THÔNG ĐIỆP “VỀ CHÚA THÁNH THẦN” CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG lÊÔ XIII BAN HÀNH NGÀY 09 THÁNG 05 NĂM 1897
Bản dịch của Linh mục Augustinô NGUYỄN VĂN TRINH
Đức Giáo Hoàng LÊÔ XIII tên là VINCENZO GIOACCHINO PECCI; sinh này 2.3.1810 tại Carpineto Romano. Từ năm 1818 đến 1824, Ngài học trường của Dòng Tên tại Viterbo, sau đó học thần học tại Collegium Romanum. Ngài ở ngôi Giáo Hoàng từ năm 1878 đến 1903. Qua đời ngày 20.7.1903, thọ 93 tuổi.
Vào cuối thế kỷ 19, nữ tu ELENA GUERRA thành lập HỘI DÒNG TẬN HIẾN CHO CHÚA THÁNH THẦN (Ordensinstitut der Oblatinne des Heiligen Geistes) dòng tôn thờ Chúa Thánh Thần liên lỉ. Các chị em tụ lại trong một căn phòng gọi là ZÕNAKEL, theo nghĩa COENACULUM như ngày xưa các môn đệ, sau khi Chúa Phục Sinh, luôn cầu nguyện và mong chờ Chúa Thánh Thần ngự xuống.
Từ năm 1895 đến 1903, chị đã viết 12 lá thư cho Đức Giáo Hoàng, van xin ngài luôn rao giảng về Chúa Thánh Thần. Dựa theo lời khuyên đó, Đức Giáo Hoàng đã viết Thông Điệp về Chúa Thánh Thần DIVINUM ILLUD MUNUS, ban hành ngày 9.5.1897. Với tinh thần đó, ngày 1.1.1901, Đức Giáo Hoàng, trong ngày đầu năm, đã xướng kinh VENI CREATOR SPIRITUS, dâng hiến cả thế kỷ mới cho Chúa Thánh Thần.
Kính gởi các anh em đáng kính, các thượng phụ giáo chủ, các giáo chủ, các vị Tổng Giám mục, Giám mục của toàn thể Giáo hội công giáo, trong tình liên kết với Tòa Thánh.
Giáo Hoàng Lêô XIII,
kính gởi đến các anh em đáng kính lời chào và chúc lành của Tòa Thánh.
NHẬP ĐỀ
Sứ vụ thần linh, Đức Giêsu Kitô đã lãnh nhận từ nơi Chúa Cha vì lợi ích của nhân loại, và Người đã chu toàn một cách tốt đẹp, có mục đích cuối cùng là hạnh phúc của con người trong vinh quang vĩnh cửu và có mục đích gần hơn, trong cuộc sống này, là đón nhận và gìn giữ ân sủng thần linh mà trong đời sống mai hậu sẽ được triển nở đến tột cùng. Với lòng nhân từ vô biên, Đấng Cứu độ không ngừng mời gọi và qui tụ tất cả mọi người thuộc mọi ngôn ngữ và dân tộc vào trong Giáo hội của Người: Tất cả hãy đến với Tôi ; Tôi là sự sống ; Tôi là vị mục tử nhân lành [1].
Dù vậy, theo ý định khôn dò của Người, Người không muốn tự mình hoàn tất sứ vụ ở trần gian, nhưng giao phó cho Chúa Thánh Thần công trình mà Người đã nhận lãnh từ nơi Cha, để hoàn tất công trình đó. Chúng ta vui mừng nhớ lại lời Đức Kitô đã truyền cho các Tông Đồ đang tụ họp, ngay khi Người sắp ra đi: “Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em ; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em.” [2]. Với xác quyết này, Đức Kitô đã nêu lên lý lẽ tuyệt vời cho cuộc ra đi của mình để trở về với Chúa Cha. Người cho các môn đệ thấy sẽ được hưởng nhiều đặc ân từ việc Thánh Thần sẽ đến. Đồng thời, Chúa cho thấy Đấng được Người sai đến, cũng là Đấng bởi Cha và bởi Người mà ra, và Đấng đến cũng là Đấng phù trợ, Đấng an ủi, Thầy giảng dạy, Người sẽ hoàn tất công trình mà Chúa Con đã thực hiện trong cuộc đời tại thế. Thật vậy, nhờ quyền năng vô kể của chính Chúa Thánh Thần, từ khi sáng tạo, Người đã trang trí khung trời [3] và tràn đầy trong vũ trụ [4] mà công trình cứu độ đã dành riêng cho Người theo thượng ý quan phòng.
Với sự trợ giúp của Chúa Kitô – Đấng cứu độ, thủ lãnh mọi mục tử và Đấng gìn giữ linh hồn của chúng ta, chúng ta cố gắng tiếp tục bước theo các gương lành Người đã ban cho chúng ta, khi gắn bó với phạn vụ Người đã trao phó cho các Tông Đồ, và đặc biệt cho thánh Phêrô, dù khi mặt ngoài xem ra bất xứng, nhưng phẩm chất không bao giờ suy xiễn [5]. Trong ý hướng này, Ta sẽ gọp hai mục đích chính yếu mà từ lâu Ta đã cố gắng theo đuổi trong suốt triều đại Giáo Hoàng của Ta: đầu tiên, chính là việc củng cố lại đời sống Kitô hữu trong xã hội và trong gia đình, nơi các vị có chức vụ và nơi dân chúng, đời sống đích thực xuất phát từ Đức Kitô ; điều thứ hai, giao hòa tất cả mọi người vì một lý do đức tin hay vâng phục, đã lìa xa Hội thánh Công giáo, chỉ vì ước muốn của Chúa Kitô là qui tụ mọi người vào trong một đàn chiên dưới một chủ chăn. Ngày nay, khi nhìn thấy giới hạn cuộc đời của Ta, Ta cảm nghiệm cách mạnh mẽ hơn, khao khát trao phó cho Chúa Thánh Thần, Đấng là Tình yêu sống động, công trình Tông Đồ của Ta, để Người giúp cho công trình này được sung mãn và lớn dậy.
