu của họ, mà họ còn có thể tự thực hiện chính
mình với tư cách là một người và hiểu theo một ý nghĩa nào
đó, “họ trở nên người hơn”.
Nếu không có nhận định như thế, người ta không thể
hiểu được rằng : sự thành công trong lao động là một thiện
đức, nói rõ hơn : không thể hiểu được tại sao sự nhiệt thành
trong lao động lại phải là một thiện đức. Quả vậy, thiện ý là
định ý đạo đức giúp cho con người có thể trở thành tốt, với tư
cách là một con người. Sự kiện này không làm cho chúng ta
bớt lo lắng băn khoăn trong việc làm thế nào để cho trong lao
động, con người không bị giảm nhân cách trong khi tìm cách
nâng cao giá trị vật chất. Người ta cũng biết rằng : có thể bằng
nhiều cách, sử dụng lao động để chống lại con người, chẳng
hạn bằng cách áp dụng chế độ cưỡng bách trong các trại tập
trung, bằng cách dùng lao động để cưỡng bách áp bức con
người, và cuối cùng khai thác bóc lột bằng nhiều cách lao
động con người, tức là chính người lao động. Tất cả sự việc
đó khiến chúng ta cảm thấy có trách nhiệm tinh thần phải kết
hợp hai sự kiện : đức tính nhiệt thành lao động với một trật tự
xã hội về lao động để con người có thể “trở nên người hơn”
trong lao động và tránh cho họ khỏi giảm mất nhân cách qua
việc lao lực (vì đó là một việc, xét theo một mức độ nào đó,
không sao tránh được) và nhất là làm tổn hại phẩm giá và tính
chất chủ thể riêng của họ.
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 553
10. Lao động và xã hội : gia đình và quốc gia.
Sau khi đã xác định chiều kích cá nhân của lao động con
người, chúng ta phải nói đến một khu vực thứ hai của các giá
trị gắn liền với các vấn đề trên. Lao động là nền tảng xây
dựng đời sống gia đình lại là một quyền tự nhiên và là thiên
chức của con người. Hai khu vực giá trị này – một khu vực gắn
liền với lao động, một khu vực phát xuất từ tính chất gia đình
của đời sống con người, phải liên kết với nhau và ảnh hưởng
tới nhau một cách đúng đắn. Có thể nói, lao động là điểu kiện
giúp cho gia đình có thể thành hình, vì muốn tồn tại, gia đình
phải có những phương tiện sinh sống mà con người phải nhờ
lao động mới có được.
Tất cả diễn tiến giáo dục cũng chịu ảnh hưởng của lao
động và của lòng nhiệt thành trong lao động, lý do chính là vì
mỗi người “trở nên người” lại là mục tiêu chính yếu của tiến
trình giáo dục. Có thể nói, chính ở đây, ta thấy xuất hiện hai
khía cạnh lao động : trước tiên là lao động để bảo đảm sự sinh
sống cho gai đình và thứ đến, lao động để giúp thực hiện các
mục tiêu của gia đình, nhất là mục tiêu giáo dục. Tuy nhiên,
hai khía cạnh lao động này kết hợp và bổ túc cho nhau về
nhiều điểm.
Nói chung, ta phải nhớ và xác định rằng : gia đình là
một trong những căn cứ điểm quan trọng nhất mà trật tự xã
hội và đạo đức của con người phải dựa vào để hình thành.
Nền giáo dục (giáo lý) của Giáo hội luôn luôn dành sự quan
tâm đặc biệt cho các vấn đề trên, và trong tài liệu này, chúng
ta cần phải nhắc nhở, bàn luận tới. Lý do vì gia đình vừa là
một cộng đồng thành hình và tồn tại được nhờ có lao động
đồng thời cũng là trường học đầu tiên dạy cho mọi người lao
động.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 554
Còn khu vực giá trị thứ ba mà chúng ta gặp thấy trên
khía cạnh đang nghiên cứu – khía cạnh chủ thể lao động; khu
vực này liên quan đến đại xã hội mà con người là thành phần
trực thuộc do những mối dây văn hóa lịch sử đặc thù liên kết
lại. Cả trong trường hợp xã hội này chưa hoàn toàn mang tính
hình thức của một quốc gia, nó vẫn là một trung tâm “giáo
dục” lớn của con người, mặc dầu mới chỉ giáo dục một cách
gián tiếp (bởi vì trong gia đình, mỗi người đều tiếp thu các
nhân tố và giá trị ma toàn bộ sẽ tạo thành nền văn hóa của
một quốc gia nhất định) và mỗi xã hội là một hiện thân có
tính cách lịch sử và xã hội của lao động qua tất cả các thế hệ.
Kết quả của tất cả các sự việc trên là: con người gắn chặt
nhân cách tính sâu xa nhất của mình với việc họ trực thuộc
vào quốc gia; họ cũng nhận thấy việc họ lao động là một
phương thế làm gia tăng lợi ích chung mà người đống bào
cũng góp sức vào và biết rằng, nhờ phương thế đó, lao động
sẽ làm gia tăng di sản của cả gia đình nhân loại, của tất cả mọi
người sống trên trần thế.
Cả ba khu vực giá trị này luôn luôn giữ tính cách quan
trọng của chúng đối với lao động con người về khía cạnh chủ
quan của chúng. Khía cạnh đó, nghĩa là thực tại cụ thể của
con người khi lao động, có ưu thế hơn khía cạnh khách quan,
việc “chế ngự” thế giới thiên nhiên được thực hiện trước tiên
và công việc này, con người đã kêu gọi thực hiện ngay từ hối
nguyên thủy, căn cứ theo lời chép trong sách Sáng thế. Nếu
công việc chế ngự trái đất, có nghĩa là việc lao động dưới
khía cạnh kỹ thuật, trong lịch sử, nhất là trong những thế kỷ
gần đây, đã nổi bật hẳn với sự phát triển của các phương tiện
sản xuất, thì đó là một hiện tượng có lợi và tích cực, với điều
kiện là khía cạnh khách quan của lao động không lướt thắng
hẳn chiều kích chủ quan bằng cách làm cho con người mất đi
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 555
hoặc làm giảm sút phẩm giá và các quyền lợi bất khả nhượng
của họ.
III. CUỘC TRANH CHẤP GIỮA LAO ĐỘNG VÀ TƯ
BẢN TRONG GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ HIỆN TẠI
11. Chiều kích của cuộc tranh chấp
Có thể nói bản ước trình căn bản về lao động được phác
họa trên đây, căn cứ vào những đoạn văn đầu tiên trong Kinh
Thánh, là cái sườn của giáo huấn Giáo hội, nó không hề thay
đổi qua bao thế kỷ giữa bao kinh nghiệm và biến thiên của
lịch sử. Tuy nhiên trên tấm màn bối cảnh những kinh nghiệm
thâu thập được trước và sau khi ban hành thông điệp Rerum
novarum, lời giáo huấn đó đã có thêm được một khả năng
diễn tả đặc biệt và một tính chất thời sự nóng bỏng. Qua sự
phân tích này, lao động xuất hiện như một thực tại lớn có ảnh
hưởng căn bản đối với việc hình thành (hiểu theo nghĩa loài
người) thế giới, cái thế giới đã được Đấng tạo hóa giao phó
cho con người, cũng như đối với việc nhân tính hóa họ, lao
động cũng là một thực tại gắn liền chặt chẽ với con người như
với chủ thể riêng của nó, và với phương pháp hành động hợp
lý của họ. Trong diễn tiến thông thường của mọi sự vật, thực
tại đó tràn ngập trong đời sống con người và có ảnh hưởng
mạnh mẽ đối với giá trị và ý nghĩa của nó. Mặc dù dính liền
với sự mệt nhọc và sự cố gắng, lao động vẫn luôn luôn là một
lợi ích khiến cho con người phát triển thêm trong lúc yêu lao
động. Tính chất hoàn toàn tích cực và sáng tạo, giáo dục và
hữu công trên đây của lao động con người phải trở thành nền
tảng cho những lượng giá và quyết định của con người đối với
lao động, ngay cả trường hợp họ dựa vào những quyền chủ
quan của con người, đúng như những lời xác quyết của các
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 556
bản Tuyên ngôn quốc tế và các Bộ luật lao động được soạn
thảo do các cơ cấu lập pháp hữu quyền của các quốc gia cũng
như các tổ chức chuyên trách về vấn đề xã hội hoặc khoa học
xã hội liên quan đến ước trình của lao động. Có một cơ quan
lo đề xuất những sáng kiến tương tự trên bình diện quốc tế:
đó là tổ chức lao động quốc tế, một tổ chức chuyên môn lâu
đời nhất của liên hiệp quốc.
Tôi dự định, trong một phần liên quan đến các nhận
định này, sẽ trở lại bàn một cách chi tiết hơn về các vấn đề
quan trọng trên, và sẽ nhắc sơ qua đến những yếu tố căn bản
của giáo lý Giáo hội đối với vấn đề này. Nhưng trước đó,
chúng ta nên đề cập tới phạm vi rất quan trọng của những vấn
đề dùng làm khung cho sự hình thành của lời giáo huấn này
mà thời đầu, theo một nghĩa tượng trưng nào đó, thích ứng với
năm được ban hành Thông điệp Rerum novarum.
Chúng ta được biết, suốt trong giai đoạn này (hiện vẫn
còn đang tiếp diễn) vấn đề lao động được đặt ra, liên quan tới
vụ tranh chấp lớn xảy ra vào thời gian kỹ nghệ phát triển, và
có liên hệ tới nó, vụ tranh chấp giữa “thế giới tư bản” và “thế
giới lao động” nghĩa là giữa một nhóm người hạn chế, nhưng
rất có ảnh hưởng, là các nhà thầu, các sở hữu chủ, các người
nắm giữ các phương tiện sản xuất, và một nhóm thứ hai là số
đông quần chúng rộng lớn hơn thiếu những phương tiện ấy,
nên chỉ tham gia vào tiến trình sản xuất bằng sức lao động của
mình mà thôi. Cuộc tranh chấp này bắt nguồn từ việc các
người lao động đặt sức lực của mình dưới quyền sử dụng của
nhóm các người thầu, trong khi nhóm người này, dựa trên
nguyên tắc làm sao thu được nhiều lợi nhuận nhất, luôn luôn
tìm cách giữ cho đồng lương phải trả cho công việc làm của
những người lao động ở mức thấp nhất. Đó là chưa kể những
phương thế bóc lột khác gắng liền với sự thiếu an toàn trong
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 557
lao động, thiếu bảo đảm về những điều kiện sức khỏe và đời
sống của người thợ và gia đình họ.
Một số người giải thích sự tranh chấp này dưới hình thức
một cuộc tranh chấp kinh tế xã hội có tính giai cấp; cuộc tranh
chấp này diễn tiến trong cuộc tranh chấp ý thức hệ giữa chủ
nghĩa tự do, được coi như ý thức hệ của chế độ tư bản và chủ
nghĩa mác-xít, được coi như ý thức hệ của chế độ xã hội khoa
học và chế độ cộng sản, là chế độ tự cho mình là phát ngôn
nhân của giai cấp thợ thuyền, của toàn thể giai cấp vô sản thế
giới. Và như thế, cuộc tranh chấp thực sự giữa thế giới lao
động và thế giới tư bản và biến thành cuộc chiến tranh giai
cấp có hệ thống được tiến hành với những phương pháp
không những chỉ có tính cách ý thức hệ mà nhất là với tính
cách chính trị. Chúng ta đều biết rõ cuộc đấu tranh này, cũng
như biết rõ yêu sách của hai phe đối nghịch. Chương trình đấu
tranh của Mác-xít, dựa trên thuyết của Mác và Ăng-ghen, coi
cuộc đấu tranh giai cấp như một phương thế duy nhất để loại
trừ bất công giai cấp trong xã hội và đồng thời cũng hủy bỏ
luôn chính các giai cấp đó. Để thực hiện chương trình này,
trước tiên người ta chủ trương “tập sản hóa” các phương tiện
sản xuất để có thể giải tỏa lao động khỏi sự bóc lột sau khi đã
chuyển các phương tiện sản xuất từ tay tư nhân sang tay tập
thể.
Đó là mục tiêu cuộc tranh đấu tiến hành bằng những
phương pháp vừa ý thức hệ vừa chính trị. Theo đúng nguyên
tắc “vô sản chuyên chính” và bằng cách gây những ảnh
hưởng về nhiều mặt, kể cả bằng áp lực cách mạng, các nhóm
được tập hợp lại thành những chính đảng, theo ý thức hệ Mácxít,
tìm cách chiếm độc quyền và quyền bính trong mỗi xã hội
và đem áp dụng tại đó chế độ tập sản bằng cách loại trừ
quyền tư hữu các phương tiện sản xuất. Theo chủ trương các
lý thuyết gia và các lãnh tụ phong trào quốc tế rộng lớn này,
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 558
mục đích của chương trình hoạt động trên là thể hiện cuộc
cách mạng xã hội và du nhập vào trong toàn thể thế giới chủ
nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.
Khi bàn đến một lãnh vực gần những vấn đề cực kỳ
quan trọng như thế, những vấn đề không chỉ tạo thành một
chủ thuyết, mà cả một chuỗi dài đời sống kinh tế, xã hội,
chính trị và quốc tế, của thời đại, chúng ta không thể đi sâu
vào chi tiết được; vả chăng, việc đó xét ra cũng không cần
thiết, vì đây là vấn đề khá quen thuộc do không biết bao
nhiêu sách vở tài liệu đã nói tới hoặc đã được biểu hiện qua
những kinh nghiệm thực hành. Trái lại, chúng ta phải ngược
dòng, đi từ nội dung của chúng trở lại vấn đề căn bản là lao
động con người mà tất cả các nhận định của tập tài liệu này
nhắm vào. Thật vậy, đây là vấn đề chủ chốt (vẫn hiểu theo
phương diện loài người), một vấn đề tạo thành một trong
những chiều kích căn bản của đời sống con người trên trái đất
và ơn gọi của họ, một vấn đề chỉ có thể giải thích được bằng
cách nắm vững tất cả nội dung của thực tại hiện đại.
12. Ưu tiên của lao động.
Đối diện với thực tại hiện đại này, một thực tại mà cơ
cấu đã ghi sâu không biết bao nhiêu cuộc tranh chấp do con
người gây ra và trong đó có phương tiện kỹ thuật, kết quả của
lao động con người, đóng vai trò quan yếu nhất (ở đây người
ta liên tưởng đến cả viễn tượng của một thảm họa chung cho
cả thế giới nếu xảy ra một cuộc chiến tranh nguyên tử với
khả năng phá hoại khủng khiếp không tưởng tượng được),
trước hết chúng ta cần nhắc nhở lại một nguyên tắc mà giáo
Hội luôn luôn dạy. Đó là nguyên tắc “lao động” có ưu tiên
hơn “vốn liếng”. Nguyên tắc này liên quan trực tiếp với chính
tiến trình sản xuất trong đó lao động luôn luôn là nguyên
nhân hiệu năng, trong khi “vốn liếng”, tức là toàn bộ các
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 559
phương tiện sản xuất, chỉ là một dụng cụ, một nguyên nhân
khí cụ. Nguyên tắc này là một chân lý hiển nhiên xuất phát từ
thực tại lịch sử của con người.
