Học hỏi Tông Huấn Kitô Hữu Giáo Dân: Phần Dẫn Nhập

(27/03/2002). Dẫn nhập

1.”Ki-tô hữu giáo dân” là tài liệu gì?

“Ki-tô hữu giáo dân” là tông huấn về ơn gọi và sứ mạng của giáo dân trong Giáo hội và thế giới do Đức Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II công bố vào ngày 30/12/1988. Đây là thành quả của Thượng-hội-đồng Giám Mục thông thường thứ VII nhóm họp tại Rôma từ ngày 01 đến 30 tháng mười năm 1987.

2.Câu Phúc âm chỉ đạo của tông huấn là câu gì ?

Đó là: “Cả các anh nữa, vào làm vườn nho cho tôi đi” (Mt 20,3-4)

3.Mục đích của tông huấn là gì?

Tông Huấn này nhằm mục đích khơi dậy và nuôi dưỡng một ý

thức rõ nét hơn về ân huệ và trách nhiệm của tất cả và của từng

giáo dân, trong sự hiệp thông và trong sứ vụ của Giáo Hội.

4.Đâu là những nét tươi trẻ mà Chúa Thánh Thần đã tô điểm Giáo hội sau Công đồng Vatican II?

Đó là:

sự cộng tác giữa linh mục, tu sĩ và giáo dân;

sự tham dự tích cực vào phụng vụ, vào việc loan báo

Lời Chúa, vào việc huấn giáo;

giáo dân đã đảm nhận nhiều nhiều dịch vụ và trách vụ rất tốt

việc nở rộ các nhóm, các hiệp hội, các phong trào tu đức và dấn thân;

việc tham gia rộng rãi và rõ nét hơn của phụ nữ vào đời
sống của Giáo Hội và sự phát triển của xã hội.
5. Đâu là khuôn mặt hiện nay của “trái đấi” và của “trần gian”, mà các kitô-hữu phải trở thành “muối” và “ánh sáng” ?
Có thể ghi nhận một số khuynh hướng nổi bật trong xã hội
hiện đại:
· Khuynh hướng duy-thế-tục và nhu cầu tôn giáo;
· Nhân phẩm bị chà đạp và được tán dương;
· Những tình huống xung đột và hòa bình.
6. Khuynh hướng duy thế tục là gì ?
Khuynh hướng duy thế tục là hiện tượng quên lãng Thiên
Chúa: con người nghĩ rằng Thiên Chúa chẳng có ý nghĩa gì
trong cuộc sống của mình; con người từ chối Thiên Chúa để rồi
sấp mình thờ lạy những “ngẫu tượng” đủ loại.
7. Tuy vậy, có những dấu chỉ nào nói lên khát vọng và nhu cầu tôn giáo của con người thời nay?
Đó là:

. nhu cầu hướng tới một cái nhìn thiêng liêng và siêu việt
về cuộc sống,
· có một sự thức tỉnh tìm kiếm tôn giáo,
· con người quay trở lại với ý thức về sự thiêng thánh và
về việc cầu nguyện,
· đòi hỏi quyền tự do kêu cầu Danh Chúa.
8. Xã hội hiện nay đang xảy ra những xúc phạm nào đến phẩm giá con người ?
Những xúc phạm đó là :
con người bị biến thành dụng cụ, thành nô lệ cho các thế lực như ý thức hệ, quyền lực kinh tế, những hệ thống chính trị phi nhân, sự áp đảo của kỹ thuật và khoa học, các phương tiện truyền thông – xã hội;

những trẻ em không được chào đời, vì chúng đã bị giết hại từ trong lòng mẹ, số các trẻ em bị bỏ rơi, hay bị cha mẹ ngược đãi, số các trẻ em lớn lên không được yêu thương và giáo dục;

trong một số quốc gia, có những tập thể dân cư không có nhà ở cũng không có việc làm, thiếu những phương tiện cần thiết để sống cho ra con người.

9.Hiện nay có những loại chủ thuyết nhân bản nào ?

Có 3 loại:

những chủ thuyết vì nhuốm khuynh hướng vô tín ngưỡng và thế tục nên hạ giá và xúc phạm con người;

những chủ thuyết đề cao con người đến độ đưa tới những hình thức tôn thờ ngẫu tượng thực sự;

những chủ thuyết nhìn nhận sự cao cả và cùng khốn của con người, và làm nổi bật, nâng đỡ và ủng hộ phẩm giá toàn diện của con người.

