CHƯƠNG V: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC
1. Quyền Phần Đời
178. “Xã hội loài người sẽ không có trật tự và phồn vinh nếu thiếu những người cầm quyền hợp pháp để bảo tồn các định chế và phục vụ công ích một cách đầy đủ” (PT, n. 46). “Quyền bính” là đặc tính của những con người hay những định chế, nhờ đó, họ ban hành lề luật và mệnh lệnh cho con người, và buộc phải tuân phục.
Mọi cộng đoàn nhân loại đều cần có một quyền bính để quản trị nó. Quyền bính này đặt nền tảng trên bản tính con người. Quyền bính cần thiết để tạo ra sự thống nhất cho cộng đoàn. Vai trò của nó là bảo đảm tối đa cho công ích xã hội. Quyền bính theo trật tự luân lý đòi hỏi, phát xuất từ Thiên Chúa:” Mỗi người phải phục tùng chính quyền, vì không có quyền bính nào không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập. như vậy, ai chống đối quyền bính là chống đối lại trật tự Thiên Chúa đặt ra, và kẻ nào chống lại sẽ chuốc lấy án phạt” (Rm 13, 1-2; x. 1 Pr 2, 13-17).
Bổn phận vâng phục đòi buộc mọi người phải tôn trọng quyền bính cho xứng hợp; đối với những người đang thi hành công vụ, phải tôn trọng và tuỳ công trạng của họ mà tỏ lòng biết ơn và quí mến. Hội Thánh còn giữ được bản kinh của thánh Giáo Hoàng Clêmentê thành Roma cầu cho chính quyền (x. 1 Tm 2, 1-2): “Lạy Chúa, xin ban cho họ sức khoẻ, bình an, hoà thuận và ổn định, để họ thực thi đúng đắn quyền hành Chúa đã trao cho họ. Lạy Chúa là Chủ Tể, là Vua Trời vĩnh cửu, chính Chúa ban cho con cái loài người vinh quang, danh dự và quyền lực trên mọi vật trần thế. Xin Chúa hướng dẫn những dự định của họ theo điều thiện hảo, theo những gì hợp ý Ngài, để khi thi hành nhiệm vụ mà ngài trao cho, với lòng đạo đức, trong an bình và quảng đại, họ nhận được ơn Ngài phù hộ” (Saint Clément de Rome, Ad Cor., 61, 1-2). (GLHTCG nn. 1897 -1900)
179. Cũng thế, việc hành xử quyền bính chính trị trong chính cộng đoàn hoặc trong các cơ quan đại diện cho quốc gia luôn luôn phải nằm trong giới hạn của trật tự luân lý để đem lại kết quả và mưu cầu công ích – công ích ở đây phải hiểu cách năng động – tuỳ theo trật tự pháp lý đã hoặc sẽ được thiết lập cách hợp pháp. Trong trường hợp đó, mọi công dân buộc phải theo lương tâm mà tuân phục. Và do đó, những người lãnh đạo đương nhiên có trách nhiệm, có thế giá và có uy quyền. (Gaudium et Spes, n. 74)
180. Vả lại, do chính trật tự luân lý mà cần phải có, trong tất cả cộng đồng dân sự, một quyền bính để cai trị; và quyền bính đó không thể đi ngược lại trật tự này mà không sớm bị tiêu diệt, vì thiếu nền tảng. Chính Chúa đã cảnh cáo chúng ta: “Vậy, hãy lắng nghe, hãy cố hiểu, hỡi các bậc quân vương; hãy học cho biết, hỡi những vị đang nắm quyền trên khắp cõi trần gian. Mở tai ra, hỡi những ai đứng đầu trong thiên hạ, đang tự hào vì có đông đảo chư dân. Vì chính Đức Chúa đã ban cho chư vị quyền bính và chính Đấng Tối Cao đã ban quyền thống trị. Cũng chính Người sẽ kiểm tra các việc chư vị làm và dò xét những điều chư vị toan tính. (Kn 6, 1-4)(Pacem in Terris, n. 83)
