ĐỨC THÁNH CHA GIOAN-PHAOLÔ II THÔNG ĐIỆP UT UNUM SINT (ĐỂ HỌ NÊN MỘT) VỀ VIỆC DẤN THÂN ĐẠI KẾT
TÓM LƯỢC
NHẬP ĐỀ số 01-04
CHƯƠNG I : VIỆC DẤN THÂN ĐẠI KẾT CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO
* Ý định của Thiên Chúa và sự hiệp thông số 05-06
* Con đường đại kết : con đường của Giáo hội số 07-14
* Canh tân và hoán cải số 15-17
* Tầm quan trọng căn bản của giáo lý số 18-20
* Ưu tiên cho việc cầu nguyện số 21-27
* Đối thoại đại kết số 28-30
* Những cơ cấu địa phương của việc đối thoại số 31-35
* Việc đối thoại giống như cuộc kiểm điểm lương tâm số 36-39
* Đối thoại để giải quyết những bất đồng số 40
CHƯƠNG II : NHỮNG KẾT QUẢ CỦA ĐỐI THOẠI
* Tìm lại được tình huynh đệ số 41-42
* Tình liên đới trong việc phục vụ nhân loại số 43
* Những điểm đồng quy… số 44-46
* Đánh giá những điều thiện hảo hiện có… số 47-48
* Tiến triển của hiệp thông số 49
* Đối thoại với các Giáo hội Đông phương số 50-51
* Nối lại những cuộc tiếp xúc số 52-54
* Các Giáo hội chị em số 55-58
* Những tiến triển của đối thoại số 59-61
* Những tương quan với các Giáo hội kỳ cựu Đông phương số 62-63
* Đối thoại với các Giáo hội…Tây phương số 64-70
* Những tương quan với các Giáo hội số 71-73
* Những hợp tác đã thực hiện số 74-76
CHƯƠNG III : QUANTA EST NOBIS VIA (QUÃNG ĐƯỜNG CÒN PHẢI VƯỢT QUA)
* Theo đuổi và tăng cường đối thoại số 77-79
* Đón nhận những thành quả đạt được số 80-81
* Tiếp tục phong trào đại kết thiêng liêng…. số 82-85
* Phần đóng góp của Giáo hội Công giáo… số 86-87
* Tác vụ hiệp nhất của Giám mục Rôma số 88-96
* Hiệp thông tất cả các Giáo hội riêng biệt… số 97
* Hiệp nhất đầy đủ và việc rao giảng Tin mừng số 98-99
LỜI KHUYẾN DỤ s100-103
CHÚ THÍCH
NHẬP ĐỀ
- ĐỂ HỌ NÊN MỘT ! Lời kêu gọi hiệp nhất các Kitô hữu, đã được Công đồng đại kết Vatican II nhắc lại với một xác tín mạnh mẽ, âm vang trong lòng các tín hữu ngày càng thêm mãnh liệt, đặc biệt đang khi tiến gần tới năm 2000, đối với họ sẽ là Năm Thánh kỷ niệm công cuộc Nhập thể của Con Thiên Chúa, Đấng đã làm người đễ cứu độ con người.
Chứng từ anh dũng của nhiều vị tử đạo ở thế kỷ chúng ta, kể cả những vị thuộc các Giáo hội khác và các Cộng đoàn giáo hội không hiệp thông đầy đủ với Giáo hội Công giáo, làm cho lời kêu gọi của Công đồng có được một sức mạnh mới; lời kêu gọi ấy nhắc nhở chúng ta nghĩa vụ đón nhận và thi hành lời khuyến cáo của Công đồng. Là những người cùng nhau quảng đại hiến dâng cuộc đời cho Nước Thiên Chúa, các anh chị em chúng ta chứng thực cách rất hùng hồn mọi yếu tố gây chia rẽ đều có thể được vượt qua và lướt thắng bằng việc hiến thân trọn vẹn vì Tin mừng.
Chúa Kitô mời gọi tất cả các môn đệ của Ngài tiến tới hiệp nhất. Niềm khát vọng nóng bỏng trong tôi là được lặp lại ngày hôm nay lời mời gọi ấy và lặp lại một cách kiên quyết. Tôi sẽ nhắc đến điều tôi đã có dịp nhấn mạnh tại hí trường Côlisê ở Rôma, ngày Thứ sáu Tuần thánh 1994, khi kết thúc buổi suy niệm về Đàng Thánh giá, được người anh em đáng kính của tôi hướng dẫn, Đức Bartholomaios, Thượng phụ đại kết của Constantinople. Trong dịp đó, tôi đã quả quyết những người tin vào Chúa Kitô, được hiệp nhất lại trên con đường các vị tử đạo đã vạch ra, không thể cứ chia rẽ nhau mãi được. Nếu họ muốn thật sự chiến đấu một cách có hiệu quả chống lại khuynh hướng của thế gian làm cho mầu nhiệm Cứu chuộc ra vô ích, thì họ phải cùng nhau tuyên xưng chân lý của Thập giá (1). Thập Giá ! Trào lưu chống Kitô giáo muốn chối bỏ giá trị và làm tiêu tan ý nghĩa của Thập giá; không chấp nhận việc con người coi Thập giá là cội rễ phát sinh sự sống mới của họ, và chủ trương Thập giá không thể mở ra cho con người tương lai và hy vọng : người ta bảo con người chỉ là một loài thuộc về trần gian, nên phải sống như không có Thiên Chúa.
- Ai cũng thấy tất cả những điều ấy tạo nên một thách đố đối với các tín hữu. Họ phải nêu lên thách đố này. Thực vậy, làm sao họ có thể không dùng mọi khả năng của mình, cùng với sự trợ giúp của Chúa, để phá đổ những bức tường chia rẽ và nghi kị, để thắng vượt những chướng ngại và thành kiến ngăn cản việc loan báo Tin mừng Cứu độ bằng Thập giá Chúa Giêsu, Đấng Cứu chuộc duy nhất của con người, của con người toàn diện.
Tôi cảm tạ Chúa, Đấng đã khuyến khích chúng ta tiến bước trên con đường đầy khó khăn nhưng lại nhiều niềm vui, con đường hiệp nhất và hiệp thông giữa các Kitô hữu. Những cuộc đối thoại thần học liên tôn đã mang lại những kết quả tích cực và cụ thể. Điều đó khích lệ chúng ta tiến thêm nữa.
Tuy nhiên, bên kia những khác biệt về giáo lý phải vượt qua, các Kitô hữu không thể coi thường ảnh hưởng nặng nề của những di sản và sự bất cảm thông mà họ đã thừa hưởng từ dĩ vãng, của những hiểu lầm và thành kiến đối với nhau. Sự ù lì, lãnh đạm và thiếu hiểu biết nhau cũng thường làm cho tình trạng đó thêm trầm trọng hơn. Vì lý do này, việc dấn thân đại kết phải được đặt nền tảng trên sự hoán cải tâm hồn và trên lời cầu nguyện, hầu dẫn tới sự cần thiết phải thanh tẩy ký ức về lịch sủ. Với ơn Chúa Thánh Thần, các môn đệ Chúa, được sinh động bởi tình yêu, bởi sự can đảm của chân lý, cũng như bởi ý muốn chân thành tha thứ cho nhau và hòa giải cùng nhau, đều được mời gọi cùng nhìn lại dĩ vãng đớn đau của mình và những vết thương rủi thay ngày hôm nay vẫn còn gây nên. Sức sống luôn tươi trẻ của Tin Mừng mời gọi họ cùng nhìn nhận với tính cách khách quan chân thành và toàn vẹn, những lầm lẫn đã vấp phải và những yếu tố phụ thuộc đã góp phần tạo ra những chia rẽ đáng buồn. Cần phải có một cái nhìn trong sáng và bình tĩnh trong sự thật, cái nhìn được lòng nhân từ của Thiên Chúa làm cho sống động, có sức giải phóng các tâm hồn và gia tăng nơi mỗi người sự sẵn sàng loan báo Tin mừng cho con người thuộc mọi dân tộc và mọi quốc gia.
- Tại Công đồng Vatican II, Giáo hội Công giáo đã dấn thân vào con đường tìm kiếm đại kết một cách không thể đảo ngược như thể lắng nghe Thánh Thần Chúa, dạy phải chăm chú đọc những “dấu chỉ thời đại”. Những kinh nghiệm Giáo hội đã sống trong những năm ấy và hiện đang tiếp tục sống, sẽ vẫn còn soi sáng cho Giáo hội cách sâu xa hơn nữa về căn tính và sứ mệnh của mình trong lịch sử. Giáo hội Công giáo nhìn thấy và thú nhận những yếu đuối của con cái mình, ý thức rằng những tội lỗi của họ gây nên bao nhiêu phản bội và cản trở cho việc thực thi ý muốn của Đấng Cứu độ. Cảm thấy được liên tục kêu gọi canh tân theo Tin mừng, Giáo hội không ngừng sám hối. Đồng thời Giáo hội nhận biết và tuyên xưng hơn nữa quyền năng của Chúa, Đấng đang lôi kéo Giáo hội và làm cho Giáo hội nên phù hợp với cuộc khổ nạn và Phục Sinh của Ngài, sau khi đã ban cho Giáo hội tràn đầy hồng ân thánh thiện.
Được giáo huấn bởi nhiều biến cố trong lịch sử của mình, Giáo hội có bổn phận tự giải thoát khỏi mọi nâng đỡ thuần túy nhân loại, để sống sâu xa luật Tin mừng về các mối Phúc. Ý thức rằng “chân lý không đòi buộc điều gì khác ngoài sức mạnh của chính chân lý, thấm nhập tâm trí cách vừa êm dịu vừa mãnh liệt” (2), Giáo hội chẳng đòi hỏi gì cho chính mình, ngoài việc được tự do loan báo Tin mừng. Thực vậy, quyền bính của Giáo hội được sử dụng để phục vụ chân lý và đức ái.
Tôi ước mong thăng tiến mọi sáng kiến hữu ích, hầu chứng tá của toàn thể cộng đoàn Công giáo có thể được hiểu biết trong sự tình ròng và mạch lạc nguyên vẹn của nó, nhất là để hướng tới cuộc hẹn gặp đang chờ đợi Giáo hội ở thềm thiên niên kỷ mới, một thời điểm đặc biệt Giáo hội cầu xin Chúa cho sự hiệp nhất các Kitô hữu được tiến triển thêm mãi cho tới khi đạt được sự hiệp thông đầy đủ (3). Đó cũng chính là mục đích rất cao quý thông điệp này theo đuổi : bởi đặc tính căn bản là mục vụ, thông điệp ước mong góp phân nâng đỡ các nỗ lực của những người làm việc để mưu tìm sự hiệp nhất.
- Đó là một nghĩa vụ được chỉ định cho Giám mục Rôma với tư cách là người kế vị Tông đồ Phêrô. Tôi chu toàn nghĩa vụ ấy với niềm xác tín sâu xa là vâng phục Chúa và trong ý thức đầy đủ về sự mỏng dòn của con người tôi. Thực vậy, nếu chính Chúa Kitô đã ủy thác cho Phêrô sứ mạng đặc thù này trong Giáo hội và đòi hỏi ông phải củng cố anh em mình, thì đồng thời Ngài cũng đã làm cho ông cảm nhận được sự yếu đuối của mình và sự cần thiết đặc biệt phải hoán cải : “Khi con trở lại, hãy củng cố anh em con” (Lc 22,32). Chính con người yếu đuối của Phêrô đã chứng tỏ một cách đầy đủ sự việc này là, để chu toàn sứ mạng đặc biệt của mình trong Giáo hội, Đức Giáo Hoàng hoàn toàn lệ thuộc vào ơn thánh và lời cầu nguyện của Chúa : “Thầy đã cầu cho con, để con được vững niềm tin” (Lc 22,32). Việc hoán cải của Phêrô và của những người kế vị ông tìm được điểm tựa trong chính lời cầu nguyện của Đấng Cứu Thế, và Giáo hội liên tục dự phần vào lời cầu khẩn này. Trong thời buổi đại kết của chúng ta, được ghi dấu bởi Công đồng Vatican II, Giám mục Rôma đặc biệt chu toàn sứ mạng nhắc lại đòi hỏi của sự hiệp thông đầy đủ giữa các môn đệ Chúa Kitô.
Chính Giám mục Rôma phải thành tâm cầu nguyện như Chúa Kitô cho việc hoán cải, là việc thiết yếu đối với “Phêrô” để ông có thể phục vụ anh em mình. Với lòng nhiệt thành, tôi nài xin các tín hữu của Giáo hội Công giáo và hết mọi Kitô hữu hãy hiệp nhất với nhau trong lời cầu nguyện này. Ước mong mọi người cùng cầu nguyện với tôi cho việc hoán cải ấy !
Chúng ta biết rằng, trong cuộc lữ hành trần gian, Giáo hội đã phải chịu và còn tiếp tục phải chịu những chống đối và bách hại. Thế nhưng niềm hy vọng nâng đỡ Giáo hội lại thật kiên vững, cũng thế niềm vui phát sinh từ hy vọng ấy không thể nào bị tiêu diệt. Quả thực, tảng đá vững chắc và vĩnh cửu, trên đó Giáo hội được xây dựng, chính là Chúa Giêsu Kitô, Đức Chúa của Giáo hội.
CHƯƠNG I
VIỆC DẤN THÂN ĐẠI KẾT CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO Ý ĐỊNH CỦA THIÊN CHÚA VÀ SỰ HIỆP THÔNG
- Cùng với tất cả các môn đệ Chúa Kitô, dựa trên kế hoạch của Thiên Chúa, Giáo hội Công giáo dấn thân vào việc đại kết để qui tụ hết thảy họ lại trong mối hiệp nhất. Quả thực, “Giáo hội không phải là một thực thể khép kín nơi chính mình, nhưng đúng hơn là một thực thể thường xuyên rộng mở cho sức năng động truyền giáo và đại kết, bởi vì Giáo hội được sai đến trần gian để loan truyền, làm chứng, hiện tại hóa và phổ biến các mầu nhiệm hiệp thông, là mầu nhiệm tạo nên Giáo hội : qui tụ mọi sự và mọi người trong Chúa Kitô; là bí tích hiệp nhất bền vững cho tất cả mọi người” (4).
Ngay trong Cựu ước, khi gợi lại tình trạng của dân Thiên Chúa, tiên tri Egiekiel đã dùng biểu tượng đơn giản là hai miếng gỗ tách rời nhau, sau đó được ráp lại với nhau để diễn tả ý định của Thiên Chúa “qui tụ từ khắp nơi” những phần tử của dân Ngài bị phân tán : “Chúng sẽ là dân Ta và Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng. Và các quốc gia sẽ biết rằng Ta là Đức Chúa, Đấng thánh hóa Israel” (x Ed 37,16-28). Về phần mình, trước tình cảnh của dân Thiên Chúa thời bấy giờ, Tin mừng Gioan nhìn thấy nơi cái chết của Chúa Giêsu nguyên nhân hiệp nhất các con cái Thiên Chúa. “Chúa Giêsu sẽ chết cho dân, và không chỉ cho dân mà thôi, nhưng còn để qui tụ trong hiệp nhất những con cái Thiên Chúa bị phân tán” (11,51-52). Quả thực, như thư gửi tín hữu Êphêsô giải thích, “khi phá đổ rào cản ngăn cách họ…bằng Thập giá, Ngài đã giết chết nơi bản thân Ngài sự thù hận”, từ những gì bị phân chia, Ngài đã làm cho nên một (x 2,14-16).
- Thiên Chúa đã muốn tất cả nhân loại bị tan tác được hiệp nhất. Vì thế, Ngài đã sai Con Ngài đến để ban cho chúng ta Thánh Thần tình yêu bằng cách chết đi và sống lại vì chúng ta. Hôm trước ngày hiến tế mình trên Thập giá, chính Chúa Giêsu đã cầu xin Chúa Cha cho các môn đệ và cho tất cả những ai tin vào Ngài để họ nên một, một niềm hiệp thông sống động. Từ đó nảy sinh không những bổn phận mà cả trách nhiệm, truớc Thiên Chúa và vì kế hoạch của Thiên Chúa, đối với những người nam và người nữ nhờ bí tích Thanh tẩy đã trở nên Thân thể Chúa Kitô, trong đó sự hòa giải và mối hiệp thông phải được thể hiện đầy đủ. Làm sao có thể cứ chia rẽ mãi, nếu nhờ phép Thanh tẩy, chúng ta được dìm trong cái chết của Chúa, nghĩa là trong chính tác động nhờ đó, nơi Con của Ngài, Thiên Chúa đã phá đổ những rào cản gây chia rẽ ? Sự “chia rẽ rõ ràng là chống lại ý muốn của Chúa Kitô, là cớ vấp phạm cho thế gian, và là nguồn gây thiệt hại đối với công trình rất thánh thiện của việc rao giảng Tin mừng cho mọi tạo vật” (5).
CON ĐƯỜNG ĐẠI KẾT :CON ĐƯỜNG CỦA GIÁO HỘI
- “Vị Thầy của các thế kỷ, Đấng đã khôn ngoan và kiên nhẫn theo đuổi ý định ân sủng của Ngài đối với những kẻ tội lỗi là chúng ta, trong những thời gian cuối cùng này đã bắt đầu đổ tràn đầy hơn, trên những Kitô hữu chia rẽ nhau, tinh thần hối hận và niềm ước mong hiệp nhất. Rất nhiều người đã được ân sủng này đánh động, và nơi những người anh em xa cách của chúng ta đã nẩy sinh, dưới hiệu quả của ơn Chúa Thánh Thần, một phong trào ngày càng lan rộng nhằm tái lập sự hiệp nhất các Kitô hữu. Phong trào này nhằm tới sự hiệp nhất và được gọi là phong trào đại kết, tham dự vào đó có những người kêu cầu Thiên Chúa Ba Ngôi và tuyên xưng Chúa Kitô là Chúa và là Đấng Cứu độ, không phải chỉ những Kitô hữu với tư cách cá nhân, mà còn là những Kitô hữu qui tụ thành những nhóm, để lắng nghe Tin mừng, họ gọi mỗi nhóm ấy là Giáo hội của mình và Giáo hội của Thiên Chúa. Tuy nhiên, với những cách khác nhau, hầu như tất cả đều ước mong có một Giáo hội duy nhất và hữu hình của Thiên Chúa, một Giáo hội thực sự phổ quát và được sai đi khắp thế gian, để thế gian được hoán cải về với Tin mừng, và nhờ vậy được cứu độ để tôn vinh Thiên Chúa” (6).
- Lời tuyên bố trên đây của sắc lệnh Unitatis redintegratio (Tái lập sự hiệp nhất) phải được đọc trong bối cảnh của toàn thể giáo huấn công đồng. Công đồng Vatican II bày tỏ quyết tâm của Giáo hội dấn thân trong nỗ lực đại kết cho sự hiệp nhất các Kitô hữu và trình bày nỗ lực ấy với niềm xác tín mạnh mẽ : “Thánh Công đồng khích lệ tất cả các tín hữu công giáo nhận ra những dấu chỉ của thời đại và dự phần tích cực vào công việc đại kết” (7).
Trong khi nêu lên những nguyên tắc công giáo về đại kết, sắc lệnh Unitatis redintegratio trước hết dựa vào giáo huấn về Giáo hội trong hiến chế Lumen Gentium (Ánh sáng muôn dân), ở chương nói về dân Thiên Chúa (8). Đồng thời sắc lệnh này cũng để ý tới điều Công đồng xác quyết trong tuyên ngôn Dignitatis humanae (Nhân phẩm) về tự do tôn giáo (9).
Trong niềm hy vọng, Giáo hội Công giáo coi việc dấn thân đại kết như một mệnh lệnh của lương tâm Kitô hữu được đức tin soi sáng và đức ái hướng dẫn. Cả ở đây nữa, người ta có thể áp dụng lời thánh Phaolô nói với các tín hữu Rôma đầu tiên : “Tình yêu của Thiên Chúa được tràn đổ trong lòng chúng ta nhờ Thánh Thần”; Như thế, “niềm trông cậy không thất vọng” (Rm 5,5). Đó là niềm hy vọng hiệp nhất các Kitô hữu bắt nguồn nơi Thiên Chúa, từ mối hiệp nhất Ba Ngôi giữa Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
- Khi tới giờ chịu khổ hình, chính Chúa Giêsu đã cầu nguyện “để tất cả được nên một” (Ga 17,21). Sự hiệp nhất Chúa đã ban cho Giáo hội và nhờ đó Ngài mong muốn tất cả được qui tụ lại, không phải là điều phụ thuộc, nhưng chiếm địa vị trọng tâm trong công trình của Ngài. Và sự hiệp nhất ấy cũng không phải là một đặc tính phụ thuộc nơi cộng đoàn các môn đệ Ngài. Trái lại, nó thuộc chính bản thể của cộng đoàn ấy. Thiên Chúa muốn có Giáo hội vì Ngài muốn có sự hiệp nhất, và vì trong sự hiệp nhất, tình yêu (agapè) sâu thẳm của Ngài mới được biểu lộ hết.
Thực vậy, sự hiệp nhất này được Chúa Thánh Thần ban tặng không phải chỉ là việc tập hợp các cá nhân bên cạnh nhau. Nhưng là sự hiệp nhất được tạo nên bởi những mối liên kết của việc tuyên xưng đức tin, của các bí tích và sự hiệp thông phẩm trật (10). Các tín hữu là một bởi vì, trong Chúa Thánh Thần, họ hiệp thông với Chúa Con, và trong Chúa Con họ hiệp thông với Chúa Cha : “Sự hiệp thông của chúng ta là hiệp thông với Chúa Cha và với Con Ngài, Đức Giêsu Kitô” (1Ga 1,3). Đối với Giáo hội Công giáo, sự hiệp thông giữa các Kitô hữu không gì khác hơn là việc bày tỏ nơi họ ơn sủng Thiên Chúa dùng để làm cho họ dự phần vào mối hiệp thông riêng của Ngài, tức là sự sống vĩnh cửu. Như vậy, lời Chúa Giêsu nói “để họ nên một” là lời cầu xin dâng lên Chúa Cha để ý định của Ngài được thực hiện đầy đủ, hầu “làm sáng tỏ Mầu nhiệm dấu ẩn từ ngàn xưa trong Thiên Chúa, Đấng tạo thành muôn vật” (Eph 3,9). Tin vào Chúa Kitô nghĩa là muốn hiệp nhất; muốn hiệp nhất nghĩa là muốn có Giáo hội; muốn có Giáo hội nghĩa là muốn sự hiệp thông ân sủng phù hợp với ý định của Chúa Cha từ muôn đời. Đó là ý nghĩa lời Chúa Giêsu cầu nguyện : “Để họ nên một”.
- Trong hiện tình của việc chia rẽ các Kitô hữu và của việc tin tưởng tìm kiếm sự hiệp thông đầy đủ, các tín hữu Công giáo cảm thấy bị Đức Chúa của Giáo hội tra hỏi một cách sâu xa. Công đồng Vatican II đã củng cố việc dấn thân của họ nhờ một khoa giáo hội học trong sáng và cởi mở đối với mọi giá trị mang tính cách giáo hội nơi những Kitô hữu khác. Các tín hữu Công giáo đề cập đến vấn đề đại kết trong tinh thần đức tin.
Công đồng nói “Giáo hội Chúa Kitô hiện diện trong Giáo hội Công giáo, được cai quản bởi đấng kế vị thánh Phêrô và các giám mục hiệp thông với ngài”, và Công đồng cũng nhìn nhận rằng “ngoài toàn bộ cơ cấu Giáo hội thiết lập, người ta gặp thấy nhiều yếu tố của việc thánh hóa và chân lý, như những ân huệ riêng cho Giáo hội Chúa Kitô, mang lại sự hiệp nhất công giáo” (11). “Do đó, những Giáo hội và những Cộng đoàn ly khai, dù chúng ta cho là có những thiếu sót, vẫn không hề mất đi ý nghĩa và giá trị trong mầu nhiệm cứu rỗi. Quả thực, Thần Khí Chúa Kitô không từ chối dùng những Giáo hội và những Cộng đoàn ấy như phương thế cứu độ, mà sức mạnh phát xuất từ sự sung mãn của ân sủng và chân lý được ủy thác cho Giáo hội Công giáo” (12).
- Do đó, Giáo hội Công giáo xác quyết rằng, qua hai ngàn năm lịch sử, Giáo hội đã được gìn giữ trong sự hiệp nhất với tất cả những điều thiện hảo mà Thiên Chúa muốn ban cho Giáo hội của Ngài, mặc dù những khủng hoảng thường trầm trọng đã làm cho Giáo hội bị lung lay, những sự bất trung của một số thừa tác viên và những lỗi lầm mà các phần tử Giáo hội vấp phải hàng ngày. Giáo hội Công giáo biết rằng, nhờ ơn hỗ trợ của Chúa Thánh Thần, những yếu đuối, tầm thường, tội lỗi, và đôi khi cả những phản bội của một số con cái mình không thể phá hủy điều Thiên Chúa đã đặt để trong Giáo hội theo ý định ân sủng của Ngài. Ngay cả “cửa hỏa ngục cũng không chống lại được Giáo hội” (Mt 16,18). Tuy nhiên, Giáo hội Công giáo không quên rằng trong nội bộ nhiều người đã làm lu mờ ý định của Thiên Chúa. Gợi lại sự chia rẽ các Kitô hữu, sắc lệnh về đại kết vẫn biết tới “lỗi lầm của những người thuộc các bên liên hệ” (13), bằng cách nhìn nhận không thể chỉ qui trách nhiệm “cho người khác”. Nhờ ơn Thiên Chúa, không vì thế mà phá hủy mất điều thuộc về cơ cấu của Giáo hội Chúa Kitô, cũng như mối hiệp thông vẫn có với các Giáo hội và các Cộng đoàn giáo hội.
Thực vậy, những yếu tố của việc thánh hóa và của chân lý có trong các Cộng đoàn Kitô giáo, với những mức độ khác nhau, làm thành nền tảng khách quan cho mối hiệp thông hiện có giữa các Cộng đoàn ấy và Giáo hội Công giáo, dù là bất toàn.
Trong mức độ các yếu tố này có nơi các Cộng đoàn Kitô giáo, thì Giáo hội duy nhất của Chúa Kitô vẫn hiện diện sống động trong các Cộng đoàn ấy. Vì vậy, Công đồng Vatican II nói đến một sự hiệp thông thực thụ, dù còn bất toàn. Hiến chế Lumen Gentium (Ánh sáng muôn dân) nhấn mạnh Giáo hội Công giáo “thấy mình hiệp nhất vì nhiều lý do” (14) với những Cộng đoàn ấy, trong Chúa Thánh Thần, nhờ một sự hiệp nhất chắc chắn và thực thụ.
- Cũng hiến chế ấy đã diễn tả dài về “các yếu tố của việc thánh hóa và của chân lý”, bằng những cách thức khác nhau, đang tồn tại và hoạt động bên ngoài các ranh giới hữu hình của Giáo hội Công giáo : “Thực vậy, có nhiều người cung kính lấy Thánh kinh làm mẫu mực cho đức tin và đời sống, có lòng sùng đạo thành thực, tin kính Chúa Cha toàn năng, và trong Chúa Kitô, là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu thế. Được ghi ấn tín nhờ bí tích Thanh tẩy, họ kết hợp với Chúa Kitô, hơn nữa, họ còn công nhận và lãnh những bí tích khác trong các Giáo hội riêng, hoặc trong các Cộng đoàn giáo hội của họ. Nhiều người trong họ còn có chức giám mục, vẫn cử hành bí tích Thánh thể và tôn kính Đức Trinh nữ, Mẹ Thiên Chúa. Họ cũng hiệp thông trong lời cầu nguyện và các việc thiêng liêng khác, hơn nữa, họ thực sự hiệp nhất trong Chúa Thánh Thần, Đấng cũng dùng ơn và ân sủng tác động trong họ nhờ thần lực thánh hóa của Ngài, và đã củng cố một số người trong họ đi đến chỗ đổ máu. Vì thế, Chúa Thánh Thần thúc đẩy hết thảy các môn đệ Chúa Kitô ước muốn và hành động để tất cả được bình an hiệp nhất trong một đàn chiên dưới quyền một Mục tử duy nhất theo cách thức Chúa Kitô đã ấn định” (15).
