LINH MỤC VÀ THIÊN NIÊN KỶ KITÔ GIÁO THỨ BA
THẦY DẠY LỜI CHÚA, THỪA TÁC VIÊN CÁC BÍ TÍCH VÀ NGƯỜI LÃNH ĐẠO CỘNG ĐOÀN
Truyền thống giáo thuyết Công Giáo mô tả linh mục như Thầy dạy Lời Chúa, Thừa tác viên các bí tích và Người lãnh đạo cộng đoàn Kitô được trao phó cho Ngài. Đây là khởi điểm cho mọi suy tư về căn tính và sứ vụ của linh mục trong Hội thánh. Trong ánh sáng của công cuộc Tân Phúc âm hóa, công cuộc mà qua con người và giáo huấn của Đức Thánh Cha, Chúa Thánh Thần mời gọi mọi tín hữu tham dự, giáo thuyết không thay đổi nhưng lại luôn mới mẻ nói trên cần được suy nghĩ lại với niềm tin và hy vọng.
Toàn thể Hội Thánh được mời gọi sống sự dấn thân tông đồ mạnh mẽ hơn, sự dấn thân vừa mang tính cá nhân vừa mang tính cộng đoàn, sự dấn thân quảng đại và mới mẻ. Được khuyến khích bởi gương sống cá nhân giáo huấn rõ ràng của Đức Gioan Phaolô II, cả mục tử lẫn tín hữu phải cùng ý thức cách quyết liệt hơn rằng với tinh thần tông đồ được canh tân, đã đến lúc phải chuẩn bị mau mắn hơn để bước qua ngưỡng cửa thế kỷ 21 và mở rộng cánh cửa lịch sử cho Đức Giêsu Kitô, Đấng là Thiên Chúa và là Đấng Cứu Độ duy nhất của chúng ta. Trong năm 2000, cả mục tử cũng như tín hữu được mời gọi công bố bằng sức mạnh mới : “Ecce natus est nobis Salvator mundi”.
“Trong những xứ sở với cội rễ Kitô giáo lâu đời, cũng như đôi khi trong những Giáo hội trẻ trung hơn, nhiều tín hữu đã đánh mất cảm thức sống động của đức tin, kể cả không còn coi mình là thành viên của Hội thánh và sống cuộc sống xa cách Chúa Kitô và Tin Mừng của Người. Trong trường hợp này, cần phải thực hiện tân Phúc âm hóa hay tái Phúc âm hóa”. Vì thế, tân Phúc âm hóa trước hết là phản ứng đầy tình từ mẫu của Hội thánh trước tình trạng suy yếu đức tin và những đòi hỏi của đời sống luân lý Kitô giáo bị xóa mờ trong lương tâm của con cái Hội thánh. Nhiều tín hữu sống trong một thế giới dửng dưng với tôn giáo. Trong khi vẫn duy trì một niềm tin nào đó, trong thực tế, họ sống thái độ dửng dưng về tôn giáo và luân lý, xa cách Lời Chúa và các bí tích vốn là những điều thiết yếu cho đời sống Kitô hữu. Có những người khác, dù được sinh ra do cha mẹ công giáo và đã được rửa tội, nhưng đã không bao giờ được đón nhận nền tảng đức tin và họ sống thái độ vô thần thực tiễn. Với tình yêu, Hội thánh quan tâm đến những người này và đặc biệt nhạy bén trước nhiệm vụ cấp bách và phải lôi kéo họ đến sự hiệp thông trong Hội thánh, nơi mà với ân sủng của Thánh Thần, họ khám phá lại Đức Giêsu Kitô và Chúa Cha.
Cùng với công cuộc tân Phúc âm hóa nhằm thắp lại ánh sáng đức tin trong lương tâm của many tín hữu, và để lời loan báo ơn cứu độ được vang lên trong (đời sống) xã hội, Hội thánh còn đặc biệt ý thức về nhiệm vụ ngàn đời của mình, đó là nhiệm vụ đi đến với muôn dân (Ad Gentes) quyền lợi và bổn phận chuyển tải Tin Mừng đến tất cả những ai chưa nhận biết Chúa Kitô và hồng ân cứu độ của Người. Đối với Hội thánh hôm nay, là Mẹ và là Thầy, nhiệm vụ đến với muôn dân và Tân Phúc âm hóa là những khía cạnh không thể tách rời trong lệnh truyền đã nhận : giảng dạy, thánh hóa và hướng dẫn mọi người đến với Chúa Cha. Các Kitô hữu nhiệt thành cũng cần sự nâng đỡ liên lỉ và đầy tình thương khi họ kiếm tìm sự thánh thiện cá nhân mà Thiên Chúa và Hội thánh mời gọi. Đây là sức đẩy đích thực của công cuộc Tân Phúc âm hóa.
Mọi tín hữu Kitô, con cái của Hội thánh, phải được thúc đẩy bởi trách nhiệm chung và cấp bách này. Cách riêng, các linh mục có bổn phận này, bởi vì họ đã được chọn, được thánh hiến và được sai đi cách đặc biệt để làm bừng sáng sự hiện diện của Chúa Kitô, Đấng mà họ trở thành những đại diện và sứ giả đích thực của Người. Chính vì thế cần phải hỗ trợ các linh mục triều cũng như dòng trong việc đảm nhận “trách nhiệm mục vụ quan trọng của việc tân Phúc âm hóa” và trong ánh sáng của sự cam kết này, họ khám phá lại tiếng gọi Thiên Chúa dành cho họ, ơn gọi phục vụ một cộng đoàn trong dân Chúa với tư cách là thầy dạy Lời Chúa, Thừa tác viên các bí tích và Mục tử của đoàn chiên.
CHƯƠNG I: PHỤC VỤ CÔNG CUỘC TÂN PHÚC ÂM HÓA
“Không phải anh em đã chọn Thầy nhưng chính Thầy đã chọn anh em và sai anh em đi” (Ga 15, 16)
1. TÂN PHÚC ÂM HÓA, TRÁCH NHIỆM CỦA TOÀN THỂ HỘI THÁNH
Được Chúa gọi và sai đi vẫn luôn là điều căn bản nhưng trong bối cảnh lịch sử hiện nay, ý nghĩa đó có tầm quan trọng đặc biệt. Đứng từ viễn tượng tôn giáo, thời điểm cuối cùng của thế kỷ 20 được ghi dấu bằng những hiện tượng đối nghịch. Một đàng, tình trạng tục hóa mạnh mẽ trong xã hội dẫn đến sự khước từ Thiên Chúa và mọi quy chiếu về siêu việt; đàng khác lại trào dâng cảm nhận tôn giáo lớn lao hơn, kiếm tìm thỏa mãn khát vọng bẩm sinh hướng về Thiên Chúa, Đấng vốn hiện diện trong tâm khảm mọi người, nhưng đôi khi cảm nhận trên lại không có được sự diễn tả đúng mức.
“Sứ vụ của Chúa Kitô, Đấng Cứu độ được trao phó cho Hội thánh, còn rất xa mức hoàn thành. Khi thiên niên kỷ thứ hai (kể từ khi Chúa Kitô đến) sắp kết thúc, một cái nhìn bao trùm trên nhân loại cho thấy sứ vụ này vẫn chỉ ở bước khởi đầu và chúng ta phải hiến toàn tâm toàn ý cho công việc này”. Ngày nay, nhiệm vụ truyền giáo được thực hiện cách rộng rãi trong bối cảnh tân Phúc âm hóa : những xứ sở đã có truyền thống Kitô giáo lâu đời nhưng nơi đó, lối sống Kitô xem ra xuống dốc. Nhiệm vụ truyền giáo cũng được thực hiện trong bối cảnh tổng quát của nhân loại, trong đó không phải tất cả mọi người đều được nghe và hiểu lời công bố cứu độ mà Chúa Kitô mang đến.
Thật là một thực tại đáng buồn nhưng hiển nhiên, đó là nhiều người đã nghe nói về Chúa Kitô nhưng xem ra chỉ biết và đón nhận giáo huấn của Người như một hệ thống lề luật luân lý tổng quát chứ không phải là sự cam kết của đời sống cụ thể. Số rất đông những người chịu Phép Rửa nhưng đã bỏ không bước theo Chúa Kitô và chỉ sống theo chủ nghĩa tương đối. Trong nhiều trường hợp, vai trò của đức tin Kitô giáo bị giảm thiểu, chỉ còn là yếu tố văn hoá thường được giới hạn trong lãnh vực thuần túy riêng tư và không có âm vang xã hội nào, trong đời sống cá nhân cũng như quốc gia”.
Sau 20 thế kỷ Kitô giáo, vẫn không thiếu những cánh đồng truyền giáo mênh mông. Mọi Kitô hữu phải biết rằng : do chức tư tế cộng đồng trong bí tích Thánh tẩy (x. 1Pl 2, 4-5, 9; Kh 1, 5-6. 9-10; 20, 6), họ được mời gọi cộng tác tùy theo hoàn cảnh cá nhân cho phép, vào công cuộc Phúc âm hóa mới vốn là công việc chung của Hội thánh. Trách nhiệm đối với hoạt động truyền giáo “trước hết được trao cho Giám mục đoàn, do Đấng kế vị Thánh Phêrô cầm đầu”. “Các linh mục là những cộng tác viên của Giám mục qua ơn của bí tích Truyền chức thánh, được mời gọi chia sẻ trách nhiệm truyền giáo”. Vì thế có thể nói rằng theo một nghĩa nào đó, các linh mục mang trách nhiệm đầu tiên “đối với công cuộc tân Phúc âm hóa ở thiên niên kỷ thứ ba”.
