CHƯƠNG IV CONG NGƯỜI VỚI XÃ HỘI

I. Chỗ Đứng Trung Tâm của Nhân Vị

118. Theo nguyên tắc cơ bản của quan niệm này – như thấy từ những gì chúng tôi đã nói cho tới đây – những hữu thể nhân linh là và phải là nền tảng, mục đích và chủ thể của tất cả mọi cơ chế biểu lộ sự sống xã hội. Mỗi một hữu thể nhân linh, vì là cái gì nó là, phải được xem xét theo bản tính xã hội từ thực chất (intrinsè que) và trên bình diện quan phòng nó được cất lên trật tự siêu nhiên. (Mater et Magistra, n. 219)

119. Ngay trong đời sống kinh tế và xã hội, phẩm giá cũng như ơn gọi toàn diện của con người và lợi ích của toàn thể xã hội cũng phải được tôn trọng và thăng tiến. Vì con người là tác giả, là tâm điểm và là cứu cánh của tất cả đời sống kinh tế xã hội. (Gaudium et Spes n. 63)

120. Con người, đúng theo sự cởi mở từ bên trong trí tuệ và cũng theo biết bao nhiêu nhu cầu khác biệt của thân xác và cuộc sống tại thế, vẫn viết nên lịch sử riêng tư kia qua rất nhiều liên hệ, tiếp xúc, hoàn cảnh, cơ cấu xã hội kết mình với những người khác; và con người làm điều ấy từ giây phút đầu tiên hiện hữu trên trái đất, từ giây phút thành thai và sinh ra. Con người, trong chân lý đầy đủ của cuộc sống mình, của bản thể riêng mình, và đồng thời là của bản thể cộng đồng và xã hội của mình – trong phạm vi gia đình, bên trong những xã hội và những cảnh ngộ khác biệt, trong khuôn khổ quốc gia hay dân tộc của mình, (và có lẽ còn hơn nữa là trong khuôn khổ bộ lạc hay sắc tộc của mình), ngay cả trong khuôn khổ toàn thể nhân loại- con người đó là con đường trước tiên mà Giáo Hội phải đi qua khi thực hiện sứ mệnh của mình, con người đó là con đường trước tiên và cơ bản của Giáo Hội, con đường đã do chính Đức Kitô vạch ra, con đường đi ngang qua, một cách bất biến, mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Độ. (Redemptor Hominis, n. 14 -43)

121. Nhân vị là nền tảng và là cùng đích của trật tự xã hội, bởi vì nhân vị là chủ thể những quyền bất khả nhượng nó không nhận từ bên ngoài, nhưng những quyền đó phát xuất từ bản tính của nó: không có gì cũng không có ai có thể phá huỷ những quyền đó, không một cưỡng bức nào bên ngoài có thể tiêu diệt chúng, bởi vì chúng đâm rễ sâu trong phần nhân bản nhất của nhân vị. Tương tự như thế, nhân vị không hạn định trong những yếu tố xã hội, văn hóa, và lịch sử của nó, bởi vì đặc tính của con người có một linh hồn thiêng liêng, là hướng về một cùng đích vượt xa những hoàn cảnh hay thay đổi của đời sống mình. Không một quyền lực nhân bản nào có thể chống lại sự phát triển của con người xét như là nhân vị. (Sứ điệp ngày thế giới hoà bình, 1988, n. 1)

II. Một Xã Hội Xây Dựng Trên Chân Lý

122. Đó là lý do tại sao một xã hội chỉ được chỉnh đốn đúng mức, mang phúc lợi, biết tôn trọng nhân vị, nếu nó được xây dựng trên chân lý, theo lời cảnh cáo của thánh Phaolô: “Anh em hãy cởi bỏ sự gian dối, mỗi người trong anh em hãy nói sự thật với người thân cận, vì chúng ta là phần thân thể của nhau” (Ep 4, 25). Điều đó giả thiết rằng người ta thành thật nhìn nhận các quyền và bổn phận của nhau. (Pacem in Terris, n. 35)

123. Chỉ một mình Thiên Chúa, Sự Thiện tối thượng, mới là nền tảng bất khả chuyển lay và là điều kiện bất khả thay thế của đời sống luân lý, tức của các giới răn và đặc biệt của các giới răn tiêu cực vốn luôn luôn và trong mọi trường hợp ngăn cấm những hành vi bất khả dung hợp với phẩm giá của mỗi một con người. Như thế Sự Thiện tối thượng và điều thiện luân lý giao nhau trong chân lý, chân lý của Thiên Chúa Tạo Hoa và Cứu Chuộc, chân lý của con người được Chúa tạo dựng và được Thiên Chúa cứu chuộc. Chỉ trên chân lý ấy mới có thể xây dựng một xã hội đổi mới và mới giải quyết được những vấn đề phức tạp và gay cấn đang làm cho xã hội lung lay mà vấn đề số một là làm sao thắng vượt các thứ hình thức chuyên chế chủ nghĩa dị biệt để mở lối cho tự do đích thực của con người. “Chủ nghĩa chuyên chế phát sinh từ hành động phủ nhận chân lý hiểu theo nghĩa khách quan: nếu không có chân lý siêu việt mà nhờ tuân phục
nó con người có thể đạt tới căn tính tròn đầy của mình, thì trong những tình cảnh này không tài nào có được một nguyên lý vững chắc để bảo đảm cho những mối quan hệ công bằng giữa con người với nhau. Những lợi ích của họ xét theo giai cấp, theo nhóm hoặc theo quốc gia không thể nào không đưa họ đến chỗ đối nghịch với nhau (CA, n. 44). (Veritatis Splendor, n. 99)

124. Những tương quan giữa các cộng đồng chính trị phải theo chân lý. Chân lý đòi hỏi trước hết là người ta phải loại trừ tất cả dấu vết kỳ thị chủng tộc trong các tương quan này; và sau đó người ta phải thi hành nguyên tắc là tất cả mọi cộng đồng chính trị đều bình đẳng trong phẩm giá nguyên thuỷ. Mỗi một cộng đồng có quyền sống, quyền phát triển, quyền chiếm hữu những phương tiện cần thiết để thực hiện điều đó, quyền lãnh trách nhiệm ưu tiên để vận dụng chúng; và mỗi cộng đồng có thể xin cách hợp lý được hưởng tiếng tốt và nhận lấy những danh dự xứng đáng cho mình. (Pacem in Terris, 86)

125. Dưới ánh sáng đức tin, sự liên đới không chấm dứt ở nơi mình nhưng tiến xa hơn, đạt tới những chiều kích đặc thù của Kitô giáo, đó là tính hoàn toàn nhưng không, sự tha thứ và hoà giải. Lúc đó người lân cận không còn chỉ là một người có những quyền lợi và được bình đẳng trên cơ bản với mọi người, mà y trở thành hình ảnh sống động của Thiên Chúa Cha, được Máu Chúa Kitô cứu chuộc và là đối tượng của hành động không ngừng của Chúa Thánh Thần. Vì vậy người đó phải được yêu mến, ngay cả khi người ấy là một thù địch, với tình yêu mà Chúa yêu y, và người ta phải sẵn sàng hy sinh cho y ngay cả mạng sống: “Hy sinh mạng sống cho anh em mình” (x. 1 Ga 3, 16).

