CHƯƠNG X: CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ

I. Gia Đình

324. Theo mạc khải Kinh Thánh, Thiên Chúa đã dựng nên con người – có nam có nữ – giống hình ảnh Người (x. St 1, 26-27; 5, 1-2; 9, 6). Sự liên kết con người với Đấng Sáng Tạo của mình xây dựng phẩm giá và các quyền cơ bản bất khả nhượng của con người, mà Chúa là Đấng bảo lãnh. Những quyền cá nhân này rõ ràng phải tương ứng với những bổn phận đối với những người khác. Không cá nhân nào, không xã hội nào, không Nhà Nước nào, không một cơ chế nhân loại nào có thể qui con người – hay một nhóm người – về tình trạng sự vật … Mạc khải nhấn mạnh hơn hết về sự hợp nhất gia đình nhân bản; tất cả mọi người được tạo dựng trong Chúa đều có cùng một nguồn gốc; mặc dầu trong dòng lịch sử, có sự phân tán hay sự đánh nổi những khác biệt của họ, con người vẫn được trí định làm thành một gia đình mà thôi, theo kế đồ của Chúa thiết lập “từ đầu” … Thánh Phaolô đã tuyên bố với người thành Athènes: “Từ một
người duy nhất, Thiên Chúa đã tạo thành toàn thể nhân loại, để họ ở trên khắp mặt đất”, đến nỗi mọi người có thể nói với thi sĩ rằng họ là “chính dòng dõi” của Thiên Chúa (Cv 17, 26, 28-29), (L’Eglise face au racisme, nn. 19-20)

325. Giáo Hội, như người ta biết, là phổ quát theo luật Thiên Chúa; Giáo Hội cũng cũng có tính phổ quát trên thực tế bởi vì Giáo Hội hiện diện ở khắp các dân tộc hay là có khuynh hướng hiện diện như vậy. (Mater et Magistra, n. 178)

326. Từ đó ý thức về Chúa là Cha chung, về mọi người là anh em trong Chúa Kitô, “những người con trong Người Con”, về sự hiện diện và về hành động ban sự sống của Chúa Thánh Thần, làm cho cái nhìn của chúng ta trên thế giới, như có một tiêu chuẩn mới để giải thích. Xa hơn những liên kết nhân loại và tự nhiên, đã là rất vững mạnh và rất chặt chẽ, dưới ánh sáng của đức tin còn hiện ra một mẫu hiệp nhất nhân loại mới mà cuối cùng sự liên đới phải dựa theo. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 40)

II. Trao Đổi Tự Do

327. Học thuyết của đức Lêo XIII trong Thông Điệp “Tân Sự” có giá trị mãi mãi, sự đồng ý của hai bên ký kết không đủ để bảo đảm cho tờ hợp đồng được công bằng, trong trường hợp hai bên quá bất bình đẳng, và luật tự do ưng thuận còn phải lệ thuộc vào những đòi buộc của luật tự nhiên. Phải đòi hỏi cho đồng lương của người thợ được công bằng thế nào, thì cũng phải đòi cho các thoả ước quốc tế như vậy: hệ thống thương mại không còn có thể dựa trên nguyên luật tự do cạnh tranh, thường khi nó lại phát sinh một nền kinh tế độc tài. Tự do giao thương chỉ công bằng khi nào tuân theo những đòi hỏi của công bằng xã hội. (Populorum Progressio, n, 59)

328. Còn phải thiết lập một nền công bằng lớn hơn trong việc phân phối của cải, bên trong những cộng đồng quốc gia cũng như trên bình diện quốc tế. Trong những giao thương quốc tế, cần phải vượt qua những tương quan dựa trên sức mạnh để đi tới những thoả thuận có bản tính nhằm thiện ích cho mọi người. Những tương quan theo sức mạnh không bao giờ, thật vậy, dựng nên một nền công bằng bền vững và chân thật, cho dầu đến những lúc nào đó sự xen kẻ những vị trí thường cho phép gặp được những điều kiện dễ dàng hơn để đối thoại. Vả lại việc sử dụng quyền lực gây ra việc vận dụng những sức lực đối kháng, phát sinh một bầu khí tranh đấu mở ra những hoàn cảnh cực kỳ thô bạo và lạm dụng (x. PP, n. 56). Nhưng, chúng tôi đã thường khẳng định, bổn phận quan trọng nhất của phép công bằng là cho phép mỗi quốc gia thăng tiến sự phát triển mình, trong khung cảnh một sự hợp tác tránh khỏi tất cả tinh thần thống trị, kinh tế và chính trị. Thật vậy, tình thế phức tạp của những vấn đề được nêu lên thì to lớn trong sự chằng chịt hiện nay giữa
những nước lệ thuộc với nhau; cho nên phải can đảm duyệt lại những tương quan giữa các quốc gia, dầu đó là sư phân phối quốc tế của việc sản xuất, là cấu trúc các sự trao đổi, là kiểm soát những lợi nhuận, là hệ thống tiền tệ – không quên những hành động của tình liên đới nhân đạo – là đặt thành vấn đề những kiểu mẫu sinh trưởng của các nước giàu, là biến đổi những não trạng để thấy rõ quyền ưu tiên của bổn phận quốc tế, là cải thiện những tổ chức quốc tế để đạt được hiệu quả lớn hơn. (Octogesima Adveniens, n. 43)

