“Người ta sẽ từ đông chí tây đến dự tiệc trong nước Chúa”

Bài Ðọc I: Is 66, 18-21

“Chúng dẫn tất cả anh em các ngươi từ mọi dân tộc đến”.

Trích sách Tiên tri Isaia.

Ðây Chúa phán: “Ta đã biết các việc làm và tư tưởng của chúng; Ta đến quy tụ mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ: chúng sẽ đến và nhìn thấy vinh quang của Ta. Ta sẽ đặt nơi chúng một dấu lạ, Ta sẽ sai một số trong những người được giải thoát đến các dân ngoài biển, bên Phi châu và Lyđia, là những dân thiện xạ, đến Ý-đại-lợi và Hy-lạp, đến những hòn đảo xa xăm, đến với những kẻ chưa nghe nói về Ta, và chưa thấy vinh quang của Ta. Chúng sẽ rao giảng cho các dân biết vinh quang của Ta, sẽ dẫn tất cả anh em các ngươi từ mọi dân tộc đến như của lễ dâng cho Chúa, họ cỡi ngựa, đi xe, đi võng, cỡi la, cỡi lạc đà, đến núi thánh của Ta là Giêrusalem, khác nào con cái Israel mang của lễ trong chén tinh sạch vào nhà Chúa, Chúa phán như thế. Trong những dân đó, Ta sẽ chọn các tư tế, các thầy Lêvi: Chúa phán như vậy”. Vì chưng lời Chúa rằng: Cũng như Ta tạo thành trời mới, đất mới đứng vững trước mặt Ta thế nào, thì dòng dõi ngươi và danh tánh các ngươi sẽ vững bền như vậy”.

Ðáp Ca: Tv 116, 1. 2

Ðáp: Hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian (Mc 16, 15).

Xướng: Toàn thể chư dân, hãy khen ngợi Chúa! Hết thảy các nước, hãy chúc tụng Người. – Ðáp.

Xướng: Vì tình thương Chúa dành cho chúng tôi thực là mãnh liệt, và lòng trung thành của Chúa tồn tại muôn đời. – Ðáp.

Bài Ðọc II: Dt 12, 5-7, 11-13

“Chúa sửa dạy ai là kẻ Người yêu mến”.

Trích thư gửi tín hữu Do-thái.

Anh em thân mến, anh em đã quên lời yên ủi tôi nói với anh em, như nói với những người con rằng: “Hỡi con, con chớ khinh thường việc Chúa sửa dạy, và đừng nản chí khi Người quở trách con; vì Chúa sửa dạy ai là kẻ Người yêu mến, và đánh đòn kẻ mà Người chọn làm con”. Trong khi được sửa dạy, anh em hãy bền chí. Thiên Chúa xử sự với anh em như con cái: vì có người con nào mà cha không sửa phạt. Ngày nay, hẳn ai cũng coi việc sửa dạy là nỗi buồn khổ, hơn là nguồn vui, nhưng sau này, nó sẽ mang lại hoa quả bình an công chính cho những ai được sửa dạy. Vì thế, anh em hãy nâng đỡ những bàn tay bủn rủn và những đầu gối rụng rời. Ðường anh em đi, anh em hãy bạt cho thẳng, để người què khỏi bị trẹo chân, nhưng được an lành.

Alleluia: Ga 14, 23

Alleluia, alleluia! – Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy. – Alleluia.

Tin Mừng: Lc 13, 22-30

“Người ta sẽ từ đông chí tây đến dự tiệc trong nước Chúa”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu rảo qua các đô thị và làng mạc, vừa giảng dạy vừa đi về Giêrusalem. Có kẻ hỏi Người rằng: “Lạy Thầy, phải chăng chỉ có một số ít sẽ được cứu độ?” Nhưng Người phán cùng họ rằng: “Các ngươi hãy cố gắng vào qua cửa hẹp, vì Ta bảo các ngươi biết: nhiều người sẽ tìm vào mà không vào được. Khi chủ nhà đã vào và đóng cửa lại, thì lúc đó các ngươi đứng ngoài mới gõ cửa mà rằng: ‘Thưa ngài, xin mở cửa cho chúng tôi’. Chủ sẽ trả lời các ngươi rằng: ‘Ta không biết các ngươi từ đâu tới’. Bấy giờ các ngươi mới nói rằng: ‘Chúng tôi đã ăn uống trước mặt ngài và ngài đã giảng dạy giữa các công trường chúng tôi’. Nhưng chủ sẽ trả lời các ngươi rằng: ‘Ta không biết các ngươi tự đâu mà tới, hỡi những kẻ làm điều gian ác, hãy lui ra khỏi mặt ta’. Khi các ngươi sẽ thấy Abraham, Isaac, Giacóp và tất cả các tiên tri ở trong nước Thiên Chúa, còn các ngươi bị loại ra ngoài, nơi đó các ngươi sẽ khóc lóc nghiến răng. Và người ta sẽ từ đông chí tây, từ bắc chí nam đến dự tiệc trong nước Thiên Chúa. Phải, có những người sau hết sẽ trở nên trước hết và những người trước hết sẽ nên sau hết”.