181. Về mặt luân lý, không phải người cầm quyền làm gì cũng hợp pháp. Họ không được xử sự cách chuyên chế, nhưng phải hành động cho công ích vì quyền bính là một sức mạnh tinh thần đặt nền tảng trên tự do và ý thức trách nhiệm (GS, n. 74): “Luật pháp của loài người chỉ là luật khi phù hợp với lẽ phải; có hiệu lực là nhờ luật vĩnh cửu; khi xa lìa lẽ phải, nó không còn là luật nữa, nhưng là một sự bất công, thậm chí là một hình thức bạo lực” (Saint Thomas d’Aquin, STh, I-II, 93, 3 ad 2). (GLHTCG, n. 1902)
II. Vai Trò Luật Pháp
182. “Pháp trị” (état de droit) là điều kiện cần thiết để xây dựng nền dân chủ đích thực (Proposition 72). Muốn cho nền dân chủ này phát triển, việc giáo dục công dân và việc thăng tiến trật tự công cộng và sự bình an là những việc làm cần thiết. Thật vậy, “không có dân chủ đích thực và vững bền mà không có công bình xã hội. Do đó Giáo Hội phải lưu tâm rất nhiều vào việc giáo dục lương tâm, phải chuẩn bị những người lãnh đạo xã hội để lo cho đời sống công ở mọi cấp bậc, phải khuyến khích giáo dục công dân, tuân giữ luật pháp và những quyền nhân bản, và phải cố công rất nhiều cho việc đào tạo giai cấp chính trị về mặt đạo đức”. (Ecclesia in America, n. 56)
183. Không nên vì thế mà nghĩ rằng quyền bính không bị một lệ thuộc nào; ngược lại, vì quyền bính xuất phát từ khả năng điều khiển theo lẽ phải, nên điều hợp lý là người ta coi nó có quyền lực ràng buộc, là do nơi trật tự các phong hóa, trật tự này lại có Chúa làm nguyên thuỷ và cùng đích. Do đó Đấng tiền nhiệm chúng tôi là Đức Piô XII đáng kính, tuyên bố như sau: “Trật tự tuyệt đối của kẻ sống và chính cùng đích của con người – của con người tự do, chủ thể những bổn phận và những quyền bất khả xâm phạm, của con người nguồn gốc và cùng đích của xã hội – cũng coi thành ấp như một cộng đồng cần thiết và có quyền bính; không quyền bính là không có sự hiện hữu, không có sự sống cho nhóm … Theo lẽ phải và nhất là theo đức tin Kitô giáo, trật tự này của vạn vật không thể có nguồn gốc nào khác ngoài Chúa, hữu thể ngôi vị và là Đấng sáng tạo mọi người; đo đó, những quyền bính có được phẩm giá là nhờ tham dự cách nào đó vào uy quyền của chính Thiên Chúa” (Sứ điệp truyền thanh Giáng Sinh, 1994). (Pacem in Terris, n. 47)
184. Giờ lịch sử chúng ta đang sống, làm tăng cường cấp bách hơn những khí cụ pháp lý có khả năng thăng tiến sự tự do lương tâm cả trong lãnh vực chính trị và xã hội. Về phương diện này, sự phát triển lần hồi và liên tục của một chế độ pháp lý được công nhận trên bình diện quốc tế, có thể là một trong những nền tảng vững chắc nhất cho hoà bình và cho sự phát triển đúng đắn của gia đình nhân loại. Đồng thời, điều cốt yếu là thi hành những cố gắng song song, trên mức độ quốc gia cũng như trên mức độ vùng, thế nào cho tất cả mọi người, dầu đang ở đâu, dược bảo vệ bởi những quy luật pháp lý được nhìn nhận trên bình diện quốc tế. (Sứ điệp ngày thế giới hoà bình, 1991, n. 6).