329. Ở đây không thể sử dụng hai loại cân và hai thứ đo lường. Điều có giá trị trong nền kinh tế quốc gia, điều mà người ta công nhận giữa những nước phát triển, cũng có giá trị trong những tương quan thương mại giữa những nước giàu và những nước nghèo. Tuy không loại bỏ cạnh tranh trên thị trường, nhưng phải giữ cho cạnh tranh đó ở trong giới hạn công bằng, hợp đạo và xứng với con người hơn. Trong việc thương mại giữa những nền kinh tế phồn thịnh với những nền kinh tế kém mở mang, các hoàn cảnh quá khác nhau và những tự do không đồng đều. Sự giao dịch thương mại giữa các nước muốn cho ngay thẳng và nhân đạo, theo luật công bằng, phải cho hai bên ít nhất những sự may mắn mua bán đồng đều. Đó là mục đích lâu dài. Nhưng muốn đạt tới đó phải tạo lập ngay từ bây giờ sự công bằng thực sự trong các cuộc thảo luận và thương thuyết. Trong vấn đề này, những thoả hiệp ký kết giữa một số khá đông quốc gia, sẽ có ích lợi: vì những thoả hiệp đó sẽ đặt những nguyên tắc tổng quát để điều hoà một số giá cả, để bảo đảm cho một số sản phẩm, để nâng đỡ một số kỹ nghệ mới phát sinh. Ai mà lại không thấy rằng một cố gắng chung để tiến tới công bằng hơn trong việc giao dịch buôn bán giữa các nước, sẽ đem lại cho các quốc gia kém mở mang một sự giúp đỡ hữu hiệu, kết quả không những là thấy ngay, mà còn tồn tại mãi ? (Populorum Progressio, n. 61)

III. Hoa Bình và Chiến Tranh

330. Hoà bình không hẳn là vắng bóng chiến tranh, cũng không chỉ được giản lược vào sự quân bình giữa các lực lượng đối phương, cũng không phát xuất do một nền cai trị độc tài, nhưng theo đúng định nghĩa thì hoà bình là “công trình của công bằng” (Is 32, 7). Hoà bình là kết quả của một trật tự đã được chính Thiên Chúa, Đấng Sáng Lập, ghi khắc vào xã hội loài người và phải nhờ con người luôn luôn khao khát một nền công bằng hoàn hảo hơn thể hiện trong hành động. Thật thế, mặc dầu tự bản chất công ích của nhân loại dĩ nhiên phải được định luật đời đời quy định, tuy nhiên trong những đòi hỏi cụ thể của nó, công ích vẫn phải chịu những thay đổi không ngừng với diễn biến của thời gian: hoà bình không bao giờ đạt được một lần là xong, nhưng phải xây dựng mãi mãi. Hơn nữa, vì ý chí của con người yếu đuối và bị tội lỗi làm tổn thương, do đó muốn có hoà bình mỗi người phải luôn luôn kiềm chế dục vọng của mình và chính
quyền phải canh phòng cẩn thận. Nhưng như thế chưa đủ. Hoà bình ấy chỉ có được trên trần gian, nếu giá trị của từng cá nhân được bảo đảm và mọi người tin tưởng cũng như tự nguyện san sẻ cho nhau những của cải tinh thần và tài năng của họ. Ý chí cương quyết muốn tôn trọng người khác, những dân tộc khác cũng như phẩm giá của họ và sự ân cần thực thi tình huynh đệ là những điều kiện thiết yếu để xây dựng hoà bình. Như thế, hoà bình cũng là kết quả của tình thương, một thứ tình thương vượt xa những gì công bằng có thể đem đến. Phát sinh từ tình yêu tha nhân, hoà bình trần gian là hình ảnh và là kết quả của hoà bình Chúa Kitô, hoà bình do Đức Chúa Cha mà đến. Vì chính Chúa Con Nhập Thể là Thái Tử Hoà Bình đã dùng thập giá Người để hoà giải mọi người với Thiên Chúa; Người đã tái lập sự hiệp nhất mọi người thành một dân tộc và một thân thể. Người đã huỷ diệt hận thù trong chính xác thể Người, va sau khi đã khải hoàn phục sinh, Người đã đổ tràn Thánh Thần tình yêu đầy lòng con người. Do đó, khi thực thi chân lý trong bác ái (x. Ep 4, 15), mọi Kitô hữu được khẩnthiết kêu mời hãy kết hiệp với những người thực sự yêu chuộng hoà bình để cầu khẩn và thiết lập hoà bình. Cũng trong tinh thần đó, chúng tôi không thể không ca ngợi những ai tranh đấu cho quyền lợi mà không dùng bạo động, nhưng dùng những phương tiện tự vệ sẵn có cho những người yếu kém, miễn sao không hại
đến quyền lợi và bổn phận của người khác và của cộng đoàn. (Gaudium et Spes, n. 78)

331. Cần phải có hoà bình để con người được sống và phát triển. Hoà bình không chỉ là vắng bóng chiến tranh và không chỉ giới hạn ở việc giữ thế quân bình giữa các lực lượng đối lập. Thế giới chỉ có hoà bình khi tài sản của con người được bảo vệ, con người được tự do giao lưu, phẩm giá của con người và của các dân tộc được tôn trọng, tình huynh đệ được thực thi. Hoà bình là “ổn định trật tự” (Saint Augustin, De civ. Dei, IX. 13. 1), là công trình của công lý (x. Is 32, 17) và hoa quả của đức ái. (GLHTCG, n. 2304)

332. Hoà bình không ngừng bị đe doạ và chiến tranh nổ ra vì những bất công, bất bình đẳng thái quá về kinh tế hoặc xã hội, vì lòng tham, sự ngờ vực và tính kiêu căng đang hoành hành giữa những con người và các quốc gia. Tất cả những gì được thực hiện nhằm khắc phục các tệ hại này đều góp phần vào việc kiến tạo hoà bình và xa lánh chiến tranh: Bao lâu con người còn là những kẻ tội lỗi, hiểm hoạ chiến tranh còn đe doạ, và vẫn còn đe doạ cho đến khi Chúa Kitô quang lâm. Tuy nhiên, nhờ kết hợp trong bác ái, con người thắng vượt tội lỗi, và cũng thắng vượt bạo lực cho tới khi lời sau đây được hoàn tất: “Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến” (GS, n. 78; x. Is 2, 4). (GLHTCG, n. 2317)

