Đức Lêô XIII – Đức Gioan Phaolô II

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI

ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE

2000

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 518

Giới thiệu Thông điệp

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI

Laborem Exercens

Của Đức Gioan Phaolô II

nhân kỷ niệm 90 năm ban hành thông điệp Rerum Novarum

(9-1981)

(Dịch từ nguyên bản tiếng Pháp của ấn bản đa ngữ).

Vatican ISBN 2.227.43029.X.

LỜI GIỚI THIỆU

(của Gérard Defcis, Tổng thư ký hội đồng Giáo Mục

Pháp)

Nhân Bản Hóa Lao Động.

Bản thông điệp của ĐGH Phaolô II được dành để trình

bày về một đề tài cũ xưa như trái đất : Vấn đề lao động, ngay

từ những trang đầu của sách Sáng Thế chúng ta đã thấy Đấng

tạo Hóa gắn lao động liền với con người, coi đó như một sứ

vụ, một tương lai : “Hãy sinh sản hãy gia tăng đầy dãy trái

đất và hãy bắt nó phục tùng” hoạt động của con người trên

thế gian là tiếp tục công việc tạo dựng lưu truyền đời sống và

biến đổi thiên nhiên đi song song với nhau.

Tuy nhiên người ta không thể phủ nhận sự tiến hóa kỳ

lạ của các hình thức lao động, có từ những ngày đầu và nhất

là từ một thế kỷ – nói cho thật đúng là từ 90 năm nay – kể từ

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 519

khi đức Giáo Hoàng Lêô XIII phát biểu lần đầu tiên trong lịch

sử Giáo hội về “vấn đề thợ thuyền”. Ngày nay, vào kỷ

nguyên của những máy vi phát, máy điện toán, của sự dự

phòng xã hội và các quyền nghiệp đoàn, các tổ chức đa quốc

gia và cuộc khủng hoảng việc làm trên khắp nơi, các dự kiện

hoàn toàn khác hẳn và các trách nhiệm ngày càng thêm lớn

lao. Thế giới lao động là một thế giới đầy khủng hoảng căng

thẳng. Trong sự kiện lịch sử này ĐGH kêu gọi tất cả chúng ta

phải lưu tâm dùng đạo đức và ý thức luân lý để đem lại nhân

tính cho hoạt động của con người với các điều kiện tổ chức và

các hợp lực tối tân của hoạt động này.

Lao động phục vụ cho con người chứ không phải

con người phục vụ cho lao động.

Ngày nay lao động của con người đang đứng giữa hai

ngả đường. Con đường của kỹ thuật : Các ngành kỹ nghệ phát

triển, những kỹ thuật tân tiến, điện tử, điện toán, viễn toán …

đã mở rộng tầm quan hệ giữa con người và thiên nhiên đến

mức độ biến máy móc thành tác giả thứ nhất của việc biến

đổi sự vật. Con đường của kinh tế : giá cả của năng lượng và

nguyên liệu, ý thức của con người trước tính chất hạn chế của

tài nguyên thiên nhiên và những nguy cơ của ô nhiễm, sự

xuất hiện trên chính trường thế giới của những dân tộc mới

đây còn bị lệ thuộc, ngày nay đòi hỏi chỗ đứng trong việc đưa

ra những quyết định quốc tế. Việc phân phối lao động thế

giới trở thành một vấn đề đặc biệt và sự thất nghiệp là dấu

hiệu sự thất bại ê chề của tiến bộ, sự tiến bộ vẫn tự phụ là sẽ

đảm bảo cho mọi người được sống đầy đủ dư dật.

Đối với các Kitô hữu, nhân tính của lao động là tính chất

chủ chốt của tất cả “vấn đề xã hội”. Nó đáng để cho chúng ta

dừng chân suy nghĩ để phán đoán về những phán đoán mới

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 520

đây theo ý nghĩa hiện đại của hoạt động con người cũng như

về những công việc mới đang chờ đợi chúng ta.

ĐGH tự hỏi không biết có phải con người đã đảo lộn

bậc thang giá trị trong các xã hội hiện đang tăng trưởng

không. Kỹ thuật – tức là lao động theo ý nghĩa khách quan –

cung cấp cho người lao động những dụng cụ gia tăng gấp trăm

sức mạnh hoạt động của họ, làm dễ dàng, tăng thêm tốc độ

và hoàn bị cho lao động; Kỹ thuật là đồng minh của con người

song nó cũng có thể phản lại trở thành một kẻ thù địch khi

việc cơ giới hóa hất chân con người, làm họ mất những sảng

khoái trong công việc, ngăn chặn óc sáng tạo và giảm bớt tinh

thần trách nhiệm của họ; phát sinh ra nạn thất nghiệp và nô lệ

hóa con người, khiến họ còn chỉ là người thi hành lệnh của

các tác phẩm của mình. Nhân phẩm của lao động như bị tha

hóa tận gốc rễ khi con người và nhiệm vụ của họ bị chủ nghĩa

duy vật và duy kinh tế biến thành một thứ hàng hóa, một thứ

lực lượng trong lao động, một thứ “dụng cụ sản xuất”. Sự đảo

lộn các giá trị là một sự kiện hiển nhiên; trong chế độ tư bản,

nó được khoác bộ áo chủ thuyết. Người lao động được đối xử

không khác gì toàn bộ các phương tiện vật chất của sản xuất

và không được coi là mục tiêu của tất cả tiến trình kinh tế: nói

tóm lại, họ bị khai thác cho các mưu lợi về vật chất.

Con người là chủ thể của lao động tức là lao động theo

nghĩa chủ quan như Đức Gioan Phao Lô II nói – có nghĩa là

nhân vị của con người phải là một nhân tố đứng ở trên. Và

đây là vấn đề thuộc đạo đức học. Trong việc làm, sinh vật tự

biểu lộ ra với chính mình, nhờ làm chủ được các sự vật và

nhờ khả năng quyết đoán của mình; họ nuôi sống gia đình và

tham gia làm giàu cho di sản lịch sử và xã hội của đất nước.

Họ hiểu rõ mình liên đới với tất cả các người lao động trong

gia đình nhân loại. Lao động con người liên đới chúng ta lại

với nhau. Lời Kinh Thánh kêu gọi “hãy chế ngự trái đất” tuy

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 521

vẳng lại từ ngàn xưa, song vẫn luôn luôn thúc giục tất cả mọi

người của mọi thời đại và đòi hỏi phải lựa chọn, phải phân

biệt thứ tự ưu tiên; đó là tất cả những gì cần thiết để giúp cho

nhân phẩm được tôn trọng. Việc làm tăng giá trị cho vật chất

không thể làm cho người lao động mất giá trị. Tất cả những

việc trên đây bó buộc chúng ta về tinh thần phải bắt hoạt

động kinh tế nằm trong một “nền trật tự về xã hội về lao

động” bởi vì, dù kỹ nghệ có tiến bộ trở thành phức tạp đến

đâu, vấn đề nghiên cứu tìm hiểu và các dịch vụ có được nâng

cao tới mức độ nào, thì lao động vẫn phục dịch cho con người

chứ con người không phục dịch cho lao động.

“Tư bản phục vụ cho lao động

chứ không phải lao động phục vụ cho tư bản”

Muốn giáo hóa, nhân bản hóa lao động ngày nay, đương

nhiên phải tiến vào một cuộc tranh chấp lịch sử: tranh chấp

giữa lao động với tư bản. Lòng tin vào một Đấng Tạo Hóa nền

tảng của một trật tự xã hội và văn hóa, một quyền của quốc

gia và quốc tế, đi ngược lại với những “giáo điều” của chủ

thuyết tự do, thứ chủ thuyết giao phó việc giải quyết các mối

tương quan của loài người cho hệ thống trao đổi tài chánh.

Thứ chủ thuyết tự do này làm giàu thêm cho một số nhỏ

những người nắm giữ những phương tiện sản xuất và làm

nghèo thêm, cả về tài chánh lẫn văn hóa, các người lao động.

Sự cách biệt lợi nhuận của một số và đồng lương của những

người khác, giữa sự an toàn của những người này và sự bất ổn

của một số khác,tất nhiên sẽ gây ra một cuộc tranh chấp xã

hội kinh tế. Đó là bối cảnh của thế kỷ chúng ta. Hơn thế nữa,

với sự bất bình đẳng giữa hai miền Bắc và Nam của trái đất,

tình trạng căng thẳng từ nay bao trùm toàn thể thế giới.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 522

Tại đây, Đ.G.H không muốn tự giam mình trong khung

cảnh những tranh luận về ý thức hệ giữa chế độ tự do và chế

độ Mác Xít; cả hai chế độ đều có cùng một ngộ nhận, và tùy

theo những bức thiết của sản xuất hoặc chính trị, cũng đều đi

đến chỗ làm thu hẹp nhãn giới của con người và nhân phẩm

của họ. Muốn thành lập một tổ chức xã hội, trong phạm vi

một xí nghiệp hoặc trên bình diện thế giới, và thành lập trên

tinh thần đạo đức của con người, phải tìm cách định giá lại các

hệ thống mậu dịch, sản xuất và hùn vốn .

Người ta không thể tách rời tư bản với người lao động.

Tư bản không phải là một chủ thể, một quyền lực hoàn hành

tự do không đếm xỉa đến những gì nó sản xuất lợi ích vô danh

để chỉ huy vận mệnh của loài người. Các người lao động phải

được quyền ưu tiên trong việc quản trị một xí nghiệp, nếu

không chế độ kinh tế đó sẽ nuôi dưỡng bất công và hợp pháp

hóa những hành động bóc lột nhiều hình thức để rồi nô lệ

hóa người lao động. Và sau đây là hai hậu quả cụ thể cực kỳ

quan trọng:

1. Trước hết về phương diện quyền tư hữu đối với các

phương tiện sản xuất. Theo giáo lý truyền thống của Giáo hội,

quyền tư hữu không phải là một quyền tuyệt đối và bất khả

xâm phạm. Tất cả mọi sở hữu đều tùy thuộc và việc sử dụng

chung và vào mục đích phổ quát của các của cải; quyền sở

hữu đối với các phương tiện sản xuất chỉ có ý nghĩa nếu nó

phụ thuộc vào lao động và bảo đảm được viễn ảnh việc sử

dụng chung. Trên danh nghĩa đó, phải nói là nguồn mạch của

nhiệm vụ hơn là quyền lợi. Ở đây, quan điểm của thứ chế độ

“tư bản cứng nhắc” trong đời sống kinh tế, là một quan điểm

không thể chấp nhận được.

2. Thứ đến, về phương diện quyền sở hữu tập thể đối

với các tư liệu sản xuất, Đức Giáo Hoàng không dùng danh từ

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 523

“Quốc hữu hóa”, mà dùng danh từ “Xã hội hóa”. Ngài cho

rằng đó là việc hợp pháp đối với một số các tư liệu sản xuất,

nhất là vì tư bản luôn luôn được gia tăng thêm nhờ hành động.

Nguyên việc “Quốc gia hóa” các phương tiện sản xuất hoàn

toàn không đủ đảm bảo cho sự công bằng và cho nhân tính

của lao động, vì một số nhóm người có thể bóc lột các người

lao động, nhân danh một thứ tư bản của Nhà Nước, một thứ

chế độ cướp mất óc sáng kiến và phẩm cách của người lao

động qua mạng lưới của một thứ chế độ văn hóa quan liêu.

Tư bản là để phục dịch cho con người. Như thế có nghĩa

là người lao động phải có khả năng khuất phục được tư bản

nhân danh một quan niệm cá nhân và nhân bản về hoạt động

của họ và nhờ vào những cơ cấu có tính cách đồng trách

nhiệm khiến họ ý thức rằng: họ “làm việc cho chính mình”

Những liên đới về lịch sử

Đức Gioan Phaolô II cho rằng “sự phản ứng chống lại

chế độ bất công và tác hại mà tiếng kêu báo oán thấu tới

trời” trong buổi đầu của chế độ tư bản là một phản ứng chính

đáng về phương diện đạo đức xã hội. Phong trào thợ thuyền,

xuất phát từ phản ứng đó, được coi như việc người ta ý thức

về quyền người lao động. Tinh thần liên đới này đã tạo ra

những biến đổi sâu xa trong công việc phân phối và các điều

kiện của lao động. Đức Giáo Hoàng xác định rằng những

quyền lợi khách quan của người lao động là tiêu chuẩn tương

xứng và căn bản trong việc hình thành bất cứ một chế độ kinh

tế nào. Về phương diện này, Ngài trình bày rất dài về các

điều kiện lao động của con người trong thời đại ngày này, về

chính sách quốc gia và quốc tế và những thỏa ước tập thể.

Ngài xác định một cách rõ ràng hơn nữa: quyền công

đoàn là một nhân quyền, quyền họp hội, một sự phấn khởi

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 524

của tinh thần liên đới trong hành động và trong cuộc chung

sức tranh đấu chống lại giảm giá của lao động và việc bóc lột

sức lao động. Ngài ao ước trong các xí nghiệp, sự tham gia

vào việc quản trị và kiểm soát sản xuất được mở rộng hơn.

Mục đích của cộng đoàn, trong một diện kinh tế có khi đòi

hỏi phải nhắm đến thực tại, là làm thế nào để người lao động

có được chất sống, trở thành một ” hữu thể nhiều hơn”, một

hữu thể mệnh danh là nhân phẩm.

Tất cả phong trào có tính chất nghiệp đoàn, thợ thuyền

và nông dân này là một trong những lực hợp thành cần thiết

cho một “trật tự xã hội” trong đó sự lao động, được coi như

một biểu lộ của con người, phải tìm được vị trí ưu tiên của

mình trong các chế độ kinh tế, dù họ là một người tật nguyền,

di trú hay chỉ là một người vô sản…

Nền đạo đức học về lao động

Chúa Kitô của chúng ta là một người lao động, một

người lao động chân tay. Một thứ hoạt động mà cả một thời cổ

xa xưa dành cho hạng nô lệ, được Thiên Chúa chọn lấy để

chứng tỏ Ngài gần gũi với loài người. Một “Giáo Hội của

người nghèo”, trong cảnh cực nhọc của loài người và trong

niềm hy vọng của một thế giới mới, trong lao động vất vả

cũng như trong tạo dựng hân hoan, Giáo Hội thông phần với

sức động lực của sự chết và phục sinh của chính Đấng hành

động trong tâm hồn con người, thông phần với sự tiến bộ của

thế giới, bằng uy lực của Thần Linh Chúa.

GÉRARD DEFOIS

Tổng thư ký Hội đồng Giáo Mục Pháp

525

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 526

MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU của Gérard Defois, Tổng Thư Ký Hội

Đồng Giám Mục Pháp. (5)

I. NHẬP ĐỀ.

1. Lao động của con người 90 năm sau thông điệp

Rerum Novarum. (13)

2. Trong thế chuyển khai cơ hữu về hành động và lời

giáo huấn xã hội của giáo hội. (15)

3. Vấn đề lao động, chủ chốt của vấn đề xã hội. (18)

II. LAO ĐỘNG VÀ CON NGƯỜI.

4. Trong Sách Sáng Thế. (20)

5. Lao động theo nghĩa khách quan:Kỹ thuật chuyên môn. (22)

6. Lao động theo nghĩa chủ quan:Con người, chủ thể của

lao động. (25)

7. Mối đe dọa đối với hệ thống đích thực của các giá trị.

(28)

8. Sự liên đới của các người lao động. (30)

9. Lao động va phẩm giá của con người. (34)

10. Lao động và xã hội: Gia đình, quốc gia. (37)

III. CUỘC TRANH CHẤP GIỮA LAO ĐỘNG VÀ TƯ BẢN.

527

TRONG GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ HIỆN TẠI.

11.Chiều kích cuộc tranh chấp. (39)

12.Ưu tiên của lao động. (42)

13.Chủ thuyết duy kinh tế và chủ thuyết duy vật. (46)

14.Lao động và sở hửu. (50)

15.Luận cứ nhân vị. (54)

IV. QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG.

16.Trong lãnh vực rộng lớn của nhân quyền. (56)

17.Chủ thuê:“gián tiếp” và “trực tiếp”. (58)

18.Vấn đề kiếm việc làm. (60)

19.Lương bổng và các chiếu cố xã hội. (64)

20.Sự quan trọng của các nghiệp đoàn. (67)

21.Phẩm cách của lao động nông nghiệp. (71)

22.Người tật nguyền và lao động. (73)

23.Lao động và vấn đề di trú. (75)

V.NHỮNG YẾU TỐ ỨNG DỤNG CHO MỘT NỀN ĐẠO

ĐỨC CỦA LAO ĐỘNG.

24.Vai trò đặc biệt của giáo hội. (76)

25.Lao động việc tham dự vào công cuộc của Đấng Tạo

Hóa. (77)

26 Đức Kitô: con người của lao động (81)

27. Lao động của con người dưới ánh sáng của thập giá và

phục sinh của Đức Kitô (84)

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 528

Thông Điệp

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI

của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

Cùng anh chị em đáng kính,

Cùng các con yêu dấu

xin gửi lời chào và chúc lành Tòa Thánh.

Chính nhờ lao động mà con người kiếm ra được lương

thực hằng ngày và đóng góp vào sự tiến bộ liên tục của khoa

học kỹ thuật và nhất là làm cho cộng đồng xã hội anh em của

mình luôn luôn thăng tiến về văn hóa và đạo đức. Danh từ

“lao động” hiểu là tất cả mọi việc làm cho con người hoàn

thành dưới bất cứ hình thức đặc biệt và hoàn cảnh nào; nói

cách khác, giữa muôn vàn sinh hoạt phong phú mà người ta,

hễ đã là người do bản tính bẩm sinh của mình vẫn có khả

năng, thì tất cả hoạt động nào có thể và phải coi là công việc

làm ăn, đều là lao động cả. Con người được tạo dựng theo

hình ảnh giống như chính Thiên Chúa để sống trong thế giới

hữu hình và được đặt trong thế giới này để làm chủ trái đất ;

vì thế, ngay từ đầu con người đã được kêu gọi để lao động.

Lao động là một trong những đặc tính phân biệt con người với

tất cả tạo vật khác mà hoạt động, vì chỉ liên hệ với vấn đề

sống còn, nên không thể được gọi là lao động. Chỉ có con

người mới có khả năng lao động. Chỉ có con người mới thực

hiện được lao động, và chính vì vậy, nhờ lao động, con người

mới gây dựng cuộc sống mình trên trái đất. vì thế, lao động

mang dấu chỉ riêng của con người và của nhân loại, dấu chỉ

của một người hành động trong một cộng đồng nhân loại; và

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 529

dấu chỉ đó xác định phẩm chất nội tại của họ; hiểu theo một ý

nghĩa nào đó, dấu chỉ này tạo thành chính bản chất con người.

I. NHẬP ĐỀ

1. Lao động của con người.

90 năm sau thông điệp rerum novarum.

Vào ngày 15 tháng 5 năm nay, 90 năm trôi qua kể từ

ngày đức Lêô XIII, vị Giáo Hoàng vĩ đại của “vấn đề xã hội”,

đã ban hành bức thông điệp có tầm quan trọng quyết định bắt

đầu bằng hai tiếng Rerum novarum. Vì thế tôi muốn dành tài

liệu này để trình bày về lao động của con người; hơn thế nữa,

tôi muốn cống hiến nó cho con người trong khung cảnh rộng

lớn mênh mông của thực tại là vấn đề lao động. Quả vậy, như

tôi đã nói trong bức thông điệp Redemptor homonis được

công bố vào những ngày tôi bắt đầu phục vụ trên tông tòa

Roma của Thánh Phêrô. “Con người là con đường đầu tiên và

là con đường căn bản của Giáo Hội”. căn cứ vào mầu nhiệm

khôn dò là mầu nhiệm Cứu chuộc trong Đức Kitô, chúng ta

phải luôn luôn trở lại và luôn luôn tiến trên con đường ấy, tùy

theo những hình thái khác nhau mà con đường ấy trình bày

cho ta tất cả sự phong phú cũng như tất cả những khó khăn

của đời sống con người trên trái đất.

Lao động là một trong những khía cạnh ấy, một khía

cạnh thường xuyên và căn bản, luôn luôn hiện tại và không

ngừng đòi hỏi chúng ta chú tâm trở lại và quyết tâm trở thành

những chứng nhân. Luôn luôn có những câu hỏi mới, những

vấn đề mới được đặt ra, và những vấn đề ấy luôn làm nảy

sinh những niềm hy vọng mới, nhưng đồng thời cũng tạo ra

niềm sợ hãi, những mối đe dọa gắn liền với kích thước căn

bản của đời sống loài người; nhờ kích thước đó, sự sống con

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 530

người được xây dựng mỗi ngày và tìm thấy trong đó chính

phẩm giá đặc biệt của mình, nhưng đồng thời trong đó cũng

bao hàm thường xuyên phần cực nhọc của con người, phần

đau khổ, sự thiệt hại, sự bất công ăn rễ sâu vào đời sống mỗi

quốc gia và giữa các quốc gia. Nếu quả thật con người kiếm

sống bằng đôi tay, nghĩa là nuôi sống mình không những bằng

lương thực nuôi thân xác mà cả bằng chất bồi dưỡng của khoa

học, tiến bộ, văn minh và văn hóa, thì cũng có một điều

không kém hiển nhiên là họ phải tìm kiếm lương thực ấy

bằng chính mồ hôi trán của mình, nói cách khác, bằng sự cố

gắng và lao nhọc bản thân giữa không biết bao nhiêu tình

trạng căng thẳng tranh chấp và khủng hoảng. Những việc ấy

liên kết với thực tại của lao động khiến cho đời sống của mỗi

xã hội và của cả nhân loại bị xáo trộn.

Chúng ta mừng kỷ niệm 90 năm, ngày ban hành thông

điệp Rerum novarum vào một lúc sắp có những phát triển của

những điều kiện chuyên môn, kinh tế và chính trị, và theo

nhiều nhà chuyên gia, những phát triển này sẽ có ảnh hưởng

đến thế giới lao động và sản xuất không kém gì cuộc cách

mạng kỹ nghệ của thế kỷ trước. Ta thấy xuất hiện những dữ

kiện có tầm phổ quát như : vấn đề tự động hóa trở thành phổ

biến trong nhiều lĩnh vực sản xuất, việc giá cả năng lượng và

các nguyên liệu gia tăng; việc con người ý thức sâu xa hơn về

tính cách hạn chế của di sản thiên nhiên của mình và tình

trạng ô nhiễm quá đáng; việc có nhiều dân tộc sau bao năm bị

đô hộ, nay xuất hiện trên chính trường đòi chỗ đứng cho họ

và yêu cầu được hỏi ý kiến trong những quyết định có tính

cách quốc tế. Những điều kiện và đòi hỏi mới đó buộc phải

tổ chức và sắp xếp lại các cơ cấu kinh tế hiện nay cũng như

vấn đề phân phối lao động. Nhưng tiếc thay, đối với hàng

triệu người có tay nghề, những thay đổi như thế dẫn đến sự

thất nghiệp, ít ra tạm thời, hoặc họ học lại một nghề mới; đối

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 531

với những nước phát triển hơn, vấn đề thay đổi ấy có thể sẽ

khiến cho vấn đề phúc lợi bị giảm bớt đi hoặc phát triển chậm

hơn; tuy nhiên, đối với hàng triệu người sống trong cảnh khốn

cùng tủi nhục và bất xứng thì những thay đổi này mang cho

họ niềm an ủi và hy vọng.

Giáo hội không có nhiệm vụ phân tách một cách khoa

học những hậu quả khả dĩ có thể có của những biến đổi trên

đối với đời sống của xã hội loài người, nhưng cảm thấy có

bổn phận luôn nhắc nhở người ta nhớ đến phẩm giá và quyền

lợi của người lao động, phải lên án những điều kiện trong đó

có quyền lợi này bị vi phạm và phải đóng góp phần mình

trong việc hướng những biến đổi này sao cho bảo đảm sự tiến

bộ của con người và của xã hội.

2. Trong thế triển khai cơ hữu về hành động và

lời giáo huấn xã hội của giáo hội.