Trong chương thứ nhất của Thánh Kinh, chúng ta đọc
thấy rằng con người phải bắt trái đất phục tùng mình và chúng
ta biết rằng những lời này chỉ tất cả các tài nguyên chất chứa
trong thế giới hữu hình và được đặt dưới quyền sử dụng của
con người. Thế nhưng con người chỉ có thể sử dụng các tài
nguyên ấy bằng sức lao động. Ngoài ra, ngay từ những ngày
đầu, vấn đề tư hữu là một vấn đề gắn liền với lao động, bởi
vì, muốn sử dụng và muốn cho những người khác sử dụng các
tài nguyên tiềm tàng trong thiên nhiên, con người chỉ có một
phương tiện là sức lao động của mình, con người chiếm hữu
một phần nhỏ các của cải thiên nhiên: trong lòng đất, dưới
đáy biển, trên mặt đất và trên không trung. Con người chiếm
hữu những thứ đó và biến chúng thành công trường lao động
của họ. Họ dùng lao động để chiếm hữu và nhờ đó có thể
tiếp tục lao động thêm nữa.
Nguyên tắc trên đây được áp dụng cho các giai đoạn
tiếp theo của diễn tiến đó, và giai đoạn đầu tiên luôn luôn
vẫn là mối tương quan giữa con người và những tài nguyên
của cải thiên nhiên. Tất cả những cố gắng tìm tòi để khám
phá các của cải đó, để xác định những khả năng sử dụng
khác biệt do con người và cho con người, cho chúng ta ý thức
rằng: tất cả những gì trong toàn bộ công cuộc sản xuất kinh tế
do con người làm ra, cả sức lao động lẫn toàn bộ những
phương tiện và kỹ thuật sản xuất (nghĩa là khả năng có thể
vận dụng các phương tiện ấy trong lao động) giả thiết đã có:
các tài nguyên của cải của thế giới hữu hình do con người tìm
ra được, chứ không phải tạo dựng nên. Có thể nói, khi họ tìm
ra chúng, chúng đã có sẵn, đã được chuẩn bị để được khám
phá ra và đem sử dụng tốt trong diễn trình sản xuất. Trong tất
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 560
cả mọi giai đoạn phát triển bằng lao động, con người gặp một
sự kiện này là: họ nhận được tất cả do nơi thiên nhiên, nói
kiểu khác, xét cho cùng là do nơi Đấng tạo Hóa. Ngay từ khởi
thủy lao động con người, đã có huyền nhiệm tạo dựng. Điều
khẳng định này chính là khởi điểm là hướng đi của tài liệu
này; điều khẳng định ấy sẽ được quảng diễn dưới đây, trong
phần cuối cùng của các suy tư này.
Nhận xét tiếp theo về cũng một vấn đề này sẽ giúp
chúng ta vững tin rằng: lao động của con người có giá trị đối
với cái mà với thời gian, người ta quen gọi là “vốn liếng”. Quả
vậy, nếu với ý thức đó, ta quen sắp xếp các tài guyên thiên
nhiên vốn có sẵn chờ con người sử dụng với toàn bộ các
phương tiện mà con người chiếm hữu bằng cách chế biến dần
dần tùy theo nhu cầu của mình (có thể nói bằng cách “nhân
tính hóa”) chúng ta sẽ nhận thấy rằng tất cả toàn bộ các
phương tiện này đều là di sản lịch sử của lao động con người.
Tất cả các phương tiện sản xuất, từ cái thô sơ nhất đến cái tối
tân nhất, đều do con người tạo ra dần dần, nhờ kinh nghiệm
và sự hiểu biết của con người. Và như thế chúng ta thấy xuất
hiện không những các dụng cụ đơn giản nhất dùng để canh
tác, mà nhờ có sự tiến bộ đồng đều của khoa học và kỹ thuật,
cả những dụng cụ tối tân và phức tạp nhất như: máy móc, nhà
máy, các phòng thí nghiệm, các máy điều khiển …vì vậy tất
cả những gì dùng cho lao động, tát cả những gì tạo thành “khí
cụ” ngày càng hoàn bị theo mức độ kỹ thuật thời gian nay của
lao động .
Khí cụ khổng lồ và vạn năng này, nói cách khác, toàn
bộ các phương tiện sản xuất, có thể được coi là đồng nghĩa
với “vốn liếng”, đều phát xuất ra từ lao động và mang nhãn
hiệu của lao động. Với mức tiến bộ hiện thời của kỹ thuật, khi
con người chủ thể của lao động, muốn sử dụng toàn bộ các
khí cụ tối tân, nghĩa là muốn sử dụng các phương tiện sản
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 561
xuất, đều phải bắt đầu dùng tri thức để tiếp nhận tất cả những
kết quả lao động của những người đã khám phá, xếp đặt, chế
tạo hoàn bị các khí cụ và ngày nay vẫn tiếp tục làm như vậy.
Khả năng lao động _ nghĩa là khả năng tham dự một cách hữu
hiệu vào tiến trình hiện đại của sản xuất – đòi hỏi phải có một
sự chuẩn bị kỹ hơn, và nhất là một trình độ kiến thức tương
xứng hơn, điều hiển nhiên là bất cứ người nào tham dự vào
tiến trình sản xuất, mặc dù chỉ thực hiện một công việc không
đòi hỏi một kiến thức và chuyên môn đặc biệt, họ vẫn là một
chủ thể có hiệu năng thực sự trong tiến trình đó, trong khi
toàn bộ các khí cụ dù là loại tinh xảo hoàn bị nhất, vẫn hoàn
toàn chỉ là một khí cụ lệ thuộc vào sức lao động của con
người.
Đó là một chân lí thuộc di sản bất di bất dịch trong giáo
lý của Giáo hội và cần được nhấn mạnh mỗi khi bàn đến vấn
đề chế độ lao động cũng như với tất cả chế độ kinh tế xã hội.
Cần phải nhấn mạnh và làm nổi bật tính cách ưu tiên của con
người trong tiến trình sản xuất, sự ưu tiên của con người trên
các sự vật. Tất cả những gì bao hàm trong ý niệm “vốn liếng”,
hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ là một trong toàn bộ của các sự vật.
Vì là chủ tể của lao động và dầu bất cứ làm công việc gì, con
người, và chỉ duy nhất có mình con người mà thôi, mới là một
nhân thể. Tự trong chân lý này, người ta rút ra những quy kết
quan trọng và quyết định.
13. Chủ thuyết duy kinh tế và chủ thuyết duy
vật.
Trước hết, dưới ánh sáng của chân lý này, ta thấy rõ :
không thể tách “vốn liếng” khỏi lao động , cũng như không
có cách nào đối lập lao động với vốn liếng và vốn liếng với
lao động, và – như sẽ giải thích dưới đây – càng không thể đối
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 562
lập những con người cụ thể, hiểu theo quan niệm lao động và
tư bản (tức là vốn liếng). Chế độ lao động được gọi là công
bằng, nghĩa là hợp với chính bản chất của vấn đề, hoặc xác
thực tự bản chất và đồng thời hợp pháp về mặt đạo đức, là
một chế độ, tự căn bản nền tảng, vượt qua được sự đối kháng
giữa lao động và vốn liếng bằng cách thiết lập cơ cấu tổ chức
trên nguyên tắc kể ra trên đây về ưu tiên tự bản chất và hiệu
năng của lao động, về khía cạnh chủ quan của lao động con
người, về sự tham gia có hiệu quả vào tiến trình sản xuất dù
người lao động đóng góp bằng bất cứ loại việc nào.
Tính chất đối kháng giữa lao động và vốn liếng không
bắt nguồn ở cơ cấu của tiến trình sản xuất cũng không ở cơ
cấu của tiến trình kinh tế nói chung. Tiến trình này biểu lộ sự
hỗ tương thâm nhập giữa lao động và cái người ta quen gọi là
vốn liếng, nó chứng tỏ giữa hai bên có một sợi dây liên kết
không gì tháo gỡ nổi. Dù làm bất cứ công việc gì, hoặc một
công việc tương đối thô sơ hay ngược lại, một công việc hết
sức hiện đại, con người vẫn có thể dễ dàng nhận thấy rằng:
nhờ công sức lao động của mình, họ được thừa hưởng hai di
sản: thứ nhất là được thừa hưởng những gì mà tất cả mọi
người được hưởng, là các tài nguyên thiên nhiên, và thứ đến,
tất cả những gì mà người trước đó đã tạo ra từ những tài
nguyên đó bằng cách trước tiên là phát triển kỹ thuật, nghĩa là
thực hiện các dụng cụ làm việc mỗi ngày một hoàn bị hơn.
trong khi lao động, con người được “thừa hưởng công sức của
người khác”. Nhờ trí khôn suy nghĩ và dưới ánh sáng của Lời
Chúa soi dẫn đức tin, chúng ta sẽ dễ dàng chấp nhận lối nhìn
đối với lãng vực và tiến trình lao động như vừa kể. Đây là
một lối nhìn mạch lạc, có tính cách thần học và nhân bản.
Quả vậy, con người xuất hiện với tư cách “chủ nhân ông” của
các tạo vật, được đặt dưới quyền sử dụng của họ trong thế
giới hữu hình. Nếu trong tiến trình của lao động, chúng ta
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 563
nhận thấy có cái gì lệ thuộc, thì đó chính là sự lệ thuộc đối
với Đấng ban phát tất cả các tài nguyên đã được tạo thành, và
sự lệ thuộc ấy sẽ lại trở thành sự lệ thuộc đối với những
người khác, những con người đã dùng công sức lao động và
các sáng kiến của họ, để lại cho công việc của chúng ta
những khả năng đã được hoàn bị và gia tăng. Đối với tất cả
những gì,trong tiến trình sản xuất, tạo thành một toàn bộ
những “sự vật” những dụng cụ, vốn liếng, chúng ta chỉ có thể
quả quyết rằng chúng là “những điều kiện” của lao động con
người. Nhưng ta không thể quả quyết rằng chúng như một thứ
“chủ thể” vô danh bắt con người và sự lao động của họ phải
lệ thuộc.
Lối nhìn mạch lạc này, trong đó nguyên tắc con người
chiếm ưu thế ở trên sự vật được bảo vệ nguyên vẹn đã bị phá
vỡ trong tư tưởng của con người, đôi khi sau một thời gian
chẩn bị khá dài trong thực hành. trong quá trình đó, lao động
đã bị tách rời và trở thành đối lập với vốn liếng, cũng như vốn
liếng trở thành đối lập với lao động, gần như hai lực lượng vô
danh, hai nhân tố sản xuất được nhận định riêng biệt trong
cùng một viễn tượng “kinh tế học” đối với cách đặt vấn đề
như thế, người ta thấy có một sai lầm căn bản có thể mệnh
danh là sự sai lầm của “chủ thuyết duy kinh tế” là một chủ
thuyết chỉ nhận xét sự lao động của con người nguyên dưới
khía cạnh cứu cánh kinh tế. Chúng ta có thể và phải gọi sai
lầm căn bản của tư tưởng này là sự sai lầm của chủ nghĩa duy
vật theo ý nghĩa này là: “chủ thuyết duy kinh tế” chủ trương,
một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, tính cách ưu thế, trổi vượt
của những gì là vật chất, trong khi nó đặt, một cách trực tiếp
hoặc gián tiếp, những gì có tính cách thiêng liêng và nhân
linh (như hành động của con người, các giá trị đạo đức hoặc tư
tưởng) trong một vị thế lệ thuộc đối với thực tại vật chất.
Quan niệm đó thực sự chưa phải là chủ thuyết duy vật lý
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 564
thuyết theo trọn vẹn ý nghĩa của nó; nhưng chắc chắn nó là
một chủ thuyết duy vật thực hành; chủ thuyết duy vật thực
hành này ít căn cứ vào một lối phán đoán nhất định về mặt
giá trị – và như thế dựa vào một hệ thống lợi ích, dựa trên sức
thu hút mãnh liệt và tức thời của những gì là vật chất; thứ chủ
thuyết duy vật thực hành được coi như có thể thỏa mãn các
nhu cầu của con người.
Lối suy nghĩ sai lầm theo các phạm trù của “chủ thuyết
duy kinh tế” đi đôi với sự xuất hiện của triết thuyết duy vật và
sự phát triển của triết thuyết này từ giai đoạn sơ bộ và thông
thường nhất (cũng được gọi là thuyết duy vật thô sơ vì nó chủ
trương qui hóa thực tại tâm linh thành một hiện tượng dư thừa)
đến giai đoạn mệnh danh là chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Tuy nhiên, trong khung cảnh của những nhận xét này, đối với
vấn đề căn bản này của lao động con người và đặc biệt đối
với việc phân tách và đối lập “lao động” và “vốn liếng”, coi
như hai yếu tố sản xuất được xét nghiệm trong cùng một viễn
tượng “kinh tế học “mà ta vừa nói, thì hình như “chủ thuyết
duy kinh tế” có một tầm quan trọng quyết định và ảnh hưởng
lớn đến cách đặt vấn đề một cách không nhân bản này, trước
cả hệ thống triết học duy vật. Mặc dầu thế, hiển nhiên rằng
chủ nghĩa duy vật, ngay cả dưới hình thức biện chứng, cũng
không đủ sức cung cấp cho những ai suy nghĩ về đề tài lao
động con người, những căn bản đầy đủ và quyết định để có
thể kiểm chứng một cách tương xứng và thật vững chắc, và
thật sự bảo đảm rằng con người có ưu thế trên dụng cụ vốn
liếng, và nhân vị có ưu thế trên sự vật. Ngay cả trong chủ
nghĩa duy vật biện chứng, con người trước tiên cũng không
phải là chủ thể của lao động và là nguyên nhân hiệu năng
của tiến trình sản xuất nhưng nó được coi và được hiểu là
thành phần lệ thuộc vào vật chất; Họ là kết quả hợp thành
của các quan hệ kinh tế và quan hệ sản xuất đang thịnh hành.
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 565
Dĩ nhiên, tính chất đối kháng nhắc tới ở đây giữa lao
động và vốn liếng – thứ đối kháng nằm trong bối cảnh lao
động bị tách rời và đối lập với vốn liếng, và được coi như là
một thực thể và một nhân tố trong tiến trình kinh tế – tính chất
đó bắt nguồn không những ở triết học và các thuyết kinh tế
của thế kỷ XVIII, mà hơn thế nữa, còn bắt nguồn ở thực tại
kinh tế xã hội của thời đại kỹ nghệ sơ khai rồi phát triển một
cách ồ ạt. Trong tình trạng kỹ nghệ hóa đó,người ta cảm thấy
ngay cái khả năng gia tăng mạnh mẽ của cải vật chất, tức là
các phương tiện, trong lúc đó, người ta lại quên mất cứu cánh
là chính con người, con người mà các phương tiện ấy phải
phục vụ. Sự sai lầm về phương diện thực hành đó, liên quan
trước tiên đến lao động của con người, đến con người đang
lao động và gây ra một phản ứng xã hội rất chính đáng về mặt
đạo đức mà ta đã nói ở trên, sự sai lầm đó từ nay mang một
sắc thái lịch sử nhất định, gắn liền với thời đại chủ nghĩa tư
bản và tự do sơ khai; sự sai lầm đó có thể tái diễn trong không
gian và thời gian nếu, trong lý luận, người ta lại khởi đầu từ
những tiền đề lý thuyết và thực hành như trên. Không thể
thấy có cách gì giúp chúng ta dứt khoát thoát khỏi thứ sai lầm
đó nếu không có những thay đổi tương xứng trong lãnh vực lý
thuyết cũng như thực hành, những thay đổi nằm trong đường
lối tin tưởng vững chắc và tính ưu thế của nhân vị trên sự vật,
của lao động con người trên vốn liếng (được hiểu theo nghĩa
:toàn bộ các phương tiện sản xuất).
