HỌC HỎI HUẤN THỊ “XUẤT PHÁT LẠI TỪ ÐỨC KITÔ” (PHẦN 1).

(04/08/2002) NHẬP ĐỀ 

1.“Xuất phát lại từ Đức Ki-tô” là tài liệu gì?  

Đ/ “Xuất phát lại từ Đức Ki-tô” là Huấn thị của Thánh bộ Đời sống Thánh hiến và Hiệp hội Tông đồ về việc canh tân cam kết sống đời thánh hiến trong ngàn năm thứ ba, được ban hành vào ngày Lễ Hiện xuống 19/05/2002.  

Đây là thành quả của Hội nghị nhóm họp từ ngày 25 đến 28 tháng 9 năm 2001 của Thánh bộ.  

2. Hội nghị nhắm mục đích gì? 

Đ/ Hội nghị nhắm 2 mục đích:  

* kỷ niệm 5 năm ban hành Tông huấn Hậu Thượng Hội Đồng Đời sống Thánh hiến và duyệt xét hiệu quả do việc đón nhận và thực thi tông huấn của các cộng đoàn, tu hội và Giáo hội địa phương;  

* giúp biện phân nhằm bảo vệ ơn gọi đời sống thánh hiến và nâng đỡ sự chọn lựa dũng cảm làm chứng cho Tin Mừng trong Ngàn năm mới.  

3. Mục tiêu của Huấn thị là gì?  

Đ/ Đó là giúp Đời sống thánh hiến canh tân cam kết sống thánh thiện và tập trung vào linh đạo, theo đường hướng mục vụ của Đức Thánh cha được diễn tả trong Tông thư Bước vào Ngàn năm mới.  

4. Đường hướng mục vụ được vạch ra trong Tông thư là gì? 

Đ/ Đó là “Chèo ra chỗ sâu mà thả lưới” “Duc in altum!” (Lc 5,4), bằng cách:  

* Chiêm ngưỡng khuôn mặt Đức Ki-tô,  

* xuất phát lại từ Người,  

* làm chứng cho Tình yêu của Người. 

5. Trong bối cảnh hiện nay của thế giới (những biến cố bi thảm làm cho nhân loại thành nạn nhân của hận thù và chết chóc, những vấn nạn phát sinh từ một xã hội toàn cầu hoá), người thánh hiến được mời gọi làm gì?  

Đ/ Họ được Chúa Thánh Thần mời gọi hoán cải không ngừng  để chiều kích ngôn sứ của ơn gọi mang lấy một sinh lực mới. Thật vậy, khi họ “được mời gọi dâng hiến cuộc đời để phụng sự Nước Thiên Chúa, bằng cách từ bỏ mọi sự và noi gương nếp  sống của Chúa Giê-su Ki-tô sát hơn, họ đảm nhận vai trò cao cả  là giáo dục toàn thể Dân Thiên Chúa”.  

6. Giáo hội đặt kỳ vọng nào nơi người thánh hiến?  

Đ/ “Giáo hội đặt kỳ vọng nơi sự dâng hiến liên tục của đoàn con cái nam nữ được tuyển chọn, niềm khao khát nên thánh và lòng nhiệt thành phục vụ nhằm cổ võ và nâng đỡ nỗ lực sống thánh thiện nơi mọi ki-tô hữu, và nhằm gia tăng việc tiếp đón người thân cận, nhất là những người túng thiếu. Làm như thế, tình yêu Chúa Ki-tô sẽ được chứng thực giữa mọi người”.  

7. Thế giới đang mong chờ điều gì nơi người thánh hiến?  

Đ/ Thế giới hôm nay đang chờ mong các người thánh hiến phản ánh cụ thể cách thức hành động của Đức Giê-su, tình yêu Người dành cho mỗi người không phân biệt và hạn chế.  

8. Huấn thị giới thiệu một vài chủ đề căn bản nào đã được đề  cập trong Tông Huấn Đời Sống Thánh Hiến?  

Đ/ Đó là: 

  • Đức Ki-tô, trung tâm đời sống mọi Ki-tô hữu;  
  • Thực hành mục vụ và giáo huấn về sự thánh thiện,
  • Nhu cầu phổ biến về linh đạo và cầu nguyện thể hiện chính yếu qua việc chiêm ngưỡng và lắng nghe Lời Thiên Chúa, tác dụng không thể thay thế của đời sống bí tích,  
  • Linh đạo hiệp thông  
  • Và chứng tá Tình yêu được diễn tả qua các hình thức bác ái 
  • Mới đối với những ai đau khổ, đối với một thế giới bị thương  tổn và nô lệ cho hận thù, và qua tinh thần đại kết và đối thoại  liên tôn.  

9. Nội dung của Huấn thị?  

Đ/ Huấn thị được phân chia thành 4 phần:  

  • Phần I: lòng biết ơn và quý mến sâu xa đối với căn tính và  hoạt đông của đời sống thánh hiến.  
  • Phần II: những khó khăn, thử thách và thách đố mà những  người tận hiến hôm nay đang trải qua. Đó là một thời cơ mới để  khám phá lại một cách sâu xa hơn ý nghĩa và phẩm chất của đời  sống thánh hiến.  
  • Phần III: Thách đố lớn nhất là một sự dấn thân mới trong đời  sống thiêng liêng, bằng cách xuất phát lại từ Đức Ki-tô qua việc  gắn bó với Tin Mừng và sống linh đạo hiệp thông theo một  cách thức duy nhất.  
  • Phần IV: Người thánh hiến đi trên các nẻo đường của thế giới,  nơi Đức Ki-tô đã đi qua và hôm nay vẫn còn hiện diện, nơi  Giáo hội công bố Người như là Đấng Cứu tinh của thế giới, nơi  sự sống Ba Ngôi toả lan sự hiệp thông trong một sứ mạng mới.  

PHẦN I: ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN: SỰ HIỆN DIỆN CỦA TÌNH YÊU ĐỨC KI-TÔ GIỮA LÒNG NHÂN LOẠI.

10. Đức Giáo hoàng đã diễn tả lòng ngưỡng mộ chân thành của Giáo hội đối với đời sống thánh hiến như thế nào?  

Đ/ Kết thúc Tông huấn Đời sống thánh hiến, Đức Giáo hoàng  đã diễn tả cảm xúc đó qua lời cầu nguyện như sau: “Chúng con tạ ơn Cha vì món quà đời sống thánh hiến: họ hằng tìm kiếm Cha trong đức tin và qua sứ mạng trên khắp hoàn vũ, mời gọi  mọi người đến gần Cha”.  

