1. “Giáo Hội tại Á Châu” là tài liệu gì?

Đ/ Tài liệu “Giáo Hội tại Á Châu” là tông huấn mà Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II công bố tại New Dehli, Ấn Độ ngày 6/11/1999.

2. Mục tiêu của Tông huấn là gì?

Đ/ Tông huấn muốn chuyển đạt hoa quả của Thượng Hội Đồng Giám mục Á Châu họp tại Rôma từ ngày 18/4 đến 15/5/1999.

3. Chủ đề của Thượng Hội Đồng Giám mục Á Châu là gì?

Đ/ Đó là: “Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ, với sứ mạng yêu thương và phục vụ tại Á Châu, để cho họ được sống và được sống dồi dào”.

4. Tông huấn Giáo Hội tại Á Châu có mấy chương?

Đ/ Tông huấn có 7 chương với phần Dẫn nhập và Kết thúc:
+ Chương 1: Bối cảnh Á Châu
+ Chương 2: Đức Giêsu Cứu Thế, Quà tặng cho Á Châu
+ Chương 3: Chúa Thánh Thần, Đức Chúa và Đấng ban sự sống
+ Chương 4: Đức Giêsu Đấng Cứu Thế: Loan báo ơn huệ
+ Chương 5: Hiệp thông và Đối thoại để truyền giáo
+ Chương 6: Phục vụ cho sự thăng tiến con người
+ Chương 7: Những chứng nhân Tin mừng.

5. Đâu là điều kỳ diệu trong kế hoạch của Thiên Chúa tại Á Châu?

Đ/ Đó là việc Thiên Chúa đã chọn khởi sự kế hoạch của Người tại phần đất Á Châu và nhất là Người đã sai Con một của Người, Đức Giêsu Kitô Đấng Cứu độ, mặc lấy xác phàm làm người Á Châu.

6. Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II đã thấy viễn cảnh nào về Á Châu?

Đ/ Ngài hi vọng nhìn thấy một mùa gặt phong phú về đức tin sẽ được thu hoạch tại lục địa rộng lớn và đầy sức sống này trong ngàn năm thứ ba Kitô giáo.

7. Công cuộc Phúc âm hoá mới tại Á Châu phải đối diện với những thách đố lớn nào?

Đ/ Có hai thách đố lớn, đó là:
– việc đối thoại của Kitô giáo với các nền văn hoá và tôn giáo địa phương đã có tự lâu đời;
– suy nghĩ về huyền nhiệm: tại sao Đấng Cứu thế sinh ra tại Á Châu mà cho tới nay vẫn có nhiều người của lục địa này chưa biết đến Người.
CHƯƠNG I: BỐI CẢNH Á CHÂU

8. Tại sao cần hiểu biết bối cảnh Á Châu?

Đ/ Bởi vì Con Thiên Chúa khi làm người, đã mặc lấy những nét đặc trưng của Á Châu và Giáo Hội phải chu toàn công việc Phúc âm hoá mới cho những người Á Châu.

9. Đâu là những nét nổi bật về tôn giáo và văn hoá của Á Châu?

Đ/ Á Châu có những nét nổi bật sau:
– Sự khác biệt về dân tộc, thừa kế những nền văn hoá, tôn giáo và truyền thống cổ xưa;
– Chiếc nôi của các tôn giáo lớn trên thế giới: Do thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo và An giáo;
– Sức sống mạnh mẽ và khả năng đổi mới của các tôn giáo.

10. Á Châu có những giá trị tôn giáo và văn hoá nào?

Đ/ Những giá trị đó là:
– yêu mến sự thinh lặng và chiêm ngưỡng, sự đơn sơ, hài hoà, quên mình, bất bạo động, chăm chỉ làm việc, kỷ luật, sống mộc mạc, khao khát hiểu biết và tìm kiếm triết lý;
– quý trọng những giá trị như tôn trọng sự sống, lòng trắc ẩn đối với mọi sinh vật, gần gũi với thiên nhiên, hiếu thảo với cha mẹ, đàn anh và tổ tiên, và một ý thức cộng đồng cao độ;
– tinh thần gia đình: xem gia đình như nguồn sống ban sức mạnh, cộng đồng liên kết chặt chẽ;
– tinh thần bao dung tôn giáo và sống chung hoà bình;
– khát vọng sâu xa đối với những giá trị thiêng liêng.