Để cho những hoa trái này thật tốt đẹp và sung mãn, Ta quyết định, vào dịp Lễ huy hoàng của ngày Hiện Xuống, nhấn mạnh lại với anh em sự hiện diện và tác động tuyệt vời của Chúa Thánh Thần, có nghĩa là hoạt động và ảnh hưởng của Người trên toàn Giáo hội và trong từng linh hồn của chúng ta nhờ qua sự sung mãn của các ân huệ thần linh. Khao khát nồng cháy của Ta là được nhìn thấy đức tin vào mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi được sống động lại trong mọi tâm trí và nhờ đó đưa đến việc gia tăng lòng đạo đức mới mẽ đối với Thần Khí linh thiêng này, đồng thời cũng biết ơn những ai bước theo con đường chân lý và công chính.
Vì như thánh Basiliô đã nói: “Ai có thể phủ nhận các ân huệ được Thiên Chúa và Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ chúng ta, đã thực hiện cho con người, theo lòng nhân từ của Thiên Chúa, lại không phải là hiệu quả của ân sủng Chúa Thánh Thần?” [6]
MẦU NHIỆM THIÊN CHÚA BA NGÔI
“BẢN THỂ CỦA TÂN ƯỚC”
a. BA NGÔI VỊ, MỘT BẢN THỂ DUY NHẤT
Trước khi trình bày đề tài của Ta, Ta thực vui và thấy rất hữu ích để nói vài điều về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi rất cao trọng, được các vị tiến sĩ gọi là bản thể của Tân Ước, có nghĩa là mầu nhiệm cao vời so với tất cả mầu nhiệm khác, suối nguồn và nền tảng cho tất cả mầu nhiệm khác.
Để nhận biết và chiêm ngắm mầu nhiệm này mà các thiên thần và loài người trên trái đất được dựng nên. Mầu nhiệm này đã ẩn tàng trong Cựu Ước, và để biểu lộ một cách huy hoàng mà Thiên Chúa từ nơi ngự trị của các thiên thần đã xuống với loài người: chưa bao giờ có ai thấy được Thiên Chúa ; chỉ có Người Con duy nhất của Thiên Chúa, Đấng ngự trong cung lòng Thiên Chúa, mới có thể mặc khải cho chúng ta mầu nhiệm này [7]. Nếu ai muốn viết hay nói về mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa, phải nắm vững lời khuyên bảo của vị Tiến sĩ các thiên thần: Khi chúng ta nói về mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa, phải cẩn thận và nghiêm túc, chỉ vì như thánh Augustinô nói, không có chủ đề nào mà sai lầm, tìm hiểu siêng năng nhất và những khám phá hiệu quả nhất cũng rất dễ gặp nguy hiểm [8]. Nguy hiểm, trong đức tin cũng như trong phượng tự, sẽ lẫn lộn các ngôi vị thần linh hay phân chia bản tính duy nhất ; chỉ vì đức tin công giáo tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi và Ba Ngôi trong sự duy nhất. Như thế vị tiền Nhiệm của Ta là Đức Giáo Hoàng Innocent XII, tuyệt đối phủ nhận, cho dù có những can thiệp, việc ban hành một ngày lễ đặc biệt để tôn vinh Thiên Chúa Cha. Nếu người ta cử hành các mầu nhiệm của Ngôi Lời Nhập Thể, thì cũng không có một lễ nào chỉ tôn vinh thiên tính của Ngôi Lời, và những nghi thức long trọng ngày lễ Hiện Xuống đã có từ ngàn xưa, cũng không phải chỉ tôn vinh một mình Chúa Thánh Thần mà thôi, nhưng để nhắc nhớ việc hiện xuống của Người, tức là sứ vụ bên ngoài của Người.
Tất cả những điều này được quyết định một cách khôn ngoan, để sự phân biệt giữa các Ngôi Vị không đưa đến việc phân biệt trong yếu tính thần linh. Ngoài ra để giúp các tín hữu giữ vững trong toàn bộ đức tin, Hội thánh đã thiết lập một thánh lễ về Chúa Ba Ngôi, và Đức Giáo Hoàng Gioan XXII nâng lên hàng lễ buộc. Giáo hội cho phép dâng kính các bàn thờ và thánh đường cho Ba Ngôi Thiên Chúa, và dựa vào sự biểu lộ ý muốn thần linh, Giáo hội công nhận một dòng tu chuyên chiêm niệm về Thiên Chúa Ba Ngôi và đã lấy tên Thiên Chúa Ba Ngôi đặt cho dòng. Dòng này chuyên lo việc giải thoát các kẻ bị bắt làm nô lệ. Nhiều chứng cứ triển khai đề tài này.
Thực vậy, sự thờ phượng dành cho các cư dân trên thiên đình, tức là các thiên thần, Đức Trinh Nữ rất thánh Maria, Đức Kitô, cuối cùng phản ánh đến chính mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa.
Trong các lời kinh dâng lên một trong Ba Ngôi Vị, người ta cũng hướng đến các Ngôi Vị khác, một lời kêu khẩn chung cho tất cả trong lời khẩn cầu đến từng ngôi vị trong ba Ngôi Thiên Chúa. Trong các thánh vịnh và thánh thi, đều có lời ca khen dâng lên Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần ; những lời chúc lành, các nghi thức phụng vụ, các bí tích đều kèm theo hay tiếp nối một lời nguyện dâng lên Ba Ngôi Thiên Chúa. Những thực hành này đã được thánh Tông Đồ khuyên dạy từ lâu: “Vì muôn vật đều do Người mà có, nhờ Người mà tồn tại và quy hướng về Người. Xin tôn vinh Thiên Chúa đến muôn đời! Amen”[9]. Những lời này một mặt nói lên Ba Ngôi vị và mặt khác xác quyết bản thể duy nhất.
Lời này áp dụng cho từng Ngôi vị, như là một Thiên Chúa duy nhất, vinh quang vĩnh cửu xuất phát từ vẻ huy hoàng thần linh. Khi trích chứng cứ này, thánh Augustinô đã thêm vào: không được phép hiểu những lời này của thánh nhân một cách mù mờ: Ex ipso, per ipsum et in ipso ; thánh nhân nói “từ Người” tức là từ Chúa Cha, “qua Người” tức là Chúa Con và “trong Người” tức là Chúa Thánh Thần [10].
b.TÍN ĐIỀU XÁC QUYẾT
Với nhiều lý do, người ta thường gán cho Thiên Chúa Cha những công trình thần linh phát huy sức mạnh, Chúa Con chiếu tỏa sự khôn ngoan, và cho Chúa Thánh Thần những công trình tình yêu.