10.Có những chiều hướng tích cực nào liên quan đến nhân phẩm?

Ngày nay, ý thức về nhân phẩm của mọi người ngày càng được phổ biến rộng rãi và được khẳng định mạnh mẽ: con người hoàn toàn không phải là một “sự vật” hay một “đồ vật” mà người ta có thể sử dụng, nhưng luôn luôn và chỉ là một “chủ thể” có ý thức và tự do, được mời gọi sống một cách có trách nhiệm trong xã hội và lịch sử, hướng về những giá trị tinh thần và tôn giáo.

Hơn nữa ta có thể thấy một nhu cầu đang lớn mạnh là nhu cầu tham gia.

11. Do đâu mà có những đối kháng như bạo hành, áp bức, khủng bố chiến tranh trong thế giới ngày hôm nay ?
Đó là vì một số thành phần của nhân loại ngày nay đang tái diễn kinh nghiệm điên cuồng của việc xây dựng “tháp Babel” (x. St 11,1-9), muốn phô trương sự “toàn năng” của mình.
12. Nhưng thế giới ngày hôm nay lại có những dấu hiệu tích cực nào ?

Những dấu hiệu đó là
· khát vọng mạnh mẽ không gì dẹp nổi của từng người và của các dân tộc về thiện ích vô giá của hòa bình trong công lý;
· một số đông giáo dân quảng đại dấn thân trong những lãnh vực xã hội hay chính trị, dưới nhiều hình thức rất khác nhau, hoặc đứng trong các tổ chức, hoặc như những cộng tác viên tình nguyện, và phục vụ các người hèn kém nhất.

13. Đức Giáo hoàng đã khai triển ơn gọi và sứ vụ người giáo dân theo những chiều kích nào ?
Đó là những chiều kích:
· “Giáo hội Mầu nhiệm”
· “Giáo hội Hiệp thông”
· “Giáo hội Truyền giáo”
14. Tông huấn Ki-tô hữu giáo dân gồm mấy chương ?
Tông huấn gồm 5 chương:
· Chương I: Phẩm giá của giáo dân trong Giáo hội – Mầu nhiệm
· Chương II: Tham dự của giáo dân vào đời sống Giáo hội – Hiệp thông
· Chương II: Tinh thần đồng trách nhiệm của giáo dân trong Giáo hội – Truyền giáo

· Chương IV: Những nhà quản lý tuyệt vời ân sủng đa dạng của Thiên Chúa
· Chương V: Việc huấn luyện giáo dân
Học hội Tông Huấn Kitô Hữu Giáo Dân: Chương I
VietCatholic News(27/03/2002).
Chương I: Phẩm giá của giáo dân trong Giáo hội – mầu nhiệm
15. Tông huấn đã dùng câu Kinh Thánh nào để diễn tả phẩm giá của người giáo dân trong Giáo hội ?
Đó là câu: “Thầy là cây nho, anh em là cành” (Ga 15,5)
16. Ý nghĩa của cây nho trong Kinh Thánh ?
· Từ thời Cựu Ước, các ngôn sứ đã dùng hình ảnh cây nho để chỉ dân Israel (x. Gr 2,21; Ed 19,10; Is 5,1-2).
· Đức Giêsu lấy lại biểu tượng này để mạc khải một số khía cạnh của Nước Thiên Chúa (x. Mc 12,1; Mt 21,28tt).
· Theo thánh sử Gioan, vườn nho có một ý nghĩa biểu tượng: Đức Giêsu là thân nho, và chúng ta, các môn đệ, là cành (x.Ga 12,1tt).

17. Ý nghĩa của vườn nho theo Công đồng Vatican II ?
Dựa vào những hình ảnh khác nhau trong Thánh Kinh, Công đồng hiểu vườn nho ấy chính là Giáo Hội: “Chúa Kitô là cây nho đích thực; Người ban sự sống và hoa trái cho các nhánh là chúng ta : nhờ Giáo Hội, chúng ta ở trong Người, và không có Người, chúng ta không thể làm gì được”.
18. Tại sao Giáo Hội là mầu nhiệm ?
Bởi vì chính tình yêu và sự sống của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là quà tặng nhưng không ban cho tất cả
những ai:

· sinh bởi nước và Thánh Thần,
· được kêu gọi sống chính sự hiệp thông với Thiên Chúa,
· được kêu gọi tỏ bày và thông truyền sự hiệp thông đó trong lịch sử (sứ vụ).
19. Giáo dân là ai ?
Giáo dân là những kitô hữu:
· không thuộc hàng giáo sĩ và bậc tu trì;
· đã được tháp nhập vào thân thể Chúa Kitô nhờ phép Thánh Tẩy;
· được tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ (tiên tri) và vương giả của Chúa Kitô theo cách thức của họ;
· đang thực hiện sứ mệnh của toàn dân Kitô giáo theo phận vụ riêng của mình.
20. Nét riêng biệt của người giáo dân là gì ?
Đó là tìm kiếm Nước Thiên Chúa bằng cách quản trị các sự việc trần thế và xếp đặt chúng theo ý Thiên Chúa.

21. Bí tích Thánh tẩy làm gì cho ta ?
Bí tích Thánh tẩy:
· tái sinh chúng ta thành con cái Thiên Chúa;
· kết hiệp chúng ta với Đức Kitô và với Thân Thể của Người là Giáo Hội;
· xức dầu cho chúng ta trong Thánh Thần qua việc biến
chúng ta thành những đền thờ thiêng liêng
22. Người giáo dân tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Giêsu Kitô như thế nào ?
Người giáo dân tham dự
· vào chức vụ tư tế của Đức Giêsu qua việc hiến dâng chính mình và mọi hoạt động của mình;

· vào chức vụ ngôn sứ của Đức Kitô bằng việc đón nhận Tin mừng và làm sáng lên nét mới mẻ và sức mạnh của Tin mừng trong đời sống thường ngày, trong gia đình, ngoài xã hội cũng như diễn tả niềm hy vọng của họ vào vinh quang mai sau;
· vào chức vụ vương giả của Người – bằng cuộc chiến thiêng liêng để tiêu diệt quyền thống trị của tội lỗi nơi họ – bằng việc hiến dâng chính mình để phục vụ chính Đức Giê-su, hiện diện nơi mọi anh em của Người, đặc biệt nơi những người bé nhỏ nhất – bằng cách trả lại cho công cuộc sáng tạo tất cả giá trị nguyên thuỷ của nó.
23. Những ai đã chịu Bí Tích Thánh Tẩy đều có cùng một phẩm giá. Thế thì đâu là sự khác biệt giữa người giáo dân với Linh mục và Tu sĩ ?
Thưa: tính cách trần thế là tính cách riêng biệt và đặc thù của giáo dân.
24. Chiều kích trần thế của Giáo Hội bắt nguồn từ đâu ?

Từ mầu nhiệm Ngôi Lời làm người.

25. Giáo Hội diễn tả tính cách trần thế ấy như thế nào ?
· Bằng việc sống giữa thế gian dầu không thuộc về thế gian (x. Ga 17,16);
· tiếp tục công cuộc cứu độ của Đức Giêsu bằng việc canh tân tất cả trật tự trần thế.
26. Công đồng trình bày ý nghĩa thần học về tính cách trần thế của người giáo dân như thế nào?
· Trần gian là “nơi Thiên Chúa gọi họ” (GH 31): gia đình, xã hội như dệt thành cuộc sống của họ. “Trần gian” trở thành môi trường và phương tiện cho ơn gọi Kitô giáo.của giáo dân . họ không được mời gọi rời bỏ vì thế họ đang sống nơi trần gian.

· Giáo dân được Thiên Chúa kêu gọi để như men, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ của mình và như thế, với lòng tin cậy mến sáng ngời, họ tỏ lộ Chúa Kitô cho kẻ khác bằng chứng tá đời sống (x.GH 31).
· Giáo dân được tham dự vào công cuộc sáng tạo, giải phóng tạo vật khỏi ảnh hưởng của tội lỗi và để họ thánh hoá bản thân trong đời sống hôn nhân hay độc thân, trong gia đình, nghề nghiệp và các hoạt động xã hội khác.