14. Lao động và sở hữu
Tiến trình lịch sử được trình bày vắn tắt ở đây vượt khỏi
giai đoạn đầu, nhưng nó vẫn tiếp tục và lan rộng trong mối
quan hệ giữa các quốc gia và đại lục. Nó cần được giải thích
rõ thêm về một khía cạnh khác. Đã hiển nhiên rằng khi ta nói
đến sự đối kháng giữa lao động và vốn liếng, thì đây không
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 566
phải chỉ nói đến những ý niệm trừu tượng hoặc những “lực
lượng vô danh” tác động trong sản xuất kinh tế. Đằng sau
những ý niệm đó, có con người, những con người sống động
cụ thể. Một bên là những người làm việc nhưng lại không
phải là sở hữu chủ của các phương tiện sản xuất, và một bên
là những người đóng vai thầu khoán, là sở hữu chủ của các
phương tiện hay ít ra thay mặt cho các sở hữu chủ ấy. Chính vì
thế, trong toàn bộ tiến trình lịch sử khó khăn này và ngay từ
lúc đầu, đã thấy xuất hiện vấn đề sở hữu. Thông điệp Rerum
novarum trình bày về đề tài xã hội, cũng nhấn mạnh đến vấn
đề trên bằng cách nhắc lại và xác nhận giáo lý của giáo hội
về sở hữu, về quyền tư hữu ngay cả trong lãnh vực các
phương tiện sản xuất. Thông điệp Mater et Magistra cũng giữ
một lập trường như vậy.
Nguyên tắc trên đây, Giáo Hội đã nhắc lại lúc bấy giờ
và bây giờ cũng vẫn luôn luôn dạy bảo, tự căn khác biệt với
chương trình tập sản hóa do chủ nghĩa mác xít đề xướng và
được đem thực hiện trong một số quốc gia trong những thập
niên sau thông điệp của Đức Lêô XIII. Nguyên tắc đó cũng
khác biệt với chương trình của chủ nghĩa tư bản, một chủ
nghĩa được chế độ tự do và các chế độ dựa theo đem áp
dụng. Trong trường hợp thứ hai này, sự khác biệt căn cứ ở
cách hiểu về quyền sở hữu. Truyền thống Kitô giáo không
bao giờ chủ trương đó là quyền tuyệt đối, không gì chạm đến
được. Trái lại, quyền này được hiểu trong bình diện rộng lớn
hơn thuộc quyền lợi chung của mọi người được sử dụng các
lợi ích của cải của toàn thể tạo vật: quyền tư hữu phụ thuộc
vào quyền công ích, vào việc sử dụng chung các lợi ích của
cải.
Ngoài ra, theo giáo huấn của giáo hội, sở hữu không
bao giờ coi như là một duyên cớ mâu thuẫn có tính cách xã
hội đối với lao động. Như đã nhắc đến trên đây, sở hửu có
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 567
được, trước tiên là nhờ có lao động và cũng để phụ giúp lao
động. Điều này đặc biệt liên quan đến vấn đề quyền sở hữu
đối với các phương tiện sản xuất. Không thể xem xét chúng
như là một toàn bộ của những tư hữu riêng biệt với mục đích
đem chúng ra dưới hình thức “vốn liếng” để đối lập với “lao
động”, và hơn thế, để khai thác sức lao động; làm như thế là
đi ngược lại với bản tính các phương tiện ấy và của sự chiếm
hữu chúng. Không thể chiếm hữu chúng để chống lại lao
động, cũng không thể chiếm hữu để chiếm hữu bởi vì, dù là
sở hữu riêng hay sở hữu chung hoặc tập thể, chỉ có thể dùng
danh nghĩa duy nhất hợp pháp sau đây để chiếm hữu, đó là
chiếm hữu với mục đích dùng chúng cho lao động. Với việc
giúp cho lao động, chúng có thể đạt được nguyên tắc cốt yếu
của vấn đề này là: của cải phải được dùng chung và phải giúp
ích chung cho mọi người. Về khía cạnh này, khi xét đến lao
động của con người và việc cùng chung của cải dành cho con
người, người ta cũng không thể phủ nhận việc xã hội hóa, với
những điều kiện hợp lý, một số các phương tiện sản xuất.
Trong khoảng thời gian những thập niên giữa thời gian chúng
ta và thời gian ban hành thông điệp Rerum novarum, Giáo hội
luôn nhắc nhở các nguyên tắc ấy, bằng cách dựa vào những
luận cứ có từ lâu đời trong những truyền thống, thí dụ như
những luận cứ quen thuộc của bộ Tổng luận Thần Học
(Somme Théologique) của thánh Tôma Aquinô .
Trong tài liệu này, với đề tài chính là lao động con
người, ta cần xác nhận nỗ lực mà giáo hội đã huấn giáo về
quyền sở hữu, đã tìm mọi cách và còn luôn luôn tìm cách bảo
vệ tính cách ưu tiên của lao động, và từ chỗ đó, bảo vệ tính
chất chủ thể của con người trong đời sống xã hội, và đặc biệt
trong cơ cấu năng động của tất cả tiến trình kinh tế. Về
phương diện này ta không thể chấp nhận chủ trương của chủ
nghĩa tư bản “cứng rắn”, đòi bảo vệ quyền tư hữu có tính
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 568
cách độc chiếm đối với quyền tư hữu sản xuất coi đó như là
một “giáo lý” bất khả xâm phạm trong đời sống kinh tế.
Nguyên tắc tôn trọng lao động và đòi hỏi quyền đó phải được
duyệt xét lại với ý nghĩa xây dựng cả mặt lý thuyết lẫn thực
hành để tổ chức lại. Nếu quả thật vốn liếng được hiểu như là
toàn bộ các phương tiện sản xuất, đồng thời cũng là sản phẩm
lao động của các thế hệ, thì cũng phải nhận rằng: vốn liếng
đó không ngừng gia tăng nhờ lao động thực hiện với toàn bộ
những phương tiện sản xuất, xuất hiện như một xưởng thợ
lớn, nơi ngày này qua ngày khác, thế hệ của những người lao
động hiện thời đang làm việc. Lẽ dĩ nhiên, đây là đủ mọi thứ
công việc, không những công việc tay chân mà con những
công việc trí óc khác, kể từ công việc suy nghĩ sáng tác đến
công việc quản lý.
Dưới ánh sáng đó, những bản đề án do những nhà
chuyên môn về giáo lý xã hội Công giáo và của lời giáo huấn
tối cao của Giáo hội đưa ra, mang một ý nghĩa đặc biệt. Đó là
những đề án liên quan đến vấn đề đồng sở hữu các phương
tiện lao động, vấn đề các người lao động tham gia vào việc
quản trị hay vào số lợi tức của giới thầu, mà người ta mệnh
danh vấn đề cổ động của người thợ… Dù các đề án trên đây
được đem áp dụng vào trong thực tế như thế nào đi nữa, thì có
một điều hiển nhiên là, việc công nhận vị thế chính đáng của
lao động và của người lao động trong tiến trình sản xuất đòi
có những sự thích nghi khác nhau ngay cả trong lãnh vực
quyền sở hữu các phương tiện sản xuất. Nói như thế là phải
xét đến, không những chỉ các hoàn cảnh cũ xưa, mà trước
tiên phải xét đến các thực tại và ước trình mới hình thành
trong hạ bán thế kỷ này và có liên quan đến thế giới thứ ba
cũng như một số quốc gia độc lập, không những chỉ ở Châu
Phi mà cả ở các nơi khác, trước đây là những nước thuộc địa.
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 569
Vì thế nếu cần phải thường xuyên duyệt xét lại chủ
nghĩa tư bản “cứng rắn” để cải tạo lại, dựa theo các quyền lợi
của con người, những quyền lợi được hiểu theo nghĩa rộng
nhất và trong mối quan hệ của chúng đối với lao động thì
người ta cũng phải xác quyết cùng trên một phương diện ấy
rằng: các cải tổ vừa nhiều vừa đáng mong ước ấy không thể
thực hiện được bằng việc tiên quyết hủy bỏ quyền tư hữu đối
với các phương tiện sản xuất. Quả vậy, ta chỉ việc quan sát và
nhận định rằng nguyên một việc giành lại các phương tiện sản
xuất (vốn liếng) từ tay các sở hữu chủ tư chưa đủ để thực hiện
việc xã hội hóa một cách thỏa đáng. Chúng không còn phải là
sở hữu của một nhóm người trong xã hội (tức là các sở hữu
chủ tư) mà trở thành sở hữu của một xã hội có tổ chức và nằm
dưới sự quản trị và kiểm soát trực tiếp của một nhóm người
khác. Nhón người này tuy không phải là sở hữu chủ, song nhờ
vào quyền hành mà xã hội trao cho, họ sử dụng các phương
tiện trên bình diện kinh tế toàn thể quốc gia hay địa phương.
Có thể nhóm người chỉ huy và hữu trách này thi hành
nhiệm vụ của mình một cách thỏa đáng về phương diện bảo
vệ tính chất ưu thế của lao động, nhưng cũng có thể họ làm
sai trái bằng cách vừa giành lấy độc quyền quản trị và sử
dụng các phương tiện sản xuất, vừa lấn chiếm vi phạm vào
những quyền của con người. Và như thế là việc các phương
tiện sản xuất trở thành sở hữu của Nhà Nước trong chế độ tập
sản hóa, tự nó, không phải đương nhiên có nghĩa là: quyền sở
hữu đã được xã hội hóa. Ta chỉ có thể nói “xã hội hóa” khi
tính cách chủ thể của xã hội được bảo đảm nghĩa là nếu mỗi
người, với công việc của mình, đồng thời có tư cách đầy đủ
để coi mình như một người đồng sở hữu đối với công trường
lao động rộng lớn, trong đó, họ cùng dấn thân làm việc với tất
cả mọi người. Một trong những phương pháp có thể dùng để
đạt tới mục tiêu ấy có lẽ là tìm hết cách liên kết lao động với
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 570
quyền sở hữu vốn liếng và hình thành một số cơ cấu trung
gian có mục đích kinh tế, xã hội và văn hóa. Các cơ cấu ấy
phải được hưởng một quyền tự trị hữu hiệu đối với chính
quyền, sẽ theo đuổi các mục tiêu chuyên biệt bằng cách giữ
những quan hệ với nhau trong tinh thần cộng tác chân thành
và tuân phục những yêu sách của công ích; sẽ mang hình thức
và bản chất một cộng đồng sống động. Như thế các thành
viên của cộng đồng sẽ được đối sử và coi như những nhân
thể và được khuyến khích tích cực tham gia vào đời sống của
họ.
15. Luận cứ nhân vị
Như vậy, nguyên tắc lao động có ưu thế trên vốn liếng
chính là một định tắc thuộc phạm vi đạo đức xã hội. Định tắc
này có phần quan trọng chủ chốt không những trong chế độ
đặt căn bản trên nguyên tắc giữ quyền tư hữu đối với các
phương tiện sản xuất mà cả trong chế độ quyền tư hữu này bị
hạn chế từ trong căn bản: theo một khía cạnh, lao động gắn
liền không thể rời với vốn liếng, và nó không chấp nhận một
hình thức đối kháng, nghĩa là sự tách rời và đối lập với các
phương tiện sản xuất. Một thứ mâu thuẫn kết quả của những
tiền đề hoàn toàn kinh tế và đè nặng trên đời sống con người
trong những thế kỷ vừa qua. Khi con người làm bằng cách sử
dụng toàn bộ các phương tiện sản xuất, họ mong muốn rằng
kết quả của công sức lao động mình có lợi cho cả chính mình
lẫn cho người khác và làm sao cho trong chính tiến trình lao
động, họ có thể tự coi mình như một người đồng trách nhiệm
và là người cộng sự trong công tác mà họ phụ trách.
Từ nhận xét này, ta thấy xuất hiện nhiều quyền chuyên
biệt của người lao động, những quyền tương ưng với nghĩa vụ
lao động. Về điểm này, đưới đây, chúng ta sẽ bàn tới. Nhưng
ngay từ bây giờ, ta cần phải nhấn mạnh tổng quát về điểm:
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 571
con người khi lao động mong muốn rằng không những được
hưởng số tiền lương trả cho công việc của mình, mà còn được
người ta làm thế nào để trong chính tiến trình sản xuất, họ có
thể ý thức được rằng dầu họ làm việc trong một cơ sở tập thể,
họ cũng đồng thời làm việc cho chính họ. Ý thức ấy bị bóp
nghẹt nơi họ khi họ làm việc trong một chế độ tập trung quan
liêu quá đáng, ở đó người lao động có cảm giác như mình ở
trong một guồng máy khổng lồ điều khiển từ trên cao và
nhiều trường hợp chỉ như một dụng cụ sản xuất tầm thường
hơn là một chủ thể thực sự của lao động, có những sáng kiến
riêng. Trong giáo huấn, Giáo Hội luôn luôn biểu lộ sự tin
tưởng sâu xa vững chắc rằng lao động của con người không
phải chỉ liên quan riêng tới kinh tế, mà còn bao hàm trước
nhất là những giá trị nhân bản nữa. Chính chế độ kinh tế và
tiến trình sản xuất cũng được lợi nếu các giá trị cá nhân ấy
được tôn trọng. Trong tư tưởng của Thánh Tôma Aquinô, Ngài
đã dùng lý do trên đây để biện hộ cho quyền tư hữu đối với
các phương tiện sản xuất. Nếu chúng ta chấp nhận rằng vì
một vài lý do xác đáng, có thể có những chuyện ngoại lệ đối
với nguyên tắc quyền tư hữu, và trong thời đại của chúng ta,
chúng ta cũng chứng kiến thấy chế độ sở hữu “xã hội hóa”
đã du nhập vào đời sống rồi; thế nhưng, luận cứ nhân vị vẫn
không mất sức mạnh của nó cả trên bình diện các nguyên tắc,
cả trên bình diện thực hành. Muốn có giá trị thuần lý và có
hiệu quả, bất kể biện pháp xã hội hóa các phương tiện sản
xuất nào cũng phải quan tâm đến luận cứ trên đây. Chúng ta
phải làm mọi cách để cho ngay trong một chế độ như thế, con
người vẫn giữ được ý thức là làm việc cho mình. Trường hợp
ngược lại, tiến trình kinh tế sẽ gặp những tai hại không sao
lường nổi, những tai hại không những về kinh tế mà nhất là
đối với cả chính con người nữa.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 572
IV. QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
16. Trong lãnh vực rộng lớn của nhân quyền
Về nhiều phương diện, lao động là một sự bó buộc, có
nghĩa là một nghĩa vụ, nhưng đồng thời nó cũng là nguồn gốc
của nhiều quyền lợi cho người lao động. Những quyền đó cần
được nghiên cứu trong bình diện rộng lớn của toàn bộ các
nhân quyền, những quyền lợi có tính chất đồng tự nhiên với
con người và nhiều quyền lợi đã được nhiều thẩm cấp quốc tế
công nhận và luôn luôn được chính phủ bảo đảm cho công
dân của mình. Sự tôn trọng toàn bộ các nhân quyền là điều
kiện căn bản cho nền hòa bình trong thế giới hiện đại; hòa
bình trong nội bộ mỗi nước, mỗi xã hội cũng như trong lãnh
vực bang giao quốc tế, đúng như Giáo Hội đã nhiều lần lưu ý
tới trong các lời Giáo Huấn, đặc biệt là từ sau thời kỳ ban
hành Thông điệp Pacem in terris. Các quyền của con người
xuất phát từ lao động nằm trong toàn bộ rộng lớn các quyền
lợi căn bản của con người.