Lúc đó, ý thức về Chúa là Cha chung, về mọi người là anh em trong Chúa Kitô, “những người con trong người Con”, về sự hiện diện và về hành động ban sự sống của Chúa Thánh Thần, làm cho cái nhìn của chúng ta trên thế giới như có một tiêu chuẩn mới để giải thích. Xa hơn những liên lạc máu mủ và tự nhiên, vốn đã mạnh và chặt chẽ biết bao dưới ánh sáng của đức tin, còn hiện ra một mẫu hiệp nhất nhân loại mới mà cuối cùng sự liên đới phải dựa theo. Cái mẫu hiệp nhất tối thượng đó, phản ảnh đời sống thân mật Ba Ngôi Thiên Chúa, là cái mà chúng ta, Kitô hũu, gọi là hiệp thông. Sự hiệp thông đặc thù Kitô đó, được bảo vệ kỹ càng, trải rộng và phong phú hoa nhờ ơn Chúa, là linh hồn của ơn gọi Giáo Hội phải nên “bí tích” theo nghĩa đã trình bày. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 40)

III. Tình Liên Đới

126. Liên đới không phải là một tình cảm động lòng thương mơ hồ hay xúc động hời hợt, trước những đau khổ của bao nhiêu người xa gần. Trái lại, đó là cái quyết tâm bền vững lo cho công ích, nghĩa là cho ích lợi của tất cả và của từng người, bởi vì tất cả chúng ta đều thực sự có trách nhiệm về tất cả mọi người. Một quyết tâm như vậy dựa trên xác tín vững chắc rằng việc phát triển đầy đủ bị ngăn trở bởi lòng ham hố lợi nhuận và lòng thèm khát quyền bính nói ở trên. Những thái độ và những “cơ cấu tội lỗi” này, chỉ có thể thắng được – dĩ nhiên với ơn Chúa – nhờ một thái độ hoàn toàn đối nghịch: dấn thân lo cho lợi ích tha nhân cách sẵn sàng, theo nghĩa Tin Mừng nói, “chết đi” cho người khác thay vì khai thác, phục vụ thay vì đàn áp để mưu lợi riêng. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 38)

127. Trong tinh thần liên đới và với những phương tiện đối thoại, chúng ta sẽ học: lòng tôn trọng tất cả mọi nhân vị; lòng
tôn trọng các giá trị chính hiệu và những nền văn hóa nơi kẻ khác; lòng tôn trọng quyền tự trị chính đáng và quyền tự quyết của những kẻ khác; chúng ta sẽ học: nhìn xa hơn bản thân chúng ta, để hiểu và nâng đỡ những gì tốt nơi kẻ khác; hiến những nguồn lợi riêng chúng ta trong sự liên đới xã hội giúp phát triển và tăng trưởng, dựa trên đức công bình và chân lý; thiết lập những cơ cấu biến sự liên đới xã hội và sự đối thoại trở nên những đặc tính bền vững cho thế giới chúng ta đang sống. (Sứ điệp ngày thế giới hoà bình, 1986, n. 5)

128. Liên đới không phải chỉ là bổn phận giữa người với người, mà còn là bổn phận giữa các dân tộc với dân tộc: Các dân tộc đã phát triển có bổn phận rất khẩn cấp là phải giúp các dân tộc đang phát triển” (GS, n. 86). Phải áp dụng lời giáo huấn Công Đồng này. Đành rằng một dân tộc có quyền hưởng dụng ưu tiên tài nguyên thiên nhiên cũng như của cải do chính mình làm ra. Nhưng không phải vì thế mà dân tộc đó giữ lấy tài sản cho một mình mình hưởng dụng. Mỗi dân tộc đều phải sản xuất nhiều hơn và khá hơn, để cho mọi người dân trong nước đó được một mức sống xứng với phẩm giá con người và đồng thời để giúp nhân loại cùng phát triển. Khi còn có nhiều nước kém phát triển mỗi ngày một đau khổ, thì phải coi là chuyện thường, nếu một nước giàu đem nhường một phần tài sản của mình để giúp các
nước đó; cũng là chuyện thường khi một nước tiên tiến đào tạo giáo sư, kỹ sư, chuyên viên, bác học để cho họ đem hiểu biết và kinh nghiệm phục vụ các nước đó. (Populorum Progressio, n, 48)

129. Để vượt qua đầu óc cá nhân chủ nghĩa đang lan tràn vào thời nay, cần có sự dấn thân cụ thể trong công tác liên đới và bác ái, khởi sự ngay từ trong gia đình với việc vợ chồng nâng đỡ nhau và các thế hệ săn sóc cho nhau. Theo đó gia đình cũng có thể được gọi là một cộng đồng lao động và liên đới. (Centesimuc Annus, n. 49)

130. Trên con đường ấy, tất cả mọi người chúng ta đều liên đới. Do đó, Chúng tôi thấy có bổn phận nhắc nhở mọi người về thảm trạng lớn lao ấy và về công cuộc phải cấp bách thể hiện. Giờ hành động bây giờ đã điểm: sự sống của bao trẻ em vô tội, hy vọng của bao nhiêu gia đình ước muốn được một điều kiện sống nhân bản, hoà bình thế giới, văn minh nhân loại đang bị đe doạ. Hết thảy mọi người và hết thảy mọi dân tộc đều phải lãnh lấy trách nhiệm. (Populorum Progressio, n. 80)

131. Việc thực hiện liên đới bên trong mọi xã hội là một cái gì có thể chấp nhận được, khi các thành phần nhìn nhận nhau như những nhân vị. Những ai có thế lực hơn vì có nhiều của cải và hưởng nhiều dịch vụ công cộng hơn, phải thấy có trách nhiệm đối với những người yếu kém hơn và phải sẵn sàng chia sẻ với họ những gì mình có. Về phần mình, những người yếu kém hơn, trong cùng một hướng liên đới, không nên có một thái độ thuần tuý tiêu cực hoặc phá hoại xã hội, nhưng làm những gì thuộc phần mình vì ích lợi của mọi người, trong khi vẫn bênh vực những quyền chính đáng của mình. Các nhóm trung gian, về phần mình, không được chỉ quan tâm cách ích kỷ tới những quyền lợi riêng của mình, nhưng phải tôn trọng quyền lợi kẻ khác. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 39)

132. Như vậy, nguyên tắc liên đới, như người ta nói hôm nay, mà tôi đã nhắc tới trong thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (x. nn. 38-40), vừa có giá trị trong trật tự nội bộ của mỗi quốc gia và cả trong trật tự quốc tế, được coi như một trong những nguyên tắc cơ bản trong quan điểm của Kitô giáo về tổ chức xã hội và chính trị. Nguyên tắc này nhiều lần được Đức Lêô XIII nói tới, dưới danh từ “thân hữu” mà chúng ta đã gặp trong triết lý Hy Lạp. Đức Piô XI nhắc tới điều này bằng một danh từ không kém ý nghĩa hơn là “bác ái xã hội”, đang khi Đức Phaolô VI nới rộng ý niệm này chuyển biến theo nhiều chiều kích mới trong vấn đề xã hội, đã nói về một nền “văn minh tình thương” (x. RN, n. 25; QA, n. 3; Paul VI, Bài giảng bế mạc Năm Thánh, 1975). (Centesimus Annus, n. 10)

