Lm Giuse Trương Đình Hiền
17/Sep/2017
DẪN NHẬP : ĐỂ CÓ ĐƯỢC QUÁ KHỨ LẪN TƯƠNG LAI
Nhà văn khoa học viễn tưởng người Mỹ, Robert A Heinlein (1907-1988), đã có một nhận định về lịch sử thật thâm thúy :
“Một thế hệ ngoảnh mặt lại với lịch sử là một thế hệ không có quá khứ – và cũng không có tương lai. (A generation which ignores history has no past and no future).
Sự kiện khai mạc Năm Thánh mừng kỷ niệm 400 năm loan báo Tin Mừng vừa qua của giáo phận, đã xác định thế hệ chúng ta không ngoảnh mặt lại với lịch sử ; và như thế, chúng ta có thể vững tin để tự khẳng định : “Chúng ta có quá khứ và có cả tương lai” ; và đó là điều được minh thị trong chính bài giảng khai mạc Năm Thánh chiều 26/7/2017 tại Làng Sông của Đức Cha Matthêô Nguyễn Văn Khôi, Giám mục giáo phận Qui Nhơn chúng ta. (Xin trích) :
“Thánh lễ hôm nay được cử hành tại khuôn viên chủng viện cổ kính Làng Sông, nơi xuất thân của một số Giám mục, biết bao linh mục và tông đồ giáo dân, giữa hai hàng sao đại thụ 125 năm tuổi, bên cạnh Tòa Giám mục ngày xưa, như chứng tích không phai nhòa của một lịch sử truyền giáo lâu dài, để dẫn đưa mỗi người chúng ta trở về nguồn, với tâm tình tri ân cảm tạ đối với Thiên Chúa, vì biết bao ơn lành Ngài đã ban xuống cho Giáo phận Qui Nhơn chúng ta trong suốt 400 năm qua, đồng thời cũng để ghi nhớ công ơn của các bậc tiền nhân đã hiến dâng mạng sống, nước mắt mồ hôi, cho công cuộc loan báo Tin Mừng trên quê hương đất mẹ Qui Nhơn.
Giờ đây Năm thánh được mở ra để mọi người con đất mẹ được dịp thể hiện những tâm tình ấy, đồng thời cũng để cầu xin Thiên Chúa tiếp tục ban ơn giúp đỡ để mỗi người chúng ta sống xứng đáng với bao hồng ân đã lãnh nhận và noi gương các bậc tiền nhân, tiếp tục làm cho hạt giống đức tin mà các ngài đã dày công gieo vãi được trổ sinh hoa trái dồi dào.” (Hết trích)
Và ý nghĩa này lại được củng cố thêm nơi diễn từ kết thúc Thánh lễ Khai Mạc của Đức Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli, Đại diện Tòa Thánh không thường trú tại Việt Nam : Xin trích :
“Cuộc hành trình đức tin mà anh chị em đang tiến bước là con đường dài. Từ Rôma đến Qui Nhơn, chúng ta có thể nhìn thấy và cử hành với niềm vui trên con đường đức tin của mình. Tuy nhiên, việc kỷ niệm thời điểm lịch sử này chỉ đạt được ý nghĩa trọn vẹn khi chúng ta có một cam kết dấn thân cho công cuộc Tân Phúc Ấm hóa….
Do đó, việc cử hành lễ kỷ niệm 400 năm sẽ không chỉ dừng ở việc nhìn lại lịch sử của Giáo phận anh chị em. Năm kỷ niệm này mở ra cơ hội trông chờ nơi anh chị em việc canh tân cam kết trở thành những sứ giả cho công cuộc Tân Phúc Âm hóa.” (Hết trích)
Nhưng, “không ngoảnh mặt lại với lịch sử” lại không đồng nghĩa với “hiểu biết lịch sử”. Bởi vì, nếu chỉ mới dừng lại ở thích lịch sử, yêu lịch sử, có lòng với lịch sử, hướng về lịch sử…mà không biết chút xíu nào về lịch sử, thì lại là điều đáng trách, như cách nhận định “thẳng thừng” của Marcus Tullius Cicero[1] :
“Dốt nát về những chuyện xảy ra trước khi ta sinh chẳng khác nào luôn luôn mãi là đứa trẻ”.
(Nescire autem quid antequam natus sis acciderit, id est semper esse puerum).
Trong Năm Thánh hồng ân mừng kỷ niệm 400 này, lịch sử mà chúng ta cần biết, cần học lại không phải là những di sản tinh thần mà bao thế hệ cha ông, đặc biệt, các thế hệ thừa sai, các vị tông đồ, đã dày công thực hiện để hạt giống Tin Mừng trỗ sinh trên quê hương giáo phận chúng ta sao ?
Chủ đề của cuộc Thường Huấn năm nay đã là câu trả lời chính xác.