11. Tại sao đời sống thánh hiến xứng đáng với lòng biết ơn của  toàn thể Giáo hội? 

Đ/ Bởi vì đời sống họ làm chứng cho tình yêu dành cho Đức Ki-tô khi họ bước trên con đường được đề nghị trong Tin mừng và trong niềm hân hoan sâu xa, dấn thân trong cùng một lối sống mà Người đã chọn cho mình.  

12. Bước đi trong thời đại, Đời sống thánh hiến có sứ vụ gì ?  

Đ/ Đời sống thánh hiến có sứ vụ trở thành lời loan báo về một lối sống khác với lối sống của thế giới và nền văn hoá thống trị. Căn cứ trên lối sống đó và nỗ lực tìm kiếm Đấng Tuyệt Đối, đời sống thánh hiến đề nghị một phương dược thiêng liêng  nhằm chữa trị các điều ác hại trong thời đại.  

13. Đời sống thánh hiến có những hình thức hiện diện nào  trong thế giới?  

Đ/ Có 2 hình thức: sự hiện diện năng động của những thế hệ mới các người thánh  hiến đang làm cho Đức Ki-tô hiện diện trong thế giới và làm rực sáng các đoàn sủng của Giáo hội trong cuộc sống; sự hiện diện ẩn dấu và mang nhiều kết quả của những người thánh hiến nam nữ đang trải qua tuổi già, cô đơn, bệnh tật và đau khổ.  

14. Trong lãnh vực năng động cộng đoàn, có những nỗ lực đào  sâu, thanh luyện, hiệp thông và truyền giáo như thế nào?  

Đ/ Đó là: các mối tương quan cá vị được tăng cường; các cuộc trao đổi văn hoá, được nhìn nhận như một lợi ích và  kích thích cho chính các hội dòng đó, đã được củng cố;  tìm kiếm một cách thức thực thi quyền bính và vâng phục qua  việc khẳng định, soi sáng, hợp nhất, hoà nhập và hoà giải, được  gợi hứng từ Tin mừng hơn; gia tăng đáp ứng các yêu cầu của các giám mục và hợp tác  trong lãnh vực huấn luyện và tông đồ. 

15. Những mối tương quan giữa lòng toàn thể cộng đoàn ki-tô  giáo đang được cải thiện như thế nào?  

Đ/ Từ những quan hệ hình thức đơn thuần, người ta tự nguyện  tiến tới một sự hiệp thông được sống trong sự phong phú đặc sủng hỗ tương.  

16. Đâu là sứ mạng đặc biệt của đời sống thánh hiến?  

Đ/ Đó là trở nên dấu chỉ của ơn gọi nên thánh phổ quát. Chứng  tá ngôn sứ của họ là “khẳng định vị thế tối thượng của Thiên  Chúa và cuộc sống vĩnh cửu, biểu lộ qua việc bước theo và trở  nên giống Đức Ki-tô trinh khiết, khó nghèo và vâng phục,  Đấng đã hiến thân trọn vẹn vì vinh quang Thiên Chúa và vì tình  yêu đối với anh chị em”.  

17. Các cộng đoàn tu trì phải như thế nào để cổ võ ơn gọi nên  thánh?  

Đ/ Các cộng đoàn tu trì phải luôn tìm cách trở nên những nơi  chốn để lắng nghe và chia sẻ Lời Chúa, cử hành phụng vụ,  huấn luyện cầu nguyện và đồng hành qua việc linh hướng.  

18. Đâu là bằng chứng cho việc các người thánh hiến thật sự  dâng hiến bản thân?  

Đ/ Đó là sự nhiệt tâm xây dựng Nước Thiên Chúa và mang ơn  cứu rỗi đến cho anh chị em.  

19. Để xây dựng Nước TC, người thánh hiến phải làm gì?  

Đ/ Họ phải: nỗ lực cho mình đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô;  cởi mở trước các nhu cầu của thế giới như chúng hiện diện  dưới con mắt Thiên Chúa; hướng tới một tương lai trong niềm hy vọng phục sinh.  

20. Các hoạt động truyền giáo nào đã được Huấn thị nêu lên  với lòng cảm phục? 

Đ/ Đó là: công việc tông đồ mà các nữ tu quảng đại đảm trách với một sự  phong phú đặc trưng của “thiên tài nữ tính”; lòng nhiệt thành truyền giáo của những tu sĩ đến với những  người đang trông chờ được nghe công bố Tin Mừng lần đầu  tiên, đi đến những nơi khó khăn, dù có phải gặp rủi ro hay hy  sinh mạng sống; những công tác bác ái; lãnh vực giáo dục nhằm tăng trưởng đức tin qua việc dạy giáo lý; việc tông đồ trong lãnh vực trí thức; truyền thông xã hội;  sống giữa những người bị loại trừ, những người di cư. 

21. Các nữ đan sĩ đóng góp gì cho việc Phúc âm hoá?  

Đ/ Các nữ đan sĩ là linh hồn và men của hoạt động tông đồ. Đời  sống họ trở thành một suối nguồn huyền nhiệm cho hoa trái  tông đồ và là phúc lành cho cộng đoàn ki-tô hữu và toàn thể thế  giới.  

HỌC HỎI HUẤN THỊ “XUẤT PHÁT LẠI TỪ ÐỨC KITÔ” (PHẦN 2).

PHẦN II: CAN ĐẢM ĐỐI DIỆN VỚI THỬ THÁCH VÀ THÁCH ĐỐ.  

22. Khi nêu lên những khó khăn mà người thánh hiến gặp phải,  Thánh bộ có ý gì?  

Đ/ Thánh bộ muốn:

– bày tỏ sự liên đới và gần gũi thân mật;  

– đứng trên quan điểm của những người ý thức rằng lịch sử  Giáo hội do Thiên Chúa hướng dẫn và mọi sự đều sinh ích cho  những ai yêu mến Người (x. Rm 8,28). Với cái nhìn đức tin ấy  thì ngay cả điều tiêu cực cũng có thể là cơ hội cho một khởi  đầu mới.  

23. Huấn thị nêu lên những vấn nạn và khó khăn nào? 

Đ/ Đó là: Vì số tu sĩ suy giảm và lớn tuổi trong các Hội dòng, liệu đời sống thánh hiến còn là chứng tá khả thị có khả năng thu hút người trẻ nữa không?  