Nhưng, trong toàn bộ đó, chúng mang một đặc tính
riêng biệt tương ứng với bản tính đặc thù của lao động con
người như ta vừa phác họa những nét đại cương trên đây và
chúng ta phải quan sát chúng bằng cách căn cứ vào các đặc
điểm ấy. Như ta đã nói, lao động là một việc bó buộc, nghĩa
là một nhiệm vụ của con người dưới nhiều danh nghĩa. Con
người phải làm việc vì Đấng Tạo Hóa đã ra lệnh cho họ như
thế và cũng vì chính nhân tính của họ, một nhân tính chỉ có
thể tồn tại và phát triển nhờ vào lao động. Con người phải làm
việc vì lưu tâm đến tha nhân, nhất là đối với gia đình mình,
cũng như đối với xã hội mà họ trực thuộc, đối với đất nước
mà họ là con dân, đối với tất cả đại gia đình nhân loại mà họ
là thành viên, lý do vì họ là người thừa hưởng công sức lao
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 573
động của những thế hệ đi trước và đồng thời cũng là người
đồng lao cộng tác trong việc tạo dựng tương lai cho những kẻ
đến sau trong tiến trình lịch sử. Tất cả các điều ấy, tuy hiểu
cách rộng rãi nhất, cũng là một luật luân lý bắt buộc con
người phải lao động. Khi phải xét đến các quyền lợi tinh thần
của con người đối với lao động, những quyền lợi đi đôi với
nhiệm vụ, chúng ta cần luôn luôn có trước mắt toàn thể chiếc
vòng tròn của những điểm tham chiếu, tượng trưng cho việc
làm của mỗi chủ thể trong lúc lao động.
Quả vậy, khi nói đến nhiệm vụ phải lao động và những
quyền lợi đi đôi với nhiệm vụ ấy, chúng ta nghĩ ngay đến mối
quan hệ giữa chủ thuê – tức là người có việc cho làm, hoặc
trực tiếp hoặc gián tiếp – và người lao động.
Sự phân biệt giữa chủ thuê trực tiếp và chủ thuê gián
tiếp có vẻ rất quan trọng xét về phương diện tổ chức thực sự
của lao động cũng như về phương điện khả năng lập những
mối quan hệ công bằng hay bất công trong lãnh vực lao động.
Nếu chủ thuê trực tiếp là người hoặc là cơ quan ký kết
với người thợ giao kèo lao động theo những điều kiện ấn định
rõ ràng, thì chủ thuê gián tiếp phải hiểu là những nhân tố
khác biệt nhau, cùng với chủ thuê trực tiếp, tạo một ảnh
hưởng nhất định đối với cách thế lập thành giao kèo lao động,
và do đó, là những mối quan hệ công bằng hay bất công trong
lãnh vực của con người.
17. Chủ thuê: “trực tiếp” và “gián tiếp”
Ý niệm chủ thuê gián tiếp bao gồm những người, những
cơ cấu tổ chức các loại cũng như những khế ước tập thể về
lao động, những nguyên tắc xử trí do những người và cơ cấu
tổ chức nói trên thiết lập ra để xác định cả một hệ thống xã
hội kinh tế, hoắc xuất phát từ hệ thống đó. Vì thế ý niệm chủ
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 574
thuê gián tiếp dựa vào nhiều yếu tố khác nhau. Trách nhiệm
của chủ thuê gián tiếp với chủ thuê trực tiếp – chính các từ
ngữ cũng chỉ rõ như thế: trách nhiệm sẽ không trực tiếp bằng-
nhưng đó vẫn là một trách nhiệm thực sự: người chủ thuê gián
tiếp ấn định bản chất hình thái này hay hình thái khác của
quan hệ lao động và như thế, họ sẽ xác định luôn cách xử trí
của chủ thuê trực tiếp, khi người này ấn định một cách cụ thể
bản khế ước và các quan hệ lao động. Nhận xét đó không
mục đích giải tỏa trách nhiệm cho người chủ thuê trực tiếp, vì
họ có trách nhiệm của riêng họ, nhưng có ý lưu tâm đến
những yếu tố chồng chất ảnh hưởng đến cách xử trí của họ.
Khi cần đưa ra một chính sách lao động hợp với đạo đức, cần
phải lưu ý đến tất cả những yếu tố đó. Chính sách này được
coi là hợp với đạo đức khi các quyền lợi khách quan của
người lao động được tôn trọng.
Ý niệm chủ thuê gián tiếp có thể đem áp dụng cho mỗi
xã hội riêng biệt và trước hết cho chính phủ. Quả vậy, chính
phủ có nhiệm vụ phải đưa ra áp dụng một chính sách lao động
thật công bằng. Tuy nhiên, chúng ta được biết, với hệ thống
quan hệ kinh tế hiện thời trên thế giới, có nhiều sự liên lạc
giữa các chính phủ khác nhau, những liên lạc được biểu lộ
bằng các vụ xuất nhập khẩu, nghĩa là trao đổi cho nhau các
của cải kinh tế, hoặc những nguyên liệu, hoặc những bán sản
phẩm hay những toàn phần kỹ nghệ. Những quan hệ đó tạo ra
sự phụ thuộc và thật khó có thể nói tới chuyện hoàn toàn tự
túc, dù là đối với một quốc gia hết sức hùng mạnh về kinh tế.
Tình trạng lệ thuộc lẫn nhau như thế, tự nó, cũng chỉ là
chuyện thường; thế nhưng nó có thể đưa đến những hình thức
khai thác, bóc lột bất công và gây ảnh hưởng đến chính sách
lao động của các quốc gia, và cuối cùng, đến chính cá nhân
người lao động là chủ thể chính của lao động. Chẳng hạn như
những nước kỹ nghệ tiên tiến, và hơn thế nữa, các xí nghiệp
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 575
kiểm soát trên một phương diện đại quy mô các phương tiện
sản xuất kỹ nghệ (người ta mệnh danh đó là những công ty đa
quốc gia hoặc siêu quốc gia) có thể sẽ tìm cách bán các sản
phẩm của họ với giá thật cao và đồng thời đòi mua các
nguyên liệu và các bán sản phẩm của với giá rẻ mạt. Đó là
một trong những nguyên nhân tạo ra tình trạng không đồng
đều ngày càng gia tăng giữa các nguồn lợi tức quốc gia của
các nước. Sự cách biệt giữa đa số các nước giàu và nước
nghèo hơn không giảm bớt, không san bằng được, trái lại, cứ
tăng lên mãi và tất nhiên, sự thua thiệt là ở phía các nước
nghèo. Hiển nhiên rằng sự kiện này không thể không gây
ảnh hưởng đến chính sách lao động địa phương và đến tình
trạng của người lao động tại các nước bị thua thiệt. Trong một
chế độ như thế, người chủ thuê trực tiếp tất nhiên sẽ ấn định
những điều kiện lao động dưới tầm mức đòi hỏi khách quan
của các người lao động, nhất là nếu họ muốn thu được thật
nhiều lợi nhuận ở xí nghiệp họ điều khiển (hoặc ở những xí
nghiệp mà họ điều khiển trong trường hợp là một cơ sở đã
“xã hội hóa” các phương tiện sản xuất).
Chúng ta có thể kết luận một cách dễ dàng: khung cảnh
của những lệ thuộc liên quan đến các ý niệm chủ thuê gián
tiếp là một khung cảnh rất rộng lớn và phức tạp. Muốn xác
định, phải một phần nào để ý tới toàn bộ các yếu tố quyết
định của đời sống kinh tế trong bối cảnh của một xã hội hoặc
quốc gia nhất định; nhưng đồng thời cũng phải quan tâm tới
những mối dây liên lạc, những tình trạng lệ thuộc rộng lớn
hơn nhiều. Sự vận dụng các quyền của người lao động không
thể gò bó, coi đó là hậu quả của các chế độ kinh tế, mà tiêu
chuẩn có lẽ chỉ là làm thế nào để đạt được một lợi nhuận tối
đa, theo một quy mô lớn hay nhỏ một chút. Trái lại, cần phải
căn cứ vào những quyền lợi khách quan của người lao động
bất kể họ làm công việc gì: lao động tay chân, trí óc, kỹ nghệ,
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 576
nông nghiệp v.v…để đưa ra một tiêu chuẩn tương xứng và căn
bản để hình thành chế độ kinh tế, hoặc là của một xã hội, một
quốc gia, hay để đề ra toàn bộ chính sách kinh tế thế giới
cũng như những hệ thống và quan hệ quốc tế tùy thuộc.
Hành động của các tổ chức quốc tế, kể từ tổ chức liên
hiệp quốc, cần phải đi theo hướng đó, đúng với thiên chức
của mình. Rất có thể các tổ chức lao động quốc tế (OIT),
Lương nông của liên hiệp quốc (FAO) và các tổ chức tương
tự, sẽ giúp được nhiều ngay chính trong lãnh vực này. Trên
bình diện quốc gia, chúng ta có các Bộ, các cơ quan chính
quyền và những tổ chức xã hội thiết lập với mục đích đó. Tất
cả những chuyện đó đều chỉ cho chúng ta thấy rõ tính cách
quan trọng – như đã nói ở trên – của chủ thuê, gián tiếp trong
việc vận dụng và tôn trọng các quyền của người lao động, vì
các quyền của cá nhân con người là nhân tố chủ chốt của tất
cả nền trật tự đạo đức xã hội.
18. Vấn đề kiếm việc làm
Trong việc nghiên cứu các quyền của người lao động
trên khía cạnh liên hệ với “chủ thuê gián tiếp”, nghĩa là liên
hệ với toàn bộ thẩm quyền các cấp chịu trách nhiệm, trên
bình diện quốc gia và quốc tế, về chiều hướng chính sách lao
động, chúng ta cần lưu tâm trước nhất đến một vấn đề căn
bản. Đó là vấn đề kiếm được việc làm, nói cách khác, vấn đề
tìm công ăn việc làm thích ứng cho tất cả mọi người có thể
làm được. Nếu không thực hiện được tình trạng công bằng và
đúng đắn trong lãnh vực này, thì sẽ xảy ra nạn thất nghiệp,
nghĩa là không đủ việc làm cho những người có khả năng lao
động. Sự thiếu công việc làm có thể là một tình trạng chung
hoặc xảy ra trong một vài ngành nghề. Những thẩm quyền
được nói tới ở đây dưới danh từ chủ thuê gián tiếp có nhiệm
vụ phải hành động chống lại nạn thất nghiệp vì đây là một tai
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 577
họa, và khi xảy ra trên một quy mô rộng lớn, nó sẽ trở nên
một thảm cảnh xã hội. Vấn đề càng trở nên đau lòng, não nề
khi nạn nhân là những thanh niên, sau khi đã được chuẩn bị,
huấn luyện về văn hóa, kỹ thuật và nghề nghiệp thích ứng
rồi, lại không kiếm được việc làm và cảm thấy đau khổ vì
không được làm việc như lòng mình chân thành mong ước và
không được lãnh phần trách nhiệm trong cuộc phát triển kinh
tế và xã hội trong cộng đồng. việc chiếu cố lo lắng cho những
người thất nghiệp, nghĩa là làm tròn bổn phận bảo đảm những
món tiền phụ cấp cần thiết cho họ và gia đình tạm sống, là
một nhiệm vụ căn cứ trên nguyên tắc căn bản của nền trật tự
đạo đức trong lãnh vực này, tức là nguyên tắc cùng chung sử
dụng các của cải lợi ích, hoặc nói một cách đơn giản hơn,
quyền sống và tồn tại của con người.
Để đối phó với nạn thất nghiệp và đảm bảo công ăn
việc làm cho mỗi người, các thẩm quyền trong vấn đề này tức
là giới chủ thuê gián tiếp – phải đề ra một kế hoạch toàn bộ
thích hợp với công trường lao động nhiều loại này là nơi hình
thành đời sống không những kinh tế và cả văn hóa của một
xã hội nhất định; ngoài ra các thẩm quyền ấy còn phải lưu tâm
sao cho công trường này được tổ chức một cách thích đáng và
hợp lý. Nỗi lo âu tổng quát này cũng đè nặng trên vai Nhà
Nước, nhưng như thế không có nghĩa là phải có một chế độ
tập trung một chiều hoàn toàn do chính quyền liệu lý. Trái lại,
đây phải là một công tác phối hợp công bằng và hợp lý trong
một khung cảnh khả dĩ bảo đảm được sáng kiến của con
người, của các nhóm tự do, các trung tâm và toàn bộ lao động
địa phương được đảm bảo, bằng cách chú trọng đến những
điều đã được trình bày ở trên vì tính chất chủ thể của lao động
con người.
Việc các xã hội và các quốc gia phải lệ thuộc lẫn nhau
và sự cần thiết phải cộng tác trong nhiều lãnh vực đã đưa đến
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 578
một nhận định này là : mặc dù vẫn phải bảo vệ quyền tối
thượng của mỗi nước về phương diện kế hoạch hóa và quyền
tổ chức lao động tại mỗi xã hội, người ta vẫn phải nghĩ đến
việc hành động trong tinh thần hợp tác quốc tế trong lãnh vực
quan trọng này, và ký kết với nhau những hiệp ước hay thỏa
hiệp quốc tế. Chính trong công việc đó, vấn đề lao động của
con người ngày càng phải trở thành tiêu chuẩn của các hiệp
ước và thỏa hiệp đó, và lao động của con người phải được coi
như quyền căn bản của tất cả mọi người, thứ lao động mang
lại cho tất cả những quyền lợi tương tự, để cho mức sống của
người lao động tại các xã hội ngày càng đỡ chênh lệch quá
đáng khiến cho tình trạng bất công ngang ngược có thể gây ra
những phản ứng quá mạnh mẽ. Các tổ chức quốc tế có những
nhiệm vụ vô cùng lớn lao trong lãnh vực này, và cần phải dựa
vào một sự ước tính chính xác về sự phức tạp của tình hình
cũng như những điều kiện thiên nhiên, lịch sử, xã hội .v.v…
Đối với những chương trình hành động cùng chung nhau thiết
lập ra, họ cần tiến hành tốt hơn, nghĩa là làm sao cho có hiệu
quả thực nghiệm hơn.