133. Sự liên đới giúp chúng ta thấy “tha nhân – người, dân tộc hay quốc gia – không phải như một dụng cụ tầm thường mà người ta không tốn bao nhiêu để khai thác khả năng lao động và sức mạnh thể xác, và vứt bỏ khi không dùng nữa, nhưng như một kẻ “giống mình”, một trợ tá (x. St 2, 18- 20), mà người ta phải cho tham dự, ngang hàng với chúng ta, vào tiệc sống Thiên Chúa dọn cho tất cả mọi người như nhau. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 39)

IV. Tương Trợ

134. Giáo lý của Giáo Hội đã đề ra nguyên tắc tương trợ. Theo nguyên tắc này, “một xã hội cấp cao không được can thiệp vào nội bộ xã hội cấp thấp đến độ tước mất thẩm quyền của nó, nhưng đúng hơn phải nâng đỡ nó khi cần thiết, và giúp nó phối hợp hoạt động với những xã hội khác, để mưu cầu công ích. (CA, n. 48; x. QA, nn. 184-186).

Thiên Chúa không muốn dành cho riêng mình việc thực thi mọi quyền hành. Người trao lại cho mỗi thụ tạo những phần vụ nó có thể thi hành theo khả năng của bản tính riêng. Xã hội loài người phải bắt chước cách lãnh đạo này. Cách Thiên Chúa cai trị thế giới cho thấy Người rất tôn trọng quyền tự do của con người. Đó phải là đường hướng chỉ đạo cho những ai cầm quyền trong các cộng đồng nhân loại. Họ phải xử sự như những thừa tác viên của Chúa Quan Phòng.

Nguyên tắc hỗ trợ nghịch với mọi hình thức duy tập thể, xác định giới hạn cho việc can thiệp của Nhà Nước, hoà hợp các tương quan giữa cá nhân và xã hội, hướng tới việc thiết lập một trật tự quốc tế đích thực. (GLHTCG, nn. 1883-1885)

135. Cũng như bên trong mỗi một cộng đồng chính trị, những tương quan giữa các công quyền với những công dân, những gia đình và những đoàn thể trung gian, phải được chi phối và quân bình bởi nguyên tắc hỗ trợ, thì cũng một nguyên tắc đó phải chi phối những tương quan giữa thẩm quyền công quốc tế với những thẩm quyền công của mỗi quốc gia. Vai trò của thẩm quyền quốc tế là khám xét và giải quyết những vấn đề công ích quốc tế đặt ra trong lãnh vực kinh tế, xã hội, chính trị hay văn hoá. Chính tính phức tạp, tầm rộng và tính khẩn cấp của những vấn đề này, không cho phép những người cai trị của mỗi cộng đồng chính trị được giải quyết chúng tuỳ ý. Như vậy thẩm quyền quốc tế này không có quyền hạn chế hay đòi dành cho mình những hành vi thuộc riêng thẩm quyền của những cộng đồng chính trị
khác. Ngược lại thẩm quyền quốc tế đó phải ra sức khơi dậy trên toàn thể thế giới một tình trạng, trong đó không những
thẩm quyền của mỗi quốc gia, mà còn những cá nhân, và những đoàn thể trung gian, có thể an tâm hơn trong việc hoàn thành nhiệm vụ mình, chu toàn những bổn phận mình và thi hành những quyền hành của mình. (Pacem in Terris, nn. 140-141)

136. Cần đồng ý trước hết là: lãnh vực kinh tế phải do sáng kiến tư nhân điều khiển, hoặc họ hoạt động riêng biệt, hoặc họ hoạt động thành từng tổ hợp đeo đuổi theo một mối lợi chung. (Mater et Magistra, n. 51)

137. Nhưng phải luôn nhớ nguyên tắc này: sự hiện diện của Nhà Nước trong lãnh vực kinh tế, dầu có tính sâu rộng và xâm nhập đến mấy, cũng không có mục đích ngày càng giảm thiểu phạm vi tự do của sáng kiến cá nhân riêng tư, nhưng hoàn toàn ngược lại nó có mục đích bảo đảm cho phạm vi hoạt động này có tầm rộng bao la nhất nếu có thể, nhờ có sự bảo vệ hữu hiệu những quyền cốt yếu của nhân vị, cho tất cả và cho mỗi một người. Và phải ghi nhận giữa những quyền này cái quyền thuộc về mỗi một nhân vị là và vẫn còn thông thường là người có trách nhiệm đầu tiên về sự nuôi sống mình và gia đình mình. Điều đó bao hàm, trong tất cả mọi hệ thống kinh tế, việc cho phép và làm dễ dàng sự thi hành tự do những sinh hoạt sản xuất. (Mater et Magistra, n. 55)

138. Về phương diện này, Rerum Novarum đề ra một đường lối đem tới những cải tổ chính đáng hầu có thể tái lập giá trị của lao động như là một hoạt động tự do của con người. Những cải tổ này bao hàm việc xã hội và quốc gia đều có trách nhiệm, đặc biệt là để bảo vệ giới thợ thuyền tránh khỏi nỗi kinh hoàng bị thất nghiệp. Xét về phương diện lịch sử, việc này đã xảy ra theo hai cách cùng đi về một đường hướng: hoặc qua các chính sách kinh tế nhằm bảo đảm mức phát triển và toàn dụng; hoặc qua việc bảo hiểm về thất nghiệp và những chương trình huấn nghệ có khả năng bảo đảm một sự hoán chuyển êm thắm công nhân từ các khu vực gặp khủng hoảng sang những khu vực đang phát triển …

Nhà Nước phải góp phần một cách trực tiếp lẫn gián việc thực hiện những mục tiêu này. Một cách gián tiếp và phù hợp với nguyên tắc tương trợ, bằng cách tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc tự do thực hiện sinh hoạt kinh tế, đem lại những cơ hội làm việc và những nguồn tài nguyên dồi dào. Một cách trực tiếp và phù hợp với nguyên tắc liên đới, bằng cách bảo vệ những kẻ yếu kém nhất qua việc đặt ra một số những giới hạn về tự trị của các phần tử có quyền ấn định các điều kiện làm việc và bằng cách bảo đảm trong mọi trường hợp một sự trợ giúp tối thiểu cho công nhân bị thất nghiệp. (Centesimus Annus, n. 15)

V. Tham Gia

139. Sự mong ước được bình đẳng và tham gia, muốn cổ võ một kiểu xã hội dân chủ. Người ta đề ra nhiều kiểu, thử nghiệm một số khác; nhưng không kiểu nào thoả mãn hoàn toàn và sự nghiên cứu vấn đề vẫn rộng mở giữa các khuynh hướng ý thức hệ và thực nghiệm. Người Kitô hữu có bổn phận tham gia vào việc nghiên cứu này và vào tổ chức như vào sự sống xã hội chính trị. Là một hữu thể có tính xã hội, con người xây dựng vận mệnh mình trong một loạt những nhóm riêng, để cho mình được hoàn thành và để nên điều kiện cần thiết cho mình phát triển, thì những nhóm đó kêu gọi thiết lập một xã hội rộng rãi hơn, có tính quốc tế, tức là xã hội chính trị. Tất cả sinh hoạt riêng phải được đặt lại trong xã hội mở rộng này và, qua chính sự đó, mang lấy chiều kích của công ích. (Octogesima Adveniens, n. 24)