Riêng về các Giáo hội Chính thống, sắc lệnh công đồng về đại kết đã có thể tuyên bố rằng “nhờ việc cử hành Thánh Thể Chúa trong mỗi Giáo hội ấy, Giáo hội của Thiên Chúa được xây dựng và phát triển” (16). Nhìn nhận tất cả những điều đó là đáp lại một đòi hỏi của chân lý.
- Cũng văn kiện trên thận trọng làm nổi bật lên những hệ lụy về giáo lý của tình trạng ấy. Về những phần tử của các Cộng đoàn này, sắc lệnh tuyên bố : “Được công chính hóa nhờ đức tin khi chịu phép Rửa tội, họ đã được tháp nhập vào Chúa Kitô, nên có vinh dự mang danh Kitô hữu và xứng đáng được con cái của Giáo hội Công giáo nhìn nhận là anh em trong Chúa Kitô” (17).
Gợi lên nhiều điều thiện hảo trong các Giáo hội và các Cộng đoàn giáo hội, sắc lệnh nói thêm : “Tất cả đã phát sinh từ Chúa Kitô và dẫn đưa về Ngài, thì đương nhiên cũng thuộc Giáo hội duy nhất của Ngài. Các anh em ly khai cũng cử hành nhiều lễ nghi lễ phụng tự của Kitô giáo, mặc dù những cách thức có khác nhau tùy theo hoàn cảnh của mỗi Giáo hội hay Cộng đoàn, những lễ nghi ấy chắc chắn có thể phát sinh đời sống ân sủng và phải được công nhận là có khả năng đưa tới sự thông hiệp vào ơn cứu rỗi. (18).
Đó là những văn bản đại kết quan trọng nhất. Ngoài những ranh giới của Cộng đoàn Công giáo, không phải là không còn gì thuộc về Giáo hội nữa. Nhiều yếu tố có giá trị lớn (eximia), là những phương tiện của ơn cứu rỗi và của những ơn huệ làm nên Giáo hội được sung mãn trong Giáo hội Công giáo, cũng được tìm thấy trong những Cộng đoàn Kitô giáo khác.
- Tự bản chất, tất cả những yếu tố ấy đều kêu gọi hiệp nhất trọn vẹn. Đây không phải là chuyện gom góp tất cả những điều quí giá bị phân tán trong các Cộng đoàn Kitô giáo, để đạt tới một Giáo hội mà Thiên Chúa mong muốn cho tương lai. Theo Truyền thống cao quí được các Giáo phụ Đông phương và Tây phương chứng thực, Giáo hội Công giáo tin rằng, trong biến cố ngày lễ Ngũ Tuần, Thiên Chúa đã bày tỏ Giáo hội trong thực thể cánh chung “rồi”, Giáo hội mà Ngài đã chuẩn bị “từ thời Abel, người công chính” (19). Giáo hội đã được trao ban rồi. Vì thế chúng ta đang ở vào thời cuối cùng rồi. Những yếu tố của Giáo hội đã được trao ban rồi, hiện đang có, được liên kết trong tất cả mức độ sung mãn nơi Giáo hội Công giáo và, không có được mức sung mãn ấy, trong những Cộng đoàn khác (20), nơi một số khía cạnh của mầu nhiệm Kitô giáo đôi khi đã được làm sáng tỏ hơn. Công cuộc đại kết nhằm xúc tiến mối hiệp thông từng phần hiện có giữa các Kitô hữu, hầu đạt tới sự hiệp thông đầy đủ trong chân lý và bác ái.
CANH TÂN VÀ HOÁN CẢI
- Đi từ những nguyên tắc và bổn phận khẩn thiết cho lương tâm Kitô giáo đến việc thực hiện hành trình đại kết hướng tới hiệp nhất, Công đồng Vatican II trước hết làm nổi bật sự cần thiết của việc hoán cải tâm hồn. Lời loan báo thiên sai “Thời kỳ đã mãn và Nước Thiên Chúa đã đến gần”, và lời mời gọi tiếp theo “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin mừng” (Mc 1,15) qua đó Chúa Giêsu khởi đầu sứ mạng của mình, cả hai đều đã xác định yếu tố nền tảng cho một khởi đầu hoàn toàn mới : bổn phận căn bản về việc rao giảng Phúc âm, ở mọi chặng đường cứu độ của Giáo hội. Việc ấy đặc biệt liên quan tới quá trình hoạt động của Công đồng Vatican II, bổn phận phải hiệp nhất các Kitô hữu đã bị phân ly, được Công đồng ghi vào số những điều phải canh tân, “Không có đại kết theo đúng nghĩa của danh từ ấy mà không có hoán cải nội tâm” (21).
Công đồng kêu gọi hoán cải cá nhân cũng như hoán cải cộng đoàn. Khát vọng của bất kỳ Cộng đoàn Kitô giáo nào muốn hiệp nhất cũng phải đi đôi với lòng trung thành với Tin Mừng. Khi bàn đến những người sống ơn gọi Kitô hữu, Công đồng nói tới việc hoán cải nội tâm, tới việc canh tân tinh thần (22).
Như thế, mỗi người phải triệt để trở về với Tin mừng, và không bao giờ được quên ý định của Thiên Chúa, họ phải thay đổi cái nhìn. Nhờ công cuộc đại kết, việc chiêm ngắm những “kỳ công của Thiên Chúa” (mirabilia Dei), được hướng tới những lãnh vực mới, ở đó Thiên Chúa khơi dậy tác động của ân sủng : việc nhận biết Chúa Thánh Thần hoạt động trong những Cộng đoàn Kitô giáo khác, việc khám phá ra những gương mẫu thánh thiện, việc cảm nghiệm về những kho tàng vô biên của sự hiệp thông giữa các thánh, việc liên hệ với những quan điểm không bị nghi ngờ về sự dấn thân Kitô giáo. Một cách hỗ tương, sự cần thiết phải sám hối cũng đã được cảm thấy một cách rộng rãi hơn : người ta ý thức về một số việc khai trừ làm tổn thương tình bác ái huynh đệ, về một số những chối từ không tha thứ, về tính kiêu căng, về sự khép kín trong việc lên án “kẻ khác” trái với Phúc âm, về sự khinh bỉ phát xuất từ lòng tự phụ không lành mạnh. Như vậy tất cả đời sống của các Kitô hữu đều mang lấy dấu ấn của mối ưu tư đại kết và họ được kêu gọi để cho mối ưu tư ấy biến đổi mình.
- Theo giáo huấn của Công đồng, rõ ràng có liên hệ giữa đổi mới, hoán cải và cải cách. Công đồng khẳng định : “Trên đường lữ hành, Giáo hội được Chúa Kitô mời gọi canh tân luôn mãi, vì là một định chế thuộc nhân loại và trần thế, Giáo hội luôn cần đến việc canh tân này; vậy nếu xảy ra một số điều không được cẩn thận tuân giữ, thì phải lo cải tổ cho đúng mức khi thuận tiện” (23). Không một Cộng đoàn Kitô giáo nào được miễn trừ lời kêu gọi này.
Trong khi đối thoại thẳng thắn, các Cộng đoàn phải giúp nhau cùng suy xét trong ánh sáng của Truyền thống tông đồ. Điều đó sẽ giúp họ tự hỏi xem mình có thực sự trung thành diễn tả mọi điều Chúa Thánh Thần đã dùng các Tông đồ mà truyền lại cho ta hay không (24). Về những gì liên quan tới Giáo hội Công giáo, nhiều lần tôi đã nhắc lại những đòi hỏi và những ước vọng ấy, như dịp kỷ niệm Phép Rửa của nước Nga (25) hay dịp tưởng niệm, sau mười một thế kỷ, công cuộc rao giảng Tin mừng của thánh Cyrillô và thánh Methôđô (26).
Mới đây, bản “Hướng dẫn áp dụng những nguyên tắc và qui định về hiệp nhất”, đã được Hội đồng Giáo hoàng cổ võ Hiệp nhất các Kitô hữu ban hành, với sự phê chuẩn của tôi, đã áp dụng những nguyên tắc và những qui định nói trên vào lãnh vực mục vụ (27).
- Về các Kitô hữu khác, những văn kiện chính của Ủy ban Đức tin và Qui chế (28) và những tuyên ngôn của nhiều cuộc đối thoại song phương đã đề nghị với các Cộng đoàn Kitô giáo những phương tiện hữu ích để phân biệt những gì cần thiết cho phong trào Đại kết và cho việc hoán cải cần phải khơi dậy. Những nghiên cứu này thật quan trọng về hai phương diện : bày tỏ những tiến bộ đáng kể đã được thực hiện và khơi lên niềm hy vọng, vì tạo được một nền tảng vững chắc cho việc tìm hiểu cần phải tiếp tục và đào sâu.
Trong hiện tình của Dân Kitô giáo, việc đào sâu sự hiệp thông trong cải cách thường xuyên, được thực hiện theo ánh sáng của Truyền thống tông đồ, chắc hẳn là một trong những nét đặc trưng quan trọng nhất của phong trào đại kết. Mặt khác, đó cũng là một bảo đảm thiết yếu cho tương lai của phong trào này. Các tín hữu của Giáo hội Công giáo không thể không biết rằng đà vươn tới đại kết của Công đồng Vatican II là một trong những kết quả từ việc Giáo hội đã cố gắng tự xét mình theo ánh sáng Tin mừng và Truyền thống cao cả. Vị tiền nhiệm của tôi, Đức Gioan XXIII, đã thấu hiểu điều ấy, khi triệu tập Công đồng, đã từ chối tách rời việc cập nhật hóa (aggiornamento) ra khỏi việc khai mở đại kết (29). Vào cuối Công đồng, Đức Phaolô VI đã hiến thánh ơn gọi hiệp nhất của Công đồng bằng cách nối lại cuộc đối thoại yêu thương với các Giáo hội đang hiệp thông với Đức Thượng phụ Constantinople, và cùng ngài thực hiện một cử chỉ cụ thể đầy ý nghĩa, là “ném vào quên lãng” và “làm tan biến khỏi ký ức và khỏi lòng trí Giáo hội” những vụ tuyệt thông trong dĩ vãng. Cũng nên nhắc lại việc thành lập một cơ quan đặc biệt cho phong trào đại kết trùng hợp với việc vạch ra con đường chuẩn bị Công đồng Vatican II (30) và, qua cơ quan này, những ý kiến và đánh giá của các Cộng đoàn Kitô giáo khác đã có được vị trí của mình trong các phiên thảo luận quan trọng về Mạc khải, về Giáo hội, về bản chất của đại kết và về tự do tôn giáo.
TẦM QUAN TRỌNG CĂN BẢN CỦA GIÁO LÝ
- Khi lặp lại ý tưởng Đức Gioan XIII đã bày tỏ trong lễ khai mạc Công đồng (31), sắc lệnh về đại kết làm nổi bật cách thức trình bày giáo lý qua những yếu tố của việc cải cách thường xuyên (32). Trong bối cảnh này, không có vấn đề sửa chữa kho tàng đức tin, thay đổi ý nghĩa các tín điều, loại bỏ những lời thiết yếu, thích nghi chân lý theo những sở thích của một thời đại hay hủy bỏ một số điều trong Kinh Tin Kính với lý do sai lầm là ngày nay không ai hiểu được nữa. Sự hiệp nhất Thiên Chúa muốn chỉ có thể được thực hiện trong việc cùng nhau gắn bó với toàn thể nội dung mạc khải của đức tin. Về vấn đề đức tin, sự thỏa hiệp là mâu thuẫn với Thiên Chúa, Đấng là Chân lý. Trong nhiệm thể Chúa Kitô, Đấng là “Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14,6), ai có thể cho là hợp pháp sự hòa giải đạt được nhờ việc hy sinh chân lý ? Tuyên ngôn của Công đồng về Tự do Tôn giáo Dignitatis humanae (Phẩm giá con người) nhìn nhận rằng việc tìm kiếm chân lý thuộc về phẩm giá con người, “nhất là trong những điều liên quan tới Thiên Chúa và Giáo hội Ngài. Như vậy, một thứ “chung sống” phản bội chân lý sẽ ngược lại bản tính của Thiên Chúa, Đấng ban cho ta được hiệp thông với Ngài, và ngược lại yêu cầu của chân lý vốn ở sâu trong trái tim con người.
- Tuy nhiên, giáo lý phải được trình bày một cách dễ hiểu đối với những người được chính Thiên Chúa đã chỉ định. Trong thông điệp Slavorum apostoli (Tông đồ những người Slave), tôi đã nhắc lại rằng chính vì lý do này, thánh Cyrillô và Methôđô đã cố gắng diễn giải những ý niệm Kinh thánh và những quan điểm thần học Hy Lạp vào bối cảnh tư tưởng và kinh nghiệm lịch sử rất khác biệt. Các ngài muốn rằng Lời duy nhất của Thiên Chúa “được trở nên dễ chấp nhận tùy theo cách thức diễn tả riêng của từng nền văn minh” (34). Các ngài hiểu rằng không thể “áp đặt trên các dân tộc mình rao giảng tính chắc chắn ưu việt của ngôn ngữ Hy Lạp và của nền văn hóa Bizantin, cũng như những tập quán và cách xử sự của xã hội tiên tiến hơn, mà các ngài được đào tạo” (35). Các ngài thực hiện “sự hiệp thông toàn vẹn trong yêu thương, nhờ đó Giáo hội được gìn giữ khỏi mọi hình thức cá thể chủ nghĩa” và “độc đoán chủ nghĩa” dân tộc, hay những thành kiến về giống nòi như mọi thứ kiêu hãnh về quốc gia” (36). Cũng trong tinh thần ấy, tôi không ngại nói với những người bản xứ ở Australia : “Anh chị em không phải là một dân tộc bị chia đôi. (…) Chúa Giêsu kêu gọi anh chị em đón nhận lời Ngài và các giá trị của lời Ngài vào nền văn hóa riêng của anh chị em” (37). Bởi vì tự bản chất, các dữ kiện Đức tin được dành cho toàn thể nhân lọai; các dữ kiện ấy phải được diễn dịch trong mọi nền văn hóa. Thực vậy, yếu tố xác định sự hiệp thông trong chân lý chính là cảm nhận về chân lý. Có nhiều cách thức diễn tả chân lý. Và việc đổi mới những cách thức diễn tả trở nên cân thiết để chuyển giao cho con người ngày nay sứ điệp Tin mừng trong ý nghĩa không thay đổi của nó (38).
“Sự đổi mới này mang một tầm quan trọng đại kết đặc biệt” (39). Và đây không phải chỉ là vấn đề đổi mới cách diễn tả đức tin, mà còn là đổi mới cách sống đức tin. Vậy ta có thể tự hỏi : Ai phải làm việc ấy ? Công đồng trả lời rõ ràng cho câu hỏi này : Việc đó “liên quan tới toàn thể Giáo hội, giáo dân cũng như mục tử, mỗi người, tùy khả năng riêng của mình, hoặc trong đời sống Kitô hữu hàng ngày, hoặc trong những nghiên cứu thần học và lịch sử” (40).
- Tất cả những điều ấy hết sức quan trọng và có tầm mức căn bản cho họat động đại kết. Do đó, chắc chắn rằng đại kết, phong trào hiệp nhất các Kitô hữu, không chỉ là một “phụ bản” nào đó được thêm vào cho sinh hoạt truyền thống của Giáo hội. Trái lại, đại kết là một phần của đời sống và sinh hoạt của Giáo hội, và vì thế, phải thấm nhập vào toàn thể đời sống Giáo hội và phải là như hoa trái của một cây lành mạnh và xanh tươi, lớn lên cho tới mức phát triển đầy đủ.
Vì thế Đức Thánh Cha Gioan XXIII tin tưởng vào sự hiệp nhất của Giáo hội và đồng thời tìm kiếm sự hiệp nhất các Kitô hữu. Nói về các Kitô hữu khác, về đại gia đình Kitô giáo, ngài nhận định : “Điều làm ta hiệp nhất thì mạnh mẽ nhiều hơn điều làm ta chia rẽ”. Về phần mình, Công đồng Vatican II khuyên nhủ : “Các tín hữu hãy nhớ rằng họ càng sống trong sáng theo Tin mừng, thì càng làm cho việc hiệp nhất các Kitô hữu tiến triển. Thực vậy, họ càng hiệp thông mật thiết với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, thì càng có thể làm phát huy tình huynh đệ cách thân mật và dễ dàng” (41).
ƯU TIÊN CHO CẦU NGUYỆN
- “Việc hoán cải của tâm hồn và sự thánh thiện trong đời sống, cùng với những việc cầu nguyện riêng và công cộng cho sự hiệp nhất các Kitô hữu, phải được coi như linh hồn của mọi phong trào đại kết và rất xứng đáng được gọi là đại kết thiêng liêng” (42).
Ta đang tiến bước trên đường dẫn đến việc hoán cải tâm hồn, theo nhịp điệu tình yêu hướng tới Thiên Chúa và đồng thời hướng tới các anh em : hướng tới mọi anh em, cũng như hướng tới những người không hiệp thông trọn vẹn với chúng ta. Từ tình yêu nảy sinh ước muốn hiệp nhất ngay cả nơi những người vẫn không biết đến nhu cầu hiệp nhất. Tình yêu là nguyên nhân tạo nên sự hiệp thông giữa người với người, giữa Cộng đoàn với Cộng đoàn. Nếu yêu thương nhau, ta sẽ hiểu sâu xa hơn về sự hiệp thông, và đưa sự hiệp thông tới mức toàn vẹn. Tình yêu hướng tới Thiên Chúa, nguồn trọn hảo của hiệp thông – sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần – để kín múc nơi Ngài sức mạnh tạo nên sự hiệp thông giữa các cá nhân và giữa các Cộng đoàn, hoặc tái lập sự hiệp thông giữa các Kitô hữu còn ly khai. Tình yêu là dòng nước rất sâu ban sự sống và sức mạnh cho hành trình tiến về hiệp nhất.
Tình yêu này được diễn tả cách hoàn bị nhất trong việc cầu nguyện chung. Khi những anh em không cùng sống trong sự hiệp thông trọn vẹn mà họp nhau cầu nguyện, Công đồng Vatican II xác định việc cầu nguyện của họ là như linh hồn của mọi phong trào đại kết. Cầu nguyện là “phương thế rất hiệu nghiệm để xin ơn hiệp nhất”, “là cách biểu lộ xác thực những mối dây liên kết người Công giáo với những anh em ly khai” (43). Ngay cả khi ta không chính thức cầu nguyện cho sự hiệp nhất các Kitô hữu, nhưng cầu cho những ý nguyện khác, chẳng hạn như xin ơn bình an, thì việc cầu nguyện tự nó cũng trở nên một diễn tả và củng cố cho hiệp nhất”. Việc cầu nguyện chung của các Kitô kêu mời Chúa Kitô đến viếng thăm cộng đoàn những người đang cầu khẩn Ngài : “Ở đâu có hai ba người hiệp nhau nhân danh Thầy, thì Thầy ở giữa họ” (Mt 18,20).
- Khi các Kitô hữu cầu nguyện chung với nhau, thì mục tiêu hiệp nhất tỏ ra gần gũi hơn. Lịch sử lâu đời của các Kitô hữu còn ghi dấu nhiều đổ vỡ như được xây dựng lại, khi hướng về nguồn hiệp nhất là Chúa Giêsu Kitô. Đấng “hôm qua, hôm nay và muôn đời vẫn là một” (Dt 13,8) ! Chúa Kitô thực sự hiện diện trong sự hiệp thông của lời cầu nguyện; Ngài cầu nguyện “trong ta”, “với ta”. Chính Ngài hướng dẫn việc ta cầu nguyện trong Chúa Thánh Thần, Đấng An ủi mà Ngài đã hứa và đã ban xuống cho Giáo hội ngay trong phòng Tiệc ly tại Giêrusalem, khi thiết lập Giáo hội trong sự hợp nhất nguyên thủy.
Trên đường đại kết tiến tới hiệp nhất, chắc chắn phải dành ưu tiên cho việc cầu nguyện chung, cho sự hiệp nhất trong lời cầu xin của những người xum họp chung quanh Chúa Kitô. Dù còn chia rẽ, nhưng nếu các Kitô hữu luôn biết kết hợp cùng nhau trong lời cầu nguyện chung quanh Chúa Kitô, lúc ấy họ sẽ ý thức hơn về những giới hạn của điều làm họ chia rẽ, sánh với điều làm cho họ hiệp nhất với nhau. Nếu họ năng gặp gỡ nhau thường xuyên hơn và chuyên cần hơn, trước mặt Chúa Kitô trong lời cầu nguyện, họ sẽ có thể can đảm đối đầu với mọi thực tế đau thương và phàm nhân của những chia rẽ, và họ sẽ lại gặp nhau trong cộng đoàn Giáo hội mà Chúa Kitô không ngừng kiến tạo trong Chúa Thánh Thần, mặc dầu mọi yếu đuối và những hạn chế của con người.
- Sau cùng, sự hiệp thông trong lời cầu nguyện dẫn tới một cái nhìn mới về Giáo hội và về Kitô giáo. Thực vậy, ta không được quên rằng Chúa Kitô đã xin Chúa Cha hiệp nhất các môn đệ, để sự hiệp nhất ấy làm chứng cho sứ mạng của Ngài và để thế gian có thể tin rằng Chúa Cha đã sai Ngài (x Ga 17,21). Ta có thể nói rằng phong trào hiệp nhất đã bắt đầu tiến hành, theo một nghĩa nào đó, khởi từ kinh nghiệm tiêu cực của những người khi loan báo Tin mừng duy nhất, đã cho mình thuộc Giáo hội riêng hoặc Cộng đoàn giáo hội của mình; một mâu thuẫn như vậy không thể giấu được những người lắng nghe sứ điệp cứu độ, và ngăn cản họ đón nhận lời loan báo Tin mừng. Khốn nỗi, sự khó khăn trầm trọng này vẫn chưa được vượt thắng. Thực ra ta vẫn chưa thông hiệp đầy đủ. Tuy nhiên, mặc dù những chia rẽ, nhưng ta vẫn đang rảo bước trên con đường dẫn tới sự hiệp nhất đầy đủ, vốn là đặc tính của Giáo hội tông truyền ngay từ ban đầu, và ta chân thành tìm kiếm : được đức tin hướng dẫn, lời cầu nguyện chung của ta là một bằng chứng. Trong khi cầu nguyện, ta hiệp nhau lại nhân danh Chúa Kitô, Đấng Duy nhất. Ngài là sự hiệp nhất của chúng ta.
Việc cầu nguyện “đại kết” phục vụ cho sứ mệnh và tính khả tín của Kitô giáo. Vì thế, cầu nguyện phải đặc biệt có mặt trong đời sống Giáo hội và trong mọi sinh hoạt nhằm mục đích cổ võ hiệp nhất Kitô hữu. Như vậy ta phải luôn trở về phòng Tiệc ly vào ngày thứ Năm Tuần thánh để xum họp với nhau, dù sự hiện diện chung của ta ở nơi này vẫn còn phải đợi chờ để được thực hiện hoàn toàn, cho đến khi vuợt thắng những ngăn trở đối với việc hiệp thông trọn vẹn trong giáo hội, mọi Kitô hữu xum họp trong việc cử hành duy nhất Thánh lễ Tạ ơn (44).
- Thật là một niềm vui khi nhận thấy nhiều cuộc gặp gỡ đại kết dường như luôn bao gồm việc cầu nguyện và việc cầu nguyện còn là cao điểm nữa. Tuần lễ cầu nguyện cho việc hiệp nhất các Kitô hữu, được cử hành vào tháng giêng hàng năm, hay vào lễ Hiện Xuống tại một số quốc gia, đã trở thành một truyền thống phổ biến và bền vững. Nhưng ngoài tuần lễ ấy, trong năm còn có nhiều dịp các Kitô hữu được cầu nguyện chung với nhau. Nhân việc này, tôi muốn nhắc lại kinh nghiệm đặc biệt từ việc hành hương của Đức Giáo hoàng tới các Giáo hội, tại nhiều châu lục và nhiều đất nước thuộc phong trào đại kết (oikoumenè) hiện nay. Tôi ý thức rõ ràng chính Công đồng Vatican II đã hướng Đức Giáo hoàng tới khía cạnh đặc biệt này của việc thi hành sứ vụ tông đồ. Ta có thể đi xa hơn. Công đồng đã làm cho cuộc hành hương của Đức Giáo hoàng trở thành một bổn phận được xác định để chu toàn vai trò Giám mục Rôma phục vụ sự hiệp thông (45). Những chuyến viếng thăm của tôi hầu như luôn bao gồm một cuộc gặp gỡ đại kết và việc cầu nguyện chung giữa các anh em đang kiếm tìm sự hiệp nhất trong Chúa Kitô và trong Giáo hội Ngài. Tôi đặc biệt cảm động nhớ tới việc cầu nguyện chung với Đức Thượng phụ Giáo chủ Hiệp thông Anh giáo, tại nhà thờ chánh tòa Cantorbery ngày 29 tháng 5 năm 1982, trong ngôi thánh đường nguy nga này, tôi nhận ra một chứng từ hùng hồn của những năm dài ta cùng có chung một di sản, cũng như của những năm đau buồn vì chia rẽ tiếp theo” (46); tôi cũng không thể quên những cuộc gặp gỡ tại các nước thuộc bán đảo Scandinave và Bắc Âu (từ mồng 1 đến mồng 10 tháng 6 năm 1989) tại châu Mỹ, châu Phi, hay buổi cầu nguyện tại trụ sở của Hội đồng Đại kết các Giáo hội (ngày 12 tháng 6 năm 1984), cơ quan có mục đích kêu gọi các Giáo hội và các Cộng đoàn giáo hội, là thành viên của Hội đồng, đi tới “hiệp nhất hũu hình trong một đức tin và trong một sự hiệp thông vào lễ Tạ ơn, được diễn tả qua phụng tự và đời sống chung trong Chúa Kitô” (47). Và làm sao quên được việc tôi tham dự phụng vụ Thánh Thể trong Giáo hội Thánh Grêgôriô, tại Tòa Thượng phụ đại kết (ngày 30 tháng 11 năm 1979) và việc cử hành thánh lễ tại Vương cung thánh đường thánh Phêrô, nhân cuộc viếng thăm Rôma của người anh em đáng kính, Đức Thượng phụ Dimitrios ( ngày 6 tháng 12 năm 1987). Trong dịp này, tại bàn thờ Tuyên tín, chúng tôi cùng đọc kinh Tin kính Nicea-Constantinople, theo nguyên bản Hy Lạp. Một vài lời này không đủ diễn tả hết những nét đặc sắc của từng buổi gặp gỡ cầu nguyện. Vì những qui định từ dĩ vãng, bằng những cách thức khác nhau, còn đè nặng trên những cuộc gặp gỡ, nhưng tất cả đều có một sức thuyết phục riêng và duy nhất : tất cả đều được khắc ghi vào tâm khảm của Giáo hội mà Đấng An ủi hướng về việc tìm kiếm hiệp nhất của mọi người tin kính Chúa Kitô.