Có một điều chắc chắn là: lao động là vấn đề của con

người nằm ngay trung tâm của vấn đề xã hội. Trong gần trăm

năm qua, kể từ ngày bức thông điệp nói trên được ban hành,

các giáo huấn của Giáo Hội cũng như bao nhiêu sáng kiến mà

Giáo Hội đưa ra đều hướng về đó. Khi tôi muốn chú tâm đến

vấn đề lao động với những suy tư sau đây, tôi không chú ý

trình bày độc đáo mà chỉ muốn trước nhất nêu rõ: những suy

tư đó có liên hệ cơ hữu với tất cả truyền thống của lời giáo

huấn và các sáng kiến vừa nói. Đồng thời tôi làm việc này

theo hướng của Tin Mừng đã rút ra từ trong di sản của Tin

Mừng cả cái cũ lẫn cái mới. Điều ta có thể chắc chắn là: lao

động là vấn đề “xưa cũ”, xưa cũ không kém gì con người trên

trái đất. Tuy nhiên, hoàn cảnh con người trong thế giới ngày

nay, nếu căn cứ vào chẩn đoán và phân tích dưới các khía

cạnh: địa lý, văn hóa, văn minh thì hoàn cảnh đó đòi hỏi

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 532

chúng ta phải khám phá ra những ý nghĩa mới của lao động

con người và xác định những nhiệm vụ mới phải làm, vì ở

trong lãnh vực này, đó là những vấn đề đặt ra cho con người,

mỗi gia đình, cho mỗi quốc gia riêng biệt, cho toàn thể nhân

loại, và cuối cùng cho chính Giáo Hội.

Trong những năm qua, kể từ ngày công bố thông điệp

Rerum novarum, vấn đề xã hội luôn luôn được Giáo Hội quan

tâm đến. Chúng ta có nhiều chứng từ trong những tài liệu của

Huấn quyền, hoặc của các vị Giáo Hoàng hoặc của công

đồng Vaticanô II; chúng ta có những chứng từ nơi hàng Giám

Mục; chúng ta có những chứng từ qua hoạt động của nhiều

trung tâm tư tưởng và những sáng kiến tông vụ cụ thể, hoặc

trên bình diện quốc tế hoặc trên bình diện các Giáo Hội địa

phương. Ở đây thật khó liệt kê một cách chi tiết tất cả những

hành động và việc biểu lộ sự dấn thân tận tình của Giáo Hội

và của người kitô hữu vào lãnh vực xã hội, vì chúng quá

nhiều. Một trong những kết quả của công đồng là việc thành

lập Uỷ ban Giáo Hoàng “Công Lý và hòa bình” (justitia et

pax), một uỷ ban đã trở thành trung tâm điều hợp chính yếu

trong lãnh vực này cùng với những cơ quan cùng với tổ chức

tương ứng thuộc phạm vi hoạt động của Hội Đồng Giám Mục.

Danh xưng của uỷ ban rất có ý nghĩa và chỉ rõ rằng vấn đề xã

hội cần được giải quyết một cách toàn bộ, trong toàn thể

chiều kích của nó. Việc dấn thân hoạt động cho công lý cần

liên kết chặt chẽ với việc dấn thân cho hoạt động hòa bình

trong thế giới hiện đại. Một bài học đau đớn khiến chúng ta

phải dấn thân cả hai phương diện đó là hai trận chiến, trong

90 năm qua, đã làm đảo lộn biết bao quốc gia không những

thuộc lục địa Châu Âu mà một phần của các lục địa khác nữa,

đặc biệt xảy ra trong trận thế chiến thứ hai, là hiểm họa

thường xuyên của một cuộc chiến tranh nguyên tử và viễn

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 533

ảnh của một sự tự hủy diệt ghê gớm hậu quả của cuộc chiến

tranh nầy.

Nếu chúng ta theo đúng đường hướng triển khai của các

tài liệu thuộc lời giáo huấn tối cao của Giáo Hội, chúng ta sẽ

thấy chính trong đó sự công khai xác nhận lối đặt vấn đề như

vậy. Vị trí cốt yếu liên quan vấn đề hòa bình trên thế giới,

chính là vị trí thông điệp Pacem in terris của Đức Gioan XXIII.

Ngoài ra nếu xét đến phương diện biến hóa của vấn đề công

lý xã hội, người ta sẽ thấy rằng, trong thời gian từ thông điệp

Quadragesimo anno của Đức Piô XI, giáo huấn của Giáo Hội

đặc biệt chú trọng đến việc giải quyết vấn đề thợ thuyền một

cách công bằng trong khung cảnh những quốc gia riêng biệt;

còn trong giai đoạn sau đó, lời giáo huấn mở rộng nhãn giới,

bao quát cả thế giới. Sự phân phối không đồng đều về của cải

và sự khốn cùng, hiện tượng có nhiều quốc gia , đại lục phát

triển và những quốc gia, đại lục không phát triển, những sự

việc ấy đòi hỏi có sự quân phân cho đều và phải tìm biện

pháp làm sao cho tất cả có thể phát triển một cách công bằng.

Đó là hướng đi của lời giáo huấn chứa trong thông điệp Mater

et Magistra của Đức Gioan XXIII, trong hiến chế mục vụ

Gaudium et Spes của Công đồng Vat.II và trong thông điệp

Populorum Progressio của Đức Phaolô VI.

Thế khai triển của lời giáo huấn và hành động dấn thân

của Giáo hội trong vấn đề xã hội hoàn toàn thích ứng với sự

quan sát khách quan những tình trạng thực tế. Ngày xưa, tại

trung tâm vấn đề, người ta làm nổi bật vấn đề “giai cấp” còn

mới đây, vấn đề “thế giới” được đưa lên hàng đầu. Vì thế,

người ta không chỉ quan tâm đến cái khung cảnh giai cấp, mà

người ta chú ý đến khung cảnh của những tình trạng không

đồng đều, những bất công trên bình diện thế giới, và do đó,

không chỉ còn chú trọng nguyên đến chiều kích của giai cấp

mà chú tâm đến chiều kích thế giới của những nhiệm vụ phải

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 534

làm để tiến tới một tình trạng công bằng hơn trong một thế

giới hiện đại. Việc phân tách đầy đủ về tình trạng thế giới

ngày nay làm nổi bật ý nghĩa trước đây của những bất công

xã hội một cách hiển nhiên, sâu xa và trọn vẹn hơn, một ý

nghĩa mà ngày nay phải đem làm ứng dụng vào những nỗ lực

cố gắng thiết lập nền công bình trên thế giới, song không

phải vì thế mà che dấu những cơ cấu tổ chức bất công, trái lại

phải cứu xét và biến đổi chúng trên một bình diện, tỷ lệ phổ

quát hơn.

3. Đề tài lao động, then chốt của vấn đề xã hội.

Giữa tất cả các diễn tiến này – kể cả việc chẩn đoán về

thực tại xã hội khách quan cũng như lời giáo huấn của Giáo

hội trong vấn đề xã hội, một vấn đề phức tạp và đa diện – lao

động của con người là vấn đề tự nhiên xuất hiện thường

xuyên nhất. Hiểu theo một nghĩa riêng, nó là một thành phần

cố định trong lời giáo huấn của Giáo hội cũng như trong đời

sống xã hội. Ngoài ra, trong lời giáo huấn đó, vấn đề này

được lưu tâm tới từ lâu trước 90 năm qua. Quả vậy, giáo lý về

xã hội của giáo hội bắt nguồn từ trong Kinh Thánh, bắt đầu từ

Sáng Thế, và đặc biệt trong Tin Mừng và trong các văn bản

của các Thánh Tông Đồ. Ngay từ đầu, giáo lý ấy nằm trong

giáo huấn của Giáo hội, trong quan niệm của Giáo hội về con

người và về đời sống xã hội, đặc biệt là trong nền đạo đức xã

hội được dày công xây dựng tùy theo nhu cầu từng thời kỳ

khác nhau. Di sản truyền thống này sau đó trở thành gia

nghiệp và được khai triển bằng lời giáo huấn của các vị Giáo

Hoàng về vấn đề xã hội hiện đại, và khởi đầu bằng thông

điệp Rerum novarum. Trong phần nội dung của vấn đề này,

đề tài lao động luôn được đào sâu, rọi sáng thêm mỗi ngày,

nhưng căn bản bao giờ cũng vẫn là chân lý Kitô giáo mà ta có

thể coi như một căn bản trường tồn.

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 535

Trong tài liệu này, chúng ta trở lại vấn đề trên – nhưng

không cốt ý trình bày tất cả các khía cạnh, chúng ta không

muốn nhắc lại những gì đã bao hàm trong lời giáo huấn của

giáo hội, mà muốn làm nổi bật hơn bao giờ hết sự việc này:

lao động của con người là then chốt, có lẽ là then chốt quan

yếu của tất cả vấn đề xã hội, nếu chúng ta quan sát nó dưới

khía cạnh lợi ích của con người. Giải quyết một vấn đề, hay

nói đúng hơn giải quyết từng bước vấn đề xã hội, gặp thường

xuyên và ngày càng phức tạp, là nỗ lực cố gắng “làm cho đời

sống con người trở nên con người hơn”, thì vấn đề lao động

của con người đúng là then chốt có tầm quan trọng chủ yếu

và quyết định.

II. LAO ĐỘNG VÀ CON NGƯỜI

4. Trong sách Sáng thế

Giáo hội xác tín rằng lao động mang một tầm vóc cốt

yếu trong đời sống của con người trên trái đất. Niềm tin ấy

càng thêm vững chắc nhờ căn cứ vào toàn bộ di sản của các

ngành khoa học nghiên cứu về loài người như: nhân loại học,

cổ sinh vật học, sử học, xã hội học, tâm lý học v.v…tất cả các

ngành khoa học ấy hầu như chứng minh thực tại đó một cách

hết sức chắc chắn , tuy nhiên, trước hết Giáo hội có được

niềm xác tín đó nhờ ở Lời mạc khải của Thiên Chúa, và vì thế

niềm xác tín của Giáo hội vừa là một niềm xác tín của tri thức

vừa là một niềm xác tín của đức tin. Lí do là vì – đây là điều

chúng ta nên lưu ý tới ngay từ bây giờ – Giáo hội tin tưởng

vào con người: Giáo hội nghĩ tới con người, ngỏ lời với con

người, không những dựa vào ánh sáng của kinh nghiệm lịch

sử hoặc dựa vào các phương pháp của tri thức khoa học, mà

nhất là còn dựa vào lời mạc khải của Thiên Chúa hằng sống.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 536

Giáo hội đề cập đến con người và tìm cách diễn tả những ý

định muôn đời và những vận mệnh siêu việt mà Thiên Chúa

hằng sống là Đấng Tạo hóa và là Đấng Cứu chuộc, đã gắn

liền vào với con người. Giáo hội tìm thấy ngay trong những

trang đầu của sách Sáng thế niềm xác tín rằng: lao động là

một chiều kích căn bản của đời sống con người trên trái đất.

Khi phân tích đoạn văn này, chúng ta ý thức được rằng ngay

cả trong mầu nhiệm tạo thành, những đoạn văn ấy cũng đã

biểu lộ những chân lí căn bản về con người – thỉnh thoảng với

một hình thức diễn tả cổ sơ. Đó là những chân lí quyết định số

phận của con người ngay từ những ngày đầu và đồng thời

cũng diễn tả các đường nét chính của đời sống con người trên

trần gian, không những trong tình trạng công chính nguyên

thủy mà cả trong tình trạng tội lỗi đã phá vỡ giao ước nguyên

thủy giữa Đấng Tạo hóa và tạo vật. Khi con người, được tạo

dựng “giống hình ảnh của Thiên Chúa…, cả nam lẫn nữ”,

nghe lời Chúa phán bảo “Hãy sinh sản, gia tăng thêm nhiều

đầy dẫy trái đất và hãy bắt nó phục tùng” thì mặc dầu những

lời đó không trực tiếp hay minh nhiên nói đến vấn đề lao

động, chúng vẫn cũng ám chỉ một cách gián tiếp đến lao

động, coi như đó là một hoạt động của con người trên trần

gian. Hơn thế nữa, chúng còn chứng tỏ một cách rõ ràng bản

chất sâu xa của lao động. Sở dĩ con người là hình ảnh Thiên

Chúa, nhất là vì họ được Đấng tạo hóa uỷ nhiệm cho việc

khuất phục và cai trị cả trái đất. Khi thi hành lời uỷ nhiệm đó,

mọi người phản ảnh chính công việc làm của Đấng tạo thành

vũ trụ.

Lao động được coi như một “hành động ngoại thi”

nghĩa là nó bắt nguồn từ một chủ thể là con người, nhưng

hướng về một đối tượng bên ngoài. Vì thế phải hiểu : lao

động chính là việc con người chế ngự “trái đất” một cách đặc

biệt, con người xác định và phát triển sự chế ngự đó. Đành

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 537

rằng, danh từ “trái đất” nói trong Kinh Thánh trước hết chỉ

một phần vũ trụ hữu hình, nơi con người sinh sống, song hiểu

rộng ra, nó chỉ tất cả cái thế giới hữu hình nằm dưới tầm ảnh

hưởng của con người, nhất là khi con người hành động theo

nhu cầu của họ. Từ ngữ “hãy bắt trái đất phục tùng” có tầm

giá trị vô biên. Nó chỉ tất cả mọi tài nguyên mà trái đất (và

gián tiếp là cả thế giới hữu hình) chứa đựng bên trong và con

người có thể dùng hoạt động tri thức của mình để khám phá

và sử dụng theo ý của họ. Chính vì thế nên những lời này, đặt

ngay nơi trang đầu của bộ Kinh Thánh, luôn luôn có giá trị

hiện tại. Nó áp dụng không những cho các thời đại văn minh,

kinh tế đã qua mà cho tất cả những giai đoạn phát triển sắp tới

có lẽ lúc này mới khởi sự thành hình, nhưng hiện thời phần

lớn như còn ẩn tàng, chưa được con người biết tới.

Thỉnh thoảng người ta có nói đến những giai đoạn “gia

tốc” trong đời sống kinh tế trong nền văn minh của nhân loại

hay của một số quốc gia, nghĩa là những giai đoạn tiến bộ đặc

biệt của khoa học, kỹ thuật và nhất là những khám phá có

ảnh hưởng quyết định tới đời sống kinh tế, xã hội, nhưng có

thể nói là không một giai đoạn “gia tốc” nào vượt quá nội

dung cốt yếu đã được trình bày trong đoạn văn rất cổ nói trên

của kinh Thánh. Khi dùng sức lao động để trở nên chủ nhân

có uy quyền hơn trên trái đất và khi sử dụng sức lao động để

củng cố uy quyền của mình trên thế giới hữu hình, thì trong

mỗi bước tiến tới, mỗi giai đoạn tiến bộ, con người luôn luôn

nằm trên con đường mà Đấng tạo hóa đã vạch ra từ hồi

nguyên thủy; chương trình kế hoạch của Đấng tạo hóa được

nhất thiết gắn liền chặt chẽ với sự kiện này là: con người,

nam và nữ, đã được tạo dựng “Giống hình ảnh của Thiên

Chúa” đây là một diễn tiến có tính cách phổ quát, vì nó liên

quan tới tất cả mọi người, mọi thế hệ. Mọi giai đoạn phát triển

kinh tế và văn hóa; đồng thời đây cũng là một diễn tiến được

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 538

thực hiện trong mỗi một con người, một vật thụ tạo có ý thức.

Diễn tiến đó liên quan đến tất cả, đến mỗi một người. Mọi

người và từng người, tùy theo một chiều kích thích ứng và

dưới muôn vàn thể thức, đều tham dự vào diễn tiến khổng lồ,

trong đó con người “bắt trái đất phải phục tùng” bằng sức lao

động của họ.

5. Lao động theo ý nghĩa khách quan: kỹ thuật

chuyên môn.

Đặc tính phổ quát và đa dạng của diễn tiến “Con người

bắt trái đất phục tùng” làm nổi bật giá trị lao động của con

người, lý do vì việc con người chế ngự trái đất được thể hiện

trong sự lao động, và nhờ lao động. Từ đó, ta thấy xuất hiện ý

nghĩa của lao động hiểu theo nghĩa khách quan, ý nghĩa đó

được biểu lộ tùy theo mỗi giai đoạn của nền văn hóa và văn

minh. ngay từ buổi sơ khai, con người đã chế ngự trái đất bằng

cách thuần hóa loài vật, nuôi chúng và bắt chúng phải cung

cấp của ăn áo mặc, và cũng bằng khai thác từ lòng đất, biển

cả những tài nguyên thiên nhiên. Dần dần về sau sự chế ngự

ấy gia tăng khi con người biết cách gieo trồng, cày cấy và khi

biết biến chế các sản phẩm để thích ứng với nhu cầu của họ.

Và như thế, nông nghiệp đã trở thành một ngành sơ khai của

hoạt động kinh tế, nhờ lao động của con người, nông nghiệp

là một nhân tố cần yếu của sản xuất. Và sau đó đến lượt kỹ

nghệ, một ngành hoạt động phối hợp các tài nguyên của trái

đất- các tài nguyên còn nguyên chất của thiên nhiên, các

nông sản, các tài nguyên khoáng sản và hóa chất- với sức lao

động chân tay và trí óc của con người. Cả nền kỹ nghệ phục

vụ cũng như trong ngành nghiên cứu thuần túy hay ứng dụng

cũng tương tự như thế.

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 539

Ngày nay, trong ngành kỹ nghệ và nông nghiệp, có rất

nhiều trường hợp, hoạt động của con người không là hoạt

động chân tay nữa bởi vì chân tay và bắp thịt đỡ phải vất vả

mệt nhọc nhờ việc sử dụng các máy móc, cơ khí mỗi ngày

một hoàn bị hơn. Trong kỹ nghệ và ngay cả trong nông

nghiệp, chúng ta đã chứng kiến những biến đổi do sự phát

triển đều đặn và không ngừng của khoa học và kỹ thuật. Xét

chung, về phương diện lịch sử, sự kiện này tạo ra những bước

ngoặc quan trọng của nền văn minh, kể từ đầu “kỷ nguyên kỹ

nghệ” đến các giai đoạn phát triển tiếp theo đó nhờ những kỹ

thuật mới như điện tử hoặc các máy vi phát trong những năm

gần đây.

Người ta có thể cho rằng trong diễn tiến kỹ nghệ, chính

máy móc mới “làm việc”, còn con người chỉ có việc kiểm soát

máy, giúp nó vận hành hoặc trợ giúp nó cách này hay cách

khác; nhưng thực sự chính sự kiện đó mà sự phát triển kỹ

nghệ đặt ra một cái mốc khởi hành để có thể đặt lại lao động

một cách mới mẻ. Việc kỹ nghệ hóa đầu tiên đã tạo ra vấn đề

lao động cũng như những biến đổi giai đoạn kỹ nghệ và hậu

kỹ nghệ xảy ra sau đó chứng minh một cách hết sức rõ ràng,

ngay trong giai đoạn “lao động” cơ khí hóa thêm mãi, chủ thể

thực sự của lao động vẫn là con người. Sự phát triển của kỹ

nghệ và các ngành liên hệ, kể cả những kỹ thuật mới mẻ

nhất của điện tử, đặc biệt là trong lãnh vực vi hóa, điện toán,

điện thư…,tất cả đều chứng minh rằng, trong giai đoạn cộng

hưởng giữa chủ thể và đối tượng của lao động (hiểu theo

nghĩa rộng nhất) kỹ thuật, một thứ đồng minh của lao động do

tư tưởng của con người tác tạo ra, đóng một vai trò rộng lớn

quan trọng như thế nào ? trong trường hợp này, nếu kỹ thuật

được hiểu là toàn bộ những dụng cụ con người đem sử dụng

trong lao động chứ không phải là một khả năng hay một tài

năng lao động, thì quả thực, kỹ thuật đúng là một đồng minh

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 540

của con người. Kỹ thuật làm cho lao động dễ dàng hoàn bị

hơn, nhanh chóng hơn và nhiều hơn. Kỹ thuật giúp cho sản

phẩm của lao động thêm nhiều hơn và phẩm chất của phần

đông cũng tốt hơn . Ngoài ra có sự kiện này là: Trong một số

trường hợp việc cơ khí hóa lao động, đã “hất chân” con người

bằng cách khiến cho họ mất hết niềm thỏa mãn riêng, hết

mọi phát huy sáng kiến hết tinh thần trách nhiệm, khi nó làm

cho nhiều người thợ không còn việc làm hoặc khi vì quá đề

cao máy móc, con người trở thành nô lệ của máy móc.

Nếu từ ngữ của Kinh Thánh “Hãy bắt trái đất phục

tùng” mà con người được nghe từ thuở ban đầu được hiểu

trong khung cảnh của toàn thể thời đại kỹ nghệ và hậu kỹ

nghệ ngày nay, thì nhất định nó cũng mang ý nghĩa một mối

liên quan với kỹ thuật, với thế giới của cơ khí hóa và máy

móc, một mối liên hệ kết quả lao động trí óc con người và

xác định tính cách lịch sử việc con người chế ngự thiên nhiên.

Thời đại mới đây của lịch sử nhân loại và đặc biệt của

một vài xã hội, tự nó cũng xác minh : Kỹ thuật là một nhân tố

cốt yếu của tiến bộ kinh tế; nhưng đồng thời chính sự xác

minh ấy đã và còn luôn luôn làm phát sinh ra những vấn đề

có liên hệ tới sự lao động của con người, xét về khía cạnh

những tương quan của nó đối với chủ thể là chính con người.

Những vấn đề này bao hàm một toàn bộ riêng biệt những

nhân tố và những vấn đề gay cấn có tính cách đạo đức và cả

tính cách đạo đức xã hội nữa. Vì thế chúng thường xuyên trở

thành một thách đố đối với nhiều cơ cấu tổ chức, đối với các

quốc gia và chính phủ, đối với các chế độ và tổ chức quốc tế

và đồng thời cũng là thách đố đối với giáo hội.

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 541

6. Lao động theo nghĩa chủ quan :

con người, chủ thể của lao động.

Muốn tiếp tục việc phân tách về vấn đề lao động bằng

cách dựa vào Kinh Thánh (theo đó con người phải chế ngự

trái đất), chúng ta phải chú trọng vào ý nghĩa chủ quan của lao

động. Chú trọng nhiều hơn là vào ý nghĩa khách quan : chúng

ta thực sự chỉ mới lướt qua vấn đề rộng rãi lớn lao này, một

vấn đề mà các chuyên gia thuộc nhiều ngành và cả những

người thuộc giới lao động hoàn toàn hiểu rõ từng chi tiết, mỗi

người hiểu theo lãnh vực mình. Trong việc phân tách trên

đây, những lời trong sách sáng thế mà ta trích dẫn chỉ nói một

cách gián tiếp đến lao động hiểu theo nghĩa khách quan, và

khi nói đến chủ thể của lao động thì cũng nói gián tiếp như

thế; tuy nhiên, điều mà những lời Kinh Thánh nói lên rất

hùng biện và súc tích ý nghĩa.

Con người phải chế ngự trái đất, phải bắt nó phục tùng,

vì họ là “hình ảnh của Thiên Chúa”, họ là một nhân vị, nghĩa

là một chủ thể, một chủ thể có khả năng hành động một cách

có kế hoạch và hợp lý, có khả năng tự quyết định và hướng

tới sự thành tựu của bản thân mình. Chính vì là một nhân vị,

nên con người mới là chủ thể của lao động, bất kể nội dung

khách quan của nó như thế nào, các hoạt động này phải thực

hiện nhân tính của con người và hoàn thành thiên chức của

một nhân vị hay ơn gọi làm người của mình. Nhưng chân lý

chính yếu về vấn đề này mới đây đã được cộng đồng

Vaticanô II nhắc lại trong hiến chế Gaudium et spes, đặc biệt

nơi chương I nói về thiên chức của con người.

