Nhân ngày giỗ thứ 50 của Cha Céleste Nicolas (1880 -18/11/1961-2011), Cha Sở thứ hai của Giáo xứ Đàlạt (11/7/1921 – 12/1946), gia đình Giáo xứ cùng hiệp dâng Thánh Lễ để tưởng nhớ và cầu nguyện cho ngài.
Cha Nicolas là cha sở có thời gian phục vụ tại Giáo xứ lâu nhất trong chín đời Cha Sở (25 năm), ngài là người đứng ra lo liệu việc xây ngôi Nhà thờ thứ hai (1922) và chỉ sáu năm sau, trước tình hình giáo dân tăng nhanh, Đức Cha Isidore Dumortier đã cho phép “Họ Đạo Đàlạt” xây dựng ngôi Nhà thờ mới. Với công sức và lòng nhiệt thành của cha Céleste Nicolas và của nhiều tấm lòng thiện chí quảng đại, ngôi Nhà thờ thứ ba – Nhà thờ Chánh Tòa hiện nay – đã được khởi công. Chính ngài đã có ý muốn dâng ngôi Nhà thờ này dưới sự bảo trợ của thánh Nicolas khi nói : “Muôn thế hệ của Họ Đạo Đàlạt sẽ ghi nhớ công ơn Thánh Nicolas Bari”.
Có thể nói, tuy chỉ là cha sở thứ hai kế nhiệm cha sở đầu tiên là cha Frédéric Sidot (10/5/1920 – 01/7/1921), nhưng ngài được xem là “Người Cha của Giáo xứ”, và nếu biết được ngài được đặt làm cha sở đang lúc ở Đàlạt với mục đích dưỡng bệnh, thì càng thấm thía được sự kỳ diệu của bàn tay Thiên Chúa quan phòng.
Thật vậy, sau khi chịu chức linh mục năm 1904, ngài được sai đi truyền giáo ở Tây Đàng Trong. Đến Sàigòn, học tiếng Việt ở Chợ Quán, ở Tha La, làm phó tại Nhà thờ Đức Bà Sàigòn. Đến 1907, ngài phải về Pháp trị bệnh. 1910 ngài trở lại Việt Nam ; 1915 là Cha Sở Giáo xứ Chợ Đũi ; 1916 lại trở bệnh nặng phải quay về Pháp ; 1920 trở lại Sàigòn… và cuối cùng, ngài được Đức Cha Quinton gửi lên Đàlạt vừa để dưỡng bệnh vừa để khởi đầu ý hướng truyền giáo cho người sắc tộc thiểu số… (trích “Truyền Giáo Ở Đàlạt” của Đức Cha Giuse Võ Đức Minh).
Có lẽ biết được sức khỏe của mình, nên khi xây Nhà thờ thứ ba, ngài đã cho xây dưới hầm Nhà thờ (nay là Từ Đường Phục Sinh) nơi sẽ chôn cất ngài. Ngài muốn được ở lại với giáo xứ, với những thế hệ con cháu sau này.
Một câu chuyện được các vị cao niên kể lại, qua đó, chúng ta có thể hiểu được phần nào tính cách của cha Nicolas :
Một buổi chiều nọ, trong thời gian đang xây cất ngôi Nhà thờ thứ ba, ngài vừa dạo bước vừa lần hạt, ngước mắt nhìn công trình đang xây dựng, ngài chợt lịm người : một cậu bé đang ngồi chót vót trên giàn giáo…
“Nếu bây giờ mình gọi, đứa bé giật mình té xuống thì sao ?” ngài thoáng nghĩ…
Cúi đầu, nhắm mắt cầu nguyện, ngài thầm thĩ xin điều tốt lành…
Một lúc sau, có lẽ đã thỏa mãn tính tò mò và nghịch ngợm, cậu bé kia từ từ leo xuống khỏi giàn giáo.
Ngài gọi cậu bé lại, âu yếm xoa đầu và nói : “Con làm cha đứng tim”.
Cậu bé ngơ ngác chẳng hiểu chuyện gì, chỉ biết nhoẻn miệng cười. Ngài lục túi tìm kẹo cho cậu bé rồi ôn tồn nói : “Lần sau, con đừng nghịch mà leo cao như thế nữa nhé, lỡ con trượt chân rơi xuống thì…”
Nói ngài là “một vị mục tử tài ba lỗi lạc, có tâm hồn đạo đức, thêm đức tính cần cù, can đảm, sáng suốt…” (trích Lịch sử Giáo phận Đàlạt) quả không sai, rồi nhìn vào sự phát triển của Giáo xứ và ngôi Nhà thờ hiện nay, nghĩ ngược lại 70 năm về trước, sẽ thấy ngài còn là người biết nhìn xa.
Ghi lại một vài điều về “Người Cha của Giáo xứ” trong ngày giỗ của ngài, không phải là nhắc lại công trạng của một người đã chết, nhưng qua sự tưởng nhớ này, chúng ta – những thế hệ thừa kế – sẽ làm gì và phải làm gì trong ơn gọi làm con Chúa, trong việc góp phần vun đắp gia sản của tiền nhân để lại, trong sứ mạng loan truyền Tin Mừng Tình Yêu đến cho mọi người ?
Khải Linh









