1. NGƯỚC MẮT LÊN MÀ XEM (GA 4,35)

Thầy bảo anh em: Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái! (Ga 4,35). Những lời này của Chúa chúng ta minh hoạ rõ ràng chân trời bao la của sứ vụ tình yêu của Ngôi Lời Nhập thể. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ (Ga 3,17). Suốt cuộc đời trần thế của Người, hoàn toàn đồng hoá với thánh ý cứu độ của Chúa Cha, là một sự biểu lộ liên lỉ Thánh ý Thiên Chúa muốn cứu rỗi nhân loại và muốn cho mọi người đạt đến ơn cứu độ như Chúa Cha mong muốn tự muôn đời. Người đã truyền giao sứ mệnh lịch sử này lại cho Hội Thánh và uỷ thác cách đặc biệt cho các thừa tác viên chức thánh. Quả thực, cao cả thay mầu nhiệm mà chúng ta được đặt làm thừa tác viên. Một mầu nhiệm về tình yêu không giới hạn, vì Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng (Ga 13,1).

Các thừa tác viên linh mục của Đức Giê-su Ki-tô, mang ấn tín và ân sủng của Bí tích truyền chức thánh và được chỉ định làm chứng nhân và thừa tác viên về lòng thương xót của Thiên Chúa, tự nguyện đảm nhận phục vụ mọi người trong Hội Thánh. Trong bất cứ hoàn cảnh xã hội, văn hoá hay lịch sử nào, cả trong xã hội ngày nay, mang dấu ấn sâu đậm của tinh thần tục hoá và chủ nghĩa tiêu thụ đang xói mòn ý nghĩa Ki-Tô giáo nơi nhiều tín hữu, các thừa tác viên của Chúa phải luôn luôn nhớ đến điều làm cho chúng ta thắng được thế gian, đó là lòng tin của chúng ta (1 Ga 5,4). Thật vậy, xã hội hiện nay tạo cho chúng ta cơ hội để nhớ lại sức mạnh bất khuất của đức tin và đức ái đối với Chúa Ki-tô, và nhắc nhớ rằng, dù không thiếu những khó khăn và ngay cả sự thiếu tin tưởng nào đó, các tín hữu ki-tô giáo – cũng như many người chưa tin – vẫn đánh giá cao và cần đến thái độ sẵn sàng phục vụ của các linh mục. Họ muốn tìm thấy nơi linh mục một con người của Thiên Chúa, theo như lời Thánh Âu-tinh: Kiến thức của chúng ta là Đức Ki-tô, sự khôn ngoan của chúng ta cũng là Đức Ki-tô. Người ban cho chúng ta đức tin để nhìn xem các thực tại trần thế và chính Người mạc khải thực tại vĩnh cửu cho chúng ta. Chúng ta sống trong thời đại của một công cuộc phúc âm hoá mới và do đó, chúng ta phải ra đi và tìm gặp những người đang chờ cơ hội được gặp gỡ Đức Ki-tô.

Theo những mức độ khác nhau, Đức Ki-tô thông ban tư cách người Mục tử chăn dắt các linh hồn của Người cho các Giám mục và Linh mục, thông qua bí tích Truyền chức thánh, để làm cho các ngài có khả năng hành động nhân danh Người và đại diện quyền thủ lãnh (potestas capitis) của Người trong Giáo hội. Sự hiệp nhất sâu xa của Dân mới không có nghĩa là không có những trách nhiệm khác biệt và bổ túc cho nhau trong đời sống của Dân mới. Những người có trách nhiệm hành động trong tư cách của Đức Ki-tô (in persona Christi) và làm lại điều Đức Giê-su đã thực hiện trong Bữa tiệc ly, khi Người thiết lập Hy lễ Tạ ơn, nguồn mạch và chóp đỉnh của toàn thể đời sống ki-tô hữu (Lumen Gentium), được liên kết một cách đặc biệt với các tông đồ đầu tiên. Ấn tín làm cho các ngài trổi vượt nhờ việc lãnh nhận thánh chức, bảo đảm cho sự hiện diện và tác vụ của các ngài là duy nhất, không thể thiếu và thay thế được. Sự hiện diện của một thừa tác viên chức thánh là điều kiện tất yếu cho đời sống của Giáo hội, chứ không chỉ nhằm để tổ chức sao cho hiệu quả.

Duc in altum! Mọi ki-tô hữu cảm nghiệm ánh sáng đức tin trong tâm hồn và muốn đi trên con đường Đức Giáo hoàng đã vạch ra, đều phải chuyển lời mời gọi truyền giáo khẩn trương và dứt khoát này thành việc làm. Các mục tử trong Giáo hội, nhờ cảm thức siêu nhiên mà có khả năng phân định những đường lối Thiên Chúa muốn hướng dẫn Dân Người, nhất thiết phải thấu hiểu lời mời gọi này và thi hành với lòng nhiệt thành và sẵn sàng. Duc in altum! Chúa mời gọi chúng ta chèo ra chỗ sâu, với một lòng tin tưởng vào Lời Người. Chúng ta hãy học từ kinh nghiệm của Đại Năm thánh và kiên trì trong nhiệm vụ làm chứng cho Tin mừng, với lòng nhiệt thành mà việc chiêm ngưỡng dung nhan Đức Ki-tô làm nẩy sinh trong chúng ta.

Quả là quan trọng khi nhắc lại Đức Thánh Cha đã hiểu như thế nào về các mục tiêu căn bản mà ngài đã đề ra vào lúc bế mạc Đại Năm thánh 2000 và trao cho các Giáo hội địa phương thực hiện. Khi mời gọi các Giáo hội địa phương đảm nhận trách nhiệm này, Đức Giáo hoàng nhấn mạnh đến nhu cầu phải tận dụng ân huệ đã lãnh nhận, bằng cách đem ra thực hành qua các quyết định và đường lối hành động.