Tất cả những kiện toàn và công trình bên ngoài đều chung cho các Ngôi Vị ; thực ra, công trình của Ba Ngôi không thể phân chia ra được như là yếu tính của chính mầu nhiệm Ba Ngôi [11] chỉ vì hoạt động của ba Ngôi Vị thần linh cũng không tách biệt như chính yếu tính của cả Ba Ngôi [12], nhưng, nhờ một sự so sánh nào đó, có thể nói, về một sự tương hợp giữa các công trình và đặc thù của các Ngôi Vị, như công trình nào đó được gán cho một Ngôi Vị hơn là cho Ngôi Vị khác: những sự giống nhau về cách diễn tả và hình ảnh được thụ tạo cung cấp, giúp chúng ta trình bày các Ngôi Vị thần linh, cũng như các đặc tính riêng của các Ngài ; sự biểu lộ này của các Ngôi Vị qua các đặc trưng chính yếu được gọi là sự xác định [13]. Như thế, Ngôi Cha, nguyên lý cho tất cả thiên tính [14] đồng thời cũng là nguyên nhân sáng tạo cả vũ trụ hữu thể, cho mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời và sự thánh hóa các tâm hồn: thánh Tông Đồ nói về Ngài: từ Người mà muôn vật được tạo dựng.
Chúa Con, Ngôi Lời, hình ảnh của Thiên Chúa, cũng đồng thời là nguyên lý mẫu gương chiếu tỏa vạn vật trong mô thức và vẻ đẹp, trật tự và sự hài hòa của chúng ; đối với chúng ta, Người là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, là Đấng giao hòa con người với Thiên Chúa: nhờ Người mà muôn vật được tạo thành ; thánh Tông Đồ nói về Người như nguyên do từ của Chúa Con. Chúa Thánh Thần là nguyên nhân cuối cùng của vạn vật, chỉ vì, cũng như ý chí và tất cả vạn vật đều dựa vào cùng đích của mình, như thế Thánh Thần, Đấng là sự nhân từ của Thiên Chúa và là tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con, bổ túc và hoàn tất nhờ sự thúc đẩy mạnh mẽ nhưng êm ái của Người, đưa tất cả công trình cẩn mật đến mục đích cuối cùng là ơn cứu độ vĩnh cữu của loài người ; vạn vật đều ở trong Người: đó là cách vị thánh Tông Đồ nói về Chúa Thánh Thần.
Cần phải gìn giữ lòng nhiệt thành tôn giáo đối với mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi và cũng cần thiết ngày càng khắc sâu vào tâm não của dân Kitô giáo, giờ đây Ta trình bày về hoạt động của Chúa Thánh Thần. Phương diện đầu tiên mà chúng ta phải nhìn, Đức Kitô chính là Đấng thiết lập Hội thánh và là Đấng cứu độ nhân loại. Thật vậy, giữa các hoạt động ra bên ngoài của Thiên Chúa, hoạt động cần chú tâm nhất là mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể, từ nơi đó chiếu tỏa ánh hào quang thiên linh mà con người không thể nào tưởng tượng nỗi, vì không có gì cứu rỗi nhân loại như hoạt động này. Công trình vĩ đại, dù thuộc về Chúa Ba Ngôi cách trọn vẹn, nhưng cũng đặc biệt được gán cho Chúa Thánh Thần, cũng như các Phúc Âm đều sử dụng những cách nói này với Đức Trinh Nữ: Mẹ được thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần, và: Đấng Mẹ thụ thai cũng là do Chúa Thánh Thần [15]. Điều này thật tốt đẹp khi công trình này được gán cho Đấng là Tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con, vì chứng cứ vĩ đại của tình yêu này[16] đến từ sự ưu ái vô tận của Thiên Chúa đối với loài người, như thánh Gioan đã nói với chúng ta: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Người cho thế gian”[17]. Chúng ta phải nhấn mạnh, nhờ mầu nhiệm này, con người được nâng lên để kết hiệp cách cá nhân với Ngôi Lời: phẩm giá này không do công trạng của con người, nhưng hoàn toàn do hồng ân và đó là ân huệ của Chúa Thánh Thần.
Cần phải trích ghi chú của thánh Augustinô về đề tài này: cách thức Đức Kitô được hoài thai do tác động của Thánh Thần cho chúng ta thấy lòng nhân từ của Thiên Chúa đối với chúng ta như thế nào ; thật vậy, nhờ đó bản tính nhân loại, không có công trạng gì trước đó, được kết hợp ngay từ giây phút đầu tiên hiện hữu, với Ngôi Lời của Thiên Chúa trong sự kết hợp cá nhân mà Con Thiên Chúa đã trở thành Con loài người và Con loài người cũng trở thành Con Thiên Chúa [18]. Tác động của Thánh Thần đã hoạt động không những trong việc hoài thai của Đức Kitô, mà cả trong việc thánh hóa linh hồn của Người được các Sách Thánh gọi là việc Xức Dầu của Thánh Thần [19] ; tất cả hoạt động này, đặc biệt, hiến tế của Người, được hoàn tất dưới ảnh hưởng của Chúa Thánh Thần [20]. Chính nhờ Chúa Thánh Thần mà Đức Kitô tự dâng hiến chính mình như lễ vật tinh tuyền [21]. Đối với những người nghiên cứu các vấn đề này, đã rất ngạc nhiên để nói về những ân huệ của Chúa Thánh Thần tràn đầy trong tâm hồn của Đức Kitô. Một sự sung mãn ân huệ tràn đầy nơi Người mà chúng ta không thể nào thấy được sự cao vời và hiệu quả hơn thế đó ; trong Người tất cả kho tàng khôn ngoan và tri thức, ân sủng nhưng không, các nhân đức, tắt một lời tất cả những ân huệ mà ngôn sứ Isaia đã nói [22], được biểu trưng bằng chim bồ câu bay đến nơi sông Giorđan khi Đức Kitô thánh hiến con sông này qua nghi thức thanh tẩy như để tạo một bí tích mới. Đề tài này dựa vào những lời sau đây của thánh Augustinô: thật vô nghĩa khi nói rằng Đức Kitô lãnh nhận Chúa Thánh Thần vào lúc Người được 30 tuổi, nhưng Người đến nhận nghi thức này dù không vươn vấn một tội nào và Người đến với Chúa Thánh Thần. Trong hoàn cảnh này, có nghĩa là khi lãnh nhận nghi thức thanh tẩy, Người đã biểu trưng cho thân thể nhiệm mầu của Người, đó là Giáo hội, trong Giáo hội này những kẻ lãnh nhận bí tích Rửa tội sẽ lãnh nhận Chúa Thánh Thần cách đặc biệt [23]. Ay vậy, việc xuất hiện hữu hình của Chúa Thánh Thần trên Đức Kitô và ảnh hưởng vô hình của Người trong tâm trí của Đấng Cứu độ, trình bày sứ vụ hai mặt: một sứ vụ hữu hình trong Giáo hội ; mặt khác vô hình trong tâm hồn những người công chính.
