KALA là một trong những giáo xứ kỳ cựu của giáo phận và có một lịch sử lâu đời. Ngày 30/01/1939 đã xảy ra biến cố đầu tiên đáng ghi nhớ của giáo xứ khi cha Gioan Cassaigne lúc ấy là cha sở Dilinh đến thăm các làng miền Kala theo lời xin của các đại diện làng và ngài đã cất một nhà tranh nhỏ, bắt đầu công việc dạy giáo lý cho dân làng.

Dần dà Kala bắt đầu trở thành một trung tâm truyền giáo. Đã có rất nhiều linh mục thuộc Hội Thừa Sai Paris đến sống tại Trung Tâm Kala : cha Chauvel, Jacques Dournes, Fr. Rubat, Grelier, Fr. Darricau, Desplanque … Cũng có lúc, Trung Tâm được đón nhập các nữ tu Tiểu Muội và Nữ Tử Bác Ái đến phụ giúp.

Từ tháng 7/1965, Trung Tâm dần dần được chuyển giao cho các cha Việt Nam chăm sóc. Ban đầu là cha Phêrô Trần Văn Khoa, rồi sau đó, từ 07/7/1969 có thêm cha Đaminh Nguyễn Huy Trọng. Ngoài công việc tại Trung Tâm, từ cuối năm 1970, cha Đaminh còn giúp đỡ Ðức Cha Cassaigne trong việc chăm sóc mục vụ tại Trại Phong Dilinh.

Có thể nói : ngọn núi Langbiang là một điểm đã có giá trị và ảnh hưởng lớn đối với bà con dân tộc thiểu số miền cao nguyên Langbiang, thì cũng tương tự, núi Prah-Yàng cũng có một chỗ đứng với giá trị và ảnh hưởng đối với đồng bào thiểu số ở cao nguyên Dilinh như vậy. Và một trong những buôn làng có liên hệ mật thiết chính là giáo xứ Kala là nơi mà hôm nay chúng tôi được đến tham dự thánh lễ ban bí tích Thêm Sức. Cũng đã nhiều lần, chúng tôi đến Kala nhân dịp lễ này lễ khác, cách riêng là ngày kỷ niệm Ngân Khánh Linh Mục của cha xứ Đaminh Nguyễn Huy Trọng. Chúng tôi cũng bị cám dỗ để nói về Kala nhưng lại không dám, vì khung cảnh và con người ở đây thật là trầm lặng thanh thoát, nên chúng tôi không dám khuấy động sự yên tĩnh đó. Nhưng, chúng tôi không thể cứ giữ mãi trong lòng sự thán phục và lòng kính trọng đối với anh chị em ở Kala  … nên lần này, chúng tôi thấy cần phải viết lên ít dòng để chia sẻ về một niềm tin đơn sơ và chân thành.

Về đời sống dân tộc miền Kala, đặc biệt là làng Krốt Đờn : tóm lại, cho đến bây giờ, niềm tin vào Ông Prah-Yàng là niềm tin vào một vị thần tượng trưng cho vị thần núi khác. Người ta có một câu ví : Khi nào gọi thần Nhà thì ở trong nhà mà gọi, khi nào gọi thần Núi (thần ở ngoài nhà) thì ra ngoài nhà mà gọi. Niềm tin này chỉ là niềm tin bên ngoài chứ không vào trong nội tâm sâu xa. Dù sao đi nữa thì người Dân tộc vẫn tin ở các thần Núi thần Rừng, bởi vì đó là nguồn sống của anh em dân tộc. Hiện nay dòng giống của Ông Prah-Yàng vẫn còn ở Krốt Đờn. Và niềm tin này, trong mỗi lần kêu thần hay mời thần về ăn uống chung vào những dịp hội vui của dân làng, thì luôn luôn tên vị thần này được nêu lên. Và đặc biệt đối với làng Krốt, mỗi khi muốn mời ông này về thì người ta trải lá chuối từ ở chỗ làm lễ tới gần chân núi Prah-Yàng, có khi tới cả 300 đến 400 mét. Điều này không ai hiểu lý do, nhưng người ta nói đó là có ý mời ông thần về, đi trên lá chuối mà về để tham dự lễ. Người ta cũng tin là khi mình uống hay ăn thì ông thần núi này vẫn ăn uống mà không mất mát gì của người ta.

Nhưng những điều đó mới chỉ là vẻ bên ngoài, còn trong thâm sâu tâm hồn của người Kala thì có quá nhiều điều phải nói, nhất là khi những tâm hồn đó đã được Chúa chọn làm nơi ở của Ngài. Thật vậy, có tham dự một thánh lễ như thánh lễ hôm nay, với trên 1.000 giáo dân, trong đó 100 em dân tộc được đón nhận tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần ; có nhìn được những cặp mắt xoe tròn nhìn thẳng lên bàn thờ, bàn tay chắp trước ngực, miệng sốt sắng đọc các lời kinh dân tộc suốt 10-15 phút … thì may ra người ta mới cảm nghiệm được sự thiêng liêng thánh thiện bao trùm xuống không gian này. Có nhìn thấy ngày hôm nay, 1.000 chiếc dép loại rẻ tiền gồm đủ màu sắc xếp chung quanh nhà thờ, vì ở đây giáo dân vẫn thường đi chân không vào nhà thờ, nên sàn nhà thờ bằng ván ngày càng bóng loáng lên ; có nhìn thấy những cây dù xếp muôn màu treo lủng lẳng ở cành cây bên ngoài nhà thờ … mới thấy rằng đời sống ở đây đơn sơ và chất phác. Phải nghe được tiếng hát thanh cao trầm bổng, nhịp nhàng … được xướng lên bởi tất cả mọi người với ngôn ngữ Kơhô vốn tự nó đã là thanh thoát thơ văn, làm sao tâm hồn lại không được bay bổng lên tới Chúa. Chỉ thỉnh thoảng mới có một vài câu tiếng Việt của phần phụng vụ mà tiếng Dân tộc chưa được phê chuẩn. Phải thấy sự sốt sắng trang nghiêm trong bầu không khí im phăng phắc và có thể không tìm gặp một cử động để lắng nghe những bài giảng hoặc giáo lý mà không chắc bao nhiêu người hiểu được nội dung. Nơi đây, không có ông quản, bà giáo đi lui đi tới, tay cầm roi mắt nhìn xoi bói như luôn tìm kiếm một ai đó … để ra uy làm gương. Còn nhiều, và nhiều hơn thế nữa.

Khi rời khỏi bầu không khí trang nghiêm, linh thiêng, thánh thiện này, từ tận đáy lòng, chúng tôi chỉ có một ước mơ duy nhất : Lạy Chúa, xin gìn giữ những tâm hồn đơn sơ thánh thiện này được ở mãi trong bình an của Chúa.