Như chương trình đã định, sau khi thăm chính quyền địa phương tỉnh Lâm Đồng, Đức Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli đã đến Chủng Viện Minh Hòa. Tại nơi đây, Đức Tổng,  Đức Cha Antôn, Cha Tổng Đại diện, Cha Giám Đốc Đại Chủng viện, quý Cha trong Ban Tư Vấn của Giáo phận, quý thầy và chủng sinh, đã dành những giây phút thinh lặng đặt mình trước Chúa Giêsu Thánh Thể.

Trong lời chúc mừng Đức Tổng Giám Mục, Cha Giám Đốc Micae sơ lược đôi nét về Chủng viện : được thành lập do Đức cố Giám Mục Simon Hòa Nguyễn văn Hiền vào ngày 16.7.1962 với tên gọi “Tiểu chủng viện Á thánh Simon Hòa”, sinh hoạt tạm thời tại một khu nhà của một người Pháp cho mượn. Cơ sở hiện nay xây dựng trong hai năm 1965-1966 và bắt đầu sinh hoạt năm 1967. Với những biến chuyển do thời cuộc, Đại Chủng viện đã sát nhập vào với Tiểu Chủng viện năm 1980 với tên gọi Đại Chủng Viện Minh Hòa.

Cha Giám đốc cho biết tiếp : “Hiện tại, Chủng viện có 3 cha, 9 chủng sinh đã xong quá trình đào tạo và đang chờ chịu chức, 20 ứng sinh mới nhập học và 2 dì phục vụ.

Hướng tới năm mừng Kim khánh Chủng viện (1962 – 2012), xin tạm đúc kết về thành quả của chủng viện như sau:

14 lớp Tiểu chủng sinh (1961-1975) ;

10 khóa ứng sinh Đại chủng viện (1991-2011) ;

117 linh mục xuất thân từ đây, chưa kể 18 phó tế sẽ được phong chức linh mục ngày 18 tháng 10 sắp tới”.

Sau hết ngài nói : “Một lần nữa, thay mặt gia đình Chủng viện, con xin hết lòng cám ơn Đức Tổng đã đến thăm nhà này. Xin Chúa chúc lành cho Đức Tổng và cho sứ mệnh của Đức Tổng phục vụ Giáo Hội trên đất nước Việt Nam”.

Lời chào mừng của Cha Giám đốc CV

Kính thưa Đức Tổng,

Gia đình Chủng viện chúng con rất vui mừng được Đức Tổng đến thăm. Con xin thay mặt cho Chủng Viện dâng lên Đức Tổng những lời chào chúc chân thành và quý mến của chúng con.

Vì đây là lần đầu tiên Đức Tổng đến kinh lý Giáo phận, cho phép con trình bày vắn tắt về sinh hoạt của Chủng viện giáo phận:

Sau khi Giáo phận Đàlạt được thiết lập năm 1960, thì ngày 16-7-1962, ĐGM tiên khởi Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền đã cho thành lập Tiểu Chủng viện mang tên Chân phước SIMON HÒA, một vị tử đạo Việt Nam. CV sinh hoạt tạm thời tại khu nhà do một người Pháp cho mượn.

Cơ sở hiện nay được xây dựng trong những năm 1965-1966, bắt đầu sinh hoạt năm 1967. Toàn bộ cơ sở đều bằng gỗ là vật liệu rẻ tiền thời ấy, thể theo ý của ĐGM là muốn giúp cho chủng sinh sống nghèo khó và có tinh thần truyền giáo cho người nghèo, trong đó có đông đảo các anh chị em người Thượng. Trải qua thời gian, cơ sở xuống cấp và đã nhiều lần được sửa chữa.

Đầu năm 1972, ĐGM cho thiết lập thêm Đại chủng viện MINH HÒA – tên kép của hai vị tử đạo Việt Nam, Thánh Philipphê Phan Văn Minh, linh mục, và Thánh Simon Phan Đắc Hòa, giáo dân – với ban Triết học, để có thể học thêm môn Triết học tại Đại học Công giáo Đàlạt.

Sau tháng 4 năm 1975 trong khi tất cả các Chủng viện tại miền Nam VN bị giải thể thì ở Đà Lạt, Tiểu chủng viện và Đại chủng viện vẫn tiếp tục hoạt động, tuy chỉ còn ít chủng sinh. Ngày 21-4-1980, cơ sở Đại chủng viện được giao cho Nhà Nước, các đại chủng sinh về ở chung tại Tiểu chủng viện, nay được gọi là Chủng viện Minh Hòa.