Được nâng đỡ bởi những tiến bộ khoa học và kỹ thuật, xã hội đương đại đã phát triển một cảm thức sâu xa về tính độc lập sắc bén giữa quyền bính và giáo huấn tôn giáo với quyền bính thế tục. Hoàn cảnh này đòi hỏi phải trình bày và giải thích cách cẩn thận sứ điệp cứu độ vốn mãi mãi là một huyền nhiệm. Công việc này phải được thực hiện với sự trân trọng cũng như với quyền năng và nhiệt tâm như thuở Phúc âm hóa đầu tiên, đồng thời sử dụng cách cẩn thận trong mọi phương pháp thích hợp mà kỹ thuật hiện đại cung ứng. Tuy nhiên đừng nên quên rằng kỹ thuật không thể thay thế chứng tá của đời sống thánh thiện. Hội thánh cần những chứng nhân đích thực truyền thông Tin Mừng trong mọi lãnh vực đời sống. Từ đó phát xuất nhu cầu đối với mọi Kitô hữu nói chung và các linh mục nói riêng : cần có sự huấn luyện sâu sắc và riêng biệt về triết học và thần học , nhờ đó có thể làm chứng cho đức tin và niềm hy vọng của mình. Đồng thời công việc trên cũng cho thấy tầm quan trọng của việc trình bày đức tin cách xây dựng bằng đối thoại và tìm hiểu cá nhân. Tuy nhiên công bố Tin Mừng không thể chỉ giảm thiểu vào việc đối thoại. Thực vậy, sự can đảm (nói lên tiếng nói) của chân lý là một thách đố khi phải đối đầu với cơn cám dỗ đồng hoá hoặc tìm kiếm sự nổi tiếng dễ dãi và thuận lợi cho cá nhân.
Khi loan báo Tin Mừng, phải nhớ rằng một vài ý tưởng và từ ngữ truyền thống đã trở thành không thể hiểu được đối với phần lớn con người trong nền văn hoá đương đại. Trong một số môi trường, người ta không hiểu được ý nghĩa Kitô giáo tích cực của những từ ngữ như tội nguyên tổ và những hậu quả của nó, ơn cứu độ, Thánh giá, nhu cầu cầu nguyện, hiến tế, đức thanh khiết, vâng phục, khiêm tốn, đền tội, khó nghèo… Công cuộc tân phúc âm hóa – đang khi trung thành với giáo huấn đức tin được Hội thánh thường xuyên dạy bảo và với cảm thức mạnh mẽ về trách nhiệm đối với từ vựng của giáo thuyết Kitô – vẫn phải khám phá những phương thế trình bày cho thế giới đương thời, để giúp họ khám phá lại ý nghĩa sâu xa của những từ ngữ Kitô giáo. Trong nỗ lực đó, tân Phúc âm hóa không thể tách ra khỏi những công thức đức tin đã đạt tới và được tóm tắt trong kinh Tin kính.
2. VAI TRÒ THIẾT YẾU CỦA CÁC LINH MỤC
Đang khi các mục tử trong Hội thánh “nhận biết rằng họ được Chúa Kitô thiết lập không phải để một mình đảm nhận toàn bộ sứ vụ cứu thế của Hội thánh đối với thế giới” , họ vẫn đóng vai trò tuyệt đối cần thiết trong việc Phúc âm hóa. Công cuộc tân phúc âm hóa đòi hỏi cách khẩn thiết phải tìm ra hình thái cho việc thi hành tác vụ linh mục được thực sự có âm hưởng trong hoàn cảnh hiện tại cũng như để cho tác vụ đó có hiệu quả và có khả năng đáp trả tương ứng với hoàn cảnh. Tuy nhiên, mục đích này chỉ có thể đạt được nhờ sự quy chiếu không ngừng vào Chúa Kitô, mẫu mực duy nhất của chúng ta, Đấng làm cho ta có thể bước vào những hoàn cảnh đương đại mà không đánh mất tầm nhìn về mục đích cuối cùng. Công việc canh tân mục vụ đích thực không chỉ được thúc đẩy do những nhận định về văn hoá – xã hội, nhưng quan trọng hơn, phải được thúc đẩy bởi tình yêu bừng cháy đối với Chúa Kitô và Hội thánh của Người. Điểm tới của mọi nỗ lực của chúng ta là Vương quốc Chúa Kitô, khi mọi tạo vật được quy phục trong Người. Điều này sẽ chỉ được hoàn thành vào tận điểm thời gian nhưng cũng đã có mặt từ trong hiện tại nhờ quyền năng của Thánh Thần, Đấng ban sự sống, Đấng mà qua Ngài, Chúa Kitô đã thiết lập Hội thánh như Thân Mình Người và như bí tích phổ quát của ơn cứu độ.
Chúa Kitô, Đầu Hội thánh và Chúa của mọi loài thụ tạo, vẫn tiếp tục công trình cứu độ giữa loài Người. Chức linh mục thừa tác được định vị cách riêng trong sứ vụ này. Khi lôi kéo mọi sự đến với Người (x. Ga 12, 32), Chúa Kitô mong ước các linh mục tham dự vào cách đặc biệt. Đây là chương trình của Thiên Chúa : Ngài muốn Hội thánh và các thừa tác viên trong Hội thánh dấn thân vào công trình cứu độ. Chương trình này mặc dù rõ ràng hiển nhiên từ viễn tượng thần học và giáo thuyết, nhưng lại có thể khó được chấp nhận đối với con người thời hiện đại. Ngày nay, sự trung gian mang tính bí tích và cơ cấu phẩm trật trong Hội thánh đang bị đặt thành vấn đề. Người ta cũng đặt vấn đề về sự cần thiết về vai trò trung gian đó cũng như của cơ cấu phẩm trật và những lý lẽ biện minh cho nó.
Cũng như đời sống Chúa Kitô đã được hiến thánh cho việc công bố cách đích thực ý định yêu thương của Chúa Cha (x. Ga 17, 4; Dt 10, 7-10), đời sống của linh mục cũng phải được hiến thánh trong Danh Người, cho cùng lời công bố đó. Bằng lời nói và việc làm, Đấng Mêssia đã hiến tất cả cuộc sống công khai của Người cho việc rao giảng cách uy quyền (x. Mt 7, 29). Uy quyền đó trước hết phát xuất từ địa vị thần linh của Người, nhưng đồng thời trong mắt của người đời, uy quyền đó còn phát xuất từ mẫu mực đời sống chân thành, thánh thiện và hoàn hảo. Tương tự như thế, linh mục bị đòi hỏi phải thêm vào uy quyền thiêng liêng khách quan đã được ban cho qua bí tích Truyền chức thánh một uy quyền chủ quan phát sinh từ sự chân thành và thánh thiện của đời sống , cũng như đức ái mục tử biểu lộ tình yêu của Chúa Kitô. Lời khuyến dụ của thánh Gregorio Cả dành cho các linh mục vẫn vang vọng bên tai : “Mục tử phải thanh khiết trong tư tưởng, mẫu mực trong hành động, trầm tư trong thinh lặng và hữu dụng trong lời nói. Ngài phải gần gũi mọi người trong đồng cảm và trên hết mọi sự, phải chú tâm đến việc chiêm niệm. Ngài phải là bạn đồng hành khiêm tốn của tất cả những ai làm việc thiện. Cách công minh, Ngài phải cương quyết chống lại thói xấu của người tội lỗi. Ngài không nên xao lãng đời sống nội tâm vì những bận tâm bên ngoài, cũng đừng bỏ sót việc trợ giúp những nhu cầu bên ngoài vì chỉ chú trọng thiện hảo bên trong”.
In the thời đại chúng ta cũng như thường xuyên trong Hội thánh, “các chiến sĩ Phúc âm phải là những chuyên viên về con người, nhận biết cách sâu xa trái tim của con người đương đại, chia sẻ niềm vui và hy vọng, sợ hãi và âu lo của họ, đồng thời là những nhà chiêm niệm trong tình yêu liên kết với Thiên Chúa”. Cách riêng đối với việc tái Phúc âm hóa châu Âu nhưng cũng có những giá trị cho mọi nơi, Đức Thánh Cha xác quyết rằng ” các thánh là những người truyền giảng Tin Mừng vĩ đại nhất của châu Âu. Chúng ta phải cầu xin Chúa làm tăng trưởng tinh thần thánh thiện trong Hội thánh và gửi các vị thánh đến loan báo Tin mừng cho thế giới đương đại”. Đừng quên rằng many người đương đại với chúng ta đã tiến đến gần Chúa Kitô và Hội thánh trước hết là qua những thừa tác viên thánh thiện. Vì thế nhu cầu cần có những chứng nhân đích thực cho Tin Mừng trở thành cấp bách hơn bởi vì đó là “hình ảnh sống động và trong suốt của Chúa Kitô linh mục”.
Trong hành động cứu độ của Chúa Kitô, có thể làm sáng tỏ hai mục tiêu gắn bó chặt chẽ với nhau : một đàng là mục tiêu tri thức nhằm giảng dạy, giáo huấn do những đám đông không người chăn dắt (x. Mt 9, 36) và thúc đẩy trí khôn đi tới sự hoán cải (x. Mt 4, 17); đàng khác là ước vọng lay chuyển tâm hồn những ai lắng nghe Ngài, để họ ăn năn tội lỗi, nhờ đó mở đường cho ơn tha thứ của Thiên Chúa. Tiến trình đó vẫn đúng cho hôm nay : “Lời kêu gọi thực hiện tân phúc âm hóa trước hết là kêu gọi hoán cải” và khi Lời Thiên Chúa đã dạy bảo trí khôn con người và thúc đẩy ý chí của họ khước từ tội lỗi, thì hoạt động Phúc âm hóa đạt đến mục đích của nó trong việc tham dự cách phong phú vào các bí tích, nhất là bí tích Sám hối và Thánh Thể. Đức Phaolô VI đã dạy rằng : “vai trò của Tân Phúc âm hóa rõ ràng là giáo dục con người trong đức tin, dẫn mỗi Kitô hữu đến chỗ sống các bí tích đức tin, chứ không chỉ đón nhận cách thụ động và nửa chừng”.
Phúc âm hóa bao gồm những việc : công bố, làm chứng, đối thoại và phục vụ. Công cuộc đó đặt nền trên ba yếu tố không thể tách rời : rao giảng Lời Chúa, thừa tác vụ bí tích và hướng dẫn tín hữu. Rao giảng sẽ vô nghĩa nếu không bao hàm việc đào tạo trường kỳ cho người tín hữu và việc tham dự các bí tích. Tương tự như thế, tham dự các bí tích mà không có sự hoán cải chân thành của con tim, không có sự chấp nhận đầy đủ đức tin và các nguyên tắc luân lý Kitô giáo thì cũng vô nghĩa. Xét từ viễn tượng mục vụ, hành động phúc âm hóa đầu tiên là rao giảng. Tuy nhiên xét từ viễn tượng ý hướng thì yếu tố đầu tiên của Phúc âm hóa phải là cử hành các bí tích, nhất là bí tích Sám hối và Thánh Thể. Tuy nhiên tính toàn diện của công việc mục vụ của linh mục được tìm thấy trong sự hài hòa của hai nhiệm vụ trên.