Giáo hội được chuẩn bị và có thể nói, bước ra từ cạnh sườn của vị Ađam Mới đang nghỉ yên trên thập giá, lần đầu tiên được biểu lộ cho con người một cách huy hoàng trong ngày cử hành lễ Hiện Xuống. Trong ngày đó, Chúa Thánh Thần bắt đầu tuôn rưới các điều thánh thiện trong thân xác nhiệm mầu của Đức Kitô, qua việc tuôn đổ mà ngôn sứ Giôen đã thấy từ lâu [24] ; chỉ vì Đấng Yên Ui ngự trên các Tông Đồ để đặt trên đầu họ, các hào quang linh thiên dưới hình lưỡi lửa [25].
Thánh Gioan Chrysostomos đã viết, các Tông Đồ xuống khỏi núi, mang trên tay họ, không phải như những bia đá như Môisen, nhưng mang trong tâm hồn họ Chúa Thánh Thần, Đấng ban phát như kho tàng và dòng sông chân lý và ân sủng [26]. Như thế đã ứng nghiệm lời hứa cuối cùng của Đức Kitô với các Tông Đồ, sẽ gởi Chúa Thánh Thần, Đấng sẽ bổ túc nhờ các linh hứng của Người và đóng ấn lời giáo huấn của Người: “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” [27].
Đấng, phát xuất từ Chúa Cha như nguồn chân lý vĩnh cửu và từ Chúa Con, Đấng là chân lý theo bản thể, chính là Thần Chân Lý, đã nhiệm xuất từ Chúa Cha và Chúa Con, bản thể và đồng thời cả chân lý, ban cho Giáo hội chính chân lý này, luôn canh thức nhờ sự hiện diện và sự hỗ trợ liên tục, để Giáo hội không giải thích sai lệch và từng ngày sẽ tạo nên sự sung mãn cho những mầm giống mang những hoa quả cứu độ cho dân chúng. Giáo hội , như phương tiện cứu độ cho mọi người, phải cố gắng thực hiện sứ vụ của mình cho đến ngày tận thế, để gia tăng và gìn giữ Giáo hội, Chúa Thánh Thần sẽ ban cho Giáo hội một đời sống và sức mạnh vĩnh cửu: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi” [28]. Chính nhờ Người mà các Giám mục được thiết đặt, trách nhiệm của họ không những là sinh các người con, nhưng còn sinh ra các người cha, có nghĩa là các linh mục, để lãnh đạo Giáo hội và nuôi nấng Giáo hội bằng máu của Đức Kitô, máu này đã cứu chuộc chính Giáo hội: Chúa Thánh Thần đã thiết đặt các vị Giám mục để lãnh đạo Giáo hội của Thiên Chúa mà Người đã chuộc lại bằng máu của Người [29]. Các vị Giám mục và linh mục nhờ ấn tín của Chúa Thánh Thần, có quyền tha thứ các tội lỗi dựa theo lời của Chúa phán với các Tông Đồ của Người: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha ; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.” [30]. Không có chứng cứ nào nói lên cách rõ ràng về thiên tính của Giáo hội và chính Thánh Thần đã trao ban vinh quang này cho Giáo hội. Ta khẳng định rằng, nếu Đức Kitô là Đầu Giáo hội, thì Thánh Thần là linh hồn của Giáo hội: Chúa Thánh Thần ở trong Giáo hội, thân thể nhiệm mầu của Đức Kitô, cũng như linh hồn ở trong thân xác [31].
Chúng ta không còn chờ một biểu lộ vĩ đại và sung mãn của Thần Khí thiên linh ; điều đã có nơi Giáo hội thật toàn vẹn và sẽ kéo dài mãi cho đến khi Giáo hội, sau khi đã chu toàn thời gian chiến đấu, được hưởng niềm vui hoan lạc trên nước trời.
Điều mà Chúa Thánh Thần hoạt động trong các tâm hồn như thế nào và với mức độ nào, thật đáng kinh ngạc, nhưng rất khó để thấu hiểu vì ánh mắt của chúng ta không thể nào nắm bắt được. Việc tuôn đổ của Thánh Thần thật sung mãn đến độ Đức Kitô, vì từ Người tuôn trào ra, đã ví như một con sông tràn đầy, theo lời được ghi chép trong Phúc Âm thánh Gioan: “Ai tin vào Tôi, từ nơi cung lòng Tôi sẽ tuôn trào dòng nước sự sống” ; thánh Gioan giải thích: “Người nói về Chúa Thánh Thần mà tất cả những ai tin vào Người sẽ được lãnh nhận” [32].
