
“Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới ?”
Người ấy câm miệng không nói được gì”. (Mt 22,12)
Bài Ðọc I: Is 25, 6-10a
“Chúa mời đến dự tiệc của Người và lau sạch nước mắt trên mọi khuôn mặt”.
Trích sách Tiên tri Isaia.
Ngày ấy, Chúa các đạo binh sẽ thết tất cả các dân trên núi này một bữa tiệc đầy thịt rượu, thịt thì béo, rượu thì ngon. Trên núi này, Người sẽ cất khăn tang bao trùm muôn dân và tấm khăn liệm trải trên mọi nước. Người tiêu diệt sự chết đến muôn đời. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt trên mọi khuôn mặt, và cất bỏ khỏi toàn mặt đất sự tủi hổ của dân Người, vì Người đã phán. Ngày đó, người ta sẽ nói: Này đây Chúa chúng ta. Ðây là Chúa, nơi Người, chúng ta đã tin tưởng, chúng ta hãy hân hoan và vui mừng vì ơn Người cứu độ, vì Chúa sẽ đặt tay của Người trên núi này.
Ðáp Ca: Tv 22, 1-3a. 3b-4. 5. 6
Ðáp: Trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài.
Xướng: Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng.
Xướng: Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. – (Lạy Chúa,) dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Người, đó là điều an ủi lòng con.
Xướng: Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương; đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa.
Xướng: Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo con hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, con sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài.
Bài Ðọc II: Pl 4, 12-14. 19-20
“Tôi có thể làm được mọi sự trong Ðấng ban sức mạnh cho tôi”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philípphê.
Anh em thân mến, tôi biết chịu thiếu thốn và biết hưởng sung túc. Trong mọi trường hợp và hết mọi cách, tôi đã học cho biết no, biết đói, biết dư dật và thiếu thốn. Tôi có thể làm được mọi sự trong Ðấng ban sức mạnh cho tôi. Nhưng anh em đã hành động chí lý khi san sẻ nỗi quẫn bách của tôi. Xin Thiên Chúa cung cấp dư dật những nhu cầu của anh em, theo sự phú túc vinh sang của Người trong Ðức Giêsu Kitô. Vinh danh Thiên Chúa là Cha chúng ta muôn đời. Amen!
Alleluia: x. Cv 16, 14b
Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, xin hãy mở lòng chúng con, để chúng con lắng nghe lời Con của Chúa. – Alleluia.
Tin Mừng: Mt 22, 1-10 {hoặc 1-14}
“Các ngươi gặp bất cứ ai, thì hãy mời vào dự tiệc cưới”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu lại phán cùng các đầu mục tư tế và kỳ lão trong dân những dụ ngôn này rằng: “Nước trời giống như vua kia làm tiệc cưới cho hoàng tử. Vua sai đầy tớ đi gọi những người đã được mời dự tiệc cưới, nhưng họ không chịu đến. Vua lại sai các đầy tớ khác mà rằng: “Hãy nói cùng những người đã được mời rằng: Này ta đã dọn tiệc sẵn rồi, đã hạ bò và súc vật béo tốt rồi, mọi sự đã sẵn sàng: xin mời các ông đến dự tiệc cưới”. Những người ấy đã không đếm xỉa gì và bỏ đi: người thì đi thăm trại, người thì đi buôn bán; những người khác thì bắt đầy tớ vua mà nhục mạ và giết đi. Khi vua nghe biết, liền nổi cơn thịnh nộ, sai binh lính đi tru diệt bọn sát nhân đó, và thiêu huỷ thành phố của chúng. Bấy giờ vua nói với các đầy tớ rằng: “Tiệc cưới đã dọn sẵn sàng, nhưng những kẻ đã được mời không đáng dự. Vậy các ngươi hãy ra các ngả đường, gặp bất cứ ai, thì mời vào dự tiệc cưới”. Các đầy tớ liền đi ra đường, gặp ai bất luận tốt xấu, đều quy tụ lại và phòng cưới chật ních khách dự tiệc.