- Đức Giáo hoàng không chỉ là khách hành hương. Trong những năm qua, nhiều vị đại diện đáng kính từ các Giáo hội và các Cộng đoàn giáo hội đã viếng thăm tôi tại Rôma và tôi đã có thể cầu nguyện với các vị ấy, công khai hoặc tư riêng. Tôi đã nhắc lại sự hiện diện của Đức Thượng phụ đại kết Dimitrios I. Tôi cũng muốn nhớ lại cuộc gặp gỡ cầu nguyện tại Vương cung Thánh đường thánh Phêrô, đã kết hiệp tôi với các vị Tổng Giám mục Giáo hội Luther, các Giáo chủ Thụy Điển và Phần Lan, để cử hành phụng vụ kinh chiều vào dịp kỷ niệm sáu trăm năm phong thánh cho thánh nữ Brigitta (ngày 5 tháng 10 năm 1991). Đó là một thí dụ, vì ý thức bổn phận cầu nguyện cho hiệp nhất đã trở nên một thành phần nội tại của đời sống Giáo hội. Không có biến cố quan trọng và đầy ý nghĩa nào mà không được thêm phong phú nhờ sự hiện diện chung và lời cầu nguyện của các Kitô hữu. Tôi không thể kể hết những cuộc gặp gỡ này, tuy nhiên cuộc gặp gỡ nào cũng đáng được kể tới. Thực vậy, Chúa đã cầm tay chúng ta và dắt chúng ta. Những trao đổi và cầu nguyện chung đó đã viết hết trang này tới trang khác trong cuốn “Sách Hiệp nhất” của chúng ta, một cuốn sách chúng ta phải luôn lật từng trang để đọc đi đọc lại và rút ra những lý do cho niềm cảm hứng và hy vọng.
- Cầu nguyện, cộng đoàn cầu nguyện, bao giờ cũng giúp ta tìm được chân lý của lời Tin mừng : “Anh em chỉ có một Cha” (Mt 23,9), Vị Cha này, Abba, được chính Chúa Giêsu kêu cầu, Ngài là Con duy nhất, đồng bản thể. Và của lời khác : “Anh em chỉ có một Thầy, ngoài ra tất cả đều là anh em với nhau” (Mt 23,8). Cầu nguyện “đại kết” biểu lộ chiều kích căn bản của tình huynh đệ trong Chúa Kitô, Đấng đã chịu chết để qui tụ con cái Thiên Chúa bị tản mác, để một khi trở thành “con cái trong Chúa Con” (x Eph 1,5), chúng ta sẽ phản ảnh đầy đủ hơn thực tại khôn dò của tình phụ tử nơi Thiên Chúa, và đồng thời, phản ảnh chân lý về nhân tính của từng người và của mọi người.
Lời cầu nguyện “đại kết”, lời cầu nguyện của anh chị em, diễn tả điều ấy. Vì đã bị chia rẽ, bây giờ họ hiệp nhất trong Chúa Kitô với niềm hy vọng mạnh mẽ hơn, bằng cách phó thác cho Ngài tương lai của việc hiệp nhất và hiệp thông. Về vấn đề này, ta có thể một lần nữa trưng dẫn cách hợp thời giáo huấn của Công đồng : “Khi cầu nguyện với Chúa Cha để xin cho mọi người “nên một như Cha và Con là một” (Ga 17,21-22), Chúa Giêsu đã mở ra những viễn ảnh mà trí khôn loài người không thể đạt tới, và Ngài đã gợi ra một sự tương tự nào đó giữa sự hiệp nhất của Ba Ngôi Thiên Chúa và sự hiệp nhất của con cái Thiên Chúa, trong chân lý và tình yêu” (48).
Việc hoán cải tâm hồn, điều kiện thiết yếu của mọi tìm kiếm đích thực cho hiệp nhất, phát sinh từ lời cầu nguyện, nhờ đó mà được hoàn thành : “Chính từ việc canh tân tâm hồn, từ bỏ bản thân và chan hòa tình bác ái mà những ước vọng hiệp nhất được phát sinh và chín mùi. Bởi vậy, ta phải khẩn cầu Chúa Thánh Thần để xin Ngài ban ơn biết thành thực quên mình, khiêm nhường và khoan dung trong việc phục vụ, quảng đại trong tình huynh đệ đối với người khác” (49).
- Tuy nhiên, cầu nguyện cho hiệp nhất không dành riêng cho những người đang sống trong môi trường các Kitô hữu chia rẽ nhau. Ta không được loại trừ mối bận tâm hiệp nhất khỏi cuộc đối thoại thân tình và cá nhân mà mỗi người trong chúng ta phải duy trì với Chúa bằng lời cầu nguyện. Thực vậy, chỉ bằng cách này việc lo lắng cho hiệp nhất mới đầy đủ và thực sự trở nên một thành phần của đời sống chúng ta và của những bổn phận ta phải đảm nhận trong Giáo hội. Để khẳng định lại sự cần thiết này, tôi muốn đề nghị với các tín hữu trong Giáo hội Công giáo một gương mẫu tôi cho là điển hình, gương mẫu của một nữ tu dòng Trappe, chị Maria-Gabrien Hiệp nhất, mà tôi đã tuyên phong chân phước ngày 25 tháng 01 năm 1983 (50). Nữ tu Maria-Gabrien được ơn gọi từ bỏ thế gian, đã hiến cả cuộc đời cho việc suy gẫm và cầu nguyện dựa trên chương 17 Tin mừng theo thánh Gioan, và đã dâng cuộc đời mình cho sự hiệp nhất các Kitô hữu. Trọng tâm của mọi lời cầu nguyện, đó là : hiến dâng trọn vẹn và không dè dặt mạng sống mình cho Chúa Cha, qua Chúa Con và trong Chúa Thánh Thần. Mẫu gương chị Maria-Gabrien giáo huấn ta, làm cho ta hiểu rằng không có thời điểm, tình huống hay nơi chốn nào dành riêng để cầu nguyện cho hiệp nhất cả. Lời kinh của Chúa Kitô dâng lên Chúa Cha là mẫu mực cho mọi người, trong mọi lúc và ở mọi nơi.
ĐỐI THOẠI ĐẠI KẾT
- Nếu cầu nguyện là “linh hồn” của canh tân đại kết và của khát vọng hiệp nhất, thì tất cả những gì Công đồng xác định là “đối thoại” đều phải đặt căn bản trên cầu nguyện và nhận được từ đó một sự nâng đỡ. Chắc hẳn xác định này không phải là không có liên hệ với tư tưởng vị kỷ hiện nay. Việc sẵn sàng “đối thoại”thuộc bản tính và phẩm giá của con người. Về phương diện triết học, một quan điểm như vậy gắn liền với chân lý Kitô giáo được Công đồng diễn tả về con người : Thực vậy, con người là “tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên cho chính họ”; con người chỉ có thể gặp lại chính bản thân bằng sự hiến thân vô vị lợi” (51). Đối thoại là giai đoạn bắt buộc trên con đường đi tới việc tự hoàn chỉnh con người mình, hoàn chỉnh từng cá nhân cũng như toàn thể cộng đồng nhân loại. Mặc dù khái niệm “đối thoại” dường như đặt lên hàng đầu thời điểm nhận thức (dialogos), thì mọi cuộc đối thoại tự nó đều bao gồm một chiều kích toàn thể và hiện sinh. Toàn chủ thể con người được hàm chứa trong đó; đối thoại giữa các cộng đoàn đòi hỏi cách đặc biệt nơi từng cộng đoàn tư cách chủ thể của cộng đoàn ấy.
Chân lý về đối thọai, từng được Đức Phaolô VI diễn tả sâu xa trong thông điệp Ecclesiam Suam (Giáo hội Ngài) (52), cũng đã được đưa trọn vẹn vào giáo lý và việc thực thi đại kết của Công đồng. Đối thoại không hạn chế ở việc trao đổi ý tưởng. Một cách nào đó, đối thoại luôn là “trao đổi các hồng ân” (53).
- Vì lẽ đó, sắc lệnh Công đồng về đại kết làm nổi bật “mọi cố gắng để loại trừ, trong công bình cũng như trong chân lý, những lời nói, những phán đoán, những hành vi không phù hợp với tình trạng các anh em ly khai, vì càng gây thêm khó khăn cho những liên hệ với các anh em ấy” (54). Tài liệu này đề cập vấn đề theo quan điểm của Giáo hội Công giáo và trình bày những tiêu chuẩn Giáo hội phải áp dụng đối với các Kitô hữu khác. Trong tất cả những điều ấy, tất nhiên phải có sự hỗ tương. Noi theo những tiêu chuẩn này phải là bổn phận của từng bên muốn đối thoại và phải là điều tiên quyết để bắt đầu cuộc đối thoại. Phải đi từ một lập trường đối đầu và xung khắc, đến một lập trường mà bên này bên kia nhận nhau như người cùng hội cùng thuyền. Khi ta bắt đầu đối thoại với nhau, mỗi bên phải giả thiết trước ước muốn hòa giải nơi người đối thoại với mình, một ước muốn hiệp nhất trong sự thật. Để thực hiện điều này, phải làm tan biến những biểu hiện thù địch lẫn nhau. Chỉ như vậy, cuộc đối thoại mới giúp thắng vượt sự chia rẽ và mới có thể đưa lại gần sự hiệp nhất.
- Trong khi sốt sắng tạ ơn Thánh Thần chân lý, ta có thể khẳng định Công đồng Vatican II là một thời điểm được chúc phúc, đã thu tóm được những điều kiện thiết yếu cho việc Giáo hội Công giáo tham gia vào cuộc đối thoại đại kết. Đàng khác, sự hiện diện của nhiều quan sát viên thuộc các Giáo hội khác nhau và các Cộng đoàn giáo hội, việc họ theo dõi sâu sát biến cố công đồng, nhiều cuộc gặp gỡ và cầu nguyện chung đã được Công đồng khơi dậy, tất cả những việc ấy đã góp phần thực hiện cụ thể những điều kiện để đối thoại với nhau. Trong Công đồng, những đại diện các Giáo hội khác và các Công đoàn Kitô giáo đã có thể nhận ra thái độ sẵn sàng đối thoại từ phía hàng Giám mục Công giáo khắp hoàn cầu và đặc biệt là của Tông tòa.
NHỮNG CƠ CẤU ĐỊA PHƯƠNG CỦA VIỆC ĐỐI THOẠI
- Không phải là đặc quyền của Tông tòa, trách nhiệm đối thoại đại kết, được tuyên bố rõ ràng từ thời gian họp Công đồng, cũng thuộc về các Giáo hội địa phương hay riêng biệt. Các Hội đồng Giám mục và các Thượng Hội đồng các Giáo hội Công giáo Đông phương đã thiết lập nhiều Ủy ban, nhằm phát huy tinh thần và hoạt động đại kết. Những tổ chức tương tự hoạt động rất thuận lợi trong cấp giáo phận. Những sáng kiến này chứng tỏ sự dấn thân cụ thể và tổng quát của Giáo hội Công giáo, trong việc áp dụng hướng dẫn của Công đồng về phong trào Đại kết : đó là khía cạnh chính yếu của phong trào đại kết (55). Đối thoại không những đã được bắt đầu, mà còn trở nên một nhu cầu rõ rệt, một trong những ưu tiên của Giáo hội : từ đó “kỹ thuật” cần thiết để hướng dẫn việc đối thoại đã được tinh tế hơn, và đồng thời đã cổ võ cho tinh thần đối thoại. Trước hết là vấn đề đối thoại giữa các Kitô hữu thuộc những Giáo hội khác hay các Cộng đoàn, “được diễn ra giữa các chuyên viên có đầy đủ thông tin, cho phép mỗi người giải thích sâu xa hơn chính giáo lý của Cộng đoàn mình, và trình bày rõ ràng những nét đặc trưng của giáo lý ấy” (56). Nhưng cũng nên cho toàn thể các tín hữu biết được phương pháp đối thoại.
- Tuyên ngôn của Công đồng về tự do tôn giáo cũng khẳng định, “phải tìm kiếm chân lý theo cách thế xứng hợp với nhân phẩm và bản tính xã hội của mình, tức là bằng việc tự do tìm kiếm, bằng lời giảng dạy hay giáo huấn, bằng trao đổi và đối thoại, nhờ đó con người bày tỏ cho nhau biết những chân lý mà mình đã tìm thấy hay tưởng là đã tìm thấy, hầu giúp nhau trong việc tìm kiếm chân lý : một khi đã tìm thấy chân lý, mỗi người phải tự mình xác nhận và vững mạnh tin theo” (57).
Đối thoại đại kết có một tầm quan trọng hàng đầu. “Qua đối thoại này, mọi người tiếp thu một kiến thức phù hợp hơn với chân lý và một đánh giá đúng mức về giáo lý và cuộc sống của từng Cộng đoàn; những Cộng đoàn này cũng phải đi tới một sự cộng tác rộng rãi hơn, trong mọi việc nhằm lợi ích chung theo những đòi hỏi của lương tâm Kitô giáo, và họ tập hợp lại để cầu nguyện chung, ở những nơi được phép. Sau cùng, tất cả đều xét mình về lòng trung thành đối với ý muốn của Chúa Kitô về Giáo hội, và hăm hở bắt tay ngay vào việc canh tân và cải tạo” (58).
VIỆC ĐỐI THOẠI GIỐNG NHƯ CUỘC KIỂM ĐIỂM LƯƠNG TÂM
- Theo ý hướng của Công đồng, việc đối thoại đại kết mang tính cách cùng nhau tìm kiếm chân lý, đặc biệt trong những gì liên quan tới Giáo hội. Thực vậy, chân lý rèn luyện lương tâm và hướng dẫn hành động của lương tâm tới hiệp nhất. Đồng thời, chân lý đòi hỏi lương tâm và hành động của các Kitô hữu, những anh em ly khai, phải gắn liền với lời cầu nguyện của Chúa Giêsu cho sự hiệp nhất. Có một hiệp lực giữa cầu nguyện và đối thoại. Cầu nguyện càng sâu xa và sáng suốt thì càng đem lại cho đối thoại những kết quả dồi dào. Một mặt, nếu cầu nguyện là điều kiện của đối thoại, thì mặt khác, cầu nguyện là hoa trái của đối thoại, một cách luôn hoàn bị hơn.
- Nhờ đối thoại đại kết, chúng ta có thể nói đến một sự trưởng thành hơn khi chúng ta cầu nguyện chung cho đại kết. Việc đó được trở nên có thể tùy mức độ cuộc đối thoại làm trọn vai trò kiểm điểm lương tâm. Về vấn đề này, sao ta lại không nhớ tới những lời trong thư thứ nhất của thánh Gioan ? “Nếu ta nói “mình không có tội”, là ta lừa dối mình, và chân lý không ở trong ta. Nếu ta thú nhận tội lỗi mình, thì Ngài Thiên Chúa. Đấng trung thành và chính trực, sẽ tha thứ tội lỗi ta và thanh tẩy ta khỏi mọi điều ác” (1Ga 8,9). Thánh Gioan còn dẫn ta đi xa hơn khi xác quyết : “Nếu ta nói “mình không có tội” thì ta tự làm cho mình thành kẻ nói dối và lời Ngài không ở trong ta” (1Ga 1,10). Một lời kêu gọi triệt để giúp ta nhìn nhận thân phận tội nhân của mình, cũng phải là một trong những nét đặc sắc của việc đối thoại đại kết. Nếu việc đối thoại này không trở nên một cuộc kiểm điểm lương tâm, cách nào đó cũng là một cuộc “đối thoại lương tâm”, thì liệu ta có thể tin vào sự bảo đảm mà cũng bức thư này thông truyền cho ta hay không ? “Các con thân mến, tôi viết cho các con điều này, để các con đừng phạm tội. Nhưng nếu ai lỡ phạm tội, thì ta có Đức Giêsu Kitô, Đấng Công chính, làm luật sư biện hộ cho ta truớc tòa Chúa Cha. Chính Ngài là của lễ đền tội, không những cho tội ta, mà còn cho tội của cả thế gian” (2Ga 1,2). Tất cả tội thế gian đã được mang vào trong hy lễ cứu độ của Chúa Kitô và như vậy cả những tội phạm đến sự hiệp nhất các Kitô hữu. Tội của các Kitô hữu, của các mục tử cũng không kém của các tín hữu. Mặc dù sau nhiều tội lỗi mang lại những chia rẽ trong lịch sử, sự hiệp nhất các Kitô hữu vẫn có thể thực hiện được, miễn là ta phải khiêm nhường ý thức mình đã phạm tội chống lại sự hiệp nhất và xác tín về sự cần thiết phải hoán cải. Đó không phải chỉ là những tội cá nhân cần được thứ tha và thắng vượt, mà còn là những tội xã hội, có thể nói là những “cơ chế” tội lỗi, đã đưa đến và có thể đưa đến sự phân ly và củng cố sự phân ly.
- Một lần nữa Công đồng lại giúp đỡ chúng ta. Ta có thể nói toàn bộ Sắc lệnh về đại kết được thấm nhuần tinh thần hoán cải (59). Trong văn kiện này, đối thoại đại kết mang một tính cách đặc thù; trở thành “đối thoại hoán cải” và như vậy, theo thành ngữ của Đức Phaolô VI, trở thành “đối thoại của ơn cứu độ” (60). Cuộc đối thoại không thể chỉ diễn tiến theo chiều ngang, giới hạn ở việc gặp gỡ, trao đổi quan điểm hay những hồng ân riêng cho từng Cộng đoàn. Đối thoại cũng còn và nhất là vươn tới chiều dọc, hướng tới Đấng Cứu Chuộc trần gian và Chúa của lịch sử, Ngài là sự giao hòa của ta. Chiều kích hàng dọc của đối thoại hệ tại việc nhìn nhận chung với nhau thân phận của chúng ta, nam cũng như nữ, là đã phạm tội. Chính cuộc đối thoại này mở ra cho những anh em sống trong các Cộng đoàn chưa hiệp thông đầy đủ, không gian nội tâm, ở đó Chúa Kitô, nguồn hiệp nhất Giáo hội, có thể hành động hữu hiệu với tất cả quyền năng của Thánh Thần An ủi.
ĐỐI THOẠI ĐỂ GIẢI QUYẾT NHỮNG BẤT ĐỒNG
- Đối thoại cũng là một phương tiện tự nhiên để so sánh những quan điểm dị biệt và nhất là để xem xét những bất đồng gây cản trở cho việc hiệp thông trọn vẹn giữa các Kitô hữu. Sắc lệnh về đại kết trước tiên chủ ý mô tả những trạng thái nội tâm theo đó phải bàn đến những hoán cải về giáo lý : “Trong việc đối thoại đại kết, các nhà thần học công giáo, gắn bó với giáo lý của Giáo hội, khi cùng anh em ly khai tìm hiểu các mầu nhiệm của Thiên Chúa, phải tiến hành với tình yêu chân lý, đức bác ái và lòng khiêm nhường” (61).
Tình yêu chân lý là chiều kích sâu xa nhất trong việc tìm kiếm đích thực sự hiệp thông đầy đủ giữa các Kitô hữu. Không có tình yêu này, thì không thể đề cập đến những khó khăn khách quan trong phạm vi thần học, văn hóa, tâm lý và xã hội mà ta gặp thấy trong khi xem xét những bất đồng. Tinh thần bác ái và khiêm nhường phải gắn liền với chiều kích nội tâm và cá nhân : bác ái với người đối thoại, khiêm nhường trước chân lý mà ta tìm thấy và có thể đòi hỏi ta phải coi lại một số xác quyết hay một số thái độ.
Trong những gì liên quan tới việc nghiên cứu những bất đồng, Công đồng yêu cầu phải trình bày rõ ràng toàn bộ giáo lý. Đồng thời, Công đồng đòi hỏi, trong việc trình bày giáo lý công giáo phải làm sao cho cách thức và phương pháp trình bày không được gây trở ngại cho cuộc đối thoại với anh em ly khai (62). Chắc chắn là có thể làm chứng về đức tin của mình và giải thích giáo lý về đức tin ấy, một cách chính đáng, thẳng thắn và dễ hiểu, nhưng đồng thời vẫn chú ý tới những quan điểm tinh thần và kinh nghiệm lịch sử cụ thể của người khác.
Dĩ nhiên, sự hiệp thông đầy đủ phải được thực hiện bằng việc chấp nhận chân lý toàn vẹn mà Chúa Thánh Thần tỏ ra cho các môn đệ Chúa Kitô. Vậy phải tuyệt đối tránh mọi hình thức chủ trương rút bớt hay “chủ trương phù hợp” dễ dãi. Những vấn đề nghiêm trọng phải được giải quyết, vì nếu không được giải quyết, thì vào những thời điểm khác, chúng lại xuất hiện dưới cùng một hình thức hay dưới một bộ mặt khác.
- Sắc lệnh Unitas redintegratio (Tái lập sự hiệp nhất) cũng xác định một tiêu chuẩn người công giáo phải tuân giữ khi trình bày và so sánh các giáo lý : “Họ phải nhớ rằng có một thứ tự hay một “phẩm trật” các chân lý của giáo lý công giáo, vì tương quan khác nhau của các chân lý ấy với nền tảng đức tin Kitô giáo. Và như vạch ra một con đường thúc giục tất cả mọi người công giáo, trong sự thi đua huynh đệ, để hiểu biết lẫn nhau sâu xa hơn và trình bày trong sáng hơn những kho tàng khôn tả của Chúa Kitô” (63).
- Trong việc đối thoại, ta không thể tránh đụng chạm tới vấn đề những kiểu diễn đạt khác nhau được dùng để diễn tả giáo lý trong các Giáo hội khác và các Cộng đoàn giáo hội, điều này từng sinh ra nhiều hậu quả đối với nghĩa vụ đại kết.
Trước tiên, về những kiểu diễn đạt giáo lý khác với định thức quen dùng trong cộng đoàn mà ta là thành phần, ta nên phân biệt xem có phải những lời ấy không bao gồm cũng một nội dung, như đã nhận thấy, chẳng hạn trong các tuyên ngôn chung mới đây, được ký kết bởi các vị tiền nhiệm của tôi hay chính tôi, và các Đức Thượng phụ của các Giáo hội mà từ bao thế kỷ đã tranh luận với chúng ta về Kitô học. Với những gì liên hệ đến việc diễn đạt các chân lý mạc khải, tuyên ngôn Mysterium Ecclesiae (Mầu nhiệm Giáo hội) khẳng định : “Những chân lý Giáo hội thực sự nghĩ mình giảng dạy qua những định thức tín lý, chắc chắn khác biệt với những quan niệm đổi thay riêng cho từng thời đại nhất định; nhưng không loại trừ việc những chân lý ấy được định thức cách ngẫu nhiên bởi Huấn quyền, bằng những lời lẽ mang dấu vết của các quan niệm như thế. Sau khi suy xét mọi mặt, ta phải nói rằng những định thức tín lý của Huấn quyền ngay từ ban đầu đã thích hợp để thông truyền chân lý mạc khải và vẫn không thay đổi, những định thức này luôn thông truyền chân lý ấy cho những người sẽ giải thích chúng một cách đúng đắn” (64). Về đề tài này, đối thoại đại kết, thúc đẩy các bên liên hệ tìm hiểu nhau, học biết nhau, giải thích lẫn cho nhau, sẽ đem lại cho ta những khám phá bất ngờ. Những cuộc bút chiến và tranh luận không khoan dung đã biến đổi thành những khẳng định không thể hòa hợp những điều thực ra chỉ là kết quả của hai cái nhìn về cùng một thực tại, nhưng từ hai quan điểm khác nhau. Ngày nay phải tìm ra định thức nào, nắm bắt trọn vẹn được thực tại ấy, sẽ cho phép ta vượt qua những tranh cãi từng phần và loại đi những giải thích sai lầm.
Một trong những lợi điểm của phong trào đại kết là việc trao đổi của phong trào này giúp cho các Cộng đoàn Kitô giáo khám phá ra vẻ phong phú khôn lường của chân lý. Ở đây cũng thế, tất cả công việc của Chúa Thánh Thần nơi “những Cộng đoàn khác” có thể góp phần cho việc xây dựng nhiều cộng đoàn (65) và theo một ý nghĩa, dạy cho các cộng đoàn ấy biết về mầu nhiệm Chúa Kitô. Phong trào Đại kết đích thực là một ân sủng của chân lý.
- Sau cùng, việc đối thoại đặt những người đối thoại trước những bất đồng thực sự liên quan tới đức tin. Trước hết là phải làm sao cho những bất đồng ấy được đề cập tới trong tinh thần chân thành yêu thương huynh đệ, tôn trọng những đòi hỏi của lương tâm mình và của lương tâm người khác, với đức khiêm nhường sâu thẳm và lòng yêu mến chân lý. Trong lãnh vực này, có sự so sánh về hai điểm thiết yếu : Thánh Kinh và Truyền thống của Giáo hội. Về phần mình, những người công giáo còn được Huấn quyền luôn sinh động của Giáo hội giúp đỡ.
THỰC HÀNH CỘNG TÁC
- Những liên lạc giữa các Kitô hữu không chỉ nhằm hiểu biết lẫn nhau, cầu nguyện chung và đối thoại. Ngay từ bây giờ, những liên lạc ấy còn tiên liệu và đòi hỏi mọi sự hợp tác có thể thực hiện ở những lãnh vực khác nhau, mục vụ, văn hóa, xã hội và ngay cả trong việc làm chứng cho sứ điệp Tin mừng (66).
“Sự hợp tác của tất cả các Kitô hữu nói lên cách hùng hồn tinh thần liên kết đã từng có giữa họ và làm sáng ngời khuôm mặt Chúa Kitô, Người Tôi Tớ” (67). Sự hợp tác này, được xây dựng trên niềm tin chung, làm cho tình thông hiệp huynh đệ thêm phong phú, nhưng cũng còn là sự hiển linh của chính Chúa Kitô.
Hơn nữa, sự cộng tác đại kết thực sự là một trường học đại kết, đó là con đường năng động theo chiều hướng hiệp nhất. Hiệp nhất hành động dẫn tới hiệp nhất trọn vẹn đức tin : “Nhờ sự cộng tác này, tất cả những người tin vào Chúa Kitô đều có thể dễ dàng học hỏi cách thức hiểu biết nhau hơn, quí trọng nhau hơn và dọn đường tiến tới hiệp nhất các Kitô hữu” (68).
Dưới mắt thế gian, sự cộng tác giữa các Kitô hữu trùng hợp với chứng từ chung của Kitô giáo và trở nên một phương tiện phúc âm hóa vì lợi ích của nhau.
CHƯƠNG II:
NHỮNG KẾT QUẢ CỦA ĐỐI THOẠI TÌM LẠI ĐƯỢC TÌNH HUYNH ĐỆ
- Những điều đã nói trên về đối thọai đại kết từng được tiến hành từ ngày bế mạc Công đồng, đưa ta tới việc tạ ơn Thánh Thần chân lý được Chúa Kitô hứa ban cho các Tông đồ và cho Giáo hội (x Ga 14,26). Lần đầu tiên trong lịch sử hoạt động cổ võ cho sự hiệp nhất các Kitô hữu đã đạt được những qui mô lớn và mở rộng như vậy. Đó là hồng ân bao la Thiên Chúa trao ban và ta phải cảm tạ.
Từ sự sung mãn của Chúa Kitô, ta nhận “hết ơn này đến ơn khác” (Ga 1,16). Nhận biết những gì Thiên Chúa ban cho ta, đó là điều kiện chuẩn bị ta đón nhận những hồng ân cần thiết, dẫn đưa tới chỗ hoàn tất hoạt động đại kết vì hiệp nhất.
Nhìn tổng quát ba mươi năm vừa qua ta sẽ hiểu rõ hơn nhiều thành quả của việc cùng nhau trở về với Tin mừng, mà phong trào đại kết đã là một dụng cụ nhờ Chúa Thánh Thần.
