Đan viện Châu Sơn nằm cách xa Thành phố Đà Lạt khoảng 40 km. Là một nơi chiêm niệm và cầu nguyện, các đan sĩ sống theo quy luật của Hội Dòng Xitô, mà lui về quá khứ thì cũng bắt nguồn từ quy luật thánh Biển Đức: “lao động và cầu nguyện”. Thế nên ngày lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu năm nay (03/06/2005), các linh mục (triều và dòng) hạt Đà Lạt, Đơn Dương và Đức Trọng đã quy tụ về Châu Sơn là điều rất hợp lý. Nơi đó, anh em linh mục cùng với Giám mục của mình suy niệm và cầu nguyện.
Đan viện Châu Sơn luôn dành cho Giáo Phận những điều kiện thuận lợi nhất khi Giáo Phận cần đến, và hôm nay với thánh lễ đồng tế và bữa cơm gia đình, một lần nữa Đan viện đã biểu lộ sự gắn bó thân thiết với Giáo Phận.
Trước giờ thánh lễ, Đức Giám mục Giáo phận có bài suy niệm cho anh em linh mục mà sau đây là bản tóm lược :
Bài chia sẻ của Đức Giám Mục Đà Lạt, nhân ngày lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, ngày quốc tế cầu nguyện cho ơn thánh hoá các linh mục.
THÁNH THỂ, CHỨC LINH MỤC VÀ HIỆP THÔNG HỘI THÁNH
(Bài chia sẻ này dựa trên tài liệu mà Bộ Giáo Sĩ đưa ra nhân ngày quốc tế cầu nguyện cho ơn thánh hoá các linh mục)
Sống chức Linh Mục trong tình bạn với Đức Kitô
- Di sản của Đức Gioan-Phaolô II và lời khuyên nhủ của Đức Beneđitô XVI
“Khám phá lại tình bạn với Đức Kitô”, đó có thể nói là di sản mà Đức Gioan-Phaolô II để lại cách đặc biệt cho các linh mục trong các văn kiện trước đây, cũng như trong lá thư cuối cùng của Ngài ngày Thứ Năm Tuần Thánh (14/3/2005), và Đức Benêđitô XVI cũng đã tái khẳng định điều này ngay trong bài nói chuyện đầu tiên của ngài với giáo triều ngày 13/5/2005, ngài coi đó là “chìa khoá” của cuộc đời linh mục.
Quả vậy, thừa tác vụ linh mục cần phải được đón nhận, được sống trong âm vang của lời mời gọi hết sức thân tình của Đức Giêsu : “Anh em hãy ở lại trong tình yêu của Thầy… Anh em là bạn hữu của Thầy” (Ga 15,9.14).
Linh Mục không phải chỉ là một chức năng, một dịch vụ phải hoàn thành. Sống thừa tác vụ linh mục trước hết và căn bản hơn hết là sống mối tương quan bạn hữu chân thực với Đức Kitô. Và Ngài mong muốn những kẻ theo Ngài “lưu lại mãi” trong tình bạn đó. Chính vì thế, sống sứ vụ linh mục cũng có nghĩa là sống trong sự “đồng ứng” (syntonie) với những thái độ, tâm tình của Đức Giêsu, trở thành kẻ tri âm tri kỷ với Ngài, như lời của Thánh Phaolô : “Anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu” (Pl 2,5).
“Bí quyết” của một đời sống linh mục chính thực (authentique) đó là tình yêu say mê đối với Đức Kitô. Chính niềm say mê đó sẽ dẫn chúng ta đến chỗ say mê rao giảng Đức Kitô. Đức Gioan-Phaolô II không ngần ngại dùng chữ “đam mê” (passion) đối với Đức Kitô (thư Thứ Năm Tuần Thánh). Chính thánh Phaolô cũng đã từng khẳng định cách triệt để như thế : “Đối với tôi, sống là Đức Kitô” (Pl 1,21).
Như thế, chân tính của Linh Mục không hệ tại ở điều gì khác hơn là tình yêu đối với Đức Kitô, lấy Ngài làm trọng tâm cho cuộc đời mình. Đức Benêđitô XVI gọi đó là gốc rễ duy nhất của chức linh mục (Bài nói chuyện với các cha sở tại Roma, 13/5/2005).