11. Tông huấn có những nhận xét gì về việc phát triển kinh tế tại Á Châu?

Đ/ Những nhận xét đó là:
– sự phát triển kinh tế không đồng đều giữa các miền;
– chủ nghĩa duy vật và tục hoá đang xâm lấn và đe doạ các giá trị truyền thống, nhất là tại những vùng đô thị.

12. Đâu là những hiện tượng hay vấn đề cần quan tâm trong xã hội Á Châu?

Đ/ Sau đây là những hiện tượng hay vấn đề cần quan tâm:
– Hiện tượng đô thị hoá và các tệ nạn xã hội;
– hiện tượng di dân và vấn đề mục vụ cho người di dân;
– việc phát triển du lịch;
– vấn đề dân số và thăng tiến con người;
– ảnh hưởng tiêu cực của các phương tiện truyền thông xã hội;
– việc áp bức và loại trừ, đặc biệt đối với phụ nữ và các dân tộc thiểu số.

13. Tông huấn có nhận xét gì về toàn cảnh chính trị Á Châu?

Đ/ Tông huấn có nhận xét là:
– Toàn cảnh chính trị tại Á Châu rất phức tạp: nhiều ý thức hệ, nhiều thể chế chính quyền;
– sự tham nhũng đang lan rộng khắp nơi;
– dân chúng càng ngày càng ý thức đến nhân phẩm và các nhân quyền, và quyết tâm hơn để gìn giữ nó.

14. Giáo Hội tại Á Châu trước Công đồng Vaticanô II như thế nào?

Đ/ Giáo Hội tại Á Châu có một số nỗ lực đáng chú ý như sau:
– việc thiết lập những Giáo Hội địa phương được nhấn mạnh hơn;
– sự hồi sinh hoạt động tông đồ; nhiều dòng tu hoàn toàn hiến thân cho công tác này;
– những công trình giáo dục và bác ái đi đôi với việc rao giảng Tin mừng;
– những nỗ lực mới được thực hiện để hội nhập hoá Tin mừng, tuy nhiên chúng chứng tỏ là chưa đủ;
– mặc dầu hiện diện lâu đời và cố gắng làm việc tông đồ nhiều, Giáo Hội nhiều nơi còn bị coi là xa lạ với Á Châu và thưỡng bị xem là gắn liền với những quyền lực thực dân.

15. Sau Công đồng Vaticanô II, Giáo Hội tại Á Châu có những khởi sắc nào?

Đ/ Giáo Hội tại Á Châu:
– ý thức mạnh mẽ hơn về bản tính truyền giáo và trách nhiệm truyền giáo của mình, đồng thời nỗ lực dấn thân trong việc loan báo Tin mừng, nhờ chứng tá kitô hữu, các việc bác ái và sự liên đới nhân loại;
– có nhiều giáo dân được đào tạo tốt hơn, nhiệt thành và tràn đầy Thần Khí, và ý thức hơn về ơn gọi chuyên biệt của mình trong cộng đồng Giáo Hội;
– có nhiều phong trào tông đồ và đoàn sủng, mang đến đời sống mới, hăng say trong việc đào tạo những người nam nữ giáo dân, các gia đình và giới trẻ, và dấn thân cổ võ nhân phẩm và công bằng;
– có nhiều chứng tá anh dũng, nhiều gương kiên trì không hề lay chuyển, nhiều vị thánh và vị tử đạo là nguồn gốc cho sự giàu có thiêng liêng và là nền tảng cho một mùa gặt các linh hồn đã chín muồi và phong phú.

