BÀI  HAI

MẠC KHẢI VỀ CẦU NGUYỆN TRONG CỰU ƯỚC.

(GLHTCG 2566-2597)

*   TRUYỆN MINH HỌA:

Sách Sáng Thế ghi lại: ngay sau khi nguyên tổ phạm tội, Thiên Chúa đã hiện đến hỏi những người con đầu tiên của Người: “Ngươi đang ở đâu?…Ngươi đang làm gì?…” (x St 3,9-13). Cuộc đối đáp đó giữa Thiên Chúa với ông bà nguyên tổ đã cho thấy rõ ý định của Thiên Chúa, là muốn gặp gỡ và trò chuyện với con người, cho dù con người đã phản bội, lánh mặt Chúa. Cuộc đối đáp này là một trong những mặc khải đầu tiên về cầu nguyện.

*     LỜI CHÚA:

Lời Chúa trong sách Sáng Thế.

“Có lời Đức Chúa phán với ông Áp-ram trong một thị kiến: ‘Hỡi Áp-ram, đừng sợ, Ta là khiên che thuẫn đỡ cho ngươi, phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn lao’. Ông Áp-ram thưa: ‘Lạy Đức Chúa là Chúa Thượng, Chúa sẽ ban cho con cái gì? Con ra đi mà không con cái, và người thừa tự gia đình con là một người Đa-mát, tên là Ê-li-e-de’. Ông Áp-ram nói tiếp: ‘Chúa coi, Chúa không ban cho con một dòng dõi, và một gia nhân sẽ thừa kế con’. Và đây có lời Đức Chúa phán với ông: ‘kẻ đó sẽ không thừa kế ngươi, nhưng một kẻ do chính ngươi sinh ra mới thừa kế ngươi’…”.

*     DIỄN GIẢI:

MỌI NGƯỜI ĐƯỢC MỜI GỌI CẦU NGUYỆN

Lời Chúa cho thấy một kiểu mẫu cầu nguyện qua cuộc trò chuyện, giao kết thân tình giữa Thiên Chúa và tổ phụ Abraham. Thực ra, dù đã phạm tội làm mất nét giống Thiên Chúa, con người vẫn còn mang hình ảnh của Đấng Sáng tạo, nên họ vẫn hướng về Thiên Chúa, và nhất là Thiên Chúa vẫn luôn đi bước trước để kêu gọi con người đến gặp Người trong cầu nguyện. Cầu nguyện được gắn liền với lịch sử loài người, và là tương quan giữa con người với Thiên Chúa trong các biến cố lịch sử.

Sau đây, chúng ta tìm hiểu những nét nổi bật của mặc khải về cầu nguyện qua một số nhân vật lịch sử nổi bật trong Cựu Ước.

CẦU NGUYỆN TRONG CỰU ƯỚC.

Trong giao ước bất diệt với mọi sinh linh, Thiên Chúa luôn mời gọi con người cầu nguyện: chín chương đầu của Sáng thế Ký mô tả việc cầu nguyện, khởi đi từ các thụ tạo,  dưới hình thức lễ vật của Abel, của Ênóc … Nhưng đặc biệt, từ tổ phụ Abraham, cầu nguyện đã thực sự được mặc khải.

  1. Abraham và Giacob với lời cầu nguyện tin tưởng vào lời hứa của Thiên Chúa:

Tổ phụ Abraham và Giacob đã là những tấm gương nổi bật về cầu nguyện trong niềm tin vào lời hứa của Thiên Chúa:

  1. a. Abraham:

1.a.1. Thái độ và tinh thần cầu nguyện căn bản của Abraham:

Tuân phục: Abraham đã lắng nghe lời Thiên Chúa và quyết định tuân phục thánh ý Chúa. Đó là thái độ và tinh thần cầu nguyện căn bản của ông: đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, ông ra đi bỏ lại quê cha đất tổ, nhà cửa và những người thân quen chỉ vì tin tưởng tuyệt đối vào lời hứa của Thiên Chúa.

Hiến tế: Thái độ và tinh thần cầu nguyện này đạt đến tột đỉnh, khi ông chấp nhận cuộc thanh luyện cuối cùng là giết tế Isaac. Chính nhờ đó, ông đã nên giống với Thiên Chúa, Đấng đã không quản hy sinh Con Một mình để cứu độ nhân loại. Trong tinh thần hiến dâng này, lời cầu nguyện của ông được tham dự vào quyền năng của Thiên Chúa, đem lại hồng ân cứu độ. Đó cũng là tinh thần mà Thiên Chúa muốn nơi mỗi Kitô hữu khi cầu nguyện.