185. Bởi vì quyền cai trị là điều phải có do trật tự những sự vô thể và xuất phát từ Thiên Chúa, nếu những người điều khiển quốc gia có ra những luật hay lệnh phải làm một cái gì nghịch với trật tự này, và do đó nghịch với ý muốn Thiên Chúa, lúc đó, những luật này cùng những sự cho phép ấy không thể bắt buộc lương tâm người công dân, bởi vì “phải vâng lời Chúa hơn vâng lời người ta” (Cv. 5, 29); hơn nữa, trong trường hợp tương tự, quyền bính thôi là quyền bính và biến chất thành áp bức; theo giáo huấn thánh Thomas d’Aquin: “Luật do con người chỉ có tính chất luật bao lâu nó hợp với lẽ phải; và với danh hiệu này, rõ ràng nó xuất phát từ luật đời đời. Nhưng bao lâu nó đi xa lẽ phải, nó bị công bố là một bất công, và lúc đó nó không còn tính chất luật nữa, nhưng đúng hơn nó là một hình thức bạo tàn” (Saint Thomas d’Aquin, STh, 1-11, 93, 3, ad 2). (Pacem in Terris, n. 51
186. Đức Giáo Hoàng Lêô XIII nhận thức rõ cần có một lý thuyết đúng đắn về Nhà Nước để có thể đảm bảo cho việc phát triển bình thường các hoạt động thiêng liêng và trần thế của con người, cả hai hoạt động đều tối cần. Về vấn đề này, trong một đoạn Thông điệp Rerum Novarum, ngài trình bày về tổ chức xã hội dựa trên ba quyền- lập pháp, hành pháp và tư pháp – mà vào thời đó là một chuyện mới lạ trong giáo huấn của Giáo Hội. Cơ cấu này phản ảnh một cái nhìn thực tiễn về bản chất xã hội của con người, đòi hỏi luật lệ có khả năng bảo vệ tự do cho mọi người. Để đạt tới mục đích đó, mỗi quyền cần được quân bình với những quyền khác và với những lãnh vực trách nhiệm khác để các quyền đó không đi ra ngoài ranh giới của mình. Đây là nguyên tắc “pháp trị”, trong đó luật pháp có tính cách tối thượng, và không phải là ước muốn độc đoán của cá nhân. (Centesimus Annus, n. 44)
187. Cần nhắc thêm rằng không một nhóm xã hội nào, một đảng phái chẳng hạn, có quyền chiếm đoạt vai trò chỉ đạo duy nhất, vì việc đó đưa tới sự huỷ diệt nhân cách đích thực của xã hội và của các cá nhân thành viên của quốc gia, như sự đó xảy ra trong mọi chế độ độc tài. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 15)
III. Vai Trò Chính Phủ
188. Nhưng, nếu cấu trúc chính trị và pháp lý này phải sinh ra những lợi ích như người ta hy vọng, các công chức phải ra sức đáp ứng những vấn đề xảy ra, một cách hợp với những phức tạp của hoàn cảnh và cũng hợp với việc thi hành đúng theo nhiệm vụ mình. Điều này đòi hỏi, dưới những điều kiện biến hoa không ngừng, các nhà lập pháp không bao giờ quên những quy luật của luân lý, hay là những dự định theo hiến pháp hay là lợi ích chung. Hơn nữa, những quyền hành pháp phải phối hợp các sinh hoạt của xã hội theo một quyền tuỳ ý quyết định sau khi hiểu biết hoàn toàn về luật pháp và sau khi đã xem xét kỹ lưỡng những hoàn cảnh, và các toà án phải bảo đảm đức công bình một cách vô tư không bị ảnh hưởng bởi chế độ ưu đãi hay áp bức. Trật tự tốt xã hội cũng đòi hỏi các cá nhân công dân và những tổ chức trung gian phải được bênh vực cách hiệu nghiệm bởi lề luật khi họ phải thi hành quyền của mình hay khi phải làm tròn những bổn phận của mình. (Pacem in Terris, n. 69)