CHƯƠNG II – ĐỨC GIÊSU CỨU THẾ:
MỘT QUÀ TẶNG CHO Á CHÂU

16. Trong quá trình thảo luận của Thượng Hội Đồng, các nghị phụ đã xác tín sâu xa về điều gì?

Đ/ Các Nghị phụ đã xác tín rằng: sự đóng góp duy nhất của Giáo Hội cho các dân tộc trên lục địa là rao giảng về Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa thật và người thật, Đấng Cứu Thế độc nhất và duy nhất cho mọi dân tộc.

17. Tại sao vậy?

Đ/ Bởi vì:
– Điều phân biệt Giáo Hội với những cộng đồng tôn giáo khác, đó là niềm tin của Giáo Hội vào Đức Giêsu Kitô;
– Đức tin của Giáo Hội vào Đức Giêsu là một quà tặng đã lãnh nhận, mà một quà tặng thì cần được chia sẻ.

18. Như thế, trách nhiệm của người kitô hữu Á Châu là gì?

Đ/ Trách nhiệm của người kitô hữu Á Châu là cần nắm vững chân lý vĩnh cửu của Đức Giêsu qua việc học hỏi, cầu nguyện và suy tư, hầu đem sức mạnh và sức sống của chân lý đó đặt vào giữa những thách đố hiện tại và tương lai của việc Phúc Âm Hoá tại Á Châu.

19. Điều gì chứng tỏ rằng Đức Giêsu là Con người–Thiên Chúa?

Đ/ Một mặt, Kinh Thánh làm chứng rằng Đức Giêsu đã sống một cuộc sống con người đích thực. Người giống như chúng ta mọi đàng chỉ trừ tội lỗi.
Mặt khác, Người luôn ở trong sự hiệp thông thân mật với Thiên Chúa mà người gọi là Abba, “Cha”; những lời nói và việc làm của Người luôn tỏ lộ lòng thương xót của Chúa Cha; nhất là biến cố sống lại từ kẻ chết đã mạc khải Người là Con Thiên Chúa, là Ngôi Lời đã có từ trước, Đấng hiển trị mãi mãi như là Chúa và Đấng Cứu Thế.

20. Đức Giêsu làm gì để cứu độ chúng ta?

Đ/ Qua lời nói và việc làm, nhất là qua cuộc khổ nạn, cái chết và sự sống lại, Đức Giêsu hoàn thành ý muốn của Chúa Cha là giao hoà toàn thể nhân loại với Người. Trên thánh giá, Đức Giêsu gánh lấy tội lỗi của thế giới –tội quá khứ, hiện tại và tương lai. Và sự chết của Người đã đem lại sự sống cho chúng ta.

21. Làm sao có thể hiểu được trọn vẹn thân thế và sứ mạng của Con Thiên Chúa?

Đ/ Thân thế và sứ mạng của Con Thiên Chúa chỉ đạt được ý nghĩa trọn vẹn khi được đặt vào trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúng ta không thể cách ly hay tách biệt Ngôi này với các Ngôi khác, bởi vì mỗi Ngôi chỉ được tỏ lộ trong sự hiệp thông sự sống và hành động của Ba Ngôi. Hành động cứu rỗi của Đức Giêsu bắt nguồn từ sự hiệp thông của các Ngôi vị Thiên Chúa, và mở đường cho tất cả những ai tin vào Người cũng được hiệp thông mật thiết với Ba Ngôi và với nhau trong Ba Ngôi.

22. Những câu Phúc âm chính yếu nào cho ta biết về thân thế và sứ mạng của Con Thiên Chúa?

Đ/ Đó là những câu:
– “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9): chỉ nơi Đức Giêsu Kitô, sự viên mãn của thần tính mới hiện diện cách cụ thể;
– “Ngôi lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1,9): Là Lời cuối cùng của Chúa Cha, Đức Giêsu làm cho Thiên Chúa và ý muốn cứu độ của Người được biết đến cách đầy đủ nhất;
– “Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6); Người là “Đường, là sự Thật và là sự Sống” (Ga 14,6); “Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những công việc của mình” (Ga 10,14): Chỉ trong con người Đức Giêsu, lời cứu độ của Thiên Chúa xuất hiện cách trọn vẹn.
– “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34): Đức Giêsu tiêu diệt tội lỗi bằng quyền lực tình yêu của Người đối với Chúa Cha và cả nhân loại;
– “Lạy Cha, con xin phó dâng linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46): Trong lời diễn tả tình yêu tột cùng ấy, Ngài trao toàn diện sự sống và sứ vụ của mình trong tay Chúa Cha, Đấng đã sai mình. Như thế, Người trao phó cho Chúa Cha toàn thể thọ tạo và toàn thể nhân loại, để Chúa Cha đón nhận lại trong tình yêu nhân hậu của Người.