- Bí Tích Thánh Thể và sứ vụ Linh Mục
Nếu Giáo Hội sống nhờ Thánh Thể, như Đức Gioan Phaolô II làm nổi bật trong thông điệp cùng tên cũng như trong tông thư “Mane nobiscum Domine” của ngài, thì linh đạo Thánh Thể phải là linh đạo của mọi ơn gọi và nhất là của ơn gọi Linh Mục.
Không nơi nào Đức Giêsu lại hiện diện gần gũi, thân mật như nơi nhà Tạm. Chính từ nơi đó mà Ngài tiếp tục nói với chúng ta, “lòng kề lòng”.
Hơn nữa, cử hành Thánh Thể khuôn đúc nên cuộc đời kitô hữu cũng như cuộc đời linh mục. Đức Gioan Phaolô II, cũng trong lá thư cuối cùng của ngài, đã coi những lời Truyền Phép như là “công thức sống” (formule de vie) cho linh mục. Chính những lời đó lôi cuốn người linh mục vào “trong vận hành thiêng liêng”, vận hành biến đổi chúng ta nên đồng hình đồng dạng với Người.
Linh đạo kitô hữu nói chung và của linh mục nói riêng tự bản chất là “tương giao”, và ở đây là tương giao bằng hữu. Tương giao với đức Kitô trong lòng mến, với Đức Maria trong sự học hỏi mẫu gương của Người, với Giáo Hội trong tình hiệp thông, với con người và thế giới trong tinh thần phục vụ và truyền giáo.
Tất cả các mối tương giao đó đều thấm sâu thái độ “tạ ơn” (eucharistique) của người biết mình được Chúa yêu mến và vì thế muốn yêu Đức Kitô cách trọn vẹn cũng như muốn Đức Kitô được mọi người mến yêu. Tình yêu đối với Đức Kitô vì thế là nguyên động lực cho mọi dấn thân phục vụ, truyền giáo.
Để cho linh đạo “tương giao” đó thấm sâu và triển nở trong cuộc đời linh mục, để cho lòng mến đức Kitô biến đổi tất cả con người và sứ vụ của mình, có lẽ không có cách thức nào tốt hơn là sự hiện diện với đức Kitô Thánh Thể. Đức Benêđitô thậm chí coi “thời gian hiện diện trước Nhan Thánh Chúa thực sự là một ưu tiên mục vụ, quan trọng hơn tất cả” (Bài nói chuyện 13/5/2005). Đức Gioan Phaolô II cũng không có lời khuyên nào khác hơn là : “Hãy quì gối lâu giờ trước Chúa Giêsu hiện diện trong Thánh Thể” (Mane 18).
- Thánh Thể và thừa tác vụ Linh Mục trong “hiệp thông hội thánh”
Bí tích Thánh Thể, bí tích mà trong đó “Đức Kitô yêu thương và hiến mình vì Hội Thánh” (Ep 5,25) chính là nơi mà chúng ta có thể học về lòng yêu mến Hội Thánh. Học để yêu mến Hội Thánh như Đức Kitô đã yêu, và cùng với Ngài sống mầu nhiệm hiệp thông của Hội Thánh.
Quả vậy, sở dĩ có thể nói mầu nhiệm Hội Thánh là mầu nhiệm Hiệp Thông chính là vì cùng “chia sẻ một Bánh” mà chúng ta trở nên “một thân thể” (1Cr 10,17). Cũng nên nhắc lại rằng, ngay từ thời cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, việc “chuyên cần nghe lời các Tông Đồ giảng dạy” luôn đi đôi với việc “siêng năng tham dự lễ bẻ bánh” (Cv 2,42), và đó là những yếu tố nền tảng xây dựng nên cộng đoàn “đồng tâm nhất trí” với nhau (Cv 4,32).
Như thế, mối Hiệp thông Giáo Hội vừa phát sinh từ sự chia sẻ cùng một tấm Bánh, vừa do thái độ “lắng nghe”, vâng phục, đối với thừa tác vụ của các Tông Đồ, hay nói khác đi, là kết quả của lòng mến đối với Đức Kitô và Hội Thánh Người.
Ở đây, câu hỏi của Đức Giêsu trước khi trao quyền “tối thượng” cho Phêrô, cũng như câu trả lời của thánh nhân thật ý nghĩa, đáng cho mỗi linh mục chúng ta mang lấy, sống lấy : “Anh có mến Thầy không” – “Thầy biết con mến Thầy”. Quyền bính trong Hội Thánh dựa trên lòng mến chứ không dựa trên bất cứ điều gì khác, và vì thế sự vâng phục đối với thừa tác vụ của Phêrô cũng như đối với Giám Mục chỉ có ý nghĩa trong lòng mến đối với Đức Kitô và Hội Thánh Người mà thôi. Linh đạo linh mục không thể thiếu sự “vâng phục trong lòng mến” này.