189. Hành động (của các quyền bính) có một đặc tính hướng dẫn, khích lệ, phối hợp, bổ sung và hội nhập. Hành động đó phải được linh ứng bởi nguyên tắc hỗ trợ, mà Đức Piô XI đã phát biểu trong thông điệp Quadragesimo Anno: “Điều hiển nhiên là người ta không thể thay đổi hay làm lung lay nguyên tắc rất quan trọng này về triết học xã hội; cũng vậy người ta không thể cất đi khỏi những tư nhân, để chuyển sang qua cộng đồng, những quyền hạn mà họ có khả năng chu toàn do sáng kiến riêng của họ và bằng những phương tiện riêng của họ. Như vậy sẽ là lỗi công bằng, đồng thời làm rối loạn một cách rất tai hại trật tự xã hội, nếu rút khỏi những nhóm nhỏ hơn và ở cấp thấp hơn để giao cho một tập thể rộng lớn hơn và ở cấp cao hơn, những nhiệm vụ mà họ có sức tự mình hoàn thành. Chủ đích tự nhiên của mọi can thiệp trong vấn đề xã hội là giúp các phần tử đoàn thể xã hội, chớ không phải tiêu diệt hay thôn tính chúng” (QA, n. 23). (Mater et Magistra, n. 53)
190. Trong địa hạt chính trị cần phải ghi nhận rằng tất cả những yếu tố như chân lý trong các mối quan hệ giữa những người bị trị với những người cai trị, sự trong suốt trong sự quản trị công cộng, thái độ chí công vô tư, sự tôn trọng đối với quyền lợi của các đối thủ chính trị, việc bảo toàn quyền lợi cho những người bị lên án trước những vụ xét xử hay những án lệnh sơ thẩm, sự sử dụng công bằng và liêm khiết những nguồn vốn công cộng, sự từ chối những phương tiện mờ ám hoặc bất hợp lệ hòng chiếm đoạt, gìn giữ và gia tăng quyền bính của mình, đều là những nguyên tắc thoạt tiên có cội rễ – cũng như, ngoài ra, mang tính khẩn thiết đặc biệt – ở nơi giá trị siêu việt của con người và ở nơi những đòi buộc chân lý khách quan của việc điều hành các Nhà Nước. (Veritatis Splendor, n. 101)
IV. Giáo Hội và Nhà Nước
191. Nhiệm vụ thiết yếu của quyền bính dân sự là bảo vệ và phát huy những quyền lợi bất khả xâm phạm của con người. Do đó, quyền bính dân sự phải bảo vệ cách hữu hiệu quyền tự do tôn giáo của mọi công dân bằng những đạo luật chính đáng và những phương tiện thích hợp khác, phải tạo nên những điều kiện thuận lợi giúp phát triển đời sống tôn giáo, nhờ đó các công dân có thể thực sự hưởng dụng những quyền lợi và chu toàn những nhiệm vụ đối với tôn giáo, đồng thời xã hội sẽ được hưởng nhờ những lợi ích của công lý và hoà bình, phát sinh do lòng trung thành của con người đối với Thiên Chúa và thánh ý Ngài. (Dignitatis Humanae, n. 6)
V. Những Hình Thức Chính Phủ
192. Có quyền bính là “do Thiên Chúa an bài, nhưng việc định đoạt những thể chế chính trị hay cắt cử người cầm quyền, vẫn là quyền tự do của mọi công dân” (GS, n. 74). Về mặt luân lý, các thể chế chính trị có thể khác nhau miễn sao các thể chế này mang lợi ích chính đáng cho cộng đồng đã thừa nhận chúng. Các thể chế có bản chất trái ngược với luật tự nhiên, với trật tự công cộng và các quyền căn bản của con người, thì không thể đem lại công ích cho những quốc gia đang theo chế độ đó. (GLHTCG, n. 1901)
193. Trong thời đại mới quan niệm này đã bị chủ nghĩa chuyên chế chống đối, chủ nghĩa này mang hình thức Mácxit-Leninit chủ trương rằng một số người nhờ có sự thông hiểu sâu xa hơn về luật pháp trong lãnh vực phát triển xã hội hoặc vì thuộc một giai cấp đặc biệt nào đó, hoặc nhờ được tiếp xúc với những nguồn sâu sắc hơn của ý thức tập thể, nên không thể sai lầm và như vậy có thể tự ban cho mình uy quyền tuyệt đối. Cần phải nói thêm là chủ nghĩa chuyên chế phát sinh ra từ việc chối bỏ chân lý theo nghĩa khách quan. Nếu không có chân lý siêu việt, mà nhờ biết vâng phục chân lý ấy, con người có thể nhận biết được căn tính trọn vẹn của mình, sẽ không có một nguyên tắc chắc chắn nào bảo đảm cho mối liên hệ chính đáng giữa những con người. Tư lợi riêng của họ thuộc giai cấp, bè nhóm hay quốc gia, chắc chắn sẽ đưa họ tới chỗ chống đối nhau. Nếu một phía không nhìn nhận chân lý ưu việt, khi đó sức mạnh của quyền