333. Phải tôn trọng và đối xử nhân đạo với thường dân, thương binh và tù binh. Những hành động cố ý vi phạm nhân quyền và các nguyên tắc phổ quát của nhân quyền, cũng như các lệnh truyền thi hành các hành động ấy, đều là tội ác. Chấp hành mệnh lệnh cách mù quáng không đủ để bào chữa cho những ai tuân hành các lệnh đó. Do đó, việc tiêu diệt một dân tộc, một quốc gia hoặc một nhóm thiểu số phải bị kết án như một tội trọng. Luân lý đòi chúng ta phải chống lại các mệnh lệnh diệt chủng. (GLHTCG, n. 2313)

IV. Vũ Trang

334. Ngược lại, chúng tôi rất đau đớn khi thấy trong các nước có nền kinh tế phát triển hơn, những cuộc vũ trang thái quá đã sẵn sàng và còn đang chuẩn bị, không phải là không gây ra những phí tổn to lớn nhất về của cải cả hồn lẫn xác. Do đó những công dân của các nước này phải chịu những sắc thuế nặng nề, còn các nước khác lại thiếu những phương tiện để phát triển trong vấn đề kinh tế và xã hội. (Pacem in Terris, n. 109)

335. “Xưa Ta đói mà các ngươi không cho Ta ăn … Ta mình trần mà các ngươi không cho Ta mặc … Ta ở tù mà các ngươi không thăm viếng” (Mt 25, 42). Những lời như thế càng có thêm giá trị cảnh cáo nếu chúng ta nghĩ tới tình trạng là thay vì đem cơm bánh và sự trợ giúp văn hóa đến cho các chính phủ và các nước mới độc lập, nhiều khi người ta chỉ đem tặng thật nhiều những khí giới tối tân và những phương tiện phá hoại để phục vụ cho  những cuộc xung đột vũ trang và những cuộc chiến tranh không phải là một sự cần thiết bảo vệ các quyền lợi chính đáng và chủ quyền của các nước đó cho bằng là một hình thức biểu lộ chủ nghĩa sôvanh, chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân mới đủ loại. (Redemptor Hominis, n. 16)

336. Huấn giáo của Giáo Hội Công Giáo như vậy là rõ ràng và nhất quán. Huấn giáo đó than phiền việc chạy đua vũ trang, yêu cầu ít nhất là cả hai bên giảm binh bị từ từ và có thể xác minh, cũng như phải có những đề phòng lớn hơn chống lại những sự lầm lạc có thể xảy ra trong lúc sử dụng những khí giới nguyên tử. Đồng thời, Giáo Hội đòi hỏi phải biết tôn trọng nền độc lập, quyền tự do và nền an ninh hợp pháp cho mỗi quốc gia. (Sứ điệp gởi cho Khoá II đặc biệt LHQ, về việc giảm binh bị, n. 5)

337. Một cuộc võ trang điên rồ đã nuốt trọn nguồn tài nguyên cần thiết cho công cuộc phát triển kinh tế quốc gia và để viện trợ cho các quốc gia chậm tiến. Những tiến bộ về khoa học và kỹ thuật đáng lý phải đóng góp vào việc phục vụ con người, đã biến thành công cụ của chiến tranh. Khoa học và kỹ thuật được hướng về việc sản xuất những võ khí còn hiệu quả và có sức tàn phá hơn bao giờ hết. (Centesimus Annus, n. 18)

V. Một Nền Công Ích Toàn Cầu

338. Con người trên địa cầu càng lệ thuộc lẫn nhau. Sự hiệp nhất gia đình nhân loại tập hợp những con người có phẩm giá bình đẳng, bao gồm một nền công ích toàn cầu. Nền công ích này cần có một tổ chức hiệp nhất và liên quốc gia, có khả năng “đáp ứng những nhu cầu muôn mặt của con người trong lãnh vực xã hội (như thực phẩm, y tế, giáo dục … ) cũng như để đối phó với bao hoàn cảnh đặc biệt có thể xảy ra nơi này nơi khác (Cứu trợ những người tị nạn, giúp đỡ cho những người di dân và gia đình họ … )” (GS, n. 84). (GLHTCG, n. 1911)

339. Cũng thế khi nói về công ích của các quốc gia riêng biệt, người ta không thể phán đoán về sự gì có ích cho tất cả các nước nói chung, nếu không qui chiếu về con người; cho nên thẩm quyền công và phổ quát trước tiên phải nhắm tới điều này là công nhận những quyền con người, tôn trọng những quyền đó cho đúng, bảo toàn những quyền đó khỏi bị xâm phạm, cho những quyền đó lớn lên trong bản chất; điều mà thẩm quyền đó có thể thực hiện hoặc tự mình, nếu được, hoặc bằng cách tạo ra trên bình diện quốc tế những điều kiện, nhờ đó giới quản trị các Nhà Nước riêng biệt có thể hoàn thành dễ dàng hơn những trách nhiệm của mình. (Pacem In terris, n. 139)

VI. Những Tổ Chức Xuyên Quốc Gia Và Liên Quốc Gia

340. Vậy chúng tôi tha thiết mong ước sao cho Tổ chức Liên Hiệp Quốc ngày càng có thể ứng dụng hình thức của mình và những phương tiện hành động của mình phù hợp với tầm cỡ và sự cao đẹp của những trách nhiệm mình. Mong sao sớm tới lúc mà Tổ chức này có thể bảo vệ cách hiệu nghiệm những quyền con người: những quyền này, trực tiếp phát xuất từ phẩm giá con người, nên có tính phổ quát, bất khả xâm phạm và bất khả nhượng; càng hơn thế vì ngày nay con người tham gia nhiều hơn luôn vào những công việc chung của quốc gia riêng mình, con người chứng tỏ một sự quan tâm ngày càng gia tăng đối với những công việc của tất cả các dân tộc, và con người luôn luôn ý thức hơn mình tùy thuộc, với tư cách là những thành viên sống động, vào gia dình phổ quát loài người. (Pacem in Terris, n. 145)