1.a.2. Hình thức cầu nguyện của Abraham:

– Ban đầu, Abraham cầu nguyện bằng việc làm: cứ mỗi chặng dừng chân, ông lại dựng bàn thờ kính Chúa;

– Về sau, ông mới cầu nguyện bằng lời: ông than thở, kín đáo nhắc Chúa nhớ đến lời hứa chưa được thực hiện (x St 15,2-3).

– Hòa theo lòng thương xót của Thiên Chúa, Tổ phụ cũng mạnh dạn cầu thay cho đoàn dân, như khi ông kèo nài Thiên Chúa, để  xin Chúa tha phạt cho dân thành Sôđôma (x. St 18,16-33).

1.b. Giacob:

Cầu nguyện là cuộc chiến đức tin.

Qua giấc mơ “Giacob vật lộn với Thiên Chúa” (St 32, 24-30), ta thấy chứa đựng bài học: bước vào đời cầu nguyện là bước vào cuộc chiến đức tin, phải kiên trì mới chiến thắng được.

  1. Môisen với lời cầu nguyện của vị trung gian để chuyển cầu cho Dân Chúa:

2.1. Thiên Chúa gọi Môsê từ bụi gai đang cháy, hình ảnh hàng đầu của cầu nguyện: Thiên Chúa  đã chọn gọi Môsê và sai ông đi để ông cộng tác với Người trong viêc thương xót và cứu độ (x.Xh 3,1-10). Cuộc đối thoại này đúng là một mô hình của cầu nguyện: Thiên Chúa cũng đi bước trước, Người tôn trọng, nài nỉ, tín nhiệm và mặc khải tên Người cho Môsê; còn Môsê: ban đầu từ chối, rồi thắc mắc, đòi hỏi, nhưng cuối cùng, ông đã thuận theo ý Thiên Chúa.

2.2. Môsê với lời cầu nguyện chiêm niệm:

“Thiên Chúa đàm đạo với Môsê, mặt giáp mặt, như hai người bạn với nhau” (Xh 33, 11); còn ông Môsê trò chuyện thường xuyên và lâu giờ với Chúa: ông lên núi để lắng nghe và cầu khẩn Chúa, sau đó ông xuống với dân để nói lại cho họ những lời Thiên Chúa và hướng dẫn họ. Cách cầu nguyện của Môsê là khuôn mẫu cầu nguyện chiêm niệm.

2.3. Môsê với lời cầu nguyện chuyển cầu:

Nhờ sống thân mật với “Thiên Chúa thành tín, chậm bất bình và giàu lòng thương xót” (x.Xh 34,6), Môsê đã tìm được sức mạnh để kiên trì chuyển cầu cho dân: như khi họ chiến đấu với quân Amalec; ông cầu cho Miriam được khỏi phong cùi; ông đem thân cản cơn thịnh nộ của Thiên Chúa (Tv 106, 3). Đây là hình ảnh báo trước lời chuyển cầu của Đấng Trung Gian duy nhất là Đức Giêsu Kitô. Cách cầu nguyện của Môsê là khuôn mẫu cầu nguyện chuyển cầu.