Đào tạo tinh thần đại kết cho các tín hữu là một khía cạnh khác cùng lúc càng quan trọng trong việc phúc âm hóa. Công đồng Vaticanô II đã khuyến khích mọi tín hữu ” tham gia cách năng động và thông minh vào công cuộc đại kết” và “đánh giá cao sự tìm kiếm những di sản chung giữa các anh em Kitô hữu thuộc những Giáo hội khác nhau”. Tuy nhiên đồng thời phải ghi nhận rằng ” không có gì xa lạ với tinh thần đại kết cho bằng chủ nghĩa nhân nhượng giả tạo (false irencism) làm phương hại đến sự tinh tuyền của giáo thuyết Công Giáo cũng như che mờ ý nghĩa chắc chắn và đích thực của giáo thuyết”. Các linh mục phải chắc chắn rằng công việc đại kết luôn được thực thi trong sự trung tín với những nguyên tắc đã được Huấn quyền Hội thánh thiết lập, phải tránh những phân cách và cổ võ tính liên tục hài hoà.
(*) CÂU HỎI CHO CHƯƠNG MỘT
- Các cộng đoàn của chúng ta, cách riêng các linh mục của chúng ta có thực sự cảm nhận nhu cầu và sự khẩn thiết của công cuộc tân Phúc âm hóa ?
- Đề tài ” Tân Phúc âm hóa” có thường được rao giảng không ? Có phải là vấn đề nổi bật trong các cuộc hội họp của giáo sĩ, trong các chương trình mục vụ cũng như trong việc thường huấn ?
- Các linh mục có dấn thân cách đặc biệt vào sứ vụ phúc âm hóa mới – mới trong “nhiệt tình phương pháp và cách diễn tả” – cả bên trong (ad intra) cũng như bên ngoài (ad extra) không?
- Người tín hữu có nhìn chức linh mục như quà tặng thần linh cho cả người lãnh nhận chức thánh cũng như cho cộng đoàn, hay họ chỉ nhìn như một công việc quản trị ? Chúng ta đã khuyến khích việc cầu nguyện đủ chưa : cầu nguyện cho ơn gọi linh mục, cũng như cầu nguyện cho sự quảng đại đáp trả ơn gọi ?
- Khi rao giảng Lời Chúa và khi dạy giáo lý, có duy trì được sự cân đối cần thiết giữa việc giáo huấn trong đức tin và việc thực hành các bí tích không ? Hoạt động Phúc âm hóa các linh mục có làm nổi bật sự bổ túc giữa rao giảng và bí tích, giữa “munus docendi” và “munus sanctificandi” không?
- Phải làm gì để giúp các linh mục trở thành những thừa tác viên xây dựng cách hài hòa cộng đoàn ngôn sứ, phụng vụ và bác ái, tức là Hội thánh ?
- Từ (chương trình) chuẩn bị cho Năm thánh 2000, các linh mục có thể rút ra được những cơ may và những ý tưởng cho một chương trình thực tiễn để thi hành việc tân phúc âm hóa ?
CHƯƠNG II: THẦY DẠY LỜI CHÚA
“Hãy đi khắp thế giới, rao giảng Tin mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16, 15)
1. CÁC LINH MỤC, NHỮNG THỪA TÁC VIÊN LỜI CHÚA “NHÂN DANH CHÚA KITÔ, NHÂN DANH HỘI THÁNH”
Để hiểu cách đúng đắn về thừa tác vụ Lời Chúa, phải bắt đầu bằng sự quan tâm đến chính việc Mạc khải của Thiên Chúa. “Trong việc Mạc khải này, với tình thương chan chứa của Ngài, Thiên Chúa vô hình ngỏ lời với mọi người như với bạn hữu, Ngài đối thoại với họ để mời gọi và đón nhận họ hiệp nhất với Ngài”. Trong Kinh thánh, việc loan báo Nước Trời không chỉ nói về vinh quang Thiên Chúa, mà còn là trải rộng vinh quang đó qua việc loan báo. Tin Mừng được Hội thánh rao giảng không chỉ là một sứ điệp nhưng còn là kinh nghiệm thần linh, kinh nghiệm ban sự sống cho tất cả những ai tin, nghe đón nhận và vâng phục sứ điệp.
Vì thế, Mạc khải không chỉ giới hạn vào việc giảng dạy về Thiên Chúa, Đấng ngự trong ánh sáng vô phương đạt thấu, bởi vì Mạc khải còn liên hệ đến những điều kỳ diệu Thiên Chúa làm cho ta bằng ân sủng của Người. Lời mặc khải được hiện tại hóa “trong” và “qua” Hội Thánh, là khí cụ qua đó Chúa Kitô hành động trong chúng ta nhờ Thánh Thần của Người. Lời đó vừa là án xử vừa là ân sủng. Khi lắng nghe Lời Chúa, sự tiếp xúc với chính Thiên Chúa mời gọi trái tim con người và đòi hỏi một quyết định không chỉ ngưng lại ở hiểu biết trí thức nhưng còn đòi hỏi sự hoán cải của con tim.
“Như những cộng tác viên của Giám mục, nhiệm vụ đầu tiên của linh mục là rao giảng Tin Mừng Thiên Chúa cho mọi người… cũng như thiết lập và làm gia tăng Dân Chúa”. Rõ ràng vì rao giảng Tin Mừng không chỉ là thông truyền một sứ điệp về mặt tri thức nhưng là “quyền năng của Thiên Chúa nhằm cứu độ mọi kẻ tin” (Rm 1, 16), ơn cứu độ đã được hoàn thành trong Chúa Kitô và cho mọi người, cho nên việc loan báo Tin Mừng đòi hỏi người loan báo phải có nền tảng siêu nhiên bảo đảm cho tính chính thực và hiệu quả của lời loan báo. Theo một nghĩa nào đó, việc loan báo Tin Mừng do thừa tác viên có chức thánh trong Giáo Hội chính là sự tham dự vào đặc tính cứu độ của chính Lời Chúa, không chỉ vì họ nói về Chúa Kitô nhưng vì họ loan báo Tin Mừng với quyền năng đến từ sự dự phần của họ vào sứ mạng và sự hiến thánh của Lời Nhập Thể. Những lời sau đây của Chúa vẫn vang vọng bên tai các thừa tác viên của Người : “Ai nghe các con là nghe Thầy, ai khinh bỉ các con là khinh bỉ Thầy” (Lc 10, 16). Cùng với thánh Phaolô, họ chứng thực rằng : “Thần khí mà chúng ta đón nhận không phải là thần khí của thế gian nhưng là Thần Khí của Thiên Chúa, ngõ hầu ta nhận biết những Hồng ân Thiên Chúa đã ban. Chúng tôi nói những điều ấy không phải bằng lời lẽ khôn ngoan của loài người, nhưng bằng những lời Thần Khí dạy bảo, giải thích những điều thiêng liêng bằng ngôn ngữ thiêng liêng” (1Cr. 12-13).
Loan báo Tin Mừng là thừa tác vụ phát xuất từ bí tích Truyền chức thánh và được thi hành bằng quyền bính của Chúa Kitô. Quyền năng của Thánh Thần không bảo đảm cho mọi hành vi thừa tác viên có chức thánh cùng một cách. Trong việc ban phát các bí tích, sự bảo đảm này chắc chắn đến độ kể cả tình trạng tội lỗi của thừa tác viên cũng không ngăn cản hoa trái ân sủng. Có những hành vi khác trong đó phẩm chất nhân bản của thừa tác viên đóng vai trò quan trọng đáng kể. Những phẩm chất có thể tăng tiến hoặc ngăn cản hiệu quả tông đồ của Hội thánh. Trong khi toàn bộ công việc mục vụ (munus pastorale) phải được thực hiện (đặc trưng hoá) bằng tinh thần phục vụ, thì cách đặc biệt, tinh thần này phải là nét đặc trưng của thừa tác vụ rao giảng, bởi vì hiệu quả cứu độ của Lời Chúa sẽ tác động mạnh mẽ hơn khi thừa tác viên – vốn không bao giờ là chủ của Lời – càng ngày càng là tôi tớ (của Lời) nhiều hơn).
Tinh thần phục vụ đòi hỏi sự tận hiến cá nhân của thừa tác viên đối với Lời Chúa, đỉnh cao là tận hiến cho chính Thiên Chúa, “Đấng tôi thờ phượng hết lòng bằng việc rao giảng Tin Mừng của Con Ngài” (Rom 1, 9). Thừa tác viên không nên đặt những chướng ngại vật trên đường đi bằng cách theo đuổi những mục tiêu bên ngoài sứ vụ của mình hoặc cậy dựa vào sự khôn ngoan loài người, hoặc nhấn mạnh kinh nghiệm chủ quan của mình mà làm cho Lời Chúa ra tăm tối.
Lời Thiên Chúa không thể bị thao túng. Đúng hơn, người rao giảng “trước hết phải gần gũi với Lời Chúa… và phải là người đầu tiên tin vào Lời, ý thức rằng những lời ta rao giảng không phải là của mình, nhưng của Đấng sai mình”.
Có mối quan hệ thiết yếu giữa kinh nguyện cá nhân và việc rao giảng. Từ việc suy niệm Lời Chúa sẽ xuất hiện cách hồn nhiên “sự ưu việt của chứng tá đời sống, nghĩa là khám phá ra quyền năng của tình yêu Thiên Chúa và làm cho Lời Chúa trở nên thuyết phục. Việc rao giảng có hiệu quả là hoa trái khác của cầu nguyện cá nhân việc rao giảng như thế có hiệu quả không phải vì sự chặt chẽ về mặt chuyên môn nhưng vì lời rao giảng đó đến từ con tim chân thành, con tim cầu nguyện, nhận biết rằng các thừa tác viên không thông truyền sự khôn ngoan của riêng mình nhưng là của Lời Chúa, và không ngừng mời gọi người hoán cải và nên thánh”. Để mang lại hiệu quả, lời rao giảng của các thừa tác viên Chúa Kitô phải được xây nền trên đời cầu nguyện thảo hiếu : “sit orator antequam dictor”.
