Tôi có thể nói rằng : trong số những người Dân tộc miền Di-linh, tôi là người đã có cơ hội sống gần gũi Cha Giuse Phùng Thanh Quang nhiều hơn cả, một phần vì tôi là một chủng sinh, nên tôi đã cùng ăn cùng uống, cùng vui cùng buồn với ngài, và không ít lần bị ngài mắng cho vì tội “mấy thấy nó đây mà nó đi mất tiêu đâu rồi…..”, do vậy tôi có rất nhiều kỷ niệm về một người Cha.

Nếu ngài được nhìn nhận là một con người vĩ đại theo một sự nhận xét, thì tôi lại cảm nghiệm và nói với một từ ngữ mà nội dung cũng gần với từ ngữ ấy, đó là một con người có một tâm hồn lớn mà tôi đã may mắn được sống gần gũi suốt trên ba thập kỷ qua.

Tôi xin kể lại một câu chuyện đặc trưng :

Tôi nhớ rất rõ ngày hôm ấy, khi đất nước sắp chuyển qua một giai đoạn lịch sử khác, khi mà mọi người ùn ùn di tản khỏi miền Di-linh, tôi đến gặp Ngài và Ngài hỏi tôi :

–       “Anh có đi không ?”

Tôi trả lời rằng :

–       Thưa Cha, con không đi.

Sau đó tôi đến ở với một Linh mục thuộc hội Thừa sai Balê là Cha Christian Grison, ở nhà thờ cách đó khoảng 3 cây số, thế rồi chiến tranh và bom đạn làm tôi có cảm giác khiếp sợ. Hôm ấy là ngày Thứ sáu Tuần thánh, phía bên kia đã lấp ló đâu đó trong khu phố càng tăng thêm sự khiếp sợ. Để tránh những rắc rối có thể xảy ra Ngài đã đi lánh nạn sang trại cùi Di-linh, cách khoảng 4 cây số, và vì Ngài biết tôi là thằng nhát nên Ngài đã ghé qua giáo xứ bên cạnh nơi tôi đang ở và dẫn tôi đi lánh nạn với Ngài luôn, hai cha con chúng tôi đang băng qua giữa đồng ruộng thì máy bay trút bom vang rền cả một góc trời, cột khói bóc cao như núi, chúng tôi cảm giác rằng : thế là chiến tranh đang đến gõ cửa nhà mình rồi !

Từ trên làng cùi nhìn về thị trấn Di-linh chúng tôi quan sát rất rõ những diễn biến, những trận bom pháo, những trận đánh giữa đôi bên, những chiếc xe tăng T54 bò đi và bắn…bắn những tràng liên thanh.

Khi ấy Ngài khoảng độ trên 50 một chút, và vào một buổi tối mà tôi nhớ rất rõ là tối Thứ Bảy Tuần Thánh năm 1975, sau khi cơm tối xong Ngài rủ tôi đến ngồi gần một góc chuối gần khu nghĩa địa làng Cùi để tiếp tục quan sát những diễn biến xảy ra, chúng tôi thấy đạn bắn qua bắn lại đỏ rực cả một góc trời, và rồi một viên đạn lạc hướng sẹt ngay vào góc chuối mà cha con chúng tôi đang ngồi, ngài lập tức đứng dậy và nói : “Thôi, thôi, đi về thôi….”, cha con chúng tôi vừa về đến gần mộ của Đức Cha Cassaigne thì thấy một người vừa thở vừa chạy tới một cách hớt hải, chúng tôi dừng lại thì mới biết rằng đó là anh Trần văn Cư, từ bên nhà thờ Brăh-Yàng cách đó 4 cây số, anh liền nói với Cha Giuse rằng :

– “Cha ơi, Cha Grison đang bị thương rất nặng, nếu không cấp cứu cho Ngài thì Ngài sẽ chết đêm nay.”

Lúc ấy chung quanh phố xá mọi người đều đã đi lánh nạn từ mấy hôm trước, nên chẳng có một ai có thể giúp đỡ được.

