PHẦN 1

Giáo Họ Di-om

Hôm qua và ngày nay

Bước vào năm 2008, Giáo Họ Diom xây dựng nhà thờ mới cũng là dịp mừng kỷ niệm 50 năm hình thành và phát triển Giáo Họ, và đây cũng là nhà thờ thứ hai của Giáo Họ. Thực ra công trình xây dựng này chỉ là phục hồi ngôi nhà thờ đơn sơ nhỏ bé đã được cha Darricau (MEP) dựng từ năm 1958. Nói là phục hồi vì từ tháng 10 năm 1975, ngôi nhà thờ Diom A đã bị đóng cửa khi các cha Tây bị trục xuất khỏi Việt Nam, và rồi nhà thờ cũng đã bị phá vỡ và khu vực đất nhà thờ cũng bị trưng dụng. Trước tình hình giáo dân mỗi ngày một gia tăng, Giáo Họ Diom đã kiếm đất mới và xin phép xây dựng nhà nguyện để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt phụng vụ của hơn 3200 tín hữu Nam sông Đanhim.

Từ một Giáo Điểm truyền giáo cho người Churu bên Nam sông Đanhim, nay đã trở thành Giáo Họ Diom với một quá trình 50 năm hình thành và phát triển.

I* BƯỚC ĐẦU TRUYỀN GIÁO CHO NGƯỜI CHURU :

Người Churu hay người K’Ho đều có chung những bước khởi đầu truyền giáo và gắn liền với Giáo Phận Đà Lạt.

1* Những bước chân nhà truyền giáo đầu tiên vùng cao nguyên Lâm Viên :

Nói đến việc khám phá ra Đà Lạt, người ta thường nghĩ ngay đến công lao của bác sĩ Yersin, nhà thám hiểm, đã phải vất vả tìm kiếm một vùng đất có khí hậu mát mẻ để mở đầu cho một làn sóng di dân lên vùng cao. Tuy nhiên, bước chân người Tây Phương đầu tiên đặt chân đến vùng đất cao nguyên này lại là một nhà truyền giáo đang hoạt động ở Phan Rang. Đó là cha Gonzague Villaume, tên Việt thường gọi là cha cố Đề, một linh mục thuộc Hội Thừa Sai Paris, đang coi sóc ở họ đạo Phan Rang, ngày nay là Giáo Xứ Tân Hội, được xem là Kitô hữu đầu tiên đặt chân lên vùng đất cao nguyên Đà Lạt này. Nguyên do vào năm 1885, một nhóm Văn Thân quá khích nổi lên đốt phá các làng Công Giáo, khiến cha Cố Đề cùng thầy sáu Khiêm và hai chú giúp lễ đã phải trốn lên dãy núi phía Đơn Dương bây giờ (đèo Ngoạn Mục), rồi dọc theo con sông Đanhim qua các làng Thượng như Labouye, Diom, M’Lon để đến Finôm tìm đường về Di Linh. Cha đã phải băng rừng vượt suối hơn 500 cây số trong suốt 24 ngày mới về tới Sài Gòn.

Năm 1890, bác sĩ Yersin, một con người có óc mạo hiểm đã tìm đến cha cố Đề để hỏi đường lên cao nguyên nhưng chuyến mạo hiểm theo ngả Phan Rí lên Tam Bố bất thành vì ông bị sốt rét. Phải ba năm sau, năm 1893, bác sĩ Yersin cùng đoàn thám hiểm, trong đó có cha Robert, quản lý hội Thừa Sai tháp tùng, đã lên hết đèo Sông-Pha, lần theo sông Đa Nhim qua đất Diom ra Fi-Nôm lên Prenn rồi đến tận chân núi Lang Bian là đất của người Lạch, và có lẽ tên Đà Lạt bây giờ có nghĩa là đất nước của người Lạt (ĐÀ : tiếng K’Ho có nghĩa là nước; LẠT là dân Lat).

Nếu năm 1838 được coi là cột mốc đầu tiên của việc truyền giáo cho các dân tộc thiểu số ở các vùng Kon Tum, Plêiku, Buôn Ma Thuật với các vị thừa sai dưới thời Đức cha Cuénot Thể, thì tại vùng cao nguyên Đà Lạt chúng ta phải đợi đến năm 1927 mới được coi là mốc điểm truyền giáo cho người dân tộc thiểu số qua sự họat động của cha Gioan Cát-Sanh (Jean Cassaigne). Thực ra vào năm 1921 cha Céleste Nicolas, Quản Xứ nhà thờ Nicôla Đà lạt, đã có những cuộc tiếp xúc với anh chị em K’Ho, ngài đã mở nội trú cho các con em người Thượng nhưng chẳng được bao lâu thì đóng cửa vì người Thượng chưa thể làm quen bầu khí thành thị.