Ân huệ này liên quan đến sứ mạng phúc âm hoá của Giáo hội, sứ mạng đó đòi hỏi một đời sống thánh thiện về phía người mục tử cũng như giáo dân, một sự nhiệt thành với việc tông đồ phù hợp với bậc sống riêng của mình và thấm nhuần vào các trách nhiệm và bổn phận của họ, và nhận thức rằng ơn cứu rỗi vĩnh cửu của nhiều người tùy thuộc vào việc biểu lộ Đức Ki-tô một cách trung thành qua lời nói cũng như việc làm. Vì thế, từ đó nẩy sinh một nhu cầu cấp bách cần đưa ra một thúc đẩy mạnh mẽ hơn cho thừa tác vụ linh mục trong các Giáo hội địa phương, nhất là trong các giáo xứ. Điều đó phải đặt nền tảng trên sự hiểu biết đích thật về tác vụ và đời sống của các linh mục.

Là Linh mục, chúng ta được thánh hiến trong Giáo hội để thi hành tác vụ đặc thù đó. Chúng ta được kêu gọi bằng nhiều cách khác nhau để góp phần đào tạo Dân Thiên Chúa ở bất cứ nơi nào Thiên Chúa quan phòng đặt để chúng ta. Nhiệm vụ của chúng ta là chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa giao phó cho chúng ta, không phải vì miễn cưỡng nhưng hoàn toàn tự nguyện, không lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho chúng ta, nhưng nêu gương sáng cho đoàn chiên (x. 1 Pr 5, 2-3). Đó là con đường nên thánh của chúng ta, nhằm dẫn đưa chúng ta tiến vào cuộc gặp gỡ tối hậu với vị Mục tử tối cao là Đấng nắm giữ triều thiên vinh hiển trong tay (1 Pr 5, 4). Đó là sứ mạng của chúng ta trong việc phục vụ Dân Ki-tô giáo.

2. NHỮNG YẾU TỐ NÒNG CỐT CỦA THỪA TÁC VỤ VÀ ĐỜI SỐNG LINH MỤC

A) CĂN TÍNH LINH MỤC

Căn tính Linh mục phải được xem xét trong bối cảnh Thánh ý cứu độ của Thiên Chúa, vì đó là hoa trái của tác động có tính bí tích của Chúa Thánh Thần, một sự tham dự vào công trình cứu độ của Chúa Ki-tô, và hoàn toàn nhằm mục đích phục vụ cho công trình đó trong Hội Thánh, khi nó diễn ra trong lịch sử. Căn tính Linh mục có ba chiều kích: Thánh khí học, Ki-tô học và Giáo hội học. Cơ cấu thần học nền tảng này của mầu nhiệm Linh mục, là thừa tác viên của ơn cứu độ, không hề bao giờ bị xem nhẹ, nếu linh mục am hiểu đúng đắn ý nghĩa của công tác mục vụ trong những hoàn cảnh cụ thể của giáo xứ. Linh mục là đầy tớ của Đức Ki-tô. Nhờ Người, với Người và trong Người, linh mục trở nên đầy tớ của loài người. Chính con người của vị linh mục, được đồng hoá với Đức Ki-tô về phương diện hữu thể, làm nên nền tảng của việc được truyền chức để phục vụ cộng đoàn. Sự dấn thân trọn vẹn cho Đức Ki-tô, được thực hiện cách thích đáng và được làm chứng qua đời sống độc thân, đặt người linh mục vào vai trò phục vụ mọi người. Ân huệ phi thường của đời sống độc thân đã tìm được ánh sáng và động lực từ sự đồng hoá với ân huệ hôn ước mà Con Thiên Chúa chịu đóng đinh và sống lại đã ban tặng cho một nhân loại được cứu chuộc và đổi mới.

Chính đời sống và công việc của người linh mục – con người được thánh hiến và tác vụ của ngài – là những thực tại thần học không thể tách rời và có mục tiêu là thực thi sứ mạng của Giáo hội, tức là đem ơn cứu độ vĩnh cửu cho nhân loại. Lý do hiện hữu của chức linh mục được tìm thấy và khám phá trong mầu nhiệm Hội Thánh, là Nhiệm thể Chúa Ki-tô và là Dân Thiên Chúa đang lữ hành trong lịch sử, được thiết lập như bí tích phổ quát của ơn cứu độ. Cộng đoàn Giáo hội nhất thiết cần đến chức tư tế thừa tác, để cho Chúa Ki-tô, Thủ lãnh và Mục tử, hiện diện giữa cộng đoàn.

Chức tư tế phổ quát hay chức tư tế do bí tích Thanh Tẩy của các ki-tô hữu, một sự tham dự đích thực vào chức tư tế của Chúa Ki-tô, là yếu tính của Dân mới của Thiên Chúa: “Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa…” (1 Pr 2,9); “(Người) làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người” (Kh 1,6); “(Người) cũng làm cho họ thành một vương quốc, thành những tư tế, để phụng thờ Thiên Chúa chúng ta” (Kh 5,10), “họ sẽ là tư tế của Thiên Chúa và của Đức Ki-tô, họ sẽ hiển trị với Đức Ki-tô” (Kh 20,6). Những đoạn Kinh Thánh này gợi lại Biến cố Xuất hành và ứng dụng điều đã được nói về dân Ít-ra-en cũ cho Dân Ít-ra-en mới: “Các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta giữa hết mọi dân; vì toàn cõi đất đều là của Ta, và Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh” (Xh 19, 5-6). Chúng cũng gợi lại sách Đệ nhị luật: “Anh em là một dân thánh hiến cho Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em; Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em đã chọn anh em từ giữa muôn dân trên mặt đất, làm một dân thuộc quyền sở hữu của Người” (Dt 7,6).