23. Đâu là sứ điệp căn bản mà Kitô giáo trao ban cho thế giới?

Đ/ Đó là: Qua Hy Lễ Vượt Qua của Đức Giêsu, Chúa Cha dứt khoát ban cho thế gian ơn hoà giải và sự sống tràn trề. Ân huệ lạ lùng này chỉ có thể được ban tặng nhờ Người Con yêu dấu, duy mình Người mới có thể đáp trả trọn vẹn tình yêu của Chúa Cha, tình yêu đã bị chối từ vì tội lỗi.

24. Đức Giêsu đã mạc khải cho ta biết ơn gọi đích thực của con người là gì?

Đ/ Khi dâng hiến trọn vẹn để yêu mến và phục vụ Chúa Cha và con người, cuộc đời làm người đích thực của Đức Giêsu nói lên rằng ơn gọi của mỗi người là nhận lãnh tình yêu và đáp lại bằng việc trao ban tình yêu.

25. Đức Giêsu đã mạc khải cho ta biết sự thật gì về con người?

Đ/ Những lời nói và hành động của Người, và hơn hết, sự Chết và Phục Sinh của Người, mạc khải và hoàn thành một nhân loại được tái tạo và đổi mới theo chương trình của Thiên Chúa. Trong Đức Giêsu, chúng ta khám phá sự cao cả và phẩm giá của mỗi con người trong con tim Thiên Chúa, Đấng đã dựng nên con người giống hình ảnh của Người, và ban cho con người trở nên những người con trong Chúa Con.

26. Đâu là sự hiệp thông mà Đức Giêsu đã thiết lập?

Đ/ Đức Giêsu không những phục hồi sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và nhân loại, mà còn thiết lập một sự hiệp thông mới giữa những con người sống xa cách nhau vì tội lỗi. Vượt qua mọi chia rẽ, Đức Giêsu làm cho mọi dân tộc có thể sống như anh chị em, bằng cách nhìn nhận chỉ có một Cha trên Trời.

27. Tại sao chúng ta tin rằng Đức Giêsu là Đấng Cứu độ duy nhất?

Đ/ Chúng ta tin rằng Đức Giêsu Kitô, Chúa thật và người thật, là Đấng Cứu độ duy nhất bởi vì chỉ duy mình Người –Người Con– đã hoàn thành chương trình cứu độ phổ quát của Chúa Cha.

28. Tại sao chúng ta tin rằng Đức Giêsu là Đấng Cứu độ phổ quát?

Đ/ Bởi vì, một khi chỗi dậy từ kẻ chết, Đức Giêsu Kitô hiện diện với mọi người và toàn thể thụ tạo một cách mới mẻ và mầu nhiệm. Trong Người, những giá trị chân chính của mọi truyền thống tôn giáo và văn hoá được hoàn thành và đạt tới mức sung mãn.

CHƯƠNG III – CHÚA THÁNH THẦN:
ĐỨC CHÚA VÀ ĐẤNG BAN SỰ SỐNG

29. Chúa Thánh Thần giữ vị trí nào trong công cuộc sáng tạo?

Đ/ Theo truyền thống Kinh thánh, Chúa Thánh Thần luôn luôn được liên kết với sự sống và việc ban sự sống. Người hiện diện từ giây phút đầu tiên của cuộc sáng tạo và luôn hiện diện trong thế giới như là quyền năng ban sự sống.