341. Sự cộng tác giữa các dân tộc trên thế giới như thế, đòi hỏi những cơ cấu để chuẩn bị, phối hiệp và điều hành, có thể nói là cả một cơ cấu pháp lý được mọi người thừa nhận. Chúng Tôi hết lòng khuyến khích những tổ chức đã giúp các dân tộc cộng tác trong việc phát triển, và Chúng tôi cầu chúc uy thế của các tổ chức được gia tăng, như Chúng Tôi đã ngõ lời trước các đại biểu Liên Hiệp Quốc tại Nữu Ước: “Sứ mạng của quí vị là cổ võ tình anh em không phải chỉ giữa một vài dân tộc, mà tất cả mọi dân tộc … ” (Populorum Progressio, n. 78)

342. Những tiến triển khoa học và kỹ thuật trong tất cả các lãnh vực của đời sống xã hội gia tăng và siết chặt những tương quan giữa các quốc gia, làm cho sự tùy thuộc của chúng trở nên luôn sâu xa và sống động hơn.
Do đó, người ta có thể nói rằng tất cả vấn đề con người dù có tầm quan trọng nào, nội dung của nó ra sao, khoa học, kỹ thuật, kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoa, ngày nay mặc lấy những chiều kích siêu quốc gia và thường là chiều kích thế giới. Do đó, đứng một mình, những cộng đồng chính trị tự mình và với sức lực riêng mình không thể giải quyết xứng hợp những vấn đề lớn hơn của họ, cho dầu những cộng đồng đó nổi tiếng vì một nền văn hóá cao phổ biến rộng rãi, vì số đông và sinh hoạt của các công dân mình, vì hiệu năng của cơ chế kinh tế của mình, vì bề rộng và sự phì nhiêu đất đai của mình. Các quốc gia ảnh hưởng đến nhau, và người ta có thể khẳng định rằng mỗi quốc gia chỉ phát triển khi góp phần làm phát triển những quốc gia khác. Nên họ phải có sự thoả thuận và sự hợp tác với nhau. (Mater et Magistra, nn. 200-202)

343. Còn phải đi xa hơn nữa. Tại Bombay Chúng tôi đã kêu gọi thiết lập một ngân quỹ quốc tế đóng góp bởi một phần chi phí quân sự, để đem giúp đỡ những nước đói kém. (Paul VI, Message au Monde, remis aux journalistes). Chống nghèo đói cần thiết như thế nào thì phát triển các dân tộc cũng cần thiết như vậy. Ngân quĩ quốc tế này vừa là hình ảnh vừa là khí cụ của sự hợp tác giữa các dân tộc. Chỉ có sự hợp tác như thế mới có thể giúp vượt qua được những tranh chấp vô ích và khơi nguồn cho một cuộc đối thoại phong phú và hoà bình giữa các dân tộc. (Populorum Progressio, n. 51)

VII. Di Dân

344. Tình yêu phụ tử, mà Thiên Chúa linh hứng cho Chúng tôi phải có đối với tất cả mọi người, làm Chúng tôi thấy buồn khi xem xét hiện tượng của những kẻ tị nạn chính trị. Hiện tượng này đạt tới những chiều kích sâu rộng và luôn luôn có kèm theo vô vàn đau khổ không thể tin được. Sự kiện này chứng tỏ rằng một số chính phủ hạn chế quá đáng bầu khí tự do mà mỗi công dân có quyền hưởng và cần có nó để sống ra người; những chế độ này đôi khi đi tới chỗ bài bác quyền tự do, nếu không loại hẳn quyền đó. Khi điều này xảy ra, chắc chắn trật tự xã hội dân sự bị đảo ngược tận gốc rễ; thật
vậy, công quyền tự bản tính nhằm bênh vực lợi ích của cộng đồng, và bổn phận đầu tiên của quyền này là nhìn nhận phạm vi hợp lý của tự do và bảo tồn những quyền của tự do. (Pacem in Terris, nn. 103-104)

345. Lục địa Mỹ theo lịch sử của mình thấy có nhiều phong trào di dân, với những đoàn người nam và nữ đến từ những vùng khác biệt vì hy vọng có được một tương lai khá hơn. Hiện tượng này còn tiếp diễn ngày nay; hiện tượng này liên can cách riêng tới nhiều người và nhiều gia đình đến từ những nước Mỹ-Latin, định cư tại những vùng phía Bắc lục địa, đến nỗi tạo nên, trong một số trường hợp, một phần dân cư đáng kể. Thường họ mang đến một gia sản văn hoa và tôn giáo giàu những yếu tố Kitô giáo đặc thù. Giáo Hội ý thức về những vấn đề do hoàn cảnh này tạo ra và cố gắng hết sức thực thi hoạt động mục vụ của mình giữa những người di dân này, để giúp họ lập nghiệp dễ dàng trong phần đất và đồng thời gợi ý cho dân địa phương có thái độ tiếp nhận, vì xác tín rằng sự tiếp nhận nhau sẽ lôi kéo theo sự làm giàu có cho mọi người. Những cộng đồng Giáo Hội phải thấy qua hiện tượng này một ơn gọi đặc thù sống giá trị Tin Mừng của tình huynh đệ, và đồng thời một sự mời gọi hăng hái sống đạo với một hoạt động truyền giáo sâu sắc hơn. Theo
nghĩa này, các Nghị Phụ đã nhắc lại rằng “Giáo Hội tại Mỹ châu phải là một luật sư tỉnh thức, chống bất cứ hạn chế bất
công nào, để bênh vực quyền tự nhiên của tất cả mọi người được di chuyển tự do bên trong xứ sở của mình và từ xứ này qua xứ khác. Phải quan tâm tới các quyền của những kẻ di dân và của gia đình họ, tôn trọng phẩm giá nhân vị của họ, kể cả trong những trường hợp di dân bất hợp pháp”. Đối với những người di dân, phải có một thái độ hiếu khách và niềm nở, thái độ đó khuyến khích họ chen chân vào đời sống Giáo Hội, nhưng vẫn luôn bảo tồn quyền tự do và căn tính văn hóa riêng của họ. Trong mục đích này, việc cộng tác giữa những giáo phận từ đó họ ra đi và những giáo phận họ tới nhập, nhất là nhờ những cấu trúc mục vụ xứng hợp mà luật pháp và việc thực hành của Giáo Hội đã dự liệu, (việc cộng tác đó) được chứng minh là hữu ích nhất. Nhờ vậy người ta bảo đảm được việc nâng đỡ mục vụ thích hợp nhất và đầy đủ nhất. Giáo Hội tại Mỹ châu phải có tinh thần lo lắng thường xuyên sao cho những kẻ mới tới và chưa biết Chúa Kitô được Phúc Âm hoa đầy đủ. (Ecclesia in America, n. 65)