- Chẳng hạn – trong tinh thần Bài Giảng Trên Núi – các Kitô hữu xác nhận từ nay không còn coi những Kitô hữu khác như kẻ thù địch hay như người xa lạ, nhưng coi họ là anh chị em với mình. Một mặt, ngay từ ngữ “anh em ly khai”, bây giờ người ta muốn dùng những từ ngữ khác thích hợp hơn, để gợi lên sự thông hiệp sau xa gắn liền với ấn tích thanh tẩy, mà Chúa Thánh Thần hằng nuôi dưỡng, mặc dầu có những chia lìa mang tính cách lịch sử và giáo luật. Người ta nói đến “những Kitô hữu khác”, những “người được thanh tẩy khác”, những “Kitô hữu thuộc các Cộng đoàn khác”. “Bản hướng dẫn áp dụng các nguyên tắc và qui luật về Đại kết” gọi những cộng đoàn các Kitô hữu ấy là “những Giáo hội và Cộng đoàn giáo hội chưa thông hiệp đầy đủ với Giáo hội Công giáo” (69). Sự khai triển từ vựng này diễn tả một chuyển biến đáng kể nơi các não trạng. Ý thức mình cũng thuộc về Chúa Kitô được đào sâu hơn. Tự bản thân, tôi có thể nhận thấy nhiều lần trong những cuộc cử hành đại kết giữa những biến cố quan trọng nhất trong những chuyến tông du của tôi tại nhiều nơi trên thế giới, hoặc trong những lần gặp gỡ và cử hành đại kết tại Rôma. “Tình huynh đệ đại đồng” của các Kitô hữu đã trở nên niềm xác tín vững vàng về đại kết. Để quên đi những vụ tuyệt thông trong dĩ vãng, những Cộng đoàn đã một thời tranh chấp, ngày nay lại giúp đỡ nhau trong nhiều trường hợp : đôi khi người ta cho nhau mượn những nơi thờ phượng; người ta trao tặng những học bổng để đào tạo những thừa tác viên cho những Cộng đoàn thiếu phương tiện; người ta can thiệp với thế quyền để bênh vực những Kitô hữu khác bị tố cáo một cách bất công; người ta tố giác những chuyện vu khống vô căn cớ mà một số nhóm đã là nạn nhân.
Tóm lại, các Kitô hữu đã quay trở về với tình bác ái huynh đệ bao quát tất cả các môn đệ Chúa Kitô. Nếu vì những cuộc nổi dậy chính trị bạo động mà xảy ra một sự đàn áp hay một tinh thần báo thù nào đó trong những tình huống cụ thể, thì quyền bính của bên liên hệ thường quan tâm làm nổi bật “Luật mới” của tinh thần bác ái. Tiếc thay, tinh thần này vẫn chưa thể biến đổi được những tình huống xung đột đẫm máu. Trong những hoàn cảnh ấy, những người đã dấn thân cho đại kết phải chứng tỏ một đức anh hùng đích thực trong những quyết định của mình.
Về điều này, cũng nên khẳng định lại rằng việc nhận biết tình huynh đệ không phải là hậu quả của lòng nhân ái khoan dung hay tinh thần gia tộc mơ hồ nào đó. Tình huynh đệ bén rễ sâu trong việc nhìn nhận bí tích Thanh tẩy duy nhất và trong đòi hỏi phát sinh từ bí tích ấy, phải làm vinh danh Thiên Chúa trong công trình của Ngài. Bản hướng dẫn áp dụng các nguyên tắc và qui luật về đại kết ước mong mọi bên cùng chính thức nhìn nhận bí tích Thanh tẩy của nhau (70). Việc ấy vượt xa một cử chỉ lịch sự đại kết, và tạo nên một khẳng định có tính giáo hội học căn bản.
Ta phải nhắc lại một cách thích hợp rằng đặc tính căn bản của bí tích Thanh tẩy trong công trình xây dựng Hội thánh rõ ràng đã từng được đề cao cũng nhờ cuộc đối thoại đa phương (71).
TÌNH LIÊN ĐỚI TRONG VIỆC PHỤC VỤ NHÂN LOẠI
- Ngày càng thường thấy những vị hữu trách các Cộng đoàn Kitô hữu cùng có lập trường, nhân danh Chúa Kitô, về những vấn đề quan trọng liên quan tới ơn gọi của con người, tới tự do, công lý, hòa bình, tương lai của thế giới. Làm như thể, các vị đã “hành động chung” cho một trong những chức năng căn bản của sứ mạng Kitô giáo : nhắc cho xã hội, một cách thực tiễn, nhận biết thánh ý Thiên Chúa, bằng việc lưu ý các nhà cầm quyền và công dân các nước phải cẩn thận, đừng đi vào con đường chà đạp các quyền con người, thật là rõ ràng, và kinh nghiệm đã chứng minh, trong một số trường hợp, tiếng nói chung của các Kitô hữu có nhiều ảnh hưởng hơn là một tiếng nói lẻ loi.
Tuy nhiên, không phải chỉ có các vị hữu trách các Cộng đoàn liên kết với nhau trong việc dấn thân cho hiệp nhất. Nhiều tín hữu thuộc các Cộng đoàn đã nhân danh đức tin, cùng tham dự vào những dự án táo bạo muốn thay đổi thế giới, làm cho người ta phải tôn trọng quyền lợi và nhu cầu của mọi người, đặc biệt của những người nghèo, những người bị hạ nhục và những người không được bảo vệ. Trong thông điệp Sollicitudo rei socialis (Quan tâm đến vấn đề xã hội), tôi hân hạnh được nhắc tới việc hợp tác này, bằng cách nhấn mạnh rằng Giáo hội Công giáo không thể miễn trừ công việc ấy (72). Quả vậy, người Kitô hữu trước đây hành động độc lập, bây giờ cùng nhau dấn thân để phục vụ lợi ích này, để lòng khoan nhân của Thiên Chúa được chiến thắng.
Cách suy luận là suy luận của Tin mừng. Vì thế, khi nhắc lại những gì tôi đã viết trong thông điệp đầu tiên Redemptor hominis (Đấng cứu chộc con người), tôi đã có dịp “nhấn mạnh về điểm này và khuyến khích mọi cố gắng theo chiều hướng ấy, ở mọi cấp bậc gặp gỡ với các anh em Kitô hữu của chúng ta” (73) và tôi đã cảm tạ Thiên Chúa “vì những việc Ngài đã thực hiện trong và qua các Giáo hội khác và các Cộng đồng giáo hội”, cũng như qua Giáo hội Công Giáo (74). Hôm nay, tôi hài lòng nhận thấy hệ thống mở rộng sự hợp tác mang tính đại kết đã ngày càng gia tăng. Nhờ ảnh hưởng của Hội đồng đại kết các Giáo hội, một công việc quan trọng đã được hòan thành trong lãnh vực này.
NHỮNG ĐIỂM ĐỒNG QUI TRONG CÁC ĐIỀU LIÊN QUAN TỚI LỜI CHÚA VÀ PHỤNG TỰ THÁNH
- Những tiến bộ trong việc hoán cải đại kết cũng thật ý nghĩa trong một lãnh vực khác, lãnh vực Lời Chúa. Trước hết tôi nghĩ tới một biến cố rất quan trọng cho những nhóm ngôn ngữ khác nhau, là bản dịch đại kết của bộ Kinh Thánh. Sau khi Công đồng Vatican II công bố hiến chế Dei Verbum (Lời Thiên Chúa), Giáo hội Công giáo không thể không hân hoan đón nhận việc làm ấy (75). Những bản dịch này, là công trình của các chuyên viên, đã cung cấp cách tổng quát một cơ sở chắc chắn cho việc cầu nguyện và sinh hoạt mục vụ của các môn đệ Chúa Kitô. Những ai còn nhớ các cuộc tranh cãi về Thánh Kinh đã có ảnh hưởng như thế nào đối với những chia rẽ, nhất là tại phương Tây, mới hiểu được sự tiến bộ đáng kể mà những bản dịch chung này đem lại.
- Sáng kiến canh tân việc phụng tự trong nhiều Cộng đoàn Giáo hội phù hợp với việc canh tân phụng vụ đã được hoàn thành trong Giáo hội Công giáo. Một số Cộng đoàn từ ước muốn được bộc lộ trong tầm mức đại kết (76), cũng bỏ đi thói quen chỉ cử hành phụng vụ Tiệc ly của mìnnh vào một đôi dịp hiếm có, và đã chấp nhận việc cử hành ngày Chúa nhật. Mặt khác, so sánh chu kỳ các bài đọc phụng vụ nơi những Cộng đoàn Kitô hữu Tây phương khác nhau ta thấy chúng cùng đưa tới điểm chính yếu. Vẫn trên cấp bậc đại kết (77), ta đã làm nổi bật cách riêng cho phụng vụ và các dấu chỉ của phụng vụ (ảnh tượng, y phục, đèn nến, hương trầm, cử chỉ). Hơn nữa, trong các viện thần học đào tạo các thừa tác viên tương lai, việc nghiên cứu lịch sử và ý nghĩa của phụng vụ khởi đầu cho một phần trong chương trình học hỏi, vì đó là điều cần thiết mà ta đang tái khám phá.
Đây là những dấu chỉ đưa tới những khía cạnh khác nhau của đời sống bí tích. Chắc hẳn vì những bất đồng trong đức tin, ta chưa thể cử hành cùng một phụng vụ Thánh Thể. Chúng ta cũng vậy, chúng ta rất ước mong được cùng nhau cử hành lễ Tạ ơn duy nhất của Chúa và ước mong này đã trở nên một lời ca ngợi và khẩn cầu chung. Cùng nhau hướng về Chúa Cha, và ta hằng làm việc ấy ngày càng thêm “một lòng”. Đôi khi, khả năng củng cố cho sự hiệp thông “thực sự này, mặc dầu chưa trọn vẹn” hình như đã khá gần kề. Cách đây một thế kỷ, ai đã có thể chỉ nghĩ tới điều đó thôi ?
- Trong tinh thần này, quả là lý do để vui mừng khi các thừa tác viên Công giáo, trong một số trường hợp đặc biệt, có thể cử hành bí tích Thánh Thể, giải tội, xức dầu bệnh nhân cho những Kitô hữu khác chưa hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội Công giáo, nhưng họ thiết tha mong được lãnh nhận các bí tích ấy, tự ý xin và chia sẻ đức tin mà Giáo hội Công giáo tuyên xưng trong các bí tích ấy. Đối lại, trong những trường hợp nhất định và vì hoàn cảnh đặc biệt, những người Công giáo cũng có thể chạy đến các bí tích ấy với những thừa tác viên của những Giáo hội mà các bí tích ấy thành sự. Những điều kiện của việc đón nhận nhau như thế đã được ấn định thành qui luật và tuân giữ những qui luật ấy là điều cần cho việc cổ võ đại kết (78).
ĐÁNH GIÁ NHỮNG ĐIỀU THIỆN HẢO HIỆN CÓ NƠI CÁC KITÔ HỮU KHÁC
- Đối thoại không chỉ xoay quanh giáo lý, mà còn liên hệ đến con người toàn diện : Đó cũng là một đối thoại yêu thương. Công đồng tuyên bố : “Người Công giáo cần phải vui mừng nhìn nhận và mến phục những giá trị thật sự Kitô giáo, xuất phát từ gia sản chung và được tìm thấy nơi các anh em ly khai. Thật là chính đáng và có giá trị cứu rỗi, việc nhìn nhận những kho tàng của Chúa Kitô và những hậu quả của quyền lực Ngài trong đời sống của những người đang làm chứng về Ngài, đôi khi phải đổ máu nữa, vì Thiên Chúa luôn đáng khâm phục và phải được ngợi khen trong những công trình của Ngài” (79).
- Những liên hệ với các Kitô hữu khác mà các thành phần Giáo hội Công giáo đã thiết lập từ sau Công đồng đã làm cho ta khám phá được những điều Thiên Chúa thực hiện nơi những anh em thuộc các Giáo hội khác và các Cộng đoàn giáo hội. Việc tiếp xúc trực tiếp ở những cấp bậc khác nhau, giữa những mục tử và giữa những thành viên của các Cộng đoàn, đã làm cho ta ý thức các Kitô hữu khác đã làm chứng cho Thiên Chúa và cho Chúa Kitô. Như thế đã mở ra một môi trường rất rộng rãi cho mọi kinh nghiệm đại kết, đồng thời kinh nghiệm ấy lại là một thách đố đặt ra cho thời đại chúng ta. Thế kỷ 20 chẳng phải là một thời gian làm chứng mạnh mẽ, đôi khi đi tới chỗ “đổ máu” đó sao ? Chứng từ này lại chẳng liên hệ đến các Giáo hội khác nhau và các Cộng đoàn giáo hội mang danh hiệu Chúa Kitô chịu đóng đinh và phục sinh đó sao ?
Chứng từ chung về sự thánh thiện, như niềm tin vào Đức Chúa duy nhất, là một tiềm năng đại kết đặc biệt phong phú về ơn sủng. Công đồng Vatican II đã nhấn mạnh những điều thiện hảo hiện có nơi các Kitô hữu khác có thể góp phần vào việc xây dựng các tín hữu Công giáo : “Cũng đừng quên rằng những gì ơn Chúa Thánh Thần thực hiện nơi các anh em ly khai cũng có thể góp phần xây dựng chúng ta. Bất cứ những gì thực sự Kitô giáo đều không bao giờ chống lại những giá trị đích thực của đức tin, trái lại còn luôn có thể giúp chúng ta đi sâu hơn vào chính mầu nhiệm của Chúa Kitô và Giáo hội” (80). Đối thoại đại kết, như một đối thoại đích thực về ơn cứu rỗi, sẽ luôn khích lệ tiến tới sự hiệp thông đích thực và đầy đủ, vốn tự nó đã đi khá xa.
TIẾN TRIỂN CỦA HIỆP THÔNG
- Sự tiến triển của hiệp thông là thành quả quí báu của những quan hệ giữa các Kitô hữu và của cuộc đối thoại thần học mà họ duy trì. Những quan hệ và đối thoại đã làm cho các Kitô hữu ý thức được những dữ kiện đức tin mà họ có chung. Điều ấy giúp củng cố hơn nữa việc họ dấn thân tiến tới sự hiệp nhất đầy đủ. Trong tất cả những điều ấy, Công đồng Vatican II vẫn là một sự khích lệ mạnh mẽ cho hoạt động và những hướng đi đại kết.
Hiến chế về tín lý Lumen gentium (Ánh sáng muôn dân) kết hợp giáo lý liên quan tới Giáo hội Công giáo với việc tìm biết những yếu tố cứu độ trong các Giáo hội khác và các Công đoàn giáo hội (81). Đây không phải là việc ý thức về những yếu tố tĩnh, hiện diện cách thụ động trong các Giáo hội và các Cộng đoàn ấy. Với tính cách là các điều thiện hảo của Giáo hội Chúa Kitô, tự bản chất, những điều thiện hảo ấy giúp tiến tới sự tái lập hiệp nhất. Do đó, việc tìm về hiệp nhất các Kitô hữu không phải là một hành vi tùy ý hay thích nghi, nhưng là một đòi hỏi xuất phát từ chính bản thể của cộng đoàn Kitô hữu.
Cùng một cách ấy, những đối thọai thần học song phương với các Cộng đoàn Kitô giáo chính yếu đều xuất phát từ việc nhìn nhận mức độ hiệp thông đã có, để rồi dần dần thảo luận những bất đồng hiện có nơi từng Cộng đoàn. Chúa đã cho các Kitô hữu thời nay khả năng làm giảm bớt những tranh cãi từ lâu đời.
ĐỐI THOẠI VỚI CÁC GIÁO HỘI ĐÔNG PHƯƠNG
- Về điều này, với lòng tri ân đặc biệt đối với Thiên Chúa quan phòng, trước hết ta phải nhận định những mối liên hệ với các Giáo hội Đông phương, căng thẳng từ bao thế kỷ, nay đã chùng xuống với Công đồng Vatican II. Những quan sát viên của các Giáo hội này có mặt tại Công đồng, cùng với đại diện của các Giáo hội và các Cộng đoàn giáo hội Tây phương đã công khai bày tỏ ý muốn chung là tìm kiếm sự hiệp thông, trong thời điểm trang trọng như thế đối với Giáo hội Công giáo.
Về phần mình, Công đồng đã trân trọng các Giáo hội Đông phương một cách khách quan và với lòng quí mến sâu xa, khi làm nổi bật tính cách giáo hội và những mối liên hệ khách quan của hiệp thông đã liên kết các Giáo hội ấy với Giáo hội Công giáo. Sắc lệnh về Hiệp nhất tuyên bố : “Nhờ việc cử hành Thánh Thể Chúa trong từng Giáo hội ấy, mà Giáo hội Thiên Chúa được xây dựng và phát triển”, vì thế sắc lệnh còn thêm rằng các Giáo hội ấy “mặc dù ly khai, vẫn có các bí tích đích thực, nhờ sự kế vị các thánh Tông đồ, nhất là chức Linh mục và phép Thánh thể qua đó họ còn liên kết rất chặt chẽ với chúng ta” (82).
Đối với các Giáo hội Đông phương, ta còn thấy được truyền thống lâu đời về phụng vụ và tu đức, tính cách đặc thù của việc phát triển trong lịch sử, các kỷ luật được tuân giữ từ thời sơ khai và được các thánh Giáo phụ cũng như nhiều Công đồng chung duy trì, và cách thức riêng để diễn tả giáo lý. Tất cả những điều ấy với niềm xác tín rằng sự khác biệt hợp pháp không hề chống lại sự hiệp nhất của Giáo hội, mà còn tăng thêm uy tín và góp phần hoàn thành sứ mệnh của Giáo hội nữa.
Công đồng Vatican II muốn đặt nền tảng đối thoại trên sự hiệp thông hiện có và chú ý tới thực tại phong phú của các Giáo hội Đông phương. “Thánh Công đồng khuyến khích mọi người, đặc biệt là những ai muốn hoạt động tái lập sự hiệp thông đầy đủ giữa các Giáo hội Đông phương và Giáo hội Công giáo như hằng mong ước, hãy nhận định chính xác về hoàn cảnh cá biệt đã khai sinh và phát triển các Giáo hội Đông phương và về đặc tính của những mối liên hệ đã có giữa các Giáo hội ấy với Tòa Thánh Rôma trước thời kỳ phân ly, cũng như hãy tạo cho mình một đánh giá chính xác về tất cả những điểm nêu trên (83).
- Chiều hướng trên của Công đồng đã trở nên phong phú do những tương quan huynh đệ được phát triển nhờ đối thoại trong bác ái và nhờ tranh luận về giáo lý, trong khuôn khổ của Ủy ban quốc tế hỗn hợp để đối thoại thần học giữa Giáo hội Công giáo và Giáo hội Chính thống. Chiều hướng ấy còn mang lại những thành quả phong phú trong những liên hệ với các Giáo hội cổ kính Đông phương.
Đây là một quá trình chậm chạp và vất vả, nhưng lại là nguồn vui to lớn; và cũng thật phấn khởi, vì cho ta dần dần tìm lại được tình huynh đệ.
NỐI LẠI NHỮNG CUỘC TIẾP XÚC
- Trong những điều liên quan đến Giáo hội Công giáo và Tòa Thượng phụ Đại kết Constantinople, quá trình chúng ta vừa tham chiếu đã bắt đầu nhờ sự cởi mở đối với nhau, được chứng tỏ một bên là Đức Gioan XXIII và Đức Phaolô VI, một bên là Đức Thượng phụ Athenagoras I và các đấng kế vị ngài. Sự thay đổi về lịch sử đã xảy ra, được biểu lộ bằng một hành vi mang tính cách Giáo hội, nhờ đó “ta đã xóa khỏi trí nhớ và hoàn cảnh các Giáo hội” (84) kỷ niệm về những vụ tuyệt thông, cách đây chín trăm năm, vào năm 1054, đã trở thành biểu tượng của sự ly khai giữa Rôma và Constantinople. Biến cố Giáo hội có tầm mức đại kết lớn lao đã xảy ra vào những ngày cuối của Công đồng, ngày 7 tháng 12 năm 1965. Công đồng đã kết thúc như thế, bằng một hành vi long trọng, đồng thời là một sự thanh tẩy ký ức về lịch sử, một sự tha thứ cho nhau và một sự dấn thân liên đới cho việc tìm kiếm hiệp thông.
Cử chỉ này đã có trước do sự gặp gỡ giữa Đức Phaolô VI và Đức Thượng phụ Athenagoras I tại Giêrusalem vào tháng giêng năm 1964, nhân cuộc hành hương Đất Thánh. Trong dịp này, ngài cũng đã gặp Đức Thượng phụ Chính thống Benedictos tại Giêrusalem. Tiếp theo, Đức Phaolô VI đã tới thăm Đức
Thương phụ Athenagoras I ở Phanar (Istanbul) ngày 15 tháng 7 năm 1967, và tới tháng 10 năm ấy, Đức Thượng phụ được đón tiếp long trọng tại Rôma. Những cuộc gặp gỡ trong cầu nguyện chỉ cho thấy con đường phải theo để Giáo hội Đông phương và Giáo hội Tây phương xích lại gần nhau, và tái lập sự hiệp nhất vẫn có giữa hai Giáo hội trong thiên niên kỷ đầu tiên.
Sau khi Đức Phaolô VI qua đời và sau triều đại Giáo hoàng ngắn ngủi của Đức Gioan-Phaolô I, khi sứ vụ Giám mục Rôma được trao phó cho tôi, tôi đã coi như một trong những bổn phận đầu tiên của việc phục vụ trong chức Giáo hoàng là phải nối lại những tiếp xúc cá nhân với Đức Thượng phụ Dimitrios I, lúc ấy đã kế vị Đức Thượng phụ Athenagoras I ở Constantinople. Trong khi tôi viếng thăm Phanar, ngày 29 tháng 11 năm 1979, Đức Thượng phụ và tôi đã có thể quyết định bắt đầu cuộc đối thoại thần học giữa Giáo hội Công giáo và các Giáo hội Chính thống đang hiệp thông theo giáo luật với tòa Constantinople. Về việc này, cần phải thêm rằng vào lúc ấy, những chuẩn bị cho việc triệu tập Công đồng sắp tới của các Giáo hội Chính thống đang được tiến hành. Việc tìm kiếm một sự hài hòa chung cũng góp phần cho sự sống và sinh lực của các Giáo hội ấy, tùy theo vai trò các Giáo hội ấy được mời mắn giữ trong tiến trình đi tới hiệp nhất. Đức Thượng phụ đại kết đã muốn viếng thăm tôi sau khi tôi viếng thăm ngài và, vào tháng 12 năm 1987, tôi đã vui mừng đón tiếp ngài tại Rôma với tình quí mến chân thành và với sự long trọng thích hợp. Trong bầu không khí huynh đệ mang tính cách Giáo hội này, nên nhắc đến tục lệ, đã được thiết lập từ nhiều năm qua, đó là đón tiếp tại Rôma một phái đoàn của Đức Thượng phụ vào dịp lễ thánh Phêrô và thánh Phaolô tông đồ, đồng thời gửi một phái đoàn Tòa Thánh tới Phanar để cử hành trọng thể lễ thánh Andrê.
- Những tiếp xúc đều đặn này còn cho phép ta trao đổi trực tiếp những tin tức và ý kiến nhằm tới một dàn xếp huynh đệ. Mặt khác, việc chúng ta cùng cầu nguyện đem lại cho ta thói quen sống bên nhau, và thúc đẩy ta cùng nhau đón nhận ý Chúa đối với Giáo hội Ngài và đem ra thực hành.
Suốt chặng đường chúng ta đã đi từ Công đồng Vatican II, cần phải nhắc lại ít nữa hai biến cố nổi bật khác thường và có tầm quan trọng về đại kết trong quan hệ giữa Đông phương và Tây phương : Trước hết là Năm Toàn Xá 1984, được công bố để mừng một ngàn một trăm năm công việc rao giảng Tin mừng của thánh Cyrillô và thánh Methođô, trong dịp đó tôi được hân hạnh tuyên dương hai vị thánh Tông đồ của người Slave, sứ giả đức tin, cùng làm bổn mạng của châu Âu. Năm 1964, trong thời kỳ họp Công đồng, Đức Phaolô VI đã tuyên dương thánh Bênêdictô làm bổn mạng châu Âu. Liên kết hai anh em ở Thessalonica với vị sáng lập vĩ đại của phong trào đan tu Tây phương là gián tiếp làm nổi bật hai truyền thống về Giáo hội và về văn hóa, mang rất nhiều ý nghĩa của hai ngàn năm Kitô giáo đã từng ghi lại dấu ấn trên lịch sử của lục địa châu Âu. Cũng không phải là thừa khi nhắc lại thánh Cyrillô và thánh Methođô đã xuất thân từ các miền thuộc Giáo hội Byzantin vào thời Giáo hội Byzantin còn hiệp thông với Rôma. Khi tuyên bố các ngài làm bổn mạng châu Âu, cùng với thánh Bênêdictô, tôi không những chỉ muốn chứng tỏ chân lý lịch sử về Kitô giáo trên lục địa châu Âu, mà còn muốn đưa ra một chủ đề quan trọng để đối thoại giữa Đông phương và Tây phương, cuộc đối thoại mang bao hy vọng thời sau Công đồng. Cũng như với thánh Bênêdictô, châu Âu tìm lại cội rễ thiêng liêng của mình nơi thánh Cyrillô và thánh Methođô. Trong khi kết thúc ngàn năm thứ hai kể từ ngày Chúa Kitô giáng sinh, các vị thánh ấy phải được tôn kính cùng với nhau như những vị bổn mạng của dĩ vãng và như những vị thánh mà các Giáo hội và các quốc gia thuộc lục địa châu Âu trao phó tương lai mình.
- Một biến cố khác tôi muốn nhắc lại là cuộc cử hành mừng một ngàn năm rửa tội nước Nga (988-1988), Giáo hội Công giáo và đặc biệt Tông Tòa đã muốn tham dự vào những cử hành toàn xá ấy, và đã cố tìm cách nhấn mạnh việc thánh Vladimir lãnh phép Rửa tội tại Kiev đã là một biến cố trọng tâm đối với việc phúc âm hóa thế giới. Những quốc gia lớn người Slave ở Đông Âu, cũng như những dân tộc sống bên kia dẫy núi Oural mãi tới tận Alaska đã nhờ ngài mà có đức tin.
Chính trong viễn ảnh này mà cách diễn tả tôi đã dùng nhiều lần mang một ý nghĩa sâu xa : “Giáo hội phải thở bằng hai lá phổi”. Trong ngàn năm thứ nhất của lịch sử Kitô giáo, cách diễn tả này gợi lên đặc tính nhị nguyên Bizance – Rôma; kể từ ngày nước Nga nhận lãnh bí tích Thanh tẩy, cách diễn tả ấy còn mang một tầm mức mở rộng hơn; việc phúc âm hóa trải dài tới một lãnh vực to lớn hơn, ám chỉ về toàn thể Giáo hội. Sau đó khi thấy biến cố cứu độ này, xảy ra bên bờ sông Dniepr, đi ngược lên một thời đại Giáo hội Đông phương và Tây phương chưa chia rẽ nhau, ta hiểu rõ viễn ảnh kiếm tìm sự thông hiệp trọn vẹn phải là viển ảnh hiệp nhất trong dị biệt chính đáng. Đó là điều tôi mạnh mẽ khẳng định trong thông điệp Slavorum Apostoli (Các Tông đồ những người Slave) (85) dâng kính hai thánh Cyrillô và Methođô, và trong tông thư Euntes in mundum (Đi khắp thế gian) (86) gửi cho các tín hữu Giáo hội Công giáo nhân dịp mừng một ngàn năm việc rửa tội nước Nga tại Kiev.