30. Chúa Thánh Thần làm gì trong lịch sử?

Đ/ Chúa Thánh Thần hành động trong lịch sử, hướng dẫn lịch sử theo những con đường chân lý và điều thiện. Người liên tục gieo những hạt giống chân lý giữa các dân tộc, tôn giáo, văn hoá và triết học. Người nâng đỡ con người trong việc tìm kiếm sự hiểu biết và giúp đỡ lẫn nhau.

31. Chúa Thánh Thần làm gì trong đời sống con người?

Đ/ Chúa Thánh Thần không chỉ ban sự sống, nhưng còn thanh tẩy và cứu chuộc, làm phát sinh những hoa quả “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (Gl 5,22-23). Người biến những người nam nữ thành những dụng cụ hữu hình của hoạt động bên trong của Người và nhờ đó, Người ảnh hưởng trên xã hội và văn hoá nhân loại.

32. Đâu là vai trò của Chúa Thánh Thần trong mầu nhiệm nhập thể?

Đ/ Mầu nhiệm nhập thể của Con Thiên Chúa là công trình cao trọng nhất của Chúa Thánh Thần:
– Sứ vụ của Đức Giêsu mang dấu vết rõ ràng sự hiện diện của Thần Khí: sự sống, sự sống mới;
– Người tập hợp không những loài người mà còn toàn thể thọ tạo và tất cả lịch sử vào trong Đức Kitô.

33. Có thể tách biệt hoạt động của Chúa Thánh Thần với hoạt động của Đức Giêsu Cứu thế không?

Đ/ Thưa không. Bất cứ điều gì mà Chúa Thánh Thần mang đến trong tâm hồn con người và lịch sử các dân tộc, trong các nền văn hoá và tôn giáo, thì giúp chuẩn bị cho Tin mừng và chỉ có thể hiểu khi quy chiếu về Đức Kitô.

34. Chúa Thánh Thần có những hoạt động nào trong Giáo Hội?

Đ/ Chúa Thánh Thần:
– hướng dẫn Giáo Hội để đạt tới chân lý toàn vẹn về Đức Giêsu;
– ban sức mạnh cho Giáo Hội để tiếp tục sứ vụ của Đức Giêsu;
– ban cho Giáo Hội những ân huệ và đoàn sủng khác nhau để lớn lên trong sự hiệp thông;
– uốn nắn Giáo Hội thành một cộng đoàn những chứng nhân.

35. Chúa Thánh Thần hoạt động như thế nào trong sứ vụ của Giáo Hội tại Á Châu?

Đ/ Chúa Thánh Thần:
– củng cố chứng tá đức tin của các kitô hữu giữa các dân tộc, các nền văn hoá và tôn giáo của lục địa;
– tiếp tục chuẩn bị các dân tộc Á Châu vào cuộc đối thoại cứu độ với Đấng Cứu thế của mọi người;
– Hướng dẫn Giáo Hội làm chứng cho Đức Giêsu bằng những cung cách mới và có hiệu quả.

CHƯƠNG IV – ĐỨC GIÊSU CỨU THẾ:
MỘT QUÀ TẶNG CẦN LOAN BÁO CHO MỌI NGƯỜI BIẾT

36. Tại sao việc loan báo chiếm vị trí ưu tiên trong công cuộc Phúc âm hoá?

Đ/ Bởi vì không thể có Phúc âm hoá thực sự mà không có loan báo công khai về Đức Giêsu là Chúa. Như Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã viết trong tông huấn Loan báo Tin mừng: “Không thể có việc Phúc Âm hoá thật nếu danh xưng, giáo lý, cuộc đời, các lời hứa, Nước Trời và mầu nhiệm Đức Giêsu thành Nadarét, Con Thiên Chúa, không được loan báo”

37. Câu hỏi lớn mà Giáo hội Á Châu đang đặt ra cho mình là gì?

Đ/ Là làm sao chia sẻ với các anh chị em tại Á Châu về Đức Giêsu, là kho tàng chúng ta có và là ân huệ chứa đựng mọi ân huệ khác.

38. Đâu là động cơ thúc đẩy Giáo hội loan báo Đức Giêsu Kitô?