  1. Đavid và lời cầu nguyện của vị vua:
    • Các vị lãnh đạo (các mục tử và ngôn sứ) có trách nhiệm dạy Dân Chúa biết cầu nguyện. Nhờ đó, Kinh nguyện của Dân Chúa được triển nở dưới bóng Khám Giao Ước và Đền thờ, như trường hợp của Samuel.
    • Cách riêng là vua Đavid, vị vua đẹp lòng Thiên Chúa hơn hết, lời cầu nguyện của vua là lời cầu nguyện cho dânnhân danh toàn dân.
    • Qua các Thánh Vịnh, Đavid được Thánh Thần linh ứng và đã trở thành vị ngôn sứ hàng đầu của truyền thống cầu nguyện Kitô giáo.
    • Đavid luôn cầu nguyện với tâm tình: vâng phục Thánh ý, ca ngợi, sám hối, gắn bó, tín thác vào lời Chúa hứa, yêu mến, hân hoan trong Đức Chúa duy nhất (x. 2 Sm 7, 18-29).
  1. Elia và các ngôn sứ với lời cầu nguyện hoán cải tâm hồn:
  • Những bài học, về cầu nguyện với Thiên Chúa, Đấng vô cùng thánh thiêng nhưng cũng rất gần gũi, đã được Dân Chúa hấp thụ nơi Đền thờ, qua các cuộc hành hương, lễ hội, tế lễ, dâng hương… Nhưng, qua thời gian dài, Dân Chúa đã quá coi trọng những nghi lễ bề ngoài. Vì vậy, Thiên Chúa, trước và sau thời lưu đầy, đã sai các ngôn sứ tới để huấn luyện họ cầu nguyện.
  • Ngôn sứ Êlia, “tổ phụ” của các ngôn sứ, đã giúp họ biết: cầu nguyện không phải chỉ là thực hiện những nghi lễ bề ngoài, mà là hoán cải tâm hồn, là “kiếm tìm Thánh Nhan Thiên Chúa” (x. Tv 24, 6).
  • Cầu nguyện của Êlia: là lời cầu nguyện trong niềm tin vững vàng vào lời Thiên Chúa (bà góa Sarepta); là lời khẩn cầu với Thiên Chúa: “Xin đáp lời con, lạy Chúa, xin đáp lời con” (trên núi Carmel. x. 1 V 18, 37-38); là lắng nghe tiếng Thiên Chúa từ “trong hốc đá” nơi sa mạc. Nói chung, khi cầu nguyện, các Ngôn sứ không chạy trốn thế gian, nhưng chăm chú nghe Lời Thiên Chúa; đôi khi các ngài than thở và biện bạch, nhưng chủ yếu là chuyển cầu cho dân, và chuẩn bị cho Đấng Cứu Thế (Am 7, 2.5).
  1. Các Thánh Vịnh, lời cầu nguyện của cộng đoàn:

5.1. Xuất xứ:

Thánh vịnh là tuyệt tác cầu nguyện của Cựu ước: bắt đầu từ thời vua Đavid cho đến thời Chúa Giêsu, những lời cầu nguyện cho mình, cho tha nhân càng sâu sắc hơn. Được vang lên ở Thánh địa hoặc ở các cộng đoàn tản mác khắp nơi, trong những đại lễ tại Giêrusalem hoặc trong  những ngày Sabat tại Hội đường. Được thâu tập thành bộ 5 cuốn “Những bài ca ngợi”.

5.2. Nội dung:

Trong Thánh vịnh, Lời Chúa trở thành lời cầu nguyện của con người….., do tác động của Chúa Thánh Thần.

Thánh vịnh luôn phản chiếu những kỳ công của Thiên Chúa và những hoàn cảnh, những suy tư và kinh nghiệm nhân sinh.

Thánh vịnh vừa dưỡng nuôi vừa diễn tả tâm tình cầu nguyện của Dân Chúa, vừa làm thành lời cầu nguyện của Dân Chúa; vừa có tính cá nhân (vd. Tv 50: tâm tình sám hối của vua Đavid), vừa có tính cộng đoàn (vd. Tv 95: muôn dân hát mừng Chúa là vua hiển trị); vừa tưởng niệm những điều vĩ đại Chúa đã hứa, đã làm (Tv 77), vừa trông đợi Đấng Cứu thế sẽ đến; Thánh vịnh vừa được Chúa Kitô dùng để cầu nguyện (Vd. lời của Tv. 22, 2 trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Chúa bỏ con”, Mt 27, 46), để rao giảng (vd. Tv 110,1 trong Mt 12, 44), vừa được thực hiện trọn vẹn nơi chính Chúa Kitô (Tv 110,1 / Mt 26, 64), vì thế, Thánh vịnh cũng là lời kinh thiết yếu của Hội Thánh.

5.3. Hình thức:

– Đa dạng: Thánh vịnh được sáng tác dưới nhiều hình thức như: thánh thi, lời kêu cầu, bài ca cung đình, khúc hát hành hương, bài suy niệm giáo huấn.

– Bình dị: mọi người, trong mọi hoàn cảnh, ở mọi thời có thể dùng để cầu nguyện. Thánh vịnh là lời kinh của mọi thời đại, (vd. Tv 50, lời kinh sám hối của mọi thời đại: “Chúa nhân từ, xin lắng nghe linh hồn con tha thiết, ăn năn kêu van, lạy Chúa xin dủ thương…”).