CÁC GIÁO HỘI CHỊ EM
- Trong viễn ảnh lịch sử của mình, sắc lệnh công đồng Unitatis redintegratio (Tái lập hiệp nhất) nhắc lại sự hiệp nhất, dù sao chăng nữa, cũng đã từng được sống trong ngàn năm đầu tiên của Kitô giáo, và theo một nghĩa nào đó, phải là một mô hình kiểu mẫu. “Thánh Công đồng hân hoan nhắc lại cho mọi người biết rằng ở Đông phương đang phát triển nhiều Giáo hội riêng biệt hay địa phương, đứng đầu là các Giáo hội có Thượng phụ, trong đó một số Giáo hội hãnh diện vì được chính các Tông đồ thiết lập” (87). Con đường Giáo hội đã khởi đi từ Giêrusalem vào ngày lễ Ngũ tuần và mọi phát triển lúc ban đầu trong oikoumenè (đại kết) thời đó được tập trung nơi Phêrô và nhóm Mười một (x Cv 2,14). Những cơ cấu của Giáo hội ở Đông phương và Tây phương được hình thành từ di sản tông đồ như thế. Sự hiệp nhất của Giáo hội, trong những giới hạn của ngàn năm thứ nhất, được duy trì trong những cơ cấu ấy do các Giám mục, những người kế vị các Tông đồ và hiệp thông với Giám mục Rôma. Ngày nay, vào cuối ngàn năm thứ hai, nếu ta cố gắng lập lại sự hiệp thông trọn vẹn, thì phải qui chiếu về sự hiệp nhất được thiết thiết lập trên những cơ cấu ấy.
Sắc lệnh về đại kết đề cao một khía cạnh đặc trưng khác, nhờ đó tất cả các Giáo hội riêng biệt vẫn tồn tại trong hiệp nhất, nghĩa là “mối bận tâm duy trì những tương quan huynh đệ trong sự hiệp thông về đức tin và đức ái, là những tương quan phải có giữa các Giáo hội địa phương như giữa chị em ruột thịt” (88).
- Sau Công đồng Vatican II, gắn bó với truyền thống ấy, người ta lặp lại thói quen dùng danh xưng “Giáo hội chị em” đối với những Giáo hội riêng biệt hoặc địa phương qui tụ chung quanh Giám mục của mình. Tiếp theo, việc bãi bỏ những vụ tuyệt thông lẫn nhau, làm tiêu tan một ngăn trở thật đau đớn thuộc lãnh vực giáo luật và tâm lý, đã là một bước rất quan trọng trên đường đi tới hiệp thông đầy đủ.
Những cơ cấu hiệp nhất có trước thời kỳ phân ly là một di sản những kinh nghiệm hướng dẫn ta lên tiến bước tìm về hiệp thông đầy đủ. Dĩ nhiên, trong ngàn năm thứ hai, Chúa đã không ngừng ban cho Giáo hội Ngài nhiều thành quả dồi dào về ơn phước và tăng trưởng. Nhưng việc dần dần xa cách nhau giữa các Giáo hội Tây phương và Đông phương, rủi thay đã ngăn cản việc trao đổi những kho tàng hồng ân và giúp đỡ lẫn nhau. Cùng với ơn Chúa, nên cố gắng nhiều để lập lại giữa các Giáo hội sự hiệp thông đầy đủ, suối nguồn của biết bao điều thiện hảo cho Giáo hội của Chúa Kitô. Cố gắng này đòi hỏi tất cả thiện chí của ta, đòi hỏi lời cầu nguyện khiêm tốn và sự hợp tác kiên trì mà không có gì làm nản chí được. Thánh Phaolô khuyến khích ta : “Anh em hãy mang gánh nặng của nhau” (Gl 6,2). Lời khuyên nhủ của thánh Tông đồ liên hệ đến ta và thích hợp biết mấy! Danh xưng truyền thống các “Giáo hội chị em” phải không ngừng hiện diện trong ta trên con đường này.
- Như Đức Phaolô VI từng ước mong, mục tiêu rất rõ của chúng ta là cùng nhau tìm lại sự hiệp nhất trọn vẹn trong dị biệt chính đáng. “Điều các Tông đồ đã thấy, đã nghe, và đã loan báo cho ta, Thiên Chúa đã ban cho ta được ơn đón nhận trong đức tin. Qua bí tích Thanh tẩy, chúng ta là một trong Chúa Giêsu Kitô (Gl 3,28). Nhờ sự kế vị các Tông đồ, chức linh mục và Thánh Thể kết hợp chúng ta cách thân thiết hơn; cùng tham dự vào các ơn huệ Thiên Chúa ban cho Giáo hội, chúng ta được thông hiệp với Chúa Cha, qua Chúa Con, trong Chúa Thánh Thần. Trong mỗi Giáo hội địa phương đều có hoạt động của mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa, và đó chẳng phải là lý do để diễn tả vừa theo truyền thống lại vừa rất tốt đẹp, theo đó các các Giáo hội địa phương thích được gọi là các Giáo hội chị em đó sao ? (x Sắc lệnh Unitatis redintegratio, số 14). Đời sống của Giáo hội chị em, ta đã từng sống suốt bao thế kỷ, khi cùng nhau cử hành những Công đồng chung để bảo vệ kho tàng đức tin chống lại mọi biến chất. Ngày nay, sau thời gian dài chia rẽ và không hiểu nhau, Chúa làm cho ta được nhận ra nhau là những Giáo hội chị em, mặc dầu những trở ngại còn ngăn cách chúng ta” (89). Nếu ngày nay, trước thềm ngàn năm thứ ba, chúng ta tìm cách lập lại sự hiệp thông đầy đủ, thì đó chỉ là thi hành một thực tại mà ta phải lưu tâm và hướng đến.
Những mối dây liên kết với Truyền thống vinh quang thật là phong phú cho Giáo hội. Công đồng tuyên bố : “Các Giáo hội Đông phương từ khởi đầu đã từng có một kho tàng cống hiến cho Giáo hội Tây phương nhiều yếu tố về phụng vụ, truyền thống tu đức và luật pháp” (90).
Từ “kho tàng” này phát sinh nhiều “truyền thống tu đức phong phú, tiêu biểu nhất là đời sống đan viện, vì tại đây, nền tu đức đan viện đã phát triển ngay từ thời vàng son của các thánh Giáo phụ, và sau này đã lan tràn sang nhiều nước Tây phương” (91). Như mới đây tôi đã có dịp lưu ý trong tông thư Orientale lumen (Ánh sáng Đông phương), các Giáo hội Đông phương đã hết lòng quảng đại sống đời dấn thân, như đời sống đan viện còn chứng tỏ, “bắt đầu bằng việc rao giảng Tin mừng, là việc phục vụ cao cả nhất mà người Kitô hữu có thể trao tặng cho anh em mình, để rồi kéo dài qua nhiều hình thức phục vụ khác về tinh thần và vật chất. Ta còn có thể nói được rằng đời sống đan viện, trong thời đại thượng cổ và cũng nhiều lần qua những thời đại tiếp sau, đã là dụng cụ rao giảng Tin mừng cho các dân tộc” (92).
Công đồng chẳng cần làm rõ tất cả những gì khiến cho các Giáo hội Đông phương và Tây phương được nên giống nhau. Phù hợp với chân lý lịch sử, Công đồng không ngần ngại khẳng định : “Chẳng đáng ngạc nhiên khi thấy có một vài khía cạnh của mầu nhiệm mạc khải, đôi khi được một bên hiểu đúng và trình bày sáng sủa hơn bên kia, thành thử những định thức thần học khác nhau ấy phải được coi là bổ túc cho nhau hơn là đối nghịch nhau” (93). Việc trao đổi các hồng ân giữa các Giáo hội trong sự bổ túc cho nhau, làm cho sự hiệp thông trở nên phong phú.
- Đi từ việc khẳng định lại sự hiệp thông đức tin vốn có, Công đồng Vatican II đã rút ra những kết luận về mục vụ hữu ích cho đời sống cụ thể của người Kitô hữu và cho việc phát huy tinh thần hiệp nhất. Vì những liên hệ bí tích rất chặt chẽ đang có giữa Giáo hội Công giáo và các Giáo hội Chính thống, sắc lệnh Orientalium Ecclesiarum (Các Giáo hội Đông phương) đã tuyên bố : “Việc thực hành mục vụ chứng tỏ rằng : đối với những vấn đề liên quan đến anh em Đông phương, người ta có thể và phải xét tới hoàn cảnh cá biệt của từng người, trong đó có những hoàn cảnh không phương hại đến sự hiệp nhất của Giáo hội, cũng không đem tới những hiểm nguy phải tránh, nhưng chỉ thấy sự cần thiết của ơn cứu rỗi và lợi ích thiêng liêng của các linh hồn thúc bách. Chính vì thế Giáo hội Công giáo, trước mọi hoàn cảnh thời gian, nơi chốn, và nhân sự, thường đã và đang còn chủ trương một phương thức hành động mềm dẻo và đề ra những phương thế cứu rỗi và biểu dương tình bác ái nơi các tín hữu cho hết mọi người, qua việc tham dự các bí tích cũng như các cuộc cử hành phụng tự khác và các đồ vật thánh” (94).
Với kinh nghiệm có được qua những năm sau Công đồng, hướng đi thần học và mục vụ đã được hai bộ giáo luật lặp lại (95). Hướng đi ấy được giải thích rõ ràng về khía cạnh mục vụ, qua bản “Hướng dẫn áp dụng những nguyên tắc và qui luật về đại kết” (96).
Trong vấn đề rất quan trọng và tế nhị này, các mục tử cần phải cẩn thận dạy cho giáo dân, để họ biết rõ những lý do chính xác của việc tham dự như vào phụng vụ, cũng như kỷ luật hiện hữu về vấn đề này.
Ta không bao giờ được quên chiều kích giáo hội học của việc tham dự các bí tích, nhất là tham dự bí tích Thánh Thể.
NHỮNG TIẾN TRIỂN CỦA ĐỐI THỌAI
- Kể từ ngày sáng lập vào năm 1979, Ủy ban hỗn hợp quốc tế để đối thoại thần học giữa Giáo hội Công giáo và các Giáo hội Chính thống đã hăng hái làm việc, dần dần hướng việc nghiên cứu về những viễn ảnh được đồng tình chọn lựa, nhằm mục đích tái lập sự hiệp thông đầy đủ giữa hai Giáo hội. Sự thông hiệp này, đặt nền tảng trên sự hiệp nhất đức tin, trong tính liên tục về kinh nghiệm và truyền thống của Giáo hội xa xưa, sẽ được biểu lộ trọn vẹn trong việc cùng cử hành bí tích Thánh Thể. Với tinh thần xây dựng và dựa vào những điểm đồng qui, Ủy ban hỗn hợp đã đạt được những tiến bộ chính yếu. Như tôi đã có dịp trình bày với người Anh em đáng kính của tôi, Đức Dimitrios I, Thượng phụ đại kết, Ủy ban đã đạt tới việc diễn tả “điều Giáo hội Công giáo và Giáo hội Chính thống có thể cùng nhau tuyên xưng, như một đức tin chung, trong mầu nhiệm Giáo hội và trong sự liên kết giữa đức tin và bí tích” (97). Ủy ban đã có thể nhận thấy và sau đó xác quyết “trong các Giáo hội của chúng ta, việc kế vị các Tông đồ là nền tảng cho sự thánh hóa và hiệp nhất của Dân Chúa” (98). Đó là những điểm qui chiếu quan trọng để theo đuổi cuộc đối thoại. Nhưng còn hơn thế nữa : những xác quyết chung này tạo nên một nền tảng làm cho những người Công giáo và Chính thống giáo, ngay từ bây giờ, trong thời đại ta, có khả năng đưa ra một chứng từ chung, trung thành và liên tục, để loan báo và tôn vinh danh Chúa.
- Mới đây, Ủy ban hỗn hợp quốc tế đã có một bước quan trọng trong điều liên quan tới vấn đề rất tế nhị là phương pháp phải theo để tới đạt sự hiệp thông đầy đủ giữa Giáo hội Công giáo và Giáo hội Chính thống, vấn đề vốn thường là chướng ngại trong tương quan giữa Công giáo và Chính thống giáo. Ủy ban đã đưa ra những căn bản giáo lý để tích cực giải quyêt vấn đề, dựa trên giáo lý của hai Giáo hội chị em. Cũng trong bối cảnh ấy, thật rõ ràng phương pháp phải theo để đi tới hiệp thông đầy đủ là đối thoại chân lý, được nuôi dưỡng và nâng đỡ bằng đối thoại bác ái. Luật pháp chấp nhận cho các Giáo hội Công giáo Đông phương được tự tổ chức và điều khiển việc tông đồ, cũng như việc dấn thân hữu hiệu của các Giáo hội này trong việc đối thoại bác ái và đối thoại thần học, sẽ cổ võ không những cho sự trọng kính huynh đệ giữa những người Chính thống và người Công giáo cùng sống trên một lãnh thổ, mà còn cổ võ hoạt động chung để kiếm tìm hiệp nhất (99). Một tiến bộ đã đạt được. Hoạt động cần phải được tiếp tục. Tuy nhiên ngay từ bây giờ, ta có thể nhận định các tâm trí đã được an bình sẽ giúp cho việc kiếm tìm có hiệu quả hơn.
Về những Giáo hội Đông phương thông hiệp với Giáo hội Công giáo, Công đồng đã đánh giá như sau : “Tạ ơn Thiên Chúa vì nhiều tín hữu Đông phương, con cái của Giáo hội Công giáo đang sống hiệp thông đầy đủ với các anh em thuộc truyền thống Tây phương, Thánh Công đồng tuyên bố rằng : toàn bộ di sản tu đức và phụng vụ, kỷ luật và thần học trong những truyền thống khác nhau, đều thuộc về đặc tính Công giáo và Tông truyền trọn vẹn của Giáo hội” (100). Trong tinh thần của sắc lệnh về đại kết, các Giáo phụ Đông phương Công giáo chắc chắn sẽ tham gia tích cực vào cuộc đối thoại bác ái và thần học, ở cấp bậc địa phương cũng như ở cấp bậc toàn cầu, góp phần hiểu biết nhau và năng động tìm kiếm sự hiệp nhất đầy đủ (101).
- Trong viễn ảnh này, Giáo hội Công giáo không mong muốn gì khác hơn là sự thông hiệp đầy đủ giữa Đông phương và Tây phương. Trong việc này, Giáo hội Công giáo dựa theo kinh nghiệm của ngàn năm thứ nhất. Trong thời kỳ ấy, “sự phát triển các kinh nghiệm khác nhau về đời sống giáo hội không ngăn trở những người Kitô hữu, qua những quan hệ hỗ tương, được vững tâm cảm thấy ở nhà mình dù là trong bất kỳ Giáo hội nào, bởi vì từ tất cả các Giáo hội, dù ngôn ngữ, âm điệu rất khác nhau, nhưng vẫn dâng lời ca ngợi Chúa Cha duy nhất, nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần : tất cả các Giáo hội đều xum họp cử hành bí tích Thánh Thể, là trái tim, là khuôn mẫu cho Cộng đoàn, không những trong điều thuộc tu đức, hay đời sống luân lý, mà còn trong cơ chế Giáo hội, trong sự khác biệt về những tác vụ và những kiểu phục vụ, dưới quyền chủ tọa của Đức Giám mục, kế vị các Tông đồ. Những Công đồng đầu tiên đã tạo nên một chứng từ hùng hồn về sự hiệp nhất bền chặt trong dị biệt” (102). Làm sao tái lập sự hiệp nhất này sau một ngàn năm trôi qua ? Đó là nghĩa vụ lớn lao mà Giáo hội Công giáo phải hoàn thành và nghĩa vụ ấy cũng thuộc về Giáo hội Chính thống nữa. Từ đó, ta mới hiểu tất cả tính thời sự của đối thoại, được ánh sáng và quyền năng Chúa Thánh Thần nâng đỡ.
NHỮNG TƯƠNG QUAN VỚI CÁC GIÁO HỘI KỲ CỰU ĐÔNG PHƯƠNG
- Từ Công đồng Vatican II, dưới nhiều hình thức và với một nhịp độ khác nhau, Giáo hội Công giáo đã nối lại những tương quan với anh em các Giáo hội kỳ cựu Đông phương từng chống lại các định thức tín lý của Công đồng Êphêsô và Chalcedônia. Tất cả các Giáo hội này đã gửi những quan sát viên đại diện đến Công đồng Vatican II : những vị Thượng phụ của các Giáo hội ấy đã trân trọng thăm viếng chúng tôi và Giám mục Rôma đã có thể nói chuyện với các vị ấy như với những người anh em, sau thời gian dài xa cách, đã vui vẻ gặp lại nhau.
Việc tái lập những quan hệ anh em với các Giáo hội kỳ cựu Đông phương, nhân chứng của đức tin Kitô giáo trong những hoàn cảnh thường thù địch và bi thảm, là một dấu chỉ cụ thể của cách thức Chúa Kitô qui tụ chúng ta, mặc dù còn những rào cản về mặt lịch sử, chính trị, xã hội và văn hóa. Và chính về vấn đề Kitô học mà ta có thể tuyên bố với các Đức Thượng phụ của một số Giáo hội ấy lòng tin chung của ta vào Chúa Giêsu Kitô, là Thiên Chúa thật và là người thật. Đức Phaolô VI đáng kính nhớ đã ký các tuyên ngôn theo chiều hướng ấy, cùng với Đức Shenouda III Giáo chủ và Thượng phụ Chính thống Copte (103) và với Đức Thượng phụ Chính thống Syria tại Antiochia, Đức Giacob III (104). Chính ta đã có thể khẳng định sự hòa hợp về Kitô học và rút ra những kết luận, để theo đuổi cuộc đối thoại với Đức Thượng phu Shenouda (105) và việc hợp tác mục vụ với Đức Thượng phụ Syria tại Antiochia, Đức Mar Ignatio Zakka Ier Iwas (107).
Cùng với Đức Thượng phụ đáng kính của Giáo hội Ethiopia, Abouna Paulos, khi ngài tới thăm viếng tôi tại Rôma ngày 11 tháng 6 năm 1993, chúng tôi đã nhấn mạnh sự hiệp thông sâu xa vẫn có giữa hai Giáo hội : “Chúng ta cùng chia sẻ một đức tin đến từ các Tông đồ, cùng những bí tích và cùng một thừa tác bén rễ sâu trong việc kế vị các Tông đồ. Quả vậy, hôm nay chúng ta có thể khẳng định chúng ta có cùng một đức tin vào Chúa Kitô, mà trong thời gian lâu dài, đức tin ấy đã là nguyên nhân chia rẽ giữa chúng ta” (107).
Gần đây hơn, Chúa đã cho tôi niềm vui lớn lao được ký một tuyên ngôn chung về Kitô học với Đức Thượng phụ Assyria ở Đông phương, Đức Mar Dinkha VI, vì việc này ngài đã đến Rôma thăm viếng tôi vào tháng 11 năm 1994. Quan tâm đến những khác biệt về định thức thần học, chúng tôi đã có thể cùng nhau tuyên xưng một đức tin vào Chúa Kitô (108). Tôi muốn nói lên niềm vui mà những việc ấy mang lại cho tôi, bằng cách mượn lời Đức Trinh Nữ : “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa” (Lc 1,46).
- Còn những tranh luận truyền thống về Kitô học, những cuộc tiếp xúc đại kết đã đem lại những soi sáng thiết yếu, làm cho ta cùng tuyên xưng đức tin vốn là đức tin chung của chúng ta. Một lần nữa, ta phải nhận định rằng sự hiểu biết quan trọng này chắc chắn là một thành quả của việc nghiên cứu thần học và đối thoại huynh đệ. Và còn nữa : chúng ta tìm được nơi đây niềm phấn khởi vì ta thấy rằng con đương đã đi là con đường tốt và ta có thể có hy vọng cách hợp lý cùng tìm ra một giải đáp cho những vấn đề khác đã được tranh luận.
ĐỐI THOẠI VỚI CÁC GIÁO HỘI KHÁC VÀ CÁC CỘNG ĐOÀN GIÁO HỘI TÂY PHƯƠNG
- Trong phạm vi rộng lớn của việc tái lập hiệp nhất giữa các Kitô hữu, sắc lệnh về đại kết cũng xem xét những tương quan với các Giáo hội và các Công đoàn Giáo hội Tây phương. Ước mong xây dựng một bầu khí huynh đệ Kitô hữu và đối thoại, Công đồng đặt ra những chỉ dẫn trong khuôn khổ hai ý kiến tổng quát, một mang tính cách lịch sử và tâm lý, còn một mang tính thần học và giáo lý. Một mặt văn kiện nhấn mạnh : “Các Giáo hội và các Cộng đoàn Giáo hội đã ly khai với Tông Tòa Rôma, trong thời khủng hoảng trầm trọng nhất, phát sinh ở Tây phương từ cuối thời Trung cổ hoặc mãi sau này, vẫn còn liên kết với Giáo hội Công giáo bằng một mối dây thân thích và những liên hệ đặc biệt, vì lớp dân Kitô giáo ấy đã sống hiệp thông với Giáo hội rất lâu trong những thế kỷ trước” (109). Đàng khác, người ta cũng nghiệm thấy một cách chân thực như thế : “Phải nhìn nhận rằng có nhiều khác biệt quan trọng một bên là giữa các Giáo hội và các Cộng đồng ấy với nhau, còn một bên là với Giáo hội Công giáo, chẳng những về phương diện lịch sử, xã hội, tâm lý và văn hóa, mà nhất là về cách giải thích chân lý mạc khải” (110).
- Mặc dầu có những khác biệt, những cội rễ chung, chính là những yếu tố tương tự đã định hướng ở Tây phương sự phát triển của Giáo hội Công giáo và của các Giáo hội cũng như các Cộng đoàn xuất phát từ Phong trào Cải cách. Vì thế, các Giáo hội này mang đặc tính Tây phương chung. Các “bất đồng” kể trên, mặc dầu có tầm quan trọng, vẫn không loại trừ những ảnh hưởng lẫn nhau, cũng như tính cách bổ túc cho nhau.
Phong trào đại kết đã khởi đầu trong các Giáo hội và các Cộng đoàn của Phong trào Cải cách. Đồng thời, ngay từ tháng giêng năm 1920, Tòa Thượng phụ đại kết đã ước mong tổ chức một sự hợp tác giữa các giáo phái Kitô. Sự kiện này chứng tỏ rằng nền tảng văn hóa không phải là điều quyết định. Trái lại điều chính yếu là vấn đề đức tin. Lời cầu nguyện của Chúa Kitô, Đức Chúa duy nhất của chúng ta, Đấng Cứu chuộc và Thầy dạy, nói với mọi người cùng một cách thức, ở Đông phương cũng như ở Tây phương. Lời cầu nguyện ấy trở thành một mệnh lệnh đòi hỏi ta phải bỏ đi mọi chia rẽ để tìm kiếm và gặp lại được sự hiệp nhất.
- Công đồng Vatican II không chủ ý “mô tả” Kitô giáo sau thời kỳ cải cách, vì “các Giáo hội và các Cộng đoàn giáo hội ấy chẳng những khác biệt đáng kể với chúng ta, mà còn khác biệt với nhau nữa”, và như thế là vì sự dị biệt nguồn gốc, giáo lý và đời sống tu đức” (111). Hơn nữa, Sắc lệnh ấy còn nhận thấy rằng phong trào đại kết và “ước muốn hòa bình với Giáo hội Công giáo chưa được đề cao khắp nơi” (112). Nhưng dẫu thế, Công đồng vẫn đề nghị đối thoại.
Sắc lệnh công đồng tìm cách “nhấn mạnh một vài điểm có thể và phải là nền tảng và yếu tố thúc đẩy cuộc đối thoại ấy” (113). “Chúng tôi đặc biệt nghĩ đến những Kitô hữu đang công khai tuyên xưng Chúa Kitô là Chúa và là Thiên Chúa, Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, để làm vinh danh Thiên Chúa duy nhất, là Cha, Con và Thánh Thần” (114).
Những anh em này tỏ ra yêu mến và tôn kính nhiều đối với Thánh Kinh : “Nhờ cầu khẩn Thánh Thần, họ tìm kiếm Thiên Chúa ngay trong Thánh Kinh, như Đấng nói với họ trong Chúa Kitô mà các tiên tri đã loan báo trước và là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể vì chúng ta. Trong Kinh Thánh, họ chiêm ngưỡng cuộc đời Chúa Kitô và những gì Thầy chí thánh đã dạy và đã làm để cứu rỗi loài người, nhất là mầu nhiệm sự chết và phục sinh của Ngài…” “Họ xác nhận thế giá Thiên Chúa của Sách Thánh” (115).
Nhưng đồng thời, “họ suy nghĩ khác chúng ta về sự liên quan giữa Thánh Kinh và Giáo hội; theo đức tin công giáo, trong Giáo hội Huấn quyền đích thực nắm giữ một vai trò đặc biệt cho việc giải thích và rao giảng Lời Chúa đã được ghi chép” (116). Dầu vậy, “trong việc đối thoại, Lời Chúa vẫn là dụng cụ tuyệt hảo mà bàn tay toàn năng của Thiên Chúa dùng để đạt tới sự hiệp nhất mà Đấng Cứu Thề tỏ bày cho mọi người” (117).
Hơn nữa, bí tích Thanh tẩy chung cho chúng ta diễn tả “mối dây hiệp nhất của tất cả những người được tái sinh” (118). Những liên hệ về thần học, mục vụ và đại kết trong bí tích Rửa tội chung, thật nhiều và quan trọng. Mặc dù bí tích này “mới chỉ là bắt đầu và khởi điểm”, nhưng đã “qui hướng về việc trọn vẹn tuyên xưng đức tin, trọn vẹn sát nhập vào nhiệm cục cứu rồi như chính Chúa Kitô đã muốn, và sau cùng trọn vẹn kết nhập vào sự hiệp thông Thánh thể” (119).
- Vào thời điểm cải cách, những khác biệt về giáo lý và lịch sử đã làm phát sinh những khác biệt về Giáo hội, các bí tích và thừa tác vụ. Vì vậy, Công đồng đòi hỏi “phải dùng giáo lý về Tiệc Thánh của Chúa, về các bí tích, về phụng tự cũng như về các thừa tác vụ của Giáo hội, làm đối tượng cho cuộc đối thoại” (120).
Sắc lệnh Unitatis redintegratio nêu lên rằng những Cộng đoàn phát xuất từ phong trào Cải cách “không hiệp nhất đầy đủ với chúng ta như phép Rửa tội đòi hỏi” và nhận xét rằng “vì thiếu bí tích Truyền chức, họ không còn giữ được bản chất đích thực và nguyên vẹn của mầu nhiệm Thánh Thể”, mặc dù “trong Tiệc Thánh, họ tưởng niệm sự chết và phục sinh của Chúa, họ tuyên xưng rằng sự sống chỉ có ý nghĩa nhờ hiệp thông với Chúa Kitô và họ mong đợi ngày trở lại vinh quang của Ngài” (121).
- Sắc lệnh không quên đời sống tu đức cũng như những kết luận về luân lý : “Đời sống Kitô hữu của các anh em ấy được nuôi dưỡng bằng đức tin vào Chúa Kitô, được duy trì bằng ân sủng của bí tích Rửa tội và nhờ nghe Lời Chúa. Đời sống ấy biểu lộ trong kinh nguyện riêng, trong việc suy niệm Thánh Kinh, trong đời sống gia đình Kitô giáo, trong việc phụng tự của Cộng đoàn tụ họp để ngợi khen Thiên Chúa. Lại nữa, việc phụng tự của họ, cũng thấy có những yếu tố nổi bật, thuộc nền phụng vụ cổ kính chung” (122).
Mặt khác, văn kiện công đồng không giới hạn ở những khía cạnh tu đức, luân lý và văn hóa, nhưng còn trân trọng ý thức mạnh mẽ về đức công bằng và tình bác ái chân thành đối với tha nhân vẫn có nơi những anh em ấy; văn kiện công đồng cũng không quên những sáng kiến mà họ thực hiện để làm cho những hoàn cảnh xã hội của cuộc sống được nên nhân đạo hơn và để tái lập nền hòa bình. Tất cả những việc ấy được thực hiện với ý muốn chân thành gắn bó với Lời Chúa Kitô như nguồn mạch đời sống Kitô giáo.
