GIÁO HỌ DIOM: HÔM QUA VÀ HÔM NAY

II. GIÁO ĐIỂM DIOM: CHIẾC NÔI TRUYỀN GIÁO CHO NGƯỜI CHURU

Khi nói đến lịch sử truyền giáo tại Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc đến một khuôn mặt đại thụ đáng kính là Cha Alexandre de Rhodes (tên Việt thường gọi là Cha Đắc Lộ) với công trình hình thành nên hệ chữ Quốc ngữ.

Và khi nói đến lịch sử truyền giáo cho đồng bào sắc tộc Thượng trong Giáo phận Đà Lạt, người ta luôn ghi khắc công ơn to lớn của Đức cha Jean Cassaigne (Đức cha Gioan Cát Sanh) với sự kiện Rửa Tội tiên khởi cho một người phụ nữ K’Ho bị phong cùi đang trong cơn hấp hối vào ngày 07/12/1927.

Theo dòng mạch đó, khi nói đến công cuộc loan báo Tin Mừng cho người Thượng vùng Đơn Dương, chúng ta phải trân trọng nhắc đến Cha François Darricau – người đã đặt nền móng thành lập thí điểm truyền giáo đầu tiên tại M’Lon vào năm 1958.

1. Từ một khát vọng hướng về ánh sáng

Ngược dòng lịch sử vào năm 1954, khi Cha Darricau đang được bề trên sai phụ trách giáo xứ Đran để coi sóc ba cộng đoàn người Việt, thì một hôm, trên cung đường mục vụ di chuyển từ Đran đi Phi Nôm, ngài bất ngờ gặp một nhóm thanh niên người Churu trú ngụ tại làng Diom chặn đường. Nhóm bạn trẻ này đã dùng tiếng Pháp để bày tỏ với ngài một ước nguyện thiết tha: Họ mong mỏi có được một vị mục tử về tận buôn làng để coi sóc, bởi họ tự nhận thấy mình đang phải sống trong bóng tối âm u và vô cùng khát khao đón nhận ánh sáng đức tin.

Đứng trước tâm tình đơn sơ và khát vọng chân chính của những người con núi rừng, Cha Darricau vô cùng xúc động. Tuy nhiên, lúc bấy giờ ngài đành tạm thời lực bất tòng tâm vì bản thân chưa được học và chưa biết một chút gì về ngôn ngữ Churu bản địa.

Cũng trong năm định mệnh ấy, Cha Darricau nhận lệnh thuyên chuyển về vùng Kala, Di Linh để dấn thân truyền giáo và bắt đầu học tiếng K’Ho. Sau đó, một số Linh mục phó thuộc Giáo phận Đà Lạt người Việt đã chủ động xuống tiếp cận với đồng bào Churu ở Diom để thực hiện các công tác mục vụ miền Thượng như cứu trợ, phân phát thực phẩm và thuốc men y tế.

Duyên nợ truyền giáo quay trở lại vào cuối năm 1957, khi Cha Darricau chính thức được sai đến vùng M’Lon để thăm dò địa bàn (thời gian này ngài chưa ở hẳn tại đây), nhằm thành lập thí điểm truyền giáo, khởi sự cho toàn bộ công cuộc loan báo Tin Mừng cho người Thượng vùng Đơn Dương (Đran).

Vào ngày 16/07/1958, Đức cha Gioan Cát Sanh (Jean Cassaigne) đã thân hành về chủ sự lễ khánh thành Trung tâm Thượng M’Lon (Centre Montagnard de M’Lon). Mối bận tâm và thao thức lớn nhất của Cha Darricau lúc này chính là tìm cách lặn lội đến với anh chị em Churu ở buôn làng Diom, nhằm đáp lại lời thỉnh cầu năm xưa: “Chúng con đang sống trong bóng tối, rất mong ánh sáng!”.

Cha Darricau đã tự tay dựng một ngôi nhà nguyện đơn sơ tại Diom. Cứ mỗi chiều thứ Bảy hằng tuần, ngài lại băng rừng sang đây để tập cho các em nhỏ cách giúp lễ, tập hát các bài thánh ca bằng tiếng Latinh để chuẩn bị cho Thánh lễ sáng Chúa nhật, dù cho thời điểm đó, các ‘giáo dân’ tại đây vẫn chưa một ai được lãnh nhận Bí tích Rửa Tội. Sau mỗi Thánh lễ, ngài lại miệt mài gieo mầm qua việc giảng dạy Giáo lý dự tòng cho bà con buôn làng Diom cùng các làng lân cận suốt từ năm này qua năm khác với một sự kiên nhẫn mục tử, không hề vội vã thúc ép Rửa Tội ngay. Dù vậy, Cha Darricau vẫn dành sự ưu tiên đặc biệt để đón nhận và làm phép rửa cho các em bé sơ sinh được gia nhập vào Hội Thánh.