SUY NIỆM
A/ 5 phút Lời Chúa
B/ TGM Giuse Vũ Văn Thiên

“ĐẤNG QUY TỤ MUÔN DÂN”
CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN – NĂM C

Thiên Chúa là Đấng quy tụ muôn dân. Đó là một trong những hình ảnh về Thiên Chúa trong Kinh Thánh Cựu Ước. Thiên Chúa là Cha chung của mọi dân tộc. Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi. Ngài không muốn ai phải chết và phải đau khổ. Như gà mẹ ấp ủ đàn con dưới cánh, Thiên Chúa luôn ấp ủ mọi tạo vật bằng tình yêu quan phòng của Ngài. Là người Mục tử, Thiên Chúa quy tụ và chăm sóc đàn chiên. Chúa biết từng con chiên, để chữa lành và nâng đỡ. Hình ảnh mục tử và đàn chiên còn được Chúa Giêsu tiếp nối trong giáo huấn của Người (x. Ga,10).

Nếu Thiên Chúa là Đấng quy tụ muôn dân, thì con người lại thích ly tán. Trước sự khước từ, thậm chí là đe doạ của quận vương Hêrôđê, Chúa Giêsu đã rơi lệ và than trách: “Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem! Ngươi giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến với ngươi! Đã bao lần ta muốn tập họp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập họp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu.” (Lc 13,34). Ngay từ khởi đầu lịch sử, con người đã muốn vùng thoát khỏi sự dìu dắt yêu thương của Thiên Chúa để tự chọn lối đi cho mình, như câu chuyện ông Ađam và bà Evà. Con người muốn khước từ Chúa để được “tự do”, nhưng thay vì tự do thì họ lại rơi vào cảnh nô lệ. Ađam và Evà đã nghe theo lời dụ dỗ của con rắn, với hy vọng nên ngang hàng với Thiên Chúa. Họ đã thất bại ê chề.

Isaia (đệ nhị) là một vị ngôn sứ của niềm hy vọng. Vào lúc dân Do Thái đang chán chường và đau khổ trong cảnh lưu đày ở Babilon, vị Ngôn sứ được Chúa trao cho việc loan báo ngày họ sẽ được giải phóng. Còn gì sung sướng hơn là được thoát cảnh lưu đày để về quê cha đất tổ. Lời hứa của Chúa không chỉ nhằm đến việc giải phóng dân khỏi ách lưu đày, mà còn cho thấy một tương lai sán lạn. Vào thời đó, các dân ngoại bang sẽ được biết đến danh Thiên Chúa. Họ sẽ được chiêm ngưỡng vinh quang của Ngài. Các dân tộc cùng tiến về nhà Chúa, mang theo những lễ phẩm thanh sạch, để tôn nhận Ngài là Thiên Chúa duy nhất. Giêrusalem sẽ được khôi phục và trở về với cảnh sầm uất khi xưa (Bài đọc I).

Ngôn sứ Isaia đã loan báo sứ điệp cho dân đang bị lưu đày. Sứ điệp hy vọng ấy cũng được loan báo cho chúng ta trong thời đại hôm nay. Quả vậy, chúng ta tôn thờ Thiên Chúa mà chưa từng gặp gỡ Ngài. Đôi lúc chúng ta băn khoăn tự đặt những câu hỏi về tương lai hậu vận đời mình. Những khó khăn thử thách trong cuộc sống nhiều khi làm chúng ta dao động đức tin. Trong Tin Mừng Chúa nhật hôm nay, có người đặt câu hỏi với Chúa Giêsu về số lượng những người được cứu thoát nhiều hay ít. Câu trả lời của Chúa dường như không ăn nhập logic với câu hỏi. Người không khẳng định số người được cứu rỗi nhiều hay ít, nhưng người nhắc đến bổn phận của mỗi người là phải chuyên chăm tu luyện và lập công tích đức cho mình. Như vây, Chúa muốn giáo huấn chúng ta: thay vì quan tâm tìm hiểu xem số người được cứu thoát, thì hãy lo lắng đến phần rỗi của chính mình. Lời khuyên cụ thể của Chúa Giêsu, đó là hãy qua cửa hẹp. Lời mời gọi bước qua cửa hẹp cũng được Chúa nói tới trong Tin Mừng Thánh Mátthêu với những cắt nghĩa chi tiết hơn:  “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy.” (Mt 7,13-14).

