I. GIÁO XỨ VÀ LINH MỤC CHÍNH XỨ
Những khía cạnh giáo hội học quan trọng nhất về khái niệm giáo xứ trên bình diện thần học-giáo luật, đã được Công đồng Va-ti-ca-nô II xem xét dưới ánh sáng của Truyền thống, giáo thuyết công giáo và giáo hội học về hiệp thông. Sau đó, chúng được quy định thành các điều khoản trong bộ Giáo luật. Giáo huấn của các Đức Giáo hoàng sau Công đồng, mặc nhiên hay minh nhiên, đã triển khai những khía cạnh đó dưới những góc cạnh khác nhau, nhưng luôn luôn quy chiếu về chức Linh mục thừa tác. Một bản tóm tắt những chủ đề chính yếu về phương diện tín lý, thần học và giáo luật nẩy sinh từ chất liệu này sẽ hữu ích, nhất là để đưa ra một giải đáp hữu hiệu hơn cho những thách đố mục vụ mà thừa tác vụ giáo xứ của các linh mục đang đương đầu vào buổi bình minh của ngàn năm thứ ba.
Bằng phép loại suy, phần lớn những điều nói về vai trò lãnh đạo của các linh mục chính xứ, cũng áp dụng cho các linh mục phụ tá trong các giáo xứ cũng như các linh mục được bổ nhiệm vào những nhiệm vụ mục vụ đặc biệt như tuyên uý trại giam, bệnh viện và trường học và các linh mục được giao nhiệm vụ chăm sóc cho những người di dân và du lịch v.v.
Giáo xứ là một cộng đoàn ki-tô hữu nhất định, được thành lập cách cố định trong một Giáo hội địa phương, mà việc chăm sóc mục vụ được uỷ thác cho một linh mục chính xứ như là chủ chăn riêng của giáo xứ ấy, dưới quyền của Giám mục giáo phận. Do đó, toàn thể đời sống của giáo xứ, cũng như ý nghĩa của những dấn thân hoạt động tông đồ cho xã hội, phải được hiểu và sống trong mối tương quan của sự hiệp thông hữu cơ giữa chức linh mục phổ quát của tín hữu và chức linh mục thừa tác; của sự cộng tác huynh đệ và năng động giữa chủ chăn và tín hữu, trong sự tôn trọng tuyệt đối các quyền hạn, bổn phận và chức năng của mỗi bên, và sự nhìn nhận hỗ tương khả năng và trách nhiệm riêng của họ. Linh mục chính xứ, hiệp thông chặt chẽ với Giám mục và với giáo dân của mình phải tránh đưa vào tác vụ mục vụ mọi hình thức độc tài và những hình thức điều hành dân chủ xa lạ với thực tại thâm sâu của thừa tác vụ. Về điểm này, Huấn thị liên Bộ Ecclesia de Mysterio, được Đức Thánh Cha phê chuẩn in forma specifica, vẫn còn đầy đủ hiệu lực. Áp dụng toàn bộ Huấn thị này bảo đảm sự thực hành đúng đắn trong Giáo hội, đó là điều cơ bản cho chính đời sống của Giáo hội.
Mối dây ràng buộc bên trong với cộng đoàn Giáo phận và Giám mục, và sự hiệp thông phẩm trật với Đân kế vị thánh Phê-rô, bảo đảm cho tư cách thành viên của Giáo xứ trong Giáo hội hoàn vũ. Do đó, cộng đoàn giáo xứ là một phần của giáo phận (pars dioecesis) được linh hoạt bởi cùng một tinh thần hiệp thông, một tinh thần đồng trách nhiệm có trật tự do bí tích Thánh tẩy, một đời sống phụng vụ chung mà trung tâm là việc cử hành Thánh lễ và một tinh thần truyền giáo chung được cộng đoàn ấy chia sẻ. Thực vậy, mỗi giáo xứ đặt nền móng trên một thực tại thần học, vì nó là một cộng đoàn Thánh thể. Điều này có nghĩa giáo xứ là một cộng đoàn hoàn toàn xứng hợp để cử hành Thánh lễ, là nguồn mạch sống động để xây dựng cộng đoàn và là mối ràng buộc có tính bí tích làm cho cộng đoàn hiệp thông đầy đủ với toàn thể Hội Thánh. Sự thích đáng như thế bắt nguồn từ sự kiện giáo xứ là một cộng đoàn đức tin và là một cộng đoàn hữu cơ, tức là được cấu thành bởi các tác viên có chức thánh và các ki-tô hữu khác, trong đó, người mục tử – thay mặt Đức giám mục giáo phận – là mối liên kết có tính phẩm trật với toàn thể Giáo hội địa phương.
Vì thế, giáo xứ, giống như một tế bào của giáo phận, phải nêu ra một gương mẫu nổi bật về hoạt động tông đồ của cộng đoàn, vì giáo xứ đưa vào hiệp nhất tất cả sự đa dạng của con người tìm thấy trong đó và tháp nhập vào trong sự phổ quát của Giáo hội. Cộng đoàn ki-tô hữu (communitas christifidelium) là yếu tố cơ bản của giáo xứ. Theo một nghĩa nào đó, hạn từ này nhấn mạnh mối quan hệ năng động giữa những người cấu thành nên cộng đoàn, dưới sự lãnh đạo không thể thiếu của một mục tử hợp pháp. Theo luật chung, đó là tất cả các tín hữu cư trú trong một lãnh thổ quy định, hay một số tín hữu trong trường hợp thuộc các giáo xứ tòng nhân, được thiết lập dựa trên nền tảng nghi lễ, ngôn ngữ, dân tộc hay vì một mục đích đặc biệt nào khác.
Một yếu tố cơ bản khác của khái niệm giáo xứ là khái niệm chăm sóc mục vụ (cura pastoralis) hay chăm sóc các linh hồn (cura animarum), đó là nhiệm vụ riêng của linh mục chính xứ và được diễn tả chính yếu qua việc rao giảng Lời Thiên Chúa, ban phát các bí tích và quản trị mục vụ cộng đoàn. Trong giáo xứ, khung cảnh thông thường của việc chăm sóc mục vụ, linh mục chính xứ là chủ chăn riêng của giáo xứ được giao phó cho ngài. Ngài thi hành việc chăm sóc mục vụ cho cộng đoàn dưới quyền của giám mục giáo phận, mà ngài đã được kêu gọi chia sẻ với giám mục tác vụ của Đức Ki-tô, để qua việc phục vụ cộng đoàn, ngài có thể hoàn thành nhiệm vụ rao giảng, thánh hoá và quản trị, với sự cộng tác của các linh mục hay phó tế khác và với sự hỗ trợ của giáo dân, và trong sự phù hợp với các quy tắc giáo luật. Khái niệm linh mục chính xứ thì dồi dào ý nghĩa thần học cao cả và không ngăn cản Giám mục thiết lập những hình thức khác của việc chăm sóc các linh hồn (cura animarum) phù hợp với quy tắc giáo luật.