Nếu chức tư tế phổ quát là kết quả của sự kiện Dân Ki-tô giáo được Thiên Chúa tuyển chọn như một chiếc cầu nối với nhân loại và mọi tín hữu thuộc về đoàn dân này, chức tư tế thừa tác là hoa quả của một tuyển chọn, của một ơn gọi đặc biệt: “Người kêu gọi các môn đệ, và tuyển chọn mười hai vị” (Lc 6, 13-16). Nhờ chức tư tế thừa tác, người tín hữu được gây ý thức về chức tư tế phổ quát của họ và thực thi chức tư tế ấy (x. Ep 4, 11-12); các linh mục nhắc nhở họ rằng họ là đoàn dân của Thiên Chúa và làm cho họ có khả năng dâng những của lễ thiêng liêng (x. 1 Pr 2,5), qua đó chính Đức Ki-tô làm chúng ta thành một quà tặng vĩnh cửu dâng lên Chúa Cha (x. 1 Pr 3,18). Nếu không có sự hiện diện của Đức Ki-tô được linh mục đại diện, người lãnh đạo mang ấn tín bí tích của cộng đoàn, thì cộng đoàn đó không phải là một cộng đoàn giáo hội viên mãn.

Trong dân tư tế này, Chúa đã thiết lập chức tư tế thừa tác mà một số người được kêu gọi để có thể phục vụ các tín hữu qua đức ái mục tử nhờ potestas sacra (quyền năng thánh). Chức tư tế phổ quát và chức tư tế thừa tác không chỉ khác nhau trong cấp độ, nhưng cả trong bản chất. Do vậy, sự khác biệt giữa hai chức tư tế không chỉ là tham dự nhiều hay ít hơn vào chức Tư tế của Đức Ki-tô, nhưng là khác biệt về bản chất của cách tham dự vào chức tư tế ấy. Chức tư tế của người tín hữu đặt nền tảng trên ấn tín của bí tích Thánh Tẩy, tức là trên dấu ấn thiêng liêng xác nhận họ được dành riêng cho Đức Ki-tô. Chức tư tế đó cho phép và giao cho các ki-tô hữu nhiệm vụ phụng sự Thiên Chúa, qua việc tham dự một cách sinh động vào phụng vụ của Hội Thánh và thi hành chức tư tế phổ quát bằng chứng tá của đời sống thánh thiện và việc bác ái thiết thực.

Mặt khác, chức tư tế thừa tác đặt nền tảng trên ấn tín của Bí tích Truyền chức thánh, là bí tích làm cho người linh mục nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô, để có thể hành động trong tư cách của Đức Ki-tô, Thủ lãnh, và thi hành potestas sacra qua việc dâng Hi Lễ và ban ơn tha tội. Một sứ mạng mới và đặc biệt được thông ban qua bí tích cho những người chịu phép rửa đã lãnh nhận ân sủng của chức tư tế thừa tác: đó là thi hành ba chức vụ ngôn sứ, tư tế và vương giả của Đức Ki-tô, trong tư cách là Thủ lãnh và Mục tử của Hội Thánh giữa đoàn dân Thiên Chúa. Trong khi thi hành những chức vụ đặc biệt này, các linh mục hành động in persona Christi Capitis (trong tư cách của Chúa Ki-tô là Đầu) và vì thế, cùng một cách thức ấy, họ hành động nhân danh Hội Thánh.

Vì thế, chức tư tế do bí tích vừa có tính chất phẩm trật vừa có tính chất thừa tác. Đó là một tác vụ đặc biệt, một việc phục vụ đối với cộng đoàn tín hữu. Tuy nhiên, chức tư tế ấy không bắt nguồn từ cộng đoàn, cũng không phát sinh do yêu cầu hay sự uỷ thác của cộng đoàn. Đúng hơn, thừa tác vụ ấy là một ân ban cho cộng đoàn, phát xuất từ chính Đức Ki-tô và chức tư tế sung mãn của Người (…) Nhận thức điều đó, chúng ta hiểu chức tư tế của chúng ta có tính chất phẩm trật như thế nào, nghĩa là nó nối kết với quyền đào tạo và quản trị một dân tộc tư tế như thế nào (x. Lumen Gentium, số 10), và chính vì thế, mà chức tư tế cũng có tính chất thừa tác như thế nào. Chúng ta thi hành một chức vụ, qua đó Đức Ki-tô không ngừng phục vụ Chúa Cha qua công trình cứu độ chúng ta. Toàn thể cuộc đời linh mục của chúng ta là và phải là một cuộc đời được thấm nhiễm bởi sự phục vụ ấy, nếu chúng ta muốn tiến dâng Lễ tế Tạ ơn một cách xứng hợp in persona Christi.

Trong thời gian qua, Hội Thánh đã gặp phải những vấn đề về căn tính Linh mục, đôi khi nảy sinh từ sự hiểu biết không rõ ràng về hai cách tham dự vào chức tư tế của Đức Ki-tô trên bình diện thần học. Trong một vài lĩnh vực, những khó khăn này đã đi đến mức phá hủy sự cân bằng sâu xa của Giáo hội, vốn là tính chất đặc thù của Huấn quyền ngàn đời và đích thực.

Tuy nhiên, ngày nay, các hoàn cảnh đã đổi thay, nên có thể vượt qua mối nguy giáo sĩ hoá giáo dân và tục hoá hàng giáo sĩ.

Sự dấn thân quảng đại của hàng giáo dân trong lĩnh vực phụng tự, truyền bá đức tin và cộng tác mục vụ, trước tình trạng thiếu hụt linh mục, đã khiến một số thừa tác viên có chức thánh và giáo dân vượt quá giới hạn cho phép bởi Giáo hội và bởi khả năng do hữu thể và bí tích của riêng mình. Điều này đưa đến việc xem nhẹ về phương diện lý thuyết và thực hành sứ mạng riêng của người giáo dân là thánh hoá các cơ cấu xã hội từ bên trong.