346. Nhờ những kinh nghiệm cay đắng, nên chúng tôi biết rằng sự sợ “dị biệt”, nhất là khi dị biệt đó được diễn tả trong một chủ nghĩa quốc gia, có thể đưa tới sự sợ hãi về bạo loạn và khủng bố. Nhưng, nếu chúng ta cố gắng đánh giá sự thật cách khách quan, chúng ta có thể nhận xét rằng, bên kia tất cả những dị biệt biểu thị đặc điểm các cá nhân và các dân tộc, giữa họ lại có một độ tương hợp cơ bản, vì những nền văn hóa khác biệt trên thực tế chỉ là những cách khác nhau để đề cập vấn đề ý nghĩa sự hiện hữu con người. Chính tại đó mà chúng ta có thể làm nổi bật một nguồn kính trọng dành cho tất cả mọi nền văn hóá và tất cả các quốc gia. (Diễn văn tại kỳ Họp khoáng đại thứ 50 của Tổ chức Liên Hiệp Quốc, 1995, n. 9)

VIII. Nợ Nước Ngoài

347. Sự hiện hữu một món nợ nước ngoài bóp nghẹt nhiều dân tộc lục địa Mỹ châu, là một vấn đề phức tạp. Không đi vào trong nhiều khía cạnh của nó, Giáo Hội, trong việc lo lắng mục vụ của mình, không thể không biết vấn đề này, bởi vì nó liên can tới sự sống của một số đông người. Do đó nhiều Hội Đồng Giám Mục Mỹ châu, ý thức tầm quan trọng của vấn đề này, đã tổ chức những cuộc gặp gỡ để nghiên cứu và đã phổ biến những tài liệu nhằm đề xướng những giải đáp cụ thể. Về phần tôi, nhiều lần tôi đã phát biểu bận tâm của tôi trước hoàn cảnh này, mà trong nhiều trường hợp không thể chịu nổi. Trong viễn ảnh Đại Toàn Xá năm 2000, bây giờ rất gần rồi, và tôi nhớ đến ý nghĩa xã hội mà các các Năm Toàn Xá mặc lấy trong Cựu Ước (25, 8-12), các Kitô hũu phải trở nên tiếng nói của tất cả người nghèo trên thế giới, đề nghị Năm Thánh phải là một thời gian thuận lợi để nghĩ tới, giữa bao nhiêu chuyện khác, một sự giảm bớt quan trọng, nếu không phải xoá hoàn toàn món nợ quốc tế đè nặng trên số phận của nhiều quốc gia” (TMA, n. 36).

Lần nữa tôi bày tỏ lòng ước muốn, mà Thượng Hội Nghị lặp lại, Hội Đồng Giáo Hoàng cổ võ “Công lý và Hoà bình”, với những cơ chế khác có thẩm quyền như Ban Tổng Thư Ký Quốc Gia đối ngoại với các Nước, “qua sự nghiên cứu và đối thoại với các đại diện Thế Giới Thứ Nhất và với những vị trách nhiệm Ngân Hàng thế giới và của quĩ tiền tệ quốc tế, tìm ra những phương thế giải quyết vấn đề nợ nước ngoài cũng như tìm ra những quy luật ngăn cản những hoàn cảnh thể ấy tái diễn khi vay mượn lần sau”. Trên tầm cỡ rộng rãi hết sức, điều nên làm là “các chuyên viên ngành kinh tế và các vấn đề tiền tệ, có tiếng quốc tế, tiến hành một cuộc phân tích phê phán về trật tự kinh tế thế giới, trong những phương diện tích cực và tiêu cực, để sửa chữa trật tự hiện nay và đề nghị một hệ thống và những cơ chế có khả năng bảo đảm sự phát triển toàn vẹn và liên đới giữa những con người và các dân tộc “. (Ecclesia in America, n. 59)

348. Hơn nữa, khi đi tìm sự công bằng giữa một thế giới bị thiệt hại vì những bất bình đẳng về xã hội và kinh tế, Giáo Hội không thể làm ngơ trước những tình trạng nợ nần mà các nước đang phát triển tại Á châu phải gánh chịu, ảnh hưởng tới hiện tại và tương lai của các nước ấy. Nhiều khi, các nước ấy buộc lòng phải cắt giảm chi tiêu cho các nhu cầu của cuộc sống như lương thực, y tế, nhà ở và giáo dục, hầu có thể trả các món nợ họ đang mắc với các tổ chức tiền tệ và ngân hàng thế giới. Điều này có nghĩa là đã có nhiều người bị buộc phải sống trong những điều kiện hết sức ô nhục đối với phẩm giá con người. (Ecclesia in Asia, n. 40)