Trong thời gian qua, điều trở nên cấp thiết là thích nghi việc chăm sóc mục vụ trong các giáo xứ với những hoàn cảnh khác nhau, ví như hoàn cảnh thiếu hụt linh mục trong một số vùng, các giáo xứ thành thị quá đông giáo dân, các giáo xứ nông thôn suy yếu, hay các giáo xứ giảm sút số tín hữu. Những hoàn cảnh như thế đòi hỏi đưa một số đổi mới nào đó vào trong luật chung của Giáo hội liên quan đến việc chăm sóc mục vụ trong các giáo xứ. Không cần phải nói, những đổi mới này không liên quan đến bất cứ đổi mới nào trên bình diện nguyên tắc. Trong số những sáng kiến như thế, có thể uỷ thác việc chăm sóc mục vụ các linh hồn thuộc một hay nhiều giáo xứ, cho nhiều linh mục cách toàn đới (in solidum), với điều kiện chỉ có một linh mục làm người điều phối, chỉ đạo công việc mục vụ của cả nhóm, và trực tiếp chịu trách nhiệm trước Giám mục. Dựa trên nền tảng của một danh nghĩa đa dạng, một chức vụ quản xứ duy nhất và công việc chăm sóc mục vụ duy nhất cho giáo xứ có thể được uỷ thác cho nhiều linh mục là những người tham gia vào chức vụ được uỷ thác cho họ theo một cách thức như nhau, và việc chỉ đạo được một anh em linh mục đích thân đảm trách như là người điều phối. Giao phó việc chăm sóc mục vụ giáo xứ cách toàn đới có thể tỏ ra hữu ích trong việc giải quyết những khó khăn nảy sinh trong các giáo phận, nơi đó việc suy giảm số linh mục bó buộc các ngài phải phân phối thời giờ cho nhiều hoạt động thừa tác. Nó cũng tỏ ra là một cách thế hữu ích để cổ võ tinh thần đồng trách nhiệm giữa các linh mục và nhất là cổ võ các linh mục tập sống chung, vốn luôn luôn được khuyến khích.
Tuy nhiên, điều cần được xem xét cách thận trọng là việc chăm sóc mục vụ cách toàn đới, mà chỉ có thể giao phó cho các linh mục mà thôi, có thể làm phát sinh một số khó khăn. Người giáo dân tự nhiên gắn bó với linh mục chính xứ của mình. Việc luân phiên liên tục giữa các linh mục có thể gây bối rối và hiểu lầm trong giáo xứ. Giá trị lớn lao của tư cách người cha thiêng liêng của linh mục chính xứ quả hiển nhiên. Vai trò pater familias (người cha gia đình) do bí tích mà linh mục chính xứ đảm nhận và những ràng buộc tất nhiên của nó, quả là hữu hiệu về phương diện mục vụ.
Trong những trường hợp nhu cầu mục vụ đòi hỏi như vậy, Giám mục giáo phận có thể tạm thời giao phó việc chăm sóc mục vụ trong nhiều giáo xứ cho một Linh mục.
Trong những nơi mà hoàn cảnh đòi buộc, và như là giải pháp tạm thời, một giáo xứ có thể được uỷ thác cho một giám quản. Tuy nhiên, ta phải nhắc lại rằng chức vụ linh mục chính xứ, thiết yếu có tính mục vụ, đòi hỏi tính chất toàn vẹn và ổn định. Linh mục chính xứ phải là hình tượng cho sự hiện diện của Đức Ki-tô lịch sử. Những đòi hỏi của sự đồng dạng với Đức Ki-tô nhấn mạnh tầm quan trọng của việc uỷ thác này.
Sứ mạng của người mục tử trong một giáo xứ, bao gồm toàn bộ việc chăm sóc các linh hồn, tất nhiên cần đến việc thi hành thánh chức Linh mục. Vì thế, ngoài điều kiện hiệp thông với Giáo hội, giáo luật minh nhiên quy định chỉ một người nam đã được thụ phong chức thánh mới có thể được bổ nhiệm cách hợp pháp vào chức vụ Linh mục chính xứ.
Về bổn phận của linh mục chính xứ là công bố Lời Chúa và giảng dạy giáo thuyết công giáo đích thực, Giáo luật số 528 minh nhiên đề cập đến giảng lễ và dạy giáo lý; các sáng kiến nhằm cổ võ sống tinh thần Tin mừng trong mọi phạm vi của cuộc sống; giáo dục công giáo cho thiếu niên và người trẻ; cũng như những nỗ lực liên hệ đến việc hợp tác đúng đắn của giáo dân, ngõ hầu sứ điệp Tin mừng đến được với những người lơ là thực hành đức tin và những người không tuyên xưng đức tin chân thật nữa, để họ có thể hoán cải nhờ ân sủng của Thiên Chúa. Cố nhiên, Linh mục chính xứ không buộc phải đích thân chu toàn tất cả những bổn phận này. Đúng hơn, ngài có bổn phận lo liệu sao cho những bổn phận đó được hoàn thành trong giáo xứ một cách thích đáng và phù hợp với giáo thuyết và kỷ luật của Giáo hội. Những điều đó được thực hiện, khi hoàn cảnh cho phép và lệ thuộc trách nhiệm cá nhân của ngài. Một vài bổn phận riêng của linh mục chính xứ phải luôn luôn được thi hành chỉ bởi một tác viên chức thánh, như trong trường hợp giảng trong Thánh lễ. Cho dù ngài có thể thua kém người giáo dân không có chức thánh về khả năng hùng biện, song điều đó không loại trừ sự kiện là do bởi bí tích, ngài đại diện Đức Ki-tô, Thủ lãnh và Mục tử và hiệu năng của lời giảng của ngài phát sinh từ thực tại ấy. Các chức năng khác của linh mục chính xứ, chẳng hạn như dạy giáo lý, có thể được thường xuyên chu toàn bởi người giáo dân đã được đào tạo cách thích đáng về phương diện giáo thuyết và sống trọn vẹn đời sống ki-tô hữu. Trong những trường hợp đó, linh mục chính xứ bị đòi buộc phải duy trì những tiếp xúc cá nhân với những người ấy. Chân phước Gio-an XXIII đã viết: điều quan trọng nhất là linh mục phải luôn luôn trung thành với nhiệm vụ giảng dạy. Về mặt này, quả là hữu ích khi nói và nhấn mạnh rằng – theo lời thánh Pi-ô X – các linh mục bị ràng buộc cách chặt chẽ hơn bất cứ nhiệm vụ nào khác, nghiêm khắc hơn bất cứ bổn phận nào khác.
Như đã rõ, do bởi đức ái mục tử đích thật, linh mục chính xứ không chỉ buộc phải khuyến khích tất cả các cộng tác viên, nhưng còn phải quan tâm đến họ. Trong một vài quốc gia nơi đó có những tín hữu thuộc về những nhóm ngôn ngữ khác nhau, nơi đó chưa có thiết lập những giáo xứ đối nhân hay chưa có những thu xếp thoả đáng cho họ, linh mục chính xứ quản trị địa hạt đó là linh mục chính xứ cho những thành viên tín hữu đó. Ngài có bổn phận đáp ứng những nhu cầu riêng biệt của họ, nhất là trong những vấn đề liên quan đến những nhạy cảm văn hoá đặc biệt của họ.
Liên quan đến những phương tiện thánh hoá thông thường, giáo luật số 528 quy định rằng linh mục chính xứ phải đặc biệt quan tâm lo lắng để Bí tích Thánh Thể trở nên trung tâm của cộng đoàn giáo xứ và các tín hữu đạt đến sự viên mãn của đời sống ki-tô hữu bằng cách tham dự cách ý thức và tích cực vào Phụng vụ thánh, bằng cách cử hành các bí tích, bằng cách thực hành việc cầu nguyện và làm các việc lành phúc đức.