Nếu thiên niên kỷ thứ ba là thời đại đề cao vai trò giáo dân, các  hiệp hội và các phong trào giáo hội, đâu là chỗ đứng dành cho  các hình thức cổ truyền của đời sống thánh hiến?  

Đối diện với những khủng hoảng tôn giáo hiện nay ảnh hưởng  trên một phần lớn trong xã hội, những người thánh hiến, nhất là  hôm nay, buộc phải tìm kiếm những hình thức hiện diện mới và  đặt ra cho mình không ít những vấn nạn liên quan đến ý nghĩa  căn tính của mình và tương lai.  

Những người thánh hiến cũng cảm nghiệm những đe doạ của  sự tầm thường trong đời sống thiêng liêng, của việc trưởng giả  hoá lần lần và não trạng tiêu thụ.  

Việc điều hành phức tạp các công việc mà những yêu cầu của  xã hội và luật lệ mới của Nhà nước quy định, cùng với các cám  dỗ tìm kiếm hiệu năng và duy hoạt động, có nguy cơ làm lu mờ  tính độc đáo của Tin mừng và làm suy yếu các động cơ thiêng  liêng.  

Tình trạng các dự phóng riêng tư chiếm ưu thế hơn các dự  phóng cộng đoàn có thể xói mòn sự hiệp thông tình yêu giữa  anh em, chị em.  

24. Tại sao những khó khăn và vấn nạn mà đời sống tu trì trải  qua hôm nay có thể làm nẩy sinh một kairos mới, một thời gian ân sủng?  

Đ/ Bởi vì đằng sau các thách đố ấy, ẩn dấu một tiếng gọi đích  thật của Chúa Thánh Thần mời gọi khám phá lại sự phong phú  và các tiềm năng của Đời sống thánh hiến.  

25. Đâu là những thách đố của Đời sống thánh hiến ngày hôm nay? 

Đ/ Đó là: Việc phải sống trong một xã hội thường bị nền văn hoá sự chết  thống trị có thể trở thành một thách thức là phải trở nên những  chứng nhân, những sứ giả và những người phục vụ sự sống  kiên cường hơn.  

Các lời khuyên phúc âm tỏ lộ như một con đường thực hiện  nhân vị cách viên mãn ngược lại sự phi nhân hoá.  Cảm tưởng mà một số người có về sự sút giảm lòng kính trọng  đối với đời sống thánh hiến nơi một vài lãnh vực trong Giáo  hội, có thể được xem như một lời mời gọi cần thanh luyện để tự  do.  

Nếu những người thánh hiến trở thành một đoàn chiên bé nhỏ ở  một vài nơi vì nhân sự giảm sút, thì có thể xem đó như dấu chỉ  Thiên Chúa mời gọi trở về với những nhiệm vụ chính yếu là  làm men, dấu chỉ và ngôn sứ.  

Sự kiện các ki-tô hữu ngày càng nhận thức tính phổ quát của ơn  gọi nên thánh có thể trở nên một động lực thúc đẩy các người  thánh hiến gần gũi các thành phần của Dân Thiên Chúa hơn để  cùng chia sẻ với họ con đường đi theo Đức Ki-tô, trong một sự  hiệp thông đích thật hơn, trong sự tôn trọng lẫn nhau, đồng thời  ý thức đến giá trị dấu chỉ của đời thánh sống hiến trong mối  tương quan với sự thánh thiện của mọi thành phần trong Hội  thánh.  

26. Bề trên có trách nhiệm quan trọng nào trong việc khám phá  lại ý nghĩa và phẩm chất của đời sống thánh hiến?  

Đ/ Bề trên có nhiệm vụ linh hoạt và đề nghị, nhắc nhở lý do  hiện hữu của đời sống thánh hiến và hỗ trợ những người được  uỷ thác cho họ sống trong sự trung thành không ngừng được  đổi mới theo lời mời gọi của Thánh Khí.  

27. Huấn thị Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn nhấn mạnh  đến những khía cạnh nào quyền bính? 

Đ/ Đó là:  quyền bính dẫn đến hiệp nhất; quyền bính có khả năng lấy những quyết định chung cuộc;  quyền bính bảo đảm việc thi hành các quyết định ấy.  

28. Còn các thành phần khác của cộng đoàn phải làm gì?  

Đ/ Họ phải tham gia tích cực và tin tưởng vào đời sống và sứ  vụ của cộng đoàn qua việc đối thoại và biện phân.  

29. Thường huấn là gì?  

Đ/ Thường huấn là con đường: biến đổi bản thân nên giống Người Con là Đấng đã tận hiến cho  Chúa Cha vì phần rỗi nhân loại; kéo dài suốt cuộc đời; bao trùm toàn thể con người, tâm hồn, trí khôn và sức lực (x.  Mt 22,37).  

30. Người thánh hiến phải có những nỗ lực nào trong việc  thường huấn?  

Đ/ Họ phải: tự mình học tập suốt cuộc đời, ở mọi lứa tuổi và mọi giai đoạn,  trong mọi môi trường và bối cảnh nhân loại, từ mọi người và  mọi nền văn hoá; tự huấn luyện qua cuộc sống mỗi ngày, qua cộng đoàn, nhờ anh  chị em, nhờ các chuyện thường nhật, bình thường và bất  thường, nhờ việc cầu nguyện và hoạt đông tông đồ cực nhọc,  trong niềm vui và đau khổ cho tới giây phút cuối đời;  Cởi mở với người khác và với sự khác biệt, nhất là quan hệ với  thời đại.  

31. Một trong những hoa trái đầu tiên của con đường thường huấn là gì?  

Đ/ Đó là khả năng sống ơn gọi mỗi ngày như một ân huệ, luôn  luôn mới mẻ và được đón nhận với lòng biết ơn: ân huệ ấy đòi  hỏi một thái độ có trách nhiệm hơn, được minh chứng bằng sức thuyết phục và thu hút thường xuyên để người khác có thể cảm  nhận mình được kêu gọi đến với Thiên Chúa qua ơn gọi đặc thù hay qua các con đường khác.  