Không chần chừ, Cha bảo với anh em chúng tôi rằng : “Đi khiêng Cha sang bên này ngay bây giờ…….!”, tôi đã là một thằng nhát gan rồi mà nghe Cha nói phải đi khiêng Cha Grison từ trong vùng lửa đạn ra thì lại càng thêm run sợ cầm cập, thế nhưng Ngài ra uy bảo tôi phải đi, nên tôi cùng với một vài thanh niên bên làng cùi bèn lấy lấy hết sức can đảm để rón rén bước đi trong đêm tối, còn Ngài thì luôn đi sau chúng tôi ít bước để động viên, vừa đi vừa run không biết rồi đạn sẽ bắn từ phía nào đây, ai cũng thầm cầu nguyện xin Chúa phù hộ cho chuyến cứu một vị Linh mục được thành công, và đúng như sự cầu nguyện của mình, đêm ấy chúng tôi băng qua ngôi làng vắng vẻ, không một tiếng chó sủa, không một bóng người, vào được trung tâm Công giáo Thượng Brăh-Yàng thì thấy nhà cửa tan hoang do một trận pháo kích trước đó khoảng 45 phút, còn Cha Grison đang rên hừ hự nằm sõng soài trên một tấm tôn ngay cầu thang của nhà xứ.

Chúng tôi vội vả băng bó sơ cứu cho Cha, đặt Cha trên cáng và thay phiên nhau khiêng đi, và đêm ấy khiêng đi một nạn nhân trong đêm tối, dưới trời mưa nhỏ lớt phớt thật là vất vả, mồ hôi nhẽ nhãi, đường thì gồ ghề mấp mô, còn Cha Grison thì đau quá nên miệng luôn kêu lên : “O, mon Dieu ! mon Dieu…!”, và sau khoảng một tiếng đồng hồ thì chuyến cứu hộ thành công mỹ mãn, Cha Giuse thở phào nhẹ nhõm vì đã cứu được một người bạn, không để bạn mình bị bỏ rơi chết trong đêm tối và lửa đạn, còn chúng tôi thì cảm thấy vui vì mới cứu được một vị Linh mục của Chúa, tuy trong lòng vẫn lo lắng cái gì sẽ xảy ra nay mai.

Cha Giuse bảo chúng tôi đưa ngay Cha Grison vào phòng cấp cứu của làng Cùi, với phương tiện cây nhà lá vườn, các dì tức tốc băng bó và truyền nước biển cho Cha, mọi người quan sát vết thương là Cha bị gãy đùi rồi, vết thương rất nặng, không hiểu như thế nào do sự khéo léo của các dì Vincent de Paul, do sự phù hôï của Đức Cha Cassaigne nên cho đến hôm nay cái chân của Cha không bị cưa đi, ngài vẫn có thể lái xe và di chuyển tương đối dễ dàng, thật là một phép lạ……!

Kể chuyện này tôi muốn ghi lại một kỷ niệm rất đáng nhớ rằng : Cha Giuse đã không bỏ rơi một người bạn của mình trong sự hiểm nguy, quả thật nếu không có Cha Giuse thì đêm ấy Cha Grison đã chết vì mất máu, còn chúng tôi nếu có ai thuê bằng vàng bạc chắc cũng không dám liều thân để đi vào vùng chết chóc, thậm chí chúng tôi còn bỏ của mà chạy lấy người nữa là đàng khác.

Có dư luận cho rằng : Cha Giuse nóng tính mà nhát, mà kỳ thực tôi đã sống với Ngài lâu năm và nghiệm ra rằng : Ngài can đảm phi thường khi  bổn phận đòi hỏi, Ngài cũng nóng khi cần phải phản đối lại cách quyết liệt tính ù lỳ, bướng bỉnh, vô kỷ luật của con cái, tôi thấy cách ứng xử như vậy là cách ứng xử của một con người có một tâm hồn lớn, luôn luôn nghĩ tới người khác dù trong một tình thế rất hiểm nghèo trước mắt.

Tôi xin ghi lại đây kỷ niệm này về một Cha người đã sống đồng hành, chia sẻ thân phận vui buồn của người dân vùng đất Di-linh, tôi nghĩ những cái bề ngoài sao cũng được, miễn là nó gói ghém ở bên trong tình thương chân thật, đó là điều đáng giá nhất trong cuộc đời của một mục tử, xin cho tấm gương ấy mãi lưu lại trong lòng của mọi người.

Tạm biệt Cha Giuse, xin Cha cầu nguyện cho chúng con, để một ngày kia sẽ cùng được đoàn tụ với Cha trong Nước Thiên-Chúa.

Một người con.

Ngày 30-10-2003

Thầy Sáu  Francis Brel

(Người Dân Tộc Thiểu Số, Di Linh)