Kinh nguyện cá nhân mang lại cho linh mục sự nâng đỡ và khích lệ trong cảm thức về sứ vụ, trong ơn gọi đời sống, trong đức tin sống động và tông đồ. Trong cầu nguyện cá nhân, các ngài múc lấy nhiệt tình cho công cuộc Phúc âm hóa. Đọc các giờ kinh phụng vụ không chỉ đơn thuần là việc đạo đức cá nhân hay kinh nguyện cộng đồng của toàn thể Hội thánh. Công việc đó còn mang lại ích lợi mục vụ lớn lao , bởi vì đó là cơ hội đặc biệt để nội tâm hóa và trở nên thân quen với giáo huấn Thánh kinh, giáo phụ, thần học và huấn quyền, tiếp theo đó giáo huấn này được truyền lại cho dân Chúa qua việc rao giảng.
2. HƯỚNG ĐẾN VIỆC RAO GIẢNG LỜI CHÚA CÁCH HIỆU QUẢ
Công cuộc tân Phúc âm hóa phải chú tâm đến tầm quan trọng của việc đưa ý nghĩa của ơn gọi Thánh tẩy đến mức trưởng thành nơi người tín hữu, nhờ đó đưa tín hữu đến chỗ nhận biết rằng họ đã được Thiên Chúa kêu gọi bước theo sát Chúa Kitô và bản thân phải cộng tác vào sứ vụ của Hội Thánh.
“Thông truyền đức tin có nghĩa là khơi dậy, loan báo và đào sâu ơn gọi Kitô hữu, nghĩa là ơn gọi Chúa dành cho hết mọi người khi Ngài cho họ biết mầu nhiệm cứu độ. ..”. Vì thế, nhiệm vụ rao giảng và giới thiệu Chúa Kitô cho mọi người bởi vì chỉ một mình Người là : “Adam mới, trong khi mặc khải về Chúa Cha và tình yêu của Ngài, đã cho con người biết rõ về chính con người và tỏ cho họ biết thiên chức rất cao cả của họ”.
Đối với người Kitô hữu, Phúc âm hóa mới là ý thức Kitô về cuộc sống là hai điều sánh đôi với nhau. Đây là Tin Mừng phải rao giảng cho mọi tín hữu mà không được giảm thiểu bất cứ cái gì liên quan đến sự thiện hảo cũng như những đòi hỏi phải có thể đạt đến. Phải luôn nhớ rằng “người Kitô hữu chắc chắn cần thiết và có bổn phận chiến đấu chống sự dử khi phải trải qua nhiều gian nan cũng như phải chấp nhận cái chết. Nhưng vì được dự phần vào mầu nhiệm phục sinh, được đồng hóa với cái chết của Chúa Kitô, được mạnh mẽ nhờ đức cậy, họ bước tới ơn phục sinh”.
Công cuộc tân Phúc âm hóa đòi hỏi một thừa tác vụ nhiệt thành phục vụ Lời, một thừa tác vụ toàn diện và có nền tảng vững chắc. thừa tác vụ đó phải có nội dung trong ánh sáng về thần học, thiêng liêng, phụng vụ và luân lý; đồng thời phải mang trong tâm trí những nhu cầu của mọi người mà thừa tác vụ đó vươn tới. Không được rơi vào bất cứ cám dỗ nào của chủ nghĩa duy trí thức (intellectualism), vốn có thể làm tối tăm hơn là khai sáng trí năng người Kitô hữu. Đúng hơn, công việc này đòi hỏi đức ái về mặt tri thức qua việc kiên nhẫn và trường kỳ giáo huấn về những điều nền tảng của đức tin và luân lý công giáo, và về ảnh hưởng của nó trong đời sống thiêng liêng. Việc giảng dạy Kitô giáo trước hết phải được coi như thuộc những công việc của lòng thương xót : ơn cứu độ đến từ chỗ nhận biết Chúa Kitô, bởi lẽ “không có Danh nào khác trên thế gian này được ban cho loài người nhờ đó chúng ta được cứu độ” (Cv 4, 12).
Việc giảng dạy giáo lý không thể được hoàn thành nếu không sử dụng một nền thần học vững chắc, bởi vì việc đó không chỉ đòi hỏi việc trình bày giáo thuyết mặc khải mà còn là đào tạo trí năng và lương tâm người tín hữu nhờ giáo thuyết mặc khải, để họ có thể sống cho đúng với ơn gọi Thánh tẩy. Công cuộc Phúc âm hóa mới sẽ được hoàn thành không chỉ nhờ vào việc Hội thánh như một toàn thể và những cơ chế của Hội thánh nhưng còn tùy vào việc mỗi người và mọi Kitô hữu sống đức tin cách đích thực, qua đó cống hiến chứng tá đáng tin cho cùng một niềm tin.
Phúc âm hóa có nghĩa là loan báo và loan truyền những nội dung của chân lý mặc khải bằng mọi phương tiện tốt lành thích hợp (những nội dung đó là đức tin mang chiều kích Kitô và Ba Ngôi, ý nghĩa của tín lý về Tạo dựng, những chân lý về Cánh chung, những giáo thuyết liên quan đến Hội thánh, con người, các Bí tích và những phương thế cứu độ khác). Cũng quan trọng việc dạy cho người ta phương thế chuyển dịch cách cụ thể những chân lý này vào trong cuộc sống, bằng việc đào tạo về mặt luân lý và thiêng liêng để họ trở thành những chứng nhân sự sống và dấn thân truyền giáo.
Công việc đào tạo thiêng liêng và thần học (cũng như việc thường huấn cho các linh mục, phó tế và giáo dân ), cả hai đều là những việc lớn và không thể lẩn tránh được. Do đó thừa tác vụ Lời Chúa và các thừa tác viên phải có khả năng đáp trả những hoàn cảnh hiện nay. Trong khi hiệu quả của thừa tác vụ chủ yếu tùy thuộc vào sự trợ giúp của Chúa, nó cũng đòi hỏi mức độ cao nhất có thể của sự hoàn hảo về mặt con người. Việc loan báo (được đổi mới) sứ điệp Kitô giáo về mặt giáo thuyết, thần học và thiêng liêng, vốn nhắm mục đích trước hết là đốt lên và thanh tẩy lương tâm người đã được chịu Phép Rửa, không thể được hình thành qua những bài nói ứng khẩu cách lười biếng và vô trách nhiệm. Lại càng ít đạt hiệu quả hơn nếu về phía các linh mục không sẵn lòng trực tiếp đảm nhận trách nhiệm công bố Lời Chúa – đặc biệt là những gì liên quan đến việc giảng Lời Chúa trong Thánh lễ (homiletic ministry) vốn không thể nhường cho những người không được phong chức , cũng không được dễ dàng phó thác cho những người ít được chuẩn bị cho công việc này.
Như vẫn luôn luôn được nhấn mạnh, giảng thuyết đòi hỏi linh mục phải chú tâm đặc biệt đến việc chuẩn bị từ xa. Điều này được cụ thể hóa qua những việc như học hỏi và tìm kiếm những gì có thể giúp các thừa tác viên trong việc chuẩn bị. Với sự nhạy bén mục vụ, người giảng phải luôn nhận biết những vấn đề đang làm con người (thế giới) hôm nay bận tâm và có thể đưa ra một giải quyết khả dĩ. Hơn thế nữa, nếu các linh mục phải đưa ra những câu trả lời cho các vấn đề con người thời nay đang tranh cãi, các ngài nên thông biết những tuyên bố của Huấn quyền, nhất là của các Công Đồng và các vị Giáo Hoàng. Các ngài cũng nên tham khảo những tác giả được tán thưởng nhất về thần học , cũng như cuốn Giáo lý của Hội thánh Công giáo. Cũng phải nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc thường huấn cho hàng giáo sĩ, và cách riêng về nội dung nên phù hợp với bản Chỉ nam về Tác vụ và Đời sống linh mục. Những nỗ lực trong lãnh vực này sẽ luôn mang lại mùa gặt phong phú. Thêm vào những điều trên phải chú tâm đến việc chuẩn bị gần, rất cần để rao giảng Lời Chúa. Ngoại trừ những hoàn cảnh đặc biệt khi không thể làm gì khác hơn, sự khiêm tốn và cần mẫn đòi hỏi linh mục ít nhất phải có một dàn bài cẩn thận về những gì mình định nói.
Suối nguồn chính của giảng thuyết dĩ nhiên là Thánh Kinh, được suy niệm cách sâu xa trong cầu nguyện cá nhân cũng như được hòa nhập qua việc nghiên cứu và tiếp cận tương xứng với những sách vở thích hợp Kinh nghiệm mục vụ chứng minh rõ ràng quyền năng và sự hùng hồn của Sách thánh có thể làm cho tâm hồn những người lắng nghe bừng cháy. Các Giáo phụ và các nhà tư tưởng lớn trong truyền thống Công giáo dạy ta cách đào sâu ý nghĩa của lời mặc khải và thông truyền ý nghĩa đó cho người khác. Điều này khác xa với bất cứ hình thức “cực đoan Kinh Thánh”(biblical fundamentalism) nào cũng như khác xa với việc cắt xén sứ điệp Thần linh. Khoa sư phạm mà Hội thánh vận dụng để đọc, giải thích và áp dụng Lời Chúa qua suốt các mùa Phụng vụ phải là điểm quy chiếu cho việc giảng thuyết. Đời sống các thánh, cuộc chiến đấu và sự anh hùng của các ngài vẫn luôn mang lại những hiệu quả tích cực trong tâm hồn người tín hữu Kitô, vốn đang rất cần những mẫu gương anh dũng của các thánh trong việc tận hiện chính mình cho Thiên Chúa, và qua Thiên Chúa, tận hiến cho tha nhân. Việc quy chiếu vào đời sống các thánh đã làm mới lại ý nghĩa trong hoàn cảnh sống hiện nay, nơi mà người tín hữu thường xuyên bị tấn công bởi những giá trị và giáo thuyết mơ hồ. Tất cả những điều đó đều ích lợi cho việc phúc âm hóa cũng như cho việc thăng tiến cảm nhận về tình yêu Thiên Chúa nơi người tín hữu, thăng tiến tình liên đới với mọi người, cũng như tinh thần phục vụ và sự tự hiến quảng đại cho tha nhân. Lương tâm Kitô giáo đạt tới trưởng thành qua việc thường xuyên quy chiếu về Đức Ái.