349. Các Nghị Phụ đã bày tỏ mối quan tâm của mình đối với món nợ nước ngoài tác hại đến nhiều quốc gia Mỹ châu, để tỏ tình liên đới với họ. Các ngài hết sức lôi kéo dư luận công cộng về sự phức tạp của vấn đề, nhìn nhận “nợ thường là hậu quả của tệ tham nhũng và quản lý kém”. Trong tinh thần suy tư của Hội Nghị, việc nhìn nhận đó không chủ trương tập trung, về một phía mà thôi, những trách nhiệm về một hiện tượng phức tạp trong nguồn gốc và trong các giải pháp của nó. Thật vậy, trong các nguyên nhân góp phần hình thành một món nợ nặng nề nước ngoài, phải tố giác không những tiền lãi cao, hậu quả những chính sách tài chính đầu cơ, mà còn sự vô trách nhiệm của một số nhà cầm quyền, khi ký kết một món nợ, họ không suy nghĩ dến những khả năng thật sự trả hết nợ, với tình tiết tăng tội là những số tiền khổng lồ thủ đắc nhờ những vụ vay mượn quốc tế, nhiều khi đi làm giàu cho các cá nhân, thay vì dùng để hỗ trợ những cải cách cần thiết cho cuộc phát triển trong nước. Đàng khác, thật bất công nếu để hậu quả của những quyết định vô trách nhiệm đè nặng trên những người không nhúng vào những quyết định đó. Sự nghiêm trọng của hoàn cảnh còn dễ hiểu hơn nếu người ta lưu ý tới sự kiện là “chỉ sự trả lãi mà thôi gây nên cho nền kinh tế những nước nghèo, một
gánh nặng làm cho chính quyền không còn tiền cần thiết để lo việc phát triển xã hội, giáo dục, sức khoẻ và tạo nguồn vốn sinh công ăn việc làm”. (Ecclesia in America, n. 2)

IX. Chủ Nghĩa Quốc Gia Và Những Xung Đột Sắc Tộc

350. Còn có những chướng ngại vật khác đang cản trở việc xây dựng một thế giới công bằng hơn và có cơ cấu vững chắc hơn trong tình liên đới nhân loại. Đó là: Chủ nghĩa quốc gia và chủng tộc cực đoan, Bởi vì người ta nhận thấy rằng có những dân tộc mới vãn hồi được độc lập, hết sức lo lắng bảo vệ một sự thống nhất chưa có gì vững mạnh, cũng có những dân tộc có nền văn minh cổ kính, hãnh diện về di sản của cha ông để lại.Những tâm tình đó chính đáng, nhưng phải được nâng cao lên tới một mức độ toàn thiện, nhờ một tình yêu đại đồng bao trùm lấy tất cả nhân loại. Chủ nghĩa quốc gia cực đoan làm cho các dân tộc chia rẽ nhau, và có hại cho lợi ích chung của họ. Tai hại nhất trong những vùng mà kinh tế nghèo nàn đòi buộc phải góp chung nhau nỗ lực, hiểu biết và phương tiện tài chính để thể hiện những chương trình phát triển kinh tế và tăng gia trao đổi thương mại và văn hoa. (Populorum Progressio, n. 62)

351. Nguyên tắc thứ nhất là phẩm giá bất khả nhượng của mỗi con người, không có phân biệt dựa trên nguồn gốc sắc tộc, chủng tộc, văn hóá, quốc gia hay trên tín ngưỡng của họ. Không ai hiện hữu cho chính mình, nhưng mỗi người có căn tính trọn vẹn là nhờ những kẻ khác, người hay nhóm; người ta có thể nói như vậy về những nhóm người. (Sứ điệp Ngày Thế Giới Hoà Bình, 1989, n. 3).

352. Ngày nay còn nhiều chuyện phải làm, để vượt thắng sự bất khoan dung tôn giáo, gắn liền chặt chẽ với việc đàn áp các dân tộc thiểu số, trong nhiều vùng thế giới khác nhau. Chúng tôi bất hạnh chứng kiến những mưu toan áp đặt cho kẻ khác những niềm tin tôn giáo riêng, hoặc là trực tiếp, bằng nhiệt tâm thu phục tân tòng với những phương cách thật sự cưỡng chế, hay gián tiếp bằng cách từ chối một số quyền dân sự và chính trị … Tính bất khoan dung cũng có thể là hậu quả của một phái duy văn tự (Fundamentalism) nào đó. Phái nầy tạo ra một cơn cám dỗ tái diễn mãi. Phái đó dễ dàng lôi kéo theo những lạm dụng trầm trọng như việc xoá bỏ tận gốc rễ của sự biểu lộ công khai về dị biệt hay là có khi phủ nhận quyền tự do phát biểu. Phái duy văn tự cũng có thể đưa tới chỗ loại trừ kẻ khác trong đời sống dân sự … (Sứ điệp Ngày Thế Giới Hoà Bình, 1991, n. 4)

353. Đề cao chủng tộc quá độ không phải chỉ là chuyện riêng của các quốc gia mới độc lập. Ở các nước này, nó thường là nguyên nhân của những vụ tranh chấp giữa các bộ lạc hay đảng phái chính trị, chẳng những vi phạm nặng nề đến đạo lý công bằng, mà còn đe doạ đời sống yên hàn và sinh mạng của dân chúng. Dưới thời thực dân, nó thường xảy ra giữa kiều dân và người bản xứ, cản trở cả đôi bên hiểu nhau một cách hữu ích và gây nên nhiều hận thù vì những tủi nhục phải gánh chịu. Nó cũng cản trở không cho các nuớc nghèo cộng tác với nhau. Nó còn là mầm móng chia rẽ và hận thù ngay giữa lòng các dân tộc, khi người ta không kể gì đến những quyền bất khả nhượng của con người mà loại ra một cách bất công, hoặc cá nhân hoặc gia đình, không cho hưởng những quyền căn bản như các công dân khác, chỉ vì màu da hay chủng tộc. (Populorum Progressio, n. 63)

354. Nếu Giáo Hội Mỹ châu, trung thành với Tin Mừng của Chúa Kitô, muốn đi con dường liên đới, thì phải quan tâm cách riêng đến những chủng tộc mà ngày nay còn bị kỳ thị cách bất công. Trên thực tế, phải tẩy chay tất cả mưu toan loại trừ các dân tộc bản xứ. Điều đó bao hàm, trước tiên, việc phải tôn trọng lãnh thổ của họ và những giao kèo đã ký kết với họ; cũng phải dáp ứng những nhu cầu chính đáng của họ về mặt xã hội, y tế, văn hoá. Và sao mà quên được yêu sách hoà giải giữa các dân bản xứ và những xã hội mà trong đó các dân bản xứ đang sống ? (Ecclesia in America, n. 64)