Vì thế vấn đề “chế ngự” được nói đến trong đoạn Kinh

Thánh mà ta suy ngẫm nơi đây không phải chỉ liên quan đến

khía cạnh khách quan của lao động, mà nó còn đồng thời giúp

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 542

ta hiểu cả tầm vóc chủ quan của nó nữa. Sự lao động được

hiểu theo một diễn tiến, theo đó con người và nhân loại chế

ngự trái đất, lao động ấy chỉ tương ứng với ý niệm căn bản

của Kinh Thánh khi trong suốt diễn tiến đó, con người đồng

thời cũng biểu hiện và tự xác định rằng mình là người “làm

chủ” hiểu theo một ý nghĩa nào đó, sự chế ngự này liên quan

đến khía cạnh chủ quan nhiều hơn khía cạnh khách quan :

khía cạnh đó là điều kiện của tính chất đạo đức của lao động.

Quả vậy, có một điều không nghi ngờ là lao động con người

có giá trị đạo đức trực tiếp gắn liền, không qua trung gian nào,

với sự việc này là : người thực hiện lao động ấy là một nhân

vị, một chủ thể có ý thức và tự do, nghĩa là một chủ thể tự

quyết định.

Có thể nói : chân lý này là điểm trung tâm và thường

trực của giáo lý Kitô Giáo về lao động của con người; chân lý

đó đã và đang tiếp tục có một ý nghĩa căn bản cho việc đặt ra

những vấn đề xã hội quan trọng trong suốt các thời đại.

Trong thời đại cổ, con nười được phân chia một cách

đặc thù thành từng nhóm tùy theo việc làm. Người ta giao cho

nô lệ làm những công việc đòi hỏi phải sử dụng sức mạnh

thân xác, phải sử dụng đến chân tay và bắp thịt, vì người ta

cho sự lao động ấy không xứng đáng đối với người tự do. Kitô

giáo đã mở rộng tầm nhìn có sẵn trong cựu ước và đem lại

một sự thay đổi căn bản các quan niệm, tuy là Thiên Chúa, đã

trở nên hoàn toàn giống chúng ta đã hiến phần lớn đời mình

ở trần gian cho lao động chân tay nơi xưởng mộc của mình.

Hoàn cảnh này, tự nó, chính là một “Tin Mừng” hùng hồn

nhất “về lao động”. Do đó, căn bản giúp chúng ta xác định giá

trị của lao động con người không phải cốt ở loại việc làm mà

ở sự kiện này : người làm công việc ấy là một người. Nguồn

gốc phẩm giá của lao động không thể tìm thấy nơi chiều kích

khách quan nhưng phải tìm nơi chiều kích chủ quan của nó.

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 543

Với quan niệm như thế, đương nhiên người ta không

còn có thể chấp nhận căn bản xưa được dùng để phân biệt

loài người thành từng nhóm, dựa theo loại công việc họ làm

điều đó không có nghĩa rằng không bao giờ có thể hoặc nên

định giá lao động con người về phương diện khách quan. Điều

đó chỉ có nghĩa rằng căn bản đầu tiên dùng để định giá lao

động là chính con người, là chủ thể của lao động. Ngay tại

đây ta có thể rút ra một kết luận rất quan trọng có tính chất

đạo đức : mặc dầu con người được chỉ định và kêu gọi lao

động thật, nhưng trước hết có lao động là “vì con người” chứ

không phải con người sinh ra cốt “để lao động”. Xuất phát từ

kết luận này, chúng ta đương nhiên sẽ phải công nhận tính

cách ưu việt của ý nghĩa chủ quan của lao động đối với ý

nghĩa khách quan của nó. và cũng xuất phát nhìn sự việc trên

đây, cộng thêm với việc chấp nhận rằng các công việc làm do

con người thực hiện có thể có ít nhiều giá trị khách quan,

chúng ta tìm cách để xác minh rằng: mỗi công việc đó phải

được đánh giá trước hết căn cứ vào tầm vóc giá trị của chủ

thể của chính công việc, nghĩa là giá trị của cá thể, của con

người thực hiện công việc ấy. Mặt khác, bất kể công việc gì

được mọi người làm (và giả dụ rằng, công việc đó trở thành

mục đích hoạt động của họ)- và thỉnh thoảng mục đích này

chiếm hết thời gian, tâm trí họ – thì chính mục đích ấy không

mang trong nó một ý nghĩa quyết định. Và cuối cùng, mục

đích của lao động – dù là công việc hết sức hèn mọn, một lao

động cực kỳ đơn điệu xét theo bậc thang định giá thông

thường, một lao động tầm thường nhất – mục đích ấy bao giờ

cũng là chính con người.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 544

7. Mối đe dọa đối với bậc thang giá trị đích

thực:

Những xác định chủ yếu trên đây về vấn đề lao động

luôn luôn bắt nguồn từ chân lý phong phú của KiTô Giáo,

nhất là từ chính bản sứ điệp của “Tin Mừng lao động” chúng

tạo thành nền tảng của cách suy nghĩ, phán đoán và hành

động mới của con người. Vào thời đại ngày nay, ngay từ đầu

kỷ nguyên kỹ nghệ, chân lý Kitô giáo về lao động phải đối

đầu với những luồng tư tưởng duy vật và duy kinh tế.

Đối với một số người theo các trào lưu tư tưởng này, lao

động được hiểu và đối xử y như một loại “hàng hóa”

người lao động và đặc biệt là người thợ trong kỹ nghệ bán

cho người chủ thuê là người đồng thời làm chủ vốn nghĩa là

làm chủ toàn bộ các dụng cụ lao động và những phương tiện

để sản xuất. Cách quan niệm về lao động như vậy có lẽ đặc

biệt phổ biến vào đầu thế kỷ thứ 19. Rồi sau đó, những định

thức minh nhiên thuộc loại này gần như hoàn toàn biến mất

và thay thế vào đó là một lối suy nghĩ và định giá một cách

nhân đạo hơn về lao động. Sự cộng hưởng giữa người lao

động và toàn bộ các dụng cụ, phương tiện sản xuất đã khiến

cho chủ nghĩa tư bản phát triển dưới nhiều hình thức song

song với các hình thức của chủ nghĩa tập thể, trong những

hình thức tư bản có xen vào nhiều nhân tố kinh tế xã hội phát

sinh do những hoàn cảnh thực tế mới, do sự hoạt động của

các liên đoàn thợ thuyền, của các cơ quan chính quyền, do sự

thành lập các đại xí nghiệp siêu quốc gia. Mặc dầu thế, người

ta vẫn thấy cái nguy cơ của khuynh hướng muốn coi lao động

như một thứ “hàng hóa suigeneris” (biệt loại) hoặc như một

thứ “lực lượng” vô danh cần cho sản xuất (có người dùng đến

cả danh từ “lực lao động”) nếu phương pháp trình bày và giải

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 545

quyết các vấn đề về kinh tế dựa trên những nguyên tắc của

“chủ nghĩa kinh tế” duy vật.

Đối với lối suy nghĩ và phán đoán này, cái tạo ra một cơ

hội có hệ thống, hay theo một ý nghĩa nào đó, trở thành một

động cơ kích thích, chính là diễn tiến phát triển gia tốc của

nền văn minh duy vật phiến diện, trong đó người ta quan

trọng hóa khía cạnh khách quan của lao động, trong khi kích

thước chủ quan – nghĩa là tất cả những gì có liên quan trực

tiếp hay gián tiếp với chính chủ thể của lao động đều bị liệt

kê vào hàng thứ yếu. Trong tất cả mọi trường hợp thuộc loại

này và trong mỗi hoàn cảnh xã hội thuộc kiểu đó, thấy xuất

hiện một sự hỗn độn và hơn thế, một sự đảo lộn trật tự đã

được thiết lập từ những ngày đầu do lời trong sách Sáng thế :

Lúc đó con người bị coi như một dụng cụ sản xuất, trong khi

họ – và chỉ mình họ thôi, chứ không kể đến công việc họ làm

– phải được coi như chủ thể hiệu năng, người thợ thực sự và

người tạo thành của công việc đó. Hãy bỏ qua một bên

chương trình, danh xưng của nó, chính ra sự đảo lộn trật tự đó,

hiểu theo ý nghĩa sẽ giải thích rộng rãi dưới đây, phải gọi là

“chủ nghĩa tư bản” mới đúng. Chúng ta biết rõ : chủ nghĩa tư

bản có một ý nghĩa lịch sử được xác định rõ ràng coi như một

chế độ kinh tế xã hội đối lập với “chủ nghĩa xã hội”hoặc

“cộng sản chủ nghĩa”. Nhưng nếu để ý phân tách thực tại căn

bản của tất cả các diễn tiến kinh tế và trước hết của các cơ

cấu tổ chức sản xuất (và chính lao động là như thế đó!) thì ta

nên ghi nhận rằng sự sai lầm của chủ nghĩa tư bản sơ khởi có

thể lại tái diễn bất cứ ở nơi nào mà con người bị xếp ngang

hàng với toàn bộ phương tiện vật chất dùng để sản xuất, bị

coi như một dụng cụ mà đáng lý ra theo đúng giá trị của lao

động phải được coi như một chủ thể, một tác giả, nói cách

khác, như chính mục đích của tất cả tiến trình của sản xuất.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 546

Đặt vấn đề như thế rồi, chúng ta sẽ hiểu rằng : việc dựa

vào ánh sáng của những lời Kinh Thánh liên quan đến quyền

“chế ngự” của con người trên trái đất để phân tách vấn đề lao

động của họ, việc phân tách này xen vào chính trung tâm của

vấn đề đạo đức xã hội. Quan niệm này cũng phải chiếm một

vị trí trung tâm của tất cả địa hạt chính trị kinh tế xã hội, trên

bình diện của những nước khác nhau, cũng như rộng hơn thế,

trên bình diện các mối liên lạc quốc tế và liên lục địa, đặc

biệt dựa vào những tình trạng căng thẳng trên thế giới, không

những giữa Đông-Tây mà cả giữa Nam-Bắc. Bức Thông điệp

Populorum progressio của Đức Phaolô VI đã đặc biệt chú tâm

trên những khía cạnh đó của các vấn đề đạo đức và xã hội

đương thời.

8. Sự liên đới của người lao động

Nói đến lao động của con người, hiểu theo chiều hướng

căn bản của chủ thể, nghĩa là con người trong tư cách một cá

thể thực hiện lao động ấy, ít ra chúng ta cũng phải thử ước

lượng sơ qua những phát triển đã xảy ra trong 90 năm qua kể

từ Thông điệp Rerum novarum, xét trên chiều kích chủ quan

của lao động. Quả vậy, chủ thể của lao động, tức là con

người, lúc nào cũng là một, thế nhưng đã có nhiều thay đổi

đáng kể xảy ra trong khía cạnh khách quan của lao động. Mặc

dù có thể nói rằng, xét về phương diện chủ thể, lao động chỉ

là một (là một với một tính chất không bao giờ có thể kiêm

một cái gì giống hệt như thế), nhưng nếu nghiên cứu các điều

kiện khách quan của nó, ta sẽ thấy có nhiều thứ lao động, có

rất nhiều loại công việc khác nhau. Về lãnh vực này, sự phát

triển của nền văn minh nhân loại là một nhân tố phong phú

hóa liên tục. Tuy nhiên cần phải ghi nhận rằng, trong diễn

tiến của sự phát triển này, trong khi có nhiều hình thức lao

động mới xuất hiện, thì đồng thời cũng có nhiều hình thức cũ

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 547

biến mất. Hãy cứ giả dụ rằng, trên nguyên tắc, đây là một

hiện tượng thông thường, nhưng ta cũng cần tìm hiểu xem liệu

trong hiện tượng đó, có lọt vào một vài sự gì bất thường có

tính sâu xa hay chỉ bên ngoài có thể trở thành nguy hại về

phương diện đạo đức xã hội không.

Chính trong thế kỷ trước, vì có một việc bất thường gây

ra phản ứng quan trọng như thế, nên đã nảy sinh ra vấn đề lao

động mà có người mệnh danh là “vấn đề giai cấp vô sản”.

Vấn đề này, cũng như các vấn đề có liên hệ đã gây ra một

phản ứng xã hội rất chính đáng và làm nảy sinh, có thể nói là

làm bùng lên một mối tình liên đới nhiệt thành giữa các người

lao động, nhất là những người lao động trong ngành kỹ nghệ.

Lời kêu gọi hãy liên kết với nhau và cùng chung sức hành

động được tung ra tới những con người lao động, có giá trị của

nó, một giá trị quan trọng và có một sức mạnh thuyết phục về

phương diện đạo đức xã hội, nhất là khi nó liên quan đến sự

lao động có tính chất khu vực, đơn điệu, phi nhân trong những

phức hợp kỹ nghệ, khi máy móc có khuynh hướng chế ngự

con người.

Đó là sự phản ứng chống lại sự giảm hóa con người,

chủ thể của lao động, chống lại tình trạng bóc lột chưa từng

thấy thường gắn liền vào đó trong lãnh vực lợi nhuận, điều

kiện làm việc và công tác chiếu cố săn sóc cho cá nhân người

lao động. Sức phản ứng đó đã liên kết thế giới công nhân lại

thành một cộng đồng có tinh thần liên đới rất cao.

Nương theo hướng đi của Thông điệp Rerum Novarum

và rất nhiều tài liệu giáo huấn sau đó của Giáo hội, chúng ta

phải thành thật công nhận sự hợp lý về phương diện đạo đức

xã hội của phản ứng chống lại chế độ bất công, tai hại mà

tiếng kêu oan đã vang thấu Trời, thứ chế độ đè nặng trên

người lao động trong giai đoạn kỹ nghệ hóa mau lẹ này. Tình

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 548

trạng xã hội trên đây lại tìm được một môi trường thuận tiện

trong chế độ xã hội chính trị tự do, một chế độ chủ trương

những nguyên tắc kinh tế riêng của những người nắm tư bản,

nhưng lại không chú trọng đầy đủ tới quyền lợi của người lao

động, vì họ khẳng quyết rằng: lao động của con người chỉ là

một dụng cụ sản xuất, rằng: tư bản là nền tảng, là nhân tố và

là mục tiêu của sản xuất.

Kể từ đó, trong nhiều trường hợp, tinh thần liên đới của

các người lao động cộng thêm việc có nhiều người bắt đầu ý

thức rõ ràng hơn và dấn thân hơn để hoạt động cho quyền lợi

của các người lao động, những yếu tố đã tạo ra nhiều thay đổi

sâu xa. Người ta nghĩ ra nhiều thứ chế độ mới, nhiếu hình

thức tân tư bản và tập sản chủ nghĩa được thành hình phát

triển. Trong nhiều trường hợp và ở nhiều nơi, người lao động

được tham gia và thực sự tham gia vào việc quản lý, kiểm soát

công việc sản xuất của xí nghiệp. Với những tổ chức liên

đoàn thích hợp, họ có ảnh hưởng đối với các điều kiện làm

việc cũng như chế độ lương bổng và tới cả nền pháp chế xã

hội nữa. Nhưng đồng thời, có những chế độ xây dựng trên

căn bản ý thức hệ hoặc trên quyền hành, cũng như có những

mối quan hệ mới xuất hiện trên những bình diện khác nhau

của đời sống xã hội, những cái đó đã lưu giữ lại những

chuyện bất công rành rành hoặc tạo ra những bất công mới.

Trên bình diện thế giới, sự phát triển của nền văn minh và

các phương tiện giao thông đã giúp người ta chẩn đoán được

một cách đầy đủ hơn về các điều kiện sinh sống và làm việc

của con người trên khắp thế giới, nhưng đồng thời nó lại cũng

phát hiện ra những hình thức bất công khác còn lớn lao hơn cả

thời thế kỷ vừa qua, những bất công trước đây đã khiến cho

các người lao động phải hợp nhất lại với nhau trong một tinh

thần liên đới đặc biệt trong thế giới thợ thuyền. Đó là việc đã

xảy ra trong những nước đã thực hiện một thế diễn tiến của

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 549

cuộc cách mạng kỹ nghệ; và đó là việc cũng đã xảy ra trong

những nước mà công trường lao động lớn nhất vẫn là công

trường của nông nghiệp hoặc những hoạt động tương tự.

Cần có những phong trào liên đới trong lãnh vực lao

động – một thứ tinh thần liên đới không phải khép kín chẳng

chịu đối thoại hoặc cộng tác với người khác – những phong

trào liên đới có quan hệ cả với những tập thể xã hội từ trước

đến nay chưa gia nhập chung vào, xong do sự hoán chuyển

của các chế độ xã hội và điều kiện sinh sống, đã bị thực sự

“vô sản hóa” hoặc trên thực tế đã thực sự sống trong tình

trạng “gia cấp vô sản” và thật xứng đáng danh xưng đó, mặc

dầu họ không chính thức mang danh xưng này. Có thể liệt vào

hạng người này nhiều lớp người, nhiều nhóm “tri thức” lao

động,đặc biệt là khi chế độ giáo dục đã được mở rộng, số

những người học hành có bằng cấp nhờ việc học gia tăng

ngày một nhiều, trong khi chỗ làm việc ngày một giảm. Tình

trạng trí thức thất nghiệp ấy xảy ra hoặc gia tăng, nên người ta

mở rộng cửa học đường, song nền giáo dục lại không hướng

về những loại chức vụ và nghề nghiệp mà nhu cầu thực tế xã

hội đòi hỏi hoặc khi loại công việc mà người ta cần được

chuẩn bị bằng sự học văn hóa hay học nghề lại không được

trọng dụng hoặc là không được trả lương cao bằng công việc

tay chân. Đã hiển nhiên rằng tự nó vấn đề học vấn bao giờ

cũng có giá trị và làm cho giá trị con người thêm phong phú

hơn; tuy nhiên không phải thế mà tình trạng “vô sản hóa”

không xảy ra theo một vài diễn tiến.

Chính vì thế nên chúng ta vẫn phải tiếp tục tìm hiểu

thêm về chủ thể của lao động cũng như về về những điều

kiện sinh sống của chủ thể ấy. Muốn thể hiện sự công bằng

xã hội tại các miền đất trên thế giới, tại các quốc gia, trong

các quan hệ giữa các miền, các nước, chúng ta luôn luôn cần

phải có những phong trào liên đới mới của các người lao động

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 550

và với những người lao động. Phải có thứ tinh thần liên đới

như thế ở những nơi mà giá trị xã hội của chủ thể của lao

động bị hạ thấp xuống, những nơi người lao động bị bóc lột

và những miền đói khổ ngày một gia tăng. Giáo hội nhiệt tâm

dấn thân vào công cuộc này, vì Giáo Hội coi đó là sứ vụ, là

công việc của mình và là chứng nghiệm cho lòng trung thành

của mình đối với Đức Kitô, để có thể thực sự trở nên “Giáo

hội của những người nghèo”. Và những “người nghèo” này ở

dưới nhiều dạng thức, xuất hiện ở nhiều nơi và trong nhiều

lúc khác nhau; trong nhiều trường hợp họ là hậu quả của việc

vi phạm phẩm giá của lao động con người : hoặc do công việc

làm bị hạn chế – đó là tai họa của thất nghiệp – hoặc do việc

người ta coi nhẹ giá trị của lao động và các quyền lợi của nó,

đặc biệt là quyền được hưởng một đồng lương xứng đáng,

quyền được bảo vệ cho bản thân và gia đình người lao động.

9. Lao động và phẩm giá con người

Vẫn đứng về khía cạnh con người là chủ thể lao động,

chúng ta cũng nên bàn, ít ra một cách tổng hợp, về những vấn

đề có khả năng xác định sát hơn về phẩm giá của lao động

con người, vì chúng có thể giúp chúng ta biểu thị giá trị đạo

đức đặc thù của nó một cách đầy đủ hơn. Chúng ta phải làm

việc đó dưới ánh sáng lời Kinh Thánh : “Hãy bắt trái đất phục

tùng”, vì đó là lời kêu gọi biểu lộ ý muốn của Đấng tạo hóa,

để việc lao động giúp con người đạt tới “sự chế ngự” theo

đúng vai trò của mình trong thế giới hữu hình.

Ý định căn bản và đầu tiên của Thiên Chúa đối với con

người mà Ngài “đã dựng nên… giống Ngài, theo hình ảnh

Ngài” vẫn được giữ nguyên và không hề bị hủy bỏ, cả ngay

sau khi con người đã xé bỏ giao ước nguyên thủy với Thiên

Chúa rồi bị tuyên án : “Ngươi sẽ đổ mồ hôi trán ra để kiếm

miếng ăn”. Những lời này có ý chỉ sự mệt nhọc đôi khi nặng

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 551

nề được gắn liền với lao động kể từ ngày đó, nhưng nó không

làm thay đổi sự kiện này là : lao động luôn luôn là con đường

dẫn con người tới chỗ “chế ngự” thế giới hữu hình bằng cách

bắt trái đất “phải phục tùng”, đúng với vai trò của họ. Sự mệt

nhọc ấy mọi người đều được biết và đều đã trải qua. Sự mệt

nhọc là chuyện quá quen thuộc đối với những người lao động

về thân xác trong những hoàn cảnh đôi khi vô cùng khổ cực.

Sự mệt nhọc là chuyện quá quen thuộc đối với người nông

dân phải trải qua những ngày dài đằng đẵng cày sâu cuốc

bẫm trên những mãnh ruộng nhiều khi chỉ “sinh ra cỏ rả gai

góc”, đối với những người thợ mỏ trong các mỏ kim khí, khai

thác đá đối với những người thợ luyện kim làm việc bên

những lò nóng cháy; đối với những vất vã nơi các công

trường kiến trúc thuộc ngành xây dựng là nơi mà thường

xuyên tính mạng và an toàn của họ bị đe dọa. Sự mệt nhọc

cũng là chuyện quá quen thuộc đối với những người gắn liền

với công trường lao động trí óc, với những nhà bác học,

những người mang nặng trên vai trách nhiệm đưa ra những

quyết định hệ trọng ảnh hưởng lớn lao trên bình diện xã hội.

Sự mệt nhọc là chuyện quá quen thuộc đối với các bác sĩ và y

tá, ngày đêm săn sóc bên giường các bệnh nhân. Sự mệt nhọc

là chuyện quá quen thuộc đối với các phụ nữ ngày ngày vất

vã lo lắng việc nhà và giáo dục con cái, nỗi vất vả cực nhọc

mà ít khi xã hội và chính những người thân chịu để ý ghi

nhận. Đúng thế, tất cả các người lao động đều biết chuyện

mệt nhọc, vì lao động là một thiên chức phổ quát, một thiên

chức chung cho hết mọi con người.

Thế nhưng, mặc dầu có sự mệt nhọc như thế và có thể

nói, có lẽ chính vì sự mệt nhọc đó mà lao động là một cái lợi

ích của con người. Tuy lợi ích đó mang dấu ấn của một thứ

bonum arduum, thứ “lợi ích cực nhọc” theo danh từ thánh

Tôma dùng, thì với dấu ấn đó, nó vẫn là một lợi ích của con

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 552

người. Nó không phải chỉ là một lợi ích “hữu dụng” mà người

ta có thể “thụ hưởng” mà nó còn là một lợi ích “xứng đáng”,

có nghĩa là nó tương ứng với phẩm giá của con người, một lợi

ích biểu lộ và gia tăng phẩm giá đó. Muốn xác định rõ ràng

hơn ý nghĩa đạo đức của lao động, trước hết chúng ta phải chú

tâm đến chân lý ấy. Lao động là một lợi ích của con người,

một lợi ích của nhân tính họ – bởi vì, nhờ lao động, không

những con người chỉ biến đổi thiên nhiên bằng cách ứng dụng

nó vào nhu cầu của họ, mà họ còn có thể tự thực hiện chính

mình với tư cách là một người và hiểu theo một ý nghĩa nào

đó, “họ trở nên người hơn”.