2. Những hoa trái đầu mùa dồi dào

Cuốn Sổ Bộ Rửa Tội của Trung tâm Thượng M’Lon thời bấy giờ ghi nhận số thứ tự 1 và 2 là hai em bé người Kinh ở M’Lon. Và kể từ số thứ tự thứ 3 trở đi, cuốn sổ bắt đầu dày đặc tên tuổi của các em bé người Churu đến từ các buôn làng: Diom, B’Kè, B’Kăn, Tơn’Hiang, Diom B (Petit Diom), Ka Đơn rồi mới lan rộng đến M’Lon, M’Răng, K’răng Go, Labouye…

Học viên sơ sinh số 1 mang tên Maria Câu Thị Nhung, sinh ngày 16/04/1958 và được Cha Darricau cử hành phép Rửa ngày 07/09/1958 tại M’Lon. Em bé số 2 là Anna Nguyễn Thị Cường, sinh ngày 11/04/1959 và được tái sinh trong ơn Chúa ngày 15/04/1959 cũng tại M’Lon.

Và em bé mang số thứ tự thứ 3 – Kitô hữu sắc tộc đầu tiên trong cuốn Sổ Rửa Tội của Cha Darricau – chính là Pierre Touneh Phụng (con của ông Pierre Kil K’Se và bà Hélène Touneh Hàn Đào), sinh ngày 19/05/1959 và được Cha Darricau rửa tội ngày 07/06/1959 ngay tại làng Diom; hiện nay anh đang định cư tại Hoa Kỳ. Người mẹ hiền của anh hiện vẫn đang sinh sống khỏe mạnh tại làng Diom A. Như đã đề cập ở trên, tính đến thời điểm anh Phụng được làm phép rửa thì cha mẹ anh đã là những tân tòng giữ đạo tinh tuyền được 5 năm.

Ngay sau dấu mốc lịch sử đó, cũng trong năm 1959, Cha Darricau đã thực hiện một loạt Bí tích Thánh Tẩy cho các em bé tại làng Tân Hiên (trong Sổ Rửa Tội ghi là Tơnhiang), B’Kăn (Kan), Diom, B’Kè (N’Kệ), Đran-Nrai. Tất cả các làng này đều được Cha cẩn thận chú thích thêm trong dấu ngoặc đơn là (Diom), điều này minh chứng rằng ngài luôn xem Diom là Giáo điểm trung tâm cốt lõi.

Mãi đến ngày 26/12/1959, những người trưởng thành thuộc sắc tộc K’Ho đầu tiên của vùng Đơn Dương mới chính thức được Cha Darricau ban phép Rửa Tội tại M’Lon. Đây là những lớp dự tòng thực thụ, được kinh qua quá trình học hỏi Giáo lý bài bản chứ không phải là trẻ sơ sinh như các trường hợp ở Diom. Đó là gia đình của ông Jean Ya Ta (Sổ Rửa Tội số 20, sinh ngày 28/07/1928, là con của ông Ya Bo và bà M’Mun); hiền thê của ông là bà Marie Jeanne H’Gung (Sổ Rửa Tội số 21, gốc Ban Mê Thuột, sinh năm 1930, hiện đã trở về sinh sống tại Ban Mê Thuột) cùng bốn người con của ông bà (bà H’Gung và ba người con gái diễm phúc được bà Marie Françoise De Guenyvau nhận làm người đỡ đầu thiêng liêng).

Tiếp sau đó là gia đình của ông Michel Krơng (nay đã qua đời) cùng người vợ là bà Marie Anne Ka-Del và bốn người con thơ ở làng Da-Ding. Cũng trong ngày hồng phúc 26/12/1959 ấy, Cha cũng làm phép rửa cho cô Marie-Marthe Ma Chương, lúc đó 16 tuổi. Sau này, cô Ma Chương cùng chồng đã thường xuyên lặn lội sang Diom để làm người đỡ đầu cho rất nhiều em nhỏ trong buôn làng. Những cộng tác viên đắc lực thường xuyên đồng hành bên cạnh Cha Darricau trong các công tác mục vụ tại Diom thời kỳ này gồm có anh Joseph K’Sur (người giúp việc nhà bếp, hiện đang định cư tại Diom B), vợ chồng chị Ma Chương – Thomas K’Bài, và sau này có thêm anh Jean Ya Ta cùng anh Michel Krơng ở M’Lon.