Chính khủng hoảng về căn tính này cũng đã gây ra sự tục hoá nơi một vài thừa tác viên chức thánh, khi làm lu mờ vai trò riêng biệt và hoàn toàn không thể thiếu của họ trong sự hiệp thông giáo hội.

Trong Hội Thánh, người linh mục, alter Christus, là tác viên của những hành động thiết yếu đem lại ơn cứu độ. Hành động trong tư cách của Đức Ki-tô là Đầu, linh mục là nguồn mạch sự sống và sức sống trong Giáo hội, và trong giáo xứ của mình, nhờ quyền tế lễ làm nên Mình và Máu thánh Đấng Cứu thế, nhờ quyền công bố Tin mừng và chiến thắng sự dữ của tội lỗi qua bí tích Giải tội. Bản thân người linh mục không phải là nguồn mạch sự sống thiêng liêng. Đúng hơn, sự sống ấy bắt nguồn từ Đấng ban phát sự sống thiêng liêng cho toàn Dân Thiên Chúa. Người linh mục, được Thánh thần xức dầu, là người tôi tớ đi vào cung thánh mang tính bí tích (santuario sacramentale): đó là Đức Giê-su Ki-tô Chịu đóng đinh (x. Ga 19, 31-37) và sống lại, từ đó xuất phát ơn cứu độ.

Cùng với Đức Ma-ri-a, Mẹ của vị Thượng tế Vĩnh cửu, linh mục ý thức rằng, cùng với Mẹ, họ là một khí cụ của sự hiệp nhất cứu độ giữa Thiên Chúa và con người, mặc dù theo những cách thức khác nhau: với Đức Trinh nữ thì thông qua mầu nhiệm Nhập thể, còn với người linh mục thì thông qua Bí tích Truyền chức thánh. Mối tương quan giữa linh mục và Đức Trinh nữ Ma-ri-a không chỉ dựa trên nhu cầu bảo trợ và nâng đỡ, nhưng còn hơn thế nữa dựa trên nhận thức về một sự kiện khách quan: sự hiện diện của Mẹ chúng ta, một sự hiện diện có tác dụng làm cho Giáo hội sống mầu nhiệm Đức Ki-tô.

Trong tư cách của một người tham gia vào hành động lãnh đạo của Đức Ki-tô, Thủ lãnh và Mục tử của Nhiệm thể, người linh mục, trên bình diện mục vụ, đặc biệt có vai trò trở nên con người của sự hiệp thông, quản trị và phục vụ mọi người. Người linh mục có trách nhiệm cổ võ và duy trì mối hiệp nhất giữa các chi thể với Đầu, và giữa các chi thể với nhau. Do ơn gọi, người linh mục liên kết và phục vụ hai chiều kích ấy của chức mục tử của Đức Ki-tô (x. Mt 20,28; Mc 10, 45; Lc 22, 27). Để phát triển, đời sống Giáo hội cần phải có những sinh lực mà chỉ thừa tác vụ hiệp thông, quản trị và phục vụ mới có thể cung cấp. Điều đó đòi buộc các linh mục, là những người đồng hoá hoàn toàn với Đức Ki-tô, Đấng ban phát ơn gọi, phải hoàn toàn thuộc về Người. Điều đó đòi buộc các linh mục phải là những người, trong và với Đức Ki-tô, sống những nhân đức được thể hiện nơi Đức Ki-tô Mục tử, và tìm ánh sáng, đồng hoá với hiến lễ hôn ước mà Con Thiên Chúa chịu đóng đinh và sống lại dành cho nhân loại được cứu chuộc và đổi mới. Điều đó đòi buộc các linh mục phải là những người mong muốn trở nên nguồn mạch sự hiệp nhất và tự hiến cho mọi người trong tình huynh đệ – nhất là cho những người thiếu thốn. Điều đó đòi buộc các linh mục phải là những người, một khi ý thức rằng căn tính linh mục của họ bắt nguồn từ Vị Mục tử Tốt lành, mang lấy hình ảnh đó trong nội tâm và biểu lộ hình ảnh ấy ra bên ngoài bằng một cung cách mà mọi người dễ dàng nhìn thấy.

Người linh mục làm cho Đức Ki-tô, Thủ lãnh của Hội Thánh, hiện diện qua thừa tác vụ của Lời, tức là chia sẻ chức vụ ngôn sứ của Người. Trong tư cách và nhân danh Đức Ki-tô, người linh mục là thừa tác viên của lời có tác dụng phúc âm hoá, tức là lời mời gọi mọi người hoán cải và nên thánh. Linh mục là tác viên của lời tôn thờ, tức là lời chúc tụng sự cao cả của Thiên Chúa và cảm tạ lòng thương xót của Người. Linh mục là tác viên của lời của các bí tích, vốn là nguồn mạch đầy hiệu năng của ân sủng. Bằng những cách thức khác nhau ấy, linh mục, với quyền năng Thánh thần, kéo dài giáo huấn của Đức Ki-tô trong Giáo hội của Người.

