Vào những năm thuộc các thập niên 10-30 của thế kỷ trước, khi quốc lộ 20 bắt đầu được thi công để nối liền cao nguyên LÂM VIÊN ĐÀLẠT với quốc lộ 1 xuôi về Hòn Ngọc Viễn Đông (SÀIGÒN), cũng chính là thời điểm một số cụm dân cư hình thành dọc theo lộ mới : Finôm, Djirinh, và nông trại Công Hinh.
Công Hinh vào giữa thập niên 30 mới chỉ có vài chục gia trang, chính yếu là công nhân cho nông trại (Ferme), và lục lộ, trong đó chỉ có 7 gia đình công giáo từ Phan Thiết lên lập nghiệp, Ông Bà Tham Toản là người đầu tiên lên định cư nơi đây.
Một giải đất mênh mông trải dài trên 80 Km dọc theo quốc lộ, chỉ có một trung tâm truyền giáo đặt tại Djirinh, tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai Thượng, do Cha J.B Cassaigne hình thành từ 24/01/1927 với chỉ 5 giáo dân. Dầu vậy ngay từ năm 1934-1935 khi quốc lộ được khánh thành, Cha đã thỉnh thoảng vượt 36km đường lộ xuyên núi rừng để đến thăm giáo dân.
Tháng 6 năm 1936, nhờ sự tài trợ của Mẹ Thomas D’Aquin dòng Đức Bà Lâm Viên (20 đồng Đông Dương), Cha và giáo dân khởi sự làm nhà thờ, vách ván ngo, mái lợp lá sồi, năm căn, dài 20m, rộng 8m, và ngày 15/08/1936, nhà thờ mang tên ĐỨC BÀ CÔNG HINH được làm phép và khánh thành. Kể từ đó hằng tháng Cha và Cha phó Nguyễn vĩnh Tiên thay nhau đến dâng lễ một đôi ngày. Vào năm 1938, Cha cũng mở trường tiểu học đầu tiên gồm 4 lớp cho 40 em không phân biệt lương giáo do một mình ông giáo Cầm (tức ông Phanxicô Đồng Văn Giáp), vừa dạy chữ (ban ngày), vừa dạy tân tòng (ban đêm). Đó là tiền thân của Trường Thánh Mẫu.
Năm 1940, số giáo dân đã lên đến 220 người, phần lớn từ miền Bắc theo đợt chiêu mộ đi làm công nhân đồn điền, do đó Cha Cassaigne lại phải làm nhà thờ thứ 2 lớn hơn, vách gổ ngo, mái lợp ngói. Và nhà thờ cũ được biến thành 3 lớp học mới. Thời gian này Cha Phó Jean Chauvel lên xuống coi sóc họ đạo.
Năm 1941, số giáo dân lên tới 500, và giáo phận chính thức thành lập giáo xứ Công Hinh B’lao, tách khỏi Djirinh, và bổ nhiệm Cha Phêrô Bùi hữu Năng làm cha xứ tiên khởi.
Năm 1945, chiến tranh loạn lạc, hầu hết dân cư băng rừng chạy về Phan thiết, đến năm 1946 mới hồi cư.
Tháng 1 năm 1946, Cha Phêrô Phan văn Thời được bổ nhiệm thay thế Cha Năng, nhưng cũng chỉ sau hơn 2 tháng lại từ nhiệm.
Tháng 5 năm 1948, Cha Giacôbê Nguyễn văn Mầu được bổ nhiệm làm Cha Sở.
08/12/1949, Cha Phaolô Nguyễn văn Đậu được bổ nhiệm thay thế Cha Mầu, khi đó số giáo dân lên tới 750 người.
Từ đây giáo xứ bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ.
1950 quả chuông cung “Đô” đã vang ngân đêm Giáng Sinh.
1954 – 1955 trong tinh thần thương yêu, Cha Phaolô cùng với giáo dân đã xả thân tiếp đón những làn sóng di dân từ miền Bắc đổ về đây tìm nơi an cư : cùng với các vị lãnh đạo tinh thần của họ, hình thành những xóm đạo mới chung quanh B’lao : Tân Phát, Tân Thanh, Tân Bùi, Tân Hà, Tân Hóa…
Bản thân xứ đạo, 1956 tách thêm xứ đạo Thánh Tâm-Lộc tiến.
1957 khánh thành nhà thờ thứ 3, một công trình kiên cố đầu tiên của giáo xứ dài 41m, rộng 14m, với tháp cao 18m hiện vẫn còn phục vụ nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của giáo xứ. Hình thành nên ngôi nhà thờ này, không phải chỉ là tiền bạc, nhưng còn là tất cả trái tim của mọi thành phần Dân Chúa : những bức tường bê tông là chứng tích của bao mồ hôi thế hệ thiếu nhi thập niên 50 ấy.
1957-1975 chính trong giai đoạn 20 năm ấy, nhà xứ, trường Thánh Mẫu, núi đá Lộ Đức (1964), trung tâm truyền giáo Thượng (1968), trung tâm Simon Hòa, Trường trung học Cộng Hòa, trung tâm công giáo tiến hành (nhà xứ hiện nay), đài Đức Mẹ Suối An Bình (1974), dần dần được xây dựng kiên cố.