Kể từ năm 1961, các cha thừa sai thuộc Hội Thừa sai Hải ngoại Paris (MEP) đã chính thức bàn giao lại toàn bộ vùng đất phía Nam sông Đa Nhim cho các Linh mục thuộc Tu hội Truyền giáo Vinh Sơn (với các mục tử tiêu biểu như các cha: Cartier, Dulucq, Déthune, Jacques Gros, Berset…).

Vào năm 1962, Đức cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền đã thân hành về vùng cao để dâng Thánh lễ đại trào, ban phép Thánh Tẩy cho một vị Già làng Churu đầy uy tín tại Diom là ông René Touneh Hàn Đăng (ông nội của em bé Pierre Touneh Hàn Phụng, tính theo cách gọi của đồng bào Churu, còn đối với người Việt là ông ngoại). Vị Già làng đáng kính này đã được chính Cha René Dulucq nhận làm con đỡ đầu thiêng liêng.

Khoảng một năm sau, nhờ uy tín và ơn biến đổi mạnh mẽ, chính vị Già làng này đã dẫn dắt toàn bộ dân làng của năm buôn cùng đồng lòng xin chịu phép Rửa Tội (Sổ Rửa Tội của M’Lon không lưu danh tính của những tân tòng này vì kể từ thời điểm đó, Giáo điểm Diom đã được chuyển giao hoàn toàn cho các cha dòng Vinh Sơn trách nhiệm). Kể từ đây, cánh đồng truyền giáo cho người Churu dọc theo bờ Nam sông Đa Nhim kéo dài từ Diom đến Tahine liên tục được các cha dòng Vinh Sơn miệt mài gieo trồng và gặt hái những mùa màng đức tin dồi dào.

3. Những dấu ấn lịch sử đáng ghi nhận

  • Thứ nhất: Chúng ta có thể khẳng định Cha Darricau chính là vị tiền bối khởi sự công cuộc truyền giáo cho người Churu đầu tiên. Dù ngài đặt nhà xứ và cư trú tại Trung tâm M’Lon, nhưng địa bàn loan báo Tin Mừng tiên khởi và gặt hái quả ngọt lại chính là mảnh đất Diom (bởi lẽ công việc mục vụ tại M’Lon thường được ngài tin tưởng giao phó cho các Nữ tu dòng Phan Sinh đảm nhiệm từ năm 1959). Và em bé Pierre Touneh Hàn Phụng chính là Kitô hữu người Thượng đầu tiên (07/06/1959) của toàn Giáo hạt Đơn Dương, mở đường cho công cuộc truyền giáo của Cha Darricau. Em bé tiên khởi này cũng là một biểu tượng tuyệt đẹp cho sự hòa hợp dân tộc, khi mang trong mình dòng máu của 3 sắc tộc: em là người Churu, có người cha là người K’Ho (Lạc) và người mẹ là người Kinh (mang một nửa dòng máu Churu, một nửa dòng máu Hoa, là con riêng của cụ Touneh Hàn Đăng).

  • Thứ hai: Diom xứng đáng được xem là chiếc nôi đức tin linh thánh của người Churu vùng Đơn Dương nói riêng và của toàn Giáo phận Đà Lạt nói chung. Bởi từ nhà truyền giáo tiên khởi Darricau cho đến các cha dòng Vinh Sơn kế tục, tất cả đều chọn Diom làm bản doanh hoạt động truyền giáo, từ đó mới nới rộng vòng tay đến các buôn làng khác dọc theo dòng sông Đa Nhim tiến về vùng Tahine thuộc huyện Đức Trọng. Theo lời kể của Già làng Touneh Hàn Đăng, danh xưng “Diom” xuất hiện từ một giai thoại xưa của bộ tộc. Chuyện kể rằng có một cặp vợ chồng tổ tiên (mọ kêi pàng) ngày xưa do có quan hệ huyết thống rất gần gũi (con cô con cậu ruột) nhưng vì tiếng sét ái tình đã lén lút “bắt nhau” làm chồng vợ. Đây là một điều cấm kỵ và là nỗi xỉ nhục lớn cho gia tộc thời bấy giờ, buộc lòng đôi vợ chồng ấy phải trốn chạy, tìm đến sinh sống ẩn dật tại một khu rừng rậm hoang vu – chính là làng Diom ngày nay – để tránh tiếng xấu cho gia đình. Trong ngôn ngữ Churu, “Diom” (hay Jơm) có nghĩa là chiếc tủ kín, dùng lá cây che phủ lại để giấu kín. Cha Darricau đã phiên âm từ chữ Jơm thành chữ Diom, còn bà con giáo dân Lạc Viên thường gọi vùng này bằng cái tên dân dã là “bên Dầm”.