Không còn nghi ngờ gì nữa, Chúa Thánh Thần, qua ân sủng, ngự trị trong những người công chính, đã hiện diện trước thời của Đức Kitô ; điều này đã được các ngôn sứ như Zacharia, Gioan Tẩy Giả, ông Simêon và bà Anna chứng thực ; thật vậy, Chúa Thánh Thần đến vào ngày lễ Hiện Xuống, không phải để bắt đầu ngự trị trong tâm hồn chư thánh, nhưng thấm sâu hơn nữa ; không phải bắt đầu để ban cho họ các hồng ân của Người, nhưng để hoàn tất trong họ; không phải để thực hiện một công trình mới, nhưng để gia tăng sự quảng đại cách phong phú [33]. Dù vậy, nếu những người đã là con cái Thiên Chúa, họ sẽ không giống như những người nô lệ nằm trong tay giám hộ của chủ [34]; nếu trong họ chưa có sự công chính, sự công chính này đến từ công trạng của Đức Kitô, sự hiệp thông với Chúa Thánh Thần sau khi Chúa đến sẽ thật sung mãn, vượt trên tất cả những gì đã qua ; giống như tổng hợp đem đến giá trị cho các dự trử, cũng như thực tế chiếu tỏa trên gương mặt. Thánh Gioan đã nói: “Chúa Thánh Thần chưa được ban, vì Đức Giêsu chưa đi vào vinh quang” [35]. Ngay khi Chúa Giêsu lên trời nhận lấy vinh quang của vương quốc mà Người đã đạt được, Người đã quảng đại ban tất cả sự sung mãn của Chúa Thánh Thần và chia sẻ cho mọi người [36]. Hồng ân này, việc gởi Chúa Thánh Thần sau khi đi vào vinh quang, không giống như trong thời quá khứ, chưa bao giờ Thánh Thần được ban như thế trong quá khứ [37].
Thực vậy, nhân tính cần thiết phải phục vụ Thiên Chúa: thụ tạo phải phục vụ và chúng ta là đầy tớ của Thiên Chúa do bản tính của chúng ta [38].
Ngoài ra, vì lỗi lầm chung, bản tính của chúng ta bị rơi vào một hố sâu lầm lỗi và xấu hỗ đến độ chúng ta trở thành kẻ thù của Thiên Chúa: do bản tính chúng ta đã bị coi là con cái của cơn thịnh nộ [39].
Không có quyền lực nào có thể giúp chúng ta bước ra khỏi sự suy sụp và cứu chúng ta khỏi sự đánh mất đời đời. Trách vụ này, Thiên Chúa, Đấng sáng tạo con người, đã hoàn tất do lòng nhân từ vô biên nhờ Con duy nhất của Người, nhờ đó, chúng ta được tái lập lại với muôn vàn ân sủng và ân huệ trong phẩm giá và vinh dự hơn tất cả những gì chúng ta đã đánh mất. Không thể nào diễn tả được công trình đã được hoàn thành trong tâm hồn con người ; các Sách Thánh cũng như các Giáo Phụ gọi chúng ta là được tái sinh, là thụ tạo mới, được thông phần vào thiên tính, con cái Thiên Chúa, được thần hóa và những tước hiệu giống như thế. Không phải là không có lý do để gán tất cả các hoạt động tốt đẹp như thế cho Chúa Thánh Thần. Người là Thánh Thần cho việc thiết đặt dưỡng tử, do đó mà chúng ta có thể nói lên: Abba! Cha ơi! Chính Người tuôn đổ trong tâm hồn sự dịu dàng của tình yêu phụ tử: chính Thánh Thần giúp chúng ta hiểu được chúng ta là con cái của Thiên Chúa [40]. Để giải thích, có thể nhìn vào sự giống nhau giữa hai sự kiện của Chúa Thánh Thần: nhờ Người, Đức Kitô được hoài thai trong sự thánh thiện để là Con theo nhân tính của Thiên Chúa và các kẻ khác được thánh hiến để trở thành con dưỡng tử của Thiên Chúa [41] ; như thế, tình yêu, tình yêu bất tạo, tạo nên sự tái sinh tinh thần cao cả cho những gì trong tự nhiên.
Việc tái sinh và canh tân này bắt đầu nơi con người trong bí tích Rửa Tội: trong bí tích này, linh hồn cởi bỏ được thần khí xấu xa, và lần đầu tiên được hội nhập vào Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho linh hồn giống như Người: điều gì được sinh ra từ Chúa Thánh Thần đều là thần khí [42].
Cũng chính Chúa Thánh Thần này thông ban cách sung mãn trong Bí tích Thêm Sức để đảm bảo cho tính vững chắc và mạnh mẽ của đời sống Kitô hữu ; chính nhờ Người mà các vị tử đạo và các đấng đồng trinh đã chiến thắng trước những lôi kéo sa đọa. Chúng ta nói: Chúa Thánh Thần tự ban chính mình. Nhờ Thánh Thần, Đấng tự ban chính mình cho chúng ta, mà tình yêu của Thiên Chúa được tràn đầy trong tâm hồn chúng ta [43]. Không những Người mang đến cho chúng ta các hồng ân thiên linh, mà chính Người là hồng ân tối thượng ; xuất phát từ tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con, Người chính là, và như chúng ta gọi, hồng ân của Thiên Chúa Ba Ngôi. Để làm nổi bật bản chất và sức mạnh của hồng ân này, chúng ta cần nhớ lại những cách giải thích Sách Thánh của các tiến sĩ Giáo hội: Thiên Chúa hiện diện trong vạn vật nhờ quyền năng của Người, như vạn vật lệ thuộc vào Người ; nhờ sự hiện diện của Người mà vạn vật tỏ lộ rõ ràng trước mắt Người ; nhờ yếu tính của Người vì Người là nguyên nhân của sự hiện hữu của chúng [44]. Nhưng Thiên Chúa không hiện diện nơi con người như Người hiện diện trong vạn vật ; Người được nhận biết và yêu mến, chỉ vì bản tính của chúng ta được tạo dựng để yêu mến, khao khát và theo đuổi điều thiện hảo. Cuối cùng, nhờ hồng ân của Người, Người hiện diện trong chúng ta như trong một đền thờ, rất thân thiết và đặc biệt. Từ đó, dây tình yêu kết hợp linh hồn với Thiên Chúa, còn hơn là một người bạn, sẽ nhờ Người mà cảm nghiệm được sự dịu dàng.