Như thế, bản văn làm nổi bật một vấn đề, trong lãnh vực đạo đức và luân lý, luôn trở nên cấp bách trong thời đại ta : “Có nhiều Kitô hữu không luôn hiểu Tin mừng cùng một cách như người Công giáo” (123). Trong lãnh vực rộng lớn này, có nhiều khả năng đối thoại về những nguyên tắc luân lý của Tin mừng và về việc áp dụng những nguyên tắc ấy.
- Những ước mong và lời mời gọi của Công đồng Vatican II đã được đón nhận, và dần dần, ta thấy mở ra cuộc đối thoại thần học song phương giữa các Giáo hội khác nhau và các Cộng đoàn Kitô giáo trong thế giới Tây phương.
Đàng khác, để đối thoại đa phương, ngay từ năm 1964 một “Nhóm làm việc hỗn hợp” được thành lập cùng với Hội đồng Đại kết của các Giáo hội và, từ năm 1968, những nhà thần học công giáo đã đến tham dự, như những thành viên tòan phần, tại Phân bộ Thần học của Hội đồng, là Ủy ban “Đức tin và Quy chế”.
Cuộc đối thoại đã và vẫn còn phong phú, nhiều hứa hẹn. Những chủ đề do sắc lệnh Công đồng đưa ra như tài liệu đối thoại, đã được đề cập hay chẳng bao lâu nữa cũng sẽ được đề cập tới. Trong những cuộc đối thoại song phương khác, việc suy tư diễn tiến một cách hăng hái đáng được các Cộng đoàn đại kết khen ngợi, đã tập trung vào nhiều vấn đề được tranh luận, như bí tích Rửa tội, bí tích Thánh Thể, bí tích Truyền chức, tính cách bí tích và thẩm quyền của Giáo hội, sự kế vị các Tông đồ. Như vậy người ta đã phác họa những viễn ảnh không hy vọng được được giải quyết, đồng thời người ta đã hiểu cần bàn luận một số điểm cách sâu xa hơn.
- Việc nghiên cứu, khó khăn và tế nhị, liên quan đến những vấn đề đức tin và sự tôn trọng lương tâm mỗi người, đã được kèm theo và nâng đỡ bằng lời cầu nguyện của Giáo hội Công giáo và của các Giáo hội khác cũng như của các Cộng đoàn giáo hội. Lời cầu nguyện cho hiệp nhất, đã ăn sâu và lan tỏa trong tổ chức Giáo hội, chứng tỏ rằng người Kitô hữu nào cũng quan tâm tới tầm mức quan trọng của vấn đề đại kết. Việc tìm kiếm sự hiệp nhất trọn vẹn đòi hỏi phải tranh luận về đức tin giữa những tín hữu dựa vào một Chúa duy nhất; vì thế, lời cầu nguyện là một suối nguồn ánh sáng soi chiếu trên chân lý cần được đón nhận toàn vẹn.
Hơn nữa, việc tìm về hiệp nhất không phải chỉ được phó mặc cho một nhóm chuyên viên, nhưng còn liên quan tới mọi người đã chịu phép Rửa tội, nhờ lời cầu nguyện. Tất cả, không phân biệt vai trò trong Giáo hội và trình độ văn hóa, đều có thể tích cực góp phần, một cách mầu nhiệm và sâu xa.
NHỮNG TƯƠNG QUAN GIÁO HỘI
- Cần phải tạ ơn Thiên Chúa quan phòng vì mọi biến cố chứng tỏ sự tiến bộ trên đường tìm kiếm hiệp nhất. Bên cạnh cuộc đối thoại thần học, người ta sẽ nói đến cách chính đáng những hình thức gặp gỡ khác, việc cầu nguyện chung và sự hợp tác trong thực hành. Đức Phaolô VI đã thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình này, bằng việc ngài viếng thăm trụ sở Hội đồng Đại kết các Giáo hội tại Genève, ngày 10 tháng 6 năm 1969, và nhiều cuộc gặp gỡ quan trọng với những đại diện các Giáo hội khác nhau và các Công đoàn giáo hội. Những tiếp xúc này góp phần đắc lực cho việc cải thiện sự hiểu biết lẫn nhau và làm tăng gia tình huynh đệ Kitô hữu.
Trong thời gian vắn vỏi trên ngôi giáo hoàng, Đức Gioan-Phaolô I đã biểu lộ ý muốn theo đuổi đường lối này (124). Chúa đã ban cho tôi được hoạt động theo chiều hướng ấy. Ngoài những lần gặp gỡ đại kết quan trọng tại Rôma, một phần đáng kể trong những cuộc thăm viếng mục vụ của tôi được cống hiến cho việc cổ võ sự hiệp nhất các Kitô hữu. Một số cuộc hành trình của tôi còn biểu lộ sự “ưu tiên” đại kết, nhất là trong những nước mà các Cộng đoàn công giáo chỉ là thiểu số, sánh với những giáo phái phát sinh từ phong trào Cải cách, hoặc trong những nước mà các giáo phái này chiếm phần lớn trong các tín hữu Chúa Kitô.
- Việc đó đáng kể nhất là đối với các nước châu Âu, nơi phát sinh những chia rẽ, và đối với Bắc Mỹ. Về điểm này, không muốn đánh giá thấp những cuộc viếng thăm khác, nhưng phải quan tâm đặc biệt tới những lần viếng thăm trên lục địa châu Âu, đã hai lần đưa tôi tới nước Đức, vào tháng 11 năm 1980 và tháng 4 tháng 5 năm 1987; cuộc viếng thăm tại Vương quốc Hiệp nhất (Anh, Scôtlen và xứ Galles) vào tháng 5 tháng 6 năm 1982; tại Thụy Sĩ vào tháng 6 năm 1984; tại các nước Scandinave và Bắc Âu (Phần Lan, Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch và Aixlen) vào tháng 6 năm 1989. Trong niềm hân hoan và trọng kính lẫn nhau, trong tình liên đới Kitô giáo và cầu nguyện, tôi đã gặp gỡ rất nhiều anh em, tất cả đều dấn thân tìm lại lòng trung thành với Phúc âm. Đối với tôi, nhận định này là một nguồn khích lệ lớn. Chúng tôi đã có kinh nghiệm về sự hiện diện của Chúa giữa chúng tôi.
Về việc này, tôi xin nhắc lại một thái độ được đức ái huynh đệ nhắc bảo và mang dấu ấn một đức tin thật sáng suốt mà tôi được sống cách đặc biệt mạnh mẽ. Tôi nghĩ tới những Thánh lễ mà tôi chủ tế tại Phần Lan và Thụy Điển, trong dịp viếng thăm các nước Bắc Âu và Scandinave. Lúc hiệp lễ, các Giám mục Luther đã đến trước chủ tế. Các ngài đã muốn dùng một cử chỉ được thỏa thuận chung, bày tỏ lòng mong ước tới lúc chúng ta, Công giáo cũng như Tin lành Luther, có thể chia sẻ cùng một Thánh Thể, và các ngài đã muốn nhận phép lành của chủ tế. Với tình thương mến tôi đã chúc lành cho các ngài. Cũng một cử chỉ mang rất nhiều ý nghĩa ấy, được lặp lại tại Rôma, trong Thánh lễ do tôi chủ tế tại công truờng Farnèse, vào dịp kỷ niệm sáu trăm năm tuyên phong thánh nữ Brigitta, ngày 6 tháng 10 năm 1991.
Tôi có thể nhận ra những tình cảm tương tự ở bên kia Đại Tây dương, tại Canada vào tháng 9 năm 1984; và đặc biệt vào tháng 9 năm 1987 tại Hoa Kỳ, nơi đã rộng mở cho đại kết. Chẳng hạn, cuộc gặp gỡ đại kết ngày 11 tháng 9 năm 1987 tại Columbia, ở phía nam Carolina. Tự bản chất, thật là quan trọng khi những cuộc gặp gỡ giữa các anh em từ Giáo hội Cải cách và vị Giáo hoàng xảy ra đều đặn. Tôi rất biết ơn các anh em ấy vì họ đã đón tiếp tôi rất thân mật, vì họ là những vị hữu trách trong các Cộng đoàn khác nhau hay trong các Cộng đoàn hợp nhất với nhau. Từ quan điểm này, tôi nhận thấy thật ý nghĩa việc cử hành đại kết Lời Chúa diễn ra tại Columbia với chủ đề về gia đình.
- Còn một lý do làm cho rất vui mừng là nhận thấy, trong thời kỳ sau công đồng và trong từng Giáo hội địa phương, để cổ võ sự hiệp nhất Kitô hữu, đã có nhiều sáng kiến và hoạt động của các Hội đồng Giám mục, các giáo phận, các cộng đoàn giáo xứ, cũng như những đoàn thể và những phong trào khác trong Giáo hội.
NHỮNG HỢP TÁC ĐÃ THỰC HIỆN
- “Không phải cứ kêu với Ta : Lạy Chúa, lạy Chúa, là người ta được vào Nước Trời; mà chỉ những ai thi hành thánh ý Cha Ta” (Mt 7,21). Sự gắn bó và lòng thành thật của những ý định và xác quyết về nguyên tắc được minh chứng khi áp dụng vào đời sống cụ thể. Sắc lệnh Công đồng về đại kết giúp nhận thấy rằng nơi các anh em Kitô hữu khác, “đức tin vào Chúa Kitô làm trổ sinh những hoa trái gồm những lời ngợi khen và cảm tạ vì các ơn đã lãnh nhận từ Thiên Chúa; thêm vào đó là một ý thức mạnh mẽ về đức công bằng và tình yêu chân thành đối với tha nhân” (125).
Những nhận định vừa phác họa trên đây là một vùng đất phì nhiêu không những cho đối thoại mà còn cho hợp tác tích cực : “đức tin sống động cũng đã làm phát sinh nhiều tổ chức nhằm xoa dịu sự cùng khổ về tinh thần và thể xác, giáo dục giới trẻ, cải tiến những hoàn cảnh xã hội của cuộc sống thành nhân đạo hơn và củng cố nền hòa bình thế giới” (126).
Đời sống xã hội và văn hóa mang lại một lãnh vực rộng lớn để hợp tác đại kết. Các Kitô hữu càng năng gặp nhau hơn để bảo vệ nhân phẩm, để phát huy lợi ích của hòa bình, áp dụng Tin mừng vào lãnh vực xã hội, để làm cho tinh thần Kitô giáo hiện diện trong khoa học và nghệ thuật. Họ càng gặp nhau nhiều hơn, khi phải đến giúp đỡ những người cùng khổ và mang phương dược chữa lành những nỗi thống khổ cùa thời đại, là nạn đói, thiên tai và bất công xã hội.
- Đối với các Kitô hữu, sự hợp tác này được cảm hứng từ chính Tin mừng, không bao giờ chỉ thuần túy là một hành động nhân đạo. Nó có lý do tồn tại từ Lời Chúa : “Ta đói, các con đã cho ăn” (Mt 25,35). Như tôi đã nhấn mạnh, sự hợp tác của các Kitô hữu biểu lộ rõ ràng mức độ hiệp thông đã sẵn có nơi họ (127).
Dưới mắt thế gian, hoạt động hợp tác của các Kitô hữu trong xã hội mang một giá trị phản ánh chứng từ Kitô giáo được cùng nhau thực hiện nhân danh Chúa. Nó cũng mang chiều kích loan báo Tin mừng vì bày tỏ khuôn mặt Chúa Kitô.
Sự tồn tại những bất đồng về giáo lý đã giới hạn sự hợp tác và ảnh hưởng cách tiêu cực tới họat động hợp tác. Sự hiệp thông đức tin từng có nơi các Kitô hữu mang lại một căn bản vững chắc không những cho hoạt động hợp tác trong phạm vi xã hội, mà còn trong lãnh vực tôn giáo nữa.
Sự hợp tác này sẽ làm cho việc tìm về hiệp nhất được dễ dàng. Sắc lệnh về đại kết lưu ý rằng nhờ hợp tác “những người tin vào Chúa Kitô có thể dễ dàng học biết cách tìm hiểu nhau hơn, tôn trọng nhau hơn và dọn đường đi tới sự hiệp nhất các Kitô hữu” (128).
- Trong bối cảnh này, làm sao lại không nhắc tới lợi ích đại kết đối với hòa bình được biểu lộ trong cầu nguyện và hoạt động, với sự tham gia ngày càng đông các Kitô hữu và một lý do thần học ngày càng sâu xa hơn ? Không thể làm khác được. Chúng ta chẳng tin kính Chúa Giêsu Kitô, Vị Hoàng Tử Hòa Bình hay sao ? Các Kitô hữu ngày càng hiệp nhất hơn để chối từ bạo lực, mọi hình thức bạo lực, từ chiến tranh đến bất công xã hội.
Chúng ta được gọi dấn thân ngày càng tích cực, để chứng tỏ những lý do tôn giáo không phải là nguyên nhân thực sự của các xung đột hiện đang xảy ra, đau đớn thay vẫn không loại trừ được nguy cơ bị lợi dụng cho những mục đích chính trị và tranh luận.
Năm 1986, tại Assisi, trong Ngày Quốc tế cầu nguyện cho Hòa bình, những Kitô hữu thuộc các Giáo hội khác nhau và các Cộng đoàn giáo hội đã đồng thanh kêu cầu Chúa của lịch sử ban hòa bình cho thế giới. Trong ngày ấy, những người Do Thái và đại diện các tôn giáo ngoài Kitô giáo cũng đồng thời cầu nguyện cho hòa bình một cách khác, trong sự kết hợp các tâm tình từng làm rung động những sợi dây nhạy cảm nhất của tâm trí con người. Tôi không quên được Ngày cầu nguyện cho Hòa bình tại châu Âu và đặc biệt trong vùng Balkan đã đưa tôi đi hành hương trong thành của thánh Phanxicô ngày 9 và 10 tháng 01 năm 1993, cũng không quên được Thánh lễ cầu Hòa bình cho vùng Balkan và cách riêng cho Bosnia-Herzegovenia, mà tôi chủ tế ngày 23 tháng 01 năm 1994 tại Vương cung Thánh đường thánh Phêrô, trong khuôn khổ Tuần lễ cầu cho Hiệp nhất các Kitô hữu.
Khi đưa mắt nhìn khắp thế giới, một niềm hân hoan tràn ngập tâm hồn chúng ta. Thực vậy, chúng ta nhìn nhận người Kitô hữu ngày càng cảm thấy bị tra hỏi hơn về vấn đề hòa bình. Họ coi hòa bình như được gắn liền với việc rao giảng Tin mừng và việc Nước Thiên Chúa trị đế
CHƯƠNG III QUANTA EST NOBIS VIA ? QUÃNG ĐƯỜNG CÒN PHẢI VƯỢT QUA THEO ĐUỔI VÀ TĂNG CƯỜNG ĐỐI THOẠI
- Bây giờ chúng ta có thể tự hỏi còn bao xa quãng đường ngăn cách chúng ta với ngày hồng phúc đạt tới sự hiệp nhất đầy đủ trong đức tin, hầu có thể cùng một lòng cử hành bí tích Thánh Thể của Chúa. Những tiến bộ đạt được trong việc hiểu biết lẫn nhau và trong những điểm chung về giáo lý đưa tới hậu quả là việc hiệp thông càng sâu xa về tình cảm và hữu hiệu; nhưng những tiến bộ ấy không thể thỏa mãn lương tâm những Kitô hữu đang tuyên xưng Giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Mục đích sau cùng của phong trào đại kết là tái lập trọn vẹn sự hiệp nhất hữu hình của tất cả những người đã lãnh nhận bí tích Rửa tội.
Liên quan với mục đích này, các kết quả đạt được cho tới nay mới chỉ là một chặng đường, tuy có tích cực và nhiều hứa hẹn.
- Trong phong trào đại kết, Giáo hội Công giáo không đơn độc, nhưng cùng với các Giáo hội Chính thống đạt tới quan niệm hiệp nhất phải có như Chúa mong muốn. Khuynh hướng nhắm tới sự hiệp nhất này cũng được bộc lộ nơi các Giáo hội khác (129).
Phong trào đại kết thừa nhận các Cộng đoàn Kitô giáo phải giúp đỡ nhau để làm cho mình thực sự có được tất cả nội dung và mọi đòi hỏi của “di sản các Tông đồ đã để lại” (130). Nếu không thì chẳng bao giờ có thể đạt tới hiệp nhất đầy đủ. Sự nâng đỡ lẫn nhau trong khi tìm kiếm chân lý là một hình thức cao cả nhất của đức ái Tin mừng.
Việc tìm kiếm chân lý được biểu lộ trong những văn kiện khác nhau của nhiều Ủy ban hỗn hợp quốc tế về đối thoại. Trong những bản văn này, có vấn đề bí tích Rửa tội, bí tích Mình Thánh, thừa tác vụ và quyền bính, khởi đi từ một hiệp nhất căn bản nào đó về giáo lý.
Từ sự hiệp nhất căn bản, nhưng từng phần này, bây giờ phải tiến tới một hiệp nhất hữu hình cần thiết và đầy đủ, được ghi khắc trong thực tại cụ thể, để các Giáo hội thực hiện đúng dấu chỉ hiệp nhất trọn vẹn trong Giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền, được biểu lộ qua việc cùng cử hành bí tích Thánh Thể.
Con đường đi tới hiệp nhất hữu hình cần thiết và đầy đủ, trong mối hiệp thông của một Giáo hội duy nhất như Chúa Kitô mong muốn, còn đòi hỏi một việc làm kiên trì và can đảm. Khi làm việc này, không được đặt ra những bó buộc nào khác ngoài những điều cần thiết (Cv 15,28).
- Ngay từ bây giờ, có thể nhận rõ những chủ đề phải nghiên cứu để đạt tới một thỏa hiệp thực sự trong đức tin :
1- Những tương quan giữa Thánh Kinh, thẩm quyền tối cao trong đức tin, và Thánh Truyền, giải thích cần thiết đối với Lời Thiên Chúa.
2- Thánh Thể, bí tích Mình và Máu Chúa Kitô, lễ vật ngợi khen Chúa Cha, tưởng niệm hy tế và sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô, sự đổ tràn ơn thánh hóa của Chúa Thánh Thần.
3- Việc truyền chức, như một bí tích với ba tác vụ : giám mục, linh mục và phó tế.
4- Huấn quyền của Giáo hội, được trao cho Đức Thánh Cha và các Giám mục hiệp thông với ngài, được hiểu như trách nhiệm và quyền bính nhân danh Chúa Kitô, để giáo huấn và bảo vệ đức tin.
5- Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa và hình ảnh của Giáo hội, người Mẹ thiêng liêng đang chuyển cầu cho các môn đệ Chúa Kitô và cho toàn thể nhân loại.
Trong hành trình can đảm tiến về hiệp nhất, sự sáng suốt và khôn ngoan của đức tin đòi ta phải tránh đi thái độ hòa dịu sai lạc và coi thường các qui luật của Giáo hội (131). Ngược lại, sự sáng suốt và khôn ngoan ấy khuyên ta phải tránh xa sự thờ ơ trong việc dấn thân cho hiệp nhất, hơn nữa phải tránh xa sự chống đối theo thành kiến, hoặc bi quan nhìn mọi sự một cách tiêu cực.
Giữ một quan niệm về hợp nhất lưu tâm đến mọi đòi hỏi của chân lý mạc khải, điều đó không có nghĩa là phải hạn chế phong trào đại kết (132). Trái lại, điều đó có nghĩa là người ta không được chấp nhận những điều có vẻ như là những giải pháp mà không đi tới một điều chi bền bỉ hay vững chắc (133). Đòi hỏi của chân lý là phải đi tới cùng. Đấy chẳng phải là luật của Tin mừng đó sao ?
ĐÓN NHẬN NHỮNG THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
- Trong khi theo đuổi đối thoại về những chủ đề mới, hoặc mở rộng ở mức độ sâu xa hơn. Chúng ta có một nhiệm vụ mới phải chu toàn là đón nhận những thành quả đã đạt được cho tới nay. Không thể chỉ dừng lại ở những khẳng định của các Ủy ban song phương, nhưng phải trở thành một di sản chung. Để đạt tới điều này và để củng cố những mối dây hiệp thông, toàn thể dân Chúa cần phải cùng nhau thận trọng xem xét, bằng những cách thức khác nhau và chiếu theo những thẩm quyền khác nhau. Quả vậy, đây là những vấn đề thường liên quan đến đức tin và đòi hỏi một sự đồng ý chung, từ các vị Giám mục tới những tín hữu giáo dân, mọi người đã lãnh nhận ơn xức dầu của Chúa Thánh Thần (134). Cũng chính một Thánh Thần phù trợ Huấn quyền và gợi lên cảm thức về đức tin.
Nhằm tiếp nhận những thành quả của đối thoại, phải hướng dẫn một tiến trình phê phán rộng rãi và chính xác, để phân tích các thành quả, và nghiêm túc kiểm tra lại xem có phù hợp với truyền thống đức tin đã được đón nhận từ các Tông đồ và đã được sống trong Cộng đoàn các tín hữu qui tụ chung quanh Giám mục của mình, là mục tử hợp pháp.
- Tiến trình này, phải được hướng dẫn một cách khôn ngoan và trong thái độ đức tin, sẽ được Chúa Thánh Thần phù trợ. Để mang lại những thành quả tốt đẹp, cần phải phổ biến các kết luận một cách xứng hợp, do những vị có thẩm quyền. Những đóng góp mà các nhà thần học và các phân khoa thần học được mời gọi mang lại, bằng cách hoạt động theo ơn đoàn sủng của họ trong Giáo hội, có một tầm rất quan trọng. Hơn nữa, rõ ràng là các Ủy ban đại kết nắm giữ một vai trò và một trách nhiệm đặc biệt trong vấn đề này.
Tất cả tiến trình được các Giám mục và Tòa Thánh theo dõi và nâng đỡ. Trách nhiệm đưa ra một phán quyết định đoạt, thuộc về Huấn quyền.
Trong tất cả những điều ấy, chung cục rất hữu ích về mặt phương pháp luận, để phân biệt kho tàng đức tin và định thức mà kho tàng ấy được diễn tả, như Đức Gioan XXIII đã khuyến cáo trong diễn văn khai mạc Công đồng Vatican II (135).
TIẾP TỤC PHONG TRÀO ĐẠI KẾT THIÊNG LIÊNG VÀ LÀM CHỨNG CHO SỰ THÁNH THIỆN
- Người ta hiểu rằng sự quan trọng của việc dấn thân đại kết kêu mời các tín hữu công giáo phải đi vào chiều sâu. Chúa Thánh Thần mời gọi họ nghiêm túc kiểm điểm lương tâm. Giáo hội Công giáo phải thực hiện công việc mà người ta gọi là “đối thoại hoán cải”, được coi là nền tảng thiêng liêng của đối thoại đại kết. Trong cuộc đối thoại này, được diễn tiến trước mặt Thiên Chúa, mỗi người phải tìm ra những lầm lỗi của mình, thú nhận những sai trái của mình, và phó thác mình trong bàn tay Đấng bầu cử cho ta nơi Chúa Cha, là Chúa Giêsu Kitô.
Chắc chắn, sức mạnh cần thiết để dẫn đưa tới mục đích tốt đẹp của cuộc hành hương lâu dài và gian khổ của đại kết đã có trong mối liên hệ hoán cải với thánh ý Chúa Cha, và đồng thời trong mối liên hệ sám hối và tuyệt đối tin cậy vào sức mạnh hòa giải của Chân lý là Chúa Kitô. Việc “đối thọai hoán cải” của tất cả các Cộng đoàn về với Chúa Cha, không khoan nhượng với chính mình, là căn bản của những tương quan huynh đệ khác với một hòa hợp thân tình hay chung sống chỉ có tính cách bên ngoài. Những mối dây Koinônia (hiệp nhất) huynh đệ được thắt chặt trước mặt Thiên Chúa và trong Chúa Giêsu Kitô.
Chỉ một sự kiện đặt mình trước mặt Thiên Chúa cũng có thể mang lại một nền tảng vững chắc cho việc hoán cải của các Kitô hữu, và cho việc liên tục cải cách trong Giáo hội xét như là cơ chế cùng mang tính nhân loại và trần thế (136) : như vậy là thực hiện xong những điều kiện tiên quyết cho mọi hoạt động đại kết. Một trong những yếu tố thiết yếu của đối thoại đại kết là cố gắng đưa các Cộng đoàn Kitô hữu vào một không gian thiêng liêng hoàn toàn nội tâm, nơi Chúa Kitô, qua quyền năng Chúa Thánh Thần, sẽ gợi ý cho tất cả, không miễn trừ, phải xét mình trước mặt Chúa Cha, và phải tự hỏi xem mình có trung thành với ý định của Ngài về Giáo hội hay không.
- Tôi đã nói đến thánh ý Chúa Cha, đến không gian thiêng liêng mà mọi Cộng đoàn đều nghe được lời mời gọi phải vượt thắng những chướng ngại đối với hiệp nhất. Thực ra, tất cả các Cộng đoàn Kitô giáo đều biết rằng một đòi hỏi như thế, một sự vượt thắng như thế, nhờ sức mạnh do Chúa Thánh Thần trao ban, không quá tầm mức của họ đâu. Vì thế, tất cả các Cộng đoàn đều có những vị tử đạo vì đức tin Kitô giáo (137). Mặc dầu thảm cảnh chia rẽ, những anh em này vẫn giữ trong mình lòng gắn bó rất căn bản và tuyệt đối với Chúa Kitô và với Chúa Cha, đến nỗi họ có thể chấp nhận đổ máu. Nhưng, chẳng phải là chính sự gắn bó này đã dự phần vào việc mà tôi gọi là “đối thoại hoán cải” đó hay sao ? Chẳng phải là cuộc đối thoại này biểu lộ sự cần thiết phải đi tới cùng kinh nghiệm chân lý về sự hiệp nhất trọn vẹn đó hay sao ?
- Theo quan điểm qui về Thiên Chúa, Kitô hữu chúng ta đã có một Danh lục các vị Tử đạo chung. Danh lục ấy gồm cả những vị tử đạo của thế kỷ chúng ta, đông đảo hơn người ta có thể nghĩ tưởng, và về mặt chiều sâu, đã chứng tỏ Thiên Chúa vẫn duy trì nơi những người đã chịu phép Rửa tội mối hiệp thông trong sự đòi hỏi tuyệt đối của đức tin, được biểu lộ bằng việc hy sinh mạng sống (138). Nếu người ta có thể chết vì đức tin, điều đó chứng tỏ người ta có thể đi tới đích bằng những hình thức khác của cùng một đòi hỏi này. Tôi vui mừng nhận thấy sự hiệp thông vẫn được duy trì, tuy bất toàn nhưng có thực, và phát triển ở những mức độ khác nhau trong đời sống Giáo hội. Tôi nghĩ rằng sự hiệp thông đã hoàn hảo trong điều tất cả chúng ta coi như là đỉnh cao của đời sống ơn sủng, việc làm chứng (martyria) tới mức chịu chết, sự hiệp thông chân thực nhất với Chúa Kitô, Đấng đã đổ máu mình ra và, trong hy tế ấy, đã làm cho những người xưa kia vốn xa cách, nay xích lại gần với nhau (x Eph 2,13).