2* Đức cha Gioan Cát-Sanh, ông tổ của những vị truyền giáo người Thượng.

Năm 1918, ngôi nhà nguyện đầu tiên mọc lên giữa vùng cao nguyên này là nhà xứ Chánh Tòa Đà Lạt bây giờ. Các vị thừa sai đã nghĩ đến việc truyền giáo cho người Thượng vùng cao nguyên này nhưng phải đợi đến năm 1927 ý định mới thành hiện thực. Đức cha Isodore Dumortier, đại diện tông tòa Sài Gòn, đã cắt cử cha Gioan Cát-Sanh lên Di Linh (Djiring), nơi có đồn điền của người Pháp để lo việc truyền giáo cho người Thượng.

Tháng 10 năm 1926, Cha Gioan Cát-Sanh lên đường từ Sài Gòn qua ngả Phan Thiết tới ga Ma Lâm thì gặp bão lụt lại phải quay trở về Sài Gòn, nên ngài đãø xuống Cái Mơn để học tiếng Việt. Đầu năm 1927, cha lại lên Đà Lạt rồi xuống Di Linh cùng với một người bếp là ông Mừơi điếc, chú giúp lễ tên là Nhân và 2 giáo dân làm thành một cộng đòan tín hữu đầu tiên giữa vùng núi hoang sơ. Cuộc sống ban đầu thật khó khăn, ngài bị ngã nước, sốt rét hầu như kinh niên. Dù vậy ngài vẫn không quên nhiệm vụ truyền giáo là tiếp xúc và đặc biệt là chăm sóc cho những người Thượng phong cùi bị buôn làng cách ly. Sau gần một năm, tức là ngày 7/12/1927 ngài mới Rửa Tội cho một người Thượng đầu tiên là Maria K’Trut, một người đàn bà bị phong cùi trong lúc hấp hối đã nói với ngài: “Khi con về thiên đàng, con sẽ nhớ tới cha”. Cha bắt đầu học tiếng K’Ho, soạn và in tự điển K’Ho – Pháp, dạy học, dạy giáo lý và cả chữa bệnh. Cha lập làng cùi và được chính quyền hỗ trợ. Người con nào cha cũng thương, nhưng đứa con đau khổ thì thương hơn.

Cha Cát-Sanh còn gia tăng họat động truyền giáo ở vùng Bắc Hội, và người tín hữu K’Ho đầu tiên của vùng này là anh K’Brai chịu Thánh Tẩy ngày 19/3/1930 và đến lễ Giáng Sinh thì cả gia đình theo đạo. Cha còn hoạt động truyền giáo ở cả họ đạo Xuân Trường, Cầu Đất, xây dựng nhà thờ Công Hinh là nhà thờ Bảo Lộc bây giờ, rồi đến K’Long, Kala…

Năm 1941 cha Gioan Cát-Sanh được gọi về làm giám mục Sài Gòn, tới năm 1955 ngài xin từ chức để trở về với những người phong cùi ở Di Linh. Đức Cha Cát-Sanh luôn xác tín công cuộc truyền giáo cho đồng bào sắc tộc vùng cao nguyên này có sự phù trợ chuyển cầu của người đàn bà phong cùi đầu tiên theo đạo.

3* Những Kitô hữu Churu đầu tiên :

Trước khi cha Darricau đến làng Diom truyền giáo cho những người Churu gia nhập Hôi Thánh Công Giáo thì tại làng Diom đã có một vài Kitô hữu người Churu rồi. Đó là cô Hélène Touneh Hàn Đào, anh Lucien-Francois Touneh Hàn Thọ và cả anh Pierre Kil K’Seê. Cả ba người này là con của vị Già Làng Diom, Touneh Hàn Đăng, một người có uy thế trong chính quyền và có tiếng nói quyết định đối với người Churu.