Nhờ sự kết hợp đáng kinh ngạc này được gọi là hội nhập, mà tình trạng diễm phúc của các cư dân trên trời chỉ khác về điều kiện, dù vậy được sản sinh thật sự nhờ sự hiện diện của Thiên Chúa Ba Ngôi: “Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại trong người ấy” [45]. Còn phải nhấn mạnh cách đặc biệt của Chúa Thánh Thần. Thật vậy, các dấu vết sức mạnh và khôn ngoan tinh quái được tỏ hiện nơi con người đồi bại ; nhưng nơi người công chính chỉ chia sẻ vào tình yêu, đó là đặc tính của Chúa Thánh Thần. Điều này xác nhận rằng, Chúa Thánh Thần được gọi là Thánh, chỉ vì Người là tình yêu tiên khởi và tuyệt vời, Người dẫn dắt các linh hồn đến sự thánh thiện, sự thánh thiện này chỉ có trong tình yêu của Thiên Chúa. Vì thế thánh Tông Đồ khi gọi những người công chính là đền thờ của Thiên Chúa, nhưng không nói rõ họ là đền thờ của Chúa Cha hay của Chúa Con, nhưng là của Chúa Thánh Thần: “Hay anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao?”[46]. Sự sung mãn các hoạt động thần linh được hiện thực dưới sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn các người đạo đức biểu lộ qua nhiều cách. Thật vậy, giáo lý của thánh Thomas dạy rằng: Vì Chúa Thánh Thần nhiệm xuất như tình yêu, Người xuất hiện từ ân sủng tiên khởi này ; thánh Augustinô cũng nói: nhờ ân sủng là Chúa Thánh Thần, nên có biết bao ân sủng được ban phát cho các chi thể của Đức Kitô [47]. Giữa các ân sủng này có những cảnh báo âm thầm, những lời mời nhiệm mầu, nhờ sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, được ban cho các tâm hồn, mà nếu thiếu vắng những điều này, chúng ta không thể tiến trên con đường nhân đức, không phát triển và cũng không thể đạt tới đích ơn cứu độ vĩnh cửu. Vì các lời này cũng như ảnh hưởng được sản sinh âm thầm trong các tâm hồn, điều mà Sách Thánh so sánh như cơn gió thoảng ; tiến sĩ thiên thần đồng hóa với những nguyên nhân tác động các chuyện động của tâm hồn mà sức mạnh ẩn kín nơi con người được yêu mến: tâm hồn có được một thứ ảnh hưởng thầm kín, vì thế, người ta so sánh Chúa Thánh Thần, Đấng giúp cho Giáo hội sống động và hiệp nhất theo một cách vô hình.
Hơn nữa, người công chính đã sống đời ân sủng và nơi họ các nhân đức đã giữ một vai trò các khả năng của tâm hồn, họ cần đến bảy hồng ân mà người ta thường gọi là bảy ơn Chúa Thánh Thần. Nhờ những hồng ân đó, tinh thần họ được vững mạnh và sẵn sàng vâng phục một cách dễ dàng và mau mắn lời nói và sự thúc đẩy của Thánh Thần ; thêm nữa các hồng ân này đưa đến hiệu quả hướng dẫn con người lên mức độ cao hơn trong đường thánh thiện, nếu họ thật tốt đẹp, họ sẽ vào nước trời, trong một mức độ cao hơn. Nhờ các hồng ân này, tâm hồn được hướng dẫn và khao khát để đạt được các lời chúc phúc của Tin Mừng, những bông hoa của mùa xuân nở rộ, những dấu chứng tiên khởi của phúc trường sinh. Cuối cùng, thánh Tông Đồ nói về sự dịu ngọt mà Chúa Thánh Thần mang đến trong tâm hồn công chính ngay trong đời sống dễ bị hư hoại, sự tràn đầy êm ái và vui thỏa, chính Thánh Thần đã sản sinh ra, Đấng là sự dịu ngọt trong Ba Ngôi Thiên Chúa, Đấng tuôn rưới trên khắp các tạo vật một cách quảng đại và sung mãn [50]. Thánh Thần, Đấng nhiệm xuất từ Chúa Cha và Ngôi Lời trong ánh sáng vĩnh cửu của sự thánh thiện, Người vừa là tình yêu, vừa là hồng ân, được biểu lộ trong Cựu Ước dưới nhiều hình ảnh, đã tuôn tràn đầy nơi Đức Kitô và trong Giáo hội nhiệm thể của Chúa. Nhờ sự hiện diện và hồng ân của Người, Người đã chuyển đổi con người đang chìm đắm trong hư hoại và xấu xa một cách trọn vẹn, để họ không còn thuộc về trần thế dù đang sống giữa gian trần, nhưng đã được giống như cư dân trên trời.
Vì các hồng ân này vĩ đại và cho thấy sự nhân từ khôn lường của Chúa Thánh Thần, chúng buộc chúng ta phải thực sự mộ mến và tùng phục để làm chứng cho Chúa Thánh Thần. Mỗi ngày chúng ta phải nhìn nhận Người, yêu mến Người và kêu cầu Người: hy vọng rằng lời khuyên của Ta, xuất phát từ tấm lòng của người cha, gợi lên tình yêu này – Có thể ngày hôm nay nhiều Kitô hữu cũng sẽ được thánh Tông Đồ hỏi, không biết họ đã được lãnh nhận Chúa Thánh Thần hay chưa, và họ sẽ nói như những người ngày xưa: “Ngay cả việc có Thánh Thần, chúng tôi cũng chưa hề được nghe nói” [51].