140. Điều cốt yếu đối với tất cả hữu thể nhân bản là ý thức mình tham gia và chia sẻ cách hữu hiệu những quyết định và
những cố gắng rèn nên vận mạng thế giới. Trong quá khứ, bạo loạn và bất công thường bị khích động trước hình thành sự sống mình. (Sứ điệp ngày thế giới hoà bình, 1985, n. 9)

141. Đó là nhiệm vụ nghiêm túc về công bằng và chân lý không cho phép các nhu cầu cơ bản của con người tiếp tục không được thoả mãn và không cho phép để chết những người đau khổ vì thiếu những nhu cầu ấy. Vả lại, cần giúp đỡ những người yếu kém có được khả năng chuyên môn, được nhập vào những mạng lưới tương quan, được phát triển những tư cách mình để làm tăng giá trị các khả năng và những tài nguyên cá nhân mình. (Centesimus Annus, n. 34)

142. Thiết lập những cơ cấu chính trị pháp lý là điều phù hợp với bản tính con người, vì nhờ đó tất cả mọi công dân, không phân biệt ai, có thể mỗi ngày một có cơ hội tham gia cách tự do và tích cực vào việc thiết lập nền tảng pháp lý của cộng đoàn chính trị, tham gia vào việc điều hành quốc gia và xác định mục tiêu và phạm vi của những cơ quan khác nhau, cũng như tham gia vào việc lựa chọn người cầm quyền … Chính quyền không nên ngăn cản những hiệp hội có tính cách gia đình, xã hội hay văn hoa, những đoàn thể hay tổ chức trung gian, cũng không nên cấm chế những hoạt động hữu hiệu và chính đáng của các tổ chức ấy; nhưng tốt hơn nên sẵn sàng cổ võ, trong trật tự. Về phía người công dân, cá nhân hay đoàn thể, không nên trao cho chính quyền một quyền hành quá lớn, cũng đừng đòi hỏi ở chính quyền những giúp dỡ cũng như những đặc ân quá đáng không phải lúc, vì như thế là làm giảm trách nhiệm của cá nhân, gia đình và cả các đoàn thể xã hội. (Gaudium et Spes, n. 75)

143. Tất cả mọi công dân có quyền tham gia vào đời sống của Cộng Đồng mình: đó là một xác tín được chia sẻ cách chung. Nhưng, quyền nầy trở nên vô hiệu khi tiến trình dân chủ bị mất nghị lực do chế độ ưu đãi và những hiện tượng tham nhũng, không những ngăn trở sự tham gia hợp pháp vào việc xử lý quyền bính, mà còn ngăn cấm việc sử dụng chính đáng những lợi ích và những dịch vụ công cộng. (Sứ điệp ngày thế giới hoà bình, 1999, n. 6. )

144. Cùng một lúc với sự phát triển khoa học và kỹ thuật tiếp tục đảo lộn hoàn cảnh của con người, những kiểu hiểu biết, lao động, hưởng thụ và các tương quan của con người, thì luôn luôn trong những bối cảnh mới này, phát biểu một lòng mong ước kép sinh động hơn theo nhịp phát triển sự thông tin và sự giáo dục của con người: mong ước được bình đẳng, mong ước được tham gia, hai hình thức biểu lộ phẩm giá và sự tự do của con người. (Octogesima Adveniens n. 22)

145. Phẩm giá con người kéo theo quyền tham gia tích cực vào đời sống công cộng và quyền góp phần cá nhân vào thiện ích chung. “Con người, với tư cách con người, thay vì là đối tượng và là một yếu tố tiêu cực của đời sống xã hội, thì là và phải là, vẫn là chủ thể, nền tảng và cùng đích của đời sống xã hội” (Sứ điệp truyền thanh Giáng Sinh, 1994) (Pacem in Terris, n. 26)

VI. Sự Tha Hoa Và Sự Gạt Ra Bên Lề

146. Chủ nghĩa Mác-xít chỉ trích các xã hội tư bản trưởng giả, cho là đã tạo ra sự đánh mất sự sống con người và biến nó thành một món hàng. Lời kết án này dĩ nhiên dựa trên tư tưởng sai lầm và không chính đáng về sự tha hoa, phát xuất từ lãnh vực các mối tương quan giữa sản xuất và sở hữu, nghĩa là đặt nó trên cơ sở vật chất và, hơn nữa, chối bỏ tính cách hợp pháp và giá trị tích cực của các tương quan thị trường ngay cả trong lãnh vực của nó … (Nhưng) sự tha hoa với sự mất ý nghĩa đích thực của cuộc đời, cũng là một thực tế xảy ra tại các xã hội phương Tây. Người ta nhận ra sự kiện này qua mức độ tiêu thụ, khi sự tiêu thụ làm người ta vướng vào mạng lưới các thoả mãn giả tạo và sai lầm, hơn là giúp con người có kinh nghiệm đích thực và cụ thể về nhân tính của mình. Sự tha hóa cũng thấy trong việc làm, khi được tổ chức nhằm bào đảm những thu hoạch và lợi nhuận tối đa mà không quan tâm tới việc người thợ, qua lao
động của họ, có được thăng tiến nhiều hay ít trong tính nhân bản của mình, tuỳ theo cường độ gia tăng của sự con người tham gia vào một cộng đồng liên đới thật sự, hay là sự cô lập con người thêm trầm trọng trong một khối liên hệ gồm có sự cạnh tranh thái quá và những loại trừ lẫn nhau, trong đó con người chỉ được coi như một phương tiện chớ không phải là mục đích. Ý niệm tha hoa cần được xích gần tới cái nhìn về thực tại của Kitô giáo, để vạch trần ở đó sự đảo ngược giữa những phương tiện và mục đích; khi con người không thừa nhận phẩm giá và nét cao quý của nhân vị trong mình hay nơi kẻ khác, thì con người đã tước bỏ khả năng hưởng dụng chính đáng nhân tính của mình và khả
năng thiết lập mối tương quan liên đới và hiệp thông với những người khác mà vì họ Chúa đã dựng nên con người đó.
(Centesimus Annus, 41)

147. Con người thời nay xem như luôn bị đe doạ bởi cái mình làm ra, tức là bởi thành quả của công lao bàn tay mình, và hơn nữa, của công lao trí óc mình, của các xu hướng thuộc ý chí mình. Một cách quá nhanh chóng và nhiều khi bất ngờ, các thành quả của hoạt động đa dạng kia của con người, không chỉ là và không hẳn là đối tượng cho sự “tha hoa”, nghĩa là đơn thuần bị cướp mất khỏi tay kẻ đã làm ra chúng; nhưng ít ra một phần nào, trong hướng có khi gián tiếp của những hiệu quả, các thành quả kia quay lại chống con người. (Redemptor Hominis, n. 15)