Vào thời Chúa Giêsu, nơi một số đông những người Do Thái, vẫn tồn tại tư tưởng tự tôn dân tộc. Họ cho rằng Thiên Chúa chỉ cứu rỗi người Do Thái. Họ coi thường, kỳ thị các dân tộc xung quanh, và cho rằng những dân tộc này phải trầm luân khốn khổ. Chúa Giêsu phê phán lối suy nghĩ sai lầm này. Ngài quả quyết, Thiên Chúa là Cha chung của gia đình nhân loại. Những ai tự hào về nguồn gốc của mình, mà không chịu sửa mình và không sống tốt, thì sẽ bị khai trừ và không được chung hưởng hạnh phúc với Chúa. Là dân Do Thái không phải một nhãn hiệu đương nhiên được cứu thoát. Những người đợi ở cửa phòng tiệc sau khi cánh cửa đã đóng lại cố tìm cách trưng dẫn những bằng chứng cho thấy mối thân thiện của họ với ông chủ, nhưng ông đã tuyên bố dứt khoát: “Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khỏi mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính”. Trong bối cảnh này, việc trưng ra những hành động được coi là đạo đức hay kỷ niệm đẹp với ông đều chỉ là che đậy một lối sống bất nhân.

“Cửa hẹp” đối với tác giả thư Do Thái là sự kiên nhẫn trong thử thách. “Anh em hãy kiên trì để cho Thiên Chúa sửa dạy. Người đối xử với anh em như với những người con. Thật vậy, có đứa con nào mà người cha không sửa dạy?” Những gian khó mà chúng ta gặp phải trên đường đời, nếu được đón nhận bằng cái nhìn đức tin, sẽ được coi như sự sửa dạy của Chúa, hoặc như sự thử thách lòng trung thành của chúng ta. Nếu Chúa sửa dạy ai, là vì Ngài yêu thương người đó và muốn kéo người đó lên kẻo chìm sâu trong bùn lầy. Một khi chấp nhận để Ngài sửa dạy, chúng ta sẽ tiến bước trên con đường trọn hảo.

C/ Lm. Giuse Lê Danh Tường

CHÚA CỨU ĐỘ TẤT CẢ MỌI NGƯỜI

CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN – NĂM C

Tháng 7 theo truyền thống người ta gọi là tháng cô hồn. Các linh hồn bơ vơ không có bến đậu. Các linh hồn còn chưa được giải thoát, chưa được cứu độ. Làm sao mà sinh ra nông nỗi như vậy? Các cô hồn, họ là ai?

Các bài đọc Lời Chúa hôm nay đưa ta đến một nhận thức: Tất cả mọi người trên thế gian này đều có thể được cứu thoát, được lãnh nhận ơn cứu độ của Chúa. Nhưng kèm theo đó, Chúa Giê-su nói đến điều kiện mà người ta phải có để có thể bước vào nơi vĩnh hằng trong an vui, để không phải bơ vơ, khổ cực.

Cuộc đời Đức Giê-su trên dương thế được thánh sử Luca trình bày là một con đường tiến về Giê-ru-sa-lem. Trên đường đi tiến về Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su đã giảng dạy, chỉ dẫn cho dân chúng về Nước Trời, về ơn cứu độ. Trong bài Tin Mừng theo thánh Luca (Lc 13, 22-30) kể “Chúa Giêsu rảo qua các đô thị và làng mạc, vừa giảng dạy vừa đi về Giêrusalem” (22). Dọc đường đi, có người hỏi  “Lạy Thầy, phải chăng chỉ có một số ít sẽ được cứu độ” (23). Câu hỏi có ý nói đến số lượng những người được cứu độ. Nhưng Chúa Giê-su đã kéo người đối thoại ra khỏi não trạng về số lượng để đưa họ đến cái chất lượng cần phải có để được cứu độ. Tất cả mọi người đều có thể được vào Nước Trời.

Não trạng “nhóm của mình mới xứng đáng” chẳng phải là chuyện ngày xưa mà nó hiện diện đầy dẫy trong xã hội ngày nay. Dường như thời này người ta chán với những cộng đoàn số đông và thích hoạt động trong một nhóm nhỏ. Con người muốn thoát khỏi những định giá bởi số đông và muốn tạo lập cái tôi của mình trong những nhóm nhỏ ít bị chi phối. Cơn cám dỗ coi “nhóm của mình mới xứng đáng” càng trở nên hấp dẫn.