bính sẽ ngự trị và mỗi người sẽ sử dụng tối đa những phương tiện sẵn có để áp đặt các quyền lợi của mình hoặc ý kiến của mình, bất chấp quyền lợi của người khác. Khi đó con người chỉ còn được kính trọng bao lâu mà họ còn có thể bị bóc lột cho những mục đích vị kỷ. Vì vậy, căn nguyên của chủ nghĩa chuyên chế của thời đại mới là việc chối bỏ giá trị siêu việt của con người, được coi như là hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình, và, vì vậy, tự bản chất là chủ thể của những quyền mà không một ai có thể xâm phạm, dù là cá nhân, dù một nhóm người, dù một giai cấp, dù một quốc gia hay Nhà Nước. Ngay cả đa số của một xã hội cũng không thể chà đạp lên những quyền này bằng cách chống lại thiểu số, bằng cách cô lập, đàn áp hoặc bóc lột hay tìm cách tiêu diệt thiểu số đó
Văn hó và chủ nghĩa chuyên chế trong thực tế cũng chối bỏ Giáo Hội. Nhà Nước hoặc đảng phái cho rằng họ có khả năng hướng dẫn lịch sử tới chỗ thiện hảo hoàn toàn và tự đặt mình ở trên mọi giá trị, nên không thể chấp nhận một tiêu chuẩn khách quan về thiện ác khác với ý muốn của những người cầm quyền và, trong một số hoàn cảnh, tiêu chuẩn như vậy có thể được dùng để phán đoán những hành vi của họ. Điều này giải thích vì sao chủ nghĩa chuyên chế tìm cách tiêu diệt Giáo Hội hoặc ít ra tìm cách áp đặt Giáo Hội dưới sự thống trị của mình, biến Giáo Hội thành công cụ của guồng máy ý thức hệ của họ. Hơn nữa, nhà nước chuyên chế thường sát nhập toàn bộ quốc gia, xã hội, gia đình, các tôn giáo và chính các cá nhân vào trong guồng máy của họ. Giáo Hội khi bảo vệ tự do của mình, cũng đồng thời bảo vệ con người, mà con người phải tùng phục Thiên Chúa hơn là tùng phục con người (x. Cv 5, 29), cũng như bảo vệ gia
đình, các tổ chức xã hội và các dân tộc – tất cả đều có quyền tự trị và chủ quyền. (Centesimus Annus, n. 44-45)
194. Thật vậy, muốn lập ra hình thức chính phủ Nhà Nước, hay là cách thức thi hành những trách vụ chính phủ, người ta phải chú trọng đến hiện trạng và điều kiện của mỗi dân tộc: mà, những thứ đó thay đổi tùy không gian và thời gian. Nhưng, chúng tôi thiết nghĩ rằng sự kiện phù hợp với bản tính con người là uốn nắn sự sống chung các công dân bằng cách xây dựng nó trên ba quyền hành đáp ứng cách xứng hợp với ba nhiệm vụ chính của quyền bính; trong một Quốc gia thể đó, không những các trách nhiệm của quyền bính, mà còn những tương quan hỗ tương của các công dân và của các công chức công cộng được ấn định bằng luật. Điều này đối với công dân là một sự bảo vệ, trong việc hưởng dụng các quyền của mình cũng như trong việc hoàn thành những bổn phận của mình. (Pacem in Terris, n. 68)