5.4. Đặc điểm: Thánh vịnh:

– Luôn là lời cầu nguyện đơn sơ, tự phát.

– Luôn nói lên nỗi niềm khao khát Thiên Chúa, qua và với vũ trụ kỳ diệu.

– Luôn nói lên niềm tin yêu, chờ đợi nơi lời hứa, nơi tình yêu và Thánh ý Thiên Chúa cho dù người tín hữu có gặp bao gian truân (Tv 102), đau khổ, cám dỗ, thù địch (Tv 54: “Xin ơn phù giúp”).

– Luôn sinh động nhờ tâm tình ca ngợi, vì vậy “Thánh vịnh là lời chúc tụng trên môi Dân Chúa, là lời cộng đồng ngợi khen Thiên Chúa, lời tung hô của muôn người, lời của muôn lòai, tiếng nói của Hội thánh, lời tuyên xưng đức tin thật du dương” (T. Ambrôsiô).

*    TÓM LƯỢC:     

            (Trích Bản Toát Yếu SGLHTCG)

  1. Ông Abraham là mẫu gương về cầu nguyện như thế nào?

                Ông Abraham là mẫu gương về cầu nguyện bởi vì ông bước đi trước nhan Thiên Chúa, lắng nghe và vâng phục Ngài. Lời cầu nguyện của ông là một cuộc chiến đấu của đức tin, vì ngay cả khi bị thử thách, ông vẫn xác tín vào sự trung thành của Thiên Chúa. Ngoài ra, sau khi đón tiếp Chúa trong lều của mình và được Chúa cho biết dự định của mình, ông cả dám chuyển cầu cho các kẻ tội lỗi với một lòng tin tưởng bạo dạn.

  1. Ông Môsê đã cầu nguyện như thế nào?

                Lời cầu nguyện của Môsê tiêu biểu cho lời cầu nguyện chiêm niệm. Thiên Chúa Đấng đã gọi ông từ Bụi Gai bốc cháy, tiếp xúc thường xuyên và lâu giờ với ông “mặt giáp mặt như hai người bạn với nhau”(Xh 33,11). Trong tình thân mật với Thiên Chúa, ông Môsê múc được sức mạnh để kiên trì chuyển cầu cho dân mình: như vậy, lời cầu nguyện của ông tiên trưng cho lời chuyển cầu của Đấng Trung Gian duy nhất là Đức Kitô.

  1. Cầu nguyện có vai trò gì trong sứ vụ của các tiên tri?

Nhờ cầu nguyện, các tiên tri tìm được ánh sáng và sức mạnh để thúc đẩy dân chúng tin tưởng và hoán cải tâm hồn. Các ngài sống trong sự thân mật sâu xa với Thiên Chúa và chuyển cầu cho anh chị em của mình, là những người được các ngài loan báo điều họ đã thấy và đã nghe từ nơi Thiên Chúa…

  1. Các Thánh Vịnh có tầm quan trọng thế nào trong kinh nguyện?

Các Thánh Vịnh là tột đỉnh của kinh nguyện trong Cựu Ước: Lời Thiên Chúa đã trở thành lời cầu nguyện của con người. Vừa mang tính cá nhân vừa mang tính cộng đoàn, và được Thánh Thần linh hứng, các Thánh Vịnh ca ngợi Thiên Chúa trong công trình tạo dựng và trong lịch sử cứu độ. Đức Kitô đã cầu nguyện bằng các Thánh Vịnh và đã đưa các Thánh Vịnh đến mức toàn hảo. Vì thế, các Thánh Vịnh luôn luôn là một yếu tố chính yếu và thường xuyên trong kinh nguyện của Hội Thánh; các Thánh Vịnh thích hợp cho con người trong mọi hoàn cảnh và qua mọi thời gian.

*   CÂU THẢO LUẬN:

  1. Tìm hiểu những kiểu cách cầu nguyện của các nhân vật trong Cựu Ước, bạn cảm kích trước kiểu cách nào nhất, vì sao?
  2. Là giáo lý viên, bạn có “cầu nguyện chuyển cầu” cho các em chưa, kết quả ra sao?
Phần trước Phần tiếp