Chúng ta có thể theo chiều hướng đó để vận động cho
một kế hoạch xúc tiến đẩy mạnh đà tiến bộ hòa hợp toàn thể
cho hết mọi người, đúng theo tinh thần Thông điệp Populorum
progressio của Đức Phaolô VI. Chúng ta cần nhấn mạnh rằng :
yếu tố cấu thành và đồng thời cách chứng nghiệm đầy đủ
nhất sự tiến bộ này trong tinh thần công lý và hòa bình mà
Giáo hội cổ võ và không ngừng cầu xin Cha chung của mọi
người và mọi dân tộc ban cho, chính là việc liên tục định giá
về lao động con người về khía cạnh cứu cách khách quan
cũng như về khía cạnh phẩm cách của chủ thể của tất cả mọi
lao động, tức là con người. Sự tiến bộ nói trên được thực hiện
do con người và cho con người, và nó phải tạo được những
kết quả nơi con người. Một cách để chứng nghiệm sự tiến bộ
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 579
ấy là việc nhận thức ngày một rõ ràng hơn về cứu cánh của
lao động và sự tôn trọng ngày càng tiến bộ hơn đối với các
quyền lợi gắn liền lao động, xứng hợp với phẩm cách con
người và chủ thể lao động.
Một chương trình kế hoạch hợp lý và một tổ chức lao
động con người tương xứng thích hợp với các xã hội và các
quốc gia cũng đủ khả năng giúp chúng ta khám phá ra những
sự phân phối tương xứng giữa các loại hoạt động như: lao
động nông nghiệp, lao động kỹ nghệ, các dịch vụ, lao động trí
óc như lao động khoa học và nghệ thuật tùy theo khả năng
của mỗi người để có ích lợi chung cho xã hội và cho cả nhân
loại. Đối với việc tổ chức đời sống con người tùy theo khả
năng của lao động, cần phải có một hệ thống giáo dục thích
hợp, cố nhằm mục đích phát triển nhân tính và giúp nó trưởng
thành, nhưng đồng thời cũng phải huấn luyện đặc biệt cho
mỗi người tùy lợi ích của mình giữ được một chỗ làm việc
trong công trường lao động rộng lớn và cũng rất khác biệt về
mặt xã hội.
Khi để ý ngắm nhìn toàn bộ gia đình nhân loại sống rải
rác trên khắp trái đất, người ta không thể không thấy một sự
kiện kỳ lạ có sự tỷ lệ lớn lao : trong khi một đàng có những
tài nguyên thiên nhiên quan trọng chưa được khai thác hết, thì
đàng khác vẫn có từng đoàn người thất nghiệp, những người
không được sử dụng đúng mức trong lao động và biết bao
người đói khổ. Sự kiện đó chứng tỏ một cách rõ ràng rằng:
trong nội bộ của mỗi cộng đồng chính trị cũng như trong các
mỗi quan hệ giữa các cộng đồng ấy trên bình diện đại lục hay
thế giới đối với tất cả những gì liên quan đến việc tổ chức lao
động và vấn đề kiếm việc làm- có một giá trị không ổn, nhất
là về những điểm gay cấn nhất, quan trọng nhất về phương
diện xã hội .
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 580
19. Lương bổng và các chiếu cố xã hội
Sau khi trình bày đại cương vai trò quan trọng của vấn
đề tìm kiếm việc làm cho các người lao động để giữ lòng tôn
trọng các quyền lợi bất khả phân ly của con người đối với lao
động, chúng ta nên đề cập trực tiếp đến những quyền lợi cuối
cùng được hình thành trong tương quan giữa người lao động
và chủ thuê trực tiếp tất cả những gì đã được trình bày trên
đây về chủ thuê gián tiếp đều có mục đích để làm sáng tỏ
những mối tương quan này nhờ sự hiện diện của nhiều dữ
kiện trong đó các mối tương quan ấy được hình thành một
cách gián tiếp. Tuy nhiên sự trình bày nói trên không phải chỉ
có giá trị suông; nó không phải là một bản tóm lược về kinh
tế hay chính trị; chúng ta chỉ muốn nhờ đó để làm nổi bật khía
cạnh thuộc nghĩa vụ và đạo đức. Trong việc này, vấn đề chủ
chốt của nền đạo đức xã hội là trả lương xứng đáng cho một
công việc đã được thực hiện. Trong cục diện ngày nay, không
có cách nào quan trọng hơn nữa để thực hiện sự công bằng
trong các mối quan hệ giữa người – lao động và chủ thuê cho
bằng việc trả lương cho lao động .Bất cứ lao động được thực
hiện trong một chế độ của quyền tư hữu và các phương tiện
sản xuất hay trong chế độ quyền sở hữu đã được “xã hội hóa”
ít hay nhiều , mối quan hệ giữa chủ thuê (trước nhất là trực
tiếp) và người lao động đều được giải quyết trên căn bản
đồng lương, nghĩa là bằng cách trả lương xứng đáng cho một
công việc đã được thực hiện.
Ta cũng phải lưu ý một điều là tựu chung người ta đánh
giá sự công bằng của một hệ thống xã hội kinh tế, và hoạt
cộng vận hành của nó, bằng cách quan sát xem lao động của
con người trong hệ thống đó được trả công có xứng đáng hay
không. Về điểm này, chúng ta lại chạm trán với nguyên tắc
thứ nhất của tất cả mọi chế độ trật tự đạo đức xã hội, nghĩa là
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 581
với nguyên tắc cùng chung sử dụng các của cải. Trong bất cứ
hệ thống nào, và dù các quan hệ căn bản giữa tư bản và lao
động ra sao, thì đồng lương, nghĩa là việc trả lương cho lao
động vẫn là đường lối của đại đa số loài người phải sử dụng
để được hưởng một cách cụ thể những của cải dành cho việc
sử dụng chung, kể cả của cải thiên nhiên hay của cải do sản
xuất tạo ra. Người lao động có thể với tới cả hai của cải đó
nhờ đồng lương mà họ được hưởng coi như công xá trả nợ cho
công việc của họ. Xuất phát từ đó, ta có thể nói: trong mỗi
trường hợp, đồng lương xứng đáng là một chứng nghiệm cụ
thể của sự công bằng. Lẽ tất nhiên đây không phải là cách
chứng nghiệm duy nhất, nhưng đây là cách chứng nghiệm
quan trọng và có thể nói là chủ chốt.
Cách chính nghiệm này nhắm trước nhất vào gia đình.
Một đồng lương xứng đáng cho việc làm của người trưởng
thành có trách nhiệm đối với gia đình là một thứ lương bổng
đủ để thành lập và đủ để nuôi sống một cách xứng đáng gia
đình họ và bảo đảm được tương lai cho gia đình ấy. Việc trả
công cho người lao động có thể thực hiện hoặc bằng phương
pháp gọi là lương bổng gia cảnh, nghĩa là một số lương duy
nhất trả cho người chủ gia đình có công lao động, đủ cho nhu
cầu gia đình họ mà không buộc người vợ phải làm thêm một
công việc nào ngoài gia đình để kiếm thêm tiền; hoặc bằng
những biện pháp xã hội khác, như phụ cấp gia đình hay phụ
cấp cho người mẹ trong gia đình, những phụ cấp tương xứng
với số những thân nhân phải nuôi bao lâu họ chưa đủ khả
năng mưu sinh một cách xứng đáng cho chính họ.
Kinh nghiệm cho thấy, chúng ta cần phải cố gắng tìm
cách mang lại giá trị xã hội cho các nhiệm vụ của người mẹ,
cho công sức khó nhọc phải dành cho các nhiệm vụ đó, cho
nhu cầu đòi hỏi của con cái, cho tình thương, thân ái để chúng
có thể trở nên những người có tinh thần trách nhiệm, trưởng
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 582
thành về mặt tinh thần và đạo đức, và quân bình về tâm lý.
Xã hội phải coi là vinh hạnh được bảo đảm cho người mẹ –
bảo đảm nhưng không cản trở quyền tự do, không kỳ thị tâm
lý hay thực hành, không để người mẹ bị thua thiệt so với các
người phụ nữ khác – bảo đảm cho họ có thể dạy dỗ con cái,
chăm lo giáo dục chúng tùy theo nhu cầu của từng lứa tuổi.
Nếu để người mẹ phải bỏ công việc đó để tìm việc làm ngoài
gia đình hầu kiếm thêm tiền, thì đó là một điều bất công xét
về phương diện lợi ích xã hội của gia đình, khi công việc đó
mâu thuẫn làm cản trở những mục đích đầu tiên của nhiệm vụ
làm mẹ.
Trong nội dung vấn đề này, ta cần nhấn mạnh rằng: nói
chung, phải tìm cách tổ chức và thích nghi tất cả tiến trình lao
động để thỏa mãn được các nhu cầu đòi hỏi của con người và
tôn trọng các hình thức đời sống của họ, trước hết là đời sống
gia đình tùy theo lứa tuổi và tùy theo phái nam hay phái nữ.
Một dự kiện cần chú ý là trong rất nhiều xã hội, người phụ nữ
làm việc trong ở hầu hết mọi địa hạt của đời sống. Tuy nhiên,
chúng ta nên thu xếp sao cho họ có thể thực hiện công tác
hợp với tính chất riêng của họ, nhưng phải biết tôn trọng
những nguyện vọng có tính cách gia đình và vai trò đặc thù
của họ bên cạnh người đàn ông trong việc xây dựng lợi ích
chung của xã hội.
Sự thăng tiến đích thực của người phụ nữ đòi hỏi lao
động phải được tổ chức thế nào để họ có thể thăng tiến mà
không buộc phải từ bỏ đặc tính riêng hoặc gây tai hại cho gia
đình; là nơi mà vai trò làm mẹ của họ không thể thay thế.
Bên cạnh đồng lương, ở đây còn có nhiều ứng khoản xã
hội khác có mục đích đảm bảo đời sống và sức khỏe cho
người lao động và gia đình. Trước những phí tổn để bảo vệ
sức khỏe, nhất là trong trường hợp tai nạn lao động, người lao
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 583
động cần được dễ dàng trong việc hưởng sự chăm sóc về y tế
với một giá rẻ và nếu có thể không phải mất tiền. Một lãnh
vực chiếu cố khác là quyền được nghỉ ngơi : trước hết là việc
nghỉ hàng tuần một cách đều đặn, gồm ít ra là ngày chủ nhật
và ngoài ra, một sự nghỉ ngơi dài hơn thường được gọi là phép
năm, hoặc chia ra làm nhiều kỳ nghỉ ngắn trong một năm.
Cuối cùng là quyền hưởng hưu trí, được đảm bảo tuổi già và
bảo hiểm tai nạn. Trong lãnh vực những quyền lợi chính này;
có cả một hệ thống các quyền lợi riêng biệt cùng với lương
bổng, chúng là dấu hiệu của một thứ quan hệ công bằng giữa
người lao động và chủ thuê. Trong số các quyền lợi ấy, không
bao giờ quên quyền được hưởng những địa điểm và những
phương pháp lao động không tác hại cho sức khỏe thể xác và
không xúc phạm đến tính chất thanh toàn đạo đức của họ.
20. Sự quan trọng của các nghiệp đoàn
Căn cứ vào tất cả các quyền trên đây và cũng vì người
lao động phải có đủ sức bảo vệ các quyền đó, ta thấy xuất
hiện một thứ quyền lợi khác: quyền hội đoàn, nghĩa là quyền
được liên kết, hiệp hội để bảo vệ các quyền lợi sinh tử của
những người làm việc trong các ngành nghề khác nhau. Các
hiệp hội ấy được gọi là nghiệp đoàn. Cho tới một mức độ nào
đó, các quyền lợi sinh tử của những người lao động đều
chung như nhau; thế nhưng đồng thời, mỗi thứ lao động mỗi
nghề nghiệp lại có đặc tính riêng, phản ánh cách riêng biệt
khác nhau trong các tổ chức ấy.
Có thể nói các nghiệp đoàn xuất xứ từ những phường,
vạn thợ thuyền thời trung cổ ở chỗ các tổ chức ấy tập họp
những người cùng chung một nghề, nghĩa là sự hợp hội căn
cứ vào nghề nghiệp. Nhưng nghiệp đoàn khác các phường,
vạn ở điểm : các nghiệp đoàn ngày nay phát triển nhờ sự
tranh đấu của thợ thuyền, của giới lao động, và nhất là của
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 584
các người lao động trong ngành kỹ nghệ để bảo vệ những
quyền lợi chính đáng của họ chống lại những nhà thầu và giới
chủ nhân các phương tiện sản xuất. Nhiệm vụ của nghiệp
đoàn là bảo vệ những quyền lợi sinh tồn của người lao động
trong tất cả mọi lãnh vực có dính dáng đến quyền lợi của họ.
Kinh nghiệm lịch sử cho biết, các tổ chức thuộc loại này là
một nhân tố cần thiết của đời sống xã hội, nhất là trong các
xã hội kỹ nghệ tân tiến. Lẽ dĩ nhiên điều đó không có nghĩa
là chỉ có các thợ thuyền ngành kỹ nghệ mới có thể thành lập
những nghiệp đoàn kiểu như vậy. Vì trong thực tế, chúng ta
thấy có cả những nghiệp đoàn nông dân và nghiệp đoàn trí
thức, và cũng có những nghiệp đoàn của chủ nhân. các
nghiệp đoàn lại phân chia thành những chi, nhóm nhỏ căn cứ
theo các chuyên môn trong nghề.
Theo giáo lý xã hội của công giáo, nghiệp đoàn không
chỉ là phản ánh của một cơ cấu “giai cấp” xã hội và không
phải là những phát ngôn nhân của một cuộc đấu tranh giai cấp
có chủ trương phải tất yếu nắm quyền chi phối đời sống xã
hội. Chắc chắn nghiệp đoàn là những phát ngôn nhân của một
cuộc tranh đấu cho công bằng xã hội, cho các quyền lợi chính
đáng của người lao động tùy theo nghề nghiệp khác nhau của
họ. Tuy nhiên, cuộc “tranh đấu” ấy phải được hiểu như là
một sự dấn thân thông thường “với mục đích” đạt tới một lợi
ích chính đáng, và ở đây là sự lợi ích tương ứng với các nhu
cầu và công lao của những người lao động hợp hội lại với
nhau theo nghề của mình; nhưng nó không phải là “một cuộc
đấu tranh chống lại” những người khác. Nếu trong những vấn
đề bị tranh chấp, nó mang tính chất của một sự đối lập lẫn
nhau, thì đó chỉ là một cuộc đi tìm lợi ích tức là sự công bằng
xã hội chứ không phải là đấu tranh để tranh đấu hay là việc
tìm cách diệt trừ lẫn nhau. Đặc điểm của lao động trước hết là
việc kết hợp loài người và sức mạnh xã hội của nó ở chính
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 585
điểm đó : sức mạnh xây dựng một cộng đồng. Vì cuối cùng,
chính trong cộng đồng ấy, các người lao động và những người
làm chủ các phương tiện sản xuất phải tìm cách kết hợp với
nhau cách này hay cách khác. Dưới ánh sáng của cơ cấu tổ
chức căn bản của tất cả mọi thứ lao động-ánh sáng chiếu soi
làm nổi bật sự kiện : “lao động” và “tư bản”, xét cho cùng là
những lực hợp thành cần thiết của sản xuất trong bất kỳ một
hệ thống xã hội nào, chúng ta thấy sự loài người kết hợp với
nhau để bảo vệ các quyền lợi của mình, sự kết hợp phát xuất
ngay từ các đòi hỏi của lao động, vẫn luôn luôn là một yếu tố
tạo thành nền trật tự xã hội và nghĩa hợp quần, một yếu tố
không sao có thể bỏ qua được.