27. Công đồng nói gì về ơn gọi nên thánh của giáo dân ?
Người giáo dân:
· vì là phần tử của Giáo hội nên lãnh nhận và tham dự vào ơn gọi chung là nên thánh;
· nối gót và noi gương Đức Giê-su Ki-tô, bằng cách đón nhận các mối phúc thật, lắng nghe và suy niệm LờiChúa, tham dự phụng vụ và các bí tích, chuyên chăm cầu nguyện, đói khát sự công chính, thực hành giới luật yêu thương và phục vụ mọi người;
· tự thánh hóá bản thân trong cuộc sống hằng ngày, cuộcsống nghề nghiệp và xã hội. Giáo dân phải coi cuộc sống hằng ngày của mình như một cơ hội kết hiệp với Thiên Chúa và chu toàn thánh ý Người, đồng thời coi đó là cơ hội phục vụ người khác, bằng cách đưa họ về hiệp thông với Thiên Chúa trong Đức Kitô.
Nhóm Biên Soạn

Học hỏi Tông Huấn Kitô Hữu Giao Dân: Chương IV
(01/04/2002). CHƯƠNG IV: NHỮNG NGƯỜI THỢ LÀM VƯỜN NHO CỦA CHÚA

77. Theo dụ ngôn Tin Mừng, “gia chủ” mướn thợ làm vườn nho vào những giờ khác nhau trong ngày. Điều đó có ý nghĩa gì?

Đó là: sự khác nhau lạ lùng của những người đang sống trong Giáo Hội, tất cả và từng người đều được mời gọi làm việc để Nước Thiên Chúa được hoàn thành, tùy theo sự khác biệt về ơn gọi và hoàn cảnh, về đoàn sủng và tác vụ. Đó là sự khác biệt không những về tuổi tác, nhưng còn về giới tính và khả năng, cũng như về ơn gọi và điều kiện sống.

78. Người trẻ ngày hôm nay có những đặc điểm nào?

Người trẻ ngày hôm nay:

· có một cảm quan bén nhạy để nhận ra một cách sâu sắc những giá trị như công lý, bất bạo động và hoà bình;
· tâm hồn hướng tới tình huynh đệ, tình bằng hữu và tình liên đới;

· nhiệt tình hết mình cho những chính nghĩa liên quan đến phẩm chất cuộc sống và bảo vệ thiên nhiên;
· nhưng họ cũng mang nặng những băn khoăn lo lắng, thất vọng và sợ hãi trước thế giới.

79. “Giáo hội tự soi mình trong giới trẻ” nghĩa là gì?

Nghĩa là Giáo hội nhìn thấy nơi giới trẻ những giá trị tích cực mà thư Thứ nhất của thánh Gioan làm chứng: “Hỡi các bạn trẻ, tôi viết cho anh em : Anh em đã thắng Ác thần. Hỡi anh em là những người con thơ bé, tôi đã viết cho anh em : Anh em biết Chúa Cha. … Hỡi các bạn trẻ, tôi đã viết cho anh em : Anh em là những người mạnh mẽ ; lời Thiên Chúa ở lại trong anh em” (1 Ga 2,13 tt).

80. Các nghị phụ đã khẳng định điều gì về sứ mạng của người trẻ trong Giáo hội?

Đừng coi giới trẻ chỉ như đối tượng của mối quan tâm mục vụ của Giáo Hội mà thôi : thực sự, giới trẻ đang được và phải được khuyến khích “trở thành những chủ thể tích cực, tham gia vào việc phúc-âm-hóa và đổi mới xã hội”.

81. Đâu là nhiệm vụ của Giáo hội đối với người trẻ?

· Giáo hội loan báo cho giới trẻ Đức Ki-tô vì xác tín rằng Tin mừng của Người là câu trả lời duy nhất và sung mãn cho những khát vọng cơ bản nhất của giới trẻ.

· Giáo hội giới thiệu lời đề nghị “hãy theo Tôi”: đó là chia sẻ tình con thảo của Đức Giê-su đối với Chúa Cha & tham gia vào sứ vụ cứu độ nhân loại của Người.
· Giáo hội nhìn về giới trẻ với tất cả niềm tin cậy và yêu mến như Đức Ki-tô đã tỏ bày cho người thanh niên (Mc 10,21).
· Giáo hội nhìn thấy nơi giới trẻ con đường phải theo khi tiến về tương lai.

82. Kinh Thánh nói gì về phẩm giá của các thiếu nhi?

· Thiếu nhi là đối tượng của lòng yêu thương tinh tế và quảng đại của Chúa Giêsu (x. Mt 19,13-15; Mc 10,14)
· thiếu nhi có vai trò tích cực trong Nước Thiên Chúa: chúng là biểu tượng hùng hồn và hình ảnh sáng ngời về những điều kiện luân lý và thiêng liêng cần có để được gia nhập Nước Thiên Chúa: phó thác, khiêm hạ (x. Mt 18,3-5; x. Lc 9,48).