Đánh chú ý là Giáo luật đề cập đặc biệt đến việc thường xuyên rước lễ và lãnh nhận Bí tích hoà giải. Điều này ngụ ý rằng linh mục chính xứ, khi xếp đặt giờ lễ và giải tội trong giáo xứ của mình, phải tính đến những thời gian thích hợp cho phần đông các tín hữu, đồng thời phải lưu ý đến việc tạo điều kiện thuận lợi cho những người gặp khó khăn trong việc tham dự các cử hành bí tích. Linh mục chính xứ phải đặc biệt quan tâm đến việc xưng tội cá nhân, hiểu theo tinh thần và hình thức được Hội Thánh thiết lập. Ngài phải nhớ rằng việc xưng tội phải đi trước việc rước Mình Thánh Chúa. Hơn nữa, vì những lý do mục vụ và để tạo thuận lợi cho các tín hữu, các tín hữu cũng có thể xưng tội đang khi cử hành Thánh lễ.
Cần phải quan tâm bảo đảm việc tôn trọng những nhạy cảm của hối nhân liên quan đến cách người ấy muốn xưng tội, hoặc diện đối diện, hoặc sau một chấn song. Vì những lý do mục vụ, vị giải tội cũng phải ưa thích dùng một toà giải tội có chấn song.
Thói quen viếng Thánh Thể cũng phải được hết sức cổ võ. Nhằm mục đích ấy, nhà thờ phải mở rộng cửa càng lâu càng tốt, và giờ mở cửa cố định phải được xác định. Nhiều linh mục chính xứ cổ võ việc thực hành đáng ca ngợi là chầu Mình Thánh Chúa cách long trọng và có thể nghiệm thấy những hoa quả trên sức sống của giáo xứ.
Mình Thánh Chúa được cất giữ với tâm tình yêu mến trong một nhà tạm vốn là trái tim thiêng liêng của mọi cộng đoàn tu sĩ và cộng đoàn giáo xứ. Không có việc thờ phượng Bí tích Thánh Thể, như thể với một trái tim đang đập, giáo xứ trở nên khô cằn. Nếu anh em muốn các tín hữu cầu nguyện cách thiết tha và sốt sắng – như Đức Pi-ô XII đã nhắc nhở hàng giáo sĩ Rô-ma – anh em hãy nêu gương cho họ bằng cách cầu nguyện trước mặt họ trong nhà thờ của anh em. Một linh mục quỳ gối trước nhà tạm, trong một tư thế riêng và chìm sâu trong suy niệm, là một gương sáng xây dựng dân chúng, một lời nhắc nhở và mời gọi thi đua cầu nguyện.
Giáo luật điều 529 thảo ra những nhiệm vụ chính mà chức vụ mục tử của linh mục chính xứ đòi hỏi phải chu toàn và vạch ra những đặc tính thừa tác được chờ đợi nơi một linh mục chính xứ. Trong tư cách là linh mục dành riêng cho giáo xứ, ngài phải làm mọi nỗ lực để tìm hiểu các tín hữu đã được giao cho ngài chăm sóc và tránh mọi hình thức quan liêu. Một linh mục chính xứ không phải là một quan chức chu toàn một vai trò hoặc cung cấp sự phục vụ cho những ai yêu cầu họ. Đúng hơn, ngài chu toàn trọn vẹn tác vụ như một con người của Thiên Chúa, thăm hỏi các tín hữu, thăm viếng gia đình họ, đáp ứng nhu cầu và chia sẻ niềm vui của họ. Ngài khôn ngoan sửa dạy, chăm sóc người già, kẻ yếu nhược, người bị bỏ rơi, người đau ốm và người hấp hối. Ngài hiến thân chăm sóc cách đặc biệt người nghèo đói và đau khổ. Ngài nỗ lực hoán cải người tội lỗi và kẻ lầm đường lạc lối. Ngài khuyến khích họ chu toàn nhiệm vụ của bậc sống mình và cổ võ đời sống ki-tô hữu trong các gia đình.
Cổ võ những việc bác ái tinh thần và vật chất vẫn luôn là một ưu tiên mục vụ và một dấu chỉ cho sức sống của mọi cộng đoàn ki-tô hữu.
Một nhiệm vụ quan trọng khác được giao phó cho linh mục chính xứ là cổ võ vai trò riêng của giáo dân trong sứ vụ Hội Thánh, đó là làm cho trật tự các thực tại trần thế thấm nhuần tinh thần Phúc âm và trở nên hoàn hảo, và như thế họ làm chứng cho Đức Ki-tô cách đặc biệt trong việc thi hành các công việc trần thế.
Linh mục chính xứ có bổn phận cộng tác với Giám mục của mình và với các linh mục khác trong giáo phận nhằm để các tín hữu đang tham gia trong cộng đoàn giáo xứ ý thức rằng họ cũng là thành viên của giáo phận và của Hội Thánh phổ quát. Tính chuyển động ngày càng gia tăng của xã hội ngày nay càng đòi buộc giáo xứ đừng trở nên khép kín. Đúng hơn, phải tiếp đón tín hữu của các giáo xứ khác và tránh ngăn cản giáo dân của mình tham gia sinh hoạt của các giáo xứ, nhà xứ hoặc các nhà nguyện khác.
Linh mục chính xứ bị đòi buộc cách đặc biệt phải nhiệt tâm cổ võ, nâng đỡ và theo dõi các ơn gọi tiến tới chức linh mục. Nêu gương sáng, qua việc tỏ lộ rõ ràng căn tính linh mục, kiên trì sống chức vụ linh mục, cùng với việc sốt sắng xưng tội, hướng dẫn thiêng liêng cho các người trẻ, và dạy về tác vụ thánh là những điều cần thiết cho việc cổ võ các ơn gọi linh mục. Gieo vãi các hạt giống của cuộc sống hoàn toàn hiến thánh cho Thiên Chúa và cổ võ lòng yêu mến đức khiết tịnh luôn là một nhiệm vụ đặc biệt của tác vụ linh mục.
Giáo luật quy các nhiệm vụ sau đây cách đặc biệt cho các linh mục chính xứ: ban bí tích Thánh Tẩy và Thêm sức cho những ai đang nguy tử chiếu theo điều 883, 3; ban Của ăn đàng và bí tích Xức dầu bệnh nhân, giữ nguyên quy định của điều 1003, §§ 2 và 3; ban Phép lành Toà thánh; chủ trì và chúc hôn; cử hành lễ nghi an táng; làm phép giếng rửa tội trong mùa Phục sinh; dẫn đầu các cuộc kiệu và ban phép lành trọng thể bên ngoài nhà thờ; long trọng cử hành Thánh lễ vào ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc.
Còn hơn là những nhiệm vụ hoặc quyền lợi được trao riêng cho linh mục chính xứ, những chức năng này được giao phó cho ngài cách đặc biệt do bởi trách nhiệm riêng là linh mục chính xứ. Vì thế các ngài phải trực tiếp chu toàn, hay ít là quan tâm theo dõi suốt quá trình thực hiện.