Đ/ Không phải áp lực của các bè phái, tinh thần chiêu mộ tín đồ hoặc do ý thức tự tôn mà Giáo hội đã hăng say loan báo Đức Giêsu Kitô, nhưng chỉ vì vâng lời lệnh truyền của Đức Kitô và ý thức rằng làm chứng về Đức Giêsu Kitô là công việc phục vụ cao cả nhất mà Giáo Hội có thể trao tặng cho các dân tộc Á Châu.

39. Giáo hội tại Á Châu phải loan báo Đức Giêsu trong tinh thần nào?

Đ/ Thưa, phải “nói sự thật trong tình bác ái” (Ep 4,15). Giáo Hội loan báo Tin Mừng trong tinh thần quý mến và tôn trọng chân thành đối với thính giả của mình. Việc loan báo mà tôn trọng các quyền của lương tâm thì không xúc phạm tự do, bởi vì đức tin luôn đòi hỏi một sự đáp trả tự do về phía cá nhân. Tuy nhiên, nhiệm vụ của Giáo hội là phải rao giảng công khai Tin Mừng trong sự toàn vẹn của nó.

40. Khi rao giảng về Đức Giêsu, Giáo hội gặp phải những khó khăn nào?

Đ/ Khi rao giảng Đức Giêsu là Đấng Cứu độ duy nhất, Giáo hội gặp phải những khó khăn về phương diện triết học, văn hoá và thần học, nhất là nhìn từ những niềm tin của các tôn giáo lớn tại Á Châu, vốn quyện chặt với các giá trị văn hoá và những lối nhìn riêng biệt về thế giới.

41. Đâu là thách đó vượt bậc của việc rao giảng Tin mừng tại Á Châu?

Đ/ Thưa, đó là tìm cách loan báo Đức Giêsu sao cho các dân tộc Á Châu có thể nhận ra Người, mà vẫn trung thành với giáo lý thần học của Giáo Hội và với gốc gác Á Châu của mình.

42. Cần phải trình bày Đức Giêsu, Đấng Cứu đô duy nhất, bằng cách thức nào?

Đ/ Phải theo phương pháp sư phạm: từng bước dẫn đưa người ta đến việc đón nhận trọn vẹn mầu nhiệm Đức Kitô.

43. Đâu là lối tiếp cận với những người nghe loan báo Tin mừng lần đầu tiên?

Đ/ Trong lần loan báo đầu tiên, có thể trình bày Đức Giêsu Kitô như Đấng thoả mãn những khát vọng sâu xa của con người. Phương pháp kể truyện đáng được dùng ưu tiên.

44. Đâu là lối tiếp cận với những người đã tin?

Đ/ Thưa, cần theo phương pháp sư phạm có tính gợi ý, sử dụng những câu truyện, những dụ ngôn và những biểu tượng là những điều hết sức đặc thù trong phương pháp giảng dạy của người Á Châu. Hơn nữa, phải lưu tâm đến hoàn cảnh người nghe, để có thể cống hiến một sự loan báo tương xứng với trình độ trưởng thành của người nghe, qua một hình thức và ngôn ngữ xứng hợp.

45. Những hình ảnh Kinh Thánh nào nên dùng khi trình bày Đức Kitô cho người Á Châu?

Đ/ Đó là: Đức Giêsu là Thầy dạy sự khôn ngoan, Vị Lương y, Đấng Giải phóng, Nhà Hướng dẫn đàng thiêng liêng, Minh chủ, Người Bạn giàu lòng thương xót của kẻ nghèo, Người Samaritanô nhân hậu, Vị Mục tử nhân lành, Đấng vâng phục, sự Khôn ngoan nhập thể của Thiên Chúa, Đấng Cứu độ.

46. Tại sao nên dùng những hình ảnh đó?

Đ/ Vì Giáo hội muốn trình bày mầu nhiệm Đức Kitô cho các dân tộc Á Châu theo những kiểu mẫu văn hoá và cách suy nghĩ của họ. Đồng thời, đây cũng là cách thức làm chi đức tin hội nhập vào lục địa này. Chúng ta gọi là hội nhập văn hoá.