Từ năm 1991, để đáp ứng nhu cầu tuyển chọn các ơn gọi mới, Chủng viện mở lớp ứng sinh sống 2 năm ở Chủng viện. Ngoài việc đào tạo trí thức, Chủng viện nhấn mạnh việc đào tạo nhân bản, tu đức và phụng vụ, dựa theo những chỉ thị của Tòa Thánh. Ngoài ra, việc lao động tay chân, cụ thể là làm vườn, cũng được coi là nằm trong chương trình huấn luyện. Sau 2 năm, các ứng sinh được mặc áo soutane và đi giúp xứ, trước khi được gửi đi học tại Đại chủng viện liên giáo phận.

Song song với lớp ứng sinh, còn có một lớp khác quy tụ khoảng 60 sinh viên muốn tìm hiểu ơn gọi làm linh mục triều. Lớp này sống ở ngoài, đến Chủng viện mỗi sáng Chúa nhật để được hướng dẫn, và chiều thứ Năm đầu tháng để tĩnh tâm chung với các chủng sinh và ứng sinh.

Hiện tại, Chủng viện có 3 cha, 9 chủng sinh đã xong quá trình đào tạo và đang chờ chịu chức, 20 ứng sinh mới nhập học và 2 dì giúp việc.

Hướng tới năm mừng Kim khánh Chủng viện (1962 – 2012), con xin tạm đúc kết về thành quả của chủng viện như sau:

– 14 lớp Tiểu chủng sinh (1961-1975) ;

– 10 khóa ứng sinh Đại chủng viện (1991-2011) ;

– 117 linh mục xuất thân từ đây, chưa kể 18 phó tế sẽ được phong chức linh mục ngày 18 tháng 10 sắp tới.

Kính thưa Đức Tổng,

Một lần nữa, thay mặt cho gia đình Chủng viện, con xin hết lòng cám ơn Đức Tổng đã đến thăm nhà này. Xin Chúa chúc lành cho Đức Tổng và cho sứ mệnh của Đức Tổng phục vụ Giáo hội trên đất nước Việt Nam.

Linh mục Micae Trần Đình Quảng,

Giám đốc

Trong bài nói chuyện ngắn gọn, Đức Tổng Giám Mục bày tỏ sự vui mừng và hài lòng khi thăm viếng Chủng viện. Khi nhìn những dãy nhà gỗ đơn sơ gần tròn 50 năm tuổi, ngài hiểu được lịch sử của Chủng viện, hiểu được ý muốn của bề trên về những con người được đào tạo tại đây về đời sống nghèo khó và hướng đến những người nghèo khó. Ngài nói với các chủng sinh “Anh em là cầu nối của quá khứ và tương lai, hãy trung thành dấn bước với những ý muốn cao đẹp này”. Đặc biệt, ngài nhấn mạnh đến sự hy sinh trong đời sống tu trì. Bên cạnh đó, người chủng sinh phải suy nghĩ và lượng giá ba vấn đề cho ơn gọi của chính mình : Trưởng thành về nhân bản ; được đào tạo và tự đào tạo về tri thức, và cuối cùng, phải đào sâu về đời sống thiêng liêng”.

Một vài câu hỏi được đặt ra và được Đức Tổng Giám Mục trả lời : so sánh về tình hình ơn gọi ở Việt Nam và ở các nước mà Đức Tổng đang trách nhiệm, ngài cho biết thoáng qua về tình hình ở Inđônêxia, Đông Timor, Malaysia, Singapore… và nhận xét “Singapore ít ơn gọi hơn do kinh tế phát triển, gia đình ít con, điều kiện huấn luyện đòi hỏi cao hơn… Các nước kia tuy rằng nhiều ơn gọi nhưng mức đào tạo còn thấp ”. Với Việt Nam “Nhiều ơn gọi nhưng cần xác định rõ động lực và trình độ giáo sư tại các Chủng viện ở Việt Nam khá tốt”. Với câu hỏi khác của một chủng sinh bằng Anh ngữ, Đức Tổng Giám Mục giải thích “Trong đời sống ơn gọi, cầu nguyện, học hành và lao động chân tay cần biết quân bình, nhất là phải theo hướng dẫn của bề trên và những người có trách nhiệm. Tìm hiểu về ơn gọi là cả một tiến trình chứ không chỉ trong giây lát. Phải có ơn Chúa soi sáng, phải có tâm trí cởi mở qua mỗi sự kiện, mỗi biến cố để nhận ra con đường Chúa muốn mình đi”.