148. Vấn nạn luân lý đã nhận được lời giải đáp của Đưc Kitô, không thể loại trừ vấn nạn về tự do, nhưng đặt vấn đề tự do vào ngay giữa trung tâm, bởi lẽ không có luân lý nếu không có tự do. “Con người quay vê điều thiện luôn luôn trong tình trạng tự do” (GS, n. 17). Nhưng tự do nào ? Những con người đương thời với chúng ta “rất ư đề cao” tự do và “hăng say đeo đuổi tự do”, nhưng lại thường “cưng chiều tự do một cách thiếu ngay thẳng”, coi tự do như là quyền được làm bất cứ điều gì, miễn sao tạo được thoả thích, kể cả điều xấu”. Đối lại với họ, Công Đồng trình bày sự “tự do thật” như sau: “Tự do thật là dấu chỉ đãi ngộ nơi con người chứng tỏ con người là hình ảnh của Thiên Chúa. Bởi vì Thiên Chúa đã muốn để cho con người tự bàn hỏi với chính mình (Hc 15, 14) ngõ hầu con người có thể tự mình tìm kiếm Đấng Tạo Hoa và nhờ gắn bó với Ngài một cách tự do mà đạt mức thành toàn trong một tình trạng viên mãn chân phúc”
(GS, n. 17). Nếu trong hành trình truy tầm chân lý, mình có quyền dược tôn trọng, thì trước đó mọi người có luật buộc luân lý nghiêm trọng là tìm kiếm chân lý và, một khi đã nhận biết chân lý, phải gắn bó với chân lý (x. Dignitatis Humanae, n. 2). (Veritatis Splendor, n. 34)

149. Không những người ta không có quyền coi thường, xét theo quan điểm đạo đức, bản chất con người được tạo dựng để hưởng  tự do, nhưng trên thực tế điều đó không thể thực hiện được. Bất cứ nơi nào mà xã hội được tổ chức bằng cách giảm bớt cách độc đoán hay có khi bãi bỏ lãnh vực cần để sự tự do được thực thi cách hợp pháp, thì sẽ đưa tới kết quả là cuộc sống xã hội sẽ dần dần tan rã và đi tới chỗ suy đồi.
(Centesimus Annus, n. 25)

150. Sự tự do là thước đo phẩm giá và vẻ cao cả của con người. Đối với những cá nhân và các dân tộc, sống tự do là một thách đố lớn cho sự tiến triển thiêng liêng con người và cho sức mạnh luân lý các quốc gia. (Diễn văn tại cuộc Họp Khoáng đại lần 5 LHQ, 1995, n. 12)

151. Sự tự do không những là vắng bóng nền độc tài hay đàn áp, cũng không phải là được phép làm gì thì làm. Sự tự do có một “logique” nội tại định tính chất và nâng cao phẩm giá của nó: nó được hướng về chân lý và nó tự thực hiện trong sự tìm kiến và thực hành chân lý. Tách rời khỏi chân lý của nhân vị, thì nó biến thành sự vô kỷ luật trong đời sống cá nhân và, trong đời sống chính trị, thành quyền chuyên chế của những kẻ mạnh nhất hay thành thái độ kiêu ngạo của quyền bính. (Diễn văn tại cuộc họp Khoáng đại lần 5 LHQ, 1995, n. 12)

VII. Tự Do Xã Hội

152. Vì không phải là một ý thức hệ, đức tin Kitô giáo không chủ trương giam hãm các thực tại xã hội và chính trị đổi thay vào một khuôn khổ cứng nhắc, và nhìn nhận rằng cuộc sống con người thể hiện trong lịch sử qua những điều kiện khác biệt và bất toàn. Hơn nữa, Giáo Hội, qua việc luôn luôn xác nhận giá trị siêu việt của con người, lấy việc tôn trọng tự do làm phương châm hành động của mình. (Centesimus Annus, n. 46)

153. Những tương quan giũa các cộng đồng chính trị phải được xử lý trong tự do. Điều này có nghĩa là không một nước nào có quyền làm bất cứ gì để uy hiếp cách bất công những nước khác, hay là để xen cách quá đáng vào những công việc của các nước đó. Ngược lại, tất cả các nước phải đề ra cho mình việc góp phần, cho các nước khác, làm phát triển ý nghĩa những trách nhiệm, khuyến khích những sáng kiến mới và hữu ích, biết tự mình làm thăng tiến sự lớn mạnh của mình trong tất cả các lãnh vực. (Pacem in Terris, n. 120)

154. Chính vì thế mối liên kết không thể tách lìa giữa chân lý và tự do – là phản ảnh của mối liên kết thiết yếu giữa sự khôn ngoan và thánh ý của Thiên Chúa- mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đời sống con người trong khuôn khổ xã hội – kinh tế và xã hội – chính trị. (Veritatis Splendor, n. 99)

VIII. Văn Hoá

155. Giữa sứ điệp cứu độ và văn hóa nhân loại có nhiều mối liên hệ. Thực vậy, khi tự mặc khải cùng dân Ngài cho tới khi tỏ mình đầy đủ trong Chúa Con nhập thể, Thiên Chúa đã nói theo văn hoá của từng thời đại. Cũng vậy, trải qua các thế kỷ sống trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, Giáo Hội đã sử dụng những tài nguyên của các nền văn hóa khác biệt để phổ biến và giải thích cho muôn dân sứ điệp của Chúa Kitô trong khi rao giảng, để tìm tòi và thấu hiểu sâu xa hơn, đễ diễn tả sứ điệp ấy cách tốt đẹp hơn trong các lễ nghi phụng vụ và trong cuộc sống muôn mặt của cộng đoàn các tín hữu. Nhưng đồng thời, Giáo Hội không bị ràng buộc cách độc quyền và bất khả phân ly với một chủng tộc hay quốc gia, với một lối sống đặc thù hoặc một tập tục cũ hay mới nào, vì Giáo Hội được sai đến với mọi dân tộc thuộc mọi nơi và mọi thời. Trung thành với truyền thống riêng và đồng thời ý thức sứ mệnh phổ quát của mình, Giáo Hội có  thể hoà mình với nhiều hình thức văn hoa khác nhau. Nhờ đó, chính Giáo Hội cũng như các nền văn hoa ấy đều được phong phú hơn. Tin Mừng của Chúa Kitô không ngừng đổi mới cuộc sống và văn hoa của con người đã sa ngã, chống đối và khử trừ các sai lầm và tai hoạ phát sinh từ sức quyến rũ thường xuyên của tội lỗi luôn luôn đe doạ. Tin Mừng không ngừng tinh luyện và nâng cao văn hóa các dân tộc. Những đức tính của mọi thời được Tin Mừng làm cho phong phú như từ bên trong, được củng cố, bổ túc và tái tạo trong Chúa Kitô nhờ những ân huệ bởi trời. Như thế trong khi chu toàn bổn phận riêng, Giáo Hội cũng đồng thời thúc đẩy và góp phần vào công cuộc phát triển văn hoá nhân loại; và nhờ hoạt động của mình, ngay cả trong các nghi lễ phụng vụ, Giáo Hội giáo dục cho con người đạt tới tự do nội tâm. (Gaudium et Spes, n. 58)