{Ðoạn vua đi vào quan sát những người dự tiệc, và thấy ở đó một người không mặc y phục lễ cưới. Vua liền nói với người ấy rằng: “Này bạn, sao bạn vào đây mà lại không mặc y phục lễ cưới?” Người ấy lặng thinh. Bấy giờ vua truyền cho các đầy tớ rằng: “Trói tay chân nó lại, ném nó vào nơi tối tăm, ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng! Vì những kẻ được gọi thì nhiều, còn những kẻ được chọn thì ít”.}
SUY NIỆM
A/ 5 Phút Lời Chúa
VÌ ĐƯỢC TRỞ NÊN XỨNG ĐÁNG
Nhà vua bảo đầy tớ: “Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã được mời lại không xứng đáng. Vậy các ngươi đi ra các ngả đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới.” (Mt 22,8-9)
Suy niệm: Chúa Giê-su dùng dụ ngôn để sánh ví Nước Trời như một tiệc cưới linh đình. Nhưng những khách mời ưu tiên, là dân Ít-ra-en, dân được tuyển chọn của Thiên Chúa, và thành phần ‘chóp của đỉnh’ trong số đó là các thượng tế và kỳ mục, tưởng rằng mình ‘ngon ăn’ nhưng lại bị coi là “không xứng đáng”, lại ‘bắt hụt’ bữa tiệc cưới của Nước Trời. Ngược lại, những kẻ vô danh đang xuôi ngược ở “khắp các ngả đường” lại được mời vào thành thực khách ngồi đầy phòng tiệc. Những vị khách VIP kia bị loại ra ngoài chỉ vì “không đếm xỉa” tới vinh dự mình được hưởng, vì đã không coi trọng bữa tiệc cao quý mình được mời, mà chạy theo những mối bận tâm tầm thường của họ. Họ đã coi khinh chính Vị Vua Cao cả đã coi trọng họ khi mời gọi họ đến dự tiệc cưới con của ngài.
Bạn thân mến, không ai trong chúng ta xứng đáng trước mặt Thiên Chúa. Chúng ta ‘được coi là xứng đáng’, đúng hơn, ‘được trở nên xứng đáng’ hưởng Tiệc Cưới Con Chiên trên Nước Trời (x. Kh 19,6-9) không phải vì công trạng của chúng ta mà là nhờ tình yêu bao dung của Thiên Chúa. Khi biết mình thật diễm phúc và vinh dự được Chúa mời gọi dự phần với Ngài, bạn sẵn sàng ưu tiên chọn Chúa làm gia nghiệp trên mọi sự chóng qua đời này chứ?
Sống Lời Chúa: Bạn dành cho việc thờ phượng Chúa, cầu nguyện,… chỗ ưu tiên nhất trước mọi việc khác trong ngày.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, Chúa chọn con không phải vì con xứng đáng. Xin cho con biết chọn chính Chúa là điều tốt nhất mà Chúa ưu ái dành cho. A-men.
B/ TGM Giuse Nguyễn Năng
Suy niệm: Qua bài Tin Mừng, Ðức Giêsu trình bày dung mạo một vị vua hiền hậu lạ lùng: Ông tự ý mở tiệc, cho các đầy tớ hết lớp này đến lớp khác đi mời, dù khách được mời không thèm đến, lại còn giết các sứ giả được sai đến với họ.
Dung mạo vị vua càng hiền hậu bao nhiêu càng làm nổi bật sự vô ơn bất xứng của khách được mời bấy nhiêu. Họ tỏ ra khinh mạn, hổn xược với tấm lòng quảng đại của nhà vua: người không thèm đến, kẻ đến lại không mặc áo cưới…
Chúng ta cũng được Thiên Chúa mời gọi vào dự tiệc trong Nước Trời. Chúng ta đã đáp trả với thái độ nào ?
Cầu nguyện: Lạy Cha, chúng con rất muốn vào dự tiệc trong Nước Cha. Xin giúp chúng con biết can đảm và quyết tâm thay đổi chiếc áo cũ của chúng con, để mặc lấy áo cưới mới xinh đẹp là tâm hồn trong trắng. Xin cho chúng con cảm nghiệm được tình yêu thương của Cha, để chúng con mau mắn đến với Cha trong bí tích hòa giải và Thánh Thể. Trong niềm hân hoan, chúng con mong chờ ngày được vào dự tiệc cánh chung của Cha. Chúng con cầu xin nhờ Ðức Giêsu Con Cha, Chúa chúng con. Amen.
Ghi nhớ: “Các ngươi gặp bất cứ ai, thì hãy mời vào dự tiệc cưới”.
C/ TGM Giuse Vũ Văn Thiên
CÙNG ĐÍCH CUỘC ĐỜI
Cuộc đời con người rồi sẽ kết thúc ra sao? Đâu là tương lai hậu vận của con người? Những người làm việc lành và những kẻ ác nhân liệu sẽ có một kết thúc khác nhau? Đó là những vấn nạn được đặt ra ở mọi thời đại, mọi nền văn hoá và mọi giai tầng xã hội. Để trả lời, Kinh Thánh khẳng định với chúng ta: tương lai con người sẽ giống như một tiệc cưới. Ai cũng được mời, nhưng không phải ai cũng được hưởng hạnh phúc trọn vẹn trong ngày vui đó.