Đối với tất cả các Cộng đoàn Kitô giáo, nếu các vị tử đạo là bằng chứng của sức mạnh ơn sủng, thì các ngài vẫn không phải là những người duy nhất làm chứng cho sức mạnh ấy. Mặc dầu, một cách vô hình, sự hiệp thông tuy bất toàn trong các cộng đoàn chúng ta, nhưng quả thực đã được hàn gắn vững chắc nhờ sự hiệp thông đầy đủ của các thánh, tức là những vị, vào cuối cuộc đời trung kiên với ơn sủng, đã được thông hiệp với Chúa Kitô vinh quang. Các vị thánh này đã đến từ khắp các Giáo hội và các Cộng đoàn giáo hội, vì đã mở lối cho các ngài đi vào sự hiệp thông của ơn cứu độ.
Khi nói về một di sản chung, ta phải bao gồm trong đó, không chỉ các định chế, các nghi thức, các phương thế cứu độ, các truyền thống mà tất cả các Cộng đoàn vẫn bảo toàn, và qua đó các Cộng đoàn được hình thành, nhưng trước hết và trên tất cả phải bao gồm thực tại của sự thánh thiện (139).
Nhờ sự rạng ngời của “di sản các thánh” thuộc về tất cả các Cộng đoàn, cuộc “đối thoại hoán cải” hướng tới hiệp nhất đầy đủ và hữu hình đã xuất hiện trong ánh sáng của niềm hy vọng. Sự hiện diện của các thánh ở khắp nơi, quả thực, đã cho một bằng chứng về sức mạnh siêu việt của Chúa Thánh Thần. Sự hiện diện của các thánh là dấu chỉ và bằng chứng sự chiến thắng của Thiên Chúa trên những thế lực sự ác đang phân rẽ nhân loại. Như lời ca phụng vụ : “Khi tuyên dương công trạng các thánh, Thiên Chúa tuyên dương những ơn huệ Ngài đã ban” (140).
Khi ước muốn chân thành bước theo Chúa Kitôi, thì Chúa Thánh Thần thường đổ tràn ơn Ngài xuống, qua những nẻo đường khác với những đường nẻo thông thường. Kinh nghiệm đại kết giúp ta hiểu rõ điều ấy hơn. Trong không gian thiêng liêng nội tâm mà tôi đã diễn tả ở trên, nếu các Cộng đoàn biết thực sự “hoán cải”, tìm kiếm hiệp nhất đầy đủ và hữu hình, Thiên Chúa sẽ làm cho các Cộng đoàn ấy điều Ngài đã làm cho các thánh. Ngài sẽ vượt thắng những chướng ngại thừa hưởng từ dĩ vãng và sẽ dẫn đưa các Cộng đoàn ấy đi trên những nẻo đường, tới nơi Ngài muốn, đến Koinônia (hiệp nhất) hữu hình đồng thời còn là lời ngợi khen vinh quang của Ngài và sự phục vụ ý định cứu rỗi của Ngài.
- Trong lòng nhân hậu vô biên, Thiên Chúa luôn có thể rút ra một điều thiện hảo từ những hoàn cảnh đi ngược với ý định của Ngài, nên ta có thể khám phá ra rằng Chúa Thánh Thần đã từng dùng những đối đầu, trong một số hoàn cảnh, để làm sáng tỏ những mặt khác nhau của ơn gọi Kitô hữu, như đã xảy ra trong đời sống các thánh. Mặc dầu những phân ly, một sự dữ mà ta phải chữa trị, vẫn có một thứ hiệp thông vào sự phong phú của ơn sủng, dù sao cũng được thực hiện và làm tươi đẹp cho Koinônia (hiệp nhất). Ơn sủng của Thiên Chúa sẽ ở trong tất cả những ai noi gương các thánh, cố gắng đi theo những đòi hỏi của ơn sủng. Phần chúng ta, làm sao chúng ta lại ngần ngại trở về với những mong đợi đó của Cha ? Ngài ở với chúng ta.
PHẦN ĐÓNG GÓP CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VÀO VIỆC TÌM KIẾM HIỆP NHẤT CÁC KITÔ HỮU
- Trong điều khẳng định nền tảng, mà sắc lệnh Unitatis redintegratio lặp lại (141), Hiến chế Lumen Gentium đã viết : Giáo hội duy nhất của Chúa Kitô hiện diện trong Giáo hội Công giáo (142) . Sắc lệnh về đại kết nhấn mạnh Giáo hội Công giáo được sự sung mãn (Plenitudo) của các phương tiện cứu rỗi (143). Sự hiệp nhất đầy đủ sẽ được thực hiện, khi tất cả sẽ tham dự vào sự sung mãn của các phưong tiện cứu độ mà Chúa Kitô đã trao ban cho Giáo hội Ngài.
- Trên đường dẫn tới hiệp nhất trọn vẹn, đối thoại đại kết cố gắng tạo nên một sự nâng đỡ huynh đệ lẫn nhau, nhờ đó các Cộng đoàn quan tâm trao đổi cho nhau điều mỗi bên cần có, để phát triển theo ý định của Thiên Chúa hướng tới sự sung mãn trọn vẹn (x Eph 1,11-13). Tôi đã nói, với tư cách là Giáo hội Công giáo, chúng ta ý thức đã nhận lãnh nhiều chứng từ, những nghiên cứu và cả cách thức các Giáo hội khác và các Cộng đoàn đã nhấn mạnh và đã sống một số điều thiện hảo chung cho các Kitô hữu. Trong những tiến bộ đạt được suốt ba mươi năm qua, phải đặt vào vị trí cao ảnh hưởng huynh đệ hỗ tương này. Ở điểm chúng ta đã đạt tới (144), động lực làm phong phú cho nhau phải được nghiêm chỉnh cứu xét. Được đặt trên nền tảng hiệp thông đang có, nhờ những yếu tố giáo hội trong các Cộng đoàn Kitô giáo, động lực ấy sẽ không kém phần lôi cuốn tới hiệp thông đầy đủ và hữu hình, mục tiêu được mong ước trên bước đường chúng ta đang thực hiện. Đó là hình thức đại kết theo luật chia sẻ của Tin mừng. Điều này khiến tôi nhắc lại : “Trong mọi sự phải có nỗi ưu tư gặp được những gì các anh em Kitô hữu khác mong muốn và chờ đợi cách hợp pháp từ nơi chúng ta, bằng cách hiểu biết lối suy tư và sự nhạy cảm của họ. Phải làm cho những ân huệ nơi mỗi người được phát triển, vì lợi ích và thành công của tất cả “ (145).
TÁC VỤ HIỆP NHẤT CỦA GIÁM MỤC RÔMA
- Giữa tất cả các Giáo hội và các Cộng đoàn giáo hội, Giáo hội Công giáo ý thức mình đã duy trì tác vụ của người kế vị thánh Tông đồ Phêrô, Giám mục Rôma, mà Thiên Chúa đã đặt như “nguyên lý và nền tảng vĩnh cửa và hữu hình của hiệp nhất” (146) và được Chúa Thánh Thần phù trợ, để tất cả những người khác được hưởng điều thiện hảo thiết yếu này. Theo kiểu diễn tả tuyệt vời của Đức Gregoriô cả, sứ vụ của tôi là sứ vụ của Servus servorum Dei (Đầy tớ của các đầy tớ Thiên Chúa). Định nghĩa này là một bảo đảm tốt nhất chống lại nguy cơ tách rời quyền bính (và cách riêng quyền tối thượng) khỏi tác vụ, là điều nghịch lại với ý nghĩa về quyền bính theo Tin mừng. “Thầy ở giữa anh em như kẻ đang phục vụ” (Lc 22,27), Chúa Giêsu Kitô, Thủ lãnh Giáo hội đã nói như thế. Mặt khác, như tôi đã có dịp tuyên bố nhân cuộc gặp gỡ quan trọng tại Hội đồng đại kết các Giáo hội ở Genève, ngày 12 tháng 6 năm 1984, vì muốn trung thành với truyền thống tông đồ và đức tin của các giáo phụ, Giáo hội Công giáo xác tín mình đã duy trì dấu chỉ hữu hình và sự đảm bảo hiệp nhất trong tác vụ của Giám mục Rôma, nhưng xác tín ấy lại gây khó khăn cho phần lớn các Kitô hữu khác, mà ký ức vẫn còn lưu giữ một số những kỷ niệm đau thương. Về điều chúng ta phải chịu trách nhiệm, tôi xin được tha thứ, như vị tiền nhiệm của tôi là Đức Phaolô VI đã làm (147).
- Tuy nhiên, thật ý nghĩa và khích lệ, vấn đề quyền tối thượng của Giám mục Rôma hiện nay đã trở nên đối tượng đang được nghiên cứu hay được dự tính nghiên cứu; và cũng thật ý nghĩa và khích lệ, vấn đề này hiệm là chủ đề chính yếu không những chỉ trong những cuộc đối thoại thần học mà Giáo hội Công giáo theo đuổi với các Giáo hội khác và các Cộng đoàn giáo hội, mà còn tổng quát hơn trong toàn thể phong trào đại kết. Mới đây, các tham dự viên khóa năm Đại hội quốc tế của Ủy ban “Đức tin và Quy chế” của Hội đồng đại kết các Giáo hội, họp tại Saint-Jacques de Compostelle, các vị ấy đã yêu cầu Ủy ban “thực hiện một nghiên cứu mới về vấn đề tác vụ phổ quát của việc hiệp nhất Kitô hữu” (148). Sau nhiều thế kỷ tranh cãi quyết liệt, các Giáo hội khác và các Cộng đoàn giáo hội ngày càng xem xét đến tác vụ hiệp nhất này với một cái nhìn mới (149).
- Giám mục Rôma là Giám mục của Giáo hội mang dấu ấn bởi cuộc tử đạo của thánh Phêrô và thánh Phaolô : “Bởi ý định nhiệm mầu của Chúa quan phòng, chính tại Rôma mà ngài (thánh Phêrô) đã hoàn tất con đường bước theo Chúa Giêsu và ngài đã biểu lộ một bằng chứng lớn lao về tình yêu và lòng trung thành. Cũng chính tại Rôma, thánh Phaolô, vị Tông đồ các dân ngoại, nói lên một chứng từ tuyệt vời. Như thế, Giáo hội Rôma trở thành Giáo hội của Phêrô và của Phaolô” (150).
Trong Tân ước, con người Phêrô có một chỗ đứng trổi vượt. Trong phần thứ nhất của sách Công vu Tông đồ, ngài xuất hiện như vị thủ lãnh và như người phát ngôn của tông đồ đoàn, được nhận biết như là “Phêrô…và nhóm Mười Một” (Cv 2,14; x 2,37; 5,29). Vị trí dành cho Phêrô có nền tảng trên chính lời Chúa Kitô, như đã được gìn giữ trong các truyền thống Tin mừng.
- Tin mừng Matthêu diễn tả và xác định sứ mệnh mục tử của Phêrô trong Giáo hội : “này anh Simon con ông Giona, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy. Đấng ngự trên trời. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời : dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (16,17-19). Luca làm nổi bật lời Chúa Kitô căn dặn Phêrô phải củng cố anh em mình, nhưng đồng thời, Ngài cũng cho ông thấy tính yếu đuối con người và nhu cầu hóan cải của ông (x Lc 22,31-32). Như thế, từ sự yếu đuối nơi con người của Phêrô, rõ ràng cho thấy tác vụ đặc biệt của ông trong Giáo hội hoàn toàn là hiệu quả của ơn sủng; như thế, Thầy chí thánh đặc biệt lo cho ông trở lại, để chuẩn bị ông chu toàn nhiệm vụ Ngài sắp trao cho ông trong Giáo hội, và như thế, Ngài rất đòi hỏi ông. Chính vai trò của Phêrô, luôn gắn liền với lời khẳng định chân thực về sự yếu đuối của ông, được tìm thấy trong Phúc âm thứ bốn : “Simon, con của Gioan, anh có mến Thầy hơn những người này không ?…Hãy chăn dắt chiên mẹ của Thầy” (x Ga 21,15-19). Cũng thật ý nghĩa, theo thư thứ nhất của thánh Phaolô gửi cho giáo đoàn Corintô : Chúa Kitô phục sinh đã hiện ra trước hết với Cephas rồi với nhóm Mười Hai (x 1Cr 15,5).
Cần nhận xét rằng sự yếu đuối của Phêrô và của Phaolô chứng tỏ Giáo hội được thiết lập trên quyền năng vô cùng của ân sủng (x Mt 16,17; 2Cr 12,7-10). Ngay khi vừa được tấn phong, Phêrô đã bị quở trách khá nặng nề, hiếm thấy Chúa Kitô nghiêm khắc như vậy, Ngài nói : “Anh cản lối Thầy” (Mt 16,23). Làm sao lại không thấy được trong lòng thương xót của Chúa mà Phêrô cần đến, có một dây liên kết với tác vụ cũng từ lòng thương xót mà ông là người đầu tiên đã cảm nghiệm ? Dù thế, ông vẫn chối Chúa ba lần. Tin mừng Gioan cũng nhấn mạnh Phêrô lãnh trách nhiệm chăn dắt đoàn chiên khi trả lời bằng ba lần tuyên xưng lòng yêu mến (x Ga 21,15-17) tương ứng với ba lần chối Thầy (x Ga 13,38). Phần Luca, trong lời Chúa Kitô kể trên mà truyền thống đầu tiên đã ghi lại để xác định sứ mệnh của Phêrô, lại nhấn mạnh đến sự kiện ông phải củng cố anh em ông, khi đã trở lại (x Lc 23,31).
- Còn về Phaolô, ông có thể kết luận việc mô tả tác vụ của ông bằng một khẳng định gây ngỡ ngàng rằng tác vụ đã được trao ban cho ông từ môi miệng Chúa Kitô : “Ơn Thầy đã đủ cho con; vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối”, và sau đó, ông có thể kêu lên : “Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,9-10). Đó là một trong những đặc tính căn bản của kinh nghiệm Kitô giáo.
Thừa kế sứ mệnh của Phêrô trong Giáo hội, được nên phong phú nhờ máu của hai vị nổi bật nhất trong các Tông đồ, Giám mục Rôma thi hành tác vụ có nguồn gốc từ nhiều hình thức của lòng từ bi Thiên Chúa, lòng từ bi hoán cải các tâm hồn và thông ban sức mạnh ân sủng, ngay ở điểm người môn đệ nhận biết mùi vị cay đắng do sự yếu đuối và nỗi khốn khổ của mình. Quyền bính riêng của tác vụ này chỉ để phục vụ ý định từ bi của Thiên Chúa và luôn phải nhìn quyền bính ấy trong viễn ảnh trên. Quyền của Giám mục Rôma được giải thích theo ý nghĩa này.
- Dựa trên ba lần tuyên xưng lòng yêu mến của Phêrô, tương ứng với ba lần chối Chúa, người kế vị Phêrô cũng biết mình phải là dấu chỉ của lòng thương xót. Sứ vụ của ngài là sứ vụ của lòng thưong xót, phát xuất từ hành động thưong xót của Chúa Kitô. Phải luôn đọc lại tất cả bài học Tin mừng này để việc thi hành tác vụ của Phêrô không mất tính cách chân thực và sự trong sáng của nó.
Giáo hội của Thiên Chúa được Chúa Kitô mời gọi trình bày cho một thế giới, bị bao bọc bởi muôn vàn tội lỗi và các ý định xấu xa của mình, biết rằng, dù sao, Thiên Chúa vẫn có thể dùng lòng từ bi hoán cải mọi tâm hồn tìm về hiệp nhất và làm cho họ được hiệp thông với Ngài.
- Việc phục vụ cho hiệp nhất, bén rễ sâu trong công trình lòng thương xót của Thiên Chúa, được trao ban ngay trong nội bộ Giám mục đoàn, cho một trong số những người đã lãnh nhận một trách nhiệm từ Chúa Thánh Thần, không phải để thi hành quyền lực trên dân, như những vị thủ lãnh các quốc gia và những người làm lớn (x Mt 20,25; Mc 10,42), nhưng để hướng dẫn dân chúng ngõ hầu họ có thể tiến đến những đồng cỏ an bình. Nhiệm vụ này có thể đòi hỏi phải hiến dâng cả mạng sống mình (x Ga 10,11-18). Sau khi trình bày Chúa Giêsu là “Mục tử duy nhất, trong sự hiệp nhất với Ngài, tất cả đều nên một”, thánh Augustinô khuyên nhủ : “Mong sao tất cả các mục tử chỉ ở trong một mục tử duy nhất, các vị hãy làm cho người ta nghe thấy tiếng nói duy nhất của Mục tử; mong sao các con chiên nghe được tiếng Ngài; theo Mục tử của họ, không phải mục tử này mục tử kia, nhưng là Mục tử duy nhất. Và mong sao, trong Ngài, các mục tử làm cho người ta nghe được một tiếng nói duy nhất, chứ không phải là những tiếng nói lạc điệu. Tiếng nói ấy, được dẹp bỏ khỏi mọi chia rẽ, được tẩy sạch khỏi mọi lạc giáo, mong sao các con chiên đều được nghe!” (151). Ở giữa tập đoàn của mọi mục tử, sứ mệnh của Giám mục Rôma chính xác hệ tại việc “canh chừng” (episkopein), như người lính gác, làm sao cho người ta, nhờ các mục tử, nghe được tiếng nói chân thực của Chúa Kitô – Mục Tử trong mọi Giáo hội riêng biệt, Như vậy, Giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền được thể hiện trong từng Giáo hội riêng biệt và được trao phó cho các ngài. Tất cả mọi Giáo hội đều ở trong sự hiệp thông đầy đủ và hữu hình, vì các mục tử hiệp thông với Phêrô và như thế là hiệp nhất với Chúa Kitô.
Nhờ năng lực và quyền bính, bằng không thì chức vụ này chỉ là ảo tưởng, Giám mục Rôma phải bảo đảm sự hiệp thông của mọi Giáo hội. Với tước hiệu ấy, ngài là người thứ nhất trong các tôi tớ phục vụ hiệp nhất. Quyền tối thượng được thực thi ở những mức độ khác nhau liên quan tới sự lưu ý đến việc truyền thông Lời Chúa, trong việc cử hành bí tích và phụng vụ, trong công cuộc truyền giáo, đến kỷ luật, và đến đời sống Kitô hữu. Người kế vị thánh Phêrô phải nhớ tới những đòi hỏi ích lợi chung của Giáo hội, trong trường hợp có người bị cám dỗ bỏ qua công ích để tìm kiếm lợi lộc riêng tư, Ngài có bổn phận phải chỉ bảo, phải canh chừng và đôi khi phải tuyên bố ý kiến này hay ý kiến kia đang tràn lan là không phù hợp với sự hiệp nhất đức tin. Khi hoàn cảnh đòi hỏi, ngài phải lên tiếng nhân danh tất cả các mục tử hiệp thông với ngài – trong các điều kiện thực chính xác, do Công đồng Vatican I trình bày, ngài cũng có thể tuyên bố ex cathedra (do thượng giáo tòa) rằng một giáo lý nào đó là thuộc kho tàng đức tin (152). Làm chứng cho chân lý như vậy là ngài phục vụ hiệp nhất.
- Nhưng tất cả điều ấy phải luôn được thực hiện trong sự hiệp thông. Khi khẳng định rằng chức vụ Giám mục Rôma đáp ứng ý muốn của Chúa Kitô, Giáo hội Công giáo không tách biệt chức vụ này khỏi sứ mệnh được trao cho toàn thể các Giám mục vì các ngài cũng là những “đại diện và sứ giả của Chúa Kitô” (153). Giám mục Rôma cũng thuộc về “Giám mục đoàn” và các Giám mục là anh em của ngài trong sứ vụ.
Điều liên quan tới sự hiệp nhất các Cộng đoàn Kitô hữu rõ ràng đi vào khuôn khổ những trách nhiệm xuất phát từ quyền tối thượng. Với tư cách là Giám mục Rôma, ngài biết rõ và khẳng định lại trong thông điệp này ước muốn thiết tha của Chúa Kitô là sự hiệp thông đầy đủ và hữu hình giữa tất cả các Cộng đoàn trong đó Thần Trí Chúa ngự trị nhờ lòng trung thành của Thiên Chúa. Về mặt này tôi xác tín rằng tôi có trách nhiệm đặc biệt, nhất là khi tôi thấy khát vọng đại kết của phần lớn các Cộng đoàn Kitô giáo và khi tôi nghe được lời thỉnh cầu gửi đến tôi để tìm ra một phương thức thi hành quyền tối thượng mở rộng cho hoàn cảnh mới, nhưng không từ bỏ một điều chính yếu nào trong sứ mệnh của quyền năng ấy. Suốt một ngàn năm, các Kitô hữu “vẫn liên kết với nhau trong đức tin và đời sống bí tích nhờ sự hiệp thông huynh đệ; do sự thỏa thuận chung, Tòa thánh Rôma can thiệp, mỗi khi các Giáo hội ấy bất đồng quan điểm với nhau về đức tin hay về kỷ luật” (154). Như thế, quyền tối thượng được thi hành vì sự hiệp nhất. Trong khi đàm đạo với Đức Thượng phụ đại kết, Đức Dimitrios I, như đã nói, tôi ý thức “vì những lý do rất khác nhau, và trái ý muốn của những người này cũng như của những người kia, điều phải là việc phục vụ, thì lại biểu lộ dưới một thứ ánh sáng khác biệt. Nhưng, chính vì muốn thực sự vâng theo ý Chúa Kitô mà tôi nhận thấy mình được mời gọi, với tư cách Giám mục Rôma, để thực thi tác vụ này. Tôi cầu xin Chúa Thánh Thần thương ban cho chúng ta ánh sáng của Ngài và soi dẫn cho tất cả các mục tử cũng như các nhà thần học trong các Giáo hội, để chúng ta có thể tìm ra, dĩ nhiên là cùng nhau tìm ra, những cách thức tác vụ này có thể thực hiện một phục vụ trong tình thương được cả bên này lẫn bên kia cùng nhìn nhận” (155).
- Đây là một phận vụ to lớn mà chúng ta không thể từ bỏ và tôi không thể một mình đảm nhiệm tất cả được. Sự hiệp thông thực sự, dù còn bất toàn, đang có giữa tất cả chúng ta, lại chẳng có thể thúc đẩy những vị hữu trách và các nhà thần học trong Giáo hội, cùng tôi xây dựng một cuộc đối thoại huynh đệ và kiên trì về vấn đề này, trong đó ta có thể lắng nghe nhau, vượt qua mọi tranh cãi vô ích, ngõ hầu chỉ mang trong tâm trí ý muốn của Chúa Kitô đối với Giáo hội Ngài, hầu ta nghe được tiếng Ngài : “đề tất cả nên một…hầu cho thế gian tin rằng Cha đã sai Con” (Ga 17,21).
HIỆP THÔNG TẤT CẢ CÁC GIÁO HỘI RIÊNG BIỆT VỚI GIÁO HỘI RÔMA : ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ HIỆP NHẤT
- Giáo hội Công giáo, trong praxis (thực hành) cũng như trong các bản văn chính thức chủ trương rằng sự hiệp thông các Giáo hội riêng biệt với Giáo hội Rôma, hiệp thông các Giám mục của họ với Giám mục Rôma, theo ý định của Thiên Chúa, là điều kiện thiết yếu của sự thông hiệp đầy đủ và hữu hình. Thực vậy, phải làm sao cho sự hiệp thông đầy đủ, mà bí tích Thánh Thể là biểu hiện nhiệm tích tối cao, được bày tỏ một cách hữu hình trong một tác vụ nhờ đó các Giám mục hiệp nhất với nhau trong Chúa Kitô và cũng nhờ đó đức tin tất cả các tín hữu được củng cố. Phần thứ nhất trong sách Công vụ Tông đồ giới thiệu Phêrô như người nói nhân danh nhóm Tông đồ, và như người phục vụ sự hiệp nhất của cộng đoàn, mà vẫn tôn trọng quyền của Giacôbê, thủ lãnh Giáo đoàn Giêrusalem. Vai trò này của Phêrô vẫn cần thiết trong Giáo hội, để sự hiệp thông tất cả các môn đệ Ngài hiện diện một cách hữu hình trong thế giới dưới quyền một Thủ lãnh duy nhất là Chúa Giêsu Kitô.
Chẳng phải từ một sứ vụ thuộc loại này mà nhiều người dấn thân trong phong trào đại kết ngày nay đang nói lên sự cần thiết phải có đó sao ? Đứng đầu trong chân lý và tình yêu, để cho con thuyền – một biểu tượng đẹp mà Hội đồng hiệp nhất các Giáo hội đã chọn làm huy hiệu – không bị chao đảo vì bão tố và một ngày kia có thể cặp tới bến bờ.
HIỆP NHẤT TRỌN VẸN VÀ RAO GIẢNG TIN MỪNG
- Phong trào đại kết trong thế kỷ chúng ta, mang dấu ấn viễn ảnh thừa sai, hơn là những cố gắng của những thế kỷ trước, nhưng không vì thế mà đánh giá thấp tầm quan trọng. Một câu trong Tin mừng Gioan, đã là nguồn cảm hứng và tôn chỉ hành động cho ngài – “để họ nên một trong chúng ta…hầu cho thế gian tìn rằng Cha đã sai Con” (Ga 17,21) – người ta đã quá nhấn mạnh “hầu cho thế gian tin”, đến nỗi đôi khi quên rằng, trong tư tưởng của thánh sử, sự hiệp nhất chính là để vinh danh Chúa Cha. Hoàn toàn chắc chắn rằng sự chia rẽ giữa người Kitô hữu mâu thuẫn với chân lý họ có sứ mạng loan truyền, và làm cho chứng từ của họ bị biến chất trầm trọng. Vị tiền nhiệm của tôi, Đức Phaolô VI, đã hiểu rõ điều ấy khi viết trong Tông huấn Evangelii muntiandi (Tin mừng phải được loan báo) : “Hỡi những người loan báo Tin mừng, chúng ta phải đem lại cho các tín hữu của Chúa Kitô, không phải là hình ảnh những người bị chia rẽ và phân ly do những tranh cãi không xây dựng, nhưng là hình ảnh những người đã trưởng thành trong đức tin, có khả năng gặp gỡ nhau, vượt lên trên những căng thẳng thực sự, nhờ việc cùng nhau nghiên cứu chân lý một cách chân thành và vô vị lợi. Phải, số phận của việc rao giảng Tin mừng chắc hẳn phải gắn liền với chứng từ hiệp nhất của Giáo hội. Về điểm này, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến dấu chỉ hiệp nhất các Kitô hữu, là như con đường và dụng cụ cho việc rao giảng Tin mừng. Sự chia rẽ của các Kitô hữu là một tình trạng nghiêm trọng thực sự đã làm hoen ố chính công trình của Chúa Kitô” (156).
Quả vậy, làm sao loan báo Tin mừng hòa giải mà không đồng thời dấn thân cho việc hòa giải các Kitô hữu ? Nếu quả thực Giáo hội, dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần và lời Chúa hứa về tính bất diệt, đã và đang rao giảng Tin mừng cho mọi dân nước, thì Giáo hội cũng thực sự phải đối phó với những khó khăn do chia rẽ gây ra. Đứng trước những nhà truyền giáo bất hòa với nhau, dù tất cả đều dựa vào Chúa Kitô, những người chưa tin làm sao đón nhận được sứ điệp xác thực ? Những người ấy lại chẳng nghĩ rằng Tin mừng là một động lực gây chia rẽ dù được trình bày như luật căn bản của tình bác ái đó sao ?