195. Để việc cộng tác của các công dân có ý thức trách nhiệm về nhiệm vụ đem lại kết quả tốt đẹp trong đời sống chính trị thường ngày, cần phải có một nền pháp lý thiết định, giúp phân phối hợp lý các nhiệm vụ và các cơ quan của công quyền và đồng thời giúp bảo vệ một cách hữu hiệu quyền lợi công dân mà không lệ thuộc vào ai. Quyền lợi của cá nhân, gia đình và đoàn thể cũng như việc sử dụng những quyền đó phải được công nhận, tôn trọng và cổ võ, nhưng đồng thời cũng phải chú trọng tới bổn phận công dân của họ. Nói tới bổn phận công dân, cần phải nhắc tới nghĩa vụ phải đóng góp cho quốc gia những phục vụ về tài lực cũng như nhân lực mà công ích đòi hỏi. Chính quyền không nên ngăn cản những hiệp hội có tính cách gia đình, xã hội hay văn hoa, những đoàn thể hay tổ chức trung gian. Cũng không nên cấm chế những hoạt động hữu hiệu và chính đáng của các tổ chức ấy, nhưng tốt hơn nên sẵn sàng cổ võ và phải có đường lối trong việc cổ võ. Về phía người công dân, cá nhân hay đoàn thể, không nên trao cho chính quyền một quyền hành quá lớn, cũng đừng đòi hỏi ở chính quyền những giúp đỡ cũng như những đặc ân quá đáng không phải lúc, vì như thế là làm giảm trách nhiệm của cá nhân, gia đình và cả các đoàn thể xã hội. (Gaudium et Spes, n. 75)
196. Khi nói đến việc cải tổ các cơ chế, tự nhiên chúng ta nghĩ ngay đến Nhà Nước. Chắc không nên xây dựng trên sự can thiệp của Nhà Nước mọi hy vọng cứu rỗi ! Nhưng từ khi chủ nghĩa cá nhân đã thành công bẻ gãy, hầu như bóp nghẹt phong trào rộng lớn thuộc đời sống xã hội, phong trào ngày xưa đã triển nở cách phong phú và hài hoà thành rất nhiều nhóm khác nhau nhất, chỉ còn lại có các cá nhân và Nhà Nuớc. Sự biến dạng thể chế xã hội không khỏi gây hại nghiêm trọng cho Nhà nước, vì từ đó phải gánh vác tất những trách vụ mà các nhóm đã mất tích không còn thi hành nữa, và Nhà Nước thấy mình bị đè nặng dưới một số lượng gần như vô tận của những trách vụ và trách nhiệm. (Quadragesimo Anno, n. 78
VI. Dân Chủ
197. Giáo Hội đánh giá cao hệ thống dân chủ như là một hệ thống bảo đảm cho người dân được tham dự vào việc lựa chọn các quyết định về chính trị, bảo đảm cho những người bị trị được quyền bầu cử lẫn quyền quy trách những người cai trị họ và thay thế những người cầm quyền này bằng các phương thế ôn hoà khi cần. Như vậy Giáo Hội không thể khuyến khích việc hình thành những nhóm cai trị thu hẹp tìm cách lạm dụng quyền bính của quốc gia cho những lợi ích riêng tư hoặc cho những mục tiêu ý thức hệ.
Một thể chế dân chủ chân chính chỉ có thể có được trong một quốc gia pháp trị và dựa trên căn bản một ý niệm chính đáng về con người. Nó đòi hỏi phải có những điều kiện cần thiết cho việc thăng tiến cá nhân qua công việc giáo dục và đào tạo theo những lý tưởng chân chính, và cho sự nẩy nở “cá tính” của xã hội, qua việc thành lập những cơ cấu có sự tham gia và cùng chia sẻ trách nhiệm. Ngày nay có khuynh hướng đòi hỏi rằng thuyết bất khả tri và thuyết tương đối bi quan là những triết thuyết và quan điểm căn bản cho các hình thức dân chủ của đời sống chính trị … Theo quan điểm này, phải nhận rằng, nếu không có chân lý tối hậu để hướng dẫn và chỉ huy hoạt động chính trị, những tư tưởng và xác tín có thể dễ bị thao túng vì lý do quyền lực. Như lịch sử đã chứng tỏ, dân chủ mà không có giá trị đạo đức làm căn bản dễ biến thành chế độ chuyên chế công khai hoặc ngụy trang khéo léo. (Centesimus Annus, n. 46)
198. Giáo Hội tôn trọng quyền tự trị hợp pháp của trật tự dân chủ và không có tư cách để phát biểu những thiên vị nghiêng về giải pháp có tính cách định chế hay hiến chế này hay nọ. Sự đóng góp của Giáo Hội vào trật tự chính trị chính là cái nhìn của Giáo Hội về phẩm giá của con người được biểu lộ hoàn toàn trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể.