83. Đâu là sứ mạng của thiếu nhi trong Giáo hội?

· Thiếu nhi nhắc cho Giáo hội nhớ rằng kết quả của việc truyền giáo không tùy thuộc vào các phương tiện hay công trạng của con người, nhưng vào ân huệ hoàn toàn nhưng không của Thiên Chúa;
· đời sống vô tội và ân sủng của trẻ thơ, kể cả những đau khổ của chúng do bị hành hạ bất công, trở nên nguồn mạch đem lại sự phong phú thiêng liêng cho toàn thể Giáo Hội, nhờ Thánh Giá Đức Kitô;
· ở tuổi thiếu nhi, có những khả năng hoạt động quý giá được mở ra, nhằm xây dựng Giáo Hội cũng như nhân bản hóa xã hội.

84. Người cao tuổi thường có tâm trạng gì?

Người cao tuổi thường:

· cảm thấy bất lực và rơi vào mặc cảm vì bị xã hội coi là vô dụng, là gánh nặng;
· thường luyến tiếc quá khứ;
· ngại dấn thân vì không thích nghi được với hoàn cảnh không ngừng đổi mới.

85. Kinh Thánh nói gì về người cao tuổi?

Người cao tuổi được xem là:

· biểu tượng của con người đầy khôn ngoan và kính sợ Thiên Chúa (Hc 25, 4-6);
· chứng nhân của truyền thống đức tin (Tv 44,2; Xh 12,26-27);
· thầy dạy cách sống (Hc 6,34; 8,8-9);
· người xây dựng đức ái trong Giáo hội và xã hội.

86. Đâu là sứ mạng của người cao tuổi?

Đó là:

· xem xét lại quá khứ cách kỹ lưỡng hơn;
· hiểu sâu xa và sống mãnh liệt hơn mầu nhiệm vượt qua;
· trở thành gương mẫu cho toàn thể Dân Chúa.

87. Giáo hội có kỳ vọng nào nơi người cao tuổi?

Giáo Hội kêu mời và trông chờ họ theo đuổi sứ vụ tông đồ và truyền giáo riêng biệt và độc đáo của họ.

88. Giáo hội quan tâm đến những dấu chỉ thời đại nào về người phụ nữ?

· Người phụ nữ ý thức hơn về phẩm giá riêng của họ và gia nhập vào đời sống công cộng.
· Tuy nhiên, có tình trạng bị phân biệt đối xử và gạt ra ngoài lề bằng nhiều hình thức khác nhau.
· có não trạng bất công và độc hại coi người phụ nữ như một đồ vật, một món hàng, một dụng cụ phục vụ cho lợi lộc ích kỷ và cho việc tìm kiếm khoái lạc.

89. Có những qui chiếu nào trong Kinh Thánh cho ta thấy ơn gọi đặc biệt của người phụ nữ?

· Dù không được kêu gọi vào chức vụ thừa tác, nhiều phụ nữ đã theo Đức Giê-su khi Ngài thi hành sứ vụ và đã phụ giúp các tông đồ (Lc 8,2-3);
· hiện diện gần bên thập giá Chúa (Lc 23,49);
· tham dự vào việc chôn táng Chúa (Lc 23,55);
· đón nhận rồi truyền lại lời loan báo Chúa Phục sinh (Lc 24,1-10);
· Cầu nguyện cùng các Tông đồ trong nhà Tiệc ly (Cv 1,14);
· Giữ một số nhiệm vụ khác nhau trong lòng những cộng đồng Giáo hội tiên khởi và phục vụ những cộng đồng này (Rm 16,1-15; P1 4,2-3; Cl 4,15; 1 Cr 11,5; 1 Tm 5,16).

90. Tông huấn khẳng định thế nào về sứ mạng của người phụ nữ?

Nhờ bí tích Thanh tẩy và Thêm sức, phụ nữ được tham dự vào 3 chức vụ của Đức Giê-su Ki-tô và do đó, được trao phó và có khả năng chu toàn sứ vụ nền tảng của Giáo hội: sứ vụ Phúc âm hoá.

