Đức Thánh Cha hướng dẫn giới trẻ đi vào Thiên Niên kỷ thứ Ba. Tài liệu này được trích dẫn từ những văn kiện, bài nói, những câu trả lời của Đức Thánh Cha.
Giới Trẻ Theo Ai?
Ngày 26-11-1995, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II gửi giới trẻ một sứ điệp cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 11 được tổ chức tại mỗi giáo phận địa phương trong năm 1996. Tuy nhiên, trong sứ điệp này, Đức Thánh Cha cũng đã lợi dụng để hướng giới trẻ về việc nghênh đón năm 2000, Đại Năm Thánh của Giáo Hội. Do đó, Đức Thánh Cha đã phác ra hết 4 chủ đề cho giới trẻ từ năm 1997 đến chính năm 2000.
Theo chương trình dọn mình đón mừng Đại Năm Thánh 2000 của Giáo Hội, trong tông thư “Ngàn Năm Thứ Ba Đang Đến” (Tertio Millennio Adveniente), ở đoạn 30, Đức Thánh Cha đã phác ra hai thời kỳ dọn mừng. Thời kỳ dọn mừng xa, theo tông thư trên, ở đoạn 31 và các đoạn từ 32 đến hết 38, gồm có 3 năm là những năm 1994, 1995, 1996. Và thời kỳ dọn mừng gần, tông thư trên xác định ở đoạn 39 và các đoạn từ 40 đến hết 54, cũng có 3 năm là những năm ngay trước năm 2000, đó là năm 1997, 1998, 1999.
Trong thời kỳ dọn mừng gần, tức thời kỳ dọn mừng của năm 1997, 1998 và 1999, cũng trong tông thư nói trên, Đức Thánh Cha đã ấn định rõ: chủ đề năm 1997 là Chúa Kitô, chủ đề năm 1998 là Chúa Thánh Thần, và chủ đề năm 1999 là Chúa Cha. Tất nhiên năm 2000 là chính năm kính mầu nhiệm nhập thể của Chúa Kitô. Đó là lý do Đức Thánh Cha đã phác ra bốn chủ đề cho giới trẻ theo chiều hướng chung này.
Sau đây là sứ điệp của Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II khai triển chủ đề cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 11 được cử hành tại các giáo phận địa phương trong năm 1996:
“Lạy Chúa, chúng con còn biết theo ai? Chúa có những lời sự sống đời đời” (Jn.6:68).
“Tôi mong được gặp anh em để tôi có thể chia sẻ cho anh em một thứ tặng ân thiêng liêng, làm anh thêm kiên cường, đó là, để chúng ta được phấn khởi nhờ đức tin của nhau, cả của anh em lẫn của tôi” (Rm.1:11-12).
Những lời của thánh tông đồ Phaolô nói với các Kitô hữu giáo đoàn Rôma đã gói ghém mối tình cảm mà Cha ngỏ với tất cả các con, khi chúng ta bắt đầu dọn mình cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 11.
Thật thế, Cha đến với các con bằng tinh thần, mang theo cũng một ước nguyện là được gặp gỡ các con ở mọi góc biển chân trời, nơi mà các con đang đối đầu với cam go, với cuộc thám du hằng ngày của cuộc sống: trong gia đình của các con, nơi các con học tập và làm việc, trong những cộng đồng của các con, nơi các con tụ họp lại để nghe lời Chúa và để mở lòng mình ra cho Ngài bằng kinh nguyện.
Ánh mắt của Cha đặc biệt hướng về thành phần giới trẻ mà bản thân chịu quá nhiều đọa đày là những gì vẫn làm tổn thương đến nhân loại: đó là thành phần giới trẻ khốn khổ vì chiến tranh, vì bạo lực, vì đói khát và bần cùng, nhờ đó họ nối dài nỗi khổ đau của Chúa Kitô, Đấng bằng cuộc Vượt Qua của mình gắn liền với những kẻ bị đè nén dưới gánh nặng đau thương và bất công.
Năm 1996 là năm Ngày Giới Trẻ Thế Giới sẽ diễn ra tại các cộng đồng giáo phận như thường lệ, với ý hướng vọng về một cuộc gặp gỡ chung toàn thế giới tới sẽ đưa chúng ta đến Balê năm 1997. Chúng ta đang tiến đến Đại Năm Thánh 2000, một điểm hẹn mà, trong tông thư Thiên Niên Thứ Ba Đang Đến (Tertio Millennio Adveniente), Cha đã mời gọi toàn thể Giáo Hội sửa soạn bằng việc ăn năn cải thiện tâm hồn và đời sống.