Trong bài đọc 1 (Is 66, 18-21), tiên tri Isaia đã nói các đây hơn 2500 năm với dân chúng về một viễn ảnh phổ quát trên mọi dân tộc. Không phải chỉ có những người còn sót lại sau cuộc lưu đày trở về mà thôi, nhưng rồi đây mọi dân tộc từ đông tây nam bắc trên khắp hoàn cầu sẽ tiến về Giê-ru-sa-lem để thờ phượng Thiên Chúa. Một nhóm nhỏ còn sót lại sau khi cả dân tộc đã trải qua cuộc lưu đày đầy gian nan khổ cực. Họ buồn chán và bi quan. Tiên tri Isaia đã cho họ thấy, chính sự hiện diện của họ nơi đất khách quê người đã làm cho các dân tộc nhận biết Thiên Chúa và rồi mọi người sẽ tìm đến thành đô muôn thủa, nơi Thiên Chúa ngự trị.

Chiều kích phổ quát ấy được diễn tả rõ nét và sống động hơn trong lời nói của Chúa Giê-su hôm nay: “Và người ta sẽ từ đông chí tây, từ bắc chí nam đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa” (Lc 13,29). Thiên Chúa không loại trừ bất cứ ai trên thế gian này, cho dù tôi là ai, là người có đạo hay không có đạo, người quyền quý hay nghèo hèn, người lớn hay trẻ nhỏ, Thiên Chúa luôn mời gọi tha thiết hãy vào dự tiệc cưới trong Nước Trời.

Nhưng có điều, con đường dẫn tới Nước Trời là con đường hẹp, cánh cửa để vào dự tiệc cưới trong Nước Trời là cánh cửa hẹp. “Các ngươi hãy cố gắng vào qua cửa hẹp” (13,23).

Vì cánh cửa hẹp nên ai muốn qua thì phải chấp nhận từ bỏ. Người ta không thể vác tất cả mọi sự để đi qua cánh cửa ấy. Chỉ những ai đã khiêm nhường hạ mình xuống, chỉ những ai từ bỏ mọi quyến rũ, chỉ những ai chấp nhận bị gọt tỉa trở nên thanh thoát nhẹ nhàng mới có thể đi qua cửa hẹp.

Ở thế gian này thì những người quyền quý cao sang thường được ưu tiên đứng hàng đầu. Nhưng đứng trước cánh cửa Nước Trời, chỉ những ai chấp nhận từ bỏ quyền lực, giũ bỏ những dan díu, từ bỏ những bám víu tội lỗi mới có thể bước qua. Chính những người nhỏ bé sẽ đi qua trước mà vào dự tiệc trong Nước Trời: “Phải, có những người sau hết sẽ trở nên trước hết và những người trước hết sẽ nên sau hết” (Lc 13,30).

Cánh cửa vào Nước Trời chỉ vừa đủ cho con người đi qua. Một con người hoàn toàn chỉ có người mà thôi. Mọi thứ bên ngoài sẽ chỉ làm cho nó bị vướng mắc. Đức Giê-su trên thập giá là hình ảnh rõ nét của một con người hoàn toàn trần trụi, buông bỏ tất cả, đến cả chân cũng không còn bám vào đất. Chính Thiên Chúa làm người đã băng qua cửa hẹp trong tư thế trần trụi ấy để tiến vào vinh quang.

Lạy Chúa, vì yêu thương mà Chúa đã tìm mọi cách để kéo con về Trời. Xin Chúa luôn thức tỉnh con mỗi khi con mải mê với những giá trị mau qua của trần thế. Xin Người ban ơn giúp sức để con can đảm chấp nhận mình bị gọt rũa hầu có thể tiến bước qua con đường hẹp mà vào chốn vinh quang.

D/ Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt

BỎ CÁC NGƯỜI DO THÁI BẤT TRUNG VÀ KÊU GỌI LƯƠNG DÂN

CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN – NĂM C

1. So sánh với các phúc âm nhất lãm, đoạn văn Lc hôm nay cũng có trong Mt, nhưng bị tách thành nhiều đoạn rời rạc, trong nhiều bối cảnh khác nhau. Cửa hẹp (Lc 13,24) song song với Mt 7,13-14. Cửa đóng (Lc 13,25) chấm dứt dụ ngôn về các trinh nữ khôn ngoan và khờ dại trong Mt 25,10-12. Câu trả lời của những người bị loại ra ngoài (Lc 13,26-27) tương ứng với Mt 7,22-23. Về bữa tiệc hội tụ các người được chọn từ bốn phương (Lc 13,28-29), Mt để ở cuối trình thuật chữa lành tên đày tớ của viên sĩ quan (Mt 8,11-12), là người ngoại giáo có lòng tin sâu xa mà dân Israel không có.