B) THỐNG NHẤT ĐỜI SỐNG

Do bởi tác vụ được uỷ thác cho các linh mục, vốn tự bản chất là một sự đồng hoá thánh thiện và có tính bí tích với Đức Giê-su Ki-tô, các linh mục có một lý do mạnh hơn để nỗ lực sống thánh thiện. Điều này không có nghĩa là sự thánh thiện mà linh mục được kêu gọi thì cao cả hơn sự thánh thiện mà mọi tín hữu khác được kêu gọi nhờ bí tích Thánh tẩy. Sự thánh thiện chỉ là một, tuy có nhiều cách diễn tả khác nhau. Tuy vậy, người linh mục được thúc đẩy để nỗ lực sống thánh thiện vì một lý do khác: để xứng đáng với ân sủng mới được ghi dấu ấn trên linh mục, để ngài có thể đại diện cho Đức Ki-tô Thủ lãnh và Mục tử, và vì thế, ngài trở nên dụng cụ sinh động cho công trình cứu độ. Do vậy, trong khi thi hành thừa tác vụ, người linh mục, sacerdos in aeternum (tư tế đời đời), phải nỗ lực dõi theo mẫu gương của Chúa trong mọi sự, bằng cách kết hiệp với Người để nhận ra Thánh ý Chúa Cha, và tự hiến cho đoàn chiên. Thống nhất đời sống, hay sự thống nhất nội tâm giữa đời sống thiêng liêng và hoạt động thừa tác, đặt nền móng trên tình yêu đối với Thánh ý Thiên Chúa và bác ái mục tử. Sự thống nhất đời sống, đặt nền tảng trên bác ái mục tử, sẽ tăng triển nhờ một đời sống cầu nguyện kiên trì, ngõ hầu người linh mục vừa trở nên chứng nhân của đức ái, vừa trở nên thầy dạy đời sống thiêng liêng.

Lịch sử Giáo hội tỏa ngát hương thơm nhờ những gương mẫu tuyệt vời của việc tự hiến thật sự triệt để trong mục vụ. Trong số đó có đông đảo những linh mục thánh đã đạt đến sự thánh thiện qua việc cống hiến cách quảng đại và không mệt mỏi cho việc chăm sóc các linh hồn, sống cuộc đời khổ chế và có một đời sống thiêng liêng thâm sâu, chẳng hạn Cha sở họ Ars, quan thầy các linh mục chính xứ. Các vị mục tử này, tiêu hao vì tình yêu Chúa Ki-tô và nhiệt thành trong bác ái mục tử, là biểu hiện sống động của Tin mừng.

Một vài trào lưu trong nền văn hoá hiện đại xem nhân đức, khổ chế và đời sống thiêng liêng như những hình thức nội quan, tha hoá và ích kỷ, không thể hiểu biết những vấn đề của thế giới và con người. Đôi khi, điều này đã dẫn đến một hình ảnh có nhiều dạng khác nhau về người linh mục: từ nhà xã hội học đến bác sĩ trị liệu, từ nhà chính trị đến nhà quản trị. Nó còn dẫn đến ý tưởng linh mục về hưu. Trong bối cảnh này, cần nhắc lại rằng linh mục là người mang lấy trong cả cuộc đời sự thánh hiến tác động trên hữu thể. Căn tính cơ bản của người linh mục cần phải tìm thấy nơi ấn tín được ghi khắc trên người ấy qua bí tích Truyền chức thánh và từ đó phát xuất ân ban mục vụ. Vì thế, linh mục phải luôn luôn biết điều mình phải làm, đúng như một linh mục. Như thánh Gio-an Bốt-cô nói: “người linh mục là một linh mục trên bàn thờ, là một linh mục trong toà giải tội, là một linh mục nơi học đường, là một linh mục ngoài đường phố; quả thực, ngài là một linh mục khắp mọi nơi”. Trong vài hoàn cảnh hiện nay, một số linh mục nghĩ rằng thừa tác vụ của họ ở ngoài lề cuộc sống, trái lại, nó thật sự nằm ở trung tâm cuộc sống, vì nó có khả năng soi sáng, hoà giải và đổi mới mọi sự.

Có thể xảy ra là một số linh mục, khởi sự tác vụ với tràn trề nhiệt huyết và lý tưởng, đã rơi vào bất mãn, vỡ mộng và kinh nghiệm cả sự thất bại nữa. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này: thiếu sót trong việc huấn luyện, thiếu tình huynh đệ trong hàng Linh mục giáo phận, sống cô lập, hay thiếu sự nâng đỡ của Giám mục và cộng đoàn, những vấn đề cá nhân, sức khoẻ, đau khổ vì không thể tìm thấy câu trả lời hay giải pháp cho các vấn đề, lơ là trong đời sống khổ chế, bỏ bê đời sống thiêng liêng hay ngay cả thiếu đức tin.

Thật thế, một thừa tác vụ năng động không đặt nền tảng trên một linh đạo linh mục vững chắc sẽ nhanh chóng trở thành một hoạt động rỗng tuếch, không có đặc tính ngôn sứ. Hiển nhiên, sự thống nhất đời sống của người linh mục bị phân hoá trước tiên là do suy giảm lòng bác ái mục tử, có nghĩa là suy giảm tình yêu tha thiết đối với mầu nhiệm mà người linh mục cưu mang trong lòng vì lợi ích của Hội Thánh và nhân loại.

Dành thời giờ để đàm thoại thân mật và thờ lạy Vị Mục tử nhân lành, hiện diện trong Bí tích cực thánh trên bàn thờ, là một ưu tiên mục vụ trổi vượt hơn bất cứ việc mục vụ nào khác. Mỗi Linh mục, người lãnh đạo cộng đoàn, phải chú trọng đến ưu tiên đó, để bảo đảm rằng mình không trở nên cằn cỗi về mặt thiêng liêng, hay trở nên một máng nước khô cạn không còn có thể thông ban bất cứ điều gì cho ai nữa.

Đời sống thiêng liêng hẳn là mối bận tâm quan trọng nhất của mục vụ. Bất cứ sáng kiến mục vụ, chương trình truyền giáo hay nỗ lực phúc âm hoá nào lẩn tránh chỗ đứng ưu tiên của đời sống thiêng liêng và việc phụng thờ Thiên Chúa, rốt cuộc sẽ đi đến thất bại.