Giờ đây Cha cũng xin các con lãnh lấy việc sửa soạn này với cùng một tinh thần và mục đích. Căn cứ vào những lời của Phúc Âm, tương hợp với những đề tài được trình bày cho toàn thể Giáo Hội vào mỗi năm, Cha ký thác cho các con một chương trình hành động như là một hướng dẫn cho những Ngày Giới Trẻ Thế Giới tới đây:
1997: “Lạy Thầy, Thầy hiện đang ở đâu? – Hãy đến mà xem” (Jn.1:38-39).
1998: “Chúa Thánh Thần sẽ dạy các con hết mọi sự” (Jn.14:26).
1999: “Chúa Cha yêu thương các con” (Jn.16:27).
2000: “Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta” (Jn.1:14).
Cha đặc biệt kêu gọi các con, hỡi giới trẻ, hãy hướng nhìn vào ngưỡng cửa của thời điểm năm 2000, khi nhớ lại rằng “tương lai của thế giới và của Giáo Hội đều thuộc thế hệ trẻ, thuộc về những người được sinh trong thế kỷ này song sẽ thành nhân trong thế kỷ tới đây, thế kỷ đầu tiên của một ngàn năm mới… Nếu họ tiếp tục theo con đường mà Người đã chỉ cho họ, họ sẽ hân hoan đóng góp vào việc làm cho Người hiện diện trong thế kỷ tới” (Tông thư “Thiên Niên Thứ Ba Đang Đến”, đoạn 58).
Trong khi chúng ta tiến đến Đại Năm Thánh, chớ gì các con hãy mang theo bên mình hiến chế Vui Mừng Và Hy Vọng (Gaudium et Spes) của công đồng chung mà Cha muốn đề nghị với tất cả các con, như Cha đã đề nghị với đồng bạn của các con thuộc lục địa Âu Châu ở Loreto hồi tháng chín vừa rồi. Đó là một “văn kiện giá trị và luôn mới mẻ… Các con hãy chuyên chú đọc đi đọc lại văn kiện này. Các con sẽ tìm gặp ở nơi nó ánh sáng để thấy rõ ràng ơn gọi của các con, như là những người nam nữ được kêu gọi đến trong một thời điểm vừa tuyệt vời lại vừa bi thảm này, và như là những tay thiện nghệ của tình huynh đệ cũng là những nhà xây dựng hòa bình” (Huấn Từ cho buổi Nguyện Kinh Truyền Tin ngày 10-9-1995).
“Lạy Chúa, chúng con còn biết theo ai?”. Mục đích và mục tiêu của đời sống chúng ta là Người, Chúa Kitô, Đấng đang chờ đợi chúng ta – riêng mỗi một người cũng như chung tất cả – để dẫn chúng ta vượt qua những ranh giới của thời gian mà tiến đến một cuộc gắn bó đời đời với Thiên Chúa là Đấng yêu thương chúng ta.
Thế nhưng, nếu vĩnh cửu là đường chân trời của chúng ta, những con người đói khát chân lý và hạnh phúc, thì lịch sử là môi trường dấn thân hằng ngày của chúng ta. Đức tin dạy chúng ta rằng định mệnh của con người được viết trong tâm trí của Thiên Chúa, Đấng điều khiển tiến trình lịch sử. Nó cũng dạy chúng ta rằng Chúa Cha đặt trong bàn tay của chúng ta công việc khởi công xây đắp trên trái đất này nước trời mà Chúa Con đã đến loan báo và sẽ được hoàn thành vào lúc tận cùng thời gian.
Vậy phận sự của chúng ta là sống trong lịch sử, sát cánh với đồng bạn của mình, bằng cách chia sẻ những lo âu và hy vọng của họ, vì Kitô hữu là và phải hoàn toàn là một con người cho thời điểm của mình. Họ không thể nào vượt thoát sang một quỹ đạo khác mà không biết gì về những tai biến nơi thế kỷ của mình, mà nhắm mắt bịt tai trước nỗi đau thương tràn lan trong cuộc sống. Ngược lại, là con người mặc dầu không thuộc về song đã chìm sâu trong thế gian này, người Kitô hữu phải mau sẵn đến với bất cứ nơi nào có ai trong anh em mình đang cần giúp đỡ, khóc lóc cần lau mặt, đòi hỏi cần đáp ứng. Chúng ta sẽ bị xét xử căn cứ vào điều này!