Từ đó ta thấy: đoạn văn hôm nay thật hỗn hợp và gồm tóm nhiều mảnh vụn rời rạc. Tuy nhiên đây không chỉ là một gom góp đơn giản, nhưng là một toàn thể, một “nhóm” mà thực thể không thể không định nghĩa được bằng việc tổng hợp các phần tử của nó. Đây là một dụ ngôn mới, dụ ngôn cửa đóng, mà ý nghĩa tổng quát đồng nghĩa với các lời nói (logia) được gom góp lại. Ta có thể gọi việc gom góp này là chủ đề về các yêu sách cần hoàn tất để được cứu rỗi.

2. Thực vậy, dụ ngôn bắt đầu từ việc một thính giả hỏi về con số các người được chọn. Trước tiên Lc nhắc lại cuộc hành trình lên Giêrusalem. “Trên đường tiến lên Giêrusalem, Chúa Giêsu rảo qua các đô thị và làng mạc, vừa đi vừa giảng dạy”. Thỉnh thoảng ta lại thấy câu chỉ dẫn đó (9,51; 17,11; 19,18). Đây chính là cái mốc để Lc thu góp và tổng hợp cách giả tạo một loạt chỉ dẫn không có khung cảnh và văn mạch rõ rệt.

Có người đến hỏi: “Lạy thầy, phải chăng chỉ có một số ít sẽ được cứu độ?”. Vấn nạn này cơ hội cụ thể để Chúa Giêsu giảng dạy (trực tiếp đối với câu 24, gián tiếp đối với các câu sau), vấn nạn cũng là nỗi thắc mắc thường xuyên của các người đồng thời với Chúa Giêsu. Phúc âm đã hơn một lần ghi lại các vấn nạn về ơn cứu rỗi và phương thế để được cứu độ: “Tôi phải làm gì để được sống đời đời?” (Mt 19,16 và song song), “Khi nào Nước Thiên Chúa đến” (Lc 17,20. Đây là học thuyết thịnh hành của các người biệt phái thời Chúa Giêsu: “Toàn dân Israel sẽ được dự phần trong thế giới mai hậu” (Sanh.10,1). Có người bi quan hơn: “thế giới mai hậu chỉ an ủi một số ít còn đa số phải đau khổ cùng cực” (1V Esdr.5,47). Các người Esséniens thuộc cộng đoàn Qumrân cho rằng chỉ các thành viên của họ mới được cứu rỗi. Ai có lý?. Chúa Giêsu không muốn giải quyết vấn nạn. Tại sao con người lại thắc mắc về số người được cứu rỗi? Phải chăng vì muốn được an tâm nhờ biết con số đó? Nếu toàn thể Israel được cứu rỗi, họ mới có thể sống bình thản. Nếu chỉ số ít được chọn, thôi thì cần gì cố gắng? Chúa Giêsu lợi dụng mối bận tâm này và lối sư phạm đặc biệt. Ngài nhân cách hóa vấn nạn, để có cái nhìn khách quan hơn. Các nhà thần học có thể lý luận suốt đời về con số người được chọn: còn Chúa Giêsu không muốn thế, Ngài mời gọi mọi người chất vấn, cũng như mời gọi tất cả chúng ta, sôi nổi phấn đấu để được đăng ký vào số người được cứu rỗi.

Thật hữu ích khi có thể nghiên cứu cách thức Đức Kitô đương đầu với các vấn nạn thính giả, cũng như chúng ta đặt ra. Hình như Chúa Giêsu rất ít trả lời câu người ta thường hỏi; Ngài thường trả lời “bên lề”. Lối trả lời “bắt râu ông nọ cắm cằm bà kia” là lối Chúa Giêsu thường dùng, nhất là trong phúc âm thứ tư. Nhưng không phải Đức Kitô đổi câu trả lời cho bằng đổi câu hỏi và đưa chúng ta đến vấn nạn đích thực ẩn dấu dưới một câu trả hỏi nào đó đã được đặt ra. Đức Kitô phá vỡ chân lý mà chúng ta muốn giới hạn (số người được chọn…), muốn cầm chắc trong tay, muốn chiếm hữu như một đối tượng, bên ngoài con người chúng ta. Ngài biến vấn nạn của chúng ta thành sống động; và khi phân tích vấn nạn, Ngài bật mí cái ẩn dấu và đưa chúng ta về lại cuộc sống hiện sinh của chúng ta.