· Chứng tá của người phụ nữ góp phần lớn lao vào việc nuôi dưỡng đức tin của các cộng đồng ki-tô hữu.
· Người phụ nữ có 2 trách vụ lớn:

– đem lại phẩm giá trọn vẹn cho đời sống hôn nhân và tư cách làm mẹ;

– bảo đảm chiều kích luân lý của văn hoá: nhờ có kinh nghiệm riêng về tình mẫu tử, người phụ nữ tỏ ra có được sự nhạy cảm đặc biệt đối với con người và đối với những gì làm nên sự thiện hảo đích thực cho con người khởi từ những giá trị nền tảng của cuộc sống.

91. Giáo hội thấy có trách vụ gì đối với người phụ nữ?

Giáo hội:

· nghiên cứu nghiêm túc và sâu xa những nền tảng nhân học về thân phận nam-nữ: xác định căn tính ngôi vị riêng của phụ nữ trong mối tương quan khác biệt và bổ túc của họ đối với người nam;
· mạnh mẽ chống lại mọi hình thức kỳ thị và lạm dụng mà người phụ nữ là nạn nhân;
· làm sao cho người phụ nữ tham gia nhiều hơn vào những lãnh vực tông đồ của Giáo hội: chẳng hạn tham gia vào Hội đồng mục vụ của giáo phận và của các giáo xứ;
· cổ võ mạnh mẽ hơn trách vụ bổ túc của nữ giới trong việc truyền đạt đức tin trong gia đình, trong những môi trường giáo dục khác nhau, ở bất cứ nơi nào, kể cả bằng phương tiện nghiên cứu, tìm tòi và giảng dạy thần học;
· nhìn nhận và mời gọi mọi người nhìn nhận sự đóng góp không thể thiếu của phụ nữ trong việc xây dựng Giáo hội và phát triển xã hội.

92. Trong khoá họp Thượng hội đồng, nhiều nghị phụ đã quan tâm đến hiện tượng nào liên quan đến nam giới?

· Việc quá nhấn mạnh đến thân phận và vai trò của phụ nữ có thể đưa đến một sự quên lãng không thể chấp nhận được : bỏ quên nam giới;
· trong nhiều tình huống của Giáo Hội, người ta đã phàn nàn về sự vắng mặt hoặc hiện diện không đủ của nam giới, một số người nam đã trốn tránh trách nhiệm riêng của mình trong Giáo Hội, đến nỗi chỉ còn phụ nữ phải ra sức gánh vác : chẳng hạn, về việc tham dự kinh nguyện phụng vụ ở thánh đường, việc giáo dục, nhất là việc dạy giáo lý cho trẻ em, về sự hiện diện trong những buổi gặp gỡ có tính cách tôn giáo và văn hóa, về sự cộng tác vào những sáng kiến từ thiện và những công tác truyền giáo.

93. Như thế, cần có nỗ lực mục vụ nào?

Cần có một nỗ lực mục vụ nhằm có được một sự hiện diện phối hợp của người nam và người nữ, để việc tham gia của giáo dân vào sứ vụ cứu độ của Giáo Hội trở nên trọn vẹn hơn, hài hòa hơn và phong phú hơn.

94. Tại sao cần cổ võ sự hiện diện phối hợp và sự cộng tác nam nữ?

bởi vì:

· không chỉ nhằm bảo đảm hiệu năng lớn hơn cho công việc mục vụ của Giáo hội;
· không phải chỉ nhằm đáp ứng khía cạnh xã hội học về sự chung sống của nhân loại;
· nhưng là thực hiện ý định nguyên thủy của Đấng Tạo hoá: sự hiệp nhất của cả hai.

95. Kinh Thánh soi sáng cho ta hiểu như thế nào về ý nghĩa của đau khổ?

· Đau khổ đưa con người đến với Chúa, Đấng liên kết họ với nỗi khổ đau của Ngài: “Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội thánh” (Cl 1,24);

· những kitô-hữu đang sống trong bệnh tật, đau khổ, già nua, được Thiên Chúa kêu mời đón nhận nơi mình và chuyển đạt cho người khác sức mạnh canh tân và niềm vui của Đức Kitô phục sinh (x. 2 Cr 4,10-11 ; 1 Pr 4,13; Rm 8,18 tt)”.

96. Đâu là thái độ của Giáo hội đứng trước các nỗi đau khổ?