C) HÀNH TRÌNH NÊN THÁNH

Chức Linh mục thừa tác, trong mức độ đồng hình với đời sống và hoạt động tư tế của Đức Ki-tô, sẽ giới thiệu một chiều kích mới của đời sống thiêng liêng cho những ai lãnh nhận ân ban quý báu nhất này. Đó là một đời sống thiêng liêng dựa trên sự tham dự vào tư cách thủ lãnh của Đức Ki-tô trong Hội Thánh của Người, đời sống đó trở nên hoàn thiện thông qua việc phục vụ có tính thừa tác cho Hội Thánh: đó là sự thánh thiện trong thừa tác vụ và qua thừa tác vụ.

Vì thế, đào sâu ý thức mình là một thừa tác viên của Đức Giê-su Ki-tô có một tầm quan trọng sinh tử đối với đời sống thiêng liêng của linh mục và hiệu năng của chính tác vụ. Mối tương quan có tính thừa tác với Đức Giê-su làm phát sinh và đòi hỏi người linh mục một sự ràng buộc chặt chẽ hơn, phát xuất từ chủ ý của người linh mục, tức là ý thức và tự do chọn lựa làm điều Hội Thánh muốn làm trong các hoạt động thừa tác của mình. Câu “làm điều Hội Thánh muốn làm trong các hoạt động thừa tác của mình” soi sáng cho đời sống thiêng liêng của các tác viên có chức thánh và mời gọi họ nhận thức rõ ràng hơn mình là dụng cụ để phục vụ Đức Ki-tô và Hội Thánh, và biểu lộ điều đó một cách cụ thể qua các hoạt động thừa tác của mình. Chủ ý, theo nghĩa này, nhất thiết bao hàm một mối tương quan với các hành động của Đức Ki-tô trong và qua Hội Thánh. Nó cũng bao hàm sự vâng phục Thánh ý Người, trung thành với huấn lệnh của Người và ngoan ngoãn với tác động của Người: tác vụ thánh là dụng cụ, qua đó Đức Ki-tô và Nhiệm thể Người là Hội Thánh, hoạt động.

Đây là tư thế thường xuyên của cá nhân người linh mục: Mối giây ràng buộc này, tự chính bản chất, nhằm tác động một cách sâu rộng bao nhiêu có thể, trên lối suy tư, cảm nghĩ và chính đời sống của một người: nói cách khác, tạo ra một loạt những tư thế luân lý và thiêng liêng tương ứng với những hành động thừa tác mà người linh mục thực hiện.

Linh đạo của linh mục đòi hỏi một bầu khí là sự gần gũi thân mật với Đức Giê-su Ki-tô, tình bằng hữu và gặp gỡ cá vị với Người, chia sẻ sứ mạng thừa tác, yêu thương và phục vụ dành cho Người hiện diện trong Nhiệm thể và Hiền thê của Người là Hội Thánh. Sống mầu nhiệm Hội Thánh và hiến thân phục vụ Hội Thánh trong tác vụ, bao hàm một tình yêu thâm sâu đối với Chúa Giê-su Ki-tô. Bởi thế, bác ái mục tử đặc biệt tuôn trào từ hi tế Thánh thể. Vì thế hi tế này là trung tâm và gốc rễ của toàn thể đời sống của người linh mục, để tâm hồn người linh mục biến điều diễn ra trên bàn thờ thành của riêng mình. Nhưng điều này không thể thực hiện, trừ phi chính người linh mục tiến sâu vào mầu nhiệm Chúa Ki-tô qua đời sống cầu nguyện.

Trong việc thấu hiểu mầu nhiệm ấy, Đức Nữ trinh Ma-ri-a, hiệp cùng Đấng Cứu chuộc, đến trợ giúp chúng ta, vì khi chúng ta cử hành Thánh lễ, thì Mẹ của Con Thiên Chúa ở giữa chúng ta và dẫn chúng ta đi vào mầu nhiệm hy tế cứu độ của Người. Như thế, Mẹ là trung gian mọi ân sủng tuôn trào từ hy tế này trên Giáo hội và mọi tín hữu. Thật vậy, Đức Ma-ri-a kết hiệp với hy tế linh mục của Đức Ki-tô một cách độc đáo, bằng cách chia sẻ ý muốn cứu chuộc thế giới của Người nhờ cây Thập giá. Mẹ là người đầu tiên tham dự cách hoàn hảo trên bình diện thiêng liêng vào sự dâng hiến của Người trong tư cách là Tư tế và như là tế phẩm. Như vậy, Mẹ có thể thâu nhận và trao ban cho những người chia sẻ thừa tác vụ linh mục của Con Mẹ, ân sủng là hết mình đáp trả lại những đòi hỏi của hi tế thiêng liêng mà chức linh mục đòi buộc: đặc biệt Mẹ có thể thâu nhận và trao ban ơn đức tin, đức cậy và kiên nhẫn khi đương đầu với những thử thách, những thử thách này kích thích tham gia một cách quảng đại hơn vào hi tế cứu độ.

Đối với người linh mục, Bí tích Thánh Thể phải chiếm giữ vị trí trung tâm, cả trong thừa tác vụ lẫn trong đời sống thiêng liêng, bởi vì tất cả lợi ích thiêng liêng của Hội Thánh phát sinh từ Bí tích Thánh Thể, cội nguồn và chóp đỉnh của mọi công cuộc phúc âm hoá. Vì thế quả là quan trọng việc chuẩn bị cách thích đáng trước khi dâng hi tế Thánh lễ, cử hành thánh lễ mỗi ngày, cám ơn và viếng Thánh thể trong ngày.