Nếu không có nhận định như thế, người ta không thể

hiểu được rằng : sự thành công trong lao động là một thiện

đức, nói rõ hơn : không thể hiểu được tại sao sự nhiệt thành

trong lao động lại phải là một thiện đức. Quả vậy, thiện ý là

định ý đạo đức giúp cho con người có thể trở thành tốt, với tư

cách là một con người. Sự kiện này không làm cho chúng ta

bớt lo lắng băn khoăn trong việc làm thế nào để cho trong lao

động, con người không bị giảm nhân cách trong khi tìm cách

nâng cao giá trị vật chất. Người ta cũng biết rằng : có thể bằng

nhiều cách, sử dụng lao động để chống lại con người, chẳng

hạn bằng cách áp dụng chế độ cưỡng bách trong các trại tập

trung, bằng cách dùng lao động để cưỡng bách áp bức con

người, và cuối cùng khai thác bóc lột bằng nhiều cách lao

động con người, tức là chính người lao động. Tất cả sự việc

đó khiến chúng ta cảm thấy có trách nhiệm tinh thần phải kết

hợp hai sự kiện : đức tính nhiệt thành lao động với một trật tự

xã hội về lao động để con người có thể “trở nên người hơn”

trong lao động và tránh cho họ khỏi giảm mất nhân cách qua

việc lao lực (vì đó là một việc, xét theo một mức độ nào đó,

không sao tránh được) và nhất là làm tổn hại phẩm giá và tính

chất chủ thể riêng của họ.

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 553

10. Lao động và xã hội : gia đình và quốc gia.

Sau khi đã xác định chiều kích cá nhân của lao động con

người, chúng ta phải nói đến một khu vực thứ hai của các giá

trị gắn liền với các vấn đề trên. Lao động là nền tảng xây

dựng đời sống gia đình lại là một quyền tự nhiên và là thiên

chức của con người. Hai khu vực giá trị này – một khu vực gắn

liền với lao động, một khu vực phát xuất từ tính chất gia đình

của đời sống con người, phải liên kết với nhau và ảnh hưởng

tới nhau một cách đúng đắn. Có thể nói, lao động là điểu kiện

giúp cho gia đình có thể thành hình, vì muốn tồn tại, gia đình

phải có những phương tiện sinh sống mà con người phải nhờ

lao động mới có được.

Tất cả diễn tiến giáo dục cũng chịu ảnh hưởng của lao

động và của lòng nhiệt thành trong lao động, lý do chính là vì

mỗi người “trở nên người” lại là mục tiêu chính yếu của tiến

trình giáo dục. Có thể nói, chính ở đây, ta thấy xuất hiện hai

khía cạnh lao động : trước tiên là lao động để bảo đảm sự sinh

sống cho gai đình và thứ đến, lao động để giúp thực hiện các

mục tiêu của gia đình, nhất là mục tiêu giáo dục. Tuy nhiên,

hai khía cạnh lao động này kết hợp và bổ túc cho nhau về

nhiều điểm.

Nói chung, ta phải nhớ và xác định rằng : gia đình là

một trong những căn cứ điểm quan trọng nhất mà trật tự xã

hội và đạo đức của con người phải dựa vào để hình thành.

Nền giáo dục (giáo lý) của Giáo hội luôn luôn dành sự quan

tâm đặc biệt cho các vấn đề trên, và trong tài liệu này, chúng

ta cần phải nhắc nhở, bàn luận tới. Lý do vì gia đình vừa là

một cộng đồng thành hình và tồn tại được nhờ có lao động

đồng thời cũng là trường học đầu tiên dạy cho mọi người lao

động.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 554

Còn khu vực giá trị thứ ba mà chúng ta gặp thấy trên

khía cạnh đang nghiên cứu – khía cạnh chủ thể lao động; khu

vực này liên quan đến đại xã hội mà con người là thành phần

trực thuộc do những mối dây văn hóa lịch sử đặc thù liên kết

lại. Cả trong trường hợp xã hội này chưa hoàn toàn mang tính

hình thức của một quốc gia, nó vẫn là một trung tâm “giáo

dục” lớn của con người, mặc dầu mới chỉ giáo dục một cách

gián tiếp (bởi vì trong gia đình, mỗi người đều tiếp thu các

nhân tố và giá trị ma toàn bộ sẽ tạo thành nền văn hóa của

một quốc gia nhất định) và mỗi xã hội là một hiện thân có

tính cách lịch sử và xã hội của lao động qua tất cả các thế hệ.

Kết quả của tất cả các sự việc trên là: con người gắn chặt

nhân cách tính sâu xa nhất của mình với việc họ trực thuộc

vào quốc gia; họ cũng nhận thấy việc họ lao động là một

phương thế làm gia tăng lợi ích chung mà người đống bào

cũng góp sức vào và biết rằng, nhờ phương thế đó, lao động

sẽ làm gia tăng di sản của cả gia đình nhân loại, của tất cả mọi

người sống trên trần thế.

Cả ba khu vực giá trị này luôn luôn giữ tính cách quan

trọng của chúng đối với lao động con người về khía cạnh chủ

quan của chúng. Khía cạnh đó, nghĩa là thực tại cụ thể của

con người khi lao động, có ưu thế hơn khía cạnh khách quan,

việc “chế ngự” thế giới thiên nhiên được thực hiện trước tiên

và công việc này, con người đã kêu gọi thực hiện ngay từ hối

nguyên thủy, căn cứ theo lời chép trong sách Sáng thế. Nếu

công việc chế ngự trái đất, có nghĩa là việc lao động dưới

khía cạnh kỹ thuật, trong lịch sử, nhất là trong những thế kỷ

gần đây, đã nổi bật hẳn với sự phát triển của các phương tiện

sản xuất, thì đó là một hiện tượng có lợi và tích cực, với điều

kiện là khía cạnh khách quan của lao động không lướt thắng

hẳn chiều kích chủ quan bằng cách làm cho con người mất đi

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 555

hoặc làm giảm sút phẩm giá và các quyền lợi bất khả nhượng

của họ.

III. CUỘC TRANH CHẤP GIỮA LAO ĐỘNG VÀ TƯ

BẢN TRONG GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ HIỆN TẠI

11. Chiều kích của cuộc tranh chấp

Có thể nói bản ước trình căn bản về lao động được phác

họa trên đây, căn cứ vào những đoạn văn đầu tiên trong Kinh

Thánh, là cái sườn của giáo huấn Giáo hội, nó không hề thay

đổi qua bao thế kỷ giữa bao kinh nghiệm và biến thiên của

lịch sử. Tuy nhiên trên tấm màn bối cảnh những kinh nghiệm

thâu thập được trước và sau khi ban hành thông điệp Rerum

novarum, lời giáo huấn đó đã có thêm được một khả năng

diễn tả đặc biệt và một tính chất thời sự nóng bỏng. Qua sự

phân tích này, lao động xuất hiện như một thực tại lớn có ảnh

hưởng căn bản đối với việc hình thành (hiểu theo nghĩa loài

người) thế giới, cái thế giới đã được Đấng tạo hóa giao phó

cho con người, cũng như đối với việc nhân tính hóa họ, lao

động cũng là một thực tại gắn liền chặt chẽ với con người như

với chủ thể riêng của nó, và với phương pháp hành động hợp

lý của họ. Trong diễn tiến thông thường của mọi sự vật, thực

tại đó tràn ngập trong đời sống con người và có ảnh hưởng

mạnh mẽ đối với giá trị và ý nghĩa của nó. Mặc dù dính liền

với sự mệt nhọc và sự cố gắng, lao động vẫn luôn luôn là một

lợi ích khiến cho con người phát triển thêm trong lúc yêu lao

động. Tính chất hoàn toàn tích cực và sáng tạo, giáo dục và

hữu công trên đây của lao động con người phải trở thành nền

tảng cho những lượng giá và quyết định của con người đối với

lao động, ngay cả trường hợp họ dựa vào những quyền chủ

quan của con người, đúng như những lời xác quyết của các

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 556

bản Tuyên ngôn quốc tế và các Bộ luật lao động được soạn

thảo do các cơ cấu lập pháp hữu quyền của các quốc gia cũng

như các tổ chức chuyên trách về vấn đề xã hội hoặc khoa học

xã hội liên quan đến ước trình của lao động. Có một cơ quan

lo đề xuất những sáng kiến tương tự trên bình diện quốc tế:

đó là tổ chức lao động quốc tế, một tổ chức chuyên môn lâu

đời nhất của liên hiệp quốc.

Tôi dự định, trong một phần liên quan đến các nhận

định này, sẽ trở lại bàn một cách chi tiết hơn về các vấn đề

quan trọng trên, và sẽ nhắc sơ qua đến những yếu tố căn bản

của giáo lý Giáo hội đối với vấn đề này. Nhưng trước đó,

chúng ta nên đề cập tới phạm vi rất quan trọng của những vấn

đề dùng làm khung cho sự hình thành của lời giáo huấn này

mà thời đầu, theo một nghĩa tượng trưng nào đó, thích ứng với

năm được ban hành Thông điệp Rerum novarum.

Chúng ta được biết, suốt trong giai đoạn này (hiện vẫn

còn đang tiếp diễn) vấn đề lao động được đặt ra, liên quan tới

vụ tranh chấp lớn xảy ra vào thời gian kỹ nghệ phát triển, và

có liên hệ tới nó, vụ tranh chấp giữa “thế giới tư bản” và “thế

giới lao động” nghĩa là giữa một nhóm người hạn chế, nhưng

rất có ảnh hưởng, là các nhà thầu, các sở hữu chủ, các người

nắm giữ các phương tiện sản xuất, và một nhóm thứ hai là số

đông quần chúng rộng lớn hơn thiếu những phương tiện ấy,

nên chỉ tham gia vào tiến trình sản xuất bằng sức lao động của

mình mà thôi. Cuộc tranh chấp này bắt nguồn từ việc các

người lao động đặt sức lực của mình dưới quyền sử dụng của

nhóm các người thầu, trong khi nhóm người này, dựa trên

nguyên tắc làm sao thu được nhiều lợi nhuận nhất, luôn luôn

tìm cách giữ cho đồng lương phải trả cho công việc làm của

những người lao động ở mức thấp nhất. Đó là chưa kể những

phương thế bóc lột khác gắng liền với sự thiếu an toàn trong

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 557

lao động, thiếu bảo đảm về những điều kiện sức khỏe và đời

sống của người thợ và gia đình họ.

Một số người giải thích sự tranh chấp này dưới hình thức

một cuộc tranh chấp kinh tế xã hội có tính giai cấp; cuộc tranh

chấp này diễn tiến trong cuộc tranh chấp ý thức hệ giữa chủ

nghĩa tự do, được coi như ý thức hệ của chế độ tư bản và chủ

nghĩa mác-xít, được coi như ý thức hệ của chế độ xã hội khoa

học và chế độ cộng sản, là chế độ tự cho mình là phát ngôn

nhân của giai cấp thợ thuyền, của toàn thể giai cấp vô sản thế

giới. Và như thế, cuộc tranh chấp thực sự giữa thế giới lao

động và thế giới tư bản và biến thành cuộc chiến tranh giai

cấp có hệ thống được tiến hành với những phương pháp

không những chỉ có tính cách ý thức hệ mà nhất là với tính

cách chính trị. Chúng ta đều biết rõ cuộc đấu tranh này, cũng

như biết rõ yêu sách của hai phe đối nghịch. Chương trình đấu

tranh của Mác-xít, dựa trên thuyết của Mác và Ăng-ghen, coi

cuộc đấu tranh giai cấp như một phương thế duy nhất để loại

trừ bất công giai cấp trong xã hội và đồng thời cũng hủy bỏ

luôn chính các giai cấp đó. Để thực hiện chương trình này,

trước tiên người ta chủ trương “tập sản hóa” các phương tiện

sản xuất để có thể giải tỏa lao động khỏi sự bóc lột sau khi đã

chuyển các phương tiện sản xuất từ tay tư nhân sang tay tập

thể.

Đó là mục tiêu cuộc tranh đấu tiến hành bằng những

phương pháp vừa ý thức hệ vừa chính trị. Theo đúng nguyên

tắc “vô sản chuyên chính” và bằng cách gây những ảnh

hưởng về nhiều mặt, kể cả bằng áp lực cách mạng, các nhóm

được tập hợp lại thành những chính đảng, theo ý thức hệ Mácxít,

tìm cách chiếm độc quyền và quyền bính trong mỗi xã hội

và đem áp dụng tại đó chế độ tập sản bằng cách loại trừ

quyền tư hữu các phương tiện sản xuất. Theo chủ trương các

lý thuyết gia và các lãnh tụ phong trào quốc tế rộng lớn này,

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 558

mục đích của chương trình hoạt động trên là thể hiện cuộc

cách mạng xã hội và du nhập vào trong toàn thể thế giới chủ

nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.

Khi bàn đến một lãnh vực gần những vấn đề cực kỳ

quan trọng như thế, những vấn đề không chỉ tạo thành một

chủ thuyết, mà cả một chuỗi dài đời sống kinh tế, xã hội,

chính trị và quốc tế, của thời đại, chúng ta không thể đi sâu

vào chi tiết được; vả chăng, việc đó xét ra cũng không cần

thiết, vì đây là vấn đề khá quen thuộc do không biết bao

nhiêu sách vở tài liệu đã nói tới hoặc đã được biểu hiện qua

những kinh nghiệm thực hành. Trái lại, chúng ta phải ngược

dòng, đi từ nội dung của chúng trở lại vấn đề căn bản là lao

động con người mà tất cả các nhận định của tập tài liệu này

nhắm vào. Thật vậy, đây là vấn đề chủ chốt (vẫn hiểu theo

phương diện loài người), một vấn đề tạo thành một trong

những chiều kích căn bản của đời sống con người trên trái đất

và ơn gọi của họ, một vấn đề chỉ có thể giải thích được bằng

cách nắm vững tất cả nội dung của thực tại hiện đại.

12. Ưu tiên của lao động.

Đối diện với thực tại hiện đại này, một thực tại mà cơ

cấu đã ghi sâu không biết bao nhiêu cuộc tranh chấp do con

người gây ra và trong đó có phương tiện kỹ thuật, kết quả của

lao động con người, đóng vai trò quan yếu nhất (ở đây người

ta liên tưởng đến cả viễn tượng của một thảm họa chung cho

cả thế giới nếu xảy ra một cuộc chiến tranh nguyên tử với

khả năng phá hoại khủng khiếp không tưởng tượng được),

trước hết chúng ta cần nhắc nhở lại một nguyên tắc mà giáo

Hội luôn luôn dạy. Đó là nguyên tắc “lao động” có ưu tiên

hơn “vốn liếng”. Nguyên tắc này liên quan trực tiếp với chính

tiến trình sản xuất trong đó lao động luôn luôn là nguyên

nhân hiệu năng, trong khi “vốn liếng”, tức là toàn bộ các

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 559

phương tiện sản xuất, chỉ là một dụng cụ, một nguyên nhân

khí cụ. Nguyên tắc này là một chân lý hiển nhiên xuất phát từ

thực tại lịch sử của con người.

Trong chương thứ nhất của Thánh Kinh, chúng ta đọc

thấy rằng con người phải bắt trái đất phục tùng mình và chúng

ta biết rằng những lời này chỉ tất cả các tài nguyên chất chứa

trong thế giới hữu hình và được đặt dưới quyền sử dụng của

con người. Thế nhưng con người chỉ có thể sử dụng các tài

nguyên ấy bằng sức lao động. Ngoài ra, ngay từ những ngày

đầu, vấn đề tư hữu là một vấn đề gắn liền với lao động, bởi

vì, muốn sử dụng và muốn cho những người khác sử dụng các

tài nguyên tiềm tàng trong thiên nhiên, con người chỉ có một

phương tiện là sức lao động của mình, con người chiếm hữu

một phần nhỏ các của cải thiên nhiên: trong lòng đất, dưới

đáy biển, trên mặt đất và trên không trung. Con người chiếm

hữu những thứ đó và biến chúng thành công trường lao động

của họ. Họ dùng lao động để chiếm hữu và nhờ đó có thể

tiếp tục lao động thêm nữa.

Nguyên tắc trên đây được áp dụng cho các giai đoạn

tiếp theo của diễn tiến đó, và giai đoạn đầu tiên luôn luôn

vẫn là mối tương quan giữa con người và những tài nguyên

của cải thiên nhiên. Tất cả những cố gắng tìm tòi để khám

phá các của cải đó, để xác định những khả năng sử dụng

khác biệt do con người và cho con người, cho chúng ta ý thức

rằng: tất cả những gì trong toàn bộ công cuộc sản xuất kinh tế

do con người làm ra, cả sức lao động lẫn toàn bộ những

phương tiện và kỹ thuật sản xuất (nghĩa là khả năng có thể

vận dụng các phương tiện ấy trong lao động) giả thiết đã có:

các tài nguyên của cải của thế giới hữu hình do con người tìm

ra được, chứ không phải tạo dựng nên. Có thể nói, khi họ tìm

ra chúng, chúng đã có sẵn, đã được chuẩn bị để được khám

phá ra và đem sử dụng tốt trong diễn trình sản xuất. Trong tất

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 560

cả mọi giai đoạn phát triển bằng lao động, con người gặp một

sự kiện này là: họ nhận được tất cả do nơi thiên nhiên, nói

kiểu khác, xét cho cùng là do nơi Đấng tạo Hóa. Ngay từ khởi

thủy lao động con người, đã có huyền nhiệm tạo dựng. Điều

khẳng định này chính là khởi điểm là hướng đi của tài liệu

này; điều khẳng định ấy sẽ được quảng diễn dưới đây, trong

phần cuối cùng của các suy tư này.

Nhận xét tiếp theo về cũng một vấn đề này sẽ giúp

chúng ta vững tin rằng: lao động của con người có giá trị đối

với cái mà với thời gian, người ta quen gọi là “vốn liếng”. Quả

vậy, nếu với ý thức đó, ta quen sắp xếp các tài guyên thiên

nhiên vốn có sẵn chờ con người sử dụng với toàn bộ các

phương tiện mà con người chiếm hữu bằng cách chế biến dần

dần tùy theo nhu cầu của mình (có thể nói bằng cách “nhân

tính hóa”) chúng ta sẽ nhận thấy rằng tất cả toàn bộ các

phương tiện này đều là di sản lịch sử của lao động con người.

Tất cả các phương tiện sản xuất, từ cái thô sơ nhất đến cái tối

tân nhất, đều do con người tạo ra dần dần, nhờ kinh nghiệm

và sự hiểu biết của con người. Và như thế chúng ta thấy xuất

hiện không những các dụng cụ đơn giản nhất dùng để canh

tác, mà nhờ có sự tiến bộ đồng đều của khoa học và kỹ thuật,

cả những dụng cụ tối tân và phức tạp nhất như: máy móc, nhà

máy, các phòng thí nghiệm, các máy điều khiển …vì vậy tất

cả những gì dùng cho lao động, tát cả những gì tạo thành “khí

cụ” ngày càng hoàn bị theo mức độ kỹ thuật thời gian nay của

lao động .

Khí cụ khổng lồ và vạn năng này, nói cách khác, toàn

bộ các phương tiện sản xuất, có thể được coi là đồng nghĩa

với “vốn liếng”, đều phát xuất ra từ lao động và mang nhãn

hiệu của lao động. Với mức tiến bộ hiện thời của kỹ thuật, khi

con người chủ thể của lao động, muốn sử dụng toàn bộ các

khí cụ tối tân, nghĩa là muốn sử dụng các phương tiện sản

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 561

xuất, đều phải bắt đầu dùng tri thức để tiếp nhận tất cả những

kết quả lao động của những người đã khám phá, xếp đặt, chế

tạo hoàn bị các khí cụ và ngày nay vẫn tiếp tục làm như vậy.

Khả năng lao động _ nghĩa là khả năng tham dự một cách hữu

hiệu vào tiến trình hiện đại của sản xuất – đòi hỏi phải có một

sự chuẩn bị kỹ hơn, và nhất là một trình độ kiến thức tương

xứng hơn, điều hiển nhiên là bất cứ người nào tham dự vào

tiến trình sản xuất, mặc dù chỉ thực hiện một công việc không

đòi hỏi một kiến thức và chuyên môn đặc biệt, họ vẫn là một

chủ thể có hiệu năng thực sự trong tiến trình đó, trong khi

toàn bộ các khí cụ dù là loại tinh xảo hoàn bị nhất, vẫn hoàn

toàn chỉ là một khí cụ lệ thuộc vào sức lao động của con

người.

Đó là một chân lí thuộc di sản bất di bất dịch trong giáo

lý của Giáo hội và cần được nhấn mạnh mỗi khi bàn đến vấn

đề chế độ lao động cũng như với tất cả chế độ kinh tế xã hội.

Cần phải nhấn mạnh và làm nổi bật tính cách ưu tiên của con

người trong tiến trình sản xuất, sự ưu tiên của con người trên

các sự vật. Tất cả những gì bao hàm trong ý niệm “vốn liếng”,

hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ là một trong toàn bộ của các sự vật.

Vì là chủ tể của lao động và dầu bất cứ làm công việc gì, con

người, và chỉ duy nhất có mình con người mà thôi, mới là một

nhân thể. Tự trong chân lý này, người ta rút ra những quy kết

quan trọng và quyết định.

13. Chủ thuyết duy kinh tế và chủ thuyết duy

vật.

Trước hết, dưới ánh sáng của chân lý này, ta thấy rõ :

không thể tách “vốn liếng” khỏi lao động , cũng như không

có cách nào đối lập lao động với vốn liếng và vốn liếng với

lao động, và – như sẽ giải thích dưới đây – càng không thể đối

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 562

lập những con người cụ thể, hiểu theo quan niệm lao động và

tư bản (tức là vốn liếng). Chế độ lao động được gọi là công

bằng, nghĩa là hợp với chính bản chất của vấn đề, hoặc xác

thực tự bản chất và đồng thời hợp pháp về mặt đạo đức, là

một chế độ, tự căn bản nền tảng, vượt qua được sự đối kháng

giữa lao động và vốn liếng bằng cách thiết lập cơ cấu tổ chức

trên nguyên tắc kể ra trên đây về ưu tiên tự bản chất và hiệu

năng của lao động, về khía cạnh chủ quan của lao động con

người, về sự tham gia có hiệu quả vào tiến trình sản xuất dù

người lao động đóng góp bằng bất cứ loại việc nào.

Tính chất đối kháng giữa lao động và vốn liếng không

bắt nguồn ở cơ cấu của tiến trình sản xuất cũng không ở cơ

cấu của tiến trình kinh tế nói chung. Tiến trình này biểu lộ sự

hỗ tương thâm nhập giữa lao động và cái người ta quen gọi là

vốn liếng, nó chứng tỏ giữa hai bên có một sợi dây liên kết

không gì tháo gỡ nổi. Dù làm bất cứ công việc gì, hoặc một

công việc tương đối thô sơ hay ngược lại, một công việc hết

sức hiện đại, con người vẫn có thể dễ dàng nhận thấy rằng:

nhờ công sức lao động của mình, họ được thừa hưởng hai di

sản: thứ nhất là được thừa hưởng những gì mà tất cả mọi

người được hưởng, là các tài nguyên thiên nhiên, và thứ đến,

tất cả những gì mà người trước đó đã tạo ra từ những tài

nguyên đó bằng cách trước tiên là phát triển kỹ thuật, nghĩa là

thực hiện các dụng cụ làm việc mỗi ngày một hoàn bị hơn.

trong khi lao động, con người được “thừa hưởng công sức của

người khác”. Nhờ trí khôn suy nghĩ và dưới ánh sáng của Lời

Chúa soi dẫn đức tin, chúng ta sẽ dễ dàng chấp nhận lối nhìn

đối với lãng vực và tiến trình lao động như vừa kể. Đây là

một lối nhìn mạch lạc, có tính cách thần học và nhân bản.

Quả vậy, con người xuất hiện với tư cách “chủ nhân ông” của

các tạo vật, được đặt dưới quyền sử dụng của họ trong thế

giới hữu hình. Nếu trong tiến trình của lao động, chúng ta

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 563

nhận thấy có cái gì lệ thuộc, thì đó chính là sự lệ thuộc đối

với Đấng ban phát tất cả các tài nguyên đã được tạo thành, và

sự lệ thuộc ấy sẽ lại trở thành sự lệ thuộc đối với những

người khác, những con người đã dùng công sức lao động và

các sáng kiến của họ, để lại cho công việc của chúng ta

những khả năng đã được hoàn bị và gia tăng. Đối với tất cả

những gì,trong tiến trình sản xuất, tạo thành một toàn bộ

những “sự vật” những dụng cụ, vốn liếng, chúng ta chỉ có thể

quả quyết rằng chúng là “những điều kiện” của lao động con

người. Nhưng ta không thể quả quyết rằng chúng như một thứ

“chủ thể” vô danh bắt con người và sự lao động của họ phải

lệ thuộc.