Nhớ lại lời cảnh giác của Thầy mình là: “Ta đói các con đã cho Ta ăn, Ta khát các con đã cho Ta uống, Ta là lữ khách các con đã tiếp đón Ta, Ta trần truồng các con đã mặc cho Ta, Ta yếu đau các con đã thăm viếng, Ta bị giam cầm các con đã đến với Ta” (Mt.25:35-36), chúng ta phải mang “giới răn mới” (Jn. 13:34) ra thực hành.
Như thế, chúng ta sẽ chống lại cái mà ngày nay làm cho văn minh nứt mẻ, để hiên ngang tái xác nhận một thứ “văn minh yêu thương”, một thứ văn minh duy nhất có thể mở ra cho con người của thời đại chúng ta những chân trời đích thực bình an và bền vững công chính, trong kỷ cương và đoàn kết.
Đức bác ái cũng phải là một đại lộ dẫn chúng ta đến đích điểm của Đại Năm Thánh. Để đến được điểm hẹn này, chúng ta cần phải làm sao đối diện với chính mình và thực hiện một cuộc khảo sát gắt gao lương tâm của mình, một điều kiện không thể châm chước cho việc cải thiện sâu xa, một việc cải thiện có thể làm biến đổi đời sống của chúng ta và ban cho nó một ý nghĩa đích thực, khiến cho thành phần tín hữu có thể yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết sức mình, và yêu thương tha nhân như bản thân mình (x.Lk.10:27).
Nhờ liên hợp đời sống thường nhật của mình với Phúc Âm của vị Tôn Sư duy nhất, Đấng có “những lời ban sự sống đời đời”, các con mới có thể trở nên những tay thợ chuyên môn làm việc cho công lý, bằng cách sống theo giới răn này là giới răn làm cho tình yêu trở thành một giới tuyến mới của chứng tá Kitô giáo. Đây là một lề luật làm biến đổi thế giới (x.hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng, đoạn 38).
Trước hết giới trẻ các con cần làm chứng mãnh liệt về tình yêu đối với sự sống là một tặng ân của Thiên Chúa. Tình yêu này phải trải dài đối với từng sự sống, từ lúc khởi sự cho đến hoàn thành, và phải chống lại mọi nỗ lực biến con người trở nên viên quản thủ sự sống của anh em mình, của sự sống thai nhi, của sự sống tàn tạ hay sự sống của thành phần tật nguyền và yếu kém.
Cha xin giới trẻ các con trở nên những vị tiên tri rao giảng sự sống, bởi các con là những con người, theo tự nhiên và bản năng, làm cho tình yêu đối với sự sống của mình thành một đường chân trời ước mơ của các con, cũng như thành một chiếc cầu vồng hy vọng của mình. Các con hãy đóng vai vị tiên tri rao giảng sự sống này bằng lời nói cũng như bằng việc làm của các con, chống lại thứ văn minh vị kỷ thường coi con người là một phương tiện hơn là một đích nhắm, hủy hoại cả nhân phẩm lẫn cảm xúc cho duy lợi lộc. Các con hãy làm như thế bằng việc cụ thể giúp đáp những ai cần đến các con, và những ai không được các con giúp đáp họ có thể liều mình đi đến tình trạng tuyệt vọng.
Sự sống là một tài năng (x.Mt.25:14-30) được ủy thác cho chúng ta để chúng ta có thể biến đổi nó và tăng triển nó, làm nó thành một tặng vật cho những người khác. Không ai là một tảng băng đá lềnh bềnh trôi trên đại dương của dòng lịch sử cả. Mỗi người trong chúng ta thuộc về một đại gia đình, trong đó, ai cũng có chỗ riêng của mình và thực thi vai trò riêng của họ. Vị kỷ biến con người thành câm điếc; yêu thương mở lòng trí con người, giúp con người làm cho việc đóng góp nguyên tuyền và không ai thay thế được của họ đó, cùng với cả ngàn những việc làm của nhiều anh chị em khác, thường khác biệt và vô danh, hợp lại thành một cấu trúc bác ái để có thể làm đảo lộn chiều sóng của lịch sử.
“Lạy Chúa, chúng con còn biết theo ai? Chúa có những lời sự sống đời đời”.
Khi thấy rằng lời nói của mình quá căng thẳng, làm cho nhiều môn đệ bỏ mình, Chúa Giêsu hỏi ít người còn ở lại với Người rằng: “Các con cũng sẽ bỏ đi chứ?” Thánh Phêrô trả lời: “Lạy Chúa, chúng con còn biết theo ai? Chúa có những lời sự sống đời đời” (Jn.6:67-68). Thế rồi các vị chọn ở lại với Người. Họ ở lại vì Thầy của các vị có “những lời sự sống đời đời”, những lời trong khi hứa sự sống vĩnh cửu cũng ban cho cuộc sống trọn vẹn ý nghĩa.