32. Tại sao phục vụ các ơn gọi là một trong những thách đố  gay gắt nhất mà đời sống thánh hiến hôm nay phải đương đầu?  

Đ/ Bởi vì:  việc toàn cầu hoá văn hoá và tính phức tạp trong tương quan xã  hội làm cho sự chọn lựa triệt để và vĩnh viễn trở nên khó khăn;  thế giới đang trải qua một kinh nghiệm về những đau khổ tinh  thần và vật chất đang xói mòn chính nhân phẩm của con người và đang âm thầm kêu xin những con người loan báo cách mạnh  mẽ một sứ điệp hoà bình và hy vọng, những con người mang  đến ơn cứu độ của Đức Ki-tô.  

33. Để cổ võ ơn gọi, ta phải làm gì?  

Đ/ * Trước tiên là cầu nguyện. Mọi tín hữu, nhất là người trẻ,  sẽ bị thu hút bởi sự bày tỏ đức tin như thế vào Thiên Chúa, chỉ  mình Người có thể kêu gọi và sai thợ gặt đến.  

* Thứ đến là gặp gỡ và chia sẻ đời sống. Vì thế người thánh  hiến sống cách sâu xa sự thánh hiến của họ để có thể trở nên  dấu chỉ khả thị của niềm vui mà Thiên Chúa ban cho những ai  lắng nghe tiếng gọi của Người.  

* trao ban một chứng tá sống động về các nét đặc trưng của  việc đi theo Đức Giê-su và của sự thánh thiện: loan báo một  cách mạnh mẽ và rõ ràng sự tự do phát sinh từ một cuộc sống  khó nghèo mà kho tàng duy nhất là Nước Thiên Chúa, tình yêu  thẳm sâu của một cuộc sống khiết tịnh chỉ ước muốn một con  tim duy nhất: con tim của Đức Ki-tô, và sức mạnh thánh hoá và  canh tân chứa đựng trong một cuộc sống vâng phục, mà mục  tiêu duy nhất là thi hành thánh ý Thiên Chúa vì phần rỗi thế  giới.  

34. Ngày hôm nay, cổ võ ơn gọi là một nhiệm vụ của ai? 

Đ/ Ngày hôm nay, cổ võ ơn gọi là một nhiệm vụ không thể chỉ  uỷ thác cho một vài chuyên viên, cũng không thể tách rời khỏi  mục vụ giới trẻ đích thực có mục dích đầu tiên và nhất là  chuyển thông tình yêu Đức Ki-tô cho họ. Mỗi cộng đoàn và  mọi thành viên các Tu hội được mời gọi đảm nhận nhiệm vụ  tiếp xúc với người trẻ, giảng dạy về việc đi theo Đức Ki-tô và  chuyển giao đoàn sủng.  

35. Những người trẻ đang chờ đợi gì nơi những người thánh hiến?  

Đ/ Họ chờ đợi những người thánh hiến: đề nghị cho họ những lối sống Tin mừng đích thật và những  phương thức đạt tới các giá trị thiêng liêng cao cả của đời sống  nhân bản và ki-tô giáo; khơi dậy và giải quyết các vấn nạn nan giải thường ẩn dấu  trong lòng mỗi người; truyền đạt kinh nghiệm sống bằng cách hồi tưởng và tìm lại  nguồn sáng đã hướng dẫn người thánh hiến đi đến việc chọn  lựa ơn gọi riêng.  

36. Huấn thị đã nhắc lại một số nguyên tắc huấn luyện nào?  

Đ/ Đó là: có một sự quan tâm tới từng cá nhân và các cách thức khả dĩ  đáp ứng hoàn cảnh cụ thể về nhân bản, thiêng liêng và văn hoá;  có một sự biện phân thanh thản, không ràng buộc bởi các cám  dỗ về số lượng hay hiệu năng, để xác minh tính xác thực của ơn  gọi và sự trong sáng của động cơ dưới ánh sáng của đức tin và  những mâu thuẫn có thể xảy ra;  

người trẻ cần được thách đố để đi theo những lý tưởng cao cả  của việc triệt để đi theo Đức Ki-tô và những đòi hỏi sâu xa của  sự thánh thiện.  

37. Trong bối cảnh toàn cầu hoá về mặt văn hoá hiện nay, cần  chú ý đến điều gì? 

Đ/ Cần đến một sự đối thoại mang tính huấn luyện, nghĩa là:  đón nhận các đặc điểm nhân bản, xã hội và thiêng liêng của  mỗi người và khám phá trong đó những giới hạn cần khắc  phục; gieo trồng trong tâm khảm những người thánh hiến trẻ các giá  trị nhân bản, thiêng liêng và đoàn sủng cần thiết khả dĩ làm cho  họ thể hiện một sự “trung tín sáng tạo” trong đường hướng của  truyền thống thiêng liêng và tông đồ của Tu hội; làm sao cho việc huấn luyện văn hoá đi đôi với thời đại và đối  thoại với nỗ lực tìm kiếm ý nghĩa của đời sống con người ngày  hôm nay.  

38. Sự khác biệt về văn hoá, tuổi tác và dự phóng trong các Tu  hội thánh hiến hiện nay đòi buộc phải làm gì trong việc huấn luyện?  

Đ/ Việc huấn luyện phải chuẩn bị cho biết đối thoại trong cộng  đoàn, với lòng chân thành và bác ái của Đức Ki-tô, bằng cách:  dạy cho biết nhìn xem sự khác biệt như là một sự phong phú và làm quen với các cách nhìn và cảm nghĩ khác nhau  nỗ lực liên lỉ tìm kiếm sự hiệp nhất trong đức ái.  

39. Để đạt những mục tiêu trên về việc huấn luyện, Huấn thị đã  khuyến cáo điều gì?  

Đ/ Theo Huấn thị, điều đáng ước mong nhất là các nguồn năng  lực tốt nhất sẽ được đầu tư cho việc huấn luyện, dù phải có  những hy sinh lớn lao. Sử dụng những nhân sự có khả năng và  chuẩn bị thích đáng cho họ phải là một ràng buộc ưu tiên.  

40. Riêng các người lo việc huấn luyện, Huấn thị nhắc nhở điều gì?  

Đ/ Huấn thị nhắc nhở:  

– phải rất quảng đại trong việc cống hiến thời giờ và năng lực  tốt nhất cho việc huấn luyện; – cần có sự kiên trì và nhẫn nại  chờ đợi để thực hiện mục tiêu của việc huấn luyện. 

41. Ngoài ra Huấn thị còn nêu lên những thách đố quan trọng nào?  

Đ/ Đó là: Thánh bộ Đời sống Thánh hiến và Hiệp hội Tông đồ ao ước  gần gũi với những thánh hiến trong mọi vấn đề và tiếp tục đối  thoại cách chân thành và tích cực hơn nữa.  