Hình ảnh tiệc cưới được sử dụng nhiều lần trong giáo huấn của Đức Giêsu. Tiệc cưới diễn tả niềm vui của người tin Chúa ngay khi họ còn sống ở đời này và hạnh phúc vĩnh cửu mà sau này họ sẽ đạt được. Trong Cựu Ước, hình ảnh tiệc cưới hoặc bữa tiệc vui cũng diễn tả mối tương quan thân thiết giữa Thiên Chúa với con người, làm cho con người được hạnh phúc trọn vẹn và lâu dài. Đích điểm tối hậu của đời sống con người là được sống với Chúa. Khi ấy, niềm vui sẽ tràn đầy, như trong một bữa tiệc thịnh soạn, đầy đủ rượu ngon, thịt béo, không còn khóc lóc và tang chế nữa. Đó cũng là hình ảnh diễn tả sự can thiệp của Thiên Chúa để giải phóng dân tộc Do Thái khỏi cảnh lưu đày (Bài đọc I). Khung cảnh bữa tiệc thịnh soạn và chan chứa niềm vui còn được nhắc tới trong Thánh vịnh 22 được hát lên trong Phụng vụ hôm nay (Đáp ca).
Chúa Giêsu muốn dùng hình ảnh bữa tiệc cưới để nói về Nước Trời với công thức quen thuộc: Nước Trời giống như… Ai ai cũng được mời dự bữa tiệc trọng đại này, dù họ thuộc về nền văn hóa hay ý thức hệ nào. Hình ảnh bữa tiệc cưới mà Chúa Giêsu nói đến là bữa tiệc cưới của một vị vua, tổ chức cưới cho hoàng tử là người sẽ kế vị mình. Vì là tiệc cưới của con vua, nên mọi sự chuẩn bị rất cẩn trọng và chu đáo. Những thực khách đã được ông chủ trân trọng mời trước, nay đến ngày tổ chức tiệc, họ được mời lại lần nữa. Một điều thật trớ trêu, đó là sự chu đáo và trân trọng của chủ được đáp lại bằng thái độ coi thường, thậm chí bằng bạo lực. Nhiều thực khách viện đủ cớ để vắng mặt trong bữa tiệc, có những lý do lãng xẹt, chứng tỏ sự coi thường trước thịnh tình của chủ tiệc. Sự vô ơn của họ còn được thể hiện qua hành động côn đồ và dã man, đến mức bắt các đầy tớ của vua để hành hạ và giết chết. Điều này đã khiến nhà vua nổi cơn thịnh nộ. Những kẻ ngang ngược đã bị tru diệt. “Rượu mời không muốn, lại muốn rượu phạt”, khiến ông chủ nổi giận. Tấm thịnh tình của ông biến thành cơn giận. Đám cưới đã được chuẩn bị chu đáo từ lâu, biến thành đẫm máu do sự gian trá và độc ác của một số thực khách vô luân.
Đọc lịch sử Cứu độ, chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa dùng nhiều cách thế để kêu gọi con người sống thánh thiện. Lời mời gọi của Chúa được nhiều người đón nhận, nhưng cũng có nhiều người khước từ. Họ yêu vật chất và vinh hoa trần thế hơn là đời sống thánh thiện mà Thiên Chúa đề nghị. Họ ngại phải từ bỏ. Họ sợ phải hy sinh. Họ không muốn bước ra khỏi vỏ bọc của sự ích kỷ và tham lam của mình. Họ giống như những thực khách được mời, kiếm cớ để từ chối lời mời rất trân trọng của ông chủ tiệc. Việc đi tham dự tiệc cưới là một vinh dự, mà bị họ coi như gánh nặng và nô dịch. Việc sống đạo đức là một niềm vui, mà bị họ coi như những hủ tục nhàm chán lỗi thời. Trải qua mọi thời đại, vẫn còn đó những người khước từ lời mời gọi nên thánh để được hưởng Nước Trời.