Lối nhìn mạch lạc này, trong đó nguyên tắc con người

chiếm ưu thế ở trên sự vật được bảo vệ nguyên vẹn đã bị phá

vỡ trong tư tưởng của con người, đôi khi sau một thời gian

chẩn bị khá dài trong thực hành. trong quá trình đó, lao động

đã bị tách rời và trở thành đối lập với vốn liếng, cũng như vốn

liếng trở thành đối lập với lao động, gần như hai lực lượng vô

danh, hai nhân tố sản xuất được nhận định riêng biệt trong

cùng một viễn tượng “kinh tế học” đối với cách đặt vấn đề

như thế, người ta thấy có một sai lầm căn bản có thể mệnh

danh là sự sai lầm của “chủ thuyết duy kinh tế” là một chủ

thuyết chỉ nhận xét sự lao động của con người nguyên dưới

khía cạnh cứu cánh kinh tế. Chúng ta có thể và phải gọi sai

lầm căn bản của tư tưởng này là sự sai lầm của chủ nghĩa duy

vật theo ý nghĩa này là: “chủ thuyết duy kinh tế” chủ trương,

một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, tính cách ưu thế, trổi vượt

của những gì là vật chất, trong khi nó đặt, một cách trực tiếp

hoặc gián tiếp, những gì có tính cách thiêng liêng và nhân

linh (như hành động của con người, các giá trị đạo đức hoặc tư

tưởng) trong một vị thế lệ thuộc đối với thực tại vật chất.

Quan niệm đó thực sự chưa phải là chủ thuyết duy vật lý

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 564

thuyết theo trọn vẹn ý nghĩa của nó; nhưng chắc chắn nó là

một chủ thuyết duy vật thực hành; chủ thuyết duy vật thực

hành này ít căn cứ vào một lối phán đoán nhất định về mặt

giá trị – và như thế dựa vào một hệ thống lợi ích, dựa trên sức

thu hút mãnh liệt và tức thời của những gì là vật chất; thứ chủ

thuyết duy vật thực hành được coi như có thể thỏa mãn các

nhu cầu của con người.

Lối suy nghĩ sai lầm theo các phạm trù của “chủ thuyết

duy kinh tế” đi đôi với sự xuất hiện của triết thuyết duy vật và

sự phát triển của triết thuyết này từ giai đoạn sơ bộ và thông

thường nhất (cũng được gọi là thuyết duy vật thô sơ vì nó chủ

trương qui hóa thực tại tâm linh thành một hiện tượng dư thừa)

đến giai đoạn mệnh danh là chủ nghĩa duy vật biện chứng.

Tuy nhiên, trong khung cảnh của những nhận xét này, đối với

vấn đề căn bản này của lao động con người và đặc biệt đối

với việc phân tách và đối lập “lao động” “vốn liếng”, coi

như hai yếu tố sản xuất được xét nghiệm trong cùng một viễn

tượng “kinh tế học “mà ta vừa nói, thì hình như “chủ thuyết

duy kinh tế” có một tầm quan trọng quyết định và ảnh hưởng

lớn đến cách đặt vấn đề một cách không nhân bản này, trước

cả hệ thống triết học duy vật. Mặc dầu thế, hiển nhiên rằng

chủ nghĩa duy vật, ngay cả dưới hình thức biện chứng, cũng

không đủ sức cung cấp cho những ai suy nghĩ về đề tài lao

động con người, những căn bản đầy đủ và quyết định để có

thể kiểm chứng một cách tương xứng và thật vững chắc, và

thật sự bảo đảm rằng con người có ưu thế trên dụng cụ vốn

liếng, và nhân vị có ưu thế trên sự vật. Ngay cả trong chủ

nghĩa duy vật biện chứng, con người trước tiên cũng không

phải là chủ thể của lao động và là nguyên nhân hiệu năng

của tiến trình sản xuất nhưng nó được coi và được hiểu là

thành phần lệ thuộc vào vật chất; Họ là kết quả hợp thành

của các quan hệ kinh tế và quan hệ sản xuất đang thịnh hành.

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 565

Dĩ nhiên, tính chất đối kháng nhắc tới ở đây giữa lao

động và vốn liếng – thứ đối kháng nằm trong bối cảnh lao

động bị tách rời và đối lập với vốn liếng, và được coi như là

một thực thể và một nhân tố trong tiến trình kinh tế – tính chất

đó bắt nguồn không những ở triết học và các thuyết kinh tế

của thế kỷ XVIII, mà hơn thế nữa, còn bắt nguồn ở thực tại

kinh tế xã hội của thời đại kỹ nghệ sơ khai rồi phát triển một

cách ồ ạt. Trong tình trạng kỹ nghệ hóa đó,người ta cảm thấy

ngay cái khả năng gia tăng mạnh mẽ của cải vật chất, tức là

các phương tiện, trong lúc đó, người ta lại quên mất cứu cánh

là chính con người, con người mà các phương tiện ấy phải

phục vụ. Sự sai lầm về phương diện thực hành đó, liên quan

trước tiên đến lao động của con người, đến con người đang

lao động và gây ra một phản ứng xã hội rất chính đáng về mặt

đạo đức mà ta đã nói ở trên, sự sai lầm đó từ nay mang một

sắc thái lịch sử nhất định, gắn liền với thời đại chủ nghĩa tư

bản và tự do sơ khai; sự sai lầm đó có thể tái diễn trong không

gian và thời gian nếu, trong lý luận, người ta lại khởi đầu từ

những tiền đề lý thuyết và thực hành như trên. Không thể

thấy có cách gì giúp chúng ta dứt khoát thoát khỏi thứ sai lầm

đó nếu không có những thay đổi tương xứng trong lãnh vực lý

thuyết cũng như thực hành, những thay đổi nằm trong đường

lối tin tưởng vững chắc và tính ưu thế của nhân vị trên sự vật,

của lao động con người trên vốn liếng (được hiểu theo nghĩa

:toàn bộ các phương tiện sản xuất).

14. Lao động và sở hữu

Tiến trình lịch sử được trình bày vắn tắt ở đây vượt khỏi

giai đoạn đầu, nhưng nó vẫn tiếp tục và lan rộng trong mối

quan hệ giữa các quốc gia và đại lục. Nó cần được giải thích

rõ thêm về một khía cạnh khác. Đã hiển nhiên rằng khi ta nói

đến sự đối kháng giữa lao động và vốn liếng, thì đây không

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 566

phải chỉ nói đến những ý niệm trừu tượng hoặc những “lực

lượng vô danh” tác động trong sản xuất kinh tế. Đằng sau

những ý niệm đó, có con người, những con người sống động

cụ thể. Một bên là những người làm việc nhưng lại không

phải là sở hữu chủ của các phương tiện sản xuất, và một bên

là những người đóng vai thầu khoán, là sở hữu chủ của các

phương tiện hay ít ra thay mặt cho các sở hữu chủ ấy. Chính vì

thế, trong toàn bộ tiến trình lịch sử khó khăn này và ngay từ

lúc đầu, đã thấy xuất hiện vấn đề sở hữu. Thông điệp Rerum

novarum trình bày về đề tài xã hội, cũng nhấn mạnh đến vấn

đề trên bằng cách nhắc lại và xác nhận giáo lý của giáo hội

về sở hữu, về quyền tư hữu ngay cả trong lãnh vực các

phương tiện sản xuất. Thông điệp Mater et Magistra cũng giữ

một lập trường như vậy.

Nguyên tắc trên đây, Giáo Hội đã nhắc lại lúc bấy giờ

và bây giờ cũng vẫn luôn luôn dạy bảo, tự căn khác biệt với

chương trình tập sản hóa do chủ nghĩa mác xít đề xướng và

được đem thực hiện trong một số quốc gia trong những thập

niên sau thông điệp của Đức Lêô XIII. Nguyên tắc đó cũng

khác biệt với chương trình của chủ nghĩa tư bản, một chủ

nghĩa được chế độ tự do và các chế độ dựa theo đem áp

dụng. Trong trường hợp thứ hai này, sự khác biệt căn cứ ở

cách hiểu về quyền sở hữu. Truyền thống Kitô giáo không

bao giờ chủ trương đó là quyền tuyệt đối, không gì chạm đến

được. Trái lại, quyền này được hiểu trong bình diện rộng lớn

hơn thuộc quyền lợi chung của mọi người được sử dụng các

lợi ích của cải của toàn thể tạo vật: quyền tư hữu phụ thuộc

vào quyền công ích, vào việc sử dụng chung các lợi ích của

cải.

Ngoài ra, theo giáo huấn của giáo hội, sở hữu không

bao giờ coi như là một duyên cớ mâu thuẫn có tính cách xã

hội đối với lao động. Như đã nhắc đến trên đây, sở hửu có

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 567

được, trước tiên là nhờ có lao động và cũng để phụ giúp lao

động. Điều này đặc biệt liên quan đến vấn đề quyền sở hữu

đối với các phương tiện sản xuất. Không thể xem xét chúng

như là một toàn bộ của những tư hữu riêng biệt với mục đích

đem chúng ra dưới hình thức “vốn liếng” để đối lập với “lao

động”, và hơn thế, để khai thác sức lao động; làm như thế là

đi ngược lại với bản tính các phương tiện ấy và của sự chiếm

hữu chúng. Không thể chiếm hữu chúng để chống lại lao

động, cũng không thể chiếm hữu để chiếm hữu bởi vì, dù là

sở hữu riêng hay sở hữu chung hoặc tập thể, chỉ có thể dùng

danh nghĩa duy nhất hợp pháp sau đây để chiếm hữu, đó là

chiếm hữu với mục đích dùng chúng cho lao động. Với việc

giúp cho lao động, chúng có thể đạt được nguyên tắc cốt yếu

của vấn đề này là: của cải phải được dùng chung và phải giúp

ích chung cho mọi người. Về khía cạnh này, khi xét đến lao

động của con người và việc cùng chung của cải dành cho con

người, người ta cũng không thể phủ nhận việc xã hội hóa, với

những điều kiện hợp lý, một số các phương tiện sản xuất.

Trong khoảng thời gian những thập niên giữa thời gian chúng

ta và thời gian ban hành thông điệp Rerum novarum, Giáo hội

luôn nhắc nhở các nguyên tắc ấy, bằng cách dựa vào những

luận cứ có từ lâu đời trong những truyền thống, thí dụ như

những luận cứ quen thuộc của bộ Tổng luận Thần Học

(Somme Théologique) của thánh Tôma Aquinô .

Trong tài liệu này, với đề tài chính là lao động con

người, ta cần xác nhận nỗ lực mà giáo hội đã huấn giáo về

quyền sở hữu, đã tìm mọi cách và còn luôn luôn tìm cách bảo

vệ tính cách ưu tiên của lao động, và từ chỗ đó, bảo vệ tính

chất chủ thể của con người trong đời sống xã hội, và đặc biệt

trong cơ cấu năng động của tất cả tiến trình kinh tế. Về

phương diện này ta không thể chấp nhận chủ trương của chủ

nghĩa tư bản “cứng rắn”, đòi bảo vệ quyền tư hữu có tính

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 568

cách độc chiếm đối với quyền tư hữu sản xuất coi đó như là

một “giáo lý” bất khả xâm phạm trong đời sống kinh tế.

Nguyên tắc tôn trọng lao động và đòi hỏi quyền đó phải được

duyệt xét lại với ý nghĩa xây dựng cả mặt lý thuyết lẫn thực

hành để tổ chức lại. Nếu quả thật vốn liếng được hiểu như là

toàn bộ các phương tiện sản xuất, đồng thời cũng là sản phẩm

lao động của các thế hệ, thì cũng phải nhận rằng: vốn liếng

đó không ngừng gia tăng nhờ lao động thực hiện với toàn bộ

những phương tiện sản xuất, xuất hiện như một xưởng thợ

lớn, nơi ngày này qua ngày khác, thế hệ của những người lao

động hiện thời đang làm việc. Lẽ dĩ nhiên, đây là đủ mọi thứ

công việc, không những công việc tay chân mà con những

công việc trí óc khác, kể từ công việc suy nghĩ sáng tác đến

công việc quản lý.

Dưới ánh sáng đó, những bản đề án do những nhà

chuyên môn về giáo lý xã hội Công giáo và của lời giáo huấn

tối cao của Giáo hội đưa ra, mang một ý nghĩa đặc biệt. Đó là

những đề án liên quan đến vấn đề đồng sở hữu các phương

tiện lao động, vấn đề các người lao động tham gia vào việc

quản trị hay vào số lợi tức của giới thầu, mà người ta mệnh

danh vấn đề cổ động của người thợ… Dù các đề án trên đây

được đem áp dụng vào trong thực tế như thế nào đi nữa, thì có

một điều hiển nhiên là, việc công nhận vị thế chính đáng của

lao động và của người lao động trong tiến trình sản xuất đòi

có những sự thích nghi khác nhau ngay cả trong lãnh vực

quyền sở hữu các phương tiện sản xuất. Nói như thế là phải

xét đến, không những chỉ các hoàn cảnh cũ xưa, mà trước

tiên phải xét đến các thực tại và ước trình mới hình thành

trong hạ bán thế kỷ này và có liên quan đến thế giới thứ ba

cũng như một số quốc gia độc lập, không những chỉ ở Châu

Phi mà cả ở các nơi khác, trước đây là những nước thuộc địa.

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 569

Vì thế nếu cần phải thường xuyên duyệt xét lại chủ

nghĩa tư bản “cứng rắn” để cải tạo lại, dựa theo các quyền lợi

của con người, những quyền lợi được hiểu theo nghĩa rộng

nhất và trong mối quan hệ của chúng đối với lao động thì

người ta cũng phải xác quyết cùng trên một phương diện ấy

rằng: các cải tổ vừa nhiều vừa đáng mong ước ấy không thể

thực hiện được bằng việc tiên quyết hủy bỏ quyền tư hữu đối

với các phương tiện sản xuất. Quả vậy, ta chỉ việc quan sát và

nhận định rằng nguyên một việc giành lại các phương tiện sản

xuất (vốn liếng) từ tay các sở hữu chủ tư chưa đủ để thực hiện

việc xã hội hóa một cách thỏa đáng. Chúng không còn phải là

sở hữu của một nhóm người trong xã hội (tức là các sở hữu

chủ tư) mà trở thành sở hữu của một xã hội có tổ chức và nằm

dưới sự quản trị và kiểm soát trực tiếp của một nhóm người

khác. Nhón người này tuy không phải là sở hữu chủ, song nhờ

vào quyền hành mà xã hội trao cho, họ sử dụng các phương

tiện trên bình diện kinh tế toàn thể quốc gia hay địa phương.

Có thể nhóm người chỉ huy và hữu trách này thi hành

nhiệm vụ của mình một cách thỏa đáng về phương diện bảo

vệ tính chất ưu thế của lao động, nhưng cũng có thể họ làm

sai trái bằng cách vừa giành lấy độc quyền quản trị và sử

dụng các phương tiện sản xuất, vừa lấn chiếm vi phạm vào

những quyền của con người. Và như thế là việc các phương

tiện sản xuất trở thành sở hữu của Nhà Nước trong chế độ tập

sản hóa, tự nó, không phải đương nhiên có nghĩa là: quyền sở

hữu đã được xã hội hóa. Ta chỉ có thể nói “xã hội hóa” khi

tính cách chủ thể của xã hội được bảo đảm nghĩa là nếu mỗi

người, với công việc của mình, đồng thời có tư cách đầy đủ

để coi mình như một người đồng sở hữu đối với công trường

lao động rộng lớn, trong đó, họ cùng dấn thân làm việc với tất

cả mọi người. Một trong những phương pháp có thể dùng để

đạt tới mục tiêu ấy có lẽ là tìm hết cách liên kết lao động với

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 570

quyền sở hữu vốn liếng và hình thành một số cơ cấu trung

gian có mục đích kinh tế, xã hội và văn hóa. Các cơ cấu ấy

phải được hưởng một quyền tự trị hữu hiệu đối với chính

quyền, sẽ theo đuổi các mục tiêu chuyên biệt bằng cách giữ

những quan hệ với nhau trong tinh thần cộng tác chân thành

và tuân phục những yêu sách của công ích; sẽ mang hình thức

và bản chất một cộng đồng sống động. Như thế các thành

viên của cộng đồng sẽ được đối sử và coi như những nhân

thể và được khuyến khích tích cực tham gia vào đời sống của

họ.

15. Luận cứ nhân vị

Như vậy, nguyên tắc lao động có ưu thế trên vốn liếng

chính là một định tắc thuộc phạm vi đạo đức xã hội. Định tắc

này có phần quan trọng chủ chốt không những trong chế độ

đặt căn bản trên nguyên tắc giữ quyền tư hữu đối với các

phương tiện sản xuất mà cả trong chế độ quyền tư hữu này bị

hạn chế từ trong căn bản: theo một khía cạnh, lao động gắn

liền không thể rời với vốn liếng, và nó không chấp nhận một

hình thức đối kháng, nghĩa là sự tách rời và đối lập với các

phương tiện sản xuất. Một thứ mâu thuẫn kết quả của những

tiền đề hoàn toàn kinh tế và đè nặng trên đời sống con người

trong những thế kỷ vừa qua. Khi con người làm bằng cách sử

dụng toàn bộ các phương tiện sản xuất, họ mong muốn rằng

kết quả của công sức lao động mình có lợi cho cả chính mình

lẫn cho người khác và làm sao cho trong chính tiến trình lao

động, họ có thể tự coi mình như một người đồng trách nhiệm

và là người cộng sự trong công tác mà họ phụ trách.

Từ nhận xét này, ta thấy xuất hiện nhiều quyền chuyên

biệt của người lao động, những quyền tương ưng với nghĩa vụ

lao động. Về điểm này, đưới đây, chúng ta sẽ bàn tới. Nhưng

ngay từ bây giờ, ta cần phải nhấn mạnh tổng quát về điểm:

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 571

con người khi lao động mong muốn rằng không những được

hưởng số tiền lương trả cho công việc của mình, mà còn được

người ta làm thế nào để trong chính tiến trình sản xuất, họ có

thể ý thức được rằng dầu họ làm việc trong một cơ sở tập thể,

họ cũng đồng thời làm việc cho chính họ. Ý thức ấy bị bóp

nghẹt nơi họ khi họ làm việc trong một chế độ tập trung quan

liêu quá đáng, ở đó người lao động có cảm giác như mình ở

trong một guồng máy khổng lồ điều khiển từ trên cao và

nhiều trường hợp chỉ như một dụng cụ sản xuất tầm thường

hơn là một chủ thể thực sự của lao động, có những sáng kiến

riêng. Trong giáo huấn, Giáo Hội luôn luôn biểu lộ sự tin

tưởng sâu xa vững chắc rằng lao động của con người không

phải chỉ liên quan riêng tới kinh tế, mà còn bao hàm trước

nhất là những giá trị nhân bản nữa. Chính chế độ kinh tế và

tiến trình sản xuất cũng được lợi nếu các giá trị cá nhân ấy

được tôn trọng. Trong tư tưởng của Thánh Tôma Aquinô, Ngài

đã dùng lý do trên đây để biện hộ cho quyền tư hữu đối với

các phương tiện sản xuất. Nếu chúng ta chấp nhận rằng vì

một vài lý do xác đáng, có thể có những chuyện ngoại lệ đối

với nguyên tắc quyền tư hữu, và trong thời đại của chúng ta,

chúng ta cũng chứng kiến thấy chế độ sở hữu “xã hội hóa”

đã du nhập vào đời sống rồi; thế nhưng, luận cứ nhân vị vẫn

không mất sức mạnh của nó cả trên bình diện các nguyên tắc,

cả trên bình diện thực hành. Muốn có giá trị thuần lý và có

hiệu quả, bất kể biện pháp xã hội hóa các phương tiện sản

xuất nào cũng phải quan tâm đến luận cứ trên đây. Chúng ta

phải làm mọi cách để cho ngay trong một chế độ như thế, con

người vẫn giữ được ý thức là làm việc cho mình. Trường hợp

ngược lại, tiến trình kinh tế sẽ gặp những tai hại không sao

lường nổi, những tai hại không những về kinh tế mà nhất là

đối với cả chính con người nữa.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 572

IV. QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

16. Trong lãnh vực rộng lớn của nhân quyền

Về nhiều phương diện, lao động là một sự bó buộc, có

nghĩa là một nghĩa vụ, nhưng đồng thời nó cũng là nguồn gốc

của nhiều quyền lợi cho người lao động. Những quyền đó cần

được nghiên cứu trong bình diện rộng lớn của toàn bộ các

nhân quyền, những quyền lợi có tính chất đồng tự nhiên với

con người và nhiều quyền lợi đã được nhiều thẩm cấp quốc tế

công nhận và luôn luôn được chính phủ bảo đảm cho công

dân của mình. Sự tôn trọng toàn bộ các nhân quyền là điều

kiện căn bản cho nền hòa bình trong thế giới hiện đại; hòa

bình trong nội bộ mỗi nước, mỗi xã hội cũng như trong lãnh

vực bang giao quốc tế, đúng như Giáo Hội đã nhiều lần lưu ý

tới trong các lời Giáo Huấn, đặc biệt là từ sau thời kỳ ban

hành Thông điệp Pacem in terris. Các quyền của con người

xuất phát từ lao động nằm trong toàn bộ rộng lớn các quyền

lợi căn bản của con người.

Nhưng, trong toàn bộ đó, chúng mang một đặc tính

riêng biệt tương ứng với bản tính đặc thù của lao động con

người như ta vừa phác họa những nét đại cương trên đây và

chúng ta phải quan sát chúng bằng cách căn cứ vào các đặc

điểm ấy. Như ta đã nói, lao động là một việc bó buộc, nghĩa

là một nhiệm vụ của con người dưới nhiều danh nghĩa. Con

người phải làm việc vì Đấng Tạo Hóa đã ra lệnh cho họ như

thế và cũng vì chính nhân tính của họ, một nhân tính chỉ có

thể tồn tại và phát triển nhờ vào lao động. Con người phải làm

việc vì lưu tâm đến tha nhân, nhất là đối với gia đình mình,

cũng như đối với xã hội mà họ trực thuộc, đối với đất nước

mà họ là con dân, đối với tất cả đại gia đình nhân loại mà họ

là thành viên, lý do vì họ là người thừa hưởng công sức lao

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 573

động của những thế hệ đi trước và đồng thời cũng là người

đồng lao cộng tác trong việc tạo dựng tương lai cho những kẻ

đến sau trong tiến trình lịch sử. Tất cả các điều ấy, tuy hiểu

cách rộng rãi nhất, cũng là một luật luân lý bắt buộc con

người phải lao động. Khi phải xét đến các quyền lợi tinh thần

của con người đối với lao động, những quyền lợi đi đôi với

nhiệm vụ, chúng ta cần luôn luôn có trước mắt toàn thể chiếc

vòng tròn của những điểm tham chiếu, tượng trưng cho việc

làm của mỗi chủ thể trong lúc lao động.

Quả vậy, khi nói đến nhiệm vụ phải lao động và những

quyền lợi đi đôi với nhiệm vụ ấy, chúng ta nghĩ ngay đến mối

quan hệ giữa chủ thuê – tức là người có việc cho làm, hoặc

trực tiếp hoặc gián tiếp – và người lao động.

Sự phân biệt giữa chủ thuê trực tiếp và chủ thuê gián

tiếp có vẻ rất quan trọng xét về phương diện tổ chức thực sự

của lao động cũng như về phương điện khả năng lập những

mối quan hệ công bằng hay bất công trong lãnh vực lao động.