Ngoài việc cử hành Thánh lễ mỗi ngày, linh mục còn cử hành Phụng vụ các giờ kinh, một đòi buộc mà người linh mục sẵn lòng hiểu là đòi buộc nhặt. Linh mục tăng cường tình yêu đối với Vị Mục tử Thần linh và làm cho Người hiện diện cho người tín hữu, từ hy tế trên bàn thờ cho đến việc cử hành Thần vụ với toàn thể Giáo hội. Linh mục nhận lãnh đặc ân đàm thoại với Thiên Chúa nhân danh hết thảy mọi người, bởi thế dường như ngài trở nên môi miệng của Hội Thánh. Qua Thần vụ, ngài bổ khuyết những gì còn thiếu trong việc ngợi khen của Đức Ki-tô, và với tư cách một đại diện chính thức, lời chuyển cầu của người linh mục cho việc cứu độ thế giới được kể vào số những lời chuyển cầu có hiệu lực nhất.

D) SỰ TRUNG THÀNH CỦA LINH MỤC ĐỐI VỚI KỶ LUẬT GIÁO HỘI

Ý thức mình là một thừa tác viên bao hàm ý thức về hệ thống tổ chức của Thân Mình Đức Ki-tô. Để phát triển, đời sống và sứ mạng của Hội Thánh cần có trật tự, luật lệ, quy tắc đạo đức – tóm lại, đó là hệ thống kỷ luật. Phải loại trừ thành kiến đối với kỷ luật của Giáo hội, ngay khi có dấu hiệu. Cũng phải vượt qua nỗi e ngại khi trưng dẫn kỷ luật của Giáo hội hay yêu cầu thực hiện đòi hỏi của kỷ luật. Một khi những quy tắc kỷ luật của Giáo hội được tôn trọng, sẽ tránh được những căng thẳng. Nếu không, những căng thẳng đó sẽ làm tổn thương hiệu năng của sự hiệp nhất mục vụ mà Hội Thánh cần có để chu toàn sứ mạng phúc âm hoá. Việc đón nhận cách trưởng thành những trách nhiệm của tác vụ đương nhiên chấp nhận rằng Giáo hội được tổ chức như một cơ cấu xã hội hữu hình cũng phải có những quy tắc: để cơ cấu phẩm trật và cơ cấu tổ chức được rõ ràng; để việc thi hành những chức năng Thiên Chúa uỷ thác cho Giáo hội, nhất là chức năng thuộc thánh chức và cử hành các bí tích, có thể được tổ chức thích đáng.

Ý thức mình là thừa tác viên của Đức Ki-tô và Nhiệm thể của Người, cũng ám chỉ sự trung thành với ý muốn của Hội Thánh như được trình bày trong quy tắc giáo luật. Mục tiêu của Giáo luật là giúp đời sống ki-tô hữu hoàn thiện hơn, để có thể hoàn thành tốt hơn sứ mạng cứu độ của Hội Thánh. Do đó, luật pháp phải được tôn trọng với lòng chân thành và thiện ý.

Trong số những khía cạnh khác nhau của kỷ luật của Giáo hội, sự tuân phục đối với những luật lệ và quy định Phụng vụ của Giáo hội, nghĩa là trung thành với các quy tắc tổ chức việc phụng thờ Thiên Chúa đúng theo ý muốn của Linh mục Thượng phẩm Đời đời và Nhiệm thể của Người, có tầm quan trọng đặc biệt. Phụng vụ thánh là việc thực thi chức tư tế của Đức Giê-su Ki-tô, một hành động linh thánh trổi vượt, chóp đỉnh quy hướng mọi hoạt động của Hội Thánh (và) là nguồn mạch từ đó mọi quyền bính của Hội Thánh tuôn trào. Do đó, trong lãnh vực này, người linh mục còn phải ý thức hơn mình là một tác viên và bị đòi buộc phải hành động cho phù hợp với những lời cam kết mà ngài đã tự nguyện và long trọng tuyên hứa trước mặt Thiên Chúa và Hội Thánh. Việc ấn định các Quy tắc Phụng vụ chỉ thuộc thẩm quyền của Giáo hội, tức là Toà thánh và trong những điều Giáo luật quy định, thuộc thẩm quyền giám mục. Không ai khác, ngay cả linh mục, được phép thêm bớt hay thay đổi bất cứ điều gì trong phụng vụ theo ý mình. Thái độ tự tiện, những diễn tả chủ quan, những ngẫu hứng, thái độ không tuân phục trong việc cử hành Thánh lễ rõ ràng trái nghịch với bản chất của Thánh lễ, tức là hy tế của Đức Ki-tô. Điều đó cũng áp dụng cho việc cử hành các bí tích khác, nhất là bí tích Giải tội, qua đó những hối nhân muốn canh tân đời sống, được tha thứ tội lỗi và giải hoà với Giáo hội.

Cũng thế, người linh mục phải ân cần khuyến khích giáo dân tham dự Phụng vụ thánh cách tích cực và ý thức, vì Hội Thánh cổ võ một sự tham dự như thế. Có những phận vụ trong Phụng vụ có thể được thi hành do những người không có chức thánh. Tuy nhiên, những phận vụ khác hoàn toàn dành riêng cho các tác viên có chức thánh. Tôn trọng các bậc sống khác nhau và tính chất bổ trợ trong sứ mạng của Hội Thánh, đòi hỏi phải thận trọng tránh mọi lẫn lộn trong vấn đề này.