Giáo hội:

· chia sẻ nỗi đau khổ;
· tin cậy vào người đau khổ để giảng dạy cho toàn thế giới biết tình yêu là gì;

· có nghĩa vụ tìm gặp con người cách đặc biệt trên con đường đau khổ;
· làm tất cả những gì để người đau khổ có được chỗ đứng trong Giáo hội và xã hội.

97. Giáo hội khẳng định như thế nào về sứ mạng của những người đau khổ?

Những người đau khổ là chủ thể hoạt động và có trách nhiệm về công việc phúc-âm-hóa và về ơn cứu độ.

98. Giáo hội canh tân hoạt động mục vụ dành cho bệnh nhân và những người đau khổ như thế nào?

· Cổ vũ sự quan tâm, hiện diện, lắng nghe, đối thoại, chia sẻ và giúp đỡ;
· nâng đỡ và cổ vũ lòng tin vào cuộc sống, lòng tin vào Thiên Chúa và tình yêu phụ tử của Người;
· công bố Tin mừng: đau khổ có thể có một ý nghĩa tích cực cho con người và cho xã hội vì tham dự vào nỗi đau khổ cứu độ của Đức Ki-tô, vào niềm vui của Đấng Phục sinh – đau khổ là một sức mạnh thánh hoá và xây dựng Giáo hội;
· thể hiện qua chứng tá đời sống: chứng tá của những người chăm sóc, chứng tá của chính những bệnh nhân đã ý thức hơn và có trách nhiệm hơn về chỗ đứng và trách vụ của mình trong Giáo hội và cho Giáo hội.
Nhóm Biên Soạn

Học hỏi Tông Huấn Kitô Hữu Giáo Dân: Chương V
(02/04/2002). CHƯƠNG V: VIỆC HUẤN LUYỆN GIÁO DÂN

99. Việc huấn luyện ki-tô giáo được diễn tả như thế nào?

Việc huấn luyện kitô-giáo được diễn tả như “một tiến trình trưởng thành liên tục của cá nhân trong đức tin và là một tiến trình nên giống Đức Kitô, theo ý muốn của Chúa Cha, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần”.

100. Các nghị phụ khẳng định như thế nào về tầm quan trọng của việc huấn luyện giáo dân?

“Việc huấn luyện giáo dân phải nằm trong số những ưu tiên của giáo phận và phải có chỗ đứng trong chương trình hoạt động mục vụ, sao cho mọi cố gắng của cộng đồng (các linh mục, giáo dân, tu sĩ) đều quy hướng về mục đích này”.

101. Mục tiêu của việc huấn luyện giáo dân là gì?

Việc huấn luyện giáo dân có một mục tiêu cơ bản là giúp họ khám phá ngày một rõ ràng hơn ơn gọi cá nhân của họ và giúp họ sẵn sàng ngày một nhiều hơn để sống ơn gọi đó trong việc chu toàn sứ vụ riêng của họ.

102. Làm thế nào để có thể khám phá ra ý định cụ thể của Chúa về đời sống chúng ta?

Cần phải có các điều kiện :

· mau mắn và ngoan ngoãn lắng nghe Lời Chúa,

· trung thành và kiên tâm cầu nguyện,
· tiếp xúc với một vị linh hướng hướng dẫn thiêng liêng khôn ngoan và từ ái,
· nhìn ra, trong đức tin, những ân điển và những tài năng mình đã nhận được, đồng thời cũng nhìn ra những hoàn cảnh xã hội và lịch sử khác nhau mà mình đang sống.

103. “Người giáo dân phải được huấn luyện để có đời sống thống nhất”. Thế nào là một đời sống thống nhất?

Một đời sống thống nhất là một đời sống không bị chia tách thành hai mảng: phần đời và phần đạo; đời sống gọi là “thiêng liêng” với những giá trị và những đòi hỏi riêng và đời sống “trần thế”, nghĩa là đời sống gia đình, nghề nghiệp, những tương quan xã hội, sự tham gia chính trị, các hoạt động văn hóa. Không có sự phân ly giữa đức tin mà họ tuyên xưng và cuộc sống thường nhật. Mọi hoạt động, mọi tình huống, mọi dấn thân cụ thể là cơ hội được Thiên Chúa quan phòng để “không ngừng thực thi đức tin, đức cậy và đức mến”.