Nếu chủ thuê trực tiếp là người hoặc là cơ quan ký kết

với người thợ giao kèo lao động theo những điều kiện ấn định

rõ ràng, thì chủ thuê gián tiếp phải hiểu là những nhân tố

khác biệt nhau, cùng với chủ thuê trực tiếp, tạo một ảnh

hưởng nhất định đối với cách thế lập thành giao kèo lao động,

và do đó, là những mối quan hệ công bằng hay bất công trong

lãnh vực của con người.

17. Chủ thuê: “trực tiếp” và “gián tiếp”

Ý niệm chủ thuê gián tiếp bao gồm những người, những

cơ cấu tổ chức các loại cũng như những khế ước tập thể về

lao động, những nguyên tắc xử trí do những người và cơ cấu

tổ chức nói trên thiết lập ra để xác định cả một hệ thống xã

hội kinh tế, hoắc xuất phát từ hệ thống đó. Vì thế ý niệm chủ

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 574

thuê gián tiếp dựa vào nhiều yếu tố khác nhau. Trách nhiệm

của chủ thuê gián tiếp với chủ thuê trực tiếp – chính các từ

ngữ cũng chỉ rõ như thế: trách nhiệm sẽ không trực tiếp bằng-

nhưng đó vẫn là một trách nhiệm thực sự: người chủ thuê gián

tiếp ấn định bản chất hình thái này hay hình thái khác của

quan hệ lao động và như thế, họ sẽ xác định luôn cách xử trí

của chủ thuê trực tiếp, khi người này ấn định một cách cụ thể

bản khế ước và các quan hệ lao động. Nhận xét đó không

mục đích giải tỏa trách nhiệm cho người chủ thuê trực tiếp, vì

họ có trách nhiệm của riêng họ, nhưng có ý lưu tâm đến

những yếu tố chồng chất ảnh hưởng đến cách xử trí của họ.

Khi cần đưa ra một chính sách lao động hợp với đạo đức, cần

phải lưu ý đến tất cả những yếu tố đó. Chính sách này được

coi là hợp với đạo đức khi các quyền lợi khách quan của

người lao động được tôn trọng.

Ý niệm chủ thuê gián tiếp có thể đem áp dụng cho mỗi

xã hội riêng biệt và trước hết cho chính phủ. Quả vậy, chính

phủ có nhiệm vụ phải đưa ra áp dụng một chính sách lao động

thật công bằng. Tuy nhiên, chúng ta được biết, với hệ thống

quan hệ kinh tế hiện thời trên thế giới, có nhiều sự liên lạc

giữa các chính phủ khác nhau, những liên lạc được biểu lộ

bằng các vụ xuất nhập khẩu, nghĩa là trao đổi cho nhau các

của cải kinh tế, hoặc những nguyên liệu, hoặc những bán sản

phẩm hay những toàn phần kỹ nghệ. Những quan hệ đó tạo ra

sự phụ thuộc và thật khó có thể nói tới chuyện hoàn toàn tự

túc, dù là đối với một quốc gia hết sức hùng mạnh về kinh tế.

Tình trạng lệ thuộc lẫn nhau như thế, tự nó, cũng chỉ là

chuyện thường; thế nhưng nó có thể đưa đến những hình thức

khai thác, bóc lột bất công và gây ảnh hưởng đến chính sách

lao động của các quốc gia, và cuối cùng, đến chính cá nhân

người lao động là chủ thể chính của lao động. Chẳng hạn như

những nước kỹ nghệ tiên tiến, và hơn thế nữa, các xí nghiệp

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 575

kiểm soát trên một phương diện đại quy mô các phương tiện

sản xuất kỹ nghệ (người ta mệnh danh đó là những công ty đa

quốc gia hoặc siêu quốc gia) có thể sẽ tìm cách bán các sản

phẩm của họ với giá thật cao và đồng thời đòi mua các

nguyên liệu và các bán sản phẩm của với giá rẻ mạt. Đó là

một trong những nguyên nhân tạo ra tình trạng không đồng

đều ngày càng gia tăng giữa các nguồn lợi tức quốc gia của

các nước. Sự cách biệt giữa đa số các nước giàu và nước

nghèo hơn không giảm bớt, không san bằng được, trái lại, cứ

tăng lên mãi và tất nhiên, sự thua thiệt là ở phía các nước

nghèo. Hiển nhiên rằng sự kiện này không thể không gây

ảnh hưởng đến chính sách lao động địa phương và đến tình

trạng của người lao động tại các nước bị thua thiệt. Trong một

chế độ như thế, người chủ thuê trực tiếp tất nhiên sẽ ấn định

những điều kiện lao động dưới tầm mức đòi hỏi khách quan

của các người lao động, nhất là nếu họ muốn thu được thật

nhiều lợi nhuận ở xí nghiệp họ điều khiển (hoặc ở những xí

nghiệp mà họ điều khiển trong trường hợp là một cơ sở đã

“xã hội hóa” các phương tiện sản xuất).

Chúng ta có thể kết luận một cách dễ dàng: khung cảnh

của những lệ thuộc liên quan đến các ý niệm chủ thuê gián

tiếp là một khung cảnh rất rộng lớn và phức tạp. Muốn xác

định, phải một phần nào để ý tới toàn bộ các yếu tố quyết

định của đời sống kinh tế trong bối cảnh của một xã hội hoặc

quốc gia nhất định; nhưng đồng thời cũng phải quan tâm tới

những mối dây liên lạc, những tình trạng lệ thuộc rộng lớn

hơn nhiều. Sự vận dụng các quyền của người lao động không

thể gò bó, coi đó là hậu quả của các chế độ kinh tế, mà tiêu

chuẩn có lẽ chỉ là làm thế nào để đạt được một lợi nhuận tối

đa, theo một quy mô lớn hay nhỏ một chút. Trái lại, cần phải

căn cứ vào những quyền lợi khách quan của người lao động

bất kể họ làm công việc gì: lao động tay chân, trí óc, kỹ nghệ,

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 576

nông nghiệp v.v…để đưa ra một tiêu chuẩn tương xứng và căn

bản để hình thành chế độ kinh tế, hoặc là của một xã hội, một

quốc gia, hay để đề ra toàn bộ chính sách kinh tế thế giới

cũng như những hệ thống và quan hệ quốc tế tùy thuộc.

Hành động của các tổ chức quốc tế, kể từ tổ chức liên

hiệp quốc, cần phải đi theo hướng đó, đúng với thiên chức

của mình. Rất có thể các tổ chức lao động quốc tế (OIT),

Lương nông của liên hiệp quốc (FAO) và các tổ chức tương

tự, sẽ giúp được nhiều ngay chính trong lãnh vực này. Trên

bình diện quốc gia, chúng ta có các Bộ, các cơ quan chính

quyền và những tổ chức xã hội thiết lập với mục đích đó. Tất

cả những chuyện đó đều chỉ cho chúng ta thấy rõ tính cách

quan trọng – như đã nói ở trên – của chủ thuê, gián tiếp trong

việc vận dụng và tôn trọng các quyền của người lao động, vì

các quyền của cá nhân con người là nhân tố chủ chốt của tất

cả nền trật tự đạo đức xã hội.

18. Vấn đề kiếm việc làm

Trong việc nghiên cứu các quyền của người lao động

trên khía cạnh liên hệ với “chủ thuê gián tiếp”, nghĩa là liên

hệ với toàn bộ thẩm quyền các cấp chịu trách nhiệm, trên

bình diện quốc gia và quốc tế, về chiều hướng chính sách lao

động, chúng ta cần lưu tâm trước nhất đến một vấn đề căn

bản. Đó là vấn đề kiếm được việc làm, nói cách khác, vấn đề

tìm công ăn việc làm thích ứng cho tất cả mọi người có thể

làm được. Nếu không thực hiện được tình trạng công bằng và

đúng đắn trong lãnh vực này, thì sẽ xảy ra nạn thất nghiệp,

nghĩa là không đủ việc làm cho những người có khả năng lao

động. Sự thiếu công việc làm có thể là một tình trạng chung

hoặc xảy ra trong một vài ngành nghề. Những thẩm quyền

được nói tới ở đây dưới danh từ chủ thuê gián tiếp có nhiệm

vụ phải hành động chống lại nạn thất nghiệp vì đây là một tai

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 577

họa, và khi xảy ra trên một quy mô rộng lớn, nó sẽ trở nên

một thảm cảnh xã hội. Vấn đề càng trở nên đau lòng, não nề

khi nạn nhân là những thanh niên, sau khi đã được chuẩn bị,

huấn luyện về văn hóa, kỹ thuật và nghề nghiệp thích ứng

rồi, lại không kiếm được việc làm và cảm thấy đau khổ vì

không được làm việc như lòng mình chân thành mong ước và

không được lãnh phần trách nhiệm trong cuộc phát triển kinh

tế và xã hội trong cộng đồng. việc chiếu cố lo lắng cho những

người thất nghiệp, nghĩa là làm tròn bổn phận bảo đảm những

món tiền phụ cấp cần thiết cho họ và gia đình tạm sống, là

một nhiệm vụ căn cứ trên nguyên tắc căn bản của nền trật tự

đạo đức trong lãnh vực này, tức là nguyên tắc cùng chung sử

dụng các của cải lợi ích, hoặc nói một cách đơn giản hơn,

quyền sống và tồn tại của con người.

Để đối phó với nạn thất nghiệp và đảm bảo công ăn

việc làm cho mỗi người, các thẩm quyền trong vấn đề này tức

là giới chủ thuê gián tiếp – phải đề ra một kế hoạch toàn bộ

thích hợp với công trường lao động nhiều loại này là nơi hình

thành đời sống không những kinh tế và cả văn hóa của một

xã hội nhất định; ngoài ra các thẩm quyền ấy còn phải lưu tâm

sao cho công trường này được tổ chức một cách thích đáng và

hợp lý. Nỗi lo âu tổng quát này cũng đè nặng trên vai Nhà

Nước, nhưng như thế không có nghĩa là phải có một chế độ

tập trung một chiều hoàn toàn do chính quyền liệu lý. Trái lại,

đây phải là một công tác phối hợp công bằng và hợp lý trong

một khung cảnh khả dĩ bảo đảm được sáng kiến của con

người, của các nhóm tự do, các trung tâm và toàn bộ lao động

địa phương được đảm bảo, bằng cách chú trọng đến những

điều đã được trình bày ở trên vì tính chất chủ thể của lao động

con người.

Việc các xã hội và các quốc gia phải lệ thuộc lẫn nhau

và sự cần thiết phải cộng tác trong nhiều lãnh vực đã đưa đến

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 578

một nhận định này là : mặc dù vẫn phải bảo vệ quyền tối

thượng của mỗi nước về phương diện kế hoạch hóa và quyền

tổ chức lao động tại mỗi xã hội, người ta vẫn phải nghĩ đến

việc hành động trong tinh thần hợp tác quốc tế trong lãnh vực

quan trọng này, và ký kết với nhau những hiệp ước hay thỏa

hiệp quốc tế. Chính trong công việc đó, vấn đề lao động của

con người ngày càng phải trở thành tiêu chuẩn của các hiệp

ước và thỏa hiệp đó, và lao động của con người phải được coi

như quyền căn bản của tất cả mọi người, thứ lao động mang

lại cho tất cả những quyền lợi tương tự, để cho mức sống của

người lao động tại các xã hội ngày càng đỡ chênh lệch quá

đáng khiến cho tình trạng bất công ngang ngược có thể gây ra

những phản ứng quá mạnh mẽ. Các tổ chức quốc tế có những

nhiệm vụ vô cùng lớn lao trong lãnh vực này, và cần phải dựa

vào một sự ước tính chính xác về sự phức tạp của tình hình

cũng như những điều kiện thiên nhiên, lịch sử, xã hội .v.v…

Đối với những chương trình hành động cùng chung nhau thiết

lập ra, họ cần tiến hành tốt hơn, nghĩa là làm sao cho có hiệu

quả thực nghiệm hơn.

Chúng ta có thể theo chiều hướng đó để vận động cho

một kế hoạch xúc tiến đẩy mạnh đà tiến bộ hòa hợp toàn thể

cho hết mọi người, đúng theo tinh thần Thông điệp Populorum

progressio của Đức Phaolô VI. Chúng ta cần nhấn mạnh rằng :

yếu tố cấu thành và đồng thời cách chứng nghiệm đầy đủ

nhất sự tiến bộ này trong tinh thần công lý và hòa bình mà

Giáo hội cổ võ và không ngừng cầu xin Cha chung của mọi

người và mọi dân tộc ban cho, chính là việc liên tục định giá

về lao động con người về khía cạnh cứu cách khách quan

cũng như về khía cạnh phẩm cách của chủ thể của tất cả mọi

lao động, tức là con người. Sự tiến bộ nói trên được thực hiện

do con người và cho con người, và nó phải tạo được những

kết quả nơi con người. Một cách để chứng nghiệm sự tiến bộ

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 579

ấy là việc nhận thức ngày một rõ ràng hơn về cứu cánh của

lao động và sự tôn trọng ngày càng tiến bộ hơn đối với các

quyền lợi gắn liền lao động, xứng hợp với phẩm cách con

người và chủ thể lao động.

Một chương trình kế hoạch hợp lý và một tổ chức lao

động con người tương xứng thích hợp với các xã hội và các

quốc gia cũng đủ khả năng giúp chúng ta khám phá ra những

sự phân phối tương xứng giữa các loại hoạt động như: lao

động nông nghiệp, lao động kỹ nghệ, các dịch vụ, lao động trí

óc như lao động khoa học và nghệ thuật tùy theo khả năng

của mỗi người để có ích lợi chung cho xã hội và cho cả nhân

loại. Đối với việc tổ chức đời sống con người tùy theo khả

năng của lao động, cần phải có một hệ thống giáo dục thích

hợp, cố nhằm mục đích phát triển nhân tính và giúp nó trưởng

thành, nhưng đồng thời cũng phải huấn luyện đặc biệt cho

mỗi người tùy lợi ích của mình giữ được một chỗ làm việc

trong công trường lao động rộng lớn và cũng rất khác biệt về

mặt xã hội.

Khi để ý ngắm nhìn toàn bộ gia đình nhân loại sống rải

rác trên khắp trái đất, người ta không thể không thấy một sự

kiện kỳ lạ có sự tỷ lệ lớn lao : trong khi một đàng có những

tài nguyên thiên nhiên quan trọng chưa được khai thác hết, thì

đàng khác vẫn có từng đoàn người thất nghiệp, những người

không được sử dụng đúng mức trong lao động và biết bao

người đói khổ. Sự kiện đó chứng tỏ một cách rõ ràng rằng:

trong nội bộ của mỗi cộng đồng chính trị cũng như trong các

mỗi quan hệ giữa các cộng đồng ấy trên bình diện đại lục hay

thế giới đối với tất cả những gì liên quan đến việc tổ chức lao

động và vấn đề kiếm việc làm- có một giá trị không ổn, nhất

là về những điểm gay cấn nhất, quan trọng nhất về phương

diện xã hội .

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 580

19. Lương bổng và các chiếu cố xã hội

Sau khi trình bày đại cương vai trò quan trọng của vấn

đề tìm kiếm việc làm cho các người lao động để giữ lòng tôn

trọng các quyền lợi bất khả phân ly của con người đối với lao

động, chúng ta nên đề cập trực tiếp đến những quyền lợi cuối

cùng được hình thành trong tương quan giữa người lao động

và chủ thuê trực tiếp tất cả những gì đã được trình bày trên

đây về chủ thuê gián tiếp đều có mục đích để làm sáng tỏ

những mối tương quan này nhờ sự hiện diện của nhiều dữ

kiện trong đó các mối tương quan ấy được hình thành một

cách gián tiếp. Tuy nhiên sự trình bày nói trên không phải chỉ

có giá trị suông; nó không phải là một bản tóm lược về kinh

tế hay chính trị; chúng ta chỉ muốn nhờ đó để làm nổi bật khía

cạnh thuộc nghĩa vụ và đạo đức. Trong việc này, vấn đề chủ

chốt của nền đạo đức xã hội là trả lương xứng đáng cho một

công việc đã được thực hiện. Trong cục diện ngày nay, không

có cách nào quan trọng hơn nữa để thực hiện sự công bằng

trong các mối quan hệ giữa người – lao động và chủ thuê cho

bằng việc trả lương cho lao động .Bất cứ lao động được thực

hiện trong một chế độ của quyền tư hữu và các phương tiện

sản xuất hay trong chế độ quyền sở hữu đã được “xã hội hóa”

ít hay nhiều , mối quan hệ giữa chủ thuê (trước nhất là trực

tiếp) và người lao động đều được giải quyết trên căn bản

đồng lương, nghĩa là bằng cách trả lương xứng đáng cho một

công việc đã được thực hiện.

Ta cũng phải lưu ý một điều là tựu chung người ta đánh

giá sự công bằng của một hệ thống xã hội kinh tế, và hoạt

cộng vận hành của nó, bằng cách quan sát xem lao động của

con người trong hệ thống đó được trả công có xứng đáng hay

không. Về điểm này, chúng ta lại chạm trán với nguyên tắc

thứ nhất của tất cả mọi chế độ trật tự đạo đức xã hội, nghĩa là

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 581

với nguyên tắc cùng chung sử dụng các của cải. Trong bất cứ

hệ thống nào, và dù các quan hệ căn bản giữa tư bản và lao

động ra sao, thì đồng lương, nghĩa là việc trả lương cho lao

động vẫn là đường lối của đại đa số loài người phải sử dụng

để được hưởng một cách cụ thể những của cải dành cho việc

sử dụng chung, kể cả của cải thiên nhiên hay của cải do sản

xuất tạo ra. Người lao động có thể với tới cả hai của cải đó

nhờ đồng lương mà họ được hưởng coi như công xá trả nợ cho

công việc của họ. Xuất phát từ đó, ta có thể nói: trong mỗi

trường hợp, đồng lương xứng đáng là một chứng nghiệm cụ

thể của sự công bằng. Lẽ tất nhiên đây không phải là cách

chứng nghiệm duy nhất, nhưng đây là cách chứng nghiệm

quan trọng và có thể nói là chủ chốt.

Cách chính nghiệm này nhắm trước nhất vào gia đình.

Một đồng lương xứng đáng cho việc làm của người trưởng

thành có trách nhiệm đối với gia đình là một thứ lương bổng

đủ để thành lập và đủ để nuôi sống một cách xứng đáng gia

đình họ và bảo đảm được tương lai cho gia đình ấy. Việc trả

công cho người lao động có thể thực hiện hoặc bằng phương

pháp gọi là lương bổng gia cảnh, nghĩa là một số lương duy

nhất trả cho người chủ gia đình có công lao động, đủ cho nhu

cầu gia đình họ mà không buộc người vợ phải làm thêm một

công việc nào ngoài gia đình để kiếm thêm tiền; hoặc bằng

những biện pháp xã hội khác, như phụ cấp gia đình hay phụ

cấp cho người mẹ trong gia đình, những phụ cấp tương xứng

với số những thân nhân phải nuôi bao lâu họ chưa đủ khả

năng mưu sinh một cách xứng đáng cho chính họ.

Kinh nghiệm cho thấy, chúng ta cần phải cố gắng tìm

cách mang lại giá trị xã hội cho các nhiệm vụ của người mẹ,

cho công sức khó nhọc phải dành cho các nhiệm vụ đó, cho

nhu cầu đòi hỏi của con cái, cho tình thương, thân ái để chúng

có thể trở nên những người có tinh thần trách nhiệm, trưởng

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 582

thành về mặt tinh thần và đạo đức, và quân bình về tâm lý.

Xã hội phải coi là vinh hạnh được bảo đảm cho người mẹ –

bảo đảm nhưng không cản trở quyền tự do, không kỳ thị tâm

lý hay thực hành, không để người mẹ bị thua thiệt so với các

người phụ nữ khác – bảo đảm cho họ có thể dạy dỗ con cái,

chăm lo giáo dục chúng tùy theo nhu cầu của từng lứa tuổi.

Nếu để người mẹ phải bỏ công việc đó để tìm việc làm ngoài

gia đình hầu kiếm thêm tiền, thì đó là một điều bất công xét

về phương diện lợi ích xã hội của gia đình, khi công việc đó

mâu thuẫn làm cản trở những mục đích đầu tiên của nhiệm vụ

làm mẹ.

Trong nội dung vấn đề này, ta cần nhấn mạnh rằng: nói

chung, phải tìm cách tổ chức và thích nghi tất cả tiến trình lao

động để thỏa mãn được các nhu cầu đòi hỏi của con người và

tôn trọng các hình thức đời sống của họ, trước hết là đời sống

gia đình tùy theo lứa tuổi và tùy theo phái nam hay phái nữ.

Một dự kiện cần chú ý là trong rất nhiều xã hội, người phụ nữ

làm việc trong ở hầu hết mọi địa hạt của đời sống. Tuy nhiên,

chúng ta nên thu xếp sao cho họ có thể thực hiện công tác

hợp với tính chất riêng của họ, nhưng phải biết tôn trọng

những nguyện vọng có tính cách gia đình và vai trò đặc thù

của họ bên cạnh người đàn ông trong việc xây dựng lợi ích

chung của xã hội.

Sự thăng tiến đích thực của người phụ nữ đòi hỏi lao

động phải được tổ chức thế nào để họ có thể thăng tiến mà

không buộc phải từ bỏ đặc tính riêng hoặc gây tai hại cho gia

đình; là nơi mà vai trò làm mẹ của họ không thể thay thế.

Bên cạnh đồng lương, ở đây còn có nhiều ứng khoản xã

hội khác có mục đích đảm bảo đời sống và sức khỏe cho

người lao động và gia đình. Trước những phí tổn để bảo vệ

sức khỏe, nhất là trong trường hợp tai nạn lao động, người lao

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 583

động cần được dễ dàng trong việc hưởng sự chăm sóc về y tế

với một giá rẻ và nếu có thể không phải mất tiền. Một lãnh

vực chiếu cố khác là quyền được nghỉ ngơi : trước hết là việc

nghỉ hàng tuần một cách đều đặn, gồm ít ra là ngày chủ nhật

và ngoài ra, một sự nghỉ ngơi dài hơn thường được gọi là phép

năm, hoặc chia ra làm nhiều kỳ nghỉ ngắn trong một năm.

Cuối cùng là quyền hưởng hưu trí, được đảm bảo tuổi già và

bảo hiểm tai nạn. Trong lãnh vực những quyền lợi chính này;

có cả một hệ thống các quyền lợi riêng biệt cùng với lương

bổng, chúng là dấu hiệu của một thứ quan hệ công bằng giữa

người lao động và chủ thuê. Trong số các quyền lợi ấy, không

bao giờ quên quyền được hưởng những địa điểm và những

phương pháp lao động không tác hại cho sức khỏe thể xác và

không xúc phạm đến tính chất thanh toàn đạo đức của họ.

20. Sự quan trọng của các nghiệp đoàn

Căn cứ vào tất cả các quyền trên đây và cũng vì người

lao động phải có đủ sức bảo vệ các quyền đó, ta thấy xuất

hiện một thứ quyền lợi khác: quyền hội đoàn, nghĩa là quyền

được liên kết, hiệp hội để bảo vệ các quyền lợi sinh tử của

những người làm việc trong các ngành nghề khác nhau. Các

hiệp hội ấy được gọi là nghiệp đoàn. Cho tới một mức độ nào

đó, các quyền lợi sinh tử của những người lao động đều

chung như nhau; thế nhưng đồng thời, mỗi thứ lao động mỗi

nghề nghiệp lại có đặc tính riêng, phản ánh cách riêng biệt

khác nhau trong các tổ chức ấy.

Có thể nói các nghiệp đoàn xuất xứ từ những phường,

vạn thợ thuyền thời trung cổ ở chỗ các tổ chức ấy tập họp

những người cùng chung một nghề, nghĩa là sự hợp hội căn

cứ vào nghề nghiệp. Nhưng nghiệp đoàn khác các phường,

vạn ở điểm : các nghiệp đoàn ngày nay phát triển nhờ sự

tranh đấu của thợ thuyền, của giới lao động, và nhất là của

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 584

các người lao động trong ngành kỹ nghệ để bảo vệ những

quyền lợi chính đáng của họ chống lại những nhà thầu và giới

chủ nhân các phương tiện sản xuất. Nhiệm vụ của nghiệp

đoàn là bảo vệ những quyền lợi sinh tồn của người lao động

trong tất cả mọi lãnh vực có dính dáng đến quyền lợi của họ.