3. “Hãy cố gắng đi vào bằng cửa hẹp, vì Ta bảo các ngươi, nhiều kẻ tìm cách vào, nhưng không thể vào được”. Như thế Chúa Giêsu khuyên bảo thính giả Ngài cố gắng phấn đấu để đi vào bằng cửa hẹp, là hình ảnh Ngài thường dùng cùng lúc với hình ảnh lỗ kim (Mt 19,24; Mc 10,25; Lc 18,25). Cách tổng quát Lc nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc làm, chúng ta sẽ bàn lại sau này. Dù sao, ở đây câu nói có nghĩa cánh chung, còn ở Mt câu nói có nghĩa luân lý nhiều hơn, do các yêu cầu hiện thực của đời Kitô hữu đòi hỏi. “Các ngươi hãy vào qua của hẹp, vì cửa rộng và đường thênh thang là lối đưa đến hư mất, và có nhiều kẻ đi lối ấy. Cửa và đường đưa đến sự sống thì hẹp và ít kẻ tìm thấy” (Mt 7,13-14). Phải cố gắng vào qua cửa hẹp đúng lúc, vì cửa sắp đóng. Giọng nói có vẻ đe dọa, tiên báo câu chủ nhà nghiêm khắc trả lời: “Ta không biết các ngươi từ đâu đến”.

4. Khi người đồng minh không muốn tiếp xúc thân mật hay đòi hỏi nhiều yêu sách, người ta thường nại đến mối bang giao tốt đẹp đã có từ trước đến nay. Ở đây người đồng minh là Thiên Chúa. Những người đối thoại có Thiên Chúa, trong Đức Kitô, như là người đồng bàn, đòng tâm; họ là thính giả trực tiếp nghe Ngài giảng dạy. “Chúng tôi đã ăn uống với Ngài, và Ngài đã giảng dạy giữa quảng trường chúng tôi”. Chúng tôi thuộc nhóm người ưu đãi, được Ngài tâm sự như bạn chí tình. Đó không phải là điều sai lỗi. Điều sai lỗi không phải là rước Thiên Chúa vào nhà mình, đã ân cần tiếp đón phục dịch Ngài, đã chuyên cần nghe Ngài giảng dạy. Điều sai lỗi ở chỗ là muốn biến sự kiện mình là người đồng thời với Chúa Giêsu trong tình trạng đắc thủ, thành quyền quyền đòi hỏi được thụ hưởng, thi ân. Nhưng vấn đề là phải qua cửa hẹp, được đăng ký trong số người được chọn, còn việc theo Đức Kitô trên vạn nẻo ưởng Palestine không quan trọng: chỉ có hành động mới đáng kể. Các mối liên hệ của tôi, kể cả mối liên hệ đối với Thiên Chúa, kể cả việc tôi chăm chú nghe Ngài giảng dạy, không thể mở cửa cho tôi vào. Nếu tôi sống bất công, tôi không thể thấy ứng nghiệm câu này: “ai nghe và thi hành lời Thiên Chúa thì có phúc hơn” (Lc 11,28).

Chỉ mới xét trên bình diện biên soạn của Lc, chúng ta đã thấy ông muốn nhấn mạnh đến việc thực hiện hóa (actualisation). Trong lúc ở Mt, Chúa Giêsu chỉ nói đến các người bị luận phạt ở ngôi thứ ba, ở Lc, Chúa Giêsu trực tiếp nói với họ: “Bấy giờ các ngươi mới nói rằng…”; ở Mt, những lời phản kháng là do các người có địa vị quan trọng trong cộng đoàn Kitô hữu nói: “chúng tôi đã nhân danh Ngài mà nói tiên tri…”, ở Lc trái lại bài giáo huấn trực tiếp nhắm đến đám thính giả của Đức Kitô. Lối trình bày của Lc về sứ vụ Chúa Giêsu do đó sát lịch sử hơn và hiện thực hơn: như thế các lời đó đang nhắm đến chúng ta. Khi giảng, nên lưu ý điểm này.

5. Lời tuyên bố gạt bỏ được lặp lại hai lần. Lc còn tả thêm số phận của các kẻ bị gạt bỏ: họ sẽ bị các thực khách từ bốn phương đến thay thế. Nhưng trước tiên kẻ bị luận phạt mục kích tận mắt mối phúc thật của người công chính và chính việc chứng kiến cảnh tượng đó đã là hình phạt đối với họ. “Khi đến ngày thấy kẻ xưa kia họ coi thường được nâng lên và được vinh hiển…, họ sẽ vô cùng mất mặt; họ sẽ chứng kiến cảnh tượng đó trước, rồi mới chịu hành xử !” (Apocalypse syriaque de Baruch, bản dịch của P.Bogaert, Sources chrétiennes 144,1969,p.498).