Linh mục cũng nên vun trồng những khía cạnh hình thức của giảng thuyết. Chúng ta đang sống trong thời đại thông tin, đặc biệt là thông tin nhanh. Trên truyền hình và qua radio, chúng ta thường nghe các chuyên gia và chuyên viên nói chuyện. Theo một nghĩa nào đó, linh mục cũng là người làm công tác truyền thông xã hội, linh mục phải cạnh tranh được với những người đó khi rao giảng cho các tín hữu. Do đó sứ điệp của linh mục phải được trình bày cách lôi cuốn. Tinh thần tông đồ phải thúc đẩy linh mục thủ đắc khả năng trong việc sử dụng “những tòa giảng mới” do các phương tiện truyền thông hiện đại mang lại, và phải chắc chắn rằng việc rao giảng của mình luôn ở mức độ phù hợp với Lời được rao giảng. Các đại học ngày nay cho thấy một sự đột khởi trong mối quan tâm đến khoa hùng biện. Các linh mục cũng nên có mối quan tâm như thế cũng như ước muốn có được các trình bày và sự quân bình đáng quý, đáng trân trọng.
Như việc rao giảng của Chúa Kitô, việc rao giảng của linh mục phải tích cực, có khả năng khơi dậy và lôi kéo con người đến với cái Chân, Thiện, Mỹ của Thiên Chúa. Các Kitô hữu phải cương quyết làm cho: ”vinh quang Thiên Chúa chiếu tỏa trên dung nhan Đức Kitô“ (2Cr.4,6) được nhận biết, và trình bày chân lý mạc khải cách cuốn hút. Lại có thể phủ nhận bản chất lôi cuốn mạnh mẽ- cho dù thanh tịnh – của lối sống Kitô giáo sao? Không có gì phải sợ hãi trong lãnh vực này cả. “ Trong mầu nhiệm Vượt qua, kể từ khi đón nhận hồng ân là chân lý tối thượng về sự sống con người, thì dọc theo mọi nẻo đường của thế giới. Hội thánh ra đi loan báo rằng Chúa Giêsu Kitô là “ Đường, Sự Thật và Sự Sống “ ( Ga 14,6). Bổn phận của Hội thánh là phục vụ nhân loại bằng nhiều nẻo đường khác nhau, nhưng cách riêng có một nẻo đường đòi hỏi trách nhiệm đặc biệt, đó là phục vụ Sự Thật.
Trong giảng thuyết, sử dụng ngôn ngữ chính xác và thanh lịch, dễ hiểu đối với mọi người thuộc mọi tầng lớp xã hội, luôn là điều hữu ích. Nên tránh thứ ngôn ngữ quá tầm thường. Trong khi nhà giảng thuyết phải nói từ một tầm nhìn đích thực của lòng tin, thì đồng thời ngài cũng phải sử dụng những từ vựng dễ hiểu với mọi người, và phải tránh những ngôn ngữ chuyên môn cũng như những nhượng bộ cho tinh thần thế tục (của chủ nghĩa duy vật). Từ góc độ nhân loại, “chìa khóa” của việc rao giảng Lời Chúa cách hiệu quả nằm ở chỗ này: đó là sự lão luyện của nhà giảng thuyết, biết rằng mình muốn nói gì, và luôn luôn quan tâm đến việc chuẩn bị xa cũng như gần cách nghiêm túc. Cung cách này hoàn toàn khác với lối ứng khẩu ngẫu hứng. Tìm cách che mờ sức mạnh toàn bộ của chân lý là những hình thức đáng ghét của chủ nghĩa nhân nhượng giả tạo ( * ). Vì thế cần phải cẩn trọng về ý nghĩa của từ ngữ, phong thái và cách nói. Nên làm nổi bật những chủ đề quan trọng – nhưng không khoe khoang hợm hĩnh – sau khi đã suy tư kỹ lưỡng. Nên tập một giọng nói dễ nghe. Người giảng phải biết mục tiêu của mình, đồng thời hiểu rõ thực tế đời sống và văn hóa của cộng đoàn. Phải luôn luôn tránh những lý thuyết và tổng quát hóa trừu tượng. Do đó người giảng phải biết rõ đoàn chiên của mình và vận dụng lối nói lôi cuốn, thay vì gây tổn thương cho người ta, thì đánh động lương tâm và không sợ gọi sự vật bằng đúng tên của nó.
Các linh mục dấn thân trong nhiều trách nhiệm mục vụ khác nhau nên giúp đỡ nhau bằng những lời khuyên huynh đệ về những vấn đề trên cũng như những chuyện khác, chẳng hạn về nội dung giảng thuyết, về chất lượng thần học và ngôn ngữ, về phong cách, về độ dài của bài giảng (sao cho hợp lý), về giọng nói:”Khi nói từ tốn bình thường, khi thay đổi (cao độ, cường độ …), khi nhấn mạnh, khi dừng lại. Linh mục cần khiêm tốn để đón nhận sự giúp đỡ của anh em linh mục, và cách gián tiếp, của chính người tín hữu cùng cộng tác với ngài trong hoạt động mục vụ.
( * ) Tạm dịch từ “irenicism” là “chủ nghĩa nhân nhượng giả tạo“, vì trong thông điệp Humani Generis, Đức Piô XII dùng từ này trong ý chỉ một thái độ dung thứ trước những sai lầm không thể chấp nhận được, chỉ nhằm mục đích tìm bình an và hòa hoãn, nhưng đó không phải là hòa bình đích thực.
(*) CÂU HỎI CHO CHƯƠNG HAI
8/. Chúng ta có thực sự đánh giá cao hiệu quả đích thực của thừa tác vụ Lời Chúa trong đời sống của cộng đoàn không ? Có lo lắng đến việc vận dụng phương thế thiết yếu này trong việc Phúc âm hóa bằng khả năng chuyên môn tốt nhất có thể không ?. 9/.Trong các khóa thường huấn có quan tâm đủ đến việc kiện toàn những hình thức khác của việc loan báo Lời Chúa không ?. 10/. Các linh mục có được khuyến khích nghiên cứu nền thần học trong sáng cũng như các văn bản của các giáo phụ, các Tiến sĩ Hội thánh và các thánh không ? Đã nỗ lực đủ trong việc học hỏi và giảng dạy về các bậc thầy của linh đạo Kitô giáo chưa ? 11/. Có khuyến khích về việc thiết lập thư viện tốt dành cho các linh mục, nhằm phản ánh cái nhìn giáo thuyết vững chắc không ? 12/. Tại địa phương, có dễ dàng liên hệ với các thư viện qua mạng Internet không ? Các linh mục đã biết đến thư viện điện toán do Thánh bộ Giáo sĩ thiết lập chưa ? 13/.Các linh mục có sử dụng những bài giáo lý và giáo huấn của Đức Thánh Cha, cũng như các tài liệu khác của Tòa thánh không ? 14/. Có nhận thức được nhu cầu nhân sự (linh mục, phó tế vĩnh viễn, tu sĩ, giáo dân,) để họ có khả năng sử dụng tốt những phương tiện truyền thông, vốn là những khía cạnh quan trọng trong cuộc Phúc âm hoá nền văn hóa đương đại không ?
CHƯƠNG III: THỪA TÁC VIÊN BÍ TÍCH
“Những người đầy tớ của Đức Kitô, những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa” (1Cr 4,1)
1. ‘NHÂN DANH ĐỨC KITÔ LÀ ĐẦU’
“Sứ mạng của Hội Thánh không phải là bổ túc cho sứ mạng của Đức Kitô và của Thánh Thần, nhưng là bí tích của sứ mạng này: toàn thể và từng chi thế của Hội Thánh được sai đi để rao giảng và làm chứng, hiện đại hóa, và lan tỏa mầu nhiệm hiệp thông của Ba Ngôi chí thánh”. Toàn thể sứ mạng của Hội Thánh trong chiều kích bí tích biểu lộ bản chất đích thực của Hội Thánh chân chính, một Hội Thánh có đặc tính “vừa nhân loại vừa thần linh, vừa hữu hình vừa hàm chứa những thực tại vô hình, vừa nhiệt thành hoạt động vừa chiêm niệm, vừa hiện diện nơi trần gian nhưng đồng thời cũng là lữ khách”. Theo nghĩa này Hội Thánh là” bí tích phổ quát cứu rỗi” , “tỏ bày đồng thời thực hiện mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa đối với con người“ , các bí tích, thời gian ân sủng của Thiên Chúa thông ban sự sống cho con người, là cốt lõi của sứ vụ linh mục. Cách đặc biệt, các linh mục ý thức mình là những dụng cụ sống động của Đức Kitô Linh Mục. Chức năng của họ, nhờ đặc tính bí tích, là người làm đúng theo hành động của Thiên Chúa qua tính hiệu quả của dụng cụ.
Đồng hình đồng dạng với Đức Kitô trong bí tích truyền chức, linh mục được đặt vào giữa lòng dân Thiên Chúa. Với chức thánh, các Ngài được tham gia cách đặc biệt, và phù hợp với toàn bộ cơ cấu của cộng đoàn Hội Thánh, trong ba chức năng của Đức Kitô. Linh mục, hành động “ nhân danh Đức Kitô là Đầu”, nuôi dưỡng đoàn chiên là dân Thiên Chúa, và dẫn họ đến sự thánh thiện. Do đó, đòi hỏi Linh mục là chứng nhân đáng tin về niềm tin của mình trong mọi khía cạnh của đời sống linh mục cũng như trong sự tôn kính và cử hành các bí tích. Công đồng Vatican II đã lập lại học thuyết truyền thống, phải luôn luôn khắc ghi trong tâm trí : “ thật vậy, dù ơn Chúa có thể hoàn tất công trình cứu rỗi qua những thừa tác viên bất xứng, nhưng thường tình Thiên Chúa muốn tỏ ra những việc lạ lùng của Ngài qua những vị sẵn sàng đi theo sự thúc giục và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần hơn, bằng kết hiệp mật thiết với Chúa Kitô và bằng một đời sống thánh thiện để có thể nói như thánh tông đồ rằng: “Dù tôi sống nhưng không phải là tôi sống, mà thực ra Chúa Kitô sống trong tôi” (G12,20).