Kinh nghiệm lịch sử cho biết, các tổ chức thuộc loại này là

một nhân tố cần thiết của đời sống xã hội, nhất là trong các

xã hội kỹ nghệ tân tiến. Lẽ dĩ nhiên điều đó không có nghĩa

là chỉ có các thợ thuyền ngành kỹ nghệ mới có thể thành lập

những nghiệp đoàn kiểu như vậy. Vì trong thực tế, chúng ta

thấy có cả những nghiệp đoàn nông dân và nghiệp đoàn trí

thức, và cũng có những nghiệp đoàn của chủ nhân. các

nghiệp đoàn lại phân chia thành những chi, nhóm nhỏ căn cứ

theo các chuyên môn trong nghề.

Theo giáo lý xã hội của công giáo, nghiệp đoàn không

chỉ là phản ánh của một cơ cấu “giai cấp” xã hội và không

phải là những phát ngôn nhân của một cuộc đấu tranh giai cấp

có chủ trương phải tất yếu nắm quyền chi phối đời sống xã

hội. Chắc chắn nghiệp đoàn là những phát ngôn nhân của một

cuộc tranh đấu cho công bằng xã hội, cho các quyền lợi chính

đáng của người lao động tùy theo nghề nghiệp khác nhau của

họ. Tuy nhiên, cuộc “tranh đấu” ấy phải được hiểu như là

một sự dấn thân thông thường “với mục đích” đạt tới một lợi

ích chính đáng, và ở đây là sự lợi ích tương ứng với các nhu

cầu và công lao của những người lao động hợp hội lại với

nhau theo nghề của mình; nhưng nó không phải là “một cuộc

đấu tranh chống lại” những người khác. Nếu trong những vấn

đề bị tranh chấp, nó mang tính chất của một sự đối lập lẫn

nhau, thì đó chỉ là một cuộc đi tìm lợi ích tức là sự công bằng

xã hội chứ không phải là đấu tranh để tranh đấu hay là việc

tìm cách diệt trừ lẫn nhau. Đặc điểm của lao động trước hết là

việc kết hợp loài người và sức mạnh xã hội của nó ở chính

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 585

điểm đó : sức mạnh xây dựng một cộng đồng. Vì cuối cùng,

chính trong cộng đồng ấy, các người lao động và những người

làm chủ các phương tiện sản xuất phải tìm cách kết hợp với

nhau cách này hay cách khác. Dưới ánh sáng của cơ cấu tổ

chức căn bản của tất cả mọi thứ lao động-ánh sáng chiếu soi

làm nổi bật sự kiện : “lao động” “tư bản”, xét cho cùng là

những lực hợp thành cần thiết của sản xuất trong bất kỳ một

hệ thống xã hội nào, chúng ta thấy sự loài người kết hợp với

nhau để bảo vệ các quyền lợi của mình, sự kết hợp phát xuất

ngay từ các đòi hỏi của lao động, vẫn luôn luôn là một yếu tố

tạo thành nền trật tự xã hội và nghĩa hợp quần, một yếu tố

không sao có thể bỏ qua được.

Những cố gắng chính đáng để bảo vệ quyền lợi của các

người lao động hợp hội trong cùng một nghề nghiệp, cần luôn

luôn để ý đến những hạn chế do tình trạng kinh tế chung

trong nước gây ra. Những đòi hỏi của nghiệp đoàn không thể

trở thành một thứ thái độ ích kỷ của phe nhóm hay giai cấp,

mặc dù nó cũng phải nhắm tới việc sửa chữa tất cả những gì

khiếm khuyết trong hệ thống sở hữu các phương tiện sản xuất

hoặc trong cách quản trị và sử dụng các phương tiện ấy vì lợi

ích chung của toàn thể xã hội. Đời sống xã hội và kinh tế xã

hội đúng là một hệ thống “bình thông đáy” và mỗi hoạt động

xã hội có mục đích bảo vệ quyền lợi của các nhóm riêng biệt

đều phải thích ứng theo.

Theo nghĩa đó, hoạt động của các nghiệp đoàn tất nhiên

nằm trong lãnh vực của chính trị, được hiểu như là việc khôn

ngoan lo lắng đến ích chung. Thế nhưng, cùng lúc ấy vai trò

của các nghiệp đoàn không phải là để làm chính trị theo nghĩa

ngày nay người ta thường hiểu. Các nghiệp đoàn không có

tính chất đảng chính trị tranh đấu giành lấy chính quyền, và

chúng cũng không bao giờ nên tùng phục các quyết định của

các chính đảng hoặc liên hệ quá chặt chẽ với họ. Thật vậy,

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 586

nếu các nghiệp đoàn hoạt động như thế, chúng sẽ dễ mất sự

liên lạc tiếp xúc với vai trò riêng của chúng, tức là vai trò bảo

vệ các quyền lợi chính đáng của người lao động trong khung

cảnh lợi ích chung của cả xã hội, và trái lại sẽ trở thành một

dụng cụ để thực hiện các mục đích khác.

Khi nói đến việc bảo vệ các quyền lợi chính đáng của

người lao động theo nghề nghiệp của họ,lẽ đương nhiên phải

luôn để ý nhiều hơn đến những gì mà tính chất chủ quan của

lao động lệ thuộc vào tùy theo mỗi nghề nghiệp, và đồng

thời, hoặc hết sức phải lưu tâm đến những gì ảnh hưởng tới

phẩm cách riêng của chủ thể đang lao động. Về điểm này,

hoạt động của các nghiệp đoàn có rất nhiều khả năng, kể cả

khả năng dấn thân hoạt động cho nền học vấn, giáo dục và

cổ võ cho việc tự giáo dục. Hoạt động của nhà trường, của cái

người ta gọi là “đại học thợ thuyền” hoặc “đại học bình dân”,

của các trương trình và các khóa huấn luyện đã và đang giúp

phát triển loại hoạt động ấy, thật rất đáng biểu dương. Chúng

ta phải luôn luôn mong ước rằng nhờ hoạt động của các

nghiệp đoàn, không những người lao động có thể “có” nhiều

hơn, nghĩa là có thể hiện diện trọn vẹn nhân tính của mình

hơn, dưới mọi hình thái của nó.

Trong việc bảo vệ các quyền lợi chính đáng của người

lao động, các nghiệp đoàn cũng sử dụng phương pháp đình

công, nghĩa là ngưng việc lao động, coi như một tối hậu thư

gởi cho các cơ chế thẩm quyền và trước hết cho các chủ thuê.

Đó là một phương pháp mà giáo lý xã hội của Công giáo

công nhận là hợp pháp, với một số điều kiện và trong những

hạn định chính đáng, quyền đình công phải được bảo đảm cho

các người lao động và cá nhân họ không thể bị trừng phạt vì

đã tham gia vào hoạt động ấy. Đây là một phương phát chính

đáng và hợp pháp, nhưng người ta cũng phải nhấn mạnh rằng

nó vẫn chỉ là một hạ sách. Người ta không nên lạm dụng

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 587

quyền đình công, và đặc biệt là không nên lạm dụng để nó

trở thành lá bài chính trị. Ngoài ra, ta đừng bao giờ quên rằng,

đối với những dịch vụ cốt yếu cho đời sống của xã hội, ta

phải luôn luôn đảm bảo và nếu cần, phải sử dụng cả những

biện pháp tương xứng. Sự lạm dụng quyền đình công có thể

làm tê liệt tất cả đời sống xã hội kinh tế, và như thế là ngược

với những đòi hỏi của công ích xã hội, mà công ích xã hội lại

là điều đối ứng với chính bản chất – một bản chất được hiểu

đúng nghĩa – của chính lao động .

21. Phẩm cách của lao động nông nghiệp

Tất cả những gì đã nói trên đây về phẩm cách của lao

động, về tầm vóc khách quan và chủ quan của lao động con

người, cũng áp dụng trực tiếp cho vấn đề lao động nông

nghiệp và cho tình trạng hoàn cảnh của người vất vả với công

việc ruộng vườn. Quả vậy, đây là một vấn đề rộng lớn của

một trường lao động trên trái đất của chúng ta, một lãnh vực

không phải hạn chế ở đại lục này hay đại lục khác, cũng

không phải hạn chế cho riêng những xã hội đã đạt tới một

trình độ nào đó trong sự phát triển và tiến bộ. Thế giới nông

nghiệp, một thế giới cung ứng cho xã hội những nhu cầu

lương thực cần thiết hàng ngày, có một tầm mức quan trọng

cơ bản. Các điều kiện của đời sống nông thôn và của lao

động nông nghiệp ở các nơi không đồng đều và hoàn cảnh xã

hội của các người lao động nông nghiệp mỗi nước một khác.

Việc đó không chỉ lệ thuộc vào mức độ phát triển kỹ thuật

nông nghiệp mà còn lệ thuộc, có lẽ rất nhiều, vào sự có công

nhận hay không các quyền lợi chính đáng của người lao động

nông nghiệp, và cuối cùng vào mức độ ý thức trong toàn thể

nền đạo đức xã hội và lao động.

Công việc đồng áng gặp những khó khăn lớn như việc

phải vận dụng sức lực thể xác lâu giờ và cực nhọc, việc xã

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 588

hội thường coi nhẹ giá trị của người nông dân khiến họ có

cảm giác mình là con ghẻ của xã hội và thúc đẩy rất đông

nông dân bỏ đồng ruộng lên thành thị, và do đó lâm vào tình

trạng mất nhân cách hơn nữa trong đời sống. Đó là chưa kể

tình trạng thiếu huấn luyện nghề nghiệp cho đầy đủ, thiếu

nông cụ thích ứng, một thứ tinh thần cá nhân chủ nghĩa ngấm

ngầm và cả những hoàn cảnh khách quan bất công nữa. Tại

một số quốc gia đang phát triển, hàng triệu người buộc phải

canh tác trên đất đai của những người khác và bị các đại điền

chủ bóc lột, không hy vọng gì trong tương lai có được một

mảnh đất riêng cho mình. Cá nhân và gia đình người lao động

nông nghiệp không được hưởng một hình thức pháp luật nào

bảo vệ khi già yếu, bệnh tật hay thất nghiệp. Họ phải làm

việc lam lũ cực nhọc qua những ngày tháng dài mà tiền công

lại rẻ mạt. Nhiều đất canh tác bị các chủ điền bỏ hoang,

quyền sở hữu hợp pháp của một vài mảnh đất nhỏ xíu, tự lo

lắng canh tác trong bao nhiêu đời, thường bị cướp đoạt ngang

xương trước lòng tham không đáy “ham mở rộng đất canh

tác” của những cá nhân hay những nhóm người quyền thế

hơn. Ngay cả ở những nước kinh tế phát triển, là nơi các

nghiên cứu khoa học, các khám phá về kỹ thuật, hoặc chính

sách của nhà nước đã đưa nông đân đến một mức độ phát

triển rất cao, quyền lao động vẫn bị vi phạm khi người ta

không cho người nông dân được quyền tham dự vào việc lựa

chọn phần công tác lao động của mình hoặc quyền được tự do

họp hội để xây dựng một cách chính đáng việc thăng tiến xã

hội, văn hóa và kinh tế của người lao động nông nghiệp.

Vì thế trong nhiều trường hợp và hoàn cảnh, cần phải

cấp tốc có những thay đổi tận gốc rễ nền nông nghiệp và

người lao động lấy lại được giá trị xác đáng, coi như nền tảng

một nền kinh tế lành mạnh trong toàn bộ sự phát triển của

cộng đồng xã hội. Do đó, ta phải xác nhận và tuyên dương cổ

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 589

võ phẩm cách của sự lao động, của tất cả mọi thứ lao động,

đặc biệt là lao động nông nghiệp là thứ lao động giúp cho con

người “chế ngự” một cách thật hùng hồn trái đất là thứ Thiên

Chúa đã trao tặng cho và củng cố “quyền ngự trị” của họ trên

thế giới hữu hình.

22. Người tật nguyền và lao động

Trong những năm gần đây, các cộng đồng quốc gia và

các tổ chức quốc tế đã để ý lưu tâm tới một vấn đề gắn liền

với lao động, và có nhiều hậu quả: vấn đề những người tật

nguyền. Họ cũng là những chủ thể có đầy đủ nhân tính và

với danh nghĩa đó, họ có những quyền thiên phú bất khả xâm

phạm. Mặc dầu thân xác họ có những phần bị hạn chế và đau

khổ hằn trên thân mình và năng lực, những quyền đó càng

làm nổi bật phẩm cách và sự cao quí của con người. Vì người

tật nguyền là một chủ thể đầy đủ có quyền lợi nên chúng ta

có nhiệm vụ phải dành mọi sự dễ dàng để họ có thể tham gia

vào đời sống xã hội trên mọi khía cạnh, mọi bình diện mà khả

năng cho phép họ tham dự. Người tật nguyền là một người

trong chúng ta và thông phần đầy đủ vào nhân tính của chúng

ta. Thật là một điều hết sức bất xứng đối với con người. Và là

một lời phủ nhận nhân tính chung nếu chúng ta chỉ chấp nhận

cho vào đời sống xã hội và lao động những thành phần còn

giữ được đầy đủ các phương tiện khả năng. Làm như thế,

chúng ta sẽ lại rơi vào một hình thức kỳ thị lớn, kỳ thị giữa

những người khỏe và lành mạnh với những người yếu đuối

bệnh tật. Ngay trong trường hợp này, lao động theo nghĩa

khách quan phải lệ thuộc vào con người, vào chủ thể của nó

chứ không vào mối lợi về kinh tế.

Vì thế bổn phận của các thẩm quyền hữu trách trong thế

giới lao động, của chủ thuê trực tiếp cũng như chủ thuê gián

tiếp là phải dùng những biện pháp hiệu nghiệm và thích ứng

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 590

để những người tật nguyền sử dụng được quyền của mình

bằng cách được huấn luyện về nghề nghiệp để có thể lao

động và có được chỗ đứng trong hoạt động sản xuất mà họ có

thể đóng góp vào được. Tại đây nhiều vấn đề có tính chất

thực hành, pháp chế và kinh tế được đặt ra; nhưng nhiệm vụ

của cộng đồng, nghĩa là của các nhà cầm quyền, các hiệp hội

và các nhóm trung gian, các xí nghiệp và chính những người

tật nguyền là phải góp ý kiến và của cải để đạt tới mục tiêu

mà mọi người phải tiến tới, nói cách khác, để những người tật

nguyền có được một việc làm tùy theo khả năng, lý do vì

phẩm cách con người và chủ thể lao động của họ đòi hỏi như

thế. Mỗi cộng đồng cần thiết lập những cơ cấu thích nghi để

tìm kiếm và tạo cơ sở làm việc cho những người đó, hoặc

trong các xí nghiệp công, tư với một công việc thường lệ hay

thích nghi với hoàn cảnh của họ, hoặc trong các xí nghiệp và

môi trường được “bảo trợ”.

Cũng như đối với các người lao động, ta phải hết sức

chú tâm đến các điều kiện lao động thể xác và tâm lý của

người tật nguyền, đến việc trả lương xứng đáng cho họ, đến

khả năng thăng tiến của họ cũng như đến các trở ngại cần

phải san bằng. ta không tự dối mình và ta công nhận đây là

một công việc phức tạp và khó khăn, nhưng ta hy vọng rằng

một quan niệm xác đáng về lao động theo nghĩa chủ quan có

thể dẫn tới một tình trạng tốt đẹp, trong đó người tật nguyền

có thể cảm thấy mình không phải ở bên ngoài lề thế giới lao

động hoặc phải lệ thuộc vào xã hội, mà là một chủ thể lao

động có đầy đủ quyền và hữu ích; phẩm cách con người của

mình được tôn trọng, được kêu gọi góp sức vào công cuộc

tiến bộ,làm ích cho gia đình và cho cộng đồng theo khả năng

của mình.

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 591

23. Lao động và vấn đề di trú

Cuối cùng, ít ra chúng ta cũng phải có đôi lời nói về vấn

đề di trú để tìm việc làm. Đây là một hiện tượng xưa cũ

nhưng vẫn tái diễn không ngừng và hơn thế nữa ngày nay vẫn

tiếp tục với một mức độ gây ra nhiều phức tạp cho đời sống

hiện thời. Con người có quyền lìa bỏ nguyên quán vì những

lý do khác nhau – cũng như có quyền trở về nguyên quán – để

có được những hoàn cảnh sống tốt hơn ở một xứ khác. Lẽ tất

nhiên là sự kiện này không phải là không phải là không gặp

những khó khăn khác nhau. Trước hết, đó là một sự mất mát

đối với xứ sở mà người ta lìa bỏ. Đó là sự ra đi của một người,

cũng là thành viên của một cộng đồng lớn được kết hợp với

nhau bằng một dòng lịch sử, một truyền thống, một nền văn

hóa chung, để đến lập lại cuộc đời ở giữa một xã hội khác

được kết hợp với nhau bằng một nền văn hóa khác và thường

thường cũng bằng một ngôn ngữ khác. Trong trường hợp này,

thế là mất đi một chủ thể lao động là người đáng lẽ sẽ dùng

nỗ lực của tư tưởng và bàn tay của mình để góp công tăng gia

lợi ích trong xứ sở mình; và bây giờ nỗ lực và sự đóng góp ấy

và được mang đến cho một xã hội khác có thể nói là không

có quyền hưởng bằng quê hương bản quán.

Thế nhưng, mặc dầu việc di trú, dưới một và khía cạnh,

là một tai họa, song tai hại này, trong những hoàn cảnh nhất

định, lại là một tai hại cần thiết. Chúng ta phải làm đủ mọi

cách và quả thật người ta đang làm rất nhiều trong lãnh vực

trên – để tai hại này (hiểu theo ý nghĩa vật chất) không mang

lại những gì tai hại tinh thần nặng nề quan trọng hơn, mà trái

lại còn có thể mang phần nào lợi ích trong đời sống cá nhân,

gia đình và xã hội của người di trú, cho xứ sở họ tới cũng như

cho xứ sở mà họ bỏ ra đi. Về lãnh vực này rất nhiều việc phải

tùy thuộc vào một nền luật pháp công bằng, đặc biệt là trong

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 592

địa hạt các quyền lợi của người lao động. Chúng ta hiểu rằng

vấn đề này phải được đặt trong nội dung các điều đang được

bàn luận ở đây, nhất là về phương diện này.

Điều quan trọng nhất là phải làm sao cho những người

lao động ở nước ngoài với tư cách những người di trú thường

trực hoặc những người lao động từng mùa (tạm thời) không bị

thiệt thòi trong lãnh vực quyền lợi lao động so với các người

lao động khác của xã hội này. Không thể để cho việc di trú vì

lý do tìm việc làm trở thành một cơ hội cho người ta khai thác

về tài chánh hoặc xã hội dưới bất cứ hình thức nào. tương

quan lao động đối với người lao động di trú cần được xây

dựng trên cùng những tiêu chuẩn như đối với các người lao

động khác của xã hội đó. Giá trị của lao động cần được ước

lượng bằng cùng một hệ thống đo lường chứ không thể căn

cứ vào sự khác biệt về quốc tịch, tôn giáo hay chủng tộc,

phương chi càng không nên khai thác hoàn cảnh bó buộc của

những người di trú. Tất cả những hoàn cảnh đó đều phải lùi

bước – lẽ tất nhiên sau khi đã cân nhắc các phẩm chất riêng –

trước giá trị căn bản của lao động, thứ giá trị gắn liền với

phẩm chất của con người. Chúng ta cần nhắc lại một lần nữa

nguyên tắc căn bản : hệ thống các giá trị, ý nghĩa sâu xa của

lao động đòi hỏi tư bản phải phục vụ cho lao động chứ không

thể để lao động phục vụ cho tư bản.

V. NHỮNG YẾU TỐ ỨNG DỤNG CHO MỘT NỀN

ĐẠO ĐỨC CỦA LAO ĐỘNG

24. Vai trò đặc biệt của giáo hội.

Trong đề tài nói về lao động nhân dịp kỷ niệm 90 năm

ban hành thông điệp Rerum novarum, chúng tôi muốn dành

phầm cảm nghĩ cuối cùng để trình bày về nền đạo đức của

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 593

lao động theo ý nghĩa Kitô giáo. Căn cứ vào việc : Lao động

xét theo kích thước chủ quan của nó, luôn luôn là một hành

động thuộc nhân vị – actus personnae – ta có thể quả quyết

rằng : Toàn thể con người , cả thể xác lẫn tinh thần, đều tham

dự vào lao động, dầu là lao động chân tay hay trí óc. Đồng

thời chính vì lợi ích cho toàn diện con người mà lời Thiên

Chúa hằng sống và sứ điệp Tin mừng cứu độ đã được ban đến

cho họ, trong đó có nhiều lời giáo huấn như những ánh sáng

đặc biệt liên quan đến sự lao động của con người. Vì thế,

chúng ta phải thấu triệt những lời giáo huấn đó : cần phải vận

dụng trí khôn dưới ánh sáng của đức tin, cậy và mến để nhờ

vào những lời giáo huấn này, làm cho lao động của con người

cụ thể mang được ý nghĩa mà nó phải có trước mặt Thiên

Chúa, mà nhờ đó trở thành một trong những yếu tố vừa thông

thường vừa đặc biệt quan trọng của công cuộc cứu độ.

Nếu Giáo hội cho rằng mình có nhiệm vụ phải xác định

quan điểm về giá trị nhân bản của lao động, về trật tự luân lý

mà lao động có phần đóng góp vào; Nếu Giáo hội công nhân

rằng việc xác định quan điểm đó là một trong những nhiệm

vụ quan trọng của toàn bộ sứ vụ truyền bá rao giảng Tin

mừng, thì đồng thời Giáo hội cũng nhận thấy mình có bổn

phận phải hình thành một nền đạo đức lao động khả dĩ giúp

mọi người nhờ đó tiến gần đến với Chúa, là Đấng Tạo thành,

Đấng cứu chuộc, tham dự vào chương trình cứu rỗi loài người

và thế gian, đi sâu vào được đời sống thân hữu với Đức Kitô

bằng cách nhờ đức tin sống động thông phần với ba sứ vụ

Linh mục, Tiên tri và Vương giả của Ngài, đúng như công

đồng Vaticanô II đã giáo huấn chúng ta bằng những từ ngữ

tuyệt vời.

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 594

25. Lao động xét trên phương diện là sự tham

dự vào công việc của đấng tạo thành.

Công đồng Vaticanô II dạy rằng : “Đối với các tín hữu,

chắc chắn sinh hoạt cá nhân cũng như tập thể của nhân loại,

hoặc nỗ lực vĩ đại của con người vất vả qua các thế kỷ nhằm

cải thiện hoàn cảnh sinh sống, tự nó, vốn phù hợp với ý định

của Thiên Chúa. Thật vậy, con người được tao dựng giống

hình ảnh Thiên Chúa, nên đã nhận mệnh lệnh chinh phục trái

đất cùng tất cả những gì chứa đựng trong đó, cai quản vũ trụ

trong công bình và thánh thiện, và khi nhìn nhận Thiên Chúa

là Đấng tạo dựng mọi loài, họ qui hướng chính bản thân mình

cũng như vũ trụ về Ngài. Như thế, khi con người chinh phục

tất cả thì danh Chúa được tôn vinh khắp địa cầu” (GS, 34).