Trong những miền thiếu hụt các linh mục, điều có thể xảy ra, như đã xảy ra ở một vài nơi, là Giám mục, sau khi xem xét cẩn thận, có thể cho một người hoặc nhiều người chưa có ấn tín linh mục cộng tác ad tempus (tạm thời) trong việc thi hành chăm sóc mục vụ của một giáo xứ, theo cách được giáo luật chấp thuận. Tuy nhiên trong những trường hợp đó, những tính chất nguyên thủy của sự khác biệt và bổ túc của các đặc sủng và các chức năng của các thừa tác viên được thụ phong và của tín hữu giáo dân phải được cẩn thận tuân giữ và tôn trọng bởi vì chúng là đặc tính riêng của Hội Thánh và đó là ý muốn của Thiên Chúa về việc tổ chức Hội Thánh. Những hoàn cảnh bất thường hiện hữu đủ biện minh cho sự cộng tác như thế. Tuy nhiên, sự cộng tác như thế không thể vượt quá cách hợp pháp những giới hạn của tính cách riêng biệt thuộc thừa tác vụ thánh và bậc sống giáo dân.
Nhằm làm sáng tỏ thuật ngữ có thể gây nhầm lẫn, Hội Thánh dành riêng một vài từ ngữ hàm ý potestas capitis cho các linh mục – chủ chăn, tuyên úy, linh giám, điều phối viên và các từ tương đương khác.
Trong các danh xưng nói về quyền lợi và nhiệm vụ của tín hữu giáo dân, giáo luật phân biệt các thẩm quyền hoặc các chức năng thuộc về mọi tín hữu giáo dân do quyền lợi hoặc nhiệm vụ, và những gì phát xuất từ việc cộng tác với thừa tác vụ mục vụ. Những điểm sau là một capacitas hoặc habilitas mà việc thực thi tùy thuộc vào việc được các chủ chăn hợp pháp của Hội Thánh giao phó. Vì thế, chúng không hề có nghĩa là các quyền.
Những điều nói trên đã được Đức Gio-an Phao-lô II làm sáng tỏ trong Tông huấn hậu Thượng Hội đồng Christifideles Laici: Sứ vụ cứu độ của Hội Thánh trong thế gian không chỉ được thực hiện bởi các thừa tác viên chức thánh nhưng cũng còn bởi tất cả các tín hữu giáo dân; quả thế, nhờ đã được chịu phép thánh tẩy và nhờ ơn gọi chuyên biệt của mình, các giáo dân, mỗi người theo mức độ của mình, tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Ki-tô.
Vì thế, các chủ chăn phải hiểu biết và cổ võ các tác vụ, chức vụ và nhiệm vụ của tín hữu giáo dân, những chức vụ và nhiệm vụ này đặt nền tảng trên bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức, hơn nữa, đối với phần đông trong số họ, còn trên bí tích Hôn Phối. Khi nhu cầu trong Hội Thánh cần đến, các chủ chăn, tuân theo các quy tắc được thiết lập trong bộ luật phổ quát, có thể giao phó cho tín hữu giáo dân, ad tempus, một vài chức vụ và vai trò, có liên quan đến tác vụ mục vụ mà không đòi buộc ấn tín chức thánh. Cũng những tài liệu này nhắc lại những nguyên tắc cơ bản quy định việc cộng tác này và đưa ra những giới hạn cho nó: việc thực thi các công việc này không biến họ thành Chủ chăn của các tín hữu giáo dân: quả vậy, một người không là một thừa tác viên chỉ vì chu toàn một công việc, nhưng phải qua Bí tích Truyền chức thánh. Chỉ Bí tích Truyền chức thánh mới ban cho thừa tác viên được thụ phong tham dự cách đặc biệt vào chức vụ của Đức Ki-tô, Mục tử và Thủ lãnh, và vào Chức tư tế vĩnh cửu của Người. Việc làm thay một vài công việc bởi giáo dân có tính hợp pháp, cách chính thức và tức thì, do bởi sự ủy nhiệm chính thức của các chủ chăn cho giáo dân, cũng như do bởi việc thi hành cụ thể dưới sự hướng dẫn của quyền bính Giáo hội.
Trong những trường hợp mà việc cộng tác vào tác vụ thánh đã được giao phó cho tín hữu không được thụ phong, một linh mục cần phải được chỉ định trong tư cách người điều phối và được ban cho các quyền hạn và nhiệm vụ của một linh mục chính xứ, để chỉ đạo trực tiếp việc chăm sóc mục vụ.
Đã rõ, chức vụ của linh mục chính xứ được thi hành bởi một linh mục đã được chỉ định để chỉ đạo hoạt động mục vụ – chẳng hạn một người được trao cho các năng quyền của một linh mục chính xứ – và thi hành các chức năng dành riêng cho linh mục, khác biệt hoàn toàn với sự cộng tác bổ trợ của người tín hữu không được thụ phong trong các công việc khác của chức vụ. Một nam tu sĩ không có chức thánh, một nữ tu, một người giáo dân có thể thi hành các công việc quản trị, cũng như cổ võ việc huấn luyện về mặt thiêng liêng. Tuy nhiên, họ không thể thi hành các chức năng hoàn toàn thuộc về việc chăm sóc các linh hồn bởi vì những việc này đòi hỏi ấn tín linh mục. Tuy vậy, họ có thể hỗ trợ các thừa tác viên chức thánh trong các việc phụng vụ phù hợp với địa vị giáo luật của họ và được liệt kê trong giáo luật điều 230 § 3: thi hành thừa tác vụ Lời Chúa, chủ toạ các buổi kinh phụng vụ, ban Bí tích Thánh tẩy và cho rước lễ, theo những quy định của luật. Ngay cả các phó tế, dù không bị coi ngang hàng với các tín hữu khác, cũng không thể thi hành việc chăm sóc các linh hồn trọn vẹn.
Quả là luôn thích đáng việc các Giám mục giáo phận thẩm tra mọi trường hợp cần thiết với sự thận trọng tối đa và tiên liệu mục vụ. Ngài phải thiết lập tiêu chuẩn để xác định tư cách thích đáng của những người được mời gọi cộng tác trong hình thức này và xác định rõ ràng các chức năng được giao phó cho mỗi người trong số họ trong sự phù hợp với các hoàn cảnh của mỗi giáo xứ liên hệ. Khi không có sự giao phó cụ thể và rõ ràng các công việc, linh mục điều phối sẽ xác định trong vấn đề này. Tính chất bất thường và tạm thời của những thu xếp như thế đòi hỏi đẩy mạnh một ý thức về sự cần thiết tuyệt đối các ơn gọi linh mục trong các cộng đoàn giáo xứ này. Mầm mống của các ơn gọi ấy phải được động viên trong họ, lời cầu nguyện cá nhân và của cộng đoàn cho các ơn gọi phải được cổ võ và cũng như lời cầu nguyện cho việc thánh hoá các linh mục.
Nhằm bảo đảm cho các ơn gọi linh mục có thể trổ hoa cách dễ dàng trong cộng đoàn, điều quan trọng là cộng đoàn ấy phải thấm nhuần một tình yêu đích thực đối với Hội Thánh. Một lòng kính trọng sâu xa và nhiệt tinh mạnh mẽ đối với Hiền Thê Đức Ki-tô, là người cộng tác với Chúa Thánh Thần trong công trình cứu độ, phải luôn được cổ võ và khuyến khích.