Trước những vấn đề liên quan đến các công tác phục vụ, cần có  sự sáng tạo, khôn ngoan và đối thoại giữa các thành viên Tu hội  cũng như giữa các Tu hội hoạt đông trong cùng một lãnh vực,  đồng thời đối thoại với người hữu trách của Giáo hội địa  phương để tìm ra giải pháp đúng đắn.  

Vấn đề hội nhập văn hoá đúng đắn trong đời sống thánh hiến và  trong toàn thể Giáo hội.  

HỌC HỎI HUẤN THỊ “XUẤT PHÁT LẠI TỪ ĐỨC KI-TÔ” 

PHẦN III: ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG ĐẶT LÊN HÀNG ĐẦU  

42. Tại sao phải mở lòng và ngoan ngoãn với hoạt động của  Thánh Khí?  

Đ/ Bởi vì chỉ mình Thánh Khí mới giữ cho sống động sự tươi  trẻ và tính xác thực của buổi ban đầu, đồng thời truyền cho sự  can đảm của tinh thần lê thuộc lẫn nhau và óc sáng tạo cần thiết  để đáp trả các dấu chỉ thời đại.  

43. Thế nào là một cuộc sống theo Thánh Khí?  

Đ/ Đó là một cuộc sống được Thánh Khí: khai mở nguồn nước hằng sống tuôn trào từ Đức Ki-tô cách vô  cùng phong phú; làm cho chúng ta nhìn nhận Đức Giê-su Na-da-rét là Đức Chúa;  cho chúng ta nghe được lời mời gọi đi theo Đức Ki-tô và kết  hiệp chúng ta trong Người; biến chúng ta thành những người con trong Chúa Con, làm  chứng về tình phụ tử của Thiên Chúa, giúp chúng ta ý thức đến tư cách là nghĩa tử và cho phép chúng ta dám gọi Thiên Chúa là “Abba, Cha ơi”; đổ tràn tình yêu và làm nảy sinh sự hiệp thông.  

44. Nỗ lực sống thánh thiện là gì?  

Đ/ Đó là, trong sự giản dị của đời sống hằng ngày, ta nhắm đến  tính triệt để của Bài giảng trên Núi và tình yêu có tính đòi hỏi,  thể hiện qua mối tương quan với Chúa, qua đời sống hiệp thông  và qua việc phục vụ mọi người nam nữ.  

45. Xuất phát lại từ Đức Ki-tô là gì?  

Đ/ Đó là gắn bó ngày càng mật thiết hơn với Đức Ki-tô, trung  tâm của đời sống thánh hiến và lại một lần nữa đi lại con đường  hoán cải và canh tân, giống như kinh nghiệm đầu tiên của các  tông đồ, trước và sau biến cố phục sinh.  

46. Làm sao người thánh hiến có thể và phải xuất phát lại từ  Đức Ki-tô?  

Đ/ Bởi vì chính Đức Ki-tô đã đến với họ trước và đồng hành  với họ trên đường. Chính Đức Ki-tô hiện diện giữa cộng đoàn  những kẻ suốt bao thế kỷ, tụ họp nhân danh Người, Người đã  dạy dỗ họ về chính mình và về Thánh Khí, Người hướng họ về  Chúa Cha, Người hướng dẫn họ trên các nẻo đường của trần  gian để gặp gỡ các anh em, chị em, Người biến họ thành khí cụ  tình yêu và người xây dựng Nước Trời trong sự thông hiệp với  những ơn gọi khác trong Giáo hội.  

47. Ý nghĩa đầu tiên của “xuất phát lại từ Đức Ki-tô” là gì?  

Đ/ Xuất phát lại từ Đức Ki-tô có nghĩa là loan báo rằng đời  sống thánh hiến là một cách đặc biệt đi theo Đức Ki-tô. Điều đó  bao hàm một sự hiệp thông tình yêu đặc biệt với Đức Ki-tô,  Đấng đã trở nên trung tâm của đời sống họ và nguồn mạch liên  tục của mọi sáng kiến. Như tông huấn Đời sống thánh hiến  nhắc nhở chúng ta, đó là một kinh nghiệm chia sẻ, “một ơn đặc  biệt là sống trong tình thân thiết”. Đó là “trở nên một với Người, mang cùng những tâm tình, cùng một lối sống”, và đó  là một cuộc sống “bị Đức Ki-tô chiếm hữu”, “được bàn tay Đức  Ki-tô chạm đến, được tiếng nói của Người nhắn nhủ, được ân  sủng của Người nâng đỡ”.  

48. Tại sao sự hiệp thông tình yêu với Đức Ki-tô là điều hệ  trọng nhất?  

Đ/ Bởi vì toàn thể đời sống thánh hiến chỉ có thể hiểu được từ  khởi điểm này: các lời khuyên phúc âm có một ý nghĩa trong mức độ chúng  giúp gìn giữ và tạo thuận lợi cho tình yêu đối với Chúa trong sự  ngoan ngoãn hoàn toàn đối với thánh ý Người; đời sống cộng đoàn được thúc đẩy nhờ Đấng đã quy tụ những  người khác chung quanh mình và có mục tiêu là vui hưởng sự  hiện diện thường hằng của Người; sứ mệnh là lệnh truyền của Người dẫn dắt ta tìm kiếm khuôn  mặt của Người trong những khuôn mặt của những người mà ta  được sai đến để chia sẻ với họ kinh nghiệm về Đức Ki-tô.  

49. Ý nghĩa thứ hai của “xuất phát lại từ Đức Ki-tô” là gì?  

Đ/ Xuất phát lại từ Đức Ki-tô có nghĩa tìm lại một lần nữa tình  yêu ban đầu của ta, tia sáng lôi cuốn làm ta đứng lên đi theo  Người. Bước đầu là tình yêu của Thiên Chúa. Bước tiếp mới là  sự đáp trả đầy lòng yêu mến đối với tình yêu Thiên Chúa.  

50. Tại sao cảm nghiệm tình yêu thương vô biên của Đức Ki-tô  là điều hệ trọng đối với chúng ta?  

Đ/ Bởi vì chỉ khi ý thức mình được yêu thương vô cùng mới có  thể giúp chúng ta vượt thắng mọi khó khăn riêng tư hay do cơ  cấu. Người thánh hiến không thể có tính sáng tạo, có khả năng  canh tân tu hội và mở ra những con đường mục vụ mới nếu họ  không cảm thấy được yêu mến với tình yêu ấy. Chính tình yêu  ấy làm cho họ trở nên mạnh mẽ, có thể dám làm mọi sự. 