Qua những lời Thiên Chúa mạc khải, ta thấy ghi khắc

sâu xa chân lý căn bản sau đây : Con người, được tạo dựng

theo hình ảnh Thiên Chúa, tham dự vào công việc của Đấng

Tạo thành bằng lao động của mình, và hiểu theo một ý nghĩa

nào đó, cũng như tùy theo khả năng của mình, họ tiếp tục

phát triển và bổ túc công cuộc tạo thành bằng cách luôn luôn

tiến xa hơn nữa vào công cuộc khám phá những tài nguyên

và những giá trị tiềm tàng trong toàn bộ thế giới đã được tạo

dựng. Chúng ta tìm thấy chân lý đó ngay từ những dòng đầu

tiên của Kinh thánh, trong sách Sáng thề : Ở đây, công cuộc

tạo thành được trình bày dưới hình tức một “công việc” của

Thiên Chúa làm trong “sáu ngày” (St 2,2; Xh 20,8; Đnl 5,12-

14), và kết thúc bằng việc “nghỉ ngơi” vào ngày thứ bảy (St

2,3). Ngoài ra cuốn sách cuối cùng của bộ kinh thánh cũng

vang lên những lời biểu lộ sự tôn trọng công cuộc của Thiên

chúa khi Ngài “làm công việc” tạo dựng. Quả vậy sách khải

huyền viết : “Lạy Thiên chúa toàn năng, công cuộc của ngài

vĩ đại và lạ lùng” (Kh 15,3). Lời tung hô này như một tiếng

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 595

vang làm vọng lại lời tung hô chép trong sách sáng thế khi

việc miêu tả công cuộc tạo dựng của mỗi ngày đều được kết

thúc bằng câu: “Và Thiên Chúa thấy rằng mọi sự đều tốt

lành” (St 1,4.10.12.18.21.15.31).

Việc diễn tả công cuộc tạo dựng chúng ta được đọc

trong đoạn thứ nhất của sách Sáng thế, có thể coi như bản “tin

mừng đầu riên nói về lao động”. Quả vậy, đoạn văn này

chứng tỏ lao động quý trọng ở điểm nào; đoạn văn này dạy

rằng : con người phải dùng sự lao động của mình để bắt chước

Thiên Chúa là Đấng tạo thành mình, vì con người mang trong

mình – và chỉ có con người mới làm được như thế – một yếu tố

riêng biệt làm cho họ nên giống ngài. Con nười phải bắt

chước Thiên chúa khi làm việc cũng như khi nghỉ ngơi, vì

chính thiên chúa đã muốn trình bày công cuộc tạo dựng của

ngài dưới hình thức lao động và nghỉ ngơi. Đúng như Đức Kitô

đã nói : “Cha thầy luôn luôn hành động…” (Ga 5,17), công

việc của Thiên Chúa trên trần gian vẫn luôn luôn tiếp diễn;

với quyền năng tạo dựng của ngài, Thiên chúa hành động

bằng cách trợ giúp trần gian hiện hữu sau khi ngài bởi không

mà dựng nên cho có; với quyền năng cứu độ của ngài, Thiên

chúa hành động trong tâm hồn con người, những tạo vật mà

ngay từ nguyên thủy, Ngài đã dự tính cho được”nghỉ ngơi”

(Dt 4,1.9-10), hợp nhất với ngài “trong nhà của Cha”

(Ga 14,2). Chính vì thế nên vấn đề lao động của con người

không những chỉ nghỉ ngơi mỗi ”ngày thứ bảy”

(Đnl 5,12-14; Xh 10,8), mà ngoài ra không chỉ đòi phải vận

dụng sức lực của con người trong hành động bên ngoài, mà

còn phải tạo ra được một tâm trạng bên trong khi con người

trở nên đúng với ý muốn của thiên chúa hơn, họ có thể chuẩn

bị cho một sự “nghỉ ngơi” mà Thiên Chúa dành cho các tôi tớ,

bạn hữu Ngài (Mt 15,21).

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 596

Như Thánh Công Đồng đã dạy: “Những hoạt động

thường nhật nhất của con người phải biểu lộ được ý thức

rằng: lao động của họ là việc tham dự vào công cuộc của

Thiên Chúa. Bởi vì trong khi lao động để nuôi sống mình và

gia đình, đồng thời cũng để phục vụ cho xã hội, tất cả mọi

người nam, nữ đều phải nhận thức được rằng: Lao động của

họ là việc tiếp diễn công việc của Đấng tạo Thành, là việc

phục vụ cho anh em đồng loại, là sự đóng góp của cá nhân

vào việc thực hiện chương trình kế hoạch của Thiên Chúa đối

với lịch sử” (Vat.II GS. 34).

Vì thế nền đạo đức Kitô giáo này về lao động phải trở

thành một gia sản chung cho mọi người. Đặc biệt trong thời

đại hiện nay nền đạo đức lao động này chứng tỏ mức độ

trưởng thành cần thiết giữa lúc tình hình căng thẳng và trí

khôn, tâm hồn mọi người băn khoăn lo âu. Người Kitô hữu

không những không coi các công trình do con người dùng tài

năng và sức lực riêng để thực hiện các chống đối quyền năng

của Thiên Chúa không coi thụ tạo có lý trí như một địch thủ

của Tạo hóa, mà còn xác tín rằng các thắng lợi của nhân loại

là dấu hiệu biểu dương Thiên Chúa cao cả và là kết quả ý

định khôn lường của Ngài. Tuy nhiên, quyền lực con người

càng gia tăng, trách nhiệm cá nhân hay tập thể lại càng nới

rộng. Do đó, chúng ta thấy sứ điệp Kitô giáo không làm cho

con người quên công cuộc xây dựng thế giới hoặc khiến họ

không còn thiết tha đến lợi ích của đồng loại, trái lại, còn làm

cho họ cảm thấy đó là một nhiệm vụ cấp bách hơn (Vat.II,

GS, 34).

Chính ý thức được tham gia vào công cuộc tạo dựng

bằng lao động của mình trở thành động lực sâu xa nhất thúc

đẩy con người lao động trong các lĩnh vực. Hiến chế Lumen

Gentium đã viết: Chính vì thế, tín hữu phải nhận biết bản tính

sâu xa của những giá trị của chúng, là ca tụng Thiên Chúa;

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 597

đồng thời phải giúp nhau sống đời sống thánh thiện, nhờ

những việc trần thế, để thế gian thấm nhuần Thần khí của

Chúa Kitô và đạt tới cùng đích một cách hữu hiệu hơn trong

công lý, bác ái và hòa bình…nhờ khả năng chuyên môn trong

những việc trần thế, nhờ các hoạt động của họ, các hoạt động

được ân sủng Đức KiTô siêu nhiên hóa, giáo dân hãy đem

toàn lực hợp tác để nhờ lao động của con người, kỹ thuật và

văn hóa nhân loại khai thác những của cải được tạo

dựng…theo ý định của Đấng Tạo Hóa và sự soi sáng của Ngôi

Lời Ngài (LG, 36).

26. Đức kitô, con người của lao động

Con người dùng lao động để tham gia vào chính công

cuộc của Thiên Chúa, Đấng tạo thành mình. Đó là một chân

lý đã được Chúa Giêsu làm nổi bật cách đặc biệt, Đức Giêsu

Kitô mà những thính giả đầu tiên của Ngài ở Nazarét đã phải

ngạc nhiên và bảo nhau: “Tại sao ông này lại được như vậy?

Bởi đâu ông ta được khôn ngoan như thế ?… chớ thì ông ta

chẳng phải là người thợ mộc hay sao?” (Mc 6,2-3). Quả vậy,

Chúa Giêsu đã rao giảng và nhất là đã đem thực hành “TIN

MỪNG” được uỷ thác cho Ngài, thực hành những lời của

Đấng Khôn Ngoan vĩnh cửu. Vì lý do đó, đây quả thật là “TIN

MỪNG CỦA LAO ĐỘNG”, vì người rao giảng Tin Mừng ấy

chính là một người lao động, một người thợ như ông Giuse

quê thành Nazarét (Mt 13,55). Mặc dầu qua những lời Chúa

đã rao giảng, chúng ta không thấy câu nào nói thẳng lệnh

phải lao động – mà trái lại, có một lần, chúng ta còn thấy Chúa

cấm không được quá lo lắng làm ăn mưu sống (Mt 6,25-34) –

nhưng cả cuộc đời của Chúa là một chứng ngôn hùng biện

không ai chối cãi được: Ngài thuộc về “thế giới lao động” ;

Ngài ưa chuộng, tôn trọng sự lao động của con người. Hơn thế

nữa, ta có thể nói: Ngài âu yếm thiết tha lao động và các hình

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 598

thức của lao động. Ngài nhận thấy trong mỗi hình thức đó một

phương cách để biểu lộ việc con người là hình ảnh Thiên

Chúa là Đấng Tạo Hóa và là Cha. Chính Ngài đã nói: “Cha

Thầy là người trồng nho…”

(Ga 15,1), và qua lời giáo huấn của Ngài, bằng nhiều phương

cách, ta thấy toát lên chân lý căn bản về vấn đề lao động, một

chân lý đã được diễn tả trong tất cả truyền thống của Cựu

Ước, ngay từ sách Sáng Thế.

Trong các sách của Cựu Ước, không thiếu gì đoạn nhắc

nhở đến lao động cũng như các nghề nghiệp của con người:

Thầy thuốc (Hc 38,1-3), dược sĩ (Hc 3,4-8), thợ thuyền, nghệ

nhân (Xh 31,1-5; Hc 38,27), thợ rèn (St 4,22; Is 44,12) – người

ta có thể đem áp dụng những lời trong Thánh Kinh liên quan

đến lao động, vào việc làm của những người thợ luyện thép

ngày nay, người thợ gốm (Gr 18,3-4; Hc 38,29-30), người

nông dân (St 9,20; Is 5,1-2) nhà hiền triết khảo cứu Kinh

thánh

(Gv 12, 9-12; Hc 39,1-8), thủy thủ (Tv 107,23-30; Kn 14,2-3a),

thợ nề (St 11,3; 2V 12,12-13; 22,5-6), nhạc sĩ (St 4,21), mục tử

(St 4,2; 37,3; Xh 3,1; Is 16,11). Ngoài ra người ta còn nhớ

những lời tốt đẹp biểu dương lao động của người phụ nữ

(Cn 31,15-27). Trong các dụ ngôn về Nước Thiên Chúa, Đức

Giêsu Kitô luôn luôn nói về lao động: dụ ngôn người mục tử

(Ga 10,1-16), người nông dân (Mc 12,1-12), thày thuốc

(Lc 4,23), người gieo giống (Mc 4,1-9), chủ nhà (Mt 13,52),

người làm công(Mt: ; Lc 12,41-48), người quản gia (Lc 16,1-8),

người đánh cá (Mt 13,47-50), người buôn bán (Mt 13,45-46)

người thợ (Mt 20,1-16) . Chúa so sánh công việc truyền giáo

với công việc tay chân của thợ gặt (Mt 9,37; Ga 4,35-38); hoặc

của những ngư phủ (Mt 4,19). Chúa cũng dựa vào công việc

của các thày ký lục (Mt 13,52).

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 599

Lời giáo huấn của Đức Kitô về lao động dựa trên mẫu

gương đời sống của Ngài trong những năm sống ở Nagiarét và

còn để lại một âm vang rất mạnh mẽ trong lời giáo huấn của

Thánh Phaolô. Có thể Thánh Phaolô đã làm nghề may lều, vì

Ngài đã tự hào dùng nghề này để (Cv 18,3) vừa có thể làm

việc tông đồ vừa có thể mưu sinh (Cv 20,34-35). “Ngày đêm

chúng tôi làm việc vất vả lam lũ, để không phải phiền toái

đến ai trong anh em” (2Tx 3,8). Xuất phát từ quan niệm đó,

những lời giáo huấn của Thánh Phaolô liên quan đến lao động

có tính cách khuyên bảo và ra lệnh: “Đối với những người

đó… chúng tôi nài xin, căn dặn hãy âm thầm làm việc và ăn

cơm của mình”

(2Tx 3,12). Nhận thấy có một số tín hữu thuộc cộng đoàn

Thesssalônica “sống vô trật tự…không làm lụng gì cả”

(2Tx 3,11), Thánh Phaolô đã viết thư bảo: “Hễ ai không muốn

làm việc thì đừng có ăn” (2Tx 3,10). Trái lại trong một thư

khác gởi cho Cộng đoàn Côlôssê. thánh nhân lại khuyến

khích rằng: “Dù anh em làm việc gì, thì hãy thật lòng thực thi

như thể làm cho Thiên Chúa chứ không phải làm cho loài

người, vì biết rằng anh em sẽ được hưởng phần gia tài Chúa

thưởng cho” (Cl 3, 23-24).

Ta nhận thấy rõ lời giáo huấn của vị Tông đồ dân ngoại

có một tầm quan trọng đặc biệt đối với nền luân lý và đạo

đức của lao động. Nhựng lời giáo huấn đó là một bổ túc quan

trọng cho Tin mừng về lao động, một Tin mừng lớn lao tuy kín

đáo mà chúng ta tìm thấy trong đời sống của Đức Kitô, trong

các dụ ngôn của Ngài, trong “Những gì Ngài đã làm và giảng

dạy” (Cv 1,1).

Xuất phát từ ánh sáng bắt nguồn mạch, Giáo hội luôn

luôn tuyên giảng một giáo lý mà ta thấy biểu lộ dưới hình

thức cận đại trong lời giáo huấn của Công Đồng Vaticanô II:

Vì phát xuất từ con người nên sinh hoạt của con người cũng

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 600

quy hướng về con người. Thật vậy, khi làm việc, con người

không những biến đổi sự vật và xã hội mà còn cải thiện chính

mình. Họ học biết được nhiều điều, phát triển tài năng cũng

như thoát ra được và vượt khỏi chính mình. Nếu được hiểu cho

đúng thì sự tăng trưởng này đáng giá hơn mọi của cải có thể

thu tích được … Vì thế tiêu chuẩn sinh hoạt của con người là

mọi sinh hoạt của con người phải phù hợp với lợi ích đích

thực của nhân loại theo như ý định và ý muốn của Thiên

Chúa, và phải giúp cho con người, cá nhân cũng như tập thể,

trau dồi và thực hiện ơn gọi toàn diện của mình”. (GS, 35).

Khi đã ý thức được giá trị lao động của con người như

thế, nghĩa là khi đã có một nền đạo đức về lao động, chúng ta

có thể thấu triệt lời giáo huấn của Công đồng Vaticanô II

trong hiến chế Mục vụ liên quan đến ý nghĩa đích thực của sự

tiến bộ : “Giá trị của con người hệ tại ở “cái mình là” hơn là

ở” cái mình có”. Cũng vậy, tất cả những gì con người làm để

đạt tới một mức độ công bình cao hơn, một tình huynh đệ rộng

lớn hơn, một trật tự nhân đạo hơn trong tương quan xã hội,

điều quí trọng hơn các tiến bộ khoa học kỹ thuật bởi vì các

tiến bộ ấy tuy có thể cung cấp chất liệu cho việc thăng tiến

của con người, nhưng tự chúng mà thôi, chúng không thể thực

hiện được công cuộc thăng tiến ấy” (GS, 35).

Giáo lý về vấn đề tiến bộ và vấn đề phát triển là một

đề tài đứng hàng đầu trong tâm trạng hiện đại. Giáo lý ấy chỉ

có thể thấu triệt khi coi nó như là một kết quả của một nền

đạo đức lao động được thử thách, và giáo lý ấy chỉ có thể

thực hiện và đem áp dụng nếu đặt căn bản nền tảng trên một

nền đạo đức như vậy. Giáo lý này, chương trình hoạt động

này ăn rễ sâu trong “TIN MỪNG VỀ LAO ĐỘNG”.

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 601

27. Lao động của con người dưới ánh sáng

của thập giá và phục sinh của Đức Kytô.

Nền đạo đức lao động dựa trên phúc âm ăn rễ sâu trong

một khía cạnh khác của lao động con người là một trong

những khích thước quan yếu nhất của nó. Bất kể lao động nào

dù là tay chân hay trí óc, đều nhất thiết nối liền với sự vất vả.

Sách Sáng thế đã diễn tả một cách hết sức sâu sắc sự việc đó

khi đem so sánh, đối lập việc lao động, từ nguyên thủy đã

được chúc phúc (một sự chúc phúc tiềm tàng ngay trong mầu

nhiệm của tạo thành và liên quan đến địa vị của con người

được nâng cao nên giống hình ảnh của Thiên Chúa) với việc

lao động đã bị chúc dữ do tội lỗi gây ra. “Đất sẽ bị nguyền rủa

vì ngươi!” “Ngươi phải lam lũ vất vả cả đời mới có của nuôi

thân !”

(St 3,17). Sự vất vả gắn liền với lao động này vạch ra con

đường mà con người sẽ phải đi trong cuộc đời trên trần gian

và cũng báo tin việc con người sẽ phải chết. “Ngươi sẽ phải

đổ mồ hôi trán ra mới có ăn cho đến khi ngươi trở về với đất

vì ngươi từ đó mà ra” (St 3,19). Như một tiếng dội vang lại từ

những lời trên đây, một trong những tác giả của sách Khôn

ngoan đã nhắc lại tư tưởng này khi viết: “Tôi quay lại nhìn tất

cả mọi việc tay tôi đã làm và công lao tôi đã phải lao nhọc

gây lên” (Gv 2, 11). Trên trần gian này không một người nào

không có thể áp dụng câu đó cho trường hợp của mình.

Ngay cả đối với vấn đề này, có thể nói Tin mừng đã

công bố lời cuối cùng trong mầu nhiệm Vượt qua của Chúa

Giêsu Kitô. Chúng ta phải tìm ở đó câu trả lời cho những vấn

đề này, thật là quan trọng đối với nền đạo đức lao động của

con người. Trong mầu nhiệm Vượt qua có bao hàm vấn đề

thánh giá Đức Kitô, Việc Ngài đã vâng lời cho đến chết, sự

vâng lời mà Thánh Tông đồ đã đem ra đối lập với sự bất tuân

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 602

lệnh đè nặng từ những ngày đầu tiên trong lịch sử con người

trên trái đất

(Rm 5,19). Cũng trong Mầu nhiệm Vượt qua, có bao hàm cả

sự việc Đức Kitô được nâng lên Đức Kitô đã đi qua ngưỡng

cửa là sự chết trên thập giá để trở lại với các môn đệ trong

quyền năng của Chúa Thánh Linh bằng việc Ngài sống lại.

Mồ hôi và vất vả lao lung gắn liền với lao động trong

tình trạng điều kiện sống hiện thời của nhân loại, là những

yếu tố khả dĩ giúp cho người Kitô hữu và tất cả những ai được

kêu gọi theo chân Đức Kitô, có thể dùng tình thương thông

phần vào công cuộc mà Đức Kitô đã đến để hoàn tất (Ga

17,4). Công cuộc cứu độ này được thực hiện qua sự đau khổ

và qua cái chết trên thập giá. Có thể nói, con người cộng tác

một cách nào đó với Con Thiên Chúa trong công cuộc cứu

chuộc nhân loại bằng cách chấp nhận sự vất vả khó nhọc

trong lao động, với tinh thần hiệp nhất với Đức Kitô chịu đóng

đinh vì chúng ta. Con người chứng tỏ mình đích thực là môn

đệ Chúa Giêsu khi họ vác thánh giá hằng ngày trong sinh hoạt

của riêng mình (Lc 9,23).

Đức Kitô lấy gương sáng dạy chúng ta, khi Ngài chấp

nhận chịu chết cho tất cả chúng ta là những người tội lỗi; Ngài

dạy chúng ta cũng phải vác thập giá mà xác thịt và thế gian

đặt nặng trên vai những kẻ mưu tìm hòa bình và chân lý, thế

nhưng, đồng thời, “Đức Kitô được tôn vinh làm Chúa khi sống

lại và được lãnh nhận toàn quyền thống trị trên trời dưới đất,

từ nay Ngài hoạt động trong lòng con người nhờ quyền năng

Thánh Thần của Ngài …. Ngài tinh luyện và củng cố những

ước vọng quảng đại thúc đẩy gia đình nhân loại hoán cải

cuộc sống của mình trở nên nhân đạo hơn và qui phục trời

đất về cùng với mục đích ấy” (Vat.II, GS,38).

LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI 603

Trong lao động, người Kitô hữu tìm gặp thấy một phần

nhỏ của thánh giá Đức Kitô và vui lòng đón nhận trong tinh

thần cứu chuộc mà Đức Kitô đã có khi Ngài đón nhận vác

thánh giá và tội lỗi chúng ta. Với ánh sáng chiếu soi của Phục

sinh Đức Kitô, chúng ta luôn luôn tìm thấy trong lao động một

tia sáng cho đời sống mới, một của cải lợi ích mới; chúng ta

tìm thấy như thế một lời loan báo “Có trời mới đất mới”

(2P 3,13 ; Kh 21,1) mà con người và thế gian được thông

hưởng nhờ những vất vả nhọc nhằn của lao động. Phải nói:

Nhờ vất vả mới được, và không bao giờ được nếu không vất

vả. Một phần, điều đó xác quyết rằng thánh giá là một

chuyện cần thiết trong nền đạo đức lao động; phần khác,

trong thánh giá là sự vất vả nhọc nhằn này, xuất hiện một của

cải lợi ích mới, một của cải lợi ích khởi sự với chính lao động,

một sự lao động được hiểu với tất cả ý nghĩa sâu xa. Dưới mọi

hình thức; và không có lao động thì không có của cải lợi ích

mới ấy được.

Phải chăng của cải lợi ích mới đó, một kết quả của lao

động con người, đã chính là một phần nhỏ của “đất mới” nơi

công bằng ngự trị (2P 3,13). Nếu quả thực những vất vả nhọc

nhằn muôn mặt của lao động con người là một phần của thập

giá Đức Kitô, thì của cải lợi ích mới có tương quan thế nào đối

với việc Chúa Kitô Phục Sinh ? Công đồng đã tìm câu trả lời

cho vấn đề này bằng cách tiếp nhận ánh sáng từ nguồn Lời

Mạc Khải. “Quả thật, chúng ta biết rằng: được lời lãi cả vào

thế gian mà chính mình phải hư mất thì chả có lợi gì (Lc 9,25).

Nhưng sự trông đợi đất mới không được làm suy giảm, trái lại

phải kích thích nỗ lực phát triển trái đất này, nơi thân thể của

gia đình nhân loại mới đang tăng trưởng và tiên báo một vài

hình ảnh của thời đại mới. Vì thế tuy phải phân biệt rõ ràng

những tiến bộ trần thế với sự bành trướng Vương quyền Đức

CÁC THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI 604

Kitô, nhưng tiến bộ này rất quan trọng đối với Nước Thiên

Chúa” (Vat.II, GS, 39).

Với những suy nghĩ trên đây về lao động con người,

chúng tôi đã tìm cách làm nổi bật tất cả những gì xem ra cần

thiết, vì lý do nhờ lao động, không những “các hoa quả

của hoạt động chúng ta” phải được gia tăng trên trái

đất, mà cả “nhân phẩm của con người”, “Sự thông

cảm huynh đệ và sự tự do” cũng phải được tăng

thêm nữa (Vat.II, GS. 39). chớ gì người kitô hữu,

những kẻ đang lắng nghe lời thiên chúa hằng sống

và liên kết lao động với cầu nguyện, chớ gì họ hiểu

được địa vị mà lao động của họ giữ được trong tiến

bộ trần thế và cả trong vần đề phát triển mở mang

nước thiên chúa, là nơi mà quyền năng chúa thánh

linh và lời của phúc âm kêu gọi tất cả chúng ta hãy

tiến vào.

Để kết thúc những suy nghĩ này, tôi sung sướng ban

phép lành Tòa Thánh cho tất cả anh em, các chư huynh đáng

kính và anh chị em thân yêu.

Tôi đã chuẩn bị tài liệu này để phổ biến vào ngày 15 – 5

vừa qua trong dịp kỷ niệm 90 năm ban hành thông điệp

Renrum Novarum; Nhưng tôi đã chỉ có thể duyệt lại một lần

chót sau thời gian nằm bệnh viện.

Ban hành tại Castel Gandolfo,

Ngày 14 – 9 – 1981, ngày lễ kính Thánh Giá,

năm thứ III triều đại Giáo Hoàng của tôi.

Gioan Phalô II