Ngài nói thêm, làm linh mục ở Việt Nam chúng ta cần thêm một khía cạnh nữa đó là hy sinh chịu đựng. Bởi vì, chúng ta được nhìn nhận nhiều hơn trước đây nhưng cũng vẫn đang sống trong một đất nước chưa hoàn toàn được tự do thật sự để có thể hành xử, hành động và phát triển như một Giáo hội đích danh. Làm linh mục phải hy sinh trong việc phục vụ nhất là đến với những người nghèo và cần tránh những việc tranh đấu không chính đáng, nhưng cách tranh đấu của chúng ta là qua cách phục vụ thật sự và qua cách đó chúng ta được công nhận một cách thật sự. Vì thế, chúng ta phải tự đào luyện cho mình những tinh thần đó.

Kết thúc bài nói chuyện, Đức Tổng Giám Mục ban phép lành và mời gọi cộng đoàn cùng hướng về Đức Mẹ qua bài “Salve Regina”.

Rời Chủng viện, phái đoàn đã cùng Đức Tổng Giám Mục đến Trung Tâm Mục Vụ của Giáo phận. Tại đây, sau khi viếng Chúa, Đức Tổng Giám Mục thăm Phòng Truyền Thống mới được thành hình qua lời hướng dẫn của cha Giuse Nguyễn Văn Sinh (cũng là người phiên dịch trong chuyến thăm mục vụ này).

Trời chiều vẫn đổ mưa nhưng ai cũng náo nức đến Giáo xứ Langbiang, địa điểm thăm viếng cuối cùng trong ngày.

Từ cổng Nhà thờ Langbiang, khoảng 2000 giáo dân Kinh-Thượng đã đứng sẵn để đón chào Đức Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli, Đức Cha Antôn cùng phái đoàn. Có thể nói đây là một biến cố trọng đại của Giáo xứ này. Những cử chỉ và thái độ biểu thị lòng kính yêu theo truyền thống của người đồng bào dân tộc một lần nữa được Đức Tổng Giám Mục đón nhận trong hạnh phúc và niềm vui.

Ông Trưởng Ban Mục vụ Giáo xứ đã dâng lên Đức Tổng Giám Mục lời chào mừng bằng tiếng bản địa (K’ho – Lạch). Ngoài việc nói lên tâm tình quý và biết ơn khi được Vị Đại diện của Đức Thánh Cha viếng thăm, được đón nhận đức tin từ các vị tông đồ tiền bối, ông còn nói : “Quả thực, chúng con chỉ là những người dân tộc thiểu số đơn sơ, chất phác, nhỏ bé và nghèo nàn mà lại được những hồng ân cao trọng như thế.

Sự hiện diện sống động của Đức Tổng Giám Mục, Đại Diện Tòa Thánh ở giữa chúng con hôm nay càng làm cho chúng con cảm mến và biết ơn Hội Thánh nhiều hơn nữa.

Chúng con kính xin Đức Tổng Giám Mục dâng lên Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI, Vị Cha chung của Giáo Hội, tâm tình biết ơn và hiếu thảo của những người con thiểu số, bé nhỏ. Xin Đức Tổng thưa với Người rằng chúng con yêu mến Người lắm và chúng con luôn nhớ đến Người trong kinh nguyện hàng ngày. Chúng con hứa với Người sẽ sống thật tốt để chính chúng con trở nên những chứng nhân đích thực của Chúa cho các anh em dân tộc khác chưa nhận biết Chúa”.

Bài chào mừng của Ông Trưởng Ban Mục vụ

Trọng kính Đức Tổng Giám Mục,

Hôm nay, Giáo xứ Lang Biang của chúng con hết sức vui mừng vì nhờ sự quan tâm, ưu ái đặc biệt của Đức Giám mục Giáo phận, Đức Tổng Giám Mục đã đặt chân đến giáo xứ Lang Biang nhỏ bé của người dân tộc thiểu số để thăm viếng, dâng lễ cầu nguyện và chúc lành cho chúng con. Chúng con hân hoan chào mừng Đức Tổng Giám Mục.