Vì thế, cần phải làm mọi nỗ lực để giữ gìn trong tâm hồn của các tín hữu niềm vui và niềm tự hào thánh thiện phát xuất từ tư cách là thành viên của Hội Thánh, điều khá hiển nhiên trong thư thứ nhất của thánh Phê-rô và trong sách Khải Huyền (x. 1 Pr 3,14; Kh 2, 13.17; 7, 9; 14, 1ff; 19, 6; 22, 14). Không có niềm vui và niềm tự hào này, ở một bình diện tâm lý, thì khó mà giữ gìn và phát triển đời sống đức tin. Không phải là điều gì đáng ngạc nhiên, ít ra ở bình diện tâm lý, khi trong một vài bối cảnh nào đó các ơn gọi linh mục không thể nảy mầm hoặc vươn tới mức trưởng thành.
Quả là một sai lầm tai hại khi tuyệt vọng trong lúc đối diện với những khó khăn hiện nay và chấp thuận thái độ muốn chuẩn bị một Hội Thánh tương lai mà hầu như không có linh mục. Những biện pháp đưa ra theo ánh sáng đó nhằm ngăn chặn sự thiếu hụt các linh mục hiện nay, tuy ta không chống lại những thiện chí thúc đẩy họ, nhưng trong thực tế sẽ gây thiệt hại trầm trọng cho cộng đoàn Giáo hội.
Nơi nào các phó tế vĩnh viễn tham gia vào việc chăm sóc mục vụ của các giáo xứ mà, bởi thiếu hụt các linh mục, không có được phúc lợi trực tiếp từ một linh mục chính xứ, họ phải được ưu tiên hơn các tín hữu không được thụ phong. Do bởi chức thánh, phó tế là thầy dạy bao lâu ngài giảng dạy và làm chứng cho lời của Thiên Chúa; ngài thánh hoá khi ban bí tích Thánh tẩy, bí tích Thánh Thể và các á bí tích, ngài tham dự Thánh lễ trong tư cách một thừa tác viên của Máu Thánh, cất giữ và ban phát Mình Thánh; ngài là người hướng dẫn bao lâu ngài linh hoạt cộng đoàn hoặc một khu vực của đời sống Giáo hội.
Các phó tế là ứng viên của chức linh mục phải được đặc biệt tiếp đón khi họ phục vụ trong một giáo xứ. Trong sự thoả thuận với các vị lãnh đạo chủng viện, linh mục chính xứ phải là một người hướng dẫn và một vị thầy, ý thức rằng một sự tự hiến chân thành và trọn vẹn cho Đức Ki-tô về phần của một ứng viên chức linh mục, có thể tùy thuộc vào chứng tá gắn bó của mình vào căn tính linh mục, và vào lòng quảng đại có tính thừa sai khi ngài phục vụ và yêu mến giáo xứ.
Giống như hội đồng mục vụ của giáo phận, những tiên liệu của luật về việc thiết lập một hội đồng mục vụ ở bình diện giáo xứ, là phải được Giám mục xem xét là thuận lợi, sau khi hội ý với hội đồng linh mục. Nhiệm vụ cơ bản của một hội đồng đó là để phục vụ, ở bình diện tổ chức, việc cộng tác có trật tự của các tín hữu trong việc triển khai hoạt động mục vụ vốn dành riêng cho các linh mục. Vì thế hội đồng mục vụ là một cơ quan tư vấn trong đó người tín hữu, khi diễn tả tinh thần trách nhiệm phát xuất từ bí tích Thánh tẩy, có thể giúp đỡ linh mục chính xứ, là người đứng đầu hội đồng ấy, qua việc góp ý về những vấn đề mục vụ. Tín hữu giáo dân phải càng ngày càng xác tín hơn về ý nghĩa đặc biệt của sự dấn thân của họ trong việc tông đồ của giáo xứ; vì thế cần có một sự quý mến đầy xác tín, bao quát và dứt khoát hơn đối với Hội đồng mục vụ giáo xứ. Đây là những lý do rõ ràng về điều đó: trong hoàn cảnh hiện nay, người tín hữu giáo dân có khả năng làm nhiều chuyện và, vì thế, phải hết sức làm tăng trưởng một sự hiệp thông giáo hội đích thực trong các giáo xứ của họ, nhằm thức tỉnh lại lòng nhiệt thành thừa sai hướng về những người không tin và những tín hữu đã rời bỏ đức tin hoặc không gắn bó với đời sống ki-tô hữu.
Tất cả các tín hữu có quyền, đôi khi có cả nhiệm vụ nữa, là góp ý kiến về những vấn đề liên quan đến thiện hảo của Hội Thánh. Việc này có thể thực hiện qua những cơ chế đã được lập ra vì mục đích đó: […] hội đồng mục vụ có thể là một phương tiện hữu hiệu nhất… để đề nghị và gợi ý về những sáng kiến liên quan đến truyền giáo, huấn giáo và tông đồ [..] cũng như để cổ võ việc huấn luyện giáo thuyết và đời sống bí tích của các tín hữu; để hỗ trợ công tác mục vụ của các linh mục trong các hoàn cảnh xã hội và miền đất khác nhau; để tìm cách gây ý thức quần chúng tốt hơn v.v. Hội đồng mục vụ phải được nhìn trong mối liên hệ với bối cảnh tương quan phục vụ lẫn nhau giữa một linh mục chính xứ và tín hữu của ngài. Vì thế quả là vô nghĩa khi xem hội đồng mục vụ như một cơ quan thay thế linh mục chính xứ trong việc điều hành giáo xứ, hoặc như một cơ quan mà, trên cơ sở của đa số phiếu, bó buộc rõ ràng linh mục chính xứ trong việc hướng dẫn giáo xứ.
Theo các quy tắc của luật về sự quản trị đúng đắn và trung thực, các cơ quan được lập ra để phụ trách những vấn đề kinh tế trong một giáo xứ không thể áp lực trên vai trò mục vụ của linh mục chính xứ, vì ngài là vị đại diện và quản trị hợp pháp của các thiện ích của giáo xứ.
II. CÁC THÁCH ĐỐ TÍCH CỰC HIỆN NAY ĐỐI VỚI CÁC THỪA TÁC VỤ MỤC VỤ TRONG GIÁO XỨ
Bởi vì, vào lúc khởi đầu thiên niên kỷ mới, toàn thể Hội Thánh đã được mời gọi nỗ lực canh tân lại đời sống ki-tô hữu, đặt nền tảng trên ý thức về sự hiện diện của Đức Ki-tô sống lại giữa chúng ta, chúng ta phải nhìn thấy những hệ quả của lời mời gọi ấy trên việc chăm sóc mục vụ trong các giáo xứ.
Việc này không đòi hỏi sáng chế những chương trình mục vụ mới, bởi vì chương trình ki-tô giáo, xoay quanh Đức Ki-tô, luôn là một chương trình hiểu biết, yêu mến và noi gương Người, sống đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi trong Người, và với Người biến đổi lịch sử và đem đến chỗ thành toàn: Đó là một chương trình không thay đổi theo những biến chuyển của thời gian và văn hoá, dù nó có quan tâm đến thời gian và văn hoá nhằm đối thoại đúng đắn và hiệp thông cho có hiệu quả.