- Di huấn về truyền giáo của Đức Gioan-Phaolô II và sứ điệp của Đức Benêđitô XVI.
Trong sứ điệp cuối cùng của ngài, ký ngày 22/2/2005, viết cho ngày Quốc tế Truyền giáo tháng 10/2005, để kết thúc năm Thánh Thể, Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II quả thực đã để lại cho chúng ta một di huấn về sứ mạng truyền giáo. Ngài mời gọi chúng ta hãy noi gương Đức Kitô, “tấm bánh chịu bẻ ra”, “cho thế gian được sống” (Ga 6,51). Vì thế các tông đồ cũng là những tấm bánh bẻ ra, phục vụ cho đời sống cộng đoàn trong lòng mến, để rồi cộng đoàn đó lại trở nên như tấm bánh bẻ ra cho tất cả thế giới.
Đức Benêđitô trong thánh lễ nhậm chức, sau khi lập lại lời khuyến dụ của Đức Gioan-Phaolô II, đã nói : “Ai để cho đức Kitô bước vào cuộc đời mình, sẽ không mất gì cả, nhất là không mất đi những gì làm cho cuộc đời nên tự do, đẹp đẽ và cao cả ! Không, chỉ với tình bạn như thế mà những cánh cửa đời sống sẽ mở rộng thênh thang”. Đẹp thay bước chân của người rao giảng Tin Mừng !
Một lần nữa Bí tích Thánh Thể là bí ẩn của niềm vui tuôn trào đó. Trong bối cảnh thế giới hôm nay, hơn bao giờ hết, người ta muốn được “nhìn thấy Đức Kitô” rạng rỡ trên khuôn mặt linh mục (x. Thư thứ năm Tuần Thánh). “Nhiệm vụ Mục Tử, kẻ lưới người ta, dường như ngày càng nặng nề. Nhưng nhiệm vụ đó thất đẹp đẽ và cao cả, bởi nói cho cùng, đó là sự phục vụ cho niềm vui, niềm vui của vị Thiên Chúa muốn đi vào trong thế giới này”.
Cuối cùng, chúng ta hãy trở lại với nhà Tiệc Ly, để được cùng với “Đức Maria, mẹ Chúa Giêsu” (Cv 1,14) sống mối hiệp thông hội thánh. Chính Mẹ sẽ dạy chúng ta biết sống trong sự “đồng ứng” với trái tim mục tử của Đức Kitô. Nhờ sự kết hiệp với Đức Kitô và với Đức Trinh Nữ mà chúng ta sẽ có được niềm bình an và tin tưởng, luôn cần thiết cho sứ vụ tông đồ cũng như cho đời sống riêng của mỗi người chúng ta (x. Beneđitô XVI, 13/5/2005).
Sau đó trong thánh lễ, Đức Cha đã dựa vào bài nói chuyện của Đức Gioan-Phaolô II trong buổi Triều yết chung ngày thứ tư 03/7/1993 về chủ đề “LINH MỤC, CON NGƯỜI CỦA YÊU THƯƠNG” để suy niệm với các linh mục. Vì ngài theo sát bài nói chuyện của Đức Thánh Cha, nên chúng tôi xin ghi lại đây chính bản văn bài nói chuyện của Đức Thánh Cha:
- Trong các bài huấn giáo trước đây dành cho linh mục, nhiều lần tôi đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của đức ái trong đời sống linh mục đối với anh em mình. Hôm nay tôi muốn bàn về vấn đề này một cách rõ ràng hơn nữa, dựa vào chính gốc rễ của đức ái này trong đời sống linh mục. Chúng ta có thể tìm thấy gốc rễ này ngay trong căn tính của linh mục là “người của Chúa”. Thư thứ nhất của thánh Gioan Tông đồ dạy chúng ta rằng “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4,8). Vì vậy, linh mục chỉ có thể là con người của yêu thương. Nơi linh mục sẽ không có lòng mến Chúa đích thật, lòng đạo đức chân chính, nhiệt tâm tông đồ chính hiệu, nếu không có lòng yêu người.