Kính thưa Đức Tổng Giám Mục,

Nhờ tình thương của Thiên Chúa là Cha, Mẹ Giáo Hội đã sinh chúng con nên con Chúa qua công việc truyền giáo đầy vất vả của các Cha Hội Truyền Giáo Paris. Tiếp theo đó, chúng con được quý Đức Cha, quý Cha và quý Tu Sĩ Việt Nam tận tình chăm sóc, hướng dẫn, dậy dỗ, nhờ đó chúng con được lớn lên hằng ngày trong đức tin, lòng mến và niềm tín thác vào Chúa.

Chúng con rất hạnh phúc được thuộc về Chúa và được sống trong Hội Thánh. Chúng con vô vàn biết ơn Chúa và Hội Thánh. Quả thực, chúng con chỉ là những người dân tộc thiểu số đơn sơ, chất phác, nhỏ bé và nghèo nàn mà lại được những hồng ân cao trọng như thế.

Sự hiện diện sống động của Đức Tổng Giám Mục, Đại Diện Tòa Thánh ở giữa chúng con hôm nay càng làm cho chúng con cảm mến và biết ơn Hội Thánh nhiều hơn nữa.

Chúng con kính xin Đức Tổng dâng lên Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI, Vị Cha chung của Giáo Hội, tâm tình biết ơn và hiếu thảo của những người con thiểu số, bé nhỏ. Xin Đức Tổng thưa với Người rằng chúng con yêu mến Người lắm và chúng con luôn nhớ đến Người trong kinh nguyện hàng ngày. Chúng con hứa với Người sẽ sống thật tốt để chính chúng con trở nên những chứng nhân đích thực của Chúa cho các anh em dân tộc khác chưa nhận biết Chúa.

Sau cùng, chúng con kính xin Đức Tổng nhận nơi đây lòng biết ơn chân thành của giáo xứ chúng con.

Rất thân tình và yêu mến, câu chào của Đức Tổng bằng tiếng K’ho “Niêm sa, jơh oh-mi Kờn gơboh” khiến cả cộng đoàn như vỡ òa vì xúc động và bất ngờ. Tiếp đó, ngài nhắc nhủ : “Anh chị em hãy luôn hãnh diện vì mình là người dân tộc thiểu số và là người Công giáo. Hãy luôn tạ ơn Chúa vì hồng ân Đức tin mà anh chị em đã lãnh nhận qua các vị truyền giáo. Đặc biệt, với Đức Cha Jean Cassaigne, người cha tinh thần của anh chị em”. Ngài cũng nói lên tâm tình của mình khi đón nhận những tặng vật : “Với tôi, chiếc vòng, chiếc còng của người dân tộc rất ý nghĩa trong đời sống Giáo Hội, vì nó diễn tả ý nghĩa sống hòa hợp, hiệp nhất, là một giao ước turng thành yêu thương trong Giáo Hội”.

Sau đôi phút chuẩn bị, Đức Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli, Đức Giám mục Giáo phận và quý cha dâng Thánh Lễ Đồng tế. Lòng sốt mến và sự chân tình của bà con giáo dân được tỏ lộ rõ qua những lời kinh tiếng hát. Dù trời bên ngoài mưa mỗi lúc một nặng hạt, nhưng tất cả cộng đoàn đều sốt sắng tham dự Thánh Lễ.

Đức Tổng chia sẻ qua bài giảng lễ :

“Bài Phúc Âm nói đến thời khắc trước khi Chúa Giêsu về trời, với lệnh truyền đi giảng dạy cho muôn dân. Vì thế, sau khi Chúa Giêsu về trời, các tông đồ không ngồi yên chờ đợi nhưng bắt tay vào việc loan báo Tin Mừng.

Chúa Giêsu lên trời nhưng không vắng mặt, Ngài biến khỏi tầm nhìn của chúng ta và hiện diện một cách khác thâm sâu, thân tình hơn. Ngài không còn ở ngoài nhưng ở trong chính mỗi con người của chúng ta. Như Bí tích Thánh Thể, bao lâu Bánh Thánh còn ở bên ngoài chúng ta thấy và thờ lạy ; nhưng khi chúng ta đã rước Mình Thánh Chúa vào lòng, không còn nhìn thấy nữa, thì Bánh Thánh tan biến đi để cư ngụ trong tâm hồn chúng ta, Bánh Thánh hiện diện cách mạnh mẽ, mới lạ và gần gũi hơn torng chúng ta. Từ sự hiện diện mới mẻ này, Chúa Giêsu luôn ban phát một sức sống mới, là nguồn sinh lực cho Hội Thánh trổ sinh hoa trái. Nguồn năng lực, sức sống mới nay hôm nay được chiếu sáng cách đặc biệt trên khuôn mặt của anh chị em tín hữu tại Langbian.