47. Việc hội nhập văn hoá của đức tin tại Á Châu cần làm những điều gì?

Đ/ Thưa cần làm hai điều:
– khám phá lại khuôn mặt Á Châu của Đức Giêsu;
– tìm ra những phương cách để các nền văn hoá Á Châu có thể nắm bắt được ý nghĩa cứu độ phổ quát của mầu nhiệm về Đức Giêsu và về Giáo Hội Người.

48. Phúc âm hoá và hội nhập văn hoá liên hệ với nhau như thế nào?

Đ/ Việc Phúc Âm hoá và hội nhập văn hoá liên hệ với nhau cách tự nhiên và mật thiết:
– Giáo Hội truyền đạt các chân lý và những giá trị của mình và đổi mới các nền văn hoá từ bên trong;
– Giáo Hội cũng tiếp thu từ các nền văn hoá khác nhau, những yếu tố tích cực có sẵn trong các nền văn hoá đó;
– khi các nền văn hoá khác nhau được hoàn thiện và canh tân dưới ánh sáng của Tin mừng, chúng có thể trở thành những cách thế diễn tả đích thực đức tin duy nhất của kitô giáo.

49. Ai là tác nhân chính của việc hội nhập văn hoá của đức tin Kitô giáo tại Á Châu?

Đ/ Thưa, Chúa Thánh Thần. Người dẫn dắt chúng ta đến chân lý toàn diện, đồng thời tạo điều kiện cho cuộc đối thoại của chúng ta với các giá trị văn hoá và tôn giáo của các dân tộc được kết quả.

50. Các thành phần dân Chúa đóp góp như thế nào trong việc hội nhập văn hoá?

Đ/ – Các Chủ Chăn có nhiệm vụ hướng dẫn cuộc đối thoại này cách sáng suốt;
– Các nhà chuyên môn trong các môn học thánh và đời giúp soi sáng tiến trình hội nhập;
– Toàn thể dân Chúa tỏ bày đức tin đang được ra giảng và tiếp thu.

51. Đâu là những lãnh vực chủ chốt của việc hội nhập văn hoá?

Đ/ Đó là các lãnh vực:
– Suy tư thần học
– Phụng vụ
– Kinh Thánh
– Đào tạo các linh mục và tu sĩ
– Tu đức.

52. Những nguyên tắc nào hướng dẫn các suy tư thần học trong quá trình hội nhập văn hoá?

Đ/ Đó là:
– Trung thành với Kinh Thánh và Truyền thống Giáo hội;
– gắn bó với Huấn quyền;
– hiểu biết các thực tế mục vụ;
– củng cố đức tin của dân chúng.

53. Làm sao có thể biết một sự hội nhập văn hoá có đúng đắn không?

Đ/ Muốn biết sự hội nhập văn hoá có đúng đắn không, ta sẽ xem dân chúng tại đó, sau khi hiểu đức tin ấy rõ ràng hơn từ văn hoá của mình, có trở nên gắn bó hơn với đức tin Kitô giáo của họ hay không.

54. Để đưa phụng vụ hội nhập văn hoá, phải chú ý đến những yếu tố nào?

Đ/ Phải chú ý đến:
– những giá trị văn hoá truyền thống, những biểu tượng và những nghi thức;
– những thay đổi trong ý thức và thái độ gây ra do sự xuất hiện của các nền văn hoá trần tục và hưởng thụ đang ảnh hưởng đến cảm quan của người Á Châu về phụng tự và cầu nguyện;
– những nhu cầu riêng biệt của người nghèo, người di dân, người tị nạn, giới trẻ và phụ nữ.

55. Để loan truyền sứ điệp cứu độ cho các dân tộc Á Châu, cần phải làm gì trong lãnh vực Kinh Thánh?