- Khi khẳng định rằng đối với tôi, Giám mục Rôma, việc dấn thân đại kết là “một trong những ưu tiên mục vụ” của triều đại giáo hoàng này (157), tôi nghĩ tới trở ngại lớn do chia rẽ gây nên cho việc loan báo Tin mừng. Một Cộng đoàn Kitô hữu tin vào Chúa Kitô và với sự nhiệt tâm vì Tin mừng, họ ước mong cho nhân loại được cứu độ, thì không cách nào khép lòng lại mình trước tiếng gọi của Chúa Thánh Thần, Đấng đang hướng dẫn mọi Kitô hữu đến hiệp nhất đầy đủ và hữu hình. Đây là một trong những mệnh lệnh của tình bác ái phải noi theo không do dự. Đại kết không phải chỉ là một vấn đề nội bộ trong các Cộng đồng Kitô hữu. Đại kết duy trì tình yêu Thiên Chúa dành cho toàn thể nhân loại trong Chúa Giêsu Kitô, gây trở ngại cho tình yêu là xúc phạm tới ý định của Ngài muốn qui tụ mọi người trong Chúa Giêsu Kitô. Đức Phaolô VI viết cho Đức Thượng phụ đại kết Athenagoras I : “Ước mong Chúa Thánh Thần hướng dẫn chúng ta vào con đường hòa giải để sự hiệp nhất giữa các Giáo hội chúng ta trở nên dấu chỉ luôn tỏa sáng niềm hy vọng và khích lệ giữa lòng toàn thể nhân loại” (158).
LỜI KHUYẾN DỤ
- Mới đây, khi ngỏ lời với các Giám mục, Giáo sĩ và tín hữu Giáo hội Công giáo để vạch ra một con đường phải theo hầu cử hành Đại Năm thánh 2000, tôi đã tuyên bố rằng : “Việc chuẩn bị tốt nhất cho biến cố năm hai ngàn chỉ có thể diễn ra qua việc dấn thân được đổi mới hầu áp dụng một cách hết sức trung thành giáo huấn Công đồng Vatican II cho đời sống từng người và của toàn Giáo hội” (159). Công đồng này là khởi điểm trọng đại – một cách khác là mùa Vọng – của cuộc hành trình dẫn đưa chúng ta tới ngưỡng cửa của ngàn năm thứ ba. Vì sự quan trọng Công đồng đã dành cho công cuộc tái tạo sự hiệp nhất các Kitô hữu vào thời đại ân sủng đại kết của chúng ta, tôi thấy cần phải nhắc lại những xác tín căn bản mà Công đồng đã khắc ghi vào tâm khảm Giáo hội Công giáo, và nhắc lại dưới ánh sáng các tiến bộ đạt được từ đó hướng tới sự hiệp thông đầy đủ tất cả những người đã chịu phép Rửa.
Không còn phải hồ nghi việc Chúa Thánh Thần hoạt động trong công việc này và hướng dẫn Giáo hội thực thi đầy đủ ý định của Chúa Cha, đúng như ước muốn được Chúa Kitô diễn tả một cách mạnh mẽ và xúc động trong lời cầu nguyện mà, theo Tin mừng thứ tư, chính miệng Ngài đã nói lên vào lúc Ngài sắp phải sống tấm thảm kịch cứu độ trong lễ Vượt qua. Cũng như lúc ấy, ngày nay Chúa Kitô còn đòi hỏi một đà tiến mới làm sống lại sự dấn thân của từng người để đi tới việc hiệp thông đầy đủ và hữu hình.
- Vậy tôi khuyên nhủ Chư huynh trong hàng Giám mục hãy hết sức quan tâm tới việc dấn thân này. Hai bộ giáo luật đều xác định một trong những trách nhiệm của Giám mục là phải cổ võ sự hiệp nhất mọi Kitô hữu, nâng đỡ mọi hoạt động hay sáng kiến nhằm phát huy hiệp nhất, vì ý thức chính Chúa Kitô mong muốn Giáo hội phải làm tròn trách nhiệm ấy (160). Công việc này phải là một phần của sứ mạng Giám mục và là một đòi buộc xuất phát trực tiếp từ lòng trung thành với Chúa Kitô, Mục tử của Giáo hội. Tất cả các tín hữu đều được Chúa Thánh Thần mời gọi làm hết sức để thắt chặt những mối dây hiệp thông giữa các Kitô hữu và phát triển sự hợp tác giữa các môn đệ Chúa Kitô : “Mối bận tâm tái lập hiệp nhất liên quan đến toàn thể Giáo hội, các tín hữu cũng như các chủ chăn, mỗi người tùy theo khả năng riêng của mình” (161).
- Quyền năng Thánh Thần Thiên Chúa làm tăng trưởng và xây dựng Giáo hội suốt các thế kỷ. Đưa mắt nhìn ngàn năm mới, Giáo hội cầu xin Chúa Thánh Thần ban ơn củng cố sự hiệp nhất và làm cho sự hiệp nhất tiến tới hiệp thông trọn vẹn với các Kitô hữu khác.
Làm thế nào để đạt được điều ấy ? Trước tiên, bằng cầu nguyện. Lời cầu nguyện phải luôn mang tính cách lo âu biểu lộ khát vọng hiệp nhất và như vậy trở thành một trong những hình thức cần thiết của tình yêu mến ta dâng lên Chúa Kitô và Chúa Cha giàu lòng thương xót. Cầu nguyện phải chiếm chỗ nhất trên bước đường chúng ta cùng các Kitô hữu khác đang thực hiện để tiến đến ngàn năm mới.
Làm thế nào để đạt được điều ấy ? Bằng tạ ơn, vì chúng ta không gặp nhau với đôi bàn tay trống rỗng : “Chúa Thánh Thần đến nâng đỡ sự yếu hèn của chúng ta…Ngài bàu cử cho chúng ta, bằng những tiếng kêu van khôn tả” (Rm 8,26) hầu giúp chúng ta xin với Chúa Cha những gì chúng ta cần.
Làm thế nào để đạt được điều ấy ? Bằng niềm hy vọng nơi Chúa Thánh Thần, Ngài biết đẩy xa khỏi chúng ta những bóng ma dĩ vãng và những kỷ niệm đau đớn của việc phân ly : Ngài sẽ ban cho ta sự sáng suốt, sức mạnh và can đảm để bắt đầu những bước đi cần thiết, làm cho sự dấn thân của ta luôn xác thực.
Và nếu chúng ta phải tự hỏi xem tất cả việc này có thể thực hiện được không, thì câu trả lời vẫn luôn là : Có. Đó cũng là câu trả lời cho Mẹ Maria tại Nagiarét, vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không có thể.
Tôi nhớ đến những lời thánh Cyprianô dùng để chú giải kinh Lạy Cha, lời kinh của mọi Kitô hữu : “Thiên Chúa không nhận lễ hy sinh của người đang sống trong tranh chấp. Ngài truyền cho ta phải đi khỏi bàn thờ để hòa giải với anh em trước đã, hầu Thiên Chúa có thể chấp nhận những lời cầu trong bình an. Lễ hy sinh lớn nhất ta có thể dâng lên Thiên Chúa, đó là sự an bình của ta, đó là sự thuận hòa huynh đệ, đó là dân được qui tụ nhờ sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (162).
Vào lúc bình minh của ngàn năm mới, với một đà tiến mới và với một ý thức trưởng thành hơn, làm sao lại không khẩn cầu Chúa chuẩn bị tất cả chúng ta cho lễ hy sinh hiệp nhất này ?
- Tôi, Gioan-Phaolô, đầy tớ thấp hèn của các đầy tớ Chúa (servus servorum Dei), xin phép mượn những lời của thánh Phaolô Tông đồ, mà cuộc tử đạo của ngài được gắn liền với cuộc tử đạo của thánh Phêrô Tông đồ, đã cho Tông Tòa tại Rôma ánh vinh quang chứng từ của ngài, và tôi xin nói với anh chị em, những tín hữu trong Giáo hội Công giáo, cũng như với anh chị em thuộc các Giáo hội khác và các Cộng đoàn giáo hội : “Hãy gắng nên hoàn thiện, hãy khuyến khích nhau. Hãy đồng tâm nhất trí, hãy ăn ở thuận hòa và Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an sẽ ở cùng anh chị em. Ơn sủng của Chúa Giêsu Kitô, tình thương của Thiên Chúa và ơn hiệp thông của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em!” (2Cr 13,11-13).
Ban hành tại Rôma gần đền thờ thánh Phêrô,
Ngày 25 tháng 5 năm 1995, lễ Chúa Lên trời,
Năm thứ 17 triều Giáo hoàng của tôi.
GIOAN-PHAOLÔ II,GIÁO HOÀNG.CHÚ THÍCH
(1) X. Diễn từ sau khi đi Đàng Thánh Giá ngày thứ sáu tuần thánh
(1.4.1994), s.3, AAS 8 (1995), tr. 88.
(2) Công đồng Vat II, Tuyên ngôn về tự do tôn giáo Dignitatis
Humanae, s.1.
(3) X. Tông thư Milennio Adveniente (10.11.1994), 16 : AAS
8 (1995), tr.15.
(4) Bộ Giáo lý Đức tin, thư gửi các giám mục Công giáo về một số
phương diện của Giáo hội được hiểu như hiệp thông Communioni Notio (28.5.1992), s.4, AAS 85 (1993) tr. 840.
(5) Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis Redintegratio, s.
1.
(6) Nt.
(7) Nt, s.4.
(8) X. Công đồng Vat II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, s.14.
(9) X. Công đồng Vat II, Tuyên ngôn về tự do tôn giáo Dignitatis
Humanae, s.1 và 2.
(10) X. Công đồng Vat II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, s.14.
(11) Nt, s.8.
(12) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh Tái lập hiệp nhất, s.3.
(13) Nt.
(14) S.15.
(15) Nt.
(16) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegratio, s.15.
(17) Nt, s.3.
18) Nt.
(19) X. Thánh Giêgôriô Cả, Bài giảng về Tin mừng 19, s.1 : Pl,
1154, trưng dẫn bởi Công đồng Vat II, Hiến chế Lumen Gentium, s.2.
(20) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegratio, s.4.
(21) Nt, s.7.
(22) X. Nt.
(23) Nt, s.6.
(24) X. Công đồng Vat II, Hiến chế về Mạc khải Dei Verbum, s.7.
(25) X. Tông thư Euntes in Mundum (25.1.1988), AAS 80 (1988) tr.
935-956.
(26) X. Thông điệp Slavorum Apostoli (2.6.1985), AAS 77
(1985) tr. 779-813.
(27) X. Bản hướng dẫn áp dụng các nguyên tắc và qui luật về đại kết
(25.3.1993), AAS 85 (1993), tr. 1039-1119.
(28) X. đặc biệt tài liệu của Lima Thanh tẩy, Thánh Thể và Thừa
tác vụ (1.1982) : Enchiridion oecumenicum 1, tr. 1392-1446, nxb Centurion/Taizé, Paris 1982, và tài liệu số 153 của “Đức tin và Cơ chế” Confessing the “One” Faith, Genève, 1991.
(29) X. Diễn văn khai mạc Công đồng Vat II (11.10.1962), AAS 54
(1962), tr. 793.
(30) Nói về Văn phòng cổ võ Hiệp nhất các Kitô hữu, được thiết lập
bởi tự sắc Superno Dei Nutu của Đức Gioan XXIII (5.6.1960), s.9, AAS 52 (1960), tr. 436, và được xác nhận bởi các tài liệu sau : Tự sắc Appropinquante Concilio (6.8.1962), ch. III, a. 7,2,1, AAS 54 (1962), tr. 614; x Phaolô VI, Tông huấn Regimini Ecclesiae universae (15.8.1967), s. (2-94, AAS 59 (1967), tr. 918-919. Hiện nay cơ quan này được gọi là Hội đồng giáo hoàng cổ võ Hiệp nhất các Kitô hữu; x Gioan-Phaolô II, Tông huấn Pastor bonus (28.6.1988), V, art. 135-138, AAS 80 (1988), tr. 895-896.
(31) X. Diễn văn khai mạc Công đồng Vat II (11.10.1962), AAS 5
(1962), tr. 792.
(32) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegratio, s.6.
(33) X. Công đồng Vat II, Tuyên ngôn về tư do tôn giáo Dignitatis
Humanae s.1.
(34) Thông điệp Slavorum Apostoli (2.6.1985), s.11. AAS
77 (1985), tr. 792.
(35) Nt, s.13, loc. cit, tr. 794.
(36) Nt, s.11, loc. cit, tr. 792.
(37) Diễn văn trước các thổ dân (29.11.1986), s.12, AAS 79 (1987),
- 977.
(38) X. thánh Vinh Sơn đệ Lérins, Commonitorium primum, 23, Pl
50, tr. 667-668.
(39) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegratio, s.6.
(40) Nt, s.5.
(41) Nt, s. 7.
(42) Nt, s. 8.
(43) Nt.
(44) X. nt, s. 4.
(45) X. Gioan-Phaolô II, Tông thư Tertio Milennio Adveniente
(10.11.1994), s.24, AAS 87 (1995), tr. 19-20.
(46) Diễn văn ở nhà thờ chính tòa Cantorbery (29.5.1982), s.5, AAS
74 (1982), tr. 922.
(47) Hội đồng đại kết các Giáo hội, Điều lệ, III, I, trưng dẫn trong
Enchiridion oecumenicum 1, tr. 1392.
(48) X. Công đồng Vat II, Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế
giới ngày nay Gaudium et Spes, s. 24.
(49) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegratio, s.7.
(50) Maria-Gabrien Sagheddu sinh tại Dorgali (Sardainge) ngày
17.3.1914. Năm 21 tuổi, chị vào dòng Trappe ở Grottaferrata. Khi biết được, nhờ hoạt động tông đồ của cha Paul Couturier, sự cần thiết của kinh nguyện và những của lễ thiêng liêng cho sự hiệp nhất các Kitô hữu. Vào năm 1936, nhân tuần bát nhật cầu cho hiệp nhất, chị đã quyết định hiến dâng đời sống vì sự hiệp nhất Giáo hội. Sau một cơn bệnh nặng, chi Maria-Gabrien qua đời ngày 23.4.1939.
(51) X. Công đồng Vat II, Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế
giới ngày nay Gaudim et et Spes s. 24.
(52) X. ASS 56 (1964), tr. 609-659.
(53) X. Công đồng Vat II, Hiến chế về Giáo hội Lumen Gentium, s.
13.
(54) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegratio , s. 4.
(55) X. Bộ giáo luật, đ. 755; Bộ giáo luật các Giáo hội Đông
phương, đ. 902-904.
(56) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegratio, s. 4.
(57) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về tự do tôn giáo Dignitatis
Humanae, s. 3.
(58) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegratio, s. 4.
(59) X. Nt.
(60) Thông điệp Ecclesiam Suam (6.8.1964), III, AAS 56 (1964), tr.
642.
(61) Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegratio, s. 11.
(62) X. Nt.
(63) Nt; Bộ Giáo lý Đức tin, Tuyên ngôn về giáo lý công giáo liên
quan đến Giáo hội Mysterum Ecclesiae (24.6.1973), s. 4, AAS 65 (1973), tr. 403.
(64) Bộ Giáo lý Đức tin, tuyên ngôn về giáo lý công giáo liên quan
đến Giáo hội Mysterum Ecclesiae, s. 5. ASS 65 (1973), tr.
403
(65) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegratio, s. 4.
(66) X. Tuyên ngôn chung về Kitô học giữa Giáo hội Công giáo và
Giáo hội Assyrie Đông phương, Osservatore Romano, 12.11.1994, tr. 1.
(67) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegratio, s. 12.
(68) Nt.
(69) Hội đồng giáo hoàng cổ võ Hiệp nhất các Kitô hữu, Bản hướng
dẫn áp dụng những nguyên tắc và qui luật về đại kết (25.3.1993), s. 5, AAS 85 (1993), tr. 1040.
(70) Nt, s. 94, loc. cit, tr. 1078.
(71) X. Ủy ban “Đức tin và Cơ chế” của Hội đồng đại kết các Giáo
hội, Thanh tẩy, Thánh thể, Thừa tác vụ (1.1982), Enchiridion oecumenicum, 1, tr. 1391-1447, và chính xác là 1398-1408 (nxb Centurion/Taizé, Paris, 1982, tr. 13-27).
(72) X. Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (30.12.1987), s. 32,
AAS 80 (1988), tr. 556.
(73) Diễn văn trước các Hồng y và Giáo triều Rôma (28.6.1985), s.
10, AAS 77 (1985), tr. 1158; x Thông điệp Đấng Cứu chuộc con người (4.3.1979), s. 11, AAS 77 (1985), tr. 1158.
(74) Diễn văn trước các Hồng y và Giáo triều Rôma (28.6.1985), s.
10, AAS 77 (1985), tr. 1158.
(75) X. Văn phòng cổ võ Hiệp nhất Kitô hữu và Ủy ban chuyên
biệt về Giao ước Thánh kinh phổ quát. Hướng dẫn liên quan đến cộng tác liên tôn trong việc dịch Thánh kinh (1968).
(76) X. Ủy ban “Đức tin và Cơ chế” của Hội đồng đại kết các Giáo hội, Thánh tẩy, Thánh Thể, Thừa tác vụ (1.1982), Enchir.
Oecum. 1, tr. 1391-1447.
(77) Chẳng hạn trong các phiên họp sau cùng của Hội đồng đại kết
các Giáo hội ở Vancouver năm 1983, ở Canberra năm 1991 và hội nghị “Đức tin và Cơ chế” tại Saint-Jacques de Compostelle năm 1993.
(78) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegratio, s. 8 và 15; Bộ giáo luật, đ. 844; Bộ giáo luật các Giáo hội Đông phương, đ. 671; Hội đồng giáo hoàng cổ võ Hiệp nhất Kitô hữu, Bản hướng dẫn áp dụng những nguyên tắc và qui luật về đại kết, s. 122-125, AAS 85 (1993), tr. 1086-1087; s. 129-131, I.c, tr. 1083-1089; s 123 và 132, I.c, tr. 1087-1089.
(79) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegratio,s. 4.
(80) Nt.
(81) X. s.15.
(82) Nt. s. 15.
(83) Nt, s. 14.
(84) X. Tuyên bố chung của Đức Giáo hoàng Phaolô VI và của Đức
Thượng phụ Constantinople Athénagoras I (7.12.1965), Tomos agapis, Vatican-Phanar (1958-1970), Rome-Istanbul, 1971, tr. 280-281.
(85) X. AAS 77 (1985), tr. 779-813.
(86) X. AAS 80 (1988), tr. 935-956; x. Thư Magnum baptismi donum
(14.2.1988), I.c, tr. 988-997.
(87) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegratio, s.14.
(88) Nt.
(89) Tông chiếu Anno Inuente (25.7.1967), Tomos agapis, Vatican-
Phanar (1958-1970, Rome-Istanbul,1971, tr. 388-391.
(90) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegratio, s.14.
(91) Nt.
(92) S.14, Osservatore Romano, 2-3.5.1995, tr. 3.
(93) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegratio, s.17.
(94) X Công đồng Vat II, Sắc lệnh về các Giáo hội Đông phương
Orientalium Ecclesiarum, s. 26.
(95) X. Bộ giáo luật, đ. 844, 2 và 3. Bộ giáo luật các Giáo hội Đông
phương, đ. 671, 2 và 3.
(96) Hội đồng giáo hoàng cổ võ hiệp nhất Kitô hữu, Bản hướng dẫn
áp dụng các nguyên tắc và qui luật về đại kết, (25.3.1993), 122-128; AAS 8 (1993) tr. 1086-1088.
(97) Tuyên bố của Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II và Đức Thượng
phụ đại kết Dimitrios I. (7.12.1987), AAS 80 (1988), tr. 253.
(98) Ủy ban quốc tế hỗn hợp về đối thoại thần học giữa Giáo hội
Công giáo và Giáo hội Chính thống, Tài liệu Bí tích Truyền chức trong cơ cấu bí tích của Giáo hội, đặc biệt tầm quan trọng của việc kế vị tông đồ để thánh hóa và hợp nhấn dân Chúa (26.6.1988), s.1, Service d’information, 68 (1988), tr. 173.
(99) X. Gioan-Phaolô II, thư gửi các Giám mục Âu châu về
những tương quan giữa những người Công giáo và những người Chính thống trong tình hình mới của Trung và Đông Âu (31.5.1991), s. 6, AAS 84 (1992), tr. 168.
(100) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegratio,s.17.
(101) X. Tông thư Orientale Lumen (2.5.1995), s. 24.
Osservatore Romano (2-3.5.1995), tr. 5.
(102) Nt, s.18. Loc. cit, tr. 4.
(103) X. Công bố chung của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Đức
Shenuoda III, Giáo chủ Alexandria và Thượng phụ Tòa Thánh Marcô (10.5.1973), AAS 65 (1973), tr. 299-301.
(104) X. Công bố chung của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Đức
Mar Ignace Jacoub III, Thượng phụ Giáo hội Antiokia của người Syria và của toàn Đông phương (27.10.1971), AAS 63 (1971), tr. 814-815.
(105) X. Diễn văn trước các đại biểu Giáo hội Cốp Chính thống
(2.6.1979), AAS 71 (1979), tr. 1000-1001.
(106) X. Công bố chung của Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II và
Đức Moran Mar Ignace Zakka I Iwas, Thượng phụ Syri Chính thống Antiokia và toàn Đông phương (23.6.1984), Insegnamenti VII, 1 (1984), tr. 1902-1906.
(107) Diễn từ nói với Đức Abouna Paulos, thượng phụ Giáo hội
Chính thống Ethiôpi (11.6.1993), Osservatore Romano, 11.12.1993, tr. 4.
(108) X. Công chung về Kitô học giữa Giáo hội Công giáo và Giáo
hội Assyria Đông phương, Osservatore Romano, 12.11.1994, tr. 1.
(109) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegrati, s.19.
(110) Nt.
(111) Nt, s. 19.
(112) Nt.
(113) Nt.
(114) Nt, s. 20.
(115) Nt, s. 21.
(116) Nt.
(117) Nt.
(118) Nt, s. 22.
(119) Nt.
(120) Nt, s. 22; x. s. 20.
(121) Nt, s. 22.
(122) Nt, s. 23.
(123) Nt.
(124) X. Sứ điệp truyền thanh Urbi et orbi (27.8.1978), AAS 70
(1978), tr. 695-696.
(125) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegrati, s.23.
(126) Nt.
(127) Nt, s. 12.
(128) Nt.
(129) Công việc kiên trì của Ủy ban “Đức tin và Cơ chế” đã đạt tới
một quan niệm tương tự, mà Hội nghị của Hội đồng đại kết các Giáo hội đã lấy làm của mình trong tuyên bố gọi là Canberra (7-20.2.1991) X. Sings of the Spirit, phúc trình chính thúc của khóa họp thứ bảy, COE, Genève 1991, tr. 235-258 và đã được lấy lại bởi Hội đồng thế giới “Đức tin và Quy chế” tại Saint-Jacques de Compostelle (3-14.8.1993), x. Service d’information 85, 1994, tr. 18-38.
(130) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegrati, s.14.
(131) X. nt, s. 4 và 11.
(132) X. Diễn từ trước các Hồng y và Giáo triều Rôma (28.6.1985),
- 6, AAS 77 (1985), tr. 1153.
(133) X. nt.
(134) X. Công đồng Vat II, Hiến chế về Giáo hội Lumen Gentium, s.
12.
(135) X. AAS 54 (1962), tr. 792.
(136) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegrati, s. 6.
(137) X. nt, s. 4; Phaolô VI, Bài giảng lễ phong thánh các tử đạo
Ouganda (18.10.1964), AAS 56 (1964), tr. 906.
(138) X. Gioan-Phaolô II, Tông thư Tertio Milennio Adveniente
(10.11.1994), s. 37, AAS 87 (1995), tr. 29-30; Thông điệp Veritatis Spendor (6.8.1993), s. 93, AAS 85 (1993), tr. 1207.
(139) X. Phaolô VI, Diễn văn tại thánh đường Namugongo, Ouganda
(2.8.1969), AAS 61 (1969), tr. 590-591.
(140) X. Sách lễ Rôma, Tiền tụng các thánh I : Sanctorum
“coronando merita tua dona coronans”.
(141) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegrati, s.4.
(142) X. Công đồng Vat II, Hiến chế về Giáo hội Lumen Gentium,
s.8.
(143) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegrati, s.3.
(144) Sau tài liệu Lima của Ủy ban “Đức tin và Cơ chế” về
Thanh tẩy, Thánh Thể, Thừa tác vụ (1.1982), Enchir.oecum. 1, tr. 1392-1446, và trong tinh thần tuyên ngôn của khóa họp thứ 7 Hội đồng đại kết các Giáo hội về “Sự hiệp nhất của Giáo hội như Koinônia : ơn ban và đòi hỏi” (Canberra, 7-20.2.1991), La Documentation catholique, s. 2025 (7.4.1991), tr. 349-350.
(145) Diễn văn trước các Hồng y và Giáo triều Rôma (28.6.1985), s.
4, AAS 77 (1985), tr. 1151-1152.
(146) X. Công đồng Vat II, Hiến chế về Giáo hội Lumen Gentium, s.
23.
(147) X. Diễn văn trước Hội đồng đại kết các Giáo hội (12.6. 1984),
s, 2, Insegnamenti VII, 1 (1984) tr 1686.
(148) Hội nghị thế giới “Đức tin và Quy chế”. Phúc trình của khóa
II,
Saint-jacques de Compostelle (14.8.1993), Confesseing the one faith to God’s Glory, s. 31, 2 : Faith and Order Paper, s. 166, COE, Genève,1994, tr. 243.
(149) Chỉ trưng vài thí dụ : Ủy ban quốc tế Anglica-Roman, Phúc
trình sau cùng (9.1981), La Documentation catholique, s. 1830 (16.5.1982), tr. 497-507; Ủy ban quốc tế hỗn hợp về đối thoại giữa các môn đệ Chúa Kitô và Giáo hội Công giáo, Phúc trình 1981 : Enchir. Oecum. 1. tr. 529-547; Ử ban hỗn hợp quốc giá Công giáo-Luterô, Tài liệu Sứ vụ mục vụ trong Giáo hội (USA, 13.3.1981), Enchir. Oecum. 1, tr. 703-742; Vấn đề đã được thấy rõ trong khuôn khổ cuộc nghiên cứu do Ủy ban hỗn hợp quốc tế về đối thoại thần học giữa Chúa Công giáo và Giáo hội Chính thống.
(150) Diễn văn trước các Hồn y và Giáo triều Rôma (28.6.1985), s.
3, AAS 77 (1985), tr. 1150.
(151) Bài giảng XL, VI, 30, CCL 41, 557.
(152) X. Công đồng Vat I, Hiến chế về Giáo hội Chúa Kitô Pastor
aeternus, DS, s. 3074.
(153) Công đồng Vat II, Hiến chế về Giáo hội Lumen Gentium, s.
27.
(154) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegrati, s.14.
(155) Bài giảng tại Vương cung thánh đường Vatican, trước sự hiện
diện của Đức Dimitrios I, Tổng giám mục Constantinople và Thượng phụ đại kết (6.12.1987), s. 3, AAS 80 (1988), tr. 714.
(156) Tông huấn Evangelii nuntiandi (8.12.1975), s. 77, AAS 68
(1976), tr. 69; X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegratio, s.1; Hội đồng Giáo hòang cổ võ hiệp nhất các Kitô hữu, Bản hướng dẫn áp dụng những nguyên tắc và qui luật về đại kết (25.3.1993), s. 205-209, AAS 85 (1993), tr. 1112-1114.
(157) Diễn văn trước các Hồn y và Giáo triều Rôma (28.6.1985), s.
4, AAS 77 (1985), tr. 1151.
(158) Thư đề ngày 13.1.1970, Tomos Agapis, Vatican-Phanar (1958-
1970), Roma-Istanbul, 1971, tr. 610-611.
(159) Tông thư Tertio Milennio Adveniente (10.11.1994), s. 20. AAS
87 (1995), tr. 17.
(160). X. Bộ luật Giáo hội, đ 755; Bộ luật các Chúa đông phương, đ.
902.
(161) X. Công đồng Vat II, Sắc lệnh về đại kết Unitatis
Redintegrati, s.5.
(162) Về kinh Lạy Cha, s.23. CSEL 3, 284-
Đức Thánh Cha Gioan Phao Lô II