Những cố gắng chính đáng để bảo vệ quyền lợi của các
người lao động hợp hội trong cùng một nghề nghiệp, cần luôn
luôn để ý đến những hạn chế do tình trạng kinh tế chung
trong nước gây ra. Những đòi hỏi của nghiệp đoàn không thể
trở thành một thứ thái độ ích kỷ của phe nhóm hay giai cấp,
mặc dù nó cũng phải nhắm tới việc sửa chữa tất cả những gì
khiếm khuyết trong hệ thống sở hữu các phương tiện sản xuất
hoặc trong cách quản trị và sử dụng các phương tiện ấy vì lợi
ích chung của toàn thể xã hội. Đời sống xã hội và kinh tế xã
hội đúng là một hệ thống “bình thông đáy” và mỗi hoạt động
xã hội có mục đích bảo vệ quyền lợi của các nhóm riêng biệt
đều phải thích ứng theo.
Theo nghĩa đó, hoạt động của các nghiệp đoàn tất nhiên
nằm trong lãnh vực của chính trị, được hiểu như là việc khôn
ngoan lo lắng đến ích chung. Thế nhưng, cùng lúc ấy vai trò
của các nghiệp đoàn không phải là để làm chính trị theo nghĩa
ngày nay người ta thường hiểu. Các nghiệp đoàn không có
tính chất đảng chính trị tranh đấu giành lấy chính quyền, và
chúng cũng không bao giờ nên tùng phục các quyết định của
các chính đảng hoặc liên hệ quá chặt chẽ với họ. Thật vậy,
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 586
nếu các nghiệp đoàn hoạt động như thế, chúng sẽ dễ mất sự
liên lạc tiếp xúc với vai trò riêng của chúng, tức là vai trò bảo
vệ các quyền lợi chính đáng của người lao động trong khung
cảnh lợi ích chung của cả xã hội, và trái lại sẽ trở thành một
dụng cụ để thực hiện các mục đích khác.
Khi nói đến việc bảo vệ các quyền lợi chính đáng của
người lao động theo nghề nghiệp của họ,lẽ đương nhiên phải
luôn để ý nhiều hơn đến những gì mà tính chất chủ quan của
lao động lệ thuộc vào tùy theo mỗi nghề nghiệp, và đồng
thời, hoặc hết sức phải lưu tâm đến những gì ảnh hưởng tới
phẩm cách riêng của chủ thể đang lao động. Về điểm này,
hoạt động của các nghiệp đoàn có rất nhiều khả năng, kể cả
khả năng dấn thân hoạt động cho nền học vấn, giáo dục và
cổ võ cho việc tự giáo dục. Hoạt động của nhà trường, của cái
người ta gọi là “đại học thợ thuyền” hoặc “đại học bình dân”,
của các trương trình và các khóa huấn luyện đã và đang giúp
phát triển loại hoạt động ấy, thật rất đáng biểu dương. Chúng
ta phải luôn luôn mong ước rằng nhờ hoạt động của các
nghiệp đoàn, không những người lao động có thể “có” nhiều
hơn, nghĩa là có thể hiện diện trọn vẹn nhân tính của mình
hơn, dưới mọi hình thái của nó.
Trong việc bảo vệ các quyền lợi chính đáng của người
lao động, các nghiệp đoàn cũng sử dụng phương pháp đình
công, nghĩa là ngưng việc lao động, coi như một tối hậu thư
gởi cho các cơ chế thẩm quyền và trước hết cho các chủ thuê.
Đó là một phương pháp mà giáo lý xã hội của Công giáo
công nhận là hợp pháp, với một số điều kiện và trong những
hạn định chính đáng, quyền đình công phải được bảo đảm cho
các người lao động và cá nhân họ không thể bị trừng phạt vì
đã tham gia vào hoạt động ấy. Đây là một phương phát chính
đáng và hợp pháp, nhưng người ta cũng phải nhấn mạnh rằng
nó vẫn chỉ là một hạ sách. Người ta không nên lạm dụng
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 587
quyền đình công, và đặc biệt là không nên lạm dụng để nó
trở thành lá bài chính trị. Ngoài ra, ta đừng bao giờ quên rằng,
đối với những dịch vụ cốt yếu cho đời sống của xã hội, ta
phải luôn luôn đảm bảo và nếu cần, phải sử dụng cả những
biện pháp tương xứng. Sự lạm dụng quyền đình công có thể
làm tê liệt tất cả đời sống xã hội kinh tế, và như thế là ngược
với những đòi hỏi của công ích xã hội, mà công ích xã hội lại
là điều đối ứng với chính bản chất – một bản chất được hiểu
đúng nghĩa – của chính lao động .
21. Phẩm cách của lao động nông nghiệp
Tất cả những gì đã nói trên đây về phẩm cách của lao
động, về tầm vóc khách quan và chủ quan của lao động con
người, cũng áp dụng trực tiếp cho vấn đề lao động nông
nghiệp và cho tình trạng hoàn cảnh của người vất vả với công
việc ruộng vườn. Quả vậy, đây là một vấn đề rộng lớn của
một trường lao động trên trái đất của chúng ta, một lãnh vực
không phải hạn chế ở đại lục này hay đại lục khác, cũng
không phải hạn chế cho riêng những xã hội đã đạt tới một
trình độ nào đó trong sự phát triển và tiến bộ. Thế giới nông
nghiệp, một thế giới cung ứng cho xã hội những nhu cầu
lương thực cần thiết hàng ngày, có một tầm mức quan trọng
cơ bản. Các điều kiện của đời sống nông thôn và của lao
động nông nghiệp ở các nơi không đồng đều và hoàn cảnh xã
hội của các người lao động nông nghiệp mỗi nước một khác.
Việc đó không chỉ lệ thuộc vào mức độ phát triển kỹ thuật
nông nghiệp mà còn lệ thuộc, có lẽ rất nhiều, vào sự có công
nhận hay không các quyền lợi chính đáng của người lao động
nông nghiệp, và cuối cùng vào mức độ ý thức trong toàn thể
nền đạo đức xã hội và lao động.
Công việc đồng áng gặp những khó khăn lớn như việc
phải vận dụng sức lực thể xác lâu giờ và cực nhọc, việc xã
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 588
hội thường coi nhẹ giá trị của người nông dân khiến họ có
cảm giác mình là con ghẻ của xã hội và thúc đẩy rất đông
nông dân bỏ đồng ruộng lên thành thị, và do đó lâm vào tình
trạng mất nhân cách hơn nữa trong đời sống. Đó là chưa kể
tình trạng thiếu huấn luyện nghề nghiệp cho đầy đủ, thiếu
nông cụ thích ứng, một thứ tinh thần cá nhân chủ nghĩa ngấm
ngầm và cả những hoàn cảnh khách quan bất công nữa. Tại
một số quốc gia đang phát triển, hàng triệu người buộc phải
canh tác trên đất đai của những người khác và bị các đại điền
chủ bóc lột, không hy vọng gì trong tương lai có được một
mảnh đất riêng cho mình. Cá nhân và gia đình người lao động
nông nghiệp không được hưởng một hình thức pháp luật nào
bảo vệ khi già yếu, bệnh tật hay thất nghiệp. Họ phải làm
việc lam lũ cực nhọc qua những ngày tháng dài mà tiền công
lại rẻ mạt. Nhiều đất canh tác bị các chủ điền bỏ hoang,
quyền sở hữu hợp pháp của một vài mảnh đất nhỏ xíu, tự lo
lắng canh tác trong bao nhiêu đời, thường bị cướp đoạt ngang
xương trước lòng tham không đáy “ham mở rộng đất canh
tác” của những cá nhân hay những nhóm người quyền thế
hơn. Ngay cả ở những nước kinh tế phát triển, là nơi các
nghiên cứu khoa học, các khám phá về kỹ thuật, hoặc chính
sách của nhà nước đã đưa nông đân đến một mức độ phát
triển rất cao, quyền lao động vẫn bị vi phạm khi người ta
không cho người nông dân được quyền tham dự vào việc lựa
chọn phần công tác lao động của mình hoặc quyền được tự do
họp hội để xây dựng một cách chính đáng việc thăng tiến xã
hội, văn hóa và kinh tế của người lao động nông nghiệp.
Vì thế trong nhiều trường hợp và hoàn cảnh, cần phải
cấp tốc có những thay đổi tận gốc rễ nền nông nghiệp và
người lao động lấy lại được giá trị xác đáng, coi như nền tảng
một nền kinh tế lành mạnh trong toàn bộ sự phát triển của
cộng đồng xã hội. Do đó, ta phải xác nhận và tuyên dương cổ
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 589
võ phẩm cách của sự lao động, của tất cả mọi thứ lao động,
đặc biệt là lao động nông nghiệp là thứ lao động giúp cho con
người “chế ngự” một cách thật hùng hồn trái đất là thứ Thiên
Chúa đã trao tặng cho và củng cố “quyền ngự trị” của họ trên
thế giới hữu hình.
22. Người tật nguyền và lao động
Trong những năm gần đây, các cộng đồng quốc gia và
các tổ chức quốc tế đã để ý lưu tâm tới một vấn đề gắn liền
với lao động, và có nhiều hậu quả: vấn đề những người tật
nguyền. Họ cũng là những chủ thể có đầy đủ nhân tính và
với danh nghĩa đó, họ có những quyền thiên phú bất khả xâm
phạm. Mặc dầu thân xác họ có những phần bị hạn chế và đau
khổ hằn trên thân mình và năng lực, những quyền đó càng
làm nổi bật phẩm cách và sự cao quí của con người. Vì người
tật nguyền là một chủ thể đầy đủ có quyền lợi nên chúng ta
có nhiệm vụ phải dành mọi sự dễ dàng để họ có thể tham gia
vào đời sống xã hội trên mọi khía cạnh, mọi bình diện mà khả
năng cho phép họ tham dự. Người tật nguyền là một người
trong chúng ta và thông phần đầy đủ vào nhân tính của chúng
ta. Thật là một điều hết sức bất xứng đối với con người. Và là
một lời phủ nhận nhân tính chung nếu chúng ta chỉ chấp nhận
cho vào đời sống xã hội và lao động những thành phần còn
giữ được đầy đủ các phương tiện khả năng. Làm như thế,
chúng ta sẽ lại rơi vào một hình thức kỳ thị lớn, kỳ thị giữa
những người khỏe và lành mạnh với những người yếu đuối
bệnh tật. Ngay trong trường hợp này, lao động theo nghĩa
khách quan phải lệ thuộc vào con người, vào chủ thể của nó
chứ không vào mối lợi về kinh tế.
Vì thế bổn phận của các thẩm quyền hữu trách trong thế
giới lao động, của chủ thuê trực tiếp cũng như chủ thuê gián
tiếp là phải dùng những biện pháp hiệu nghiệm và thích ứng
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 590
để những người tật nguyền sử dụng được quyền của mình
bằng cách được huấn luyện về nghề nghiệp để có thể lao
động và có được chỗ đứng trong hoạt động sản xuất mà họ có
thể đóng góp vào được. Tại đây nhiều vấn đề có tính chất
thực hành, pháp chế và kinh tế được đặt ra; nhưng nhiệm vụ
của cộng đồng, nghĩa là của các nhà cầm quyền, các hiệp hội
và các nhóm trung gian, các xí nghiệp và chính những người
tật nguyền là phải góp ý kiến và của cải để đạt tới mục tiêu
mà mọi người phải tiến tới, nói cách khác, để những người tật
nguyền có được một việc làm tùy theo khả năng, lý do vì
phẩm cách con người và chủ thể lao động của họ đòi hỏi như
thế. Mỗi cộng đồng cần thiết lập những cơ cấu thích nghi để
tìm kiếm và tạo cơ sở làm việc cho những người đó, hoặc
trong các xí nghiệp công, tư với một công việc thường lệ hay
thích nghi với hoàn cảnh của họ, hoặc trong các xí nghiệp và
môi trường được “bảo trợ”.
Cũng như đối với các người lao động, ta phải hết sức
chú tâm đến các điều kiện lao động thể xác và tâm lý của
người tật nguyền, đến việc trả lương xứng đáng cho họ, đến
khả năng thăng tiến của họ cũng như đến các trở ngại cần
phải san bằng. ta không tự dối mình và ta công nhận đây là
một công việc phức tạp và khó khăn, nhưng ta hy vọng rằng
một quan niệm xác đáng về lao động theo nghĩa chủ quan có
thể dẫn tới một tình trạng tốt đẹp, trong đó người tật nguyền
có thể cảm thấy mình không phải ở bên ngoài lề thế giới lao
động hoặc phải lệ thuộc vào xã hội, mà là một chủ thể lao
động có đầy đủ quyền và hữu ích; phẩm cách con người của
mình được tôn trọng, được kêu gọi góp sức vào công cuộc
tiến bộ,làm ích cho gia đình và cho cộng đồng theo khả năng
của mình.
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 591
23. Lao động và vấn đề di trú
Cuối cùng, ít ra chúng ta cũng phải có đôi lời nói về vấn
đề di trú để tìm việc làm. Đây là một hiện tượng xưa cũ
nhưng vẫn tái diễn không ngừng và hơn thế nữa ngày nay vẫn
tiếp tục với một mức độ gây ra nhiều phức tạp cho đời sống
hiện thời. Con người có quyền lìa bỏ nguyên quán vì những
lý do khác nhau – cũng như có quyền trở về nguyên quán – để
có được những hoàn cảnh sống tốt hơn ở một xứ khác. Lẽ tất
nhiên là sự kiện này không phải là không phải là không gặp
những khó khăn khác nhau. Trước hết, đó là một sự mất mát
đối với xứ sở mà người ta lìa bỏ. Đó là sự ra đi của một người,
cũng là thành viên của một cộng đồng lớn được kết hợp với
nhau bằng một dòng lịch sử, một truyền thống, một nền văn
hóa chung, để đến lập lại cuộc đời ở giữa một xã hội khác
được kết hợp với nhau bằng một nền văn hóa khác và thường
thường cũng bằng một ngôn ngữ khác. Trong trường hợp này,
thế là mất đi một chủ thể lao động là người đáng lẽ sẽ dùng
nỗ lực của tư tưởng và bàn tay của mình để góp công tăng gia
lợi ích trong xứ sở mình; và bây giờ nỗ lực và sự đóng góp ấy
và được mang đến cho một xã hội khác có thể nói là không
có quyền hưởng bằng quê hương bản quán.