Phúc âm không đưa ra cảnh tượng vinh quang của các người được chọn và nhục hình của kẻ bị luận phạt. Có lẽ đây là điểm giúp chúng ta thanh luyện quan niệm chúng ta về hỏa ngục và các huyền thoại của nó. Hình như Newman đã có trực giác khi viết: “chúng ta tưởng trời sẽ là nơi hạnh phúc cho chúng ta khi chúng ta được lên đó; nhưng nếu chúng ta biết xét đoán gì xảy ra ở địa cầu này – một người tàn bạo dù được đưa lên trời, cũng không biết y đang ở trên trời. Trái lại tối thiết nghĩ, chính sự kiện ở trên trời với gánh nặng tội lỗi của y, đối với y đã là một nhục hình và đã đốt lên trong y ngọn lửa thiêu đốt nóng bừng của hỏa ngục” (J.H.Newman, douze sermons sur le Christ, bản dịch P.Leyris, 1943; trang 184-185).

6. So sánh với Mt, bản văn Lc với hai chi tiết được thêm vào (c. 28: “Các tiên tri”; c.29: “từ bắc chí nam”) khuếch đại lời mô tả các người được phép tham dự bữa tiệc Nước Trời. Rõ ràng ở đây Lc muốn xác định cộng đoàn các người được chọn. Một dư âm của sách Didachè: “Hãy hội nhập giáo hội của ngươi từ khắp năm châu bốn bể, vào trong nước Trời”.

Nhưng điều chúng ta ghi nhận trên bình diện thể văn, lại là dấu chỉ việc khuếch đại các viễn ảnh đặc biệt hơn, trong Lc, phép đối ngẫu giữa người được chọn và các kẻ bị gạt bỏ không còn nói lên việc đối nghịch giữa số đông lương dân được nhận vào bữa tiệc cánh chung cùng các tổ phụ, với “các con cái nước trời”, công dân nước Israel: đó là phép đối ngẫu Mt 8,11-12 khai triển. Theo Lc, người bị loại ra khỏi nước trời không phải là vì họ Do thái, con cái nước trời, nhưng vì họ là người bất lương, sống bất chính (Lc 13,27). Khi nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc làm, Lc đã không xét đến việc từ bỏ trên bình diện quốc tịch, quốc tính nhưng đã mở rộng cửa cho tất cả người Do thái hay lương dân biết phấn đấu để vào cửa hẹp. Mối bận tâm luân lý của Lc khi soạn thảo bản văn này là đáng đổ việc đối ngẫu chủng tộc đối nghịch Israel với lương dân “Thiên Chúa không tây vị ai, nhưng ở bất cứ dân tộc nào, hễ ai kính sợ Ngài và thực thi công bình đều được Ngài vui lòng chiếu cố” (Cvsđ 10,34-35).

7. “Có người sau hết sẽ nên trước hết và người trước hết sẽ nên sau hết”. Lời này không được áp dụng cho tất cả mọi cá nhân, như thể ai được Thiên Chúa gọi trước, đều phải ngồi chỗ rốt hết trong nước trời hay phải ngồi ngoài cửa phòng tiệc. Các tổ phụ và tiên tri đã đi ngược lại lối chú giải đó: được Thiên Chúa tuyển chọn trước, các Ngài sẽ được tưởng thưởng và ngồi ghế danh dự. Chúa Giêsu so sánh toàn thể dân Do thái, từ khi Ngài xuất hiện, với toàn thể lương dân. Khi đề cập đến 2 nhóm đó, Ngài công bố có nhiều lương dân sẽ được cứu rỗi trước người Do thái và ngay cả cộng đoàn toàn thể lương dân sẽ được vào Nước Thiên Chúa trước cộng đoàn Israel, như thánh Phaolô sau này sẽ nói (Rm 11,25-26). Qua các lời tiên tri đó (sách Cvsđ sẽ cho thấy các sự ứng nghiệm lời tiên tri đó trong giáo hội sơ khai: Cvsđ 13,46-48; 28,25-28), Chúa Giêsu nghiêm nghị tiên báo cho kẻ chất vấn Ngài: các ngươi tưởng mình chắc chắn sẽ được dự tiệc thiên quốc, vì mình là người Do thái; hãy đề phòng để khỏi nghe chủ nhà, sau này sẽ trở nên quan tòa xét xử các ngươi, nói với các ngươi rằng “Ta không biết các ngươi”.

Với ý niệm “từ đông sang tây, từ bắc chí nam”, Lc theo tư tưởng của Is khi nói đến hình ảnh các dân tuôn về Gierusalem để quan chiêm vinh quang của Giave, ngang hàng với con cái Israel được các dân ngoại dẫn về thành thánh. Đây là toàn bộ chủ đề của Isaia-đệ-nhị mà đoạn văn hôm nay chỉ trích dẫn các câu cuối cùng.