  • Thứ ba: Cha Darricau không chỉ là người khai mở, mà ngài còn được mệnh danh là người mục tử của những ngôi nhà thờ miền Thượng. Trong suốt cuộc đời mục vụ của mình, có tới 23 ngôi nhà nguyện, nhà thờ lớn nhỏ do chính đôi bàn tay Cha Darricau khởi dựng. Bao quanh vùng phụ cận Diom cũng cĩ tới mấy ngôi nhà nguyện nhỏ bé, tuy rất khiêm tốn về kiến trúc nhưng lại là những “trạm dừng chân tâm linh” vững chắc để các Cha thỉnh thoảng đến dâng Thánh lễ và dạy học cho bà con.

III. GIÁO ĐIỂM DIOM SÁP NHẬP VÀO GIÁO XỨ LẠC VIÊN

Giáo điểm Diom kể từ ngày được Cha Darricau gầy dựng ngôi nhà nguyện đầu tiên vào năm 1958, trải qua chuỗi năm dài dạy Giáo lý dự tòng cho buôn làng Diom A cùng các làng phụ cận như B’Kăn, B’Kè, Diom B và Tơn’Hiang, cho đến năm 1961 thì được chuyển giao cho các cha dòng Vinh Sơn coi sóc. Lần lượt các Cha: Cartier (về Diom năm 1961), Cha Dulucq, Cha Déthune, Cha Jacques Gros và cuối cùng là Cha Berset đã đến đây để gắn bó với buôn làng. Sau biến cố lịch sử ngày 30/04/1975, Cha Berset vẫn kiên cường bám trụ lại với đoàn chiên Diom cho đến tháng 10 năm 1975 thì ngài buộc phải hoàn tất thủ tục trục xuất khỏi Việt Nam.

Kể từ ngày vị mục tử cuối cùng ra đi, các tín hữu vùng Diom bỗng chốc rơi vào cảnh ngộ như đoàn chiên tan tác không người chăn dắt. Suốt một thời gian dài, bà con không có nơi tụ họp đọc kinh, vắng bóng Thánh lễ hằng ngày. Thế nhưng, ngọn lửa đức tin âm ỉ trong lòng đã thúc bách họ phải lặn lội đi tìm kiếm những ngôi thánh đường lân cận còn mở cửa để được lãnh nhận các Bí tích.

Trong cảnh ngộ đó, các tín hữu tại vùng Diom B và buôn B’Kè đã chọn tìm đến Nhà thờ Châu Sơn vì đây là lộ trình gần nhất. Ngược lại, các tín hữu thuộc làng Diom A và buôn B’Kăn lại chọn cách lặn lội vượt qua dòng sông lớn để tiến về Nhà thờ Lạc Viên dâng đơn xin sáp nhập vào Giáo xứ. Giáo điểm Labouye thuộc sắc tộc K’Ho tọa lạc ở khu vực đầu làng Lạc Viên sau đó cũng được cha xứ tiếp nhận, sáp nhập vào Giáo xứ Lạc Viên.

Xét về địa lý, Diom và Lạc Viên vốn không cách nhau quá xa, chỉ trong bán kính vài cây số; duy chỉ có bà con ở làng Tơn’Hiang là vất vả hơn cả khi phải mất hơn hai tiếng đồng hồ đi bộ đường mòn mới đến được Nhà thờ Lạc Viên. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất và nguy hiểm nhất chính là con sông Đa Nhim chia cắt hai bờ. Vào mùa nắng, bà con còn có thể lội bộ qua những đoạn nước cạn; nhưng khi mùa mưa lũ về, cách duy nhất là phải chèo bè vượt sông. Điều này vô cùng nguy hiểm tính mạng bởi dòng sông có thể xả lũ bất cứ lúc nào, sẵn sàng cuốn trôi tất cả xuống hạ nguồn.