Trong khi cử hành các bí tích, các linh mục hành động như những thừa tác viên của Chúa Kitô, qua Chúa Thánh Thần, dự phần vào chức vụ tư tế của Chúa Kitô cách đặc biệt. Vì thế, các bí tích là những thời điểm thờ phượng quan trọng đặc biệt đối với việc Phúc âm hóa mới. Cần phải nhắc lại rằng các bí tích trở thành những thời điểm hiệu quả duy nhất để chuyển thông nội dung đức tin. Điều này rất đúng với tất cả các Kitô hữu, đúng hơn nữa đối với những người đã đánh mất việc thực hành đức tin, đôi khi mới tham dự vào cử hành phụng vụ vì lý do gia đình hoặc vì lý do xã hội ( như phép Thánh Tẩy, Thêm sức, Hôn nhân, Lễ phong chức, Lễ an táng…). Cách sống đáng tin về phía các linh mục phải được bổ túc “với việc cử hành phụng vụ xứng hợp”. Phụng vụ không mang tính trình diễn nhưng thực sự khẳng định rằng “yếu tố nhân loại quy hướng và lệ thuộc vào yếu tố thần linh, những thực tại hữu hình phải quy hướng về những thực tại vô hình, thế giới hiện tại này phải hướng về thành đô tương lai”.
2. CÁC THỪA TÁC VIÊN BÍ TÍCH THÁNH THỂ : TÂM ĐIỂM CỦA TÁC VỤ LINH MỤC
Chúa Giêsu gọi các tông đồ là “bạn hữu”. Ngài cũng gọi chúng ta là bạn hữu từ khi chúng ta chia sẻ chức linh mục của Ngài qua đặc sủng bí tích Truyền chức… còn cách nào khác để Chúa Giêsu có thể diễn tả tình bạn đối với chúng ta đầy đủ hơn khi cho phép chúng ta, những linh mục của Giao Ước Mới, được hành động nhân danh Ngài, hành động với tư cách Đức Kitô là Đầu ? Đây là điều diễn ra trong tất cả công việc của chức linh mục, khi chúng ta cử hành các bí tích, đặc biệt khi chúng ta cử hành bí tích Thánh thể. Chúng ta lập lại lời Chúa Giêsu đã nói trên bánh và rượu, qua tác vụ, chúng ta thực hiện cùng một sự thánh hiến như Chúa Giêsu đã thực hiện. Còn gì khác để diễn tả tình bạn hơn điều này nữa ? Đó là điều cốt lõi của sứ vụ linh mục”.
Phúc âm hóa mới phải mang dấu hiệu rõ ràng hướng về tâm điểm là bí tích Thánh Thể, là suối nguồn và đỉnh cao của toàn bộ đời sống Kitô, đối với các tín hữu. “Không một cộng đoàn Kitô hữu nào được thiết lập mà không đặt nền tảng và trọng tâm vào việc cử hành phép Thánh thể chí thánh“ bởi vì “những bí tích khác cũng như những thừa tác vụ trong Hội Thánh và các hoạt động tông đồ đều gắn liền với Bí tích Thánh Thể và quy hướng về đó. Phép Thánh Thể chí thánh chứa đựng tất cả của cải thiêng liêng của Hội Thánh”.
Bí tích Thánh thể cũng là mục tiêu của công việc mục vụ. Tín hữu phải góp phần vào đó nếu họ muốn đón nhận hoa trái từ bí tích. Thật cần thiết để nhớ rằng: người tín hữu khi chuẩn bị cử hành phụng vụ phải chuẩn bị “ xứng hợp, cẩn thận và có hiệu quả”, đồng thời giúp họ nhận biết rằng họ “ được mời gọi và dẫn đưa người ta hiến dâng chính mình, dâng những vất vả của mình và mọi tạo vật làm một với hiến tế của Chúa Kitô. Bởi vậy, Thánh thể là nguồn mạch và tuyệt đỉnh của toàn thể công việc rao giảng Phúc âm”. Từ chân lý này sẽ đem lại nhiều hiệu quả cho công việc mục vụ.
Việc huấn luyện tín hữu về Hiến tế thánh trên bàn thờ có tầm quan trọng đặc biệt, cũng như cần khuyến khích họ dự phần cách hiệu quả vào Bí tích Thánh thể. Cần lưu ý những đòi buộc ngày Chúa Nhật và tham dự thường xuyên, nếu không phải là mỗi ngày, việc tham dự vào cử hành Thánh lễ và hiệp thông Thánh Thể. Cần nhấn mạnh phải hội đủ những điều kiện thể chất và thiêng liêng để đón nhận Mình Thánh Chúa – Cách đặc biệt việc cá nhân lãnh nhận bí tích Sám hối đối với những ai ý thức rằng họ không ở trong tình trạng ân sủng … Sức mạnh của các giáo hội địa phương và cộng đoàn giáo xứ tùy thuộc vào điều này, trong một phạm vi rộng lớn, việc tái khám phá tặng phẩm cao quý của Bí Tích Thánh Thể trong đức tin và tôn thờ. Khi mối liên hệ giữa Thánh Thể và đời sống hằng ngày không được biểu lộ rõ ràng trong lời dạy của linh mục, giữa lời nói và cuộc sống. Sự tham dự của cộng đoàn sẽ không còn được quan tâm nữa.
Về phương diện này, gương mẫu của linh mục cử hành phụng vụ là điều quan trọng nền tảng : “cử hành Thánh Thể cho tốt là hình thức quan trọng của giáo lý cơ bản về Hiến Tế”. Trong khi điều này không hẳn là ý nghĩa của linh mục, nhưng thật quan trọng đối với giáo dân khi thấy linh mục chuẩn bị nghiêm túc qua việc chính linh mục hồi tâm trước khi cử hành Thánh Thể. Giáo dân sẽ trở nên những chứng nhân về tình yêu và lòng tôn sùng của linh mục đối với Thánh Thể và theo gương ngài, họ còn nhận biết rằng phải tạ ơn giây lát sau khi rước lễ.
Trong khi phần thiết yếu trong việc Phúc âm hóa của Hội Thánh là dạy cho mọi người cầu nguyện với Thiên Chúa Cha, qua Chúa Con trong Chúa Thánh Thần, thì Phúc âm hóa mới đòi hỏi phục hồi và củng cố những thực hành mục vụ, có thể biểu lộ niềm tin vào sự hiện diện thật sự của Chúa dưới hình Thánh Thể. “ Ngoài việc cử hành Thánh lễ, linh mục có nhiệm vụ thúc đẩy lòng tôn sùng sự hiện diện Thánh Thể, kể cả ngoài Thánh lễ, do đó, làm cho nhà thờ trở thành “ nhà cầu nguyện” của tín hữu. Giáo dân phải được hướng dẫn tốt hiểu rõ những điều kiện bắt buộc để có thể hiệp thông Thánh Thể. Cũng quan trọng khuyến khích lòng tôn sùng giáo dân đối với Chúa Giêsu Thánh Thể, Đấng đang đợi họ nơi Nhà Tạm. Đơn giản nhưng hiệu quả của các bài giáo lý về Thánh Thể đó là quan tâm tới chất liệu của mọi đồ dùng có liên quan tới nhà thờ, cách đặc biệt là nhà thờ và nhà tạm: như sạch sỹ, thẩm mỹ, khăn trải bàn thờ, bình bông xứng hợp, quan tâm tới những nghi thức phụng vụ như cúi chào… một bầu khí tĩnh lặng phải được lan tỏa trong nhà nguyện nơi để Mình Thánh Chúa. Xuyên suốt truyền thiện Hội Thánh qua bao thế kỷ nói với chúng ta rằng tĩnh lặng là nơi thích hợp để đối thoại với Thiên Chúa. Tâm điểm của các nhà Thờ là nhà nguyện nơi có Mình Thánh Chúa hoặc là nơi mà Chúa Giêsu Thánh Thể được dành riêng để mọi người tôn thờ. Việc lui tới cũng phải thuận lợi và minh nhiên. Cố gắng dành nhiều thì giờ mở cửa trong ngày để mọi người có thể đến và nên trang trí phù hợp.
Tất cả những điều trên không thủ đắc từ hình thức của “chủ thuyết duy linh” nhưng xuất phát từ truyền thống đạo đức có nền tảng thần học đối với Mầu Nhiệm Thánh Thể. Người ta sẽ nhận ra điều đó nếu linh mục là người cầu nguyện và yêu mến Thánh Thể. Chỉ có mục tử nào cầu nguyện mới biết làm thế nào dạy cho người khác cầu nguyện và đưa ân sủng của Thiên Chúa đến cho họ qua nhiệm vụ mục tử của mình, nhờ đó sẽ có nhiều cuộc trở lại hơn, many quyết tâm nhiệt thành hơn, many ơn gọi linh mục và đời thánh hiến hơn. Chỉ linh mục nào có kinh nghiệm mỗi ngày về ‘conversatio in coelis’ và đời sống của ngài được thúc đẩy bằng tình bạn với Chúa Giêsu Kitô mới có thể có những tiến bộ thực sự hướng đến tái phúc âm hóa đích thực.
3. NHỮNG THỪA TÁC VIÊN CỦA ƠN HÒA GIẢI VỚI THIÊN CHÚA VÀ HỘI THÁNH
Trong một thế giới mà ý thức về tội bị suy giảm , điều trước tiên phải nhấn mạnh là: sự thiếu vắng tình yêu đối với Thiên Chúa đã làm lu mờ ý thức của chúng ta về thực tại tội và sự dữ. Khởi đầu của sự hoán cải không chỉ là hành động nội tâm mang tính nhất thời nhưng như một trạng thái vững bền, bắt đầu với nhận thức về tình yêu thương xót của Thiên Chúa. “Những ai đã đến và nhận biết Thiên Chúa theo cách này, họ không còn cách sống nào khác hơn là liên tục hoán cải hướng về Ngài. Như vậy họ sống trong một tình trạng hoán cải”. Bí tích hòa giải là phần quan trọng trong di sản đời sống Hội Thánh đối với người được rửa tội. Bởi vì, đó là dấu hiệu niềm hy vọng được tha thứ : “xưa anh em chưa được hưởng lòng thương xót, nay anh em đã được xót thương” (1Pr 2, 10).
Phúc âm hóa mới cần phải nỗ lực đưa người tín hữu đến với bí tích hòa giải. Công việc mục vụ này là một đòi buộc tuyệt đối Bí tích hòa giải “mở con đường cho mọi người, đặc biệt đối với những người gục ngã trong tội trọng, có được kinh nghiệm cá nhân về lòng thương xót, nhận ra rằng tình yêu thì mạnh hơn tội lỗi”. Chúng ta không được quên động viên và khuyến khích đời sống bí tích trong khi cố gắng về mặt tri thức để làm mới và tiếp sức sống những truyền thống Kitô giáo lâu đời. Như bước đầu tiên, với sự trợ giúp của Thánh Thần, việc này dẫn đưa tín hữu đến sự sám hối, từ đó dẫn đến việc nhận biết chân thành và hối hận về những thiếu sót luân lý trong đời sống hằng ngày. Cần nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc xưng tội cá nhân và thường xuyên, đến mức độ có thể là có linh hướng thực sự cho cá nhân.