51. Các lời khấn giúp chúng ta triệt để đáp lại tình yêu như thế  nào?  

Đ/ Lời khấn khiết tịnh mở rộng con tim cho đến chiều kích của  con tim Đức Ki-tô và làm cho nó có thể yêu mến như Người đã  yêu.  

Lời khấn nghèo khó giải thoát ta khỏi nô lệ các sự vật và các  nhu cầu giả tạo đang lôi cuốn xã hội tiêu dùng và dẫn ta đến  việc tái khám phá Đức Ki-tô, kho tàng duy nhất đáng để ta tìm  kiếm.  

Lời khấn vâng phục đặt cuộc sống hoàn toàn trong bàn tay Đức  Ki-tô ngõ hầu Người có thể sử dụng theo kế hoạch của Thiên  Chúa và biến nó trở nên một tuyệt tác.  

52. Chúng ta chiêm ngưỡng cách cụ thể khuôn mặt Đức Ki-tô ở  đâu?  

Đ/ Có vô vàn sự hiện diện cần được khám phá ra theo những  cách thức luôn luôn mới mẻ: Đức Ki-tô thực sự hiện diện trong Lời của Người và trong các  bí tích, đặc biệt trong bí tích Thánh Thể. Đức Ki-tô sống trong Giáo hội, Người làm cho mình hiện diện  trong cộng đoàn những người tụ họp vì danh Người. Người đứng trước mặt chúng ta trong mọi người, đồng hoá  cách đặc biệt với những người bé nhỏ, người nghèo, người đau  khổ và người đang thiếu thốn nhất. Người gặp gỡ chúng ta trong mọi biến cố vui buồn, trong thử  thách hay trong niềm vui, trong đau khổ hay trong bệnh tật.  

53. Muốn nhận ra Người thì cần đến điều gì?  

Đ/ Muốn nhận ra Người thì cần đến một cái nhìn đức tin, cái  nhìn có được nhờ đọc Lời Chúa, nhờ cầu nguyện và trên hết  nhờ thực thi bác ái bởi vì Mầu nhiệm chỉ có thể hiểu biết trọn  vẹn nhờ tình yêu. 

54. Huấn thị nhắc lại một vài nơi chốn đặc biệt nào mà ta có  thể chiêm ngưỡng khuôn mặt Đức Ki-tô?  

Đ/ Đó là: Lời Thiên Chúa  

Cầu nguyện và chiêm ngưỡng  

Bí tích Thánh Thể  

Khuôn mặt Đức Ki-tô đang gặp thử thách  

55. Tại sao không thể có được sự thánh thiện nếu không lắng nghe lời Thiên Chúa?  

Đ/ Bởi vì: Chính nơi Lời Chúa mà Thầy mặc khải chính mình và giáo dục  tâm trí và con tim.  

Chính nơi đó mà cái nhìn đức tin nên trưởng thành, bằng cách  học biết nhìn thực tại và các biến cố qua con mắt của Thiên  Chúa, đến mức có được “tư tưởng của Đức Ki-tô”.  Mọi đoàn sủng và mọi luật lệ xuất phát từ đó và tìm cách trở  nên một sự diễn tả của Lời Chúa. Tiếp nối các vị sáng lập, các  môn đệ của họ ngày hôm nay được mời gọi đón nhận và gìn  giữ trong lòng Lời Chúa để nó trở nên chiếc đèn soi bước chân  đi và ánh sáng rọi soi con đường của họ.  

Lời Thiên Chúa là của ăn cho đời sống, cho việc cầu nguyện và  cho cuộc hành trình hằng ngày, nguyên lý hiệp nhất cộng đoàn  nên một lòng một ý, cảm hứng cho việc canh tân của thường  huấn và những sáng kiến tông đồ.  

56. Huấn thị mời gọi người thánh hiến phải làm gì?  

Đ/ Người thánh hiến phải: tiếp xúc sống động và trực tiếp hơn với Lời Chúa;  đón nhận, suy niệm, cùng sống Lời Chúa, thông truyền những  kinh nghiệm trổ sinh từ đó; thường xuyên quy chiếu về Luật dòng và Hiến chương “đó là  bản đồ cho toàn thể lộ trình của người môn đệ tương ứng với  một đoàn sủng riêng đã được Giáo hội chuẩn nhận”; trở nên những tôi tớ đích thực của Lời trong công việc truyền giáo.  

57. Đâu là nhiệm vụ đầu tiên của người thánh hiến?  

Đ/ Đức Gio-an Phao-lô II nhắn nhủ với các người thánh hiến: “Nhiệm vụ đầu tiên của các con không thể là gì khác ngoài  chiêm ngưỡng. Mọi thực tại của đời sống thánh hiến được sinh  ra và phục hồi mỗi ngày bằng việc chiêm ngưỡng không ngừng  khuôn mặt Đức Ki-tô”.  

58. Chiêm ngưỡng là gì?  

Đ/ Chiêm ngưỡng là: những giây phút hiệp thông sâu xa với Đức Ki-tô;  sống mối tương quan bằng hữu sâu sắc với Người;  nhìn thấy vẻ đẹp và ánh sáng chiếu tỏa trên khuôn mặt Người.  

59. Mỗi hình thái khác nhau của đời sống thánh hiến có thể  sóng đời chiêm ngưỡng như thế nào?  

Đ/ Các đan sĩ và các nữ tu kín cũng như các ẩn sĩ dành nhiều  thời giờ để ca ngợi Thiên Chúa cũng như cho việc cầu nguyện  thinh lặng kéo dài.  

Các thành viên của tu hội đời, cũng như những trinh nữ thánh  hiến trong thế gian, dâng lên Thiên Chúa niềm vui và nỗi buồn,  hi vọng và khẩn cầu cho mọi người và chiêm ngưỡng khuôn  mặt Đức Ki-tô mà họ nhận ra nơi khuôn mặt của anh em, chị  em, trong các biến cố lịch sử, trong việc tông đồ và công việc  mỗi ngày.  

Các tu sĩ nam nữ dấn thân trong việc giáo dục, chăm sóc người  bệnh, phục vụ người nghèo, gặp được khuôn mặt Người nơi đó.  Các nhà truyền giáo và các thành viên của hiệp hội tông đồ  xem việc loan báo Tin mừng như sự thờ phượng đích thực.  