355. Cần phải kết án chủ nghĩa chủng tộc và những sự kiện thuộc chủ nghĩa chủng tộc. Nên áp dụng những biện pháp lập pháp, kỷ luật và hành pháp chống lại chúng, dầu phải dùng những sức ép bên ngoài thích hợp. Các nước và những tổ chức quốc tế có thể sử dụng hay khuyến khích một loạt sáng kiến có sẵn cho mình. Và đó cũng là trách nhiệm của các công dân liên hệ, nhưng không vì đó mà dùng bạo lực để thay thế một hoàn cảnh bất công bởi một bất công khác. Điều quan trọng là phải luôn luôn nhắm những giải pháp xây dựng. (L’Eglise face au racisme, n. 33)

356. Những giáo dân mà ơn gọi đặc thù của họ đặt họ trong tâm điểm thế giới và đứng đầu những nhiệm vụ trần thế khác nhau nhất, phải nhân cơ hội này thực hành một hình thức đặc biệt truyền giáo … Hiện trường thích hợp cho sinh hoạt rao giảng Tin Mừng, đó là thế giới mênh mông và phức tạp gồm không những chính trị, xã hội, kinh tế, mà còn văn hóá, khoa học và nghệ thuật, đời sống quốc tế, những phương tiện truyền thông cũng như gồm các thực tại khác mở ra cho việc Phúc Âm hóa như tình yêu, gia đình, giáo dục con cái và các người trưởng thành, lao động nghề nghiệp, đau khổ. (Evangelii Nuntiandi, n. 70)

X. Kinh Tế Toàn Cầu

357. Khuynh hướng toàn cầu hoá, đặc điểm thế giới ngày nay, là một hiện tượng tuy không hẳn là thuộc Mỹ châu, nhưng được thấy rõ và gây ra nhiều ảnh hưởng lớn tại Mỹ châu. Đây là một quá trình đặt ra vì sự kiện có nhiều liên lạc giữa các phần thế giới, trên thực tế xoá bỏ những khoảng cách, với nhiều hiệu quả minh nhiên trong các lãnh vực rất khác nhau. Những hậu quả trên bình diện đạo đức học có thể là tích cực hay tiêu cực. Người ta chứng kiến trên thực tế một cuộc toàn cầu hóá kinh tế kèm theo một số kết quả tích cực như hiện tượng năng xuất và sản phẩm gia tăng, và, với việc phát triển những liên hệ giữa các nước trong lãnh vực kinh tế, hiện tượng này có thể tăng cường quá trình hợp nhất giữa các dân tộc và cải thiện việc phục vụ đối với gia đình nhân loại. Nhưng nếu việc toàn cầu hóa được xử lý bằng chỉ duy những luật thị trường áp dụng theo lợi ích của những kẻ quyền thế, những hậu quả chỉ có thể là tiêu cực. Ví dụ, như việc gán một giá trị tuyệt đối cho nền kinh tế, nạn thất nghiệp, việc giảm sút và việc làm xấu đi một số dịch vụ công cộng, việc phá hoại môi trường và thiên nhiên, việc gia tăng những dị biệt giữa kẻ giàu người nghèo, sự cạnh tranh bất chính đặt những quốc gia nghèo trong một hoàn cảnh thấp bé luôn rõ nét. Tuy đánh giá cao những giá trị tích cực do việc toàn cầu hoa, nhưng Giáo Hội xem xét những phương diện tiêu cực một cách lo lắng. (Ecclesia in America n. 20)

358. Muốn xây dựng một nền kinh tế đích thực cho thế giới cần phải dập tắt lòng ham lợi quá đáng, những tham vọng, những khao khát bá chủ về chính trị, mọi mưu tính về mặt quân sự cũng như mọi mưu mô nhằm tuyên truyền và bắt phải theo một ý thức hệ. (Gaudium et Spes, n. 85)

359. Hiện tượng phức tạp toàn cầu hoa, như tôi đã nhắc lại trước đây, là một trong những đặc điểm của thế giới ngày nay, người ta gặp đặc điểm đó cách riêng tại Mỹ châu. Trong thực tại đa dạng này, phương diện kinh tế mặc lấy một tầm quan trọng lớn. Qua học thuyết xã hội của mình, Giáo Hội góp phần đáng kể cho vấn đề kinh tế toàn cầu hoa hiện nay. Lập trường luân lý của Giáo Hội trong vấn đề này “dựa trên ba viên đá góc cơ bản là phẩm giá con người, tình liên đới và sự hỗ tương”. Nền kinh tế toàn cầu hóá phải được phân tích dưới ánh sáng những nguyên tắc công bằng xã hội, nhưng tôn trọng sự ưu tiên cho giới nghèo, là hạng người phải có thể tự bênh vực mình trong một nền kinh tế toàn cầu hoa. Trên thực tế, “học thuyết xã hội của Giáo Hội là lập trường luân lý nhằm thúc giục các chính phủ, các cơ chế và những tổ chức tư, để họ chuẩn bị một tương lai thích hợp với phẩm giá của mọi người. Trong viễn ảnh này, người ta có thể nhìn đến những vấn đề có liên can tới nợ nước ngoài, đến sự hủ hoa chính trị bên trong và đến sự kỳ thị trong nội bộ các quốc gia cũng như giữa các quốc gia”. Giáo Hội tại Mỹ châu được kêu gọi không những cổ võ một sự hợp nhất lớn hơn giữa các quốc gia, như vậy là góp phần tạo ra một nền văn hoá toàn cầu hóa đích thực của tình liên đới, mà còn hợp tác bằng mọi phương tiện hợp pháp làm giảm những hiệu quả tiêu cực của việc toàn cầu hoá, như sự thống trị của những người mạnh nhất trên những kẻ yếu nhất, cách riêng trong lãnh vực kinh tế, và tiêu diệt các giá trị của những nền văn hoa địa phương có lợi cho sự tương đồng hoa bị hiểu sai. (Ecclesia in America, n. 55)