Đ/ – Các bản văn Kinh Thánh cần được phổ biến rộng rãi hơn cũng như được sử dụng trong tinh thần cầu nguyện và thường xuyên hơn giữa các phần tử Giáo Hội tại Á Châu;
– cần dùng Kinh Thánh làm nền tảng cho mọi công việc loan báo, dạy giáo lý, giảng thuyết và tu đức dưới bất cứ hình thức nào;
– cần cổ động và nâng đỡ những cố gắng dịch thuật Kinh Thánh ra tiếng địa phương;
– cần phải đưa vào chương trình đào tạo giáo sĩ, những người sống đời thánh hiến và giáo dân những khoá học Kinh Thánh có định hướng mục vụ, nhấn mạnh tới việc áp dụng các điều được giảng dạy vào các thực tại phức tạp của đời sống tại Á Châu;
– cần phổ biến Kinh Thánh cho những người theo các tôn giáo khác.

56. Phải chú ý đến điều gì trong việc đào tạo những người rao giảng Tin Mừng?

Đ/ Phải thích nghi việc đào tạo với những bối cảnh văn hoá tại Á Châu.

57. Thượng hội đồng khuyến khích các giáo sư và ban giám đốc chủng viện làm gì để hội nhập văn hoá?

Đ/ Thượng hội đồng khuyến khích tìm cách hiểu biết sâu xa những yếu tố làm nên linh đạo và kinh nguyện thích hợp với tâm hồn người Á Châu và dấn thân sâu xa hơn vào công cuộc tìm kiếm một cuộc sống viên mãn hơn của những người Á Châu.

58. Trong việc đào tạo các tu sĩ nam nữ sống đời thánh hiến phải chú tâm điều gì?

Đ/ Phải làm sao để linh đạo và nếp sống của họ tỏ ra nhạy cảm với di sản tôn giáo và văn hoá của những người họ đang chung sống và đang phục vụ.

59. Điều kiện cần thiết của một nhà truyền giáo là gì?

Đ/ Có kinh nghiệm sâu sắc về Thiên Chúa qua kinh nguyện và chiêm ngưỡng. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng phát biểu: “Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô chỉ có thể được rao giảng bởi những ai bị chiếm đoạt và được linh hứng bởi tình yêu của Chúa Cha dành cho con cái mình, tình yêu được tỏ bày trong con người của Đức Giêsu Kitô. Việc loan truyền này là một sứ vụ cần đến những con người nam nữ thánh thiện, họ sẽ làm cho Đấng Cứu Thế được biết đến và được yêu mến qua cuộc sống của họ. Một ngọn lửa chỉ được cháy lên bởi cái gì đã bén lửa. Cũng vậy, việc loan truyền Tin Mừng Cứu Độ chỉ có thể thành công tại Á Châu, khi các Giám Mục, các hàng Giáo Sĩ, những kẻ sống đời sống thánh hiến và giáo dân, được đốt cháy bởi tình yêu Đức Kitô và ao ước làm cho Người được biết cách rộng rãi hơn, được yêu cách sâu xa hơn, và được đi theo sát hơn”

60. Ngoài việc rao giảng, còn có cách truyền giáo nào khác không?

Đ/ Còn có chứng tá thầm lặng của đời sống. Giáo Hội nhận thức rằng chứng tá thầm lặng của đời sống vẫn là con đường duy nhất để loan báo Nước Chúa trong nhiều nơi tại Á Châu, những nơi mà việc rao giảng công khai bị ngăn cấm và sự tự do tôn giáo bị chối từ hay bị hạn chế có hệ thống.

61. Tại sao việc Phúc âm hoá tại Á Châu là một thực tại vừa súc tích vừa năng động?

Đ/ Vì nó bao hàm nhiều khía cạnh: chứng tá, đối thoại, rao giảng, dạy giáo lý, hoán cải, bí tích Rửa Tội, gia nhập vào cộng đoàn Giáo Hội, thiết lập Giáo Hội, hội nhập văn hoá và thăng tiến toàn diện con người.

62. Dầu vậy, điều gì cần lưu ý trong việc Phúc âm hoá?

Đ/ Phải loan báo trọn vẹn chân lý về Đức Giêsu Kitô, là Chúa của mọi người, Đấng “vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay và như vậy mãi mãi đến muôn đời”.

Lm Phan Du Sinh