60. Huấn thị nhắc nhở người thánh hiến điều gì? 

Đ/ “Một đời sống thiêng liêng đích thực đòi hỏi mỗi người,  trong mọi ơn gọi khác nhau, dành riêng thường xuyên, mỗi  ngày, những thời gian thích hợp để tiến sâu vào việc đàm thoại  trong thinh lặng với Người, Đấng mà họ biết rằng họ được yêu  mến, để chia sẻ chính cuộc sống họ với Người và để đón nhận  những soi sáng hầu tiếp tục cuộc hành trình mỗi ngày. Đó là  một sự thao luyện đòi hỏi lòng trung thành, bởi vì chúng ta  thường bị tấn công bởi sự tha hoá và sự phóng túng đến từ xã  hội hôm nay, đặc biệt từ các phương tiện truyền thông. Đôi khi  sự trung thành với đời sống cầu nguyện riêng tư và phụng vụ sẽ  đòi hỏi một nỗ lực thực sự để không bị nuốt chửng trong chủ  nghĩa hoạt động vô độ.”  

61. Vì Bí tích Thánh Thể là nơi chốn đặc trưng để gặp gỡ  Chúa, là nguồn mạch đời sống thiêng liêng của Giáo hội và  của cộng đoàn, Đức Giáo hoàng đã khuyên nhủ người thánh hiến làm gì?  

Đ/ Đức Giáo hoàng khuyên nhủ: – hãy gặp gỡ và chiêm ngưỡng  Đức Ki-tô cách đặc biệt trong bí tích Thánh Thể; – hãy tham dự  bí tích Thánh Thể và chuyên cần chầu Thánh Thể lâu giờ mỗi ngày. – Hãy tha thứ lẫn nhau và dấn thân yêu mến lẫn nhau theo  giáo huấn của Chúa; cần có sự hoà giải trọn vẹn trước khi dâng  của lễ nơi bàn thờ.  

62. Tại sao phải thường xuyên chiêm ngưỡng khuôn mặt của Đấng chịu đóng đinh?  

Đ/ Bởi vì Người là nguồn mạch từ đó chúng ta học biết tình  yêu là gì, Thiên Chúa và nhân loại phải được yêu như thế nào,  nguồn mạch của mọi đoàn sủng, bản tổng hợp của mọi đoàn  sủng.  

63. Chiêm ngưỡng Đức Ki-tô chịu đóng đinh được thể hiện qua  những việc làm nào?  

Đ/ Đó là: thực hành khổ chế, “rất cần thiết để người thánh hiến trung thành với ơn gọi của mình và bước theo Đức Giê-su trên con  đường thánh giá”; chiến đấu chống lại tội lỗi và những hậu quả tai hại của nó;  đến với người khác và đem niềm hi vọng của đời sống mới đến  nơi thất vọng và cái chết ngự trị; nhận ra, yêu mến và phục vụ khuôn mặt Đức Ki-tô, nơi những khuôn mặt mới của ngày hôm nay; đó là những tình trạng  nghèo đói mới về phương diện vật chất, luân lý và tinh thần  được sản sinh bởi xã hội đương thời.  

64. Đức Giáo hoàng nói thách đố lớn mà chúng ta đối diện  trong thiên niên kỷ đang khởi đầu là gì?  

Đ/ “Biến Giáo hội thành ngôi nhà và trường học của sự hiệp  thông: đó là thách đố lớn mà chúng ta đối diện trong thiên niên  kỷ đang khởi đầu, nếu chúng ta muốn trung thành với kế hoạch  của Thiên Chúa và đáp trả những khát vọng sâu xa nhất của thế giới”.  

65. Giáo hội mong chờ sự đóng góp nào từ phía những người thánh hiến?  

Đ/ Trong Vita Consecrata chúng ta đọc: “Những người thánh  hiến được yêu cầu trở thành những chuyên viên thực sự về hiệp  thông và thực hành linh đạo hiệp thông như những chứng nhân  và những người kiến tạo kế hoạch hiệp thông, đỉnh cao của lịch  sử nhân loại theo ý muốn của Thiên Chúa”.  

66. Nhiệm vụ ấy cần đến những con người và những cộng đoàn  như thế nào? 

Đ/ Đó là một nhiệm vụ cần đến những con người thiêng liêng được Thiên Chúa nắn đúc bên trong bằng sự hiệp thông tràn đầy tình yêu và lòng thương xót, và những cộng đoàn trưởng thành nơi đó linh đạo hiệp thông là luật sống.  

67. Linh đạo hiệp thông là gì?

Đ/ “Một linh đạo hiệp thông hệ tại trước tiên là một cái nhìn của tâm hồn hướng về mầu nhiệm Ba Ngôi đang ngự trong chúng ta và chúng ta cũng phải có khả năng thấy ánh sáng của Người sáng chói trên gương mặt của anh chị em xung quanh chúng ta. Một linh đạo hiệp thông cũng có nghĩa là một khả  năng chú ý đến anh chị em chúng ta trong đức tin, trong sự hiệp nhất sâu xa của Thân Thể mầu Nhiệm và vì thế như “những chi thể của tôi”…”  

68. Linh đạo hiệp thông dẫn đến những cảm xúc và hành động nào?  

Đ/ Đó là: – chia sẻ niềm vui và những đau khổ của anh chị em  chúng ta; – nhạy cảm trước những ước muốn và chú ý đến các  nhu cầu của họ; – tặng ban cho họ tình bạn sâu sắc và chân  chính; – khả năng nhìn thấy những gì tích cực nơi người khác, đón nhận và khen ngợi điều đó như là một hồng ân Thiên Chúa ban; – biết dành một chỗ cho người khác, bằng cách mang gánh  nặng cho nhau.  

69. Sự hiệp thông với những Tu hội và những hình thức khác của sự thánh hiến mang lại những lợi ích cụ thể nào?  

Đ/ Khi nới rộng sự hiệp thông với những Tu hội và những hình  thức khác của sự thánh hiến, họ có thể: truyền bá sự hiệp thông; tái khám phá gốc rễ Tin mừng chung; cùng nhau hiểu thấu rõ ràng hơn vẻ đẹp của căn tính riêng của  mình trong số các đặc sủng khác nhau; cùng sống cuộc phiêu lưu của Thánh Khí và của việc bước theo  Kitô, bằng cách thông truyền kinh nghiệm sống Tin mừng, bằng cách yêu mến cộng đoàn và gia đình tu sĩ của người khác như của chính mình.  