– Cô Touneh Hàn Đào là con cùng cha khác mẹ với anh Touneh Hàn Thọ. Già Làng Touenh Hàn Đăng là người Churu chính gốc, do chính sách Việt hóa các dân tộc thiểu số mà ông có thêm họ và tên Việt. Ông là một quan chức chính quyền từ thời vua Bảo Đại, ông kết hôn với một người Chăm tên là Lưu Thị Phung, sanh được hai người con trai là Touneh Hàn Tín và Touneh Hàn Định. Do quan hệ làm việc nay đây mai đó, ông đã có một người con ngoại hôn là Touneh Hàn Đào, gốc người Hoa. Sau khi bà vợ chết, ông Touenh Hàn Đăng đã cưới bà Nguyễn Thị Dung là người quê quán ở Huế. Bà Nguyễn Thị Dung sinh cho ông Touneh Hàn Đăng nhiều con trai nhưng không có người con gái nào. Đối với người Kinh, đàn ông phải có con trai nối dõi tông đường thì đối với người Thượng, gia đình phải có con gái mới là giữ nhà giữ cửa cho tổ tiên (chế độ mẫu hệ : gái bắt chồng). Vì thế, ông Touneh Hàn Đăng đã đưa cô Touneh Hàn Đào về nhà như là con nuôi để tránh tiếng với vợ và buôn làng. Cô Touneh Hàn Đào do được học ở các trường Công Giáo nên có cảm tình với đạo Công Giáo ngay từ bé, nhưng khổ nỗi bà mẹ nuôi (vợ Già làng Hàn Đăng) lại rất nghiêm ngặt, sách đạo cô đem về nhà đều bị bà đem đốt. Cuối cùng cô đã trốn mẹ nuôi, băng sông Đanhim tìm đến một nhà thờ gần nhất để được Rửa Tội. Cô đã đến nhà thờ Lạc Lâm vào cuối năm 1954 khi nhà thờ này vừa mới hình thành sau đợt di cư từ Bắc vào Nam. Phụ trách di cư lúc ấy là cha Nguyễn Hữu Kỳ đã ban bí tích Thánh Tẩy cho cô với tên thánh là Hêùlêna, và người đỡ đầu là bà Hát ở gần nhà thờ Lạc Lâm. Do đang thời kỳ ổn định di cư nên không có sổ Rửa Tội và cũng không thể xác định chắc chắn cô được Rửa Tội ngày tháng nào.

– Anh Touneh Hàn Thọ, con của Già làng Touneh Hàn Đăng và bà Nguyễn Thị Dung, em cùng cha khác mẹ với cô Hàn Đào, đang khi theo học ở trường Lasan Adran đã xin gia nhập Giáo Hội Công Giáo ngày 17/2/1955 tại Nhà thờ Nicôla Đà Lạt (bây giờ là Chánh Tòa Đà Lạt) với tên thánh là Lucien-Francois, sổ Rửa Tội số 5377bis, quyển số 9. Ông Lucien-Francois Touneh Hàn Thọ sau này có văn bằng Tiến sĩ Xã hội học tại nước Bỉ (rất tiếc luận án tiến sĩ của ông về đông bào sắc tộc sau năm 1975 đã bị bà Hàn Đào đốt sạch vì sợ liên lụy). Sau năm 1975, ông và gia đình đã định cư ở Mỹ và hiện đã qua đời.

– Anh Pierre Kil K’Seê, chồng cô Touneh Hàn Đào, người K’Ho, gốc ở Lạc Dương, học Giáo lý từ năm 1950 nhưng rồi bận đi lính nên mãi đến năm 1954 mới được cha Lefèvre Rửa Tội ở Trung Tâm Thượng Camly. Cha Lefèvre đã chứng hôn cho cặp vợ chồng Hélène Touneh Hàn Đào và Pierre K’Sé tại Trung Tâm thượng Camly năm 1955. Dân tộc K’Ho hay Churu đều theo chế độ mẫu hệ nên anh Pierre K’Se đã về làng Diom làm rể nhưng anh cũng ít có mặt ở Diom vì đang đi lính.

– Bé Maria Touneh Hàn Tuyết sinh ngày 22/9/1956, con đầu lòng của anh chị Hàn Đào và K’Seê, đã đuợc Rửa Tội ở Nhà thờ Nicôla Đà Lạt ngày 4/11/1956, sổ Rửa Tội số 6274, quyển số 10, người đỡ đầu là Maria Nguyễn Thị Đào (dựa vào chữ ký trong sổ Rửa Tội, cha Rửa Tội xin được phỏng đóan là cha Rôcô Trần Hữu Linh).

Đó là những Kitô hữu Churu đầu tiên của Đơn Dương và Đức Trọng, nói chung là Giáo Phận Đà Lạt (vì người Churu chỉ tập trung ở Đơn Dương dọc theo Nam sông Đanhim kéo dài đến Tahine), trước khi cha Darricau đến Thạnh Mỹ vào năm 1958 để thành lập Trung Tâm Thượng M’Lon, chính thức truyền giáo cho người Churu và K’Ho vùng Đơn Dương.

LM QUẢN XỨ LẠC VIÊN

QUẢN NHIỆM DIOM

Phaolô Phạm Công Phương

0988401864 – ppcphuong@gmail.com

                                                                                                            Hải Đăng