Thế nhưng, mặc dầu việc di trú, dưới một và khía cạnh,
là một tai họa, song tai hại này, trong những hoàn cảnh nhất
định, lại là một tai hại cần thiết. Chúng ta phải làm đủ mọi
cách và quả thật người ta đang làm rất nhiều trong lãnh vực
trên – để tai hại này (hiểu theo ý nghĩa vật chất) không mang
lại những gì tai hại tinh thần nặng nề quan trọng hơn, mà trái
lại còn có thể mang phần nào lợi ích trong đời sống cá nhân,
gia đình và xã hội của người di trú, cho xứ sở họ tới cũng như
cho xứ sở mà họ bỏ ra đi. Về lãnh vực này rất nhiều việc phải
tùy thuộc vào một nền luật pháp công bằng, đặc biệt là trong
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 592
địa hạt các quyền lợi của người lao động. Chúng ta hiểu rằng
vấn đề này phải được đặt trong nội dung các điều đang được
bàn luận ở đây, nhất là về phương diện này.
Điều quan trọng nhất là phải làm sao cho những người
lao động ở nước ngoài với tư cách những người di trú thường
trực hoặc những người lao động từng mùa (tạm thời) không bị
thiệt thòi trong lãnh vực quyền lợi lao động so với các người
lao động khác của xã hội này. Không thể để cho việc di trú vì
lý do tìm việc làm trở thành một cơ hội cho người ta khai thác
về tài chánh hoặc xã hội dưới bất cứ hình thức nào. tương
quan lao động đối với người lao động di trú cần được xây
dựng trên cùng những tiêu chuẩn như đối với các người lao
động khác của xã hội đó. Giá trị của lao động cần được ước
lượng bằng cùng một hệ thống đo lường chứ không thể căn
cứ vào sự khác biệt về quốc tịch, tôn giáo hay chủng tộc,
phương chi càng không nên khai thác hoàn cảnh bó buộc của
những người di trú. Tất cả những hoàn cảnh đó đều phải lùi
bước – lẽ tất nhiên sau khi đã cân nhắc các phẩm chất riêng –
trước giá trị căn bản của lao động, thứ giá trị gắn liền với
phẩm chất của con người. Chúng ta cần nhắc lại một lần nữa
nguyên tắc căn bản : hệ thống các giá trị, ý nghĩa sâu xa của
lao động đòi hỏi tư bản phải phục vụ cho lao động chứ không
thể để lao động phục vụ cho tư bản.
V. NHỮNG YẾU TỐ ỨNG DỤNG CHO MỘT NỀN
ĐẠO ĐỨC CỦA LAO ĐỘNG
24. Vai trò đặc biệt của giáo hội.
Trong đề tài nói về lao động nhân dịp kỷ niệm 90 năm
ban hành thông điệp Rerum novarum, chúng tôi muốn dành
phầm cảm nghĩ cuối cùng để trình bày về nền đạo đức của
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 593
lao động theo ý nghĩa Kitô giáo. Căn cứ vào việc : Lao động
xét theo kích thước chủ quan của nó, luôn luôn là một hành
động thuộc nhân vị – actus personnae – ta có thể quả quyết
rằng : Toàn thể con người , cả thể xác lẫn tinh thần, đều tham
dự vào lao động, dầu là lao động chân tay hay trí óc. Đồng
thời chính vì lợi ích cho toàn diện con người mà lời Thiên
Chúa hằng sống và sứ điệp Tin mừng cứu độ đã được ban đến
cho họ, trong đó có nhiều lời giáo huấn như những ánh sáng
đặc biệt liên quan đến sự lao động của con người. Vì thế,
chúng ta phải thấu triệt những lời giáo huấn đó : cần phải vận
dụng trí khôn dưới ánh sáng của đức tin, cậy và mến để nhờ
vào những lời giáo huấn này, làm cho lao động của con người
cụ thể mang được ý nghĩa mà nó phải có trước mặt Thiên
Chúa, mà nhờ đó trở thành một trong những yếu tố vừa thông
thường vừa đặc biệt quan trọng của công cuộc cứu độ.
Nếu Giáo hội cho rằng mình có nhiệm vụ phải xác định
quan điểm về giá trị nhân bản của lao động, về trật tự luân lý
mà lao động có phần đóng góp vào; Nếu Giáo hội công nhân
rằng việc xác định quan điểm đó là một trong những nhiệm
vụ quan trọng của toàn bộ sứ vụ truyền bá rao giảng Tin
mừng, thì đồng thời Giáo hội cũng nhận thấy mình có bổn
phận phải hình thành một nền đạo đức lao động khả dĩ giúp
mọi người nhờ đó tiến gần đến với Chúa, là Đấng Tạo thành,
Đấng cứu chuộc, tham dự vào chương trình cứu rỗi loài người
và thế gian, đi sâu vào được đời sống thân hữu với Đức Kitô
bằng cách nhờ đức tin sống động thông phần với ba sứ vụ
Linh mục, Tiên tri và Vương giả của Ngài, đúng như công
đồng Vaticanô II đã giáo huấn chúng ta bằng những từ ngữ
tuyệt vời.
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 594
25. Lao động xét trên phương diện là sự tham
dự vào công việc của đấng tạo thành.
Công đồng Vaticanô II dạy rằng : “Đối với các tín hữu,
chắc chắn sinh hoạt cá nhân cũng như tập thể của nhân loại,
hoặc nỗ lực vĩ đại của con người vất vả qua các thế kỷ nhằm
cải thiện hoàn cảnh sinh sống, tự nó, vốn phù hợp với ý định
của Thiên Chúa. Thật vậy, con người được tao dựng giống
hình ảnh Thiên Chúa, nên đã nhận mệnh lệnh chinh phục trái
đất cùng tất cả những gì chứa đựng trong đó, cai quản vũ trụ
trong công bình và thánh thiện, và khi nhìn nhận Thiên Chúa
là Đấng tạo dựng mọi loài, họ qui hướng chính bản thân mình
cũng như vũ trụ về Ngài. Như thế, khi con người chinh phục
tất cả thì danh Chúa được tôn vinh khắp địa cầu” (GS, 34).
Qua những lời Thiên Chúa mạc khải, ta thấy ghi khắc
sâu xa chân lý căn bản sau đây : Con người, được tạo dựng
theo hình ảnh Thiên Chúa, tham dự vào công việc của Đấng
Tạo thành bằng lao động của mình, và hiểu theo một ý nghĩa
nào đó, cũng như tùy theo khả năng của mình, họ tiếp tục
phát triển và bổ túc công cuộc tạo thành bằng cách luôn luôn
tiến xa hơn nữa vào công cuộc khám phá những tài nguyên
và những giá trị tiềm tàng trong toàn bộ thế giới đã được tạo
dựng. Chúng ta tìm thấy chân lý đó ngay từ những dòng đầu
tiên của Kinh thánh, trong sách Sáng thề : Ở đây, công cuộc
tạo thành được trình bày dưới hình tức một “công việc” của
Thiên Chúa làm trong “sáu ngày” (St 2,2; Xh 20,8; Đnl 5,12-
14), và kết thúc bằng việc “nghỉ ngơi” vào ngày thứ bảy (St
2,3). Ngoài ra cuốn sách cuối cùng của bộ kinh thánh cũng
vang lên những lời biểu lộ sự tôn trọng công cuộc của Thiên
chúa khi Ngài “làm công việc” tạo dựng. Quả vậy sách khải
huyền viết : “Lạy Thiên chúa toàn năng, công cuộc của ngài
vĩ đại và lạ lùng” (Kh 15,3). Lời tung hô này như một tiếng
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 595
vang làm vọng lại lời tung hô chép trong sách sáng thế khi
việc miêu tả công cuộc tạo dựng của mỗi ngày đều được kết
thúc bằng câu: “Và Thiên Chúa thấy rằng mọi sự đều tốt
lành” (St 1,4.10.12.18.21.15.31).
Việc diễn tả công cuộc tạo dựng chúng ta được đọc
trong đoạn thứ nhất của sách Sáng thế, có thể coi như bản “tin
mừng đầu riên nói về lao động”. Quả vậy, đoạn văn này
chứng tỏ lao động quý trọng ở điểm nào; đoạn văn này dạy
rằng : con người phải dùng sự lao động của mình để bắt chước
Thiên Chúa là Đấng tạo thành mình, vì con người mang trong
mình – và chỉ có con người mới làm được như thế – một yếu tố
riêng biệt làm cho họ nên giống ngài. Con nười phải bắt
chước Thiên chúa khi làm việc cũng như khi nghỉ ngơi, vì
chính thiên chúa đã muốn trình bày công cuộc tạo dựng của
ngài dưới hình thức lao động và nghỉ ngơi. Đúng như Đức Kitô
đã nói : “Cha thầy luôn luôn hành động…” (Ga 5,17), công
việc của Thiên Chúa trên trần gian vẫn luôn luôn tiếp diễn;
với quyền năng tạo dựng của ngài, Thiên chúa hành động
bằng cách trợ giúp trần gian hiện hữu sau khi ngài bởi không
mà dựng nên cho có; với quyền năng cứu độ của ngài, Thiên
chúa hành động trong tâm hồn con người, những tạo vật mà
ngay từ nguyên thủy, Ngài đã dự tính cho được”nghỉ ngơi”
(Dt 4,1.9-10), hợp nhất với ngài “trong nhà của Cha”
(Ga 14,2). Chính vì thế nên vấn đề lao động của con người
không những chỉ nghỉ ngơi mỗi ”ngày thứ bảy”
(Đnl 5,12-14; Xh 10,8), mà ngoài ra không chỉ đòi phải vận
dụng sức lực của con người trong hành động bên ngoài, mà
còn phải tạo ra được một tâm trạng bên trong khi con người
trở nên đúng với ý muốn của thiên chúa hơn, họ có thể chuẩn
bị cho một sự “nghỉ ngơi” mà Thiên Chúa dành cho các tôi tớ,
bạn hữu Ngài (Mt 15,21).
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 596
Như Thánh Công Đồng đã dạy: “Những hoạt động
thường nhật nhất của con người phải biểu lộ được ý thức
rằng: lao động của họ là việc tham dự vào công cuộc của
Thiên Chúa. Bởi vì trong khi lao động để nuôi sống mình và
gia đình, đồng thời cũng để phục vụ cho xã hội, tất cả mọi
người nam, nữ đều phải nhận thức được rằng: Lao động của
họ là việc tiếp diễn công việc của Đấng tạo Thành, là việc
phục vụ cho anh em đồng loại, là sự đóng góp của cá nhân
vào việc thực hiện chương trình kế hoạch của Thiên Chúa đối
với lịch sử” (Vat.II GS. 34).
Vì thế nền đạo đức Kitô giáo này về lao động phải trở
thành một gia sản chung cho mọi người. Đặc biệt trong thời
đại hiện nay nền đạo đức lao động này chứng tỏ mức độ
trưởng thành cần thiết giữa lúc tình hình căng thẳng và trí
khôn, tâm hồn mọi người băn khoăn lo âu. Người Kitô hữu
không những không coi các công trình do con người dùng tài
năng và sức lực riêng để thực hiện các chống đối quyền năng
của Thiên Chúa không coi thụ tạo có lý trí như một địch thủ
của Tạo hóa, mà còn xác tín rằng các thắng lợi của nhân loại
là dấu hiệu biểu dương Thiên Chúa cao cả và là kết quả ý
định khôn lường của Ngài. Tuy nhiên, quyền lực con người
càng gia tăng, trách nhiệm cá nhân hay tập thể lại càng nới
rộng. Do đó, chúng ta thấy sứ điệp Kitô giáo không làm cho
con người quên công cuộc xây dựng thế giới hoặc khiến họ
không còn thiết tha đến lợi ích của đồng loại, trái lại, còn làm
cho họ cảm thấy đó là một nhiệm vụ cấp bách hơn (Vat.II,
GS, 34).
Chính ý thức được tham gia vào công cuộc tạo dựng
bằng lao động của mình trở thành động lực sâu xa nhất thúc
đẩy con người lao động trong các lĩnh vực. Hiến chế Lumen
Gentium đã viết: Chính vì thế, tín hữu phải nhận biết bản tính
sâu xa của những giá trị của chúng, là ca tụng Thiên Chúa;
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 597
đồng thời phải giúp nhau sống đời sống thánh thiện, nhờ
những việc trần thế, để thế gian thấm nhuần Thần khí của
Chúa Kitô và đạt tới cùng đích một cách hữu hiệu hơn trong
công lý, bác ái và hòa bình…nhờ khả năng chuyên môn trong
những việc trần thế, nhờ các hoạt động của họ, các hoạt động
được ân sủng Đức KiTô siêu nhiên hóa, giáo dân hãy đem
toàn lực hợp tác để nhờ lao động của con người, kỹ thuật và
văn hóa nhân loại khai thác những của cải được tạo
dựng…theo ý định của Đấng Tạo Hóa và sự soi sáng của Ngôi
Lời Ngài (LG, 36).
26. Đức kitô, con người của lao động
Con người dùng lao động để tham gia vào chính công
cuộc của Thiên Chúa, Đấng tạo thành mình. Đó là một chân
lý đã được Chúa Giêsu làm nổi bật cách đặc biệt, Đức Giêsu
Kitô mà những thính giả đầu tiên của Ngài ở Nazarét đã phải
ngạc nhiên và bảo nhau: “Tại sao ông này lại được như vậy?
Bởi đâu ông ta được khôn ngoan như thế ?… chớ thì ông ta
chẳng phải là người thợ mộc hay sao?” (Mc 6,2-3). Quả vậy,
Chúa Giêsu đã rao giảng và nhất là đã đem thực hành “TIN
MỪNG” được uỷ thác cho Ngài, thực hành những lời của
Đấng Khôn Ngoan vĩnh cửu. Vì lý do đó, đây quả thật là “TIN
MỪNG CỦA LAO ĐỘNG”, vì người rao giảng Tin Mừng ấy
chính là một người lao động, một người thợ như ông Giuse
quê thành Nazarét (Mt 13,55). Mặc dầu qua những lời Chúa
đã rao giảng, chúng ta không thấy câu nào nói thẳng lệnh
phải lao động – mà trái lại, có một lần, chúng ta còn thấy Chúa
cấm không được quá lo lắng làm ăn mưu sống (Mt 6,25-34) –
nhưng cả cuộc đời của Chúa là một chứng ngôn hùng biện
không ai chối cãi được: Ngài thuộc về “thế giới lao động” ;
Ngài ưa chuộng, tôn trọng sự lao động của con người. Hơn thế
nữa, ta có thể nói: Ngài âu yếm thiết tha lao động và các hình
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 598
thức của lao động. Ngài nhận thấy trong mỗi hình thức đó một
phương cách để biểu lộ việc con người là hình ảnh Thiên
Chúa là Đấng Tạo Hóa và là Cha. Chính Ngài đã nói: “Cha
Thầy là người trồng nho…”
(Ga 15,1), và qua lời giáo huấn của Ngài, bằng nhiều phương
cách, ta thấy toát lên chân lý căn bản về vấn đề lao động, một
chân lý đã được diễn tả trong tất cả truyền thống của Cựu
Ước, ngay từ sách Sáng Thế.