Khi gặp gỡ Chúa Giêsu và đón nhận được Tin Mừng của Ngài, đời sống mỗi người sẽ thay đổi, chúng ta được thúc đẩy có những lựa chọn sáng suốt và đôi khi có những quyết định rất dũng cảm. Giáo Hội cần những chứng nhân sống động đích thực cho công cuộc tái rao giảng Tin Mừng, đó là những con người được thay đổi sau khi gặp gỡ Chúa Giêsu, và có khả năng thông truyền kinh nghiệm của mình cho người khác.

Anh chị em thật diễm phúc khi có nhiều bậc tiền nhân là các Thánh Tử Đạo, hãy hướng về và xin các ngài cầu bầu cho chúng ta.

Hãy như các tông đồ xưa, chuyên cần cầu nguyện để đón nhận Chúa Thánh Thần và được đổi mới. Hãy trở lại Phòng Tiệc Ly để cùng cầu nguyện với nhau và với Đức Mẹ, vì chính Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ Giáo Hội.

Kết quả của việc tông đồ và truyền giáo tùy thuộc vào việc kiên trì và cầu nguyện liên lỷ.

Tôi khen ngợi và khâm phục Giáo phận Đàlạt về các nỗ lực truyền giáo, đặc biệt nơi anh chị em dân tộc. Chính sự nhiệt thành này đã mang lại nhiều hoa trái, giúp nhiều người thay đổi cái nhìn về Hội Thánh và đón nhận đức tin Công giáo.

Hãy để Chúa Thánh Thần hướng dẫn và xin Ngài luôn ở củng anh chị em. Xin Đức Mẹ Lavang và các Thánh Tử Đạo Việt Nam phù hộ che chở cho Giáo Phận Đàlạt thân yêu”.

Trong phần dâng của lễ, Cha Tổng Đại diện Phaolô cho biết trước đó về ý nghĩa của lễ vật dâng lên Yàng (Thiên Chúa) của người dân tộc. Trong nghi thức này, các động tác được rút ra từ lao động thực tế : Thọc lỗ, tỉa lúa, gặt lúa, giã gạo, làm bánh được biến thành những điệu múa, và cuối cùng, bánh được dâng lên để thành của ăn thiêng liêng nuôi sống người tín hữu.

Phép lành cuối lễ được Đức Tổng trao ban cho cộng đoàn, một lần nữa xác định rằng : ân sủng của Thiên Chúa luôn được tuôn tràn qua Hội Thánh của Ngài.

Được dùng cơm tối với những đặc sản bình dị của rừng núi, được lắng nghe những âm thanh trầm bổng của các nhạc cụ dân tộc, được quây quần bên nhau trong tình thân gia đình, Đức Tổng, Đức Cha Antôn và hết mọi người đều cảm nhận được sự gần gũi, thân ái và tràn đầy tình yêu thương.

Sau khi Đức Tổng, Đức Cha Antôn và cha thư ký André châm lửa, những điệu múa Lòt mir (Lên rẫy), Bơ dà (Xuống suối lấy nước), Rơpu (vũ điệu trâu núi), Drôh Pơnu (chàng trai và cô gái) được các em nhỏ và cả người già trình diễn quanh đống lửa hồng, làm thắm đượm thêm tình hiệp nhất và liên kết của mọi người trong gia đình Hội Thánh. Tâm tình của những người con đơn hèn đối với Vị Cha chung như được nhắc lại và xác quyết : “Chúng con kính xin Đức Tổng dâng lên Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI, Vị Cha chung của Giáo Hội, tâm tình biết ơn và hiếu thảo của những người con thiểu số, bé nhỏ. Xin Đức Tổng thưa với Người rằng chúng con yêu mến Người lắm và chúng con luôn nhớ đến Người trong kinh nguyện hàng ngày. Chúng con hứa với Người sẽ sống thật tốt để chính chúng con trở nên những chứng nhân đích thực của Chúa cho các anh em dân tộc khác chưa nhận biết Chúa”.

Khải Linh – Nhóm phim ảnh Gx Chính Tòa