E) LINH MỤC TRONG CỘNG ĐOÀN GIÁO HỘI

Để phục vụ Hội Thánh, vốn được tổ chức thành một cộng đoàn hữu hình bao gồm các tín hữu có cùng một phẩm giá do bí tích Thánh tẩy và khác biệt về đoàn sủng và chức năng, điều cần thiết là phải biết và yêu mến Hội Thánh như Hội Thánh là theo ý muốn của Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng Sáng lập Hội Thánh, chứ không như các triết thuyết hay ý thức hệ chóng qua đã trình bày. Chức năng thừa tác nhằm phục vụ cộng đoàn, đặt nền tảng trên sự đồng hình với Đức Ki-tô, đòi hỏi một sự hiểu biết và tôn trọng đối với vai trò riêng của giáo dân và khuyến khích bằng mọi cách có thể, để mọi người đảm nhận những trách nhiệm riêng của họ. Người linh mục phục vụ cộng đoàn. Ngài cũng được cộng đoàn nâng đỡ. Ngài cần giáo dân đóng góp cách đặc biệt, không chỉ trong việc tổ chức và điều hành cộng đoàn, nhưng cả trong đức tin và bác ái: có một ảnh hưởng hỗ tương nào đó giữa đức tin của linh mục và đức tin của giáo dân. Gia đình ki-tô giáo và cộng đoàn nhiệt tâm thường đã nâng đỡ các linh mục trong những lúc các ngài gặp khủng hoảng. Cũng vậy, điều hết sức quan trọng là người linh mục cần hiểu, quý mến và trân trọng bản chất của đời sống thánh hiến là đi theo Đức Ki-tô, đó là một kho tàng quý giá của Hội Thánh và là bằng chứng Thánh thần hoạt động trong Hội Thánh.

Trong mức độ các linh mục là dấu chỉ sống động và tôi tớ phục vụ sự hiệp thông trong Hội Thánh, các ngài trở nên thành phần của sự hiệp unity sống động của Hội Thánh trong thời gian, tức là Thánh truyền, mà Huấn quyền là người trông coi và bảo đảm. Nhờ quy chiếu vào Thánh truyền, thừa tác vụ linh mục có được một nền tảng vững chắc và một chứng từ khách quan về sự Thật, đã tỏ lộ trong Đức Ki-tô và được mạc khải trong lịch sử. Điều đó giúp ngăn ngừa sự ham thích chạy theo cái mới lạ, vốn làm tổn thương sự hiệp thông và làm tiêu tan sự sâu sắc và tính khả tín của tác vụ linh mục.

Linh mục chính xứ được mời gọi kiên trì xây dựng sự hiệp thông trong giáo xứ của mình và Giáo hội địa phương, cũng như với Giáo hội hoàn vũ. Ngài phải là gương mẫu của sự gắn bó với Huấn quyền trường cửu và kỷ luật của Giáo hội.

F) Ý THỨC ĐẾN CHIỀU KÍCH PHỔ QUÁT TRONG CÁI ĐẶC THÙ

Linh mục cần ý thức rằng việc ngài thuộc về một Giáo hội địa phương, do tự bản chất, là một yếu tố có ý nghĩa trong việc sống linh đạo ki-tô giáo. Theo chiều hướng đó, người linh mục tìm thấy cách chính xác trong việc ngài thuộc về và hiến mình cho một Giáo hội địa phương, một sự phong phú về ý nghĩa, về tiêu chuẩn để biện phân và về hành động, định hướng cho cả sự biện phân mục vụ lẫn đời sống thiêng liêng của mình. Đây là một điểm quan trọng cần phải hiểu biết rõ ràng thế nào để cho mối bận tâm thuộc về và hiến mình cho Giáo hội địa phương không giới hạn hoạt động và đời sống người linh mục cho một mình Giáo hội ấy: không thể có một sự hạn chế kiểu ấy, căn cứ trên chính bản chất của cả Giáo hội địa phương lẫn thừa tác vụ linh mục.

Khái niệm nhập tịch, như đã điều chỉnh bởi Công đồng Va-ti-ca-nô II và sau đó được đưa vào Giáo luật, khắc phục mối nguy hiểm là giới hạn quá chặt chẽ thừa tác vụ linh mục không chỉ vào tiêu chuẩn địa lý, nhưng nhất là vào tiêu chuẩn tâm lý và ngay cả thần học nữa. Việc thuộc về một Giáo hội địa phương và phục vụ cho sự hiệp thông nội bộ của Giáo hội ấy, vốn là những yếu tố thuộc chiều kích giáo hội, cũng kết hợp cách cơ bản vào đời sống và hoạt động của các linh mục, đồng thời đem lại cho chúng một cấu trúc đặc thù bao gồm các đối tượng và mục tiêu mục vụ xác định, những dấn thân cá nhân vào các nhiệm vụ riêng biệt, những cuộc gặp gỡ mục vụ và chia sẻ các mối quan tâm. Để hiểu và yêu mến Giáo hội địa phương cách hiệu quả hơn, gắn bó và hiến thân nhiệt tình hơn, phục vụ đến mức hy sinh chính bản thân để được thánh hoá nhờ Hội Thánh, các tác viên có chức thánh phải luôn luôn ý thức rằng Giáo hội hoàn vũ là một thực thể ưu việt hơn mọi Giáo hội địa phương, về phương diện hữu thể và trần thế. Quả thế, Giáo hội hoàn vũ không phải là tổng số tất cả các Giáo hội địa phương. Các Giáo hội địa phương, trong và với Giáo hội hoàn vũ, phải cởi mở đón nhận thực tại là sự hiệp thông đích thật về nhân sự, đoàn sủng và truyền thống thiêng liêng, vốn vượt lên trên mọi biên giới địa dư, tâm lý và tri thức. Các linh mục phải ý thức hết sức rõ ràng rằng Hội Thánh là duy nhất. Tính phổ quát và công giáo phải luôn luôn thâm nhập vào cái đặc thù. Một mối dây hiệp thông sâu xa, chân thực và sinh động với Toà thánh Phê-rô, là bảo đảm và điều kiện thiết yếu. Đón nhận, phổ biến và nhiệt tâm áp dụng các văn kiện của Đức giáo hoàng và các văn kiện khác do các Thánh bộ tại Giáo triều Rô-ma ban hành, là những biểu lộ cụ thể.

Cho tới nay, chúng ta đã xem xét về đời sống và công việc của mọi Linh mục. Trong phần sau, chúng ta tập trung suy tư về những người được chỉ định cách riêng vào chức vụ Linh mục chính xứ.

BỘ GIÁO SĨ