Có những lúc và những hoàn cảnh cần phải chọn lựa dứt khoát cho cả một cuộc đời. Chúng ta đang cảm nghiệm thấy, như các con biết đấy, những lúc khó khăn thường khó phân biệt được lành dữ, những vị thầy thật hay giả. Chúa Giêsu cảnh giác chúng ta rằng: “Hãy coi chừng đừng để mình bị đánh lừa; vì nhiều người sẽ nhân danh Thầy mà đến nói ‘Ta là Người!’ và ‘thời điểm đã gần rồi!’ Chớ có đi theo họ” (Lk.21:8). Các con hãy cầu nguyện và lắng nghe những lời của Người; các con hãy theo sự dẫn dắt của các vị chủ chăn chân thật; đừng bao giờ nhường bước trước sự ve vãn và những ảo ảnh mau qua của thế gian là những gì thường làm cho con người thất vọng một cách thảm hại.
Chính trong những lúc khó khăn, những lúc thử thách, mới đo lường được tính chất của những quyết định. Bởi thế, chính trong thời điểm khó khăn này mà mỗi một người trong các con được kêu gọi để can đảm quyết định. Không có những ngõ tắt để đạt tới hạnh phúc và ánh sáng đâu. Sự kiện này được chứng tỏ nơi cực hình phải chịu bởi tất cả những người mà, trải qua lịch sử loài người, không ngừng tìm kiếm ý nghĩa của cuộc sống, để giải đáp cho những vấn nạn được viết trong tâm khảm mỗi một con người.
Các con biết rằng những vấn nạn này không là gì khác ngoài việc bộc lộ lòng mong ước vĩnh hằng mà Thiên Chúa đã gieo vào trong mỗi một người chúng ta. Bởi thế, cảm nhận được ý nghĩa của phận sự và hy sinh, các con phải bước theo những con đường cải thiện, dấn thân, tìm tòi, làm việc, phục nguyện, đối thoại, tôn trọng tất cả mọi người, không thối lui trước những thất bại, biết rằng sức mạnh của các con là ở nơi Chúa, Đấng lấy tình yêu dẫn dắt những bước đi của các con và sẵn sàng tiếp nhận các con như đứa con hoang đàng (x.Lk.15:11-24).
Giới trẻ yêu dấu, Cha đã xin các con làm “những vị tiên tri rao giảng sự sống và yêu thương”. Cha cũng xin các con làm “những vị tiên tri rao giảng niềm vui” nữa: Thế giới phải nhận ra chúng ta nhờ khả năng chúng ta có thể truyền đạt cho đồng bạn của mình dấu chỉ thật hy vọng đã được hoàn toàn thể hiện: đó là Chúa Giêsu, Đấng vì chúng ta đã chết và sống lại.
Các con đừng quên rằng “tương lai của nhân loại nằm ở trong tay những người có khả năng cung cấp cho những thế hệ sau này lý do để sống động và để phấn khởi” (hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng, đoạn 31).
Được thanh tẩy bằng bí tích hòa giải, hoa trái của tình yêu thần linh và của lòng thống hối chân thành nơi các con, bằng việc tranh đấu cho công lý và sống trong niềm biết ơn Thiên Chúa, các con có thể trở thành những vị tiên tri uy tín và thế lực của niềm vui trong một thế giới đầy mù mịt và sầu buồn này. Các con sẽ là những vị tiền hô loan báo “thời điểm viên trọn”, một thời điểm được nhắc lại qua biến cố Đại Năm Thánh 2000.
Con đường mà Chúa Giêsu chỉ cho các con đi thì không dễ bước. Ngược lại, nó là một con đường ngoằn ngoèo dẫn lên núi. Các con đừng nản lòng! Con đường càng dốc đứng, nó càng chóng hướng lên những chân trời khoáng đại hơn. Xin Mẹ Maria, Vì Sao Chiếu Sáng Phúc Âm, dẫn dắt các con! Dễ dạy như Người trước thánh ý của Chúa Cha, các con hãy bước lên khán đài lịch sử như những chứng nhân trưởng thành và hiên ngang.
Cùng với Mẹ và các thánh tông đồ, từng giây phút, các con hãy lập lại lời tuyên xưng đức tin của các con trước nhan thánh sống động của Chúa Giêsu Kitô là: “Chúa có những lời sự sống đời đời!”
Vatican 26/11/1995, Lễ Chúa Giêsu Kitô Vua. Gioan-Phaolô II. (Trích dịch từ The Pope Speaks Vol.41, No.3 May/June 1996)