156. Mọi hoạt động của con người đều có mặt trong một nền văn hóa và tương giao với nền văn hóa đó. Việc hình thành tốt đẹp một nền văn hoá, đòi hỏi sự đóng góp của mọi người bằng óc sáng tạo, trí thông minh và sự thông hiểu về thế giới và con người. Hơn nữa, con người phải biết tự chế, hy sinh, đoàn kết và sẵn sàng cổ võ cho công ích. Như vậy nhiệm vụ trước tiên và quan trọng nhất cần thực hiện ngay trong trái tim con người, và cách thức con người nỗ lực để tạo dựng tương lai của chính mình tuỳ thuộc vào sự hiểu biết về chính con người của mình và định mệnh của mình. (Centesimus Annus n. 51)

157. Giàu hay nghèo, mỗi đất nước đều có một nền văn minh do tiền nhân để lại: đó là những cơ cấu cần có cho đời sống vật chất và những biểu tỏ cao thượng của đời sống tinh thần như nghệ thuật, trí thức và tôn giáo. Nếu những sinh hoạt tinh thần có hàm chứa những giá trị nhân bản đích thực, thì thực là một lầm lẫn lớn, khi bỏ nó để chỉ tìm những thể hiện vật chất kia. Một dân tộc mà làm như thế là bỏ mất cái gì quí giá nhất của mình, và như thế là sống mà bỏ mất lý do của cuộc sống. Lời dạy dỗ sau đây của Chúa Kitô cũng áp dụng cho các dân tộc: “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì” ? (Mt 16, 26) (Populorum Progressio, n. 40)

158. Văn hoa là môi trường sinh động có tính cách quyết định, trong đó con người đến gặp Tin Mừng diện đối diện. Cũng như văn hoá là kết quả xuất phát từ cuộc sống và sinh hoạt của một tập thể nhân loại, thì đối lại cũng chính tập thể nhân loại này lại được khuôn đúc trong một phạm vi rộng bởi chính môi trường văn hoa mà họ đang sinh sống. Nếu con người và xã hội thay đổi, văn hóa cũng sẽ thay đổi theo. Ngược lại, nếu văn hóa đổi thay thì con người và xã hội cũng được văn hoa ấy biến đổi theo. Nhìn trong viễn tượng ấy, ta càng thấy rõ hơn tại sao Phúc Âm hoa và hội nhập văn hoa có liên quan mật thiết và tự nhiên với nhau. Tin Mừng và việc Phúc Âm hoa tất nhiên không đồng nhất với văn hoa; chúng độc lập với văn hoa. Nhưng Nước Thiên Chúa lại đến với những con người đã có liên hệ sâu xa với một nền văn hoa, và không thể xây dựng Nước Thiên Chúa mà không vay mượn một số yếu tố lấy từ các nền văn hóa nhân
loại. (Ecclesia in Asia, n. 21)

159. Khi thi hành sinh hoạt truyền giáo của mình giữa các dân tộc, Giáo Hội tiếp xúc với những nền văn hoá khác biệt và tham gia vào tiến trình đối thoại … Giáo Hội truyền thông cho họ các giá trị của mình, đồng thời nhận lấy những gì tốt đẹp trong các nền văn hoa đó và đổi mới chúng từ bên trong, (Redemptoris missio, n. 52)

160. Không thể hiểu về con người theo phương diện kinh tế mà thôi, không thể định nghĩa con người mà chỉ dựa vào sự kiện nó thuộc một giai cấp nào. Người ta hiểu con người cách đầy đủ hơn, nếu người ta đặt nó trong bối cảnh văn hóá của nó, xét tiếng nói, lịch sử của nó, những quan điểm nó tán thành trước các biến cố căn bản của đời sống như sự sinh đẻ, yêu đương, lao động và sự chết. Trung tâm mọi nền văn hóa là thái độ của con người đối với bí mật lớn lao nhất; bí mật về Thiên Chúa. Kỳ thực, nền văn hóa của các nước khác nhau là bao nhiêu cách bàn đến vấn đề ý nghĩa của sự sống nhân vị: khi người ta loại bỏ vấn đề này, văn hóá và đời sống luân lý cùa các quốc gia sẽ bị băng hoại. (Centesimus Annus, n. 24)

IX. Sự Phát triển Nhân bản Đích thực

161. Đối với dân tộc cũng như đối với một cá nhân, có thêm nhiều của cải hơn không phải là mục đích tối hậu. Mỗi một sự thăng tiến đều có hai mặt. Tuy cần thiết để con người nên người hơn, nhưng nó cũng giam hãm con người như trong ngục thất một khi nó trở thành giá trị lớn nhất ngăn cản nhìn lên trời. Lúc đó, lòng người trở thành chai đá và tinh thần khép kín lại, con người không còn đến với nhau vì tình nghĩa, nhưng chỉ vì lợi lộc, sớm làm cho con người chống đối nhau và chia rẽ nhau. Sự tìm kiếm của cải mà thôi bấy giờ sẽ ngăn trở sự phát triển con người và phản lại sự cao cả bẩm sinh của con người: đối với những quốc gia cũng như đối với những con người, tội tham lam là một hình thức lộ liễu nhất của tình trạng luân lý thấp kém. (Populorum Progressio, n. 9)

162. Tóm lại, ngày nay, tình trạng chậm tiến không phải là chậm tiến về mặt kinh tế; nó cũng là chậm tiến về văn hoa, về
chính trị và về mặt nhân bản chỉ thế thôi, như Thông điệp Populorum Progressio đã nêu lên cách đây 20 năm. Ở đây phải tự hỏi thực tại buồn thảm ngày nay có phải là hậu quả, ít ra một phần, của một quan điểm rất eo hẹp, tức là quan niệm chủ ýnhắm tới sự phát triển kinh tế trước tiên mà thôi. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 15)

163. Sự phát triển nhân bản trọn vẹn – phát triển của mọi người và của trọn vẹn con người, cách riêng những người nghèo nhất và xấu số nhất của cộng đồng – nằm tại chính trung tâm của việc Phúc Âm hoá. Giữa việc Phúc Âm hoa và việc thăng tiến con người – sự phát triển, sự giải phóng -có những liên hệ sâu xa. Đó là những liên hệ thuộc trật tự nhân chủng học, bởi vì con người phải được Phúc Âm hoa không phải là một hữu thể trừu tượng, nhưng nó có liên quan tới các vấn đề xã hội và kinh tế. (Ecclesis in Africa, n. 68)

164. Sự phát triển kỹ thuật và sự phát triển văn minh thời đại chúng ta được đánh dấu bằng sự ưu thắng của kỹ thuật, đòi hỏi một sự phát triển cân đối giữa sự sống luân lý và nền đạo đức. Sự phát triển thứ hai xem ra, vô phúc thay, tụt hậu luôn luôn. Chắc chắn sự phát triển này là tuyệt vời và khó mà không thấy trong nó những dấu chỉ đích thực về sự cao cả của con người, mà năng lực sáng tạo được mặc khải manh nha trong những trang sách Sáng Thế, khởi từ sự diễn tả việc sáng tạo ra nó, nhưng cũng chính sự phát triển này không thể không sinh ra nhiều âu lo. Âu lo thứ nhất liên can tới vấn đề thiết yếu và cơ bản: sự phát triển này mà con người là tác giả vừa là người bảo vệ, có làm cho đời sống con người trên mặt đất này ra “con người hơn” về mọi phương diện không ? Có làm cho sự sống xứng với “con người” hơn không” ? Người ta không thể nghi ngờ có như vậy dưới một vài khía cạnh. Nhưng câu hỏi đó nhất quyết quay lại
trên cái điều thiết yếu: con người, với tư cách con người, trong bối cảnh của sự phát triển này, có thật sự tốt hơn không, nghĩa là trưởng thành hơn về mặt thiêng liêng, ý thức hơn về phẩm giá của nhân tính mình, có trách nhiệm hơn, cởi mở hơn với kẻ khác, đặc biệt với những kẻ tay không nhất và những kẻ yếu kém nhất, có sẵn sàng cho và giúp đỡ mọi người không? (Redemptor Hominis, n. 15)