Không lầm lẫn thời điểm bí tích với việc linh hướng, các linh mục phải biết nhận ra những cơ hội để bắt đầu đối thoại thiêng liêng bên ngoài việc cử hành bí tích. “Tái khám phá là một đẩy mạnh việc thực hành này, kể cả trong những thời điểm khác, ngoài việc cử hành bí tích hòa giải, là lợi ích lớn cho Hội Thánh hôm nay”. Như thế sẽ dẫn tới việc khơi dậy ý thức và hiệu quả bí tích và tạo nên những điều kiện cần thiết để vượt qua sự khủng hoảng hiện nay. Việc linh hướng cá nhân là một hình thức tông đồ đích thực, có thể khơi dậy công cuộc Phúc âm hóa mới trong xã hội. Bởi vì ngày càng có nhiều người xa rời Hội Thánh nên để việc tái Phúc âm hóa có kết quả, đòi hỏi một sự huấn luyện vững chắc đối với những người vẫn còn gắn bó với Hội Thánh.
Phúc âm hóa mới tùy thuộc vào số lượng tương ứng của các linh mục; kinh nghiệm dạy rằng many người đáp trả cách tích cực đối với ơn gọi là nhờ sự linh hướng và chứng tá của các linh mục sống trung tín bên trong cũng như bên ngoài của căn tính linh mục. “Trong công việc mục vụ của mình, mỗi linh mục sẽ quan tâm cách riêng đến mục vụ ơn gọi, khuyến khích cầu nguyện cho ơn gọi, làm tốt nhất có thể trong việc dạy giáo lý và chăm lo việc đào tạo các thừa tác viên. Ngài sẽ đưa ra những sáng kiến thích hợp qua tương quan cá nhân với những người Ngài chăm sóc, giúp họ khám phá tài năng của mình, nhận ra Thánh Ý Chúa dành cho họ, nhờ đó can đảm chọn lựa bước theo Chúa Kitô. .. Ước mong là mọi linh mục quan tâm đến việc gợi hứng ít nhất là một ơn gọi linh mục, để có thể tiếp nối sứ vụ của mình”.
Tạo điều kiện cho hối nhân đến với tòa giải tội mặc định rằng chúng ta phải hy sinh nhiều thời gian. Rất nên khuyến khích việc ấn định thời gian và linh mục sẵn sàng ngồi tòa giải tội. Giáo dân được thông báo và linh mục sẵn sàng phục vụ chứ không chỉ trên lý thuyết. Đôi khi, chỉ nguyên việc đi tìm kiếm cha giải tội cũng đủ để cho họ trì hoãn và ngăn trở đến với tòa giải tội. Một đàng khác, người tín hữu có ý định đến với bí tích ở những nơi mà họ biết rõ cha giải tội đang sẵn sàng. Các nhà thờ và những nơi cử hành việc thờ phượng chung nên có nhà nguyện cáo giải thích hợp, để thuận tiện cho việc xưng tội, các linh mục nên cung cấp và thực hiện một thời khóa biểu ngồi tòa được sắp xếp thường xuyên. Để thuận tiện cho giáo dân khao khát đến lãnh nhận bí tích, tòa giải tội phải được thường xuyên quét dọn sạch sẽ, chắc chắn người ta sẽ dễ dàng nhận ra và dùng màn che đối với những ai muốn được giữ bí mật.
Để duy trì những thực hành mục vụ này không luôn luôn dễ dàng, nhưng điều đó không cho phép chúng ta lơ là việc quan tâm đến hiệu quả của mục vụ này đối với hối nhân hoặc không củng cố lại điều đã bị lơ đãng. Khuyến khích sự cộng tác giữa các linh mục triều và dòng để bảo đảm cho sự ưu tiên mục vụ này. Về khía cạnh trên, trao việc ngồi tòa cáo giải hằng ngày cho các linh mục lớn tuổi là điều cần thiết, vì các Ngài là những bậc thầy thực sự trong đời sống thiêng liêng trong many cộng đoàn Kitô hữu khác nhau.
Dĩ nhiên, công việc phục vụ Hội Thánh này sẽ được chu toàn cách dễ dàng hơn khi chính linh mục là người đầu tiên đến bí tích hòa giải thường xuyên. Chính linh mục như một hối nhân cậy dựa vào bí tích hòa giải, là điều kiện cần thiết cho thừa tác vụ phong phú của bí tích hòa giải.
“Đời sống linh mục có thể bị suy đoái nếu như chính họ thờ ơ hoặc vì lý do nào khác, không đến với bí tích giải tội một cách đều đặn với một đức tin và một lòng sốt sắng đích thực. Nếu một linh mục không còn đi xưng tội nữa hoặc xưng tội không nên thì sứ vụ linh mục của Ngài sẽ sớm bị ảnh hưởng, và chính cộng đoàn mà linh mục dẫn dắt sẽ nhận ra điều đó”.
“Thừa tác vụ linh mục trước hết là sự hiệp thông, sự hợp tác thiết yếu và có trách nhiệm vào thừa tác vụ của giám mục, trong việc chăm lo cho Giáo Hội hoàn vũ và cho Giáo hội đặc thù và, cũng với Giám mục làm thành linh mục đoàn duy nhất trong khi phục vụ Giáo Hội ấy”. Tình huynh đệ trong linh mục đoàn luôn là đối tượng đặc biệt của đức ái mục tử nơi linh mục, qua việc giúp nhau về vật chất cũng như tinh thần, bằng việc giúp nhau có cơ hội để xưng tội và hướng dẫn thiêng liêng, bằng việc động viên công việc của nhau, giúp nhau khi cần thiết, giúp nhau khi gặp khó khăn, già yếu, tật nguyền. Điều này thực sự là lãnh vực để sử dụng đặc ân linh mục.
Sự khôn ngoan mục vụ là đức tính căn bản cho việc thực thi cách hiệu quả sứ vụ bí tích hòa giải. Như vậy khi thừa tác viên công bố lời tha tội, ngài góp phần như một dụng cụ hiệu quả trong hành vi bí tích. Công việc của ngài trong nghi thức hòa giải là đặt hối nhân trước Chúa Giêsu, bằng cách ấy hối nhân có thể đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa với sự tự do cao nhất. Nên tránh những tranh luận về những bất đồng mà không lưu tâm đến thực tại của tội. Do vậy cha giải tội phải có sự hiểu biết thích hợp. Tuy nhiên, sự đối thoại với hối nhân phải luôn thấm nhuần sự hiểu biết để dần dần dẫn đến sự hoán cải. Tuy nhiên, không nên rơi vào sự lầm lẫn về điều được gọi là “tính phân cấp của những quy tắc luân lý”.
Khi việc đi xưng tội bị giảm sút, trong một số trường hợp dẫn tới sự tổn hại về đời sống luân lý và lương tâm của người tín hữu, đôi khi mối nguy hiểm phát xuất từ chỗ suy đoái trong phẩm chất thần học và mục vụ của việc ứng dụng sứ vụ hòa giải. Các cha giải tội phải thường xuyên cầu xin Đấng Bầu Chữa ban cho khả năng lấp đầy thời điểm cứu độ này bằng ý nghĩa siêu nhiên, và biến đổi thời điểm đó thành cuộc gặp gỡ đích thực giữa hối nhân và Chúa Giêsu, Đấng thương xót và tha thứ. Đồng thời ngài phải lợi dụng cơ hội để huấn luyện cách đúng đắn lương tâm của hối nhân – nhiệm vụ cực kỳ quan trọng – bằng cách khéo léo đặt ra những câu hỏi cần thiết để bảo vệ tính toàn vẹn và thành sự của bí tích. Ngài cũng giúp hối nhân tạ ơn Thiên Chúa về lòng thương xót và xin Thiên Chúa trợ giúp để sửa đổi lại đời sống luân lý. Cha giải tội cũng không quên động viên hối nhân cách xứng hợp, nâng đỡ và khuyến khích hối nhân làm việc đền tội, vừa đền bù các tội đã phạm, vừa giúp hối nhân lớn lên trên đường nhân đức.
(*) CÂU HỎI CHO CHƯƠNG BA
- Bản chất và ý nghĩa cứu độ của các bí tích không thay đổi. Khởi đi từ xác tín mạnh mẽ vào lập trường này, làm thế nào để việc chăm sóc mục vụ bí tích được canh tân và làm thế nào để công việc này phục vụ cho công cuộc Phúc âm hóa mới ?
- Cộng đoàn riêng của chúng ta có là “một Hội Thánh của Thánh Thể và Sám Hối” ? Lòng tôn sùng Thánh Thể trong mọi hình thức có được nuôi dưỡng và khích lệ ? Việc xưng tội cá nhân có được giúp đỡ và khuyến khích không ?
- Có được nhắc nhở thường xuyên về sự hiện diện thực sự của Chúa trong nhà tạm, chẳng hạn, thực hành việc viếng Thánh Thể có được khuyến khích ? Có những cử hành tôn thờ Thánh Thể không ? Trong các nhà thờ của chúng ta, có được bầu khí thúc đẩy việc cầu nguyện trước Thánh Thể không ?
- Trong tinh thần mục vụ đích thực, có dành sự chăm sóc đặc biệt cho việc tu bổ nhà thờ không ? Các linh mục có tôn trọng giáo luật ? (x. khoản luật 284, 669); bản chỉ nam về sứ vụ và đời sống linh mục) và những quy định phụng vụ về lễ phục thích hợp và tôn kính khi cử hành việc thờ phượng, và có mặc đầy đủ như đã quy định ? (x. khoản luật 929).
- Các linh mục có thường xuyên đến với Bí Tích hòa giải và chính họ sẵn sàng cho sứ vụ quan trọng này ?
- Trong việc thi hành sứ mạng mục vụ của linh mục, những nỗ lực mục vụ nào được thực hiện trong lãnh vực sám hối và giao hòa ? Các họ đạo và những nơi tôn nghiêm có một thời gian ấn định cho việc xưng tội ? Thời biểu đó có được tôn trọng và tuân theo ?