Trong chân trời mục vụ lớn lao và đòi hỏi của ngày hôm nay: Chính trong các Giáo hội địa phương mà các nét cụ thể của một chương trình mục vụ chi tiết có thể được xác định – mục tiêu và phương pháp, đào tạo và sự phong phú của người dân có liên quan, tìm kiếm những tài nguyên cần thiết – cốt để giúp cho việc loan báo về Đức Ki-tô tới với dân chúng, khuôn đúc cộng đoàn, và ảnh hưởng sâu xa và sắc bén trong việc đem những giá trị Tin mừng thấm nhập vào trong xã hội và văn hoá. Đó là chân trời của một công việc hứng thú là làm sinh động lại công tác mục vụ – một công việc liên quan đến tất cả chúng ta.
Thách đố mục vụ quan trọng và cơ bản nhất mà các linh mục phải đối diện trong giáo xứ đó là đem lại cho các tín hữu một đời sống thiêng liêng vững chắc đặt nền tảng trên các nguyên tắc của giáo thuyết ki-tô giáo như đã được các thánh áp dụng vào đời sống và dạy dỗ. Chương trình mục vụ phải đặt ưu tiên cho khía cạnh cốt yếu này của mọi hành động mục vụ. Ngày hôm nay, hơn bao giờ hết, cầu nguyện, đời sống bí tích, suy niệm, thinh lặng thờ lạy, đàm thoại thân mật với Chúa, thực thi hằng ngày các nhân đức làm chúng ta nên giống Người hơn, phải được tái khám phá, bởi vì những điều đó đem lại kết quả hơn bất cứ thảo luận nào, và cuối cùng là điều kiện cần thiết cho mọi thảo luận có hiệu năng.
Tông thư Novo Millennio inuente đặt ra bảy ưu tiên mục vụ: sống thánh thiện, cầu nguyện, cử hành Thánh lễ ngày Chúa nhật, bí tích Hoà giải, chỗ đứng hàng đầu của ân sủng, và lắng nghe và loan báo Lời. Những ưu tiên này đã trở nên hết sức rõ ràng từ kinh nghiệm Đại Năm Thánh. Chúng trao ban không những cho các linh mục chính xứ nhưng còn cho tất cả các linh mục dấn thân trong công việc cura animarum, nội dung và chất liệu cho những vấn đề mục vụ mà các ngài phải suy niệm cách thấu đáo. Chúng cũng cung cấp một tổng hợp về tinh thần mà việc canh tân công tác mục vụ phải tiếp cận.
Tông thư Novo millennio ineunte cũng nhấn mạnh đến một lãnh vực quan trọng khác mà Hội Thánh phổ quát và các Giáo hội địa phương phải dấn thân và đặt ra kế hoạch: lãnh vực hiệp thông (koinonia), lãnh vực này biểu thị và mạc khải chính bản chất của mầu nhiệm Hội Thánh và bao hàm việc cổ võ một linh đạo hiệp thông. Làm cho Hội Thánh trở thành ngôi nhà và trường học của hiệp thông: đó là thách đố lớn nhất mà chúng ta đối diện trong thiên niên kỷ mới khởi đầu, nếu chúng ta muốn trung thành với kế hoạch của Thiên Chúa và đáp trả những khao khát thâm sâu nhất của thế giới. Hơn nữa, nó cũng xác định rõ rằng trước khi đưa ra những kế hoạch thực hành, chúng ta cần cổ võ một linh đạo hiệp thông, bằng cách biến nó thành nguyên tắc hướng dẫn việc giáo dục nơi nào những cá nhân và ki-tô hữu được đào tạo, nơi nào các thừa tác viên của bàn thờ, các người thánh hiến, và những người làm mục vụ được rèn luyện, nơi nào các gia đình và các cộng đoàn đang được xây dựng.
Một công cuộc cổ võ mục vụ đích thực để các cộng đoàn giáo xứ chúng ta sống thánh thiện bao hàm một khoa sư phạm xác thực về cầu nguyện, một huấn giáo được canh tân, có sức thuyết phục và hữu hiệu về tầm quan trọng của ngày Chúa Nhật và việc cử hành hằng ngày Thánh lễ, chầu Mình Thánh Chúa cá nhân và cộng đoàn, thực hành thường xuyên việc xưng tội riêng, hướng dẫn thiêng liêng, sùng kính Đức Mẹ, noi gương các thánh, cũng như một sự dấn thân đổi mới và tông đồ để chu toàn hằng ngày các trách nhiệm của cộng đoàn và của cá nhân, chăm sóc mục vụ các gia đình, và kiên trì dấn thân trong lãnh vực chính trị và xã hội.
Việc canh tân mục vụ này sẽ không có được trừ phi được soi sáng, nâng đỡ và linh hoạt bởi những linh mục đã thấm nhuần cùng một tinh thần. Người tín hữu nhận được sự động viên lớn lao từ gương sáng và chứng tá của các linh mục. Họ có thể tái khám phá giáo xứ như là một trường học cầu nguyện trong đó việc gặp gỡ với Đức Giêsu Ki-tô không chỉ được diễn tả qua việc cầu xin trợ giúp nhưng cũng qua những hành vi tạ ơn, ca ngợi, thờ phượng, chiêm ngưỡng, lắng nghe trong tâm tình cầu nguyện, nhiệt thành yêu mến, cho đến độ yêu mến Người cách đích thực. Thật là tai hại khi ta quên rằng không có Đức Ki-tô chúng ta không thể làm được sự gì (x. Ga 15,5). Chính lời cầu nguyện làm chúng ta bám chặt vào sự thật này. Nó thường xuyên nhắc nhở chúng ta đến địa vị ưu tiên của Đức Ki-tô và, trong sự kết hiệp với Người, địa vị ưu tiên của đời sống nội tâm và sự thánh thiện. Khi nguyên tắc này không được tôn trọng, không có gì lạ khi các chương trình mục vụ chẳng đi đến đâu, thoát khỏi tay chúng ta, và còn gây ra một tâm trạng nản chí vì thất bại? Lúc ấy, chúng ta chia sẻ kinh nghiệm của các môn đệ trong tường thuật về mẻ cá kỳ diệu: “Chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì” (Lc 5,5). Đó là thời gian của đức tin, của lời cầu nguyện, của cuộc đàm thoại với Thiên Chúa, nhằm mở lòng chúng ta cho dòng nước của ân sủng và để cho lời của Đức Ki-tô đi qua chúng ta với tất cả sức mạnh của nó: Duc in altum!
Hiếm mà có được một người giáo dân tốt nếu không có các linh mục thật sự thánh thiện. Không có các ngài, mọi sự đều sững lại – cũng như không thể có một sự trổ hoa các ơn gọi nếu không có những gia đình ki-tô hữu là Giáo hội tại gia. Chính vì thế quả là sai lầm khi nhấn mạnh đến giáo dân mà lại coi nhẹ thừa tác vụ thánh. Sai lầm đó dẫn đến việc làm tổn hại người giáo dân và làm cho toàn thể sứ vụ của Hội Thánh không còn sinh hoa kết trái.