Nơi người Do Thái vào thời Chúa Giêsu, vẫn tồn tại một não trạng “tự tôn”, cho rằng Thiên Chúa là của riêng họ và chỉ có họ mới được hưởng hạnh phúc Nước Trời. Qua dụ ngôn tiệc cưới, Chúa Giêsu muốn khẳng định: Người Do Thái hay dân ngoại, bất kỳ ai tin vào Chúa và thực thi Lời Ngài thì sẽ được vào dự “tiệc cưới”, tức là được Thiên Chúa yêu thương và cứu độ. Như thế, là người Do Thái không có nghĩa đương nhiên được một “tấm vé” để vào Nước Trời, nhưng hạnh phúc Nước Trời là kết quả của một cuộc đời cố gắng không ngừng để diệt trừ tội lỗi, gia tăng nhân đức.
Giáo huấn của Chúa Giêsu, Nước Trời được gửi đến cho toàn thể nhân loại. Chính Người là Tin Mừng cho muôn dân. Tất cả mọi người đang sống dưới gầm trời này, dù muốn dù không, họ cũng thuộc về Thiên Chúa. Ai ai cũng được mời gọi gia nhập Dân Chúa là Giáo Hội, để đón nhận giáo huấn của Chúa và làm cho sinh hoa kết trái trong cuộc đời, tức là được dự tiệc cưới Thiên Chúa sẽ tổ chức vào lúc tận cùng thời gian. Có nhiều người dù chưa được rửa tội, nhưng họ cũng thuộc về Chúa khi họ sống theo tiếng nói của lương tâm và sống công bằng ngay thẳng trong cách đối xử với anh chị em. Họ là những người đang kiếm tìm Thiên Chúa qua việc kiếm tìm Chân Lý và những giá trị vĩnh cửu làm tâm điểm cho cuộc đời mình. Thánh Phaolô là một mẫu gương cho chúng ta trong đời sống Đức tin. Người đã khẳng định: Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết. Quả vậy, nhờ cậy trông vào Chúa, chúng ta sẽ vượt thắng mọi gian nan, chấp nhận mọi hoàn cảnh và kiên trì trong mọi quẫn bách (Bài đọc II).
Được đọc dưới ánh sáng Phục Sinh, dụ ngôn tiệc cưới còn giúp cho các độc giả liên tưởng đến hình ảnh Chúa Giêsu là vị Hoàng Tử của Thiên Chúa Cha. Ngày hôm nay, Chúa Cha vẫn đang tổ chức tiệc cưới cho Con Một mình. Ai trong chúng ta cũng được mời. Tuy vậy, một điều kiện không thể thiếu khi dự tiệc cưới là chúng ta phải có y phục lễ cưới. Y phục lễ cưới mà Chúa Giêsu muốn nói tới, đó là tâm tình yêu mến, sự tuân phục Thánh ý Chúa và tình huynh đệ đối với anh chị em mình. Y phục lễ cưới được nhắc tới trong bài Tin Mừng như một điều kiện và một kiến thức căn bản, không ai có thể biện minh rằng mình không biết. Điều đó cho thấy, mỗi chúng ta đang sống trong Giáo Hội, “y phục lễ cưới” chính là tình trạng thường xuyên của một tâm hồn thánh thiện, mến Chúa yêu người và mong muốn những điều tốt đẹp cho anh chị em đang sống xung quanh mình. Ngày lãnh nhận phép Thanh Tẩy, chúng ta được vị linh mục chủ sự mặc cho một chiếc áo trắng với lời nhắn nhủ hãy “mặc lấy Chúa Kitô – Mặc lấy con người mới” (x. Ep 4,24). Như thế, chiếc áo cưới chúng ta mặc hằng ngày là chính Chúa Giêsu, Đấng đã yêu thương ta và chịu chết vì ta. Nhờ tấm áo cưới này mà chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Người.
Trở lại với những vấn nạn được đặt ra ở trên, chúng ta tìm thấy câu trả lời: tương lai của chúng ta là hạnh phúc Nước Trời. Số phận kẻ dữ và người lành không giống nhau. Tiệc cưới chính là hình ảnh để diễn tả cùng đích cuộc đời. Ông chủ là Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên chúng ta và mong muốn cho chúng ta được hạnh phúc.
D/ Lm. Inhaxiô Hồ Thông
Qua hình ảnh bàn tiệc, các ngôn sứ đã thử mô tả niềm vui tương lai của những người công chính trong thành thánh Giê-ru-sa-lem thiên quốc, đồng thời ơn cứu độ và muôn vàn thiên ân đa dạng vào thời Thiên Sai. Bàn tiệc thời Cánh Chung hay bàn tiệc thời Thiên Sai trộn lẫn với nhau ít nhiều trong cùng một biểu tượng.