165. Nhưng đồng thời cái quan niệm “kinh tế” hay “vụ kinh tế”, đi kèm với từ “phát triển”, cũng bị khủng hoảng. Thật vậy, ngày nay người ta hiểu rõ hơn rằng việc tích trữ thuần tuý các của cải và dịch vụ, dẫu cho rằng vì lợi ích của đa số, cũng không đủ để làm cho người ta được hạnh phúc. Do đó, sự có sẵn những lợi lộc thực mà khoa học và kỹ thuật, kể cả tin học, đem lại trong thời gian vừa qua, cũng không đưa tới sự giải phóng mọi hình thức nô lệ. Kinh nghiệm những năm gần đây, chứng minh ngược lại rằng, nếu cái khối tài nguyên và khả năng được vào tay con người, mà không được sử dụng theo một ý định đạo đức và một chiều hướng nhằm ích lợi đích thực của nhân loại, thì nó sẽ dễ dàng quay ngược lại chống con người đễ đàn áp con người. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 28)

166. Nếu để xúc tiến việc phát triển, cần phải có những chuyên viên ngày càng nhiều, thì càng cần phải có nhiều hơn nữa những nhà hiền triết biết suy nghĩ sâu xa để tìm kiếm một thuyết nhân bản mói, nhờ đó con người hiện đại tìm được lại chính mình, bằng cách tự nhận ra những giá trị cao quí của tình yêu, tình bạn, cầu nguyện và chiêm ngắm. Như vậy sẽ hoàn thành sự phát triển đích thực, sự phát triển đó, đối với mỗi người và tất cả mọi người, đi từ những điều kiện ít xứng đáng với con người tới những điều kiện xứng đáng với con người hơn. (Populorum Progressio, n. 20)

X. Công Ích

167. Phải hiểu công ích là “toàn bộ những điều kiện của đời sống xã hội cho phép những tập thể hay những phần tử riêng rẽ có thể đạt tới sự hoàn hảo riêng một cách đầy đủ và dễ dàng hơn (GS, n. 26; x. GS, n. 74). Công ích liên quan đến đời sống của mọi người, đòi hỏi mỗi người phải thận trọng, nhất là những ai đang cầm quyền. Công ích gồm ba yếu tố căn bản: Trước hết công ích phải tôn trọng con người với tư cách là người. Nhân danh công ích, chính quyền có bổn phận tôn trọng các quyền căn bản và bất khả nhượng của con người. Xã hội phải giúp cho các thành viên thực hiện ơn gọi của mình. Đặc biệt công ích cho con người thực thi các quyền tự do tự nhiên không thể thiếu để phát triển ơn gọi làm người: như: quyền hành động theo qui tắc ngay thẳng của lương tâm mình, quyền bảo vệ đời tư và quyền được tự do chính đáng, cả trong phạm vi tôn giáo nữa “(GS, n. 26).

Kế đến, công ích phải bước đến sự an lạc xã hội và sự phát triển của chính tập thể. Mọi bổn phận xã hội đều quy về sự phát triển. Nhân danh công ích, nhà cầm quyền có nhiệm vụ làm trọng tài giữa các quyền lợi riêng tư khác nhau; phải giúp mỗi người có được những gì cần thiết để sống đúng với phẩm giá “con người”: lương thực, áo quần, sức khoẻ, việc làm, giáo dục và văn hoa, được thông tin đầy đủ, quyền xây dựng một gia đình, v.v … (x. GS, n. 26)

Sau hết, công ích còn phải kiến tạo hoà bình, bảo tồn một trật tự đứng đắn được lâu bền và ổn định. Điều này giả thiết rằng quyền bính phải bảo đảm an ninh cho xã hội và cho các thành viên của xã hội bằng những phương thế liêm chính. Công ích đặt nền tảng cho quyền tự vệ chính đáng của cá nhân và tập thể. (GLHTCG, nn. 1906-1909).

168. Sự lệ thuộc nhau một ngày một chặt chẽ hơn và dần dần lan rộng trên toàn thể thế giới, vì thế công ích – tức là toàn bộ những điều kiện của đời sống xã hội cho phép những tập thể hay những phần tử riêng rẽ có thể đạt tơi sự hoàn hảo riêng một cách đầy đủ và dễ dàng hơn – ngày nay mỗi lúc một nới rộng tầm phổ quát hơn và do đó bao hàm những quyền lợi và nghĩa vụ của toàn thể nhân loại. Bất cứ tập thể nào cũng phải tôn trọng nhu cầu và những nguyện vọng chính đáng của các tập thể khác; hơn thế nữa, phải tôn trọng công ích của toàn thể gia đình nhân loại …

Trật tự này phải phát triển mỗi ngày một hơn, phải đặt nền tảng trên chân lý, xây dựng trong công bình, nuôi dưỡng nhờ tình yêu; phải dần dần tìm được trong tự do sự quân bình mỗi ngày
mỗi hợp với nhân bản hơn. Để chu toàn được những điều trên,
phải có sự đỗi mới tâm thức và những sự thay đổi sâu rộng trong
xã hội. Thánh Thần Chúa, Đấng điều khiển những biến chuyển
thời gian và canh tân bộ mặt trái đất với sự quan phòng kỳ diệu,
đang hiện diện trong cuộc tiến hoa này. Men Tin Mừng đã và
đang làm dậy lên trong lòng con người sự đòi hỏi phải có nhân
phẩm, một đòi hỏi không thể cưỡng chế được.
(Gaudium et Spes, n. 26)

169. Quyền bính chỉ được hành xử hợp pháp khi mưu cầu công ích cho tập thể liên hệ và đạt tới mục đích ấy bằng các phương thế mà luân lý cho phép. Nếu các nhà lãnh đạo đưa ra những luật bất công hay sử dụng những biện pháp trái luân lý, lương tâm không buộc phải tuân theo. “Trong những trường hợp này, quyền bính không còn là quyền bính nữa mà thoái hoa thành áp bức” (PT, n. 51). (GLHTCG, n. 1903)

170. Nếu người ta xem xét kỹ lưỡng khái niệm nội tại của công ích, một bên, và bên kia, bản chất và nhiệm vụ của quyền bính, không ai mà không thấy chúng liên kết với nhau bằng một sự cân xứng cần thiết. Thật vậy trật tự xã hội, khi thỉnh cầu có một quyền bính để khuyến khích công ích trong xã hội dân sự, đồng thời cũng đòi hỏi quyền bính có thể thực hiện điều đó cách hiệu nghiệm. Do đó, những cơ chế dân sự – trong đó, quyền bính hình thành, thực thi và đạt mục đích – phải có một hình thức và một hiệu năng nhờ đó chúng có thể đưa tới công ích qua những con đường và những phương tiện đáp ứng xứng hợp với những thời gian khác biệt của sự vật. (Pacem in Terris, n. 136)