Và cũng để góp phần cho “câu trả lời chính xác đó”, xin được mạo muội chia sẻ cùng quý cha một góc nhỏ về một “dữ liệu lịch sử quan trọng” trong công cuộc truyền giáo và xây dựng nền tảng cho Giáo Hội Việt Nam nói chung và giáo phận Qui Nhơn chúng ta nói riêng.
“Góc nhỏ” đó sẽ mang tựa đề : TÌM LẠI KHO TÀNG BỊ LÃNG QUÊN, mà nội dung chủ yếu sẽ là cuộc “đánh giá lại” vai trò và ảnh hưởng to lớn của một văn kiện có thể nói được là “định hướng mục vụ nền tảng” cho công cuộc truyền giáo tại Á Châu cách đây 4 thế kỷ. Đó chính là “HUẤN THỊ 1659”[2] của Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin.
Sỡ dĩ nhấn mạnh yếu tố “BỊ LÃNG QUÊN”, hoặc :
– vì người Á Đông chúng ta hay mang định kiến “bụt nhà không thiêng” nên gần như ít quan tâm, tiếp cận các tư liệu, văn kiện thuộc “nhà mình”, của quê hương mình ; hoặc,
– vì : cái não trạng chung “Rôma là trên hết” nên những gì “ngoài Rôma” thường bị xem nhẹ, không đáng kể.
Nói thì phải có sách và mách thì phải có chứng.
– Với cái “vì” đầu tiên, nếu chịu khó đọc hết Tông Huấn “Giáo Hội tại Á Châu”, một văn kiện liên quan trực tiếp tới công cuộc truyền giáo tại Á Châu, chúng ta chỉ tìm ra vỏn vẹn một đoạn văn ngắn duy nhất sau đây có nhắc thoáng qua đến văn kiện quan trọng nầy : “Công lao Tông Đồ của Thánh Phanxicô Xavie, sự thành lập Hội Truyền Bá Đức Tin đời Giáo Hoàng Gregorio XV, và những chỉ dẫn cho các vị thừa sai biết tôn trọng và đánh giá cao những văn hóa địa phương, tất cả góp phần hoàn thành những thành quả tích cực trong vòng các thế kỷ XVI và XVII.”[3].
Trong khi đó, mới đây thôi, có một sự kiện lớn liên quan đến công cuộc truyền giáo tại Á Châu là Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu tại Chiang Mai, Thái Lan, từ ngày 18 đến 22/10/2006 (Asian Mission Cogress in Chiang Mai, Thailand), có rất nhiều tham luận chuyên đề, chia sẻ, thuyết trình… trong đó có cả đại diện của Giáo Hội Việt Nam, nhưng hầu như cũng không thấy nơi nào nhắc đến văn kiện liên quan trực tiếp đến lịch sự truyền giáo tại Á Châu nầy ![4]
– Với cái “vì” thứ hai thì gần như chúng ta có “đốt đuốc” đi tìm cho hết các văn kiện của Vatican II, nhất là những văn kiện liên quan đến mục vụ truyền giáo hay tác nhân truyền giáo như Sắc lệnh về Truyền Giáo “AD Gentes”, Giám Mục (Christus Dominus), Đào tạo linh mục (Optatam Totius)… cũng khó mà tìm ra được chỗ nào nhắc đến những định hướng về truyền giáo rất hợp thời, rất cần thiết, rất thông minh…của “kho tàng” quý giá mà chúng ta đang đề cập đến.
Á Châu mà ! Có gì hay đâu !
Sự lãng quên đáng tiếc nầy đã được chính một linh mục giáo sư của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt, cha F. Gomez (Ngô Minh) đã xác nhận trong thiên khảo luận về Truyền Giáo Học của ngài đăng trong số báo Hợp Tuyển Thần Học số 31 :
“Tiếc là sau này Bộ và Tòa thánh đã quên bẵng đi văn kiện ấy. Chỉ thành công trong việc cổ vũ công tác đào tạo hàng giáo sĩ địa phương.”[5]
Và cái giá cho sự lãng quên, coi thường đó chính là sự thất bại, như bình luận của tu sĩ Mario Menin[6] trong bài khảo luận : LỊCH SỬ VÀ CÁC KHUÔN MẪU TRUYỀN GIÁO[7], khi nhắc đến khía cạnh “Hội Nhập Văn Hóa” của Huấn Thị 1659 :
“Khi ôn lại các chặng đường loan báo Tin Mừng tại Châu Á vào thời cận đại, giữa thế kỷ XVI-XVII, chúng ta có cảm giác là đọc lại lịch sử của một cuộc thất bại nặng nề khi so sánh với những thành quả thâu lượm được tại Châu Mỹ. Tại sao vậy? Bởi vì các nước Châu Á (ngoại trừ nước Philippines) không phải là thuộc địa của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, cho nên không chịu ảnh hưởng của đường lối cưỡng bách cải đạo? Hay là tại vì những cuộc bách đạo dữ dội tại Châu Á đã làm ngăn cản việc trở lại đạo? Hay là vì kế hoạch “hội nhập văn hóa” của vài thừa sai đã thất bại?”