Is 25: 6-9
Trong Bài Đọc I, được trích từ “sấm ngôn khải huyền của I-sai-a”, bàn tiệc mà Thiên Chúa thiết đãi muôn dân là bàn tiệc thời Cánh Chung cũng là bàn tiệc thời Thiên Sai. Đây là niềm hân hoan khôn tả của những người được tuyển chọn, vì mọi đau khổ và sự chết đều hoàn toàn biến mất trong Nước Trời.
Pl 4: 12-14, 19-20
Trong thư gởi tín hữu Phi-líp-phê, thánh Phao-lô bày tỏ tấm lòng tri ân đối với cộng đoàn Phi-líp-phê này. Trái với thông lệ vốn có của mình, thánh Phao-lô đã chấp nhận sự giúp đỡ vật chất của họ khi thánh nhân gặp phải sự khốn khó trong cảnh giam cầm.
Mt 22: 1-14
Tin Mừng thuật lại dụ ngôn tiệc cưới của hoàng tử được Đức Vua thiết đãi cho các vị quan khách thân hữu của mình. Tuy nhiên các vị quan khách lại từ chối, vì thế lời mời được gởi đến tất cả mọi người.
BÀI ĐỌC I (Is 25: 6-9)
Trong văn mạch của các chương 24-27, bản văn được trích dẫn là một phân đoạn đặc thù của sách I-sai-a, thuộc thể loại sấm ngôn khải huyền. Người ta nghi ngờ tác giả của phân đoạn này không phải là ngôn sứ I-sai-a, bởi vì văn phong và tư tưởng thuộc thời đại sau này. Viễn cảnh của đoạn văn này là thời Cánh Chung (25: 6-8) và thời Thiên Sai (25: 9). Hình ảnh bàn tiệc Thiên Chúa thiết đãi muôn dân diễn tả ơn cứu độ phổ quát và niềm hân hoan khôn tả của những người được tuyển chọn.
- Viễn cảnh thời Cánh Chung
“Ngày ấy, trên núi này,
Đức Chúa các đạo binh sẽ thiết tiệc đãi muôn dân một bữa tiệc” (Is 25: 6a)
“Trên núi này”, đó là ngọn đồi Si-on trên đó Đền Thờ được xây dựng. Theo ngôn ngữ khải huyền, “núi Si-on” chỉ thành thánh Giê-ru-sa-lem thiên quốc, nơi Thiên Chúa thiết tiệc đãi “muôn dân muôn nước”. Ơn gọi phổ quát của núi thánh đã được ngôn sứ I-sai-a loan báo, chính xác vào thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên:
“Trong tương lai, núi Nhà Đức Chúa
đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao,
vươn mình trên hết mọi ngọn đồi.
Dân dân lũ lượt đưa nhau tới,
nước nước dập dìu kéo nhau đi.” (Is 2: 1-5).
Cũng chính vị ngôn sứ này nhắc lại:
“Vì Đức Chúa các đạo binh hiển trị
trên núi Si-on và tại Giê-ru-sa-lem” (Is 24: 23).
Vào thời hậu lưu đày, ngôn sứ Da-ca-ria cũng loan báo theo cùng một cách như thế: “Các dân đông đảo và các nước hùng cường sẽ đến tìm kiếm Đức Chúa các đạo binh ở Giê-ru-sa-lem” (Dcr 8: 22). Thời cánh chung sẽ là giờ Đức Chúa hiển trị. Bữa tiệc cánh chung là bữa tiệc của Đức Vua. Đức Giê-su sẽ lấy lại chủ đề này trong dụ ngôn tiệc cưới của hoàng tử.
Chất lượng tuyệt hảo của thức ăn thức uống nhấn mạnh tấm thịnh tình của Thiên Chúa đối với các quan khách mời:
“Tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon,
thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế” (Is 25: 6b).
Cho đến lúc đó, trong các hy lễ, “thịt béo” luôn luôn được dành riêng để dâng tiến Chúa (Lv 3: 3-5, 9-11, 14-15). Điều đó muốn nói lên rằng con người sẽ được dự phần vào những thiện hảo được dành riêng cho chỉ một mình Thiên Chúa.
Trong Kinh Thánh, rượu luôn luôn là dấu chỉ của niềm vui. Vào dịp này, đây là một niềm vui vĩnh viễn bởi vì:
“Trên núi này, Người sẽ xé bỏ chiếc khăn che phủ mọi dân,
và tấm màn trùm lên muôn nước.
Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần
Đức Chúa là Chúa Thượng sẽ lau khô dòng lệ
trên khuôn mặt mọi người,
và trên toàn cõi đất, Người sẽ xóa sạch
nỗi ô nhục của dân Người. Đức Chúa phán như vậy” (Is 25: 7-8)
Sách Khải Huyền Gioan sẽ lấy lại viễn cảnh chứa chan hy vọng này: “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21: 4).
- 2.Viễn cảnh thời Thiên Sai(25: 9)
Sấm ngôn hoàn tất với cuộc hội ngộ vượt quá niềm mong đợi:
“Ngày ấy, người ta sẽ nói: ‘Đây là Thiên Chúa chúng ta,
chúng ta từng trong đợi Người, và được Người thương cứu độ” (25: 9a)
và một niềm hân hoan chưa bao giờ dám ước mơ:
“Chính Người là Đức Chúa chúng ta từng đợi trông.
Nào chúng ta hoan hỷ vui mừng bởi được Người cứu độ” (25: 9b).
Niềm vui viên mãn, sự no thỏa dư dật cũng sẽ là những dấu hiệu của thời Thiên Sai như tiệc cưới Ca-na hay phép lạ hóa bánh ra nhiều, cả hai đều là dấu chỉ của bàn tiệc thời Thiên Sai đích thật là bàn tiệc Thánh Thể: “Hãy cầm lấy mà ăn”.
BÀI ĐỌC II (Pl 4: 12-14, 19-20).
Với đoạn trích này, chúng ta kết thúc thư của thánh Phao-lô gởi tín hữu Phi-líp-phê. Xin nhắc lại rằng thánh Phao-lô viết bức thư này khi thánh nhân đang sống trong cảnh giam cầm ở Rô-ma hoặc ở Ê-phê-xô. Các tín hữu Phi-líp-phê đã giúp đỡ ngài, vả lại đây không là lần đầu tiên (Pl 4: 16). Quả thật, các tín hữu Phi-líp-phê là cộng đoàn độc nhất mà thánh nhân đã không từ chối sự giúp đỡ vật chất của họ. Thánh nhân luôn luôn bận lòng là không bao giờ để cho mình phải trở thành gánh nặng cho các cộng đoàn mà ngài loan báo Tin Mừng để không bao giờ làm hại đến sứ vụ của ngài. Để người ta có thể tin rằng lời loan báo Tin Mừng của ngài là vô vị lợi, thánh nhân đã không ngừng lặp đi lặp lại Tin Mừng mà ngài đem đến là một ân ban nhưng không. Với tư cách là “tôi tớ” của Đức Kitô, thánh nhân không mong chờ bất kỳ bổng lộc nào. Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, thánh nhân đã lao động bằng chính bàn tay của mình để chi cấp cho nhu cầu của mình: “Chúng tôi phải vất vả và tự tay làm lụng. Bị nguyền rủa, chúng tôi chúc lành; bị bắt bớ, chúng tôi cam chịu” (1Cr 4: 12). Khi từ chối sự giúp đỡ của các tín hữu, thánh Phao-lô muốn họ hiểu rằng ngài không muốn bị ràng buộc với bất cứ ai và quyết tâm gìn giữ sự tự do của mình để Tin Mừng mà ngài rao giảng không gây trở ngại cho bất kỳ ai, như ngài viết cho các tín hữu Cô-rin-tô: “Chúng tôi chịu đựng tất cả mọi sự để khỏi gây trở ngại cho Tin Mừng của Đức Kitô” (1Cr 9: 12).
Tuy nhiên, do mối quan hệ thân tình và niềm tin tưởng gắn bó của thánh nhân với các tín hữu Phi-líp-phê, thánh Phao-lô chấp nhận sự giúp đỡ của họ, vì biết rằng nghĩa cử của họ biểu lộ tấm lòng yêu mến chân thành đối với ngài. Thánh Phao-lô tế nhị cám ơn họ và xin họ đừng bận lòng thái quá đối với ngài, vì thánh nhân biết hài lòng trong mọi sự và thích nghi với mọi hoàn cảnh. Ở đây, người ta có thể gặp lại cách nói tương tự dưới ngòi bút của các triết gia khắc kỷ như Ēpictète hay Sénèque. Nhưng trong khi các hiền triết xưa múc lấy nguồn bình an tự tại nơi chính mình, thánh Phao-lô đánh dấu sự khác biệt: thánh nhân múc lấy sức mạnh của mình chỉ từ Đức Kitô, Đấng đang sống trong thánh nhân.
Thánh Phao-lô bày tỏ tấm lòng biết ơn chân thành của ngài đối với các tín hữu Phi-líp-phê, bởi vì thánh nhân biết rất rõ cộng đoàn Phi-líp-phê không giàu có gì. Quả thật, trong bức thư thứ hai gởi tín hữu Cô-rin-tô về việc lạc quyên giúp Giáo Hội Giê-ru-sa-lem, chúng ta đọc thấy những lời này khi thánh nhân nói về các tín hữu Phi-líp-phê: “Trải qua bao nỗi gian truân, họ vẫn chan chứa niềm vui; giữa cảnh khó nghèo cùng cực, họ trở nên những người giàu lòng quảng đại. Họ tự nguyện theo sức họ, và tôi xin làm chứng là quá sức họ nữa” (2Cr 8: 2-3). Dù không muốn nhận bất kỳ sự giúp đỡ của bất cứ ai, thánh Phao-lô biết rằng những quà tặng của các tín hữu Phi-líp-phê vượt quá con người của ngài. Chúng đẹp lòng Thiên Chúa. Đó thật sự là một sự giàu có tinh thần. Thánh nhân có thể nói với các tín hữu Phi-líp-phê: “Họ đầy công đức vì những việc lành và bố thí họ đã làm”, như thánh Lu-ca nói về bà Ta-bi-tha ở Gia-phô: “Bà này đầy công đức vì những việc lành và bố thí bà đã làm” (Cv 9: 36). Vì thế, họ phải tôn vinh Thiên Chúa.
Trong phần cuối, trước tiên thánh nhân nói về “Thiên Chúa của tôi”, vì Thiên Chúa sẽ thay thánh nhân trả công bội hậu cho những người làm phúc cho thánh nhân; tiếp đó “Thiên Chúa là Cha chúng ta”, vì Thiên Chúa là Cha đầy lòng từ bi nhân hậu sẽ săn sóc các tín hữu Phi-líp-phê thân yêu của thánh nhân.
TIN MỪNG (Mt 22: 1-14).
Dụ ngôn “tiệc cưới” hôm nay cùng với hai dụ ngôn đi trước: “hai người con” và “những tá điền gian ác”, hình thành nên một bức tranh bộ ba theo cùng một chủ đề: vì bất trung với sứ mạng của mình, dân được tuyển chọn sẽ được thay thế bởi lương dân. Tuy nhiên, có một sự tiến triển: Dụ ngôn “tiệc cưới” nhấn mạnh ơn cứu độ phổ quát. Dụ ngôn này chứa đựng hai bài học: “tiệc thời Thiên Sai” (22: 1-10) và “tiệc thời Cánh Chung” (22: 11-14), cả hai viễn cảnh này rất thường được đặt chồng chéo lên nhau (như trong trường hợp Bài Đọc I).
- Tiệc thời Thiên Sai(22: 1-10)
Như trong sấm ngôn khải huyền của Bài Đọc I, hình ảnh bàn tiệc gợi ra sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân Ngài trong niềm vui cứu độ. Trong dụ ngôn, Đức Vua đại diện Thiên Chúa, Người Con đại diện Đấng Mê-si-a, và tiệc cưới biểu tượng giao ước mới, giao ước vĩnh viễn của Thiên Chúa với nhân loại. Nhưng các quan khách được mời không thèm đếm xỉa tới giao ước mới này, đó là dân Ít-ra-en, họ từ chối nhận ra Người Con là Đấng Mê-si-a. Vài khách mời còn đi xa hơn nữa, họ ngược đãi và sát hại các gia nhân của vua, tức là các ngôn sứ thời Cựu Ước và các tông đồ thời Tân Ước.
“Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu hủy thành phố của chúng”: Thái độ như thế được đặt vào trong bối cảnh Kinh Thánh: những án phạt của Đức Chúa, nhưng dường như ở đây là một trong những lời tiên báo trực tiếp của Đức Giê-su về biến cố đạo quân Rô-ma tàn phá Giê-ru-sa-lem vào năm 70 sau Công Nguyên. Vài nhà chú giải thấy ở đây không là một lời tiên báo, nhưng lời nhắc nhở về một biến cố đã xảy ra. Tuy nhiên, trong câu chuyện đối chiếu của Lu-ca (14: 15-24), không có chi tiết này. Vì thế, người ta có thể nghĩ chi tiết này đã được thêm vào Tin Mừng Mát-thêu sau các biến cố này.
Các quan khách đã được mời nhưng không đến. Mỗi người đã theo đuổi lợi ích riêng của mình. Họ đã không đáp trả lời mời, từ chối dự phần vào vương quốc thiên sai, hình ảnh của Giáo Hội.
Thành phố bị thiêu hủy, tuy nhiên, tiệc cưới vẫn được tiến hành. Các quan khách từ chối lời mời được thay thế. Lời mời gọi được vang lên khắp các ngã đường: “Vậy các ngươi đi ra các ngã đường, gặp ai thì mời hết vào tiệc cưới”. Dụ ngôn nhấn mạnh tính nhưng không của lời mời gọi: Gia nhân liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại”. Như vậy, toàn thể nhân loại, không phân biệt chủng tộc, được mời gọi thế chỗ dân Ít-ra-en bất trung.
Trong cùng một câu chuyện, thánh Lu-ca ghi nhận các đầy tớ ra các ngã đường đến hai lần (Lc 14: 21-24). Trong lần thứ nhất, các đầy tớ mời các người nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt vào tham dự tiệc cưới; trong lần thứ hai, tất cả những khách qua đường. Có lẽ thánh Lu-ca đã nghĩ trước hết đến những “người nghèo của Đức Chúa”, những người mà chính Đức Giê-su đã ưu ái đặc biệt; còn họ đã hoan hỉ tiếp đón Tin Mừng và dự phần vào niềm vui thời Thiên Sai, vì thế, họ không thể nào bị loại ra ngoài. Hạng người thứ hai là lương dân, đây là nét tinh tế của thánh Lu-ca khi đề cập đến hạng người này.
- Tiệc thời Cánh Chung(22: 11-14)
Từ tiệc thời Thiên Sai, dụ ngôn chuyển sang tiệc thời Cánh Chung. Vả lại, dụ ngôn ngắn về một khách mời bị loại trừ có thể tự ban đầu đã là một dụ ngôn độc lập. Quả thật, có sự khác biệt đáng kể giữa phần trước và phần tiếp theo này. Trong bàn tiệc thời Thiên Sai, mọi người đều được mời tham dự, dù tốt hay xấu, công chính hay tội lỗi, dân Do thái hay dân ngoại. Thật ra, đó không phải là lời mời gọi của Đấng Thiên Sai đặc biệt gởi đến những người tội lỗi hay sao? Trái lại, trong bàn tiệc thời Cánh Chung, nghĩa là trong Nước Trời, người ta chỉ được phép dự tiệc khi mặc y phục của những người công chính. Đức Vua nói: “Này bạn, làm sao bạn vào đây mà không có y phục lễ cưới?”. Trong Tin Mừng Mát-thêu, lời chất vấn này luôn luôn hàm chứa sắc thái khiển trách, như ông chủ vườn nho đáp lại lời kêu ca của người thợ làm vườn nho ngay từ sáng sớm: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn” (Mt 20: 13), hay Đức Giê-su nói với ông Giu-đa, kẻ dẫn người đến bắt Ngài: “Này bạn, bạn đến đây làm gì thì cứ làm đi” (Mt 26: 50).
Ấy vậy, trong dụ ngôn này, làm thế nào có thể khiển trách người khách này không mặc y phục lễ cưới khi anh ta được mời cách bất ngờ từ ngoài đường vào phòng tiệc? Vài nhà chuyên môn giải thích rằng tại vài dân tộc Đông Phương, gia chủ đã tiên liệu vài y phục lễ cưới cho khách mời ở lối vào tiệc cưới. Tuy nhiên, một tập tục như vậy không được chứng thực ở Ít-ra-en. Vì thế, không nên quá coi trọng vài chi tiết nhỏ nhặt của dụ ngôn. Ý nghĩa thì rõ ràng. Người ta không được dự phần vào bàn tiệc Nước Trời nếu như đã không chu toàn những đòi hỏi sứ điệp Tin Mừng.
Câu cuối: “Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít” rõ ràng không ăn nhập với toàn bộ dụ ngôn trong đó có một số lượng lớn khách mời dự tiệc trong khi chỉ riêng một người bị loại. Đúng hơn lời cuối này có liên quan đến phần thứ nhất của dụ ngôn, theo đó có ít người dân Ít-ra-en, dân được tuyển chọn, được dự phần vào bàn tiệc thời Thiên Sai, trong khi so sánh với muôn dân muôn nước hân hoan tiếp đón Tin Mừng và gia nhập Giáo Hội.
E/ Những bài suy niệm khác