KẾT LUẬN

Điều quan trọng, chính là niềm ao ước sống thao tiếng gọi và giáo huấn của Chúa Giêsu, là chấp nhận lời đề nghị Thiên Chúa gởi qua trung gian của Ngài. Nếu không dùng hành động mình để thể hiện điều sứ điệp Ngài công bố, thì việc làm môn đệ Ngài hay cùng chung dân tộc với Ngài chẳng ăn thua gì. Không phải ai nói: “Lạy Chúa, lạy Chúa” mà sẽ vào được nước trời, nhưng là người thực hiện ý Cha Ta trên trời (Mt 7,21).

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Chúa Giêsu không đến thỏa mãn tính tò mò của chúng ta. Ngài đến dạy cho chúng ta đường hạnh phúc, hạnh phúc trần thế nhất là hạnh phúc trên trời. Vì thế Ngài từ chối trả lời các câu hỏi phụ thuộc, ví dụ như hỏi về số người được chọn, ngày giờ thế mạt, địa vị mỗi người trên trời (x. lời van xin của Giacobe và Gioan trong Mc 10,35-45). Những câu hỏi như thế thật nguy hiểm cho chúng ta. Ví dụ về số người được chọn: nếu Chúa Giêsu cho biết rất nhiều người sẽ được cứu rỗi, chúng ta dễ bị cám dỗ sống buông xuôi vì hầu như chắc mình đã được cứu rỗi. Trái lại, nếu Chúa Giêsu cho biết rất ít người sẽ được cứu rỗi, chúng ta sẽ thất vọng và đâm ra chán nản không muốn sống tốt đời Kitô hữu. Vì thế, nếu từ chối trả lời là vì mưu ích cho chúng ta hơn. Vì không chắc chắn được cứu rỗi, nên chúng ta sẽ cố gắng xử dụng tốt tự do chúng ta và cố gắng làm mọi sự hết sức mình để một ngày kia có thể qua cửa hẹp mà vào Nước Trời.

2. Thời Chúa Giêsu, người ta tưởng rằng chỉ cần làm người Do thái là đủ để được cứu rỗi. Một số tiến sị luật còn dạy: “Mọi người Do thái sẽ được cứu thoát”. Chúa Giêsu loại bỏ quan niệm đó: không phải mọi người Do thái đều được cứu rỗi, cũng không phải mọi thính giả Chúa Giêsu, mọi người đồng thời với Chúa Giêsu được biệt đãi xem thấy sờ chạm đến Ngôi lời Thiên Chúa, ăn uống với Ngài nghe Ngài giảng dạy, sẽ được cứu rỗi. Không có dân tộc, quốc tịch hay tôn giáo nào tự quyền hưởng ơn cứu rỗi. Việc duy nhất quyết định số phận đời của một cá nhân là lòng trung thành thực hiện giáo huấn của Đức Kitô (giáo huấn mà họ biết được cách rõ ràng và hoàn toàn do giáo hội dạy hay biết cách mù mờ và phiến diện nhờ tôn giáo hay lương tâm của họ). Điều này cũng áp dụng cho chúng ta là người Kitô hữu: nếu chúng ta đã được rửa tội, đã từng nghe phúc âm trong phụng vụ, đã từng ăn Mình Đức Kitô chúng ta thánh lễ – tất cả điều đó không đủ sức cứu rỗi chúng ta, nếu chúng ta không vâng lời Ngài, không thực hiện thánh ý Thiên Chúa mà Ngài đã loan báo, nếu chúng ta không dứt khoát quyết định chọn lựa và sống theo Ngài.

3. Chúa Giêsu so sánh Nước Trời với bữa tiệc sang trọng trong đó hội tụ tất cả mọi người thiện chí từ bốn phương trời. Lúc đó sẽ là ngày hội lớn, ngày vui mừng vì được suốt đời sống với Chúa Cha, Đấng đáng yêu đáng mến nhất, sống với Chúa Giêsu và Thánh Thần, với Mẹ Maria và các thánh. Chúng ta hãy làm mọi sự hết sức mình để khỏi bị loại ra ngoài bữa tiệc, đứng trước cánh cửa đã đóng kín. Nếu trung thành sống thật tốt đời Kitô hữu, cánh cửa nhỏ hẹp của Nước Trời sẽ rộng mở đón nhận chúng ta vào chung hưởng sự vui mừng của Chúa Cha.

E/ Những bài suy niệm khác

CHIẾN ĐẤU QUA CỬA HẸP

PHẤN ĐẤU ĐI QUA CỬA HẸP MÀ VÀO NƯỚC TRỜI

GÒ MÌNH HƠN VÀO CON ĐƯỜNG HẸP

CHÚA GIÊSU GIÚP TA ĐI QUA CỬA HẸP

HÃY CHIẾN ĐẤU ĐỂ QUA ĐƯỢC CỬA HẸP MÀ VÀO NƯỚC TRỜI