Việc tái khám phá lại trong các cộng đoàn chúng ta lời mời gọi phổ quát sống thánh thiện phải là nền tảng cho tất cả các chương trình mục vụ và định hướng cho việc lập kế hoạch. Linh hồn của mọi công việc tông đồ tùy thuộc vào đời sống thân mật với Thiên Chúa, đặt tình yêu của Đức Ki-tô lên trên hết, tìm kiếm vinh quang lớn hơn cho Thiên Chúa trong tất cả mọi sự, sống sự năng động quy ki-tô của lòng sùng kính Đức Ma-ri-a totus tuus. Việc đào tạo đời sống thánh thiện đặt chương trình mục vụ dưới dấu chỉ của sự thánh thiện và cấu thành thách đố mục vụ ưu tiên của thời đại ngày hôm nay. Trong Hội Thánh, tất cả mọi tín hữu đều được mời gọi nên thánh.
Dạy cho mọi người, và không mệt mỏi nhắc nhở rằng, thánh thiện là mục tiêu của đời sống ki-tô hữu, đó là điểm nòng cốt của khoa sư phạm nên thánh. Tất cả mọi người trong Hội Thánh, dù họ thuộc về cơ cấu phẩm trật hoặc được phẩm trật chăm sóc, đều được mời gọi nên thánh, theo lời dạy của thánh Tông đồ: “Vì đó là ý muốn của Thiên Chúa, việc thánh hoá anh em” (1 Tx 4,3; x. Ep 1,3). Đó là yếu tố đầu tiên cần được khai triển theo phương pháp sư phạm trong huấn giáo của Giáo hội, để ý thức về sự cần thiết mỗi người phải nên thánh trở thành một xác tín chung.
Loan báo tính phổ quát của lời mời gọi nên thánh đòi buộc rằng, đời sống ki-tô hữu phải được hiểu như là đi theo Đức Ki-tô, hoặc đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô. Sự đồng dạng này với Đức Ki-tô là chính bản chất của sự thánh hoá và là mục tiêu đặc biệt của toàn thể đời sống ki-tô hữu. Nhằm thực hiện mục tiêu này, mọi ki-tô hữu cần đến sự trợ giúp của Hội Thánh, bởi vì Hội Thánh đồng thời vừa là Mẹ vừa là Thầy dạy. Sư phạm về việc nên thánh là một mục tiêu vừa lôi cuốn, vừa có tính cách thách thức đối với tất cả những ai đang lãnh trách nhiệm điều hành và huấn luyện trong Hội Thánh.
Một sự dấn thân nhiệt thành, có tính cách truyền giáo cho công cuộc phúc âm hoá là một ưu tiên có tầm quan trọng đặc biệt cho Hội Thánh và, do đó, cho việc chăm sóc mục vụ của giáo xứ. Dù ở trong những nước đã được phúc âm hoá nhiều thế kỷ trước đây, thực tại của một xã hội ki-tô giáo, dù mang những yếu nhược luôn ấn dấu trên đời sống nhân loại, lượng giá chính mình cách minh nhiên dựa trên những giá trị Tin mừng, thực tại ấy giờ đây đã biến mất. Ngày hôm nay chúng ta phải can đảm đối diện với một hoàn cảnh càng ngày càng trở nên đa dạng và đòi hỏi, trong bối cảnh của toàn cầu hoá và của sự pha trộn mới và dễ thay đổi của các dân tộc và các nền văn hoá.
Trong xã hội hiện nay, được đánh dấu bởi chủ nghĩa đa nguyên văn hoá, tôn giáo và sắc tộc, chủ nghĩa tương đối, lãnh đạm, thoả hiệp giả tạo (irenicism), và chủ nghĩa hỗn hợp (syncretism), có vẻ là một số ki-tô hữu đã trở nên quen thuộc với một hình thức của Ki-tô giáo thiếu vắng bất kỳ quy chiếu nào về Đức Ki-tô và Hội Thánh của Người. Trong những hoàn cảnh ấy, sứ mệnh mục vụ bị giảm thiểu vào những quan tâm xã hội trong một viễn tượng thuần túy nhân học, thường đặt nền tảng trên một lời mời gọi mơ hồ là chủ trương hoà bình, chủ nghĩa đại đồng (universalism) hoặc một sự quy chiếu mơ hồ về các giá trị.
Phúc âm hoá thế giới hiện đại chỉ có thể xảy ra với việc tái khám phá căn tính cá nhân, xã hội và văn hoá của người ki-tô hữu. Điều đó bao hàm, vượt trên tất cả mọi sự, việc tái khám phá Đức Giêsu Ki-tô, Ngôi Lời nhập thể, và Đấng Cứu độ duy nhất của nhân loại. Xác tín căn bản này cởi trói cho sự dấn thân truyền giáo vốn phải là đặc tính riêng biệt của mọi linh mục, và qua ngài, của mọi giáo xứ hoặc cộng đoàn được giao phó cho ngài chăm sóc mục vụ. Chúng ta tin rằng hoàn toàn không thể có được một phương pháp mục vụ mà có thể được áp dụng, hoặc có thể thích ứng với mọi hoàn cảnh. Trước chúng ta, điều này đã là hiển nhiên trong lời dạy của thánh Grê-gô-ri-ô thành Na-di-an. Một phương pháp mục vụ duy nhất thì bị loại bỏ. Nhằm xây dựng mọi người trong đức ái, cần thay đổi các hình thái qua đó tâm hồn của người tín hữu có thể được đánh động, nhưng không thay đổi giáo thuyết. Vì thế, việc chăm sóc mục vụ đòi hỏi một thích nghi các hình thái nhưng loại trừ mọi thay đổi giáo thuyết.
Linh mục chính xứ phải luôn bảo đảm rằng các hiệp hội, phong trào hoặc nhóm khác nhau có trong giáo xứ sẽ góp phần riêng của mình vào nỗ lực truyền giáo của giáo xứ. Một khía cạnh quan trọng khác của hiệp thông là cổ võ các hình thức của hiệp hội, hoặc những loại truyền thống hơn hoặc những phong trào giáo hội mới hơn, tiếp tục trao ban cho Hội Thánh một sự sinh động vốn là quà tặng của Thiên Chúa và một mùa xuân đích thực của Thần Khí. Các hiệp hội và phong trào trong Hội Thánh, cả ở bình diện hoàn vũ lẫn địa phương phải luôn hành động trong sự hoà hợp hoàn toàn với Hội Thánh và tuân theo chỉ dẫn của các Chủ chăn hợp pháp của họ. Mọi hình thức của xu hướng dành riêng hoặc co cụm vào những nhóm riêng biệt phải ngăn ngừa trong cơ cấu giáo xứ bởi vì đặc tính thừa sai dựa trên xác tín, mà phải được mọi người chia sẻ, rằng Đức Giêsu Ki-tô có một ý nghĩa và một giá trị cho nhân loại và cho lịch sử của nó, giá trị duy nhất và độc nhất, riêng của một mình Người, độc quyền, phổ quát, và tuyệt đối. Đức Giêsu Ki-tô là Ngôi Lời của Thiên Chúa làm người để cứu độ nhân loại.
Hội Thánh tin cậy vào sự trung thành hằng ngày của các linh mục trong tác vụ mục vụ khi họ chu toàn sứ vụ rất cần thiết trong các giáo xứ được giao phó cho các ngài chăm sóc.
Đối với các linh mục chính xứ và các linh mục khác đang phục vụ trong các cộng đoàn khác nhau, chắc chắn là không thiếu những khó khăn về phương diện mục vụ, hoặc những kiệt quệ thiêng liêng và thể lý do quá tải hoặc thiếu sự quân bình mà cần đến thời gian để canh tân đời sống thiêng liêng và nghỉ ngơi phần xác. Cần phải nói rằng, thất vọng biết bao khi cơn gió trần tục hoá thường làm chết ngạt những hạt giống đã được gieo vãi với biết bao nỗ lực cao quý hằng ngày.