- Đã có những sáng kiến nào cho việc thường huấn nhằm hoàn thiện và trợ giúp các linh mục trong tác vụ làm cha giải tội ? Các linh mục có được khuyến khích cập nhật cho phù hợp với sứ vụ cần thiết này không ?
- Các linh mục giải tội có được nhắc nhớ về những nguyên tắc gắn liền với sự thận trọng trong tòa giải tội, và sự cần thiết phải dè dặt khi trao đổi với mọi hối nhân ? Về phương diện này, trong số những điều khác, kỷ luật truyền thống của tòa giải tội có được áp dụng ?
- Như đã thấy : trong công cuộc Phúc âm hóa mới, sự canh tân việc xưng tội cá nhân có tầm quan trọng đặc biệt, vậy những qui tắc giáo luật về việc xá tội chung có được tuân giữ không ? Trong many nhà thờ và nhà nguyện, nghi thức sám hối có được chuẩn bị cách cẩn trọng và với đức ái mục tử không ? Ý thức sự khác biệt về tuổi tác và tình trạng đời sống, đã làm gì để giúp họ xét mình cho thích hợp ?
- Đã có những sáng kiến cụ thể nào để động viên tín hữu tham dự thánh lễ Chúa nhật và các ngày lễ buộc ?
CHƯƠNG IV: NHỮNG MỤC TỬ GIÀU TÌNH THƯƠNG CỦA ĐOÀN CHIÊN
‘Mục tử nhân lành hiến mạng sống cho đoàn chiên’ (Ga 10,11)
1. CÙNG VỚI CHÚA KITÔ, NHẬP THỂ VÀ TRẢI RỘNG LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA CHA
‘Hội thánh sống đời sống đích thực khi Hội thánh tuyên xưng và công bố lòng thương xót – thuộc tính kỳ diệu nhất của Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu độ – và khi Hội thánh mang con người đến gần suối nguồn thương xót của Đấng Cứu độ’. Thực tại này phân biệt Hội thánh cách thiết yếu với những tổ chức nhân loại khác nhằm mục đích thăng tiến tình liên đới và lòng nhân ái. Ngay cả khi mang tinh thần tôn giáo, ở tự nó, những tổ chức đó không thể phân phối cách hiệu quả lòng thương xót của Thiên Chúa. Tương phản với những ý niệm thế tục về lòng thương xót vốn thất bại trong việc biến đổi con người từ phía bên trong, lòng thương xót của Thiên Chúa như được Hội Thánh hiến tặng trước hết là ơn tha thứ và cứu độ. Hiệu quả của lòng thương xót đó trên con người đòi hỏi họ chấp nhận toàn bộ chân lý liên quan đến hiện hữu, hành động và tội lỗi của mình. Từ đó xuất phát nhu cầu phải biết hối hận và nối kết lời công bố lòng thương xót với tính toàn diện của chân lý. Những xác quyết này có tầm quan trọng sinh tử đối với các linh mục. Là những người được kêu gọi sống ơn gọi đặc biệt, qua Hội thánh và trong Hội thánh, để mặc khải và thực thi mầu nhiệm tình yêu của Chúa Cha trong sứ vụ của mình, các ngài (phải) sống trong đức ái phù hợp với Chân Lý (Eph. 4,15), và trong sự dễ dạy đối với sự thúc đẩy của Thánh Thần.
Lòng thương xót của Thiên Chúa, biểu lộ qua tình thương của Người, được tìm thấy nơi Chúa Kitô. Chúa Kitô mặc khải vai trò cứu thế (mêsia) của Ngài (x. Lc 4,18) như là lòng Thiên Chúa thương xót dành cho tất cả những ai cần đến, đặc biệt là các tội nhân đang cần đến ơn tha thứ và bình an nội tâm. ‘Đặc biệt cho những người tội lỗi này mà Đấng Mêsia trở nên dấu chỉ rõ ràng về Thiên Chúa – Đấng vốn là tình yêu – dấu chỉ của Chúa Cha. Nơi dấu chỉ hữu hình này, con người thời đại chúng ta cũng như ngày xưa thấy được Chúa Cha’. Thiên Chúa ‘Đấng là tình yêu’ (1Ga 4,16) chỉ có thể mặc khải mình như là lòng thương xót. Qua hiến tế của Người Con, Chúa Cha – với tình yêu của Ngài- dấn mình vào thảm kịch cứu độ con người.
Trong khi qua lời rao giảng của Chúa Kitô, lòng thương xót mang những đặc tính lạ thường vượt quá hiểu biết của con người- như xuất hiện trong dụ ngôn ‘Người con phung phá’ (x.Lc 15,11-32) – thì chính trong hiến tế trên thập giá, ý nghĩa đó được mặc khải cách đặc biệt nhất. Chúa Kitô chịu đóng đinh là sự biểu lộ triệt để của lòng Thiên Chúa thương xót, của ‘tình yêu chống lại chính cội nguồn sự ác trong lịch sử nhân loại, tức là tội lỗi và sự chết”. Truyền thống linh đạo Kitô giáo nhìn Thánh Tâm Chúa Giêsu – Thánh tâm lôi kéo trái tim các linh mục đến với mình – như tổng hợp sâu xa và huyền nhiệm của tình thương vô biên nơi Thiên Chúa.
Chiều kích cứu độ của toàn bộ công việc mục vụ (munus pastorale) của linh mục được tập trung vào Hiến tế Thánh Thể tưởng niệm sự hiến dâng mạng sống của Chúa Giêsu. ‘Thực sự là ở đó có mối tương quan mật thiết giữa tính trung tâm của Thánh Thể, đức ái mục tử và tính thống nhất đời sống của linh mục. Linh mục gặp được trong mối tương quan này những chỉ dẫn mang tính quyết định cho lối sống thánh thiện mà ngài được mời gọi tới cách đặc biệt…. Nếu linh mục cho Chúa Kitô – Thượng tế vĩnh cửu tối cao – mượn trí năng của mình, ý chế, tiếng nói và bàn tay của mình, để qua thừa tác vụ của mình, Chúa Kitô hiến dâng lễ tế cứu độ lên Chúa Cha, thì linh mục phải lấy tâm tư của Thầy làm của mình, và như Ngài, linh mục phải sống những ơn ban này vì anh em trong đức tin. Vì thế linh mục phải học hiệp nhất chính mình với của lễ, đặt toàn bộ đời sống mình trên bàn thờ tế lễ như dấu chỉ mặc khải tình yêu nhưng không và tiền dự (dự phần trước) của Thiên Chúa”. Trong ân huệ thường xuyên của Hiến tế Thánh Thể vốn là tưởng niệm sự chết và sống lại của Chúa Giêsu, các linh mục đã đón nhận các bí tích khả năng duy nhất và đặc biệt trong tác vụ của mình, đó là làm chứng cho tình yêu vô biên của Thiên Chúa dành cho con người, tình yêu mà trong lịch sử cứu độ, sẽ được xác nhận là mạnh hơn sự chết. Chúa Kitô trong mầu nhiệm Vượt qua là sự nhập thể quyết định và dấu chỉ sống động của lòng thương xót, cả trong lịch sử cứu độ cũng như về mặt cách chung. Theo cha sở họ Ars, chức linh mục là “trái tim của tình yêu Giêsu”. Cùng với Ngài, nhờ sự thánh thiến và thừa tác vụ, linh mục cũng là dấu chỉ sống động và hiệu nghiệm của tình yêu vĩ đại mà thánh ước Augustinô mô tả là “amoris officium”.
2. SACERDOS ET HOSTIA
Lòng thương xót đích thực mang bản chất thiết yếu là một Ơn Ban. Ta đón nhận lòng thương xót như một ân huệ không do công lao của mình nhưng hoàn toàn được ban cách tự do và nhưng không. Tính tự do đó nằm trong chương trình cứu độ của Chúa Cha. “tình yêu hệ tại ở điều này: không phải chúng ta yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài yêu thương chúng ta và sai Con của Ngài đến làm lễ tế hy sinh đền thay tội lỗi cho ta” (1Ga 4,10). Chính trong bối cảnh đó, thừa tác viên có chức thánh tìm được lý do hiện hữu (raison d’être) của mình. Không ai có thể tự ban ơn huệ cho mình. Ân huệ luôn luôn là được ban và được đón nhận. Điều này giả thiết là có những thừa tác viên của ân sủng, được Chúa Kitô ban quyền bính và năng lực. Trong truyền thống của Hội thánh, thừa tác vụ có chức thánh được gọi là “bí tích”, bởi vì qua thừa tác vụ, những người được Chúa Kitô sai đi, nhờ hồng ân Thiên Chúa, thực hiện và ban tặng điều mà tự họ không thể thực hiện hay ban tặng.
Vì thế các linh mục phải coi mình như những dấu chỉ sống động và mang lòng thương xót mà họ tặng ban, không phải như của chính mình nhưng như ân huệ tự do của Thiên Chúa. Do đó họ là tôi tớ của lòng Thiên Chúa thương xót. Ước muốn phục vụ là yếu tố thiết yếu trong thừa tác vụ linh mục, và đòi hỏi phải có những thái độ tinh thần xứng hợp. Chúa Giêsu là vị Mục tử đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ (Mt 20, 28), và linh mục làm cho Ngài hiện diện với con người. Linh mục trước hết là phục vụ Chúa Kitô, nhưng phục vụ đó nhất thiết phải qua Hội thánh và sứ vụ của Hội thánh.
“Ngài yêu thương chúng ta và đổ máu tẩy sạch tội lỗi chúng ta : Pontifex qui dilexisti nos et lavasti a peccatis in sanguine tuo. Ngài hiến mình cho chúng ta : tradidisti temetipsum Deo oblationem et hostiam. Chúa Kitô đưa hiến tế bản thân Ngài, giá chuộc cho ơn cứu độ chúng ta, vào trong Đền thánh vĩnh cửu. Lễ dâng, tức là tế vật hy sinh, không thể tách ra khỏi (con người) linh mục”. Trong khi chỉ một mình Chúa Kitô vừa là Sacerdos vừa là Hostia, thì thừa tác viên của Ngài, vốn được tham dự vào sứ vụ của Hội thánh, cũng là tư tế cách bí tích và không ngừng được kêu gọi trở thành Hostia (của lễ), do đó mