CHƯƠNG VIII: SỰ NGHÈO ĐÓI VÀ ĐỨC BÁC ÁI

I. Gương Mù Của Sự Nghèo Đói

287. Vì thế tôi muốn lưu ý tới một số chỉ dẫn có tính cách tổng quát, không loại trừ những yếu tố đặc thù khác. Không đi vào việc phân tích các con số và các thống kê, chỉ cần nhìn vào cái cảnh vô số đàn ông, đàn bà, trẻ con, người lớn, ông già bà lão, tắt một lời, những con người cụ thể và độc nhất đang quần quại dưới gánh nặng không chịu đựng nỗi của khốn cùng. Họ là hàng triệu con người sống không hy vọng vì ở nhiều nơi trên trái đất, tình trạng của họ đã ra xấu hơn trông thấy. Đối diện với thảm cảnh cùng cực và thiếu thốn của bao nhiêu anh chị em chúng ta, chính Chúa Giêsu tới chất vấn chúng ta (x. Mt 25, 31-46) (Sollicitudo Rei Socialis, n. 13)

288. Khi người ta nhìn các lãnh vực khác nhau – sản xuất và phân phối lương thực, vệ sinh sức khoẻ và nhà ở, nước dùng, các điều kiện làm việc, cách riêng đối với phụ nữ, tuổi thọ trung bình, và những chỉ dẫn xã hội và kinh tế khác – bức tranh toàn thể hiện ra làm người ta phải thất vọng, hoặc khi người ta xem xét chính nó, hoặc khi người ta so sánh nó với các dữ kiện tương đương của các nước mở mang hơn. Lúc đó từ “hố sâu” tự nhiên đến trên môi. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 14)

289. Còn về phần những ai xấu số, Giáo Hội cho biết rằng, theo phán đoán của chính Thiên Chúa, sự nghèo khó không phải là một sự nhục nhã và không nên hổ ngưởi vì phải đổ mồi hôi trán mói có bánh ăn. Đó là điều mà Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta đã khẳng định qua gương của Người, Người vốn giàu sang phú quí, nhưng đã trở nên nghèo (2 Cr 8, 9) vì phần rỗi loài người ; Người là con Thiên Chúa và là chính Thiên Chúa, đã muốn thành người con bác thợ trước mắt thế giới; Người đã đi tới chỗ tiêu hao một phần lớn đời sống của Người trong việc làm mướn. Ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria sao ?” (Mc 6, 3)

Bất cứ ai để mắt nhìn xem kiểu mẫu Thần Linh, sẽ hiểu dễ dàng hơn điều Chúng tôi sắp nói: Phẩm giá thật sự của con
người và sự ưu tú của họ ở tại các phong tục của họ, nghĩa là trong nhân đức của họ; nhân đức là gia sản chung của con người hay chết, ngang tầm mức của mọi người, nhỏ và lớn. giàu vàn nghèo; chỉ có nhân đức và các công nghiệp, khắp nơi nào người ta gặp chúng, sẽ được phần thưởng của mối phúc đời đời. Hơn nữa con tim Chúa xem ra nghiêng hơn về phía những giai cấp bất hạnh. Chúa Giêsu Kitô gọi những nghèo là kẻ có phúc (x. Mt 5, 5), Người mời gọi cách yêu đương tất cả những ai đau khổ và khóc lóc phải tới với Người, dể Người an ủi họ, (x. Mt 11, 28) Người càng tỏ lòng bác ái dịu hiền hơn mà ôm ấp những trẻ nhỏ và những kẻ bị áp bức. Những học thuyết này chắc chắn có ý hạ thấp tâm hồn cao ngạo kẻ giàu và làm nó ít kiêu hãnh hơn, nhưng lại đỡ dậy lòng can đảm của những kẻ đau khổ và gợi lên trong họ lòng nhẫn nhục. Với lòng nhẫn nhục, sẽ giảm bớt khoảng cách mà tính kiêu ngạo muốn duy trì; nhờ vậy mà người
ta không khó làm cho hai bên nắm tay nhau và muốn kết hợp nhau trong cùng một tình bạn. (Rerum Novarum, nn. 23-24)

290. Nên thêm ở đây rằng trong thế giới ngày nay, có nhiều hình thức khác về nghèo khổ. Một số trường hợp thiếu thốn hay bị tước đoạt không đáng gọi là nghèo khổ sao ? Việc phủ nhận hay giới hạn các quyền của con người-chẳng hạn quyền tự do tôn giáo, quyền tham gia vào việc xây dựng xã hội, sự tự do lập hội hay lập công đoàn hay tự do lấy những sáng kiến về mặt kinh tế-những vi phạm đó chẳng làm cho con người ra nghèo khổ cũng bằng, nếu không hơn, việc thiếu của cải vật chất sao ? Và một sự phát triển mà không đếm xỉa tới sự nhìn nhận đầy đủ các quyền ấy, có phải là một sự phát triển theo chiều kích con người không ? (Sollicitudo Rei Socialis, n. 15)

291. Nhiều người, và có lẽ là đa số, ngày nay không có những phương tiện để, một cách hiệu nghiệm và thích hợp với con người, đi vào trong một hệ thống xí nghiệp mà lao động chiếm một chỗ đứng trung tâm thật sự … Như vậy nếu họ không bị lợi dụng, thì họ cũng đang sống trong tình trạng ngoài lề, có thể nói công cuộc phát triển kinh tế đã qua mặt họ khi không giảm bớt được phạm vi đã hạn hẹp của thứ kinh tế cổ xưa của họ giúp họ sống còn … Nhiều người khác, tuy không bị loại ra ngoài lề, cũng sống trong một hoàn cảnh phải phấn đấu để có một cuộc sống tối thiểu … Bất hạnh thay, đa số dân chúng trong Thế Giới Thứ Ba vẫn còn sống trong những tình trạng như vậy. (Centesimus Annus, n 33)

II. Công Bằng Xã Hội

292. Thật vậy, ngoài phép công bằng giao hoán, cũng có phép công bằng xã hội, đặt ra những bổn phận mà chủ nhân và công nhân không có quyền tránh né. Chính nhiệm vụ của phép công bằng xã hội đặt ra cho các thành phần cộng đồng phải làm tất cả những gì cần thiết cho công ích. (Divini Redemptoris, n. 51)

293. Để thoả mãn những đòi hỏi của công bằng và lẽ phải mà vẫn tôn trọng quyền lợi cá nhân và đặc tính của mỗi dân tộc, cần phải hăng hái nỗ lực để sớm chấm dứt những chênh lệch kinh tế lớn lao kèm theo sự kỳ thị cá nhân và xã hội; hiện nay những chệnh lệch ấy vẫn tồn tại và còn gia tăng mai ngày. Cũng vậy trong nhiều vùng, việc sản xuất và bán nông phẩm đang gặp nhiều trở ngại trầm trọng, do đó, cần phải nâng đỡ nông dân tăng gia và tiêu thụ được sản phẩm, lại phải thực hiện những cuộc cải tổ và canh tân cần thiết hầu thâu được lợi tức tương đương; nếu không, họ sẽ mãi là, như thường xảy ra, những công nhân hạng hai. Còn các nông dân, nhất là những người thuộc giới trẻ, phải cố gắng kiện toàn khả năng chuyên nghiệp, nếu không nông nghiệp không thể phát triển. Sự di chuyển là điềucần thiết đối với nền kinh tế đang phát triển, tuy nhiên sự công bằng và quân bình đòi hỏi phải tổ chức sự di chuyển ấy thế nào để đời sống cá nhân cũng như gia đình không bị xáo trộn và bấp bênh. Những công nhân từ một quốc gia hay một miền khác
đến, cũng là những người góp công vào việc phát triển kinh tế của một nước hay một miền, nên cần phải cố gắng tránh mọi dị biệt về điều kiện lương bổng hay việc làm. Hơn nữa, mọi người   nhất lá chính quyền, phải coi họ như những nhân vị, chứ không phải là những công cụ sản xuất; phải giúp đỡ đễ họ có thể đưa gia đình đến và có thể kiếm được một nơi nương thân đàng hoàng; cũng phải cho phép họ dễ dàng gia nhập đời sống xã hội của quốc gia hay miền đất nào đón tiếp họ. Tuy nhiên, nếu có thể, nên tạo cho họ có công ăn việc làm ngay tại nguyên quán của họ. Trong những tình hình kinh tế đang biến chuyển cũng như trong những hình thái mới mẻ của xã hội kỹ nghệ chẳng hạn hệ thống tự động đang được phát triển, phải liệu sao cho mỗi người có công việc đầy đủ và thích hợp, đồng thời hấp thụ được một sự huấn luyện thích ứng về kỹ thuật và nghề nghiệp. Cũng cần phải bảo đảm sự sống và nhân phẩm, nhất là của những
người vì bệnh tật, tuổi tác, phải sống trong những hoàn cảnh khó khăn hơn. (Gaudium et Spes, n .. 66)

294. Anh em tất cả là những người đã nghe tiếng kêu than của các dân tộc nghèo khổ, đang ra sức đáp lại tiếng gọi ấy. Có thể nói anh em là những tông đồ của công cuộc phát triển hữu ích và thật sự; nghĩa là không phải thứ phát triển chỉ nhằm có của cải một cách ích kỷ và được yêu mến vì chính nó, nhưng là một thứ phát triển dựa trên một nền kinh tế nhằm phục vụ con người, phân phối đồng đều cơm bánh hằng ngày cho mọi người, như nguồn tình thương huynh đệ và dấu chỉ của Chúa Quan Phòng. (Populorum Progressio, n. 86)

295. Phép công bằng là một nhân đức luân lý đồng thời là một quan niệm pháp lý. Thỉnh thoảng người ta giới thiệu nó với cặp mắt bịt lại; trên thực tế, bản tính riêng của công bằng là chăm chú đến việc bảo đảm sự cân bằng giữa các quyền lợi và bổn phận, cũng như khuyến khích việc chia đều những phí tổn và những lợi lộc. Công bằng cải thiện thì không phá hoại; công bằng hoà giải thì không thúc đẩy việc báo thù. Gốc rễ thâm sâu nhất của nó, xét hết các thứ, nằm trong tình yêu, mà diễn tả có ý nghĩa nhất là lòng thương xót. Cho nên, công bằng mà không có tình yêu thương xót trở thành lạnh nhạt và đổ bể. (Sứ Điệp Ngày Thế Giới Hoà Bình, 1998, n. 1)

296. Nhưng, như chúng tôi đã nhiều lần khẳng định, bổn phận quan trọng nhất của công bằng là cho phép mỗi quốc gia thăng tiến sự phát triển riêng của mình, trong khuôn khổ một sự hợp tác không có tinh thần thống trị về kinh tế cũng như chính trị. Tính phức tạp của các vấn đề được nêu lên chắc chắn thật to lớn vì sự chằng chịt hiện nay của các quốc gia tuỳ thuộc; cho nên phải có can đảm bắt tay duyệt lại những tương quan giữa các nước, dầu có phải phân phối về mặt quốc tế việc sản xuất, cấu trúc của những trao đổi, kiểm soát những tiền lời, hệ thống tài chánh – không quên những hành vi liên đới nhân bản – đặt thành vấn đề những kiểu mẫu tăng triển của các nước giàu, biến đổi những não trạng để mở chúng công nhận quyền ưu tiên của bổn phận quốc tế, đổi mới những cơ quan quốc tế để đạt hiệu quả lớn hơn. (Octogesima Adveniens, n. 43)

297. Lòng thương xót chính hiệu, nói được là nguồn mạch thâm sâu nhất của công bằng. Nếu công bằng tự nó có nhiệm vụ “làm trọng tài” giữa những con người để phân chia cho họ theo đúng công bằng những của cải vật chất, thì ngược lại, tình yêu và chỉ có tình yêu (và cũng là thứ tình yêu nhân từ chúng ta gọi là “lòng thương xót”), có khả năng trả lại con người cho chính nó. Sự thương xót thật sự Kitô giáo, trong một nghĩa nào đó, cũng là sự hiện thân hoàn hảo nhất của sự “bình đẳng” giữa những con người, và như vậy cũng là sự hiện thân hoàn hảo nhất của phép công bằng, theo mức độ mà trong phạm vi riêng, nó nhằm cũng một hậu quả. Nhưng sự bình đẳng qua phép công bằng giới hạn
trong lãnh vực những của cải khách quan và bên ngoài, đang khi tình yêu và lòng thương xót cho phép những con người gặp nhau trong giá trị này là chính con người, với phẩm giá riêng biệt của nó. Đồng thời, “sự bình đẳng” phát sinh từ tình yêu “nhẫn nại và nhân từ”, không tẩy xoá những khác biệt … (Dives in misericordia, n. 14)

298. Những nhà chuyên môn các khoa học xã hội lớn tiếng kêu gọi một sự hợp lý hoa để tái lập trật tự trong cuộc sống kinh tế. Nhưng trật tự này mà Chúng tôi tha thiết đòi hỏi và Chúng tôi làm những gì có thể làm giúp nó xuất hiện, chắc sẽ không hoàn hảo bao lâu mà tất cả những hình thức sinh hoạt con người không cùng góp phần cách hài hoà để bắt chước và thực hiện, hết sức có thể, sự thống nhất kỳ diệu của chương trình thần linh. Chúng tôi có ý nói ở đây về trật tự hoàn hảo này mà Giáo Hội không ngừng rao giảng, và chính lý trí ngay thẳng đòi hỏi, trật tự này tin Thiên Chúa là định hạn đầu tiên và cuối cùng của mọi sinh hoạt được tạo dựng, và chỉ đánh giá những của cải đời này như là những phương tiện thuần tuý phải sử dụng trong mức độ chúng đưa tới mục tiêu này. Thay vì coi rẽ sự thực thi những nghề nghiệp có lợi này là ít phù hợp với phẩm giá con người, khoa triết học này ngược lại dạy chúng ta thấy ở đó ý muốn lành
mạnh của Đấng Sáng Tạo, Người đã đặt con người trên trái đất để con người canh tác nó và bắt nó phục vụ tất cả những nhu cầu của mình. Vậy không cấm những ai sản xuất, tăng gia của cải mình cách lương thiện; ngược lại, theo lẽ công bằng là bất cứ ai phục vụ xã hội và làm giàu xã hội, thì, tùy theo hoàn cảnh của họ, hưởng dụng sự gia tăng những của cải chung, miễn là, trong việc làm giàu, họ tôn trọng luật Chúa và các quyền của tha nhân, và trong việc sử dụng những của cải đó, phải tuân theo những luật đức tin và lý trí. Nếu mọi người, mọi nơi và luôn luôn, hành động theo những luật này, thì không những việc sản xuất và chiếm hữu những của cải thế giới này, mà còn việc tiêu thụ các của cải đó, tiêu thụ rất hỗn loạn ngày nay, sẽ mau chóng được đưa về trong những giới hạn của sự bình đẳng và sự
phân phối công bằng; đối lại tính ích kỷ buông lỏng, sự sỉ nhục và là tội to của thế kỷ chúng ta, tính thực tại của các sự kiện đưa ra luật điều độ Kitô giáo này vừa rất êm dịu vừa rất mãnh liệt, luật đó dạy con người phải tìm kiếm trước hết Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, trong niềm tin chắc rằng chính những của cải đời này sẽ được ban thêm cho mình, vì có một lời hứa rõ ràng về lòng rộng rãi của Chúa (Mt 6, 33). (Quadragesimo Anno, n. 136)

299. Con người thời đại chúng ta càng ngày càng ý thức mãnh liệt về những chênh lệch ấy, vì họ thâm tín rằng những kỹ thuật tân tiến và những năng lực kinh tế của thế giới ngày nay có thể và phải sửa đổi được những tệ trạng kia. Muốn vậy, cần phải cải tổ đời sống kinh tế, xã hội và mọi người phải đổi mới tâm thức và thái độ của mình. Nhằm mục đích ấy, nên qua bao thế hệ, vói ánh sáng Phúc Âm, Giáo Hội đã cố gắng hết sức mình hướng dẫn những nguyên tắc về công bình và quân bình trong đời sống cá nhân, xã hội và quốc tế cho hợp với những đòi hỏi của lương tri nhân loại, nhất là trong những ngày gần đây Giáo Hội càng đưa ra những nguyên tắc ấy hơn. Trong khi đặc biệt nhìn vào những đòi hởi của sự phát triển kinh tế, Thánh Công Đồng muốn củng cố lại những nguyên tắc đã nêu trên, đồng thời vạch ra một vài hướng đi phù hợp với hoàn cảnh của thời đại này. (Gaudium et Spes, n 63)

III. Đức Bác Ái và Sự Chọn Lựa Ưu Tiên Dành Cho Người Nghèo

300. Đức mến là điều răn mang tính xã hội cao nhất. Đức mến tôn trọng tha nhân và các quyền lợi của họ, đòi buộc thực thi công ích mà chỉ có đức mến mới giúp ta thực hiện được. Đức mến thúc đẩy chúng ta sống dấn thân: “Ai tìm cách giữ mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình, thì sẽ bảo tồn được mạng sống” (Lc 17, 33). (GLHTCG, n. 1889)

301. Như vậy không phải là dư thừa việc xét lại và đào sâu dưới ánh sáng này những chủ đề và những hướng đặc thù mà Huấn Quyền đã nhắc lại những năm gần đây. Tôi muốn nhấn mạnh ở đây một trong các điểm đó: việc lựa chọn hay là tình yêu dành cho kẻ nghèo. Đó là một sự lựa chọn, hay là một hình thức riêng biệt của sự ưu tiên trong việc thực hành đức bác ái Kitô giáo mà truyền thống của Giáo Hội minh chứng. Đức bác ái đó liên hệ tới sự sống của mỗi Kitô hữu, bao lâu họ bắt chước sự sống Chúa Kitô, nhưng cũng áp dụng cho những trách nhiệm xã hội chúng ta và như vậy là cho cách sống chúng ta, cho những quyết định chúng ta phải lấy một cách có hệ thống đối với vấn đề tư hữu và sử dụng của cải. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 42)

302. Đọc lại bức Thông Điệp Rerum Novarum trong ánh sáng của thực trạng hiện nay giúp chúng ta nhận thức được mối quan tâm thường xuyên và sự xả thân của Giáo Hội đối với những người đặc biệt được Chúa Giêsu thương mến. Nội dung của bản văn là một chứng từ tuyệt hảo nói lên việc làm liên tục trong Giáo Hội về điều được gọi là “thái độ chọn lựa ưu tiên đứng về phía người nghèo”, một lựa chọn mà tôi định nghĩa như một “hình thức đặc biệt ưu tiên trong việc thi hành công tác bác ái Kitô giáo”. (SRS, n. 42). (Centesimus Annus, n. 11)

303. Trong khi tìm cách thăng tiến phẩm giá con người, Giáo Hội tỏ ra ưu tiên yêu thương người nghèo và những người không có tiếng nói, vì Chúa đã tự đồng hoa mình với họ một cách đặc biệt (x. Mt 25, 40). Tình thương ấy không loại trừ ai, mà chỉ thể hiện một sự ưu tiên trong phục vụ như toàn bộ truyền thống Kitô giáo đã làm chứng. “Ưu tiên yêu thương người nghèo và có những quyết định xuất phát từ tình thương ấy không gì khác hơn là muốn rộng tay đón nhận lấy hết con số đông đảo những người đói khát, túng thiếu, vô gia cư, những người không được y tế chăm sóc, và nhất là những người không hy vọng có một tương lai tốt đẹp hơn. (Ecclesia in Asia n. 34)

304. Trong kinh Magnificat của Đức Maria, tình yêu thương ưu ái đối với người nghèo khổ được ghi lại cách tuyệt diệu. Vị Thiên Chúa của giao ước mà người Trinh Nữ Nadareth ca mừng trong niềm vui hớn hở của tâm trí cũng chính là Đấng “hạ bệ những ai quyền thế, nâng cao mọi kẻ khiêm nhường, kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư, người giàu có lại đuổi về tay trắng … dẹp tan phường lòng trí kiêu căng và tình thương Chúa trải qua bao thế hệ, dành cho ai biết kính sợ Người”. Đức Maria được thấm nhuần tinh thần “người nghèo của Đức Giavê “theo lời cầu nguyện trong các Thánh Vịnh, họ mong đợi ơn cứu độ từ Thiên Chúa, và hoàn toàn tín thác nơi Ngài (x. Tv 25; 31; 35; 55). (Redemptoris Mater, n. 37

305. Thánh Giacôbê nói “Nếu có người anh em hay chị em không có áo mặc, không có cơm ăn, mà một người trong anh em chỉ nói với họ rằng: “Chúc anh em về bình an, hãy cố mặc cho ấm, cố ăn cho no, rồi không cho họ gì cần cho thân xác họ, thì lời nói đó nào ích gì” ? (Gc 2, 15-16) Ngày nay không ai mà không biết rằng, trên nhiều lục địa biết bao người đang bị nạn đói hành hạ; biết bao trẻ em thiếu ăn, đến nỗi một phần lớn phải chết lúc còn nhỏ tuổi; bao nhiêu người khác không phát triển được về vật chất lẫn tinh thần cũng vì đó. Bao nhiêu miền đất rộng lớn đang vì thế mà phải sống trong tình trạng tuyệt vọng thê thảm. (Populorum Progressio, n, 45)

306. Có lẽ có một số người ngày nay, làm tiếng vọng trung thành cho các người ngoại đạo thời xưa, đi tới chỗ tự làm một binh khí tấn công Giáo Hội, bằng một đức bác ái cũng lạ lùng. Người ta đã thấy một lòng nhân từ được các luật dân sự thiết lập để thay thế đức bác ái Kitô giáo. Nhưng đức bác ái Kitô giáo này, hoàn toàn hiến mình và không có hậu ý nào khác ngoài việc phục vụ tha nhân, không thể bị thay thế bằng một tổ chức nhân loại nào khác. Chỉ duy Giáo Hội mới có nhân đức này, bởi vì người ta chỉ múc lấy được nó nơi Trái Tim cực thánh Chúa Giêsu Kitô mà thôi, và đi lạc xa Chúa Giêsu Kitô là đi xa Giáo Hội của Người. (Rerum Novarum, n. 30)

307. Điều hiển nhiên là người Công Giáo phải cảm thấy cách riêng bổn phận giúp đỡ người đang vùng vẫy trong cảnh thiếu thốn và bần cùng. Trở thành chi thể của Thân Thể mầu nhiệm Chúa Kitô là một nguyên nhân cao thượng nhất cho họ. Thánh Gioan tông đồ tuyên bố: “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được tình yêu là gì: đó là Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em. Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được ?” (1 Ga 3, 16-17) (Mater et Magistra, n. 159)

IV. Nhà Nước Chăm Sóc Bảo Vệ

308. Trong những hoàn cảnh hết sức đặc biệt, Nhà Nước cũng có thể thực hiện vai trò thay thế khi các lãnh vực của xã hội hoặc hệ thống kinh doanh quá yếu hoặc vừa khởi sự không thể làm tròn trách nhiệm đòi hỏi trước mắt. Những sự can thiệp có tính cách phụ trợ đó, vì lý do khẩn cấp liên quan tới công ích, phải càng ngắn càng tốt để tránh việc loại bỏ vĩnh viễn vai trò chuyên biệt của xã hội và giới doanh thương đồng thời cũng tránh nới rộng quá đáng địa bàn hoạt động của Nhà Nước gây tổn hại cho cả tự do kinh tế lẫn tự do của công dân. Trong những năm gần đây mức độ can thiệp đó đã lan quá rộng tới chỗ tạo ra một loại Nhà Nước mới, mệnh danh là “nhà nước an ninh -Etat du bien-être”. Việc này đã xảy ra trong một vài quốc gia để đáp ứng hữu hiệu hơn trước nhu cầu và các đòi hỏi, bằng cách sửa chữa các hình thức nghèo túng và thiếu thốn không xứng đáng với con người. Tuy nhiên, do sự thái quá và lạm dụng, đặc biệt là trong những năm gần đây, đã khiến dư luận chỉ trích gắt gao Nhà Nước an ninh, được gán cho danh xưng là “Nhà Nước trợ cấp xã hội -Etat de l’assistance”. Những sự điều hành bê bối và những khuyết điểm trong chế độ Nhà Nước an ninh là do có sự hiểu sai về nhiệm vụ đúng đắn của Nhà Nước. Một lần nữa ở đây nguyên tắc hỗ trợ phải được tôn trọng: một cộng đồng ở mức cao hơn không được can thiệp vào đời sống nội bộ của một cộng đồng ở mức thấp hơn, tước đoạt
vai trò của nó, nhưng nên hỗ trợ trong trường hợp cần thiết và giúp phối hợp hoạt động của nó với các hoạt động của những cộng đồng còn lại trong xã hội, luôn luôn nhắm tới mục tiêu công ích.