(Centesimus Annus, n. 47)
199. Trên thực tế, dân chủ không thể nâng lên hàng chuyện thần thoại, đến nỗi biến thành một cái gì thay thế luân lý hay là liều thuốc trị bịnh vô luân. Cơ bản, nó là một “hệ thống” và, như vậy, nó là một dụng cụ chớ không phải là một cùng đích. Đặc tính “luân lý” của nó không phải là tự động, nhưng tuỳ thuộc vào sự hoà hợp với luật luân lý, mà dân chủ phải phục tùng như tất cả mọi xử sự nhân bản: như vậy nó tuỳ thuộc vào tính luân lý của những cùng đích đang theo đuổi cũng như những phương tiện đang sử dụng. Ngày nay nếu người ta nghiệm thấy một sự đồng thuận gần như phổ quát về giá trị của dân chủ, phải coi đó như là một “dấu chỉ thời đại” tích cực, như Huấn Quyền Giáo Hội đã nhiều lần nhắc tới. nhưng giá trị dân chủ duy trì hay biến đi là tùy theo những giá trị nó nhập thể và khuyến khích. (Evangelium Vitae, n. 70)
200. Một khi người ta không tuân giữ những yếu tố trên, chính nền tảng của sự chung sống chính trị sẽ bị lung lay và dần dà toàn bộ đời sống xã hội sẽ bị lũng đoạn, đe doạ và suy thoái (x. Tv 14, 3-4; Kh 18, 2-3; 9-24). Trong nhiều quốc gia, sau sự sụp đổ cùa các ý thức hệ nối liền chính trị với một quan điểm chuyên chế về thế giới- mà ý thức hệ đầu tiên là chủ nghĩa mácxit -, có một mối nguy không kém quan trọng hiện đang hình thành do tình trạng chối bỏ những nhân quyền cơ bản và do sự kiện nuốt trững khát vọng tôn giáo trong khuôn khổ chính trị, một khát vọng tìềm tàng trong lòng mỗi người: đó là mối nguy có sự liên minh giữa nền dân chủ với chủ nghĩa tương đối về luân lý, một chủ nghĩa làm cho tình trạng chung sống giữa người dân với nhau chẳng còn một qui chiếu nào vững chắc về mặt luân lý và, một cách triệt để hơn, bị tước đoạt mất khả năng đón nhận chân lý. Thật ra, “nếu không có một chân lý tột cùng nào để dẫn đường và định hướng cho hoạt động chính trị, các tư tưởng và các niềm xác tín sẽ dễ dàng bị khai thác nhằm phục vụ cho quyền bính. Một nền dân chủ mà thiếu những giá trị thì sẽ dễ dàng biến thành một chủ nghĩa chuyên chế công khai hoặc
ngấm ngầm, như lịch sử từng chứng minh” (CA, n. 46).
Trong tất cả mọi lãnh vực của đời sống cá nhân, gia đình, xã hội và chính trị, nền luân lý – vốn đặt nền tảng trên chân lý và, trong chân lý, mở rộng cửa đón nhận tự do chính tông -, có thể nói, cung ứng một nguồn phục vụ độc đáo, bất khả thay thế và rất cao về giá trị, chẳng những cho cá nhân ngõ hầu con người tấn tới trong sự thiện, mà còn cho xã hội ngõ hầu xã hội thực sự phát triển. (Veritatis Splendor, n. 101 )
201. Duy chỉ sự tôn trọng sự sống có thể xây dựng và bảo đảm những tài sản quí báu nhất và cần thiết nhất của xã hội, như nền dân chủ và hoà bình. Thật vậy, không thể có dân chủ thật sự nếu người ta không công nhận phẩm giá của mọi người và nếu người ta không tôn trọng các quyền con người. Cũng không thể có được hoà bình thật sự nếu người ta không bảo vệ và nếu người ta không nâng đỡ sự sống. (Evangelium Vitae, n. 101)
Lm Phêrô Nguyễn Quang Sách chuyển ngữ