Nhiều người đã không biết đến Chúa Thánh Thần ; họ chỉ kêu cầu đến Người trong các thực hành đạo đức, nhưng với đức tin thì thật mù mờ. Chính vì thế, các nhà giảng thuyết và những người chăm sóc linh hồn phải nhớ đến trách nhiệm này với lòng nhiệt thành truyền đạt những gì thuộc về Chúa Thánh Thần, nhưng phải tránh xa những nghịch thuyết cứng rắn và khô cằn, để tránh những khảo sát vô ích của những người muốn tìm tòi các mầu nhiệm thần linh. Cần phải nhắc lại rõ ràng những điều tốt lành từ nguồn thần linh vẫn không ngừng đổ tràn trên chúng ta ; như thế có thể tránh được các lạc lầm và vô tín cho con cái ánh sáng. Ta nhấn mạnh đến điểm này, không phải chỉ vì đó là một mầu nhiệm dẫn chúng ta trực tiếp đến cuộc sống đời đời, và nhờ đó, chúng ta phải vững tin, nhưng chúng ta còn phải vững tin chỉ vì điều thiện hảo phải được nhận biết và yêu kính. Chúng ta phải yêu mến Chúa Thánh Thần – và đây là chủ đề Ta đã báo – vì Người là Thiên Chúa: “Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết dạ, với tất cả tâm hồn và sức lực của ngươi” [52]. Chúng ta phải yêu mến Người vì Người là Tình yêu đầu tiên, bản thể, vĩnh cửu và không có gì đáng yêu cho bằng tình yêu ; chúng ta phải yêu mến Người hơn nữa, vì Người đổ tràn trên chúng ta biết bao điều lành, những điều này minh chứng sự toàn năng của Người. Tình yêu này được công nhận cách rõ ràng. Tình yêu này khuyến khích chúng ta mỗi ngày hiểu biết Chúa Thánh Thần nhiều hơn: Tiến sĩ thiên thần nói rõ, ai yêu mến không thể hời hợt với đối tượng mình yêu, nhưng cố gắng tìm mọi chi tiết thâm sâu nhất để bước vào tình thân mật mà chúng ta gọi là Chúa Thánh Thần, tình yêu của Thiên Chúa, để tìm hiểu điều sâu xa thần linh [53]; Người sẽ ban cho chúng ta các ân huệ thiên linh một cách sung mãn, vì sự vô ơn sẽ ngăn bàn tay của kẻ ban ơn, nhưng sự nhận thức sẽ làm bàn tay lại rộng mở. Phải cẩn thận đừng làm cho tình yêu này ra khô cứng hay chỉ biết tôn thờ ở bên ngoài; ngược lại, phải nhanh nhẹn hoạt động, nhất là tránh xa tội lỗi, những gì xúc phạm đến Thánh Thần. Thật vậy, những gì chúng ta có, là có do lòng nhân từ của Thiên Chúa, đặc biệt là do Chúa Thánh Thần. Ai phạm tội là xúc phạm đến ân nhân của mình, lạm dụng các ân huệ và lòng nhân từ của Người, mỗi ngày một táo tợn.
Chúa Thánh Thần là Thần Chân lý, nếu có ai rơi vào sự yếu đuối hay thiếu hiểu biết, thì có thể xin lỗi trước mặt Chúa, nhưng nếu ai chống lại chân lý và quay lưng đi, sẽ phạm tội cách trầm trọng chống lại Thánh Thần. Lỗi lầm này cứ gia tăng mãi trong ngày hôm nay, gần như chúng ta đã đi đến giai đoạn lẫn lộn mà thánh Phaolô đã báo trước, lúc con người, mù quáng trước việc xét xử công thẳng của Thiên Chúa, nhìn lẫn lộn điều xấu thành tốt và chỉ tin vào Thủ lãnh trần gian, đó là kẻ nói dối và là cha sự dối trá, nhưng lại được xem như tiến sĩ chân 1ý; Thiên Chúa gởi đến họ tinh thần lầm lạc để họ tin vào sự dối trá [54] ; trong những ngày cuối cùng này, nhiều người đã rời bỏ đức tin, gắn bó với tinh thần lầm lạc và giáo lý ma quỉ [55]. Và như chúng ta nói, Thánh Thần ngự trị trong chúng ta như một đền thờ, phải nhớ lại lời giảng dạy của thánh Tông Đồ: “Anh em chớ làm phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa, vì chính Người là dấu ấn ghi trên anh em” [56]. Xa lánh điều xấu vẫn chưa đủ, người Kitô hữu phải chiếu tỏa ánh sáng của mọi nhân đức, để làm đẹp lòng vị Khách quá thánh thiện: việc đầu tiên là phải tìm lại sự trong sạch và thánh thiện, những đặc tính thích hợp cho một đền thờ.
Vì thế cũng vị Tông Đồ này đã nói: “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần ngự trong anh em sao? Vậy ai xúc phạm đến Đền Thờ Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ hũy diệt kẻ ấy. Vì Đền Thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và Đền Thờ ấy chính là anh em” [57]. Lời hăm dọa thật kinh khủng, nhưng thật chính đáng! Cuối cùng, phải cầu nguyện với Thánh Thần, vì không ai trong chúng ta lại không cần đến sự trợ giúp lớn lao của Người. Vì chúng ta đã xa rời sự khôn ngoan, có đầy những thử thách, mang những xấu xa, tất cả chúng ta phải tìm chốn trú ẩn nơi Người, Đấng là nguồn ánh sáng vĩnh cửu, nguồn sức mạnh, nguồn an ủi và là nguồn thánh thiện. Phải van xin Người điều thiện hảo cần thiết nhất cho con người, đó là việc tha thứ tội lỗi: sự đặc thù của Chúa Thánh Thần chính là quà tặng của Chúa Cha và Chúa Con ; chính Thánh Thần sẽ tha thứ tội lỗi, như là ân sủng của Thiên Chúa [58] Phụng vụ nói rõ ràng về Chúa Thánh Thần: Người là Đấng tha thứ mọi tội lỗi [59]. Giáo hội dạy chúng ta rất rõ ràng, giáo hội luôn van xin Người và ghi nhận sự trợ giúp của Người với bao tước hiệu: Xin hãy đến! Hỡi Cha kẻ khó khăn! xin hãy đến ban phát cho chúng con mọi hồng ân của Người ; xin hãy đến! hỡi ánh sáng mọi tâm hồn; Đấng an ủi tuyệt vời ; vị Khách mời dễ thương của các tâm hồn, sự tưới mát êm dịu sẽ lau sạch, thanh tẩy và tắm mát thần trí và tâm hồn của chúng ta, ban cho những ai tin tưởng vào Người giá trị của nhân đức, một cái chết thật hạnh phúc và niềm vui vĩnh cửu. Chúng ta không nghi ngờ được vì Người sẽ lắng nghe những lời cầu nguyện của chúng ta vì có lời chép rằng: Thánh Thần van xin cho chúng ta với những sự rên siết không ngừng [60] Cuối cùng, chúng ta phải không ngừng van xin Người với một lòng tin tưởng, để Người soi sáng cho chúng ta càng ngày càng nhiều hơn, đốt cháy trong chúng ta ngọn lửu tình yêu của Người để với niềm tin và đức ái, chúng ta hăng hái hướng đến những phần thưởng vĩnh cửu, vì Người là đảm bảo cho gia tài của chúng ta [61].