Một nền văn hoá trần tục ở quy mô lớn tìm cách cô lập người linh mục trong những phạm trù quan niệm riêng của nó và tước khỏi người linh mục chiều kích thần giao – bí tích, là nguyên nhân gây ra hiện tượng này. Nhiều hình thức ngã lòng có thể xuất phát từ đó và dẫn đến sự cô lập, những hình thức suy nhược (depressive fatalism), và duy hoạt động (scattered activism). Tuy nhiên, điều đó không ngăn cản con số đông đảo các linh mục của Hội Thánh, nhờ được các giám mục quan tâm nâng đỡ, đối diện những khó khăn của tình thế lịch sử hiện tại cách tích cực, và đã thành công trong việc dấn thân quảng đại trong công tác mục vụ và sống trọn vẹn căn tính linh mục.
Cũng có những nguy hiểm bên trong đối với thừa tác vụ linh mục: thói quan liêu, chức quyền (functionalism), dân chủ hoá, lập kế hoạch có tính cách quản trị hơn là mục vụ. Đáng tiếc thay, trong một vài hoàn cảnh, các linh mục có thể bị các cơ cấu chôn vùi, chúng chế ngự các ngài và không phải luôn là cần thiết, hoặc chúng gây ra những hậu quả tiêu cực về phương diện tâm sinh lý có hại cho đời sống thiêng liêng và chính tác vụ.
Giám mục có bổn phận phải hết sức cảnh giác trước những hoàn cảnh đó, bởi vì ngài là, trên tất cả mọi điều khác, một người cha đối với những cộng sự viên thân tín và quý báu nhất của ngài. Quả là cấp bách và cần thiết việc liên kết tất cả các sức mạnh của Giáo hội để chống trả cách hữu hiệu những tấn công thường nhắm đến các linh mục và tác vụ của các ngài.
Vì những hoàn cảnh hiện tại của đời sống Hội Thánh, các đòi hỏi của công cuộc phúc âm hoá mới, và xét đến sự đáp trả mà các linh mục được lời mời gọi nêu lên, Thánh bộ Giáo sĩ trao tặng tài liệu này như một phương tiện nhằm khuyến khích và thúc đẩy tác vụ của các linh mục được giao phó việc chăm sóc mục vụ cho các linh hồn trong các giáo xứ. Quả thế, sự tiếp xúc cách trực tiếp nhất của Hội Thánh với dân chúng thường xảy ra trong bối cảnh của giáo xứ. Vì thế, tư tưởng và quan tâm của chúng tôi hướng về linh mục trong tư cách là linh mục chính xứ. Ngài tái diễn sự hiện diện của Đức Giêsu Ki-tô trong tư cách là Đầu của Thân Thể mầu nhiệm, vị Mục tử nhân lành chăm nom từng thành viên một của đoàn chiên. Trong tài liệu này, chúng ta đã tìm cách nhấn mạnh mầu nhiệm và tính bí tích của tác vụ này.
Trong ánh sáng giáo huấn của Công đồng Va-ti-ca-nô II và Tông huấn Pastores dabo vobis, tài liệu này phải được xem như một tiếp nối của Kim chỉ nam về Thừa tác vụ và Đời sống của các linh mục, Huấn thị Liên Bộ Ecclesiae de mysterio, và Thư luân lưu Linh mục và Thiên niên kỷ ki-tô giáo thứ ba, Thầy dạy của Lời, Thừa tác viên của các Bí tích và Lãnh đạo của cộng đoàn.
Chỉ có thể sống hằng ngày tác vụ bằng phương thế nên thánh cá nhân; phương thế này phải luôn đặt nền tảng trên sức mạnh siêu nhiên của các bí tích Thánh Thể và Hoà giải.
Bí tích Thánh Thể là tâm điểm mà mọi sự phát xuất và quay về. (…) Qua các thế kỷ, vô vàn các linh mục đã tìm thấy trong bí tích Thánh Thể niềm an ủi mà Đức Giê-su đã hứa ban vào buổi chiều Tiệc ly, bí quyết để vượt thắng nỗi cô đơn, sức mạnh để chịu đựng mọi đau khổ, lương thực để làm một khởi đầu mới sau mọi nản lòng, năng lực nội tâm để nâng đỡ quyết tâm sống trung thành.
Sự tiến triển trong đời sống thiêng liêng và trong việc huấn luyện thường xuyên có thể được nâng đỡ rất nhiều nhờ tình huynh đệ giữa các linh mục, một tình huynh đệ không phải chỉ là có khả năng sống chung dưới một mái nhà, nhưng đòi hỏi phải hiệp thông trong lời cầu nguyện, chia sẻ các mục tiêu, cộng tác mục vụ, và sống tình bằng hữu hỗ tương giữa các linh mục và Giám mục của mình. Điều đó cũng giúp ích trong việc thắng vượt các thử thách và khó khăn khi thi hành tác vụ thánh. Mọi linh mục không chỉ cần đến sự trợ giúp trong tác vụ của người anh em của mình, nhưng cũng cần đến anh em vì họ là anh em của mình.
Trong số các phương thức khác, một ngôi nhà có thể lập nên trong giáo phận để tất cả các linh mục thỉnh thoảng rút lui về mà tĩnh tâm và cầu nguyện, hầu tiếp xúc lại với các phương tiện không thể thiếu được để nên thánh.
Trong tinh thần của phòng Tiệc ly, nơi mà các Tông đồ quy tụ và cầu nguyện với Đức Ma-ri-a, Mẹ Chúa Giê-su (Cv 1, 14), chúng tôi giao phó cho Mẹ những trang này được viết với lòng yêu thương và biết ơn đối với tất cả các linh mục đang thi hành việc chăm sóc các linh hồn trên khắp thế giới. Ước gì tất cả mọi người đang dấn thân trong việc chăm sóc mục vụ các linh hồn cảm nghiệm được sự đỡ nâng hiền mẫu của Nữ vương các Tông đồ và sống trong sự hiệp thông sâu xa với Mẹ. Chức tư tế thừa tác có một chiều kích lạ lùng và sâu sắc về sự gần gũi giữa Mẹ Đức Ki-tô [và các linh mục]. Quả là một nguồn an ủi lớn lao khi biết rằng Mẹ của Đấng Cứu chuộc, Đấng dẫn đưa chúng ta vào mầu nhiệm hi tế cứu chuộc của Chúa Con, luôn ở gần chúng ta. Ad Iesum per Mariam: ước gì đó là mục tiêu hàng ngày của đời sống thiêng liêng và mục vụ của chúng ta.
Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II đã phê chuẩn Huấn thị này và truyền phổ biến.
Rô-ma, Văn phòng Thánh bộ Giáo sĩ, ngày 4 tháng 8 năm 2002, Lễ thánh Gio-an Ma-ri-a Vianney, Cha Sở họ Ars, Quan thầy các linh mục chính xứ.
BỘ GIÁO SĨ
Tổng trưởng
Hồng y DARIO CASTRILLÓN HOYOS
Thư ký
CESBA TERNYAK Tổng Giám mục hiệu toà Eminenziana