Chính Chúa Giêsu đã cho thấy mối liên hệ giữa mến Chúa và yêu người, vì mến Chúa hết lòng không tách khỏi yêu người thật sự (x. Mt 22,36-40). Vì vậy, thánh Gioan cho thấy sự liên hệ rất mật thiết giữa đôi bên khi lập luận : “Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ nơi Người : ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng yêu mến anh em mình” (1Ga 4,21).
- Chúa Giêsu mô tả lòng yêu mến này nhưlà lòng yêu mến của một người chăn chiên tốt lành. Ngược hẳn với kẻ chăn thuê, người chăn chiên tốt không tìm lợi ích riêng cho mình, thậm chí lại còn hy sinh tính mạng cho đoàn chiên nữa (x. Ga 10,11.15) Đó là một tình yêu rất anh hùng.
Chúa Giêsu đã thực hiện điều này trong đời sống của Người một cách thiết thực. Những ai nhận được sứ mệnh làm mục tử do bí tích truyền chức đều được kêu mời họạ lại trong đời sống của mình tình yêu anh hùng của người mục tử tốt và làm chứng bằng các hành động của mình.
- Trong đời sống của Chúa Giêsu, người ta thấy rõ những đặc tính của đức ái mục tử này và Người yêu cầu các môn đệ phải noi gương bắt chước, đặc biệt là tính hiền lành và đức khiêm nhường (Mt 11, 29). Người cũng yêu cầu các ông phải từ bỏ những tham vọng cá nhân và óc thống trị để bắt chước Người là Đấng không đến để được phục vụ mà để phục vụ và hiến mình làm giá chuộc cho muôn người (Mc 10,45 ; Mt 20,28 ; x. Pastores dabo vobis21-22).
Vì vậy, không được thi hành sứ mệnh mục tử với thái độ độc tài, kẻ cả (x. 1Pr 5,3) Thái độ này sẽ làm cho giáo dân bực bội và xa tránh. Theo gót Chúa Kitô là vị Mục tử nhân lành, linh mục phải tập cho mình tinh thần phục vụ khiêm tốn.
Hơn nữa, Chúa Giêsu còn làm gương cho chúng ta về một tình yêu đầy lòng thương cảm, nghĩa là thiết thực và thật lòng chia sẻ những đau khổ và khó khăn của các anh em mình. Người thương dân chúng, vì họ như đàn chiên không có người chăn (x. Mt 9,36). Vì vậy, Người lấy lời ban sự sống mà hướng dẫn họ và bắt đầu dạy họ nhiều điều (x. Mt 6,34). Vì thương cảm, Người chữa lành rất nhiều bệnh nhân (Mt 14,14). Người làm cho bánh ra nhiều để nuôi dân chúng trong hoang địa (Mt 15,32 ; Mc 8,2).
Người xao xuyến trước các nỗi cùng khốn của con người chúng ta (Mt 20,34 ; Mc 1,41) và tìm phương cứu chữa. Người chia sớt nỗi buồn với kẻ gặp tang chế (Lc 7,31 ; Ga 11,33-35). Ngay cả đối với tội nhân, Người cũng tỏ lòng thương xót (x. Lc 15,1-2) qua dụ ngôn người con hư hỏng trở về (Lc 15,20). Người ưa thích tình thương hơn lễ tế (Mt 9,10-13).
- Dựa vào đời sống và cái chết của Chúa Giêsu, thưDo thái làm nổi bật nét cốt yếu của chức tư tế trong tình liên đới và thương cảm. Thực vậy : “Thượng Tế là người được chọn trong số người phàm và được đặt lên làm đại diện cho loài người trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như lễ vật đền tội. Vị ấy có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc” (Dt 5,1-2). Vì thế, Con Thiên Chúa cũng phải “nên giống anh em mình về mọi phương diện, để trở thành một vị Thượng tế nhân từ và trung tín trong việc thờ phượng Thiên Chúa, hầu đền tội cho dân” (Dt 2,17). Bởi thế, thật là an ủi cho chúng ta khi biết rằng “Vị Thương Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội” (Dt 4,15).
Như vậy, linh mục tìm thấy nơi Chúa Giêsu một gương mẫu về tình thương thực sự đối với những người đau khổ, túng thiếu, buồn phiền và nhất là những người tội lỗi, vì Người đã gần gũi loài người và sống như chúng ta. Người đầy lòng cảm thương chúng ta và “có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc” (Dt 5,2), lại giúp đỡ đắc lực những ai đang gặp thử thách “vì bản thân Người đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách” (Dt 2,18).