Còn Giáo Hội Việt Nam chúng ta thì sao ? Trước những định hướng nói được là liên quan trực tiếp đến “cái thuở ban đầu” của công cuộc loan báo Tin Mừng cho quê hương đất nước chúng ta và cả cho đến hôm nay, chúng ta đã tiếp cận, học hỏi và áp dụng được gì ?
Rất may, trong dịp Giáo Hội Việt Nam mở Năm Thánh mừng 50 năm thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam (1960-2010) và 350 năm thiết lập hai Giáo phận Tông Tòa đầu tiên (1659-2009), trong tài liệu học hỏi Năm Thánh, đã có nhắc đến văn kiện “Huấn Thị 1659” nơi phần “NHÌN LẠI CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ GIÁO HỘI HÌNH THÀNH TẠI VIỆT NAM”. (Xin trích) :
“Phương pháp truyền giáo ở các nơi đều phải tuân theo sự hướng dẫn của Thánh Bộ, dựa trên bản Huấn Thị 1659, với những chỉ thị tích cực: “Các thừa sai phải được huấn luyện theo luật bác ái Tin Mừng, biết thích nghi với phong tục và tính tình người khác… Công việc trước mắt của chư huynh là đưa những người địa phương, xứng đáng lên chức linh mục và cả giám mục nữa… Hãy rao giảng cho tín hữu bổn phận trung thành với chính quyền… Ðừng đưa vào nước họ đất nước của mình, mà là Ðức Tin, Ðức Tin này không hề khai trừ hay làm tổn thương những nghi lễ tập tục của bất cứ dân tộc nào cả…”. (Hết trích).
Chúng ta không quên, 12 năm trước – 1998, Cố Giám Mục Thanh Hóa, Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm, đã nêu bật cũng chính nội dung trên trong bài phát biểu tại Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu. Xin trích :
“Chắc hẳn Tòa Thánh đã không quên nhắc lại cho các nhà truyền giáo rằng không nên lẫn lộn công cuộc rao giảng Phúc Âm với công cuộc Tây Phương hóa. Nhưng Huấn Thị năm 1659 dành cho những vị Giám Quản Tông tòa đầu tiên, đã nói rõ ràng về điểm nầy”[8] (Hết trích)
Tuy nhiên, tiếc một điều, chúng ta cũng chỉ mới dừng lại việc “nhắc lại” một sự kiện, như đọc lại tờ di chúc, nhìn lại bức chân dung…mà chưa đào sâu khám phá và tiếp tục áp dụng cụ thể vào công cuộc truyền giáo của chúng ta hôm nay !
Phải chăng đây là chuyện đã quá lâu rồi ! Đây là tư liệu đã lỗi thời rồi phải không ?
Không đâu quý cha. Vẫn còn mới mẻ, vẫn luôn hợp thời.
Và giờ đây, để nhận ra cái “mới mẻ, hợp thời” của “kho tàng bị lãng quên” đó, chúng ta thử lần mò theo lộ trình sau đây :
PHẦN I : NHỮNG ĐIỂM HẸN GIAN NAN THUỞ ẤY
(Một thoáng nhìn về bối cảnh truyền giáo tại Á Châu – Việt Nam vào thế kỷ 16-17)
1. Á Châu : vùng đất và những con đường còn hoang hóa :
a/. Tin mừng trôi dạt theo những “cánh buồm”.
b/. Chế độ “Bảo Trợ truyền giáo” và những “công cụ trần tục” đã hết thời.
2. Cuộc “cách mạng truyền giáo” của Giáo Hội.
a/. Giáo Hội nhìn thế giới bằng một nhãn quan mới.
b/. Viễn kiến mục vụ thức thời của Công Đồng Trento.
c/. Cuộc “cách mạng” khởi đi từ trung tâm.
d/. Người “hoa tiêu” lái con tàu Thánh Bộ.
e/. Định hướng nền tảng để xuất phát :
PHẦN II : TÌM LẠI KHO TÀNG BỊ LÃNG QUÊN
(Những giá trị tích cực sống mãi qua dòng thời gian)
A. GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT
1. Bản dịch Việt ngữ ngữ đang được lưu hành.
2. Huấn Thị 1659 đã ra đời như thế nào ?
3. Bố cục tổng quát.
B. PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ
1. Lượng giá tổng quát.
2. Những giá trị vượt thời gian
– Truyền giáo và việc đào tạo nhân sự.
– Truyền giáo và sự cảnh giác tinh thần thế tục.
– Truyền giáo và việc hội nhập văn hóa.
KẾT LUẬN : CŨ VÀ MỚI TỪ TRONG KHO TÀNG (Mt 13,52).