Trong các sách của Cựu Ước, không thiếu gì đoạn nhắc
nhở đến lao động cũng như các nghề nghiệp của con người:
Thầy thuốc (Hc 38,1-3), dược sĩ (Hc 3,4-8), thợ thuyền, nghệ
nhân (Xh 31,1-5; Hc 38,27), thợ rèn (St 4,22; Is 44,12) – người
ta có thể đem áp dụng những lời trong Thánh Kinh liên quan
đến lao động, vào việc làm của những người thợ luyện thép
ngày nay, người thợ gốm (Gr 18,3-4; Hc 38,29-30), người
nông dân (St 9,20; Is 5,1-2) nhà hiền triết khảo cứu Kinh
thánh
(Gv 12, 9-12; Hc 39,1-8), thủy thủ (Tv 107,23-30; Kn 14,2-3a),
thợ nề (St 11,3; 2V 12,12-13; 22,5-6), nhạc sĩ (St 4,21), mục tử
(St 4,2; 37,3; Xh 3,1; Is 16,11). Ngoài ra người ta còn nhớ
những lời tốt đẹp biểu dương lao động của người phụ nữ
(Cn 31,15-27). Trong các dụ ngôn về Nước Thiên Chúa, Đức
Giêsu Kitô luôn luôn nói về lao động: dụ ngôn người mục tử
(Ga 10,1-16), người nông dân (Mc 12,1-12), thày thuốc
(Lc 4,23), người gieo giống (Mc 4,1-9), chủ nhà (Mt 13,52),
người làm công(Mt: ; Lc 12,41-48), người quản gia (Lc 16,1-8),
người đánh cá (Mt 13,47-50), người buôn bán (Mt 13,45-46)
người thợ (Mt 20,1-16) . Chúa so sánh công việc truyền giáo
với công việc tay chân của thợ gặt (Mt 9,37; Ga 4,35-38); hoặc
của những ngư phủ (Mt 4,19). Chúa cũng dựa vào công việc
của các thày ký lục (Mt 13,52).
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 599
Lời giáo huấn của Đức Kitô về lao động dựa trên mẫu
gương đời sống của Ngài trong những năm sống ở Nagiarét và
còn để lại một âm vang rất mạnh mẽ trong lời giáo huấn của
Thánh Phaolô. Có thể Thánh Phaolô đã làm nghề may lều, vì
Ngài đã tự hào dùng nghề này để (Cv 18,3) vừa có thể làm
việc tông đồ vừa có thể mưu sinh (Cv 20,34-35). “Ngày đêm
chúng tôi làm việc vất vả lam lũ, để không phải phiền toái
đến ai trong anh em” (2Tx 3,8). Xuất phát từ quan niệm đó,
những lời giáo huấn của Thánh Phaolô liên quan đến lao động
có tính cách khuyên bảo và ra lệnh: “Đối với những người
đó… chúng tôi nài xin, căn dặn hãy âm thầm làm việc và ăn
cơm của mình”
(2Tx 3,12). Nhận thấy có một số tín hữu thuộc cộng đoàn
Thesssalônica “sống vô trật tự…không làm lụng gì cả”
(2Tx 3,11), Thánh Phaolô đã viết thư bảo: “Hễ ai không muốn
làm việc thì đừng có ăn” (2Tx 3,10). Trái lại trong một thư
khác gởi cho Cộng đoàn Côlôssê. thánh nhân lại khuyến
khích rằng: “Dù anh em làm việc gì, thì hãy thật lòng thực thi
như thể làm cho Thiên Chúa chứ không phải làm cho loài
người, vì biết rằng anh em sẽ được hưởng phần gia tài Chúa
thưởng cho” (Cl 3, 23-24).
Ta nhận thấy rõ lời giáo huấn của vị Tông đồ dân ngoại
có một tầm quan trọng đặc biệt đối với nền luân lý và đạo
đức của lao động. Nhựng lời giáo huấn đó là một bổ túc quan
trọng cho Tin mừng về lao động, một Tin mừng lớn lao tuy kín
đáo mà chúng ta tìm thấy trong đời sống của Đức Kitô, trong
các dụ ngôn của Ngài, trong “Những gì Ngài đã làm và giảng
dạy” (Cv 1,1).
Xuất phát từ ánh sáng bắt nguồn mạch, Giáo hội luôn
luôn tuyên giảng một giáo lý mà ta thấy biểu lộ dưới hình
thức cận đại trong lời giáo huấn của Công Đồng Vaticanô II:
“Vì phát xuất từ con người nên sinh hoạt của con người cũng
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 600
quy hướng về con người. Thật vậy, khi làm việc, con người
không những biến đổi sự vật và xã hội mà còn cải thiện chính
mình. Họ học biết được nhiều điều, phát triển tài năng cũng
như thoát ra được và vượt khỏi chính mình. Nếu được hiểu cho
đúng thì sự tăng trưởng này đáng giá hơn mọi của cải có thể
thu tích được … Vì thế tiêu chuẩn sinh hoạt của con người là
mọi sinh hoạt của con người phải phù hợp với lợi ích đích
thực của nhân loại theo như ý định và ý muốn của Thiên
Chúa, và phải giúp cho con người, cá nhân cũng như tập thể,
trau dồi và thực hiện ơn gọi toàn diện của mình”. (GS, 35).
Khi đã ý thức được giá trị lao động của con người như
thế, nghĩa là khi đã có một nền đạo đức về lao động, chúng ta
có thể thấu triệt lời giáo huấn của Công đồng Vaticanô II
trong hiến chế Mục vụ liên quan đến ý nghĩa đích thực của sự
tiến bộ : “Giá trị của con người hệ tại ở “cái mình là” hơn là
ở” cái mình có”. Cũng vậy, tất cả những gì con người làm để
đạt tới một mức độ công bình cao hơn, một tình huynh đệ rộng
lớn hơn, một trật tự nhân đạo hơn trong tương quan xã hội,
điều quí trọng hơn các tiến bộ khoa học kỹ thuật bởi vì các
tiến bộ ấy tuy có thể cung cấp chất liệu cho việc thăng tiến
của con người, nhưng tự chúng mà thôi, chúng không thể thực
hiện được công cuộc thăng tiến ấy” (GS, 35).
Giáo lý về vấn đề tiến bộ và vấn đề phát triển là một
đề tài đứng hàng đầu trong tâm trạng hiện đại. Giáo lý ấy chỉ
có thể thấu triệt khi coi nó như là một kết quả của một nền
đạo đức lao động được thử thách, và giáo lý ấy chỉ có thể
thực hiện và đem áp dụng nếu đặt căn bản nền tảng trên một
nền đạo đức như vậy. Giáo lý này, chương trình hoạt động
này ăn rễ sâu trong “TIN MỪNG VỀ LAO ĐỘNG”.
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 601
27. Lao động của con người dưới ánh sáng
của thập giá và phục sinh của Đức Kytô.
Nền đạo đức lao động dựa trên phúc âm ăn rễ sâu trong
một khía cạnh khác của lao động con người là một trong
những khích thước quan yếu nhất của nó. Bất kể lao động nào
dù là tay chân hay trí óc, đều nhất thiết nối liền với sự vất vả.
Sách Sáng thế đã diễn tả một cách hết sức sâu sắc sự việc đó
khi đem so sánh, đối lập việc lao động, từ nguyên thủy đã
được chúc phúc (một sự chúc phúc tiềm tàng ngay trong mầu
nhiệm của tạo thành và liên quan đến địa vị của con người
được nâng cao nên giống hình ảnh của Thiên Chúa) với việc
lao động đã bị chúc dữ do tội lỗi gây ra. “Đất sẽ bị nguyền rủa
vì ngươi!” “Ngươi phải lam lũ vất vả cả đời mới có của nuôi
thân !”
(St 3,17). Sự vất vả gắn liền với lao động này vạch ra con
đường mà con người sẽ phải đi trong cuộc đời trên trần gian
và cũng báo tin việc con người sẽ phải chết. “Ngươi sẽ phải
đổ mồ hôi trán ra mới có ăn cho đến khi ngươi trở về với đất
vì ngươi từ đó mà ra” (St 3,19). Như một tiếng dội vang lại từ
những lời trên đây, một trong những tác giả của sách Khôn
ngoan đã nhắc lại tư tưởng này khi viết: “Tôi quay lại nhìn tất
cả mọi việc tay tôi đã làm và công lao tôi đã phải lao nhọc
gây lên” (Gv 2, 11). Trên trần gian này không một người nào
không có thể áp dụng câu đó cho trường hợp của mình.
Ngay cả đối với vấn đề này, có thể nói Tin mừng đã
công bố lời cuối cùng trong mầu nhiệm Vượt qua của Chúa
Giêsu Kitô. Chúng ta phải tìm ở đó câu trả lời cho những vấn
đề này, thật là quan trọng đối với nền đạo đức lao động của
con người. Trong mầu nhiệm Vượt qua có bao hàm vấn đề
thánh giá Đức Kitô, Việc Ngài đã vâng lời cho đến chết, sự
vâng lời mà Thánh Tông đồ đã đem ra đối lập với sự bất tuân
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 602
lệnh đè nặng từ những ngày đầu tiên trong lịch sử con người
trên trái đất
(Rm 5,19). Cũng trong Mầu nhiệm Vượt qua, có bao hàm cả
sự việc Đức Kitô được nâng lên Đức Kitô đã đi qua ngưỡng
cửa là sự chết trên thập giá để trở lại với các môn đệ trong
quyền năng của Chúa Thánh Linh bằng việc Ngài sống lại.
Mồ hôi và vất vả lao lung gắn liền với lao động trong
tình trạng điều kiện sống hiện thời của nhân loại, là những
yếu tố khả dĩ giúp cho người Kitô hữu và tất cả những ai được
kêu gọi theo chân Đức Kitô, có thể dùng tình thương thông
phần vào công cuộc mà Đức Kitô đã đến để hoàn tất (Ga
17,4). Công cuộc cứu độ này được thực hiện qua sự đau khổ
và qua cái chết trên thập giá. Có thể nói, con người cộng tác
một cách nào đó với Con Thiên Chúa trong công cuộc cứu
chuộc nhân loại bằng cách chấp nhận sự vất vả khó nhọc
trong lao động, với tinh thần hiệp nhất với Đức Kitô chịu đóng
đinh vì chúng ta. Con người chứng tỏ mình đích thực là môn
đệ Chúa Giêsu khi họ vác thánh giá hằng ngày trong sinh hoạt
của riêng mình (Lc 9,23).
Đức Kitô lấy gương sáng dạy chúng ta, khi Ngài chấp
nhận chịu chết cho tất cả chúng ta là những người tội lỗi; Ngài
dạy chúng ta cũng phải vác thập giá mà xác thịt và thế gian
đặt nặng trên vai những kẻ mưu tìm hòa bình và chân lý, thế
nhưng, đồng thời, “Đức Kitô được tôn vinh làm Chúa khi sống
lại và được lãnh nhận toàn quyền thống trị trên trời dưới đất,
từ nay Ngài hoạt động trong lòng con người nhờ quyền năng
Thánh Thần của Ngài …. Ngài tinh luyện và củng cố những
ước vọng quảng đại thúc đẩy gia đình nhân loại hoán cải
cuộc sống của mình trở nên nhân đạo hơn và qui phục trời
đất về cùng với mục đích ấy” (Vat.II, GS,38).
LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 603
Trong lao động, người Kitô hữu tìm gặp thấy một phần
nhỏ của thánh giá Đức Kitô và vui lòng đón nhận trong tinh
thần cứu chuộc mà Đức Kitô đã có khi Ngài đón nhận vác
thánh giá và tội lỗi chúng ta. Với ánh sáng chiếu soi của Phục
sinh Đức Kitô, chúng ta luôn luôn tìm thấy trong lao động một
tia sáng cho đời sống mới, một của cải lợi ích mới; chúng ta
tìm thấy như thế một lời loan báo “Có trời mới đất mới”
(2P 3,13 ; Kh 21,1) mà con người và thế gian được thông
hưởng nhờ những vất vả nhọc nhằn của lao động. Phải nói:
Nhờ vất vả mới được, và không bao giờ được nếu không vất
vả. Một phần, điều đó xác quyết rằng thánh giá là một
chuyện cần thiết trong nền đạo đức lao động; phần khác,
trong thánh giá là sự vất vả nhọc nhằn này, xuất hiện một của
cải lợi ích mới, một của cải lợi ích khởi sự với chính lao động,
một sự lao động được hiểu với tất cả ý nghĩa sâu xa. Dưới mọi
hình thức; và không có lao động thì không có của cải lợi ích
mới ấy được.
Phải chăng của cải lợi ích mới đó, một kết quả của lao
động con người, đã chính là một phần nhỏ của “đất mới” nơi
công bằng ngự trị (2P 3,13). Nếu quả thực những vất vả nhọc
nhằn muôn mặt của lao động con người là một phần của thập
giá Đức Kitô, thì của cải lợi ích mới có tương quan thế nào đối
với việc Chúa Kitô Phục Sinh ? Công đồng đã tìm câu trả lời
cho vấn đề này bằng cách tiếp nhận ánh sáng từ nguồn Lời
Mạc Khải. “Quả thật, chúng ta biết rằng: được lời lãi cả vào
thế gian mà chính mình phải hư mất thì chả có lợi gì (Lc 9,25).
Nhưng sự trông đợi đất mới không được làm suy giảm, trái lại
phải kích thích nỗ lực phát triển trái đất này, nơi thân thể của
gia đình nhân loại mới đang tăng trưởng và tiên báo một vài
hình ảnh của thời đại mới. Vì thế tuy phải phân biệt rõ ràng
những tiến bộ trần thế với sự bành trướng Vương quyền Đức
CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 604
Kitô, nhưng tiến bộ này rất quan trọng đối với Nước Thiên
Chúa” (Vat.II, GS, 39).
Với những suy nghĩ trên đây về lao động con người,
chúng tôi đã tìm cách làm nổi bật tất cả những gì xem ra cần
thiết, vì lý do nhờ lao động, không những “các hoa quả
của hoạt động chúng ta” phải được gia tăng trên trái
đất, mà cả “nhân phẩm của con người”, “Sự thông
cảm huynh đệ và sự tự do” cũng phải được tăng
thêm nữa (Vat.II, GS. 39). chớ gì người kitô hữu,
những kẻ đang lắng nghe lời thiên chúa hằng sống
và liên kết lao động với cầu nguyện, chớ gì họ hiểu
được địa vị mà lao động của họ giữ được trong tiến
bộ trần thế và cả trong vần đề phát triển mở mang
nước thiên chúa, là nơi mà quyền năng chúa thánh
linh và lời của phúc âm kêu gọi tất cả chúng ta hãy
tiến vào.
Để kết thúc những suy nghĩ này, tôi sung sướng ban
phép lành Tòa Thánh cho tất cả anh em, các chư huynh đáng
kính và anh chị em thân yêu.
Tôi đã chuẩn bị tài liệu này để phổ biến vào ngày 15 – 5
vừa qua trong dịp kỷ niệm 90 năm ban hành thông điệp
Renrum Novarum; Nhưng tôi đã chỉ có thể duyệt lại một lần
chót sau thời gian nằm bệnh viện.
Ban hành tại Castel Gandolfo,
Ngày 14 – 9 – 1981, ngày lễ kính Thánh Giá,
năm thứ III triều đại Giáo Hoàng của tôi.
Gioan Phalô II