Song song với việc xây dựng các cơ sở vật chất, giáo xứ còn được chia tách thành Giáo Xứ Nam Phương (1970), Phúc Lộc (1971), Thiện Lộc và Chân Lộc (1973).
Với công việc mục vụ chồng chất, nhất là từ khi Giáo Phận ĐàLạt được thiết lập (1960), Cha Phaolô được bổ nhiệm làm Tổng Đại Diện, và cũng từ năm này, Giáo Xứ được đổi tên là Giáo Xứ Bảo Lộc, phiên âm của danh hiệu Paulus. Tới năm 1964 Giáo Phận mới bắt đầu bổ nhiệm cha phó cho giáo xứ : Cha Aug. Võ Ngọc Quyền (1964), Cha Antôn Nguyễn Đình Uyển (1971).
Cũng trong thời gian này Giáo Xứ đã có thể dâng hiến cho Giáo Hội ơn gọi linh mục : Cha Phêrô Nguyễn văn Nhuận (1967), Cha Giuse Nguyễn hữu Duyên (1972), Cha Đaminh Nguyễn văn Thược (1975) và nhiều ơn gọi tu sỹ nam nữ… Và sự tích cực tham gia vào công cuộc tông đồ của giáo dân được ghi nhận qua sự hình thành Legio Mariae, Các Bà Mẹ Công Giáo, Liên minh Thánh Tâm, Thanh niên công lý và hòa bình, Hùng Tâm Dũng Chí, hội kèn đồng, và nỗ lực Giáo Lý cho dự tòng của thầy Andrê Phạm văn Bảng, đã đem lại nhiều thành quả tốt đẹp.
29/03/1975 một trang sử được lật qua với việc Cha Bề Trên Phaolô rời giáo xứ. Đức cố Giám Mục Barthôlômêô Nguyễn sơn Lâm đã bổ nhiệm Cha Giuse Vương văn Điền về làm quản xứ ngày 09/04/1975
Trong những năm đầu đất nước thống nhất, cũng là những giao động lớn về mọi mặt kinh tế, tôn giáo. Người đến kẻ đi, giáo xứ được thêm một Cha Phó : Cha Phêrô Nguyễn Công Linh (08/1975)
Khi đời sống bắt đầu hồi sinh, cùng với đường hướng mục vụ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam qua bức thư chung năm 1980, giáo xứ với trên dưới 4000 giáo dân, đã từng bước khắc phục mọi khó khăn để hòa mình vào đà tiến chung của khu vực. Đây cũng là thời điểm Cha Cố Giuse Vương văn Điền phải ưu tư về một ngôi thánh đường mới.
Năm 1991, Cha Gioan Boscô Trần văn Điện được bổ nhiệm về Bảo Lộc thay Cha Phêrô Nguyễn văn Linh làm phó xứ. Nhưng giáo xứ cũng mất đi một linh mục : Cha Phêrô Lê Quang Nhung, được Chúa gọi về nhà Cha.
Cùng với ban phần việc, Cha Cố Giuse đã trình dự án Nhà Thờ mới theo thiết kế của Kiến Trúc Sư Ngô viết Thụ. Sau nhiều tranh luận trong cũng như ngoài giáo xứ, cuối cùng thiết kế cũng đã được chấp thuận. Cha Cố Giuse đã khởi sự công trình xây dựng từ giữa năm 1993, và ngày 23/11/1993 Đức Cố Giám Mục Barthôlômêô đã chủ sự lễ ĐẶT VIÊN ĐÁ ĐẦU TIÊN với sự tham dự của rất đông các Giám Mục, linh mục, tu sỹ và giáo dân trong và ngoài giáo phận.
Tháng 2 năm 1996 vào mùng 5 tết nguyên đán, Giáo Xứ mất đi người Cha rất mực đôn hậu, khả ái và tận tâm, tận tình : Cha Giuse Vương văn Điền được Chúa gọi về, khi công trình mới chỉ là khởi sự để lại sự luyến tiếc và lo âu.
21 năm phục vụ Cha cố Giuse đã tiếp tục làm cho Giáo Xứ giữ được nét son là điểm quy tụ và hiệp thông trong vùng. Đồng thời làm triển nở thêm nhiều ơn gọi linh mục và tu sỹ nam nữ. Các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế : Giuse Ngô văn Phiên, Ngô văn Kha, Cha Gioakim Nguyễn Đức Mừng, Cha Gioan Baotixita Nguyễn Minh Đức, Cha Barthomeo Nguyễn Đức Thịnh, linh mục Giáo Phận : Cha Đaminh Trần Thả, Phêrô Phạm Văn Thận, Gioan Phạm Văn Độ . Các nữ tu thuộc các hội dòng MTG đã tới con số hàng chục người khấn trọn, cũng còn có các nữ tu thuộc Nữ Tử Bác Ái, dòng Đức Bà Lâm viên, Saint Paul de Chartre… Các tu sỹ nam thuộc Salesien, Đan viện Châu Sơn… và giáo dân lên tới 5000.