Anh em yêu quí, anh em biết được những lời thông báo và khuyến khích mà Ta công bố và nhấn mạnh về việc tôn thờ Chúa Thánh Thần. Những lời khuyên bảo này, Ta chắc chắn rằng, với lòng nhiệt thành của anh em, sẽ đem lại nhiều hoa trái tuyệt vời giữa người Kitô hữu. Để đạt được, Ta phải cố gắng và làm việc để nuôi dưỡng lòng sùng kính bằng mọi biện pháp thích hợp. Đã 2 năm nay, trong Tông thư PROVIDA MATRIS, Ta yêu cầu, ngày lễ Hiện xuống, anh em sẽ dâng các lời cầu nguyện cho sự hiệp nhất các Kitô hữu ; hôm nay, Ta muốn chủ đề này được phổ biến nhiều hơn nữa. Ta quyết định và ra lệnh trong tất cả thế giới công giáo, năm nay và các năm kế tiếp, một tuần cửu nhật trước ngày lễ Hiện Xuống trong tất cả giáo xứ và, nếu như Thẩm quyền sở tại thích ứng, sẽ thực hiện trong toàn Giáo hội. Ta ban ân xá 7 năm và 7 tuần cho từng ngày đối với tất cả những ai làm tuần cửu nhật và cầu nguyện theo ý Ta, ngay trong ngày Lễ Hiện Xuống, hay trong tuần Bát Nhật, cho tất cả những ai đi xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý Ta. Đối với những người, vì một lý do chính đáng, không thể chia sẻ vào những kinh nguyện công khai này, hay trong những Giáo hội không thể thực hành vì phán quyết của Thẩm quyền, cũng được chia sẻ các giá trị tinh thần này, khi tự cá nhân thực hành tuần cửu nhật và thực hiện những điều kiện Giáo hội dạy. Ngoài ra, Ta cũng van xin kho tàng của Hội thánh, tuôn tràn trên những ai, dù công khai hay cá nhân, đọc những lời cầu nguyện dâng lên Chúa Thánh Thần từ tuần cửu nhật của lễ Hiện Xuống cho đến ngày Lễ Ba Ngôi với việc chu toàn những điều kiện đã chỉ định bên trên, để có khả năng nhận được các ân xá. Cuối cùng Ta cũng ban phép dành các ân xá này cho các đẳng.
Bây giờ, tinh thần và chú tâm của Ta hướng về chủ đề đã nói từ lúc đầu ; Ta xin và luôn xin anh em dâng lên Chúa Thánh Thần cáclời kinh tỏ lòng nhiệt thành. Xin anh em hãy kết hợp với Ta và cả các nước công giáo chung tiếng để dâng lời khẩn cầu lên Đức Trinh nữ Maria. Chúng ta đã biết dây liên kết đáng kinh ngạc đã kết hợp Đức Maria với Chúa Thánh Thần, nên Mẹ được gọi là vị Hôn Thê vô nhiễm. Lời cầu nguyện của Mẹ gắn liền với mầu nhiệm Nhập Thể và lời cầu khẩn Thánh Thần hiện xuống của các Tông Đồ. Ướcgì Mẹ củng cố các lời cầu nguyện chung của chúng ta bằng sự nâng đỡ từ ái để Thánh Thần tái canh tân đời sống này như những bài ca tuyệt vời của vua Đavit: Chúa gởi Thần Khí của Ngài và tất cả được tạo dựng, và Ngài canh tân mặt địa cầu [62]. Như sự bảo đảm cho những ân sủng thiên đình và chứng cứ cho sự ưu ái của Ta, thưa anh em, hãy đón nhận lời chúc lành của Tòa Thánh cho từng anh em, cho hàng giáo phẩm và cho dân tộc của anh em mà Ta luôn tha thiết khẩn cầu nơi Chúa.
Làm tại Rôma, gần Đền Thờ thánh Phêrô, ngày 9 tháng năm 1897, vào năm thứ 20 triều đại Giáo hoàng của Ta.
Lêô XIII, Giáo Hoàng
CHÚ THÍCH
- Mt 11, 28 ; Ga 14, 6 ; 11.14
- Ga 16, 7
- Gióp 26,13
- Khôn ngoan 1,7
- Đức Lêo Cả, Bài giảng 2, kỷ niệm ngày lên ngôi giáo hoàng, Phúc Âm thánh Luca LIV, 39
- De Spiritu Sancto, C. XVI, 39
- Ga 1,18
- Somme Théol, 1a, q. XXXI,a.2 – Thánh Augustinô, De Trinitate, I,3: PL XLII, 822
- Rm 11,36
- Thánh Augustinô, De Trinitate, VI, 1, PL XLII 932
- id I,5
- id I,4
- Thomas, Somme Théol I,q. XXXIV, art 7
- Thánh Augustinô, De Trinitate IV, 20
- Mt 1,18-20
- Tim III, 16
- Ga 3,16
- Enchir. Ch XI
- Cv. 10,38
- Thánh Basilius, De L!’Esprit ch. XVI
- Dt 9,14
- Dt 4,1 ; 11, 2-3
- De laTrinité, I, XV
- id, II,XXIX
- Cyrille dee Jérusalem , catéchèse 17
- Hom sur Mat I-II Cr 3,3
- Ga 16, 12-13
- Ga 14, 16-17
- Cv 20, 28
- Ga 20, 22-23
- Thánh Aug, Ser CLXXXVII
- Ga 7, 38-39
- Thánh Lêo Hom III
- Gl 4,1-2
- Ga 7, 39
- Ep 6, 8
- Thánh Aug, De la TrinitéI.4
- Thánh Cyrille, Thesaur V 5
- Ep 2,3
- Rm 8, 15-17
- Thomas P. II, q. XXXCII,art 1
- Ga 3,7
- Rm 5,5
- Thomas, P.I. q. VIII, a.3
- Ga 14, 23
- 1 Cr 6, 19
- Thomas I, q. XXXVIII, art 2
- Thomas III,q. VIII art 1ad 3
- Gl 5, 22
- Thánh Aug De la Trinité VI, 9
- Cv 19, 2
- Đnl 6,5
- 1 Cr 2,10
- 1 Tx 2,10
- Ep 4, 30
- 1 Tm. 4, 1
- 1 Cr 3,16-17
- Thomas, Somme Théol p. III, a. 6 ad 3
- Missel Romain, thứ 3 sau Phục Sinh
- Rm 8, 26
- Ep 1,14
- Tv 103, 30