Bằng việc can thiệp trực tiếp và gạt bỏ xã hội ra khỏi trách vụ của mình, quốc gia trợ cấp xã hội làm mất đi các năng lực của con người và làm gia tăng quá đáng các công sở, những cơ quan này mang nặng tính cách thư lại nhiều hơn là hăng say trợ giúp các thân chủ của mình và do đó làm ngân sách chi tiêu gia tăng. Thực tế, chính những người sống gần gũi nhất và sống như là những người bạn láng giềng với những người túng thiếu mới hiểu và thoả mãn được nhu cầu của họ. Cần nói thêm là một vài loại nhu cầu thường mong đợi được đáp lại không phải chỉ bằng vật chất mà còn có thể nhìn thấy nhu cầu sâu xa hơn của con người. Người ta nghĩ đến tình trạng của những người tị nạn, những người di dân, những người già cả, những người ốm yếu và tất cả những người ở vào hoàn cảnh cần được nâng đỡ như
những nạn nhân ghiền ma tuý, tất cả những người chỉ có thể được trợ giúp hữu hiệu bởi những người đem lại cho họ, ngoài những sự săn sóc cần thiết, còn có sự nâng đỡ trong tình anh em. (Centesimus Annus, n. 48)

309. Sở dĩ Giáo Hoàng Lêô XIII kêu gọi nhà cầm quyền cải thiện điều kiện sinh sống của người nghèo cho phù hợp với công lý, chính vì ngài đã nhận thức đúng lúc rằng nhà cầm quyền có bổn phận quan tâm tới công ích và bảo đảm mọi giai tầng trong đời sống xã hội, luôn cả đời sống kinh tế, cùng đóng góp thực hiện công ích đó, đồng thời vẫn trọng sự tự trị hợp lý của mỗi giai tầng trong xã hội. Tuy nhiên điều này không thể khiến chúng ta nghĩ rằng Đức Giáo Hoàng Lêô mong đợi chính quyền sẽ giải quyết mọi vấn đề xã hội. Trái lại, ngài thường nhấn mạnh về những giới hạn cần thiết trong sự can thiệp của Nhà Nước và về bản chất công cụ của Nhà Nước bởi vì cá nhân, gia đình và xã hội có trước Nhà Nước, và vì Nhà Nước hiện hữu chỉ để bảo vệ quyền lợi của những thực thể này chứ không phải để bóp nghẹt những quyền đó. (Centesimus Annus, n. 11)

310. Chúng ta đã nói, điều hợp lý là cá nhân, gia đình không bị Nhà nước thôn tính. Đúng là cá nhân và gia đình có quyền hành động cách tự do, bao lâu mà điều đó không xúc phạm ích chung và không làm thiệt hại cho ai. Dầu vậy, trách nhiệm của những người cầm quyền phải chăm sóc cộng đồng và các thành phần cỉa nó; nói cộng đồng, là vì thiên nhiên đã giao phó việc gìn giữ cộng đồng cho quyền tối cao, đến nỗi nền an ninh công cộng không những là luật tối cao ở đây, nhưng chính là nguyên nhân và lẽ sống của quyền dân sự. (Rerum Novarum, n. 35)

Lm. Phêrô Nguyễn Quang Sách chuyển ngữ.