70. Tại sao gặp gỡ và liên đới giữa các tu hội là điều đáng được khuyến khích? 

Đ/ Bởi vì: đó có thể là khởi đầu cùng nhau tìm kiếm một đường lối chung để phục vụ Giáo hội; nó dẫn đến việc phối hợp các nỗ lực trong lãnh vực huấn luyện, quản lý các tài sản, giáo dục và truyền giáo.  

71. Sự phong phú mới mẻ nào có thể nảy sinh từ cuộc gặp gỡ và hiệp thông với đoàn sủng của các phong trào giáo hội?  

Đ/ Có sự phong phú hỗ tương: Các phong trào thường có thể trao ban một mẫu gương về sự  tươi trẻ của Tin mừng và đoàn sủng, chẳng hạn như những khởi  xướng quảng đại và có tính sáng tạo trong việc phúc âm hoá.  Các phong trào cũng như những hình thức sống Tin mừng mới có thể học hỏi rất nhiều từ lòng trung thành, chứng tá tươi vui  và thuyết phục của đời sống thánh hiến với một gia sản thiêng  liêng rất phong phú, nhiều kho tàng kinh nghiệm và khôn  ngoan và nhiều dấn thân tông đồ và truyền giáo đa dạng.  

72. Tại sao kinh nghiệm hiệp thông giữa các người thánh hiến  phải dẫn đến một sự hiệp thông mở rộng hơn với mọi thành  phần khác của Giáo hội?  

Đ/ Bởi vì lệnh truyền yêu thương người khác, được sống bên  trong khuôn viên cộng đoàn, đòi buộc phải chuyển từ bình diện  cá nhân đến bình diện những thực tại khác nhau trong Giáo Hội. Chỉ trong một khoa Giáo hội học hội nhập, nơi mà nhiều ơn gọi khác nhau tập trung lại như một đoàn dân của Thiên Chúa, mà ơn gọi đời sống thánh hiến có thể tìm thấy căn tính riêng của mình như là một dấu chỉ và chứng tá.  

73. Sự hiệp thông với giáo dân có thể diễn tả qua những hình thức nào?  

Đ/ Mỗi hình thái đời sống thánh hiến có thể diễn tả bằng những hình thức khác nhau: 

Các hội dòng đan tu và chiêm ngưỡng có thể trao ban cho người giáo dân một mối tương quan chủ yếu thiêng liêng và một không gian cần thiết cho việc thinh lặng và cầu nguyện. Các tu hội dấn thân trong việc tông đồ có thể giúp họ tham gia vào các hình thức cộng tác mục vụ.  

Các thành viên của các tu hội đời, giáo dân hoặc giáo sĩ, liên kết với những tín hữu ở bình diện của cuộc sống hằng ngày.  

74. Sự nở rộ những hiệp hội giáo dân và những phong trào mới nối kết với những gia đình tu sĩ và những tu hội đời cho ta thấy điều gì?  

Đ/ Điều đó cho ta thấy nhu cầu chia sẻ trách nhiệm của người giáo dân, không chỉ trong việc chu toàn các công việc của tu hội, nhưng nhất là trong khát vọng chia sẻ những khía cạnh và  những thời gian đặc biệt của linh đạo và sứ mệnh của tu hội.  

75. Để bảo đảm một sự cộng tác làm phong phú lẫn cho nhau, ta cần đến điều gì?  

Đ/ Ta cần đến một sự huấn luyện tương xứng cho cả những người thánh hiến lẫn giáo dân để hiểu biết về đặc điểm riêng và  vẻ đẹp của mỗi bậc sống. Sự hiệp thông và tương trợ trong  Giáo hội không bao giờ chỉ là một chiều. Trong bầu khí mới  này của hiệp thông giáo hội, các linh mục, tu sĩ và giáo dân, thay vì không biết gì lẫn nhau hoặc đến với nhau chỉ vì một  hoạt động chung, lại một lần nữa có thể tìm lại mối tương quan  đúng đắn của tình hiệp thông và một kinh nghiệm đổi mới về  tình huynh đệ tin mừng và về sự quý trọng hỗ tương các đoàn sủng trong một sự bổ túc đầy lòng kính trọng đối với các khác  biệt.  

76. Trong mối tương quan hiệp thông giáo hội với mọi ơn gọi  và bậc sống, một khía cạnh rất đặc biệt là gì?  

Đ/ Đó là sự hiệp nhất với các giám mục. Khát vọng xây dựng  một linh đạo hiệp thông sẽ là hão huyền nếu không có một mối  tương quan tích cực và thân thiết với các giám mục, trước tiên với Đức Giáo hoàng, trung tâm hiệp nhất của Giáo hội và với huấn quyền của ngài. 

77. Tại sao?  

Đ/ Bởi vì không thể chiêm ngưỡng khuôn mặt của Thiên Chúa mà không thấy khuôn mặt ấy toả sáng nơi khuôn mặt của Giáo hội. Yêu mến Đức Kitô là yêu mến Giáo hội qua những con người và những định chế.  

78. Ngày hôm nay, đối diện với những lực ly tâm tái diễn và  gieo rắc sự ngờ vực đối với những nguyên tắc nền tảng của đức tin công giáo và luân lý, những người thánh hiến và những định chế của họ được mời gọi làm gì?  

Đ/ Họ được mời gọi làm chứng cho sự hiệp nhất không bao giờ bất đồng với huấn quyền của Giáo hội, bằng cách trở nên những phát ngôn viên xác tín và vui tươi trước mặt mọi người.  

79. Các tài liệu của Giáo hội trong các thập niên vừa qua đã  thường xuyên nhắc lại quy định nào của Công đồng?  

Đ/ Đó là : các giám mục có bổn phận biện phân các đoàn sủng khác nhau; – những người thánh hiến có quyền trình bày và đưa ra cách rõ ràng và tin tưởng các đề nghị hiện diện và hoạt động  phù hợp với ơn gọi riêng của mình.  

80. Huấn thị khuyên nhủ điều gì về mối hiệp thông giữa các  linh mục và những người thánh hiến?  

Đ/ Đó là: cần đưa ra những sáng kiến nhằm gia tăng sự hiểu  biết và quý trọng lẫn nhau.  

Phan Du Sinh