171. Phải cứu xét những yêu sách của công ích trên bình diện quốc gia: tìm việc làm cho một số công nhân nhiều nhất; tránh đào tạo những hạng ưu tiên, dầu trong số những người này; duy trì một sự cân đối công bình giữa tiền lương và vật giá; cho một số lớn – hết sức có thể – công dân hưởng dụng các của cải và dịch vụ; loại trừ hay giảm thiểu những mất quân bình giữa cácn khu vực: canh nông, kỹ nghệ, dịch vụ; quân bình sự lan rộng kinh tế với sự phát triển những dịch vụ công cộng thiết yếu; thích nghi, trong mức độ có thể, những cơ cấu sản xuất với những tiến bộ khoa học và kỹ thuật; tiết chế mức sống đã cải thiện của các thế hệ hiện nay bằng cách lưu ý đến một tương lai tốt đẹp hơn cho các thế hệ mai sau.

Hơn nữa công ích có những yêu sách trên bình diện quốc tế: tránh tất cả hình thức cạnh tranh bất chính giữa các nền kinh tế của những nước khác nhau ; tán thưởng, qua những thoả thuận phong phú, sự hợp tác giứa những những nền kinh tế quốc gia; hợp tác làm phát triển kinh tế của những cộng đồng chính trị còn lạc hậu. (Mater et Magistra, nn. 79-80)

172. Bởi vì ở thời đại chúng ta người ta coi công ích hệ tại hơn hết trong việc bảo vệ những quyền và những bổn phận của con người, nên những người chăm lo việc công phải bận tâm cách riêng về việc bảo đảm sự công nhận và tôn trọng những quyền này, sự dung hoà chúng với nhau, bênh vực chúng và khích lệ chúng, để cho mỗi người có thể chu toàn dễ dàng hơn các bổn phận mình. Bởi vì “sứ vụ chính của mọi quyền bính là bảo vệ những quyền bất khả xâm phạm riêng của con người, và làm thế nào cho mỗi người chu toàn dễ dàng hơn các nhiệm vụ mình”. (Pacem in Terris, n. 60)

173. Trong mục đích này, những người nắm giữ quyền bính phải được linh hứng bằng một quan niệm lành mạnh về công ích. Công ích bao gồm tổng thể những điều kiện xã hội cho phép và tán thưởng, trong con người, sự phát triển nguyên vẹn nhân vị của mình. Vả lại, Chúng tôi cho là cần thiết việc những tổ chức trung gian và những sáng kiến xã hội khác nhau, mà qua đó người ta diễn tả và thực hiện việc “xã hội hoa”, hưởng được một nền tự trị hiệu nghiệm trước các quyền bính, đeo đuổi những ích lợi riêng của họ trong những tương quan về sự hợp tác liêm chính giữa họ và về sự tùng phục những yêu sách của công ích. Điều không ít cần hơn là những tổ chúc xã hội đó lấy hình thức cộng đồng thực sự; điều đó có nghĩa là các thành phần của các tổ chức đó đước coi và được xử sự như những nhân vị, được khuyến khích tham gia tích cực vào sự sống của chúng.

Những tổ chức trong xã hội hiện đại được phát triển và trật tự ở đó được thực hiện ngày càng hơn, nhờ có một sự quân bình đổi mới: một bên là yêu sách hợp tác tự trị về phía mọi người, cá nhân và tập thể; một bên là sự phối hợp trong lúc thuận tiện và sự hướng dẫn từ các quyền bính. (Mater et Magistra, nn. 65-66)

174. Lợi ích chung cũng đòi hỏi các quyền dân sự phải thực tâm cố gắng để đạt được một hoàn cảnh trong đó các công dân có thể thi hành dễ dàng những quyền của mình và đeo đuổi những bổn phận của mình. Kinh nghiệm dạy chúng ta rằng, nếu các quyền hành này không có những biện pháp xứng hợp cho các vấn đề kinh tế, chính trị và văn hóá, những bất đồng giữa các công dân có khuynh hướng trở nên ngày càng ưu thắng, nhất là trong khuôn khổ thế giới hiện đại, và, do đó, các quyền con người trở thành vô hiệu cách tuyệt đối. (Pacem in Terris, n. 63)

XI.Tội Xã Hội

175. Tuy nhiên cần phải tố cáo những cơ cấu kinh tế, tài chánh và xã hội, mặc dầu do ý muốn của con người điều khiển, thường hoạt động một cách dường như máy móc, làm nổi bật sự khác  biệt giữa tình trạng giàu có của người này và tình trạng nghèo khổ của người kia. Các cơ chế đó, do các nước mở mang hơn điều khiển trực tiếp hay gián tiếp, do chính cách thức chúng hoạt động, củng cố quyền lợi của những nước điều khiển, nhưng cuối cùng bóp nghẹt hay điều kiện hóá kinh tế các nước kém mở mang. Sau đây, chúng ta phải phân tích kỹ những cơ chế đó, dưới khía cạnh đạo đức và luân lý. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 16)

176. Nói tội xã hội có nghĩa là, trước hết, công nhận rằng, do một sự liên đới nhân bản cũng mầu nhiệm và vô hình như thật sự và cụ thể, tội một người phản xạ cách nào đó trên những kẻ khác … Tuy nhiên có những tội, do chính đối tượng của nó, là một sự công kích trực tiếp đối với kẻ khác và – cách chính xác hơn, nếu người ta hiểu theo ngôn ngữ Tin Mừng – đối với anh em. Những tội đó xúc phạm tới Thiên Chúa, bởi vì nó xúc phạm tới tha nhân. Thường thường người ta chỉ rõ những tội đó bằng tính từ “xã hội” và đó là nghĩa thứ hai của từ ngữ … Cũng gọi là tội xã hội tất cả tội nghịch cùng đức công bình trong các tương quan hoặc giữa người với người, hoặc giữa người với cộng đồng, hoặc là giữa cộng đồng với người …. Là tội xã hội tất cả tội nghịch cùng công ích và những yêu sách của nó, trong tất cả lãnh vực rộng lớn của các quyền và bổn phận người công dân. (Reconciliatio et Paenitentia, n. 16)

177. Nếu tình trạng hiện nay lệ thuộc vào những khó khăn đủ loại, không phải vô ích nếu nói tới những “cơ cấu tội lỗi”, những cơ cấu này như tôi đã cho thấy trong Tông Huấn Reconciliatio et Paenitentia, bắt nguồn từ tội cá nhân và do đó, không luôn được liên kết với hành vi cụ thể của những con người làm nẩy sinh ra chúng, củng cố chúng và gây trở ngại cho việc diệt trừ chúng. Như vậy những cơ cấu ấy củng cố lẫn nhau, lan tràn và trở thành nguồn gốc của những tội ác và chúng điều kiện hóá cách ăn ở của người ta. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 36)