Cha cố Phêrô Trần Bảo Thạch – Quản xứ Lạc Viên thời bấy giờ – chính là người mục tử nhân hậu đã mở lòng đón nhận làng Diom và buôn B’Kăn gia nhập vào đại gia đình Giáo xứ. Mặc dù trong hoàn cảnh xã hội sau năm 1975 gặp muôn vàn khó khăn, việc đi lại tiếp cận buôn làng bị hạn chế ngặt nghèo, nhưng Cha cố vẫn luôn chu đáo, tìm mọi cách để chu toàn các bổn phận mục vụ và bí tích đối với anh chị em đồng bào dân tộc thiểu số.

Mãi cho đến cuối năm 2004, dưới thời Cha quản xứ Phaolô Phạm Công Phương, ba vùng đất: Diom A, B’Kăn và Labouye mới chính thức được hợp thức hóa, trở thành ba Giáo khu trực thuộc Giáo xứ Lạc Viên, được hưởng trọn vẹn mọi quyền lợi thiêng liêng cũng như thực hiện các nghĩa vụ chung như bao giáo khu người Kinh khác trong xứ.

IV. GIÁO ĐIỂM DIOM CÓ THÊM SỰ HIỆN DIỆN CỦA NGƯỜI KINH

Sau cột mốc năm 1975, Nhà nước bắt đầu phát động phong trào giãn dân, kêu gọi nhân dân đi xây dựng các vùng kinh tế mới tại khu vực phía bờ Nam sông Đa Nhim. Hưởng ứng phong trào này, nhiều hộ gia đình từ làng Lạc Viên đã can đảm vượt sông sang khai khẩn đất đai tại khu vực đồi hoang sơ nằm xen kẽ giữa làng Diom A và Diom B.

Cuộc sống những ngày đầu khai hoang mở đất gặp muôn vàn gian nan, chật vật. Bà con vừa phải đối diện với tình trạng thiếu ăn, thiếu mặc, lại vừa phải lo lắng về vấn đề an ninh trật tự chưa ổn định tại vùng biên, khiến không ít người nản chí đã bỏ cuộc để quay về lại Lạc Viên hoặc chuyển di cư sang nơi khác lập nghiệp. Thế nhưng, vẫn còn đó những tấm lòng kiên cường chọn cách bám trụ lại với mảnh đất này. Họ cần mẫn nhặt từng viên đá cuội, đào từng gốc cây cổ thụ, đổ mồ hôi vun xới cho mảnh đất hoang hóa ngày một thêm màu mỡ.

Nhờ sự kiên trì đó, khu vực kinh tế mới ngày càng đi dần vào thế ổn định và phát triển nề nếp. Đến nay, số lượng gia đình định cư tại đây đã tăng lên hơn 100 hộ với ngót nghét 500 nhân khẩu. Danh xưng “giãn dân” từ lâu đã trở nên vô cùng thân thuộc đối với người dân Lạc Viên, và nó cũng chính thức trở thành danh từ riêng để gọi tên cho vùng đất kinh tế mới này: thôn Giãn Dân.

Nếu như công việc làm ăn sinh sống của bà con giờ đây đã tạm thời ổn định, đạt mức “hằng ngày dùng đủ”, thì đời sống tôn giáo của người Kinh vùng Giãn Dân vẫn còn đối diện với nhiều thử thách và đòi hỏi sự phấn đấu không ngừng. Để được nuôi dưỡng thiêng liêng, hằng tuần bà con Giãn Dân phải lặn lội ngược xuôi về lại Lạc Viên để tham dự Thánh lễ và lãnh nhận các Bí tích. Con em trong thôn cũng phải vượt đường xá xa xôi về giáo xứ mẹ để học hỏi Giáo lý. Đối với các cụ già sức yếu, giải pháp thường là xin về tá túc tại nhà người thân ở Lạc Viên từ cuối tuần để ngày Chúa nhật tiện tham dự phụng vụ.

Trước những khó khăn ấy, bà con thôn Giãn Dân đã nỗ lực rất nhiều để từng bước xây dựng nội lực tự lập: Các ban ngành đoàn thể như ban trắc, ban nhạc, ban kèn đồng dần dần được hình thành và đi vào hoạt động bài bản, chung tay cùng các ban nhóm phát triển đời sống đức tin của vùng kinh tế mới ngày một vững mạnh.

LINH MỤC QUẢN XỨ LẠC VIÊN

QUẢN NHIỆM GIÁO HỌ DIOM

Phaolô Phạm Công Phương

0988401864 – ppcphuong@gmail.com

Hải Đăng

(Còn tiếp…)