- Công Đồng Vaticanô II trình bày chức vụ linh mục như nguồn mạch đức ái mục tử qua đoạn văn sau đây : “Các linh mục của Tân Ước, do ơn gọi và chức thánh, một cách nào đó được tuyển chọn ngay giữa Dân Chúa, nhưng không phải để tách biệt khỏi dân ấy hoặc khỏi bất cứ người nào, mà là để tận hiến cho công việc Chúa đã chọn họ làm. Họ không thể là thừa tác viên của Chúa Kitô, nếu không là chứng nhân và người ban phát một đời sống khác đời sống thế tục. Tuy nhiên, họ không thể phục vụ loài người, nếu sống xa cuộc sống và những hoàn cảnh của con người” (PO 3,18-19).
Có hai đòi hỏi căn bản nêu rõ hai khía cạnh trong tác phong của linh mục. Đó là “chính thừa tác vụ của các ngài, vì mang một danh nghĩa đặc biệt, nên buộc các ngài không được theo thói thế gian ; nhưng đồng thời lại đòi các ngài sống trong thế gian giữa loài người. Hơn nữa, như các mục tử nhân lành, các ngài phải nhận biết các chiên của mình và còn tìm cách dẫn về những chiên không thuộc đoàn này, để chúng cũng nghe tiếng Chúa Kitô, hầu nên một đoàn chiên và thuộc về một Chủ Chăn” (PO 3,20-21).
- Theo Công Đồng, linh mục nào muốn rập khuôn theo Vị Mục Tử nhân lành và họa lại nơi mình tình thương đối với anh em, phải lưu ý đến mấy điểm rất quan trọng trong thời buổi ngày nay hơn những thời khác. Đó là :
* nhận biết các chiên của mình (PO 3,20), đặc biệt qua các cuộc thăm hỏi, tiếp xúc, gặp gỡ trao đổi với ý hướng luôn luôn là một mục tử tốt lành ;
* tiếp đón như Chúa Giêsu đã tiếp đón những ai đến với Người, nghĩa là sẵn sàng, niềm nở, lắng nghe, mau mắn, tích cực tìm cách giúp đỡ những người nghèo khổ ;
* trau dồi những đức tính nói trên và đem ra thực hành, vì người ta rất để ý và quí chuộng những đức tính đó nơi các linh mục. Góc cạnh nhân bản nơi linh mục là phương thế tốt để thu phục nhân tâm. Một linh mục tử tế, quảng đại, lịch sự, không cáu kỉnh, bẳn gắt, biết kính trọng người khác, không khinh người, không phân biệt đối xử sẽ dễ gây được lòng cảm mến.
- Nhờ đức ái nâng đỡ, khi thi hành chức vụ, linh mục có thể noi gương Chúa Giêsu, Đấng tuân phục thánh ý Chúa Cha và coi đó là lương thực dưỡng nuôi mình. Linh mục sẽ tìm được nguyên tắc và nguồn mạch thống nhất đời mình. Công Đồng quả quyết rằng cac linh mục phải kết hợp với Chúa Kitô trong việc tìm ra ý Chúa Cha… Sống chính đời sống của vị Mục tử nhân lành, linh mục sẽ tìm thấy trong khi thi hành đức ái mục tử, mối dây liên kết làm cho đời sống và hoạt động của mình nên hoàn hảo. Nguồn mạch cho linh mục đến kín múc sức thiêng vẫn là Bí tích Thánh Thể, trung tâm và nền tảng đời sống linh mục, Như thế, tâm hồn của linh mục phải cố gắng phản ánh điều diễn ra trên bàn thờ.
Ân sủng và sức sống của bàn thờ lan rộng tới bục giảng, tòa giải tội, sổ sách nhà xứ, trường học, đường phố, phương tiện chuyên chở, giao tế xã hội, bất kể nơi nào linh mục có thể thi hành sứ vụ của mình. Trong mỗi trường hợp này, chính thánh lễ lan rộng, chính sự kết hợp thiêng liêng của linh mục với Chúa Giêsu là Linh mục và Tế Phẩm sẽ làm cho linh mục thành lúa miến, để có thể được coi là bánh tinh tuyền của Chúa Kitô, hầu mưu ích cho anh em mình.