18/04/1996 đến nay : Cha Giuse Nguyễn hữu Duyên được bổ nhiệm làm quản xứ. Cùng với sự giúp đỡ to lớn của Đức Giám Mục Giáo Phận Phêrô Nguyễn văn Nhơn, sự yêu thương tương trợ của bà con xa gần, là người đã hoàn thành ngôi nhà thờ trong quy mô thu gọn khả thi của nhóm kiến trúc sư Nguyễn viết Tống và Nguyễn hoàng Sơn. Nhà thờ thứ tư được Cung Hiến ngày 31.05.1999 do Đức Giám Mục Giáo Phận chủ sự, có sự hiện diện đồng tế của Đức Cha Barthôlômêô và anh em linh mục trong và ngoài giáo phận và trên dưới 7000 giáo dân ân nhân xa gần. Nhà thờ mới cùng mang tước hiệu ĐỨC MARIA VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI, như là một nhắc nhở về nguồn.
Nhà thờ hiện nay có kích thước 42m x 42m và cao 31m5, so với đồ án cũ là 60m x 60m và cao 51m, thì qủa thực khiêm tốn rất nhiều.
Cùng với việc xây dựng nhà thờ, Giáo Xứ quan tâm nhiều đến sự phát triển đời sống tâm linh thông qua những thành viên ca đoàn mỗi giáo họ, ca đoàn thanh niên, đồng nhi, kinh thánh, các bà mẹ, gia trưởng…mở nhiều khóa đào tạo ca trưởng, những lớp tập đàn… đào sâu linh đạo tông đồ của Legio Mariae, việc dạy và học giáo lý cho thanh thiếu niên : các lớp giáo lý dự tòng, dự bị hôn nhân, các lớp giáo lý phổ thông, dần được củng cố cả về mặt giáo lý viên, cả về cơ sở vật chất, thúc đẩy người trẻ ngồi lại trong những lễ Augustinô, và Giáng Sinh để đưa người trẻ vào đời, tinh thần bác ái dành cho người nghèo… đặc biệt hằng năm dành ngày 4 tết đội lân và ban nhạc giáo xứ đi thăm và chia sẻ hương vị tết cho trại phong Djilinh…
Kể từ ngày Cây Thánh Giá đầu tiên được dựng lên ở xứ sương mù này, thì đứng dưới chân Thánh Giá vẫn là Mẹ Người, Mẹ đã nhận lời ủy thác của Con, nhận lấy những người con nơi “khỉ ho cò gáy” này. Như những nàng tiên thưở hồng hoang ngủ say giữa rừng, người dân Công Hinh xưa và Bảo Lộc ngày nay, được Mẹ đánh thức và dẫn dắt đưa vào hành trình 70 năm xây dựng từ họ đạo hẻo lánh thành xứ đạo sầm uất hôm nay và không ngừng phát triển tương hợp với thành phố đang lên tầm cao mới. Giáo dân hôm nay đã là 5384 người trong hơn 1000 nóc gia.
Đó cũng là hồng ân từ bao bàn tay đã nằm xuống : các Đức Giám Mục, các linh mục, các tu sỹ nam nữ, những giáo dân…
Đó cũng còn là thành quả hồng ân của bao người còn đây và còn trên mọi mảnh đất xa xôi…
Xin ghi lại để viết thành BÀI CA TẠ ƠN
DÂNG LÊN THIÊN CHÚA
ĐỨC MARIA VÔ NHIỄM
CÁC THÁNH
ĐỨC CHA GIOAN BAOTIXITA CASSAIGNE
ĐỨC CHA SIMON HÒA NGUYỄN VĂN HIỀN
ĐỨC CHA BARTHÔLÔMÊÔ NGUYỄN SƠN LÂM
CHA NGUYỄN VĨNH TIÊN
CHA JEAN CHAUVEL
CHA PHÊRÔ BÙI HỮU NĂNG
CHA PHÊRÔ PHAN VĂN THỜI
CHA PHAO LÔ NGUYỄN VĂN ĐẬU
CHA GIUSE VƯƠNG VĂN ĐIỀN
CHA PHÊRÔ LÊ QUANG NHUNG
CHA AUGUSTINÔ VÕ NGỌC QUYỀN
MẸ THOMAS D’AQUIN
CÁC NỮ TU MTG THỦ THIÊM
ÔNG BÀ THAM TOẢN
ÔNG BÀ ĐỒNG VĂN GIÁP…
VÀ BIẾT BAO TÍN HỮU…
LỜI TẠ ƠN DÂNG LÊN
ĐỨC CHA PHÊRÔ NGUYỄN VĂN NHƠN GIÁM MỤC GIÁO PHẬN
ĐỨC CHA GIACÔBÊ NGUYỄN VĂN MẦU
CÁC LINH MỤC
CÁC TU SỸ NAM NỮ
VÀ TOÀN THỂ ANH CHỊ EM TÍN HỮU TRONG VÀ NGOÀI GIÁO XỨ
ĐÃ, ĐANG VÀ CÒN TIẾP TỤC HY SINH CHO GIÁO XỨ HÔM NAY.