360. Mặc dầu xã hội trên thế giới hiện ra như vỡ thành từng mãnh và điều này thấy được trong cách nói quy ước về thế giới thứ nhất, thứ hai, thứ ba và cả thế giới thứ tư, sự tương tuỳ giữa các bộ phận vẫn còn luôn luôn rất chặt chẽ và nếu nó bị tách rời khỏi những đòi hỏi đạo đức, nó sẽ kéo theo những hậu quả tai hại cho những người thấp kém nhất. Hơn nữa, sự tương tùy đó, do một thứ năng động lực bên trong thúc đẩy và dưới sức ép của những cơ chế mà chỉ có thể gọi là đồi truy, tạo nên những hậu quả tiêu cực, ngay cả trong các nước giàu. Ngay cả trong các nước này, người ta cũng tìm thấy, tuy ở mức độ thấp hơn, thật vậy, những biểu hiện đặc trưng nhất của sự kém mở mang. Chẳng hạn ai cũng phải thấy rằng hoặc có sự phát triển chung cho toàn thể thế giới hoặc sẽ có tiến trình thoái bộ ngay cả trong những vùng vẫn phát triển đều đều. Hiện tượng trên là triệu chứng đặc biệt về bản chất của sự phát triển đích thực, hoặc tất cả các nước trên thế giới được thông phần vào sự phát triển ấy hoặc sự phát triển ấy không đích thực.
(Sollicitudo Rei Socialis, n. 17)

361. Vì tình thế thay đổi, cả ở trong các nước mắc nợ lẫn trên thị trường tài chánh quốc tế, công cụ dùng để góp phần vào việc phát triển, đã biến thành một cơ chế có kết quả ngược lại. Có sự kiện trên vì một đàng, để tôn trọng các cam kết, các nước vay nợ phải để tuôn ra nhiều nước ngoài, những số vốn họ có thể cần để nâng cao hay ít ra duy trì mức sống của họ, và vì đàng khác, cũng do cùng một lý do, người ta không chịu cho họ vay thêm mặc dầu họ rất cần. (Sollicitudo Rei Socialis, n. 19)

362. Những sinh hoạt xã hội và từ thiện là một lãnh vực khác quan trọng, trong đó Giáo Hội hiện diện khắp nơi tại Châu Mỹ. Nhiều sáng kiến quan tâm đến người già, người bệnh và đang có nhu cầu, qua hình thức những nhà hưu dưỡng, bệnh viện, phòng phát thuốc, nhà ăn cung cấp những thức ăn miễn phí và nhiều trung tâm xã hội khác là một bằng chứng cụ thể của tình yêu đối với người già mà Giáo Hội nuôi dưỡng tại Châu Mỹ. Giáo Hội làm vậy là do tình yêu Chúa và vì ý thức rằng “Chúa Giêsu đồng hoa với kẻ nghèo” (x. Mt 25, 31-46). Trong nhiệm vụ không biên giới này, Giáo Hội tại châu Mỹ đã có thể tạo nên một ý nghĩa tình liên đới thực tế giữ nhiều cộng đồng khác nhau trên lục địa và trên thế giới, chứng tỏ tinh thần huynh đệ, một tinh thần phải là đặc điểm của các Kitô hữu mọi thời và mọi nơi.

Để cho việc phục vụ người nghèo có tính Tin Mừng đồng thời là việc rao giảng Tin Mừng, phải trung thành tôn trọng thái dộ của Chúa Giêsu, Đấng đã đến “loan báo Tin Mừng của Chúa cho kẻ nghèo” (Lc 4, 18). Việc phục vụ người nghèo khi thực hiện trong tinh thần này, chứng tỏ tình yêu vô cùng của Chúa đối với mọi người và trở nên một phương tiện hữu hiệu để truyền thông niềm hy vọng cứu rỗi mà Chúa Kitô mang xuống thế gian, một niềm hy vọng sáng chói cách đặc biệt khi nó được chia sẻ cho những kẻ bị bỏ rơi hay loại trừ khỏi xã hội. Sự tận tụy liên tục này đối với kẻ nghèo và những người xấu số xuất hiện trong học thuyết xã hội của Giáo Hội, người luôn mời cộng đồng Kitô hữu dấn thân để vượt thắng tất cả mọi hình thức bóc lột và đàn áp. Không những phải thoa dịu những nhu cầu nghiêm chỉnh nhất và cấp thiết nhất qua những hành động cá nhân đó đây, mà cũng phải khám phá ra những gốc rễ sự dữ và đề nghị những sáng kiến biến những cấu trúc xã hội, chính trị và kinh tế nên công  bằng và huynh đệ hơn. (Ecclesia in America, n. 18)

363. Một trong những đặc tính chính của thời đại chúng ta là sự gia tăng những quan hệ xã hội (sự xã hội hoá): đó là những tương quan hỗ tương và thêm cường độ mỗi ngày giữa các người công dân, họ đã đem vào trong đời sống và trong hành động của mình nhiều hình thức hiệp hội xã hội, thường thường được chấp nhận có quyền tư hay công. Người ta thấy có nhiều nguồn gốc và nguồn mạch cho sự kiện này, một sự kiện phát sinh ở thời này: ví dụ, những phát triển khoa học và kỹ thuật, một sự hiệu nghiệm lớn hơn trong việc sản xuất, một mức sống của người
dân cao hơn. (Mater et Magistra, n. 59)

364. Những tiến triển khoa học và kỹ thuật trong tất cả các lãnh vực thuộc đời sống xã hội nhân số và siết chặc những liên hệ giữa các quốc gia, làm cho sự tương tùy của họ luôn luôn thâm sâu và sống động hơn. Hơn nữa, người ta có thể nói rằng tất cả mọi vấn đề nhân bản thuộc bất cứ tầm quan trọng nào, dầu có nội dung gì, khoa học, kỹ thuật, kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, ngày nay đều mặc lấy những chiều kích siêu quốc gia và thường có tính toàn cầu. (Mater et Magistra, nn. 200-201)