104. Việc huấn luyện bao gồm những khía cạnh nào?

a. Huấn luyện thiêng liêng: tức là sự lớn lên trong tình thân mật với Đức Giêsu-Kitô, trong sự hòa hợp với ý muốn của Chúa Cha, trong sự tận tụy cho các anh em, trong bác ái và công bình.

b. Huấn luyện giáo lý: Không những là đào sâu đức tin, nhưng còn vì nhu cầu “minh giải niềm hy vọng” cho kẻ khác.

c. Huấn luyện về học thuyết xã hội của Giáo Hội, là học thuyết
bao gồm những nguyên tắc suy tư, những tiêu chuẩn phán đoán
và những chỉ dẫn hành động.

d. Huấn luyện nhân bản.

105. Ai là nhà giáo dục đầu tiên và cao cả của Dân Chúa?

Thiên Chúa là nhà giáo dục đầu tiên và cao cả của Dân Người, như đoạn văn tuyệt vời trong bài ca của Môsê đã viết: “Gặp thấy nó giữa miền hoang địa, giữa cảnh hỗn mang đầy tiếng hú rợn rùng, Chúa ấp ủ, Chúa lo dưỡng dục, luôn giữ gìn, chẳng khác nào con ngươi mắt Chúa. Tựa chim bằng trên tổ lượn quanh, giục bầy con bay nhảy, xòe cánh ra đỡ lấy rồi cõng con trên mình. Duy một mình Đức Chúa lãnh đạo dân; chẳng có thần ngoại bang nào bên cạnh Chúa” (Đnl 32,10-12 ; x. 8,5).

106. Những ai được kêu gọi cộng tác vào việc giáo dục này?

· Trước hết là Giáo Hội toàn cầu: Đức Giáo Hoàng giữ vai trò nhà giáo dục đầu tiên của giáo dân.
· Thứ đến trong các giáo hội địa phương, Giám mục có một trách nhiệm cá nhân đối với giáo dân.
· Giáo xứ giữ vai trò thiết yếu trong việc huấn luyện giáo dân cách trực tiếp và cá nhân hơn.
· Những cộng đồng giáo hội nhỏ có thể rất có ích cho việc huấn luyện các kitô-hữu, bằng cách làm cho ý thức và kinh nghiệm về sự hiệp thông và về sứ vụ giáo hội trở nên sâu xa và sắc bén hơn.

· Các Linh mục và các tu sĩ có nhiệm vụ giúp đỡ giáo dân trong ơn gọi và sứ vụ của họ.

107. Có những môi trường giáo dục nào khác?

· Gia đình Kitô giáo: là “Giáo Hội tại gia”, là một trường học tự nhiên và căn bản trong việc huấn luyện đức tin.
· Các trường học, các đại học công giáo, các trung tâm giúp canh tân đời sống thiêng liêng cũng là những môi trường quan trọng cho việc huấn luyện.
· Ngoài ra, các nhóm, các hiệp hội và các phong trào cũng có chỗ đứng trong việc huấn luyện giáo dân.

108. Những điểm khác cần lưu ý trong việc huấn luyện?

· Huấn luyện là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người;
· phải đào tạo các người huấn luyện;
· phải lưu ý đặc biệt đến văn hóá địa phương cũng như văn hóá của các nhóm thiểu số;
· xác tín rằng không thể có việc huấn luyện đích thực và hữu hiệu nếu mỗi người không tự đảm nhận và phát triển trách nhiệm đào tạo chính mình;
· và trên hết mọi sự, phải để cho Thiên Chúa hành động.

109. Cuối cùng để kết thúc tông huấn, Đức Giáo hoàng đã trở về câu Lời Chúa “Cả các anh nữa, hãy đi làm vườn nho cho tôi” để nhắn nhủ mỗi ngưoi ki-to hữu giao dan điều gì?

Đó là:

· hãy kiên quyết gìn giữ trong tâm hồn cũng như trong đời sống một ý thức về Giáo Hội;
· phải ý thức về phẩm giá đặc biệt mình đã nhận được qua bí tích Thánh Tẩy;
· phải cảm thức mình thuộc về mầu nhiệm Giáo Hội – Hiệp Thông;
· phải cảm thấy mình là thành phần chủ động trong công cuộc Phúc âm hóá mới, được kêu gọi để loan báo và sống Tin Mừng, bằng cách phục vụ con người và xã hội.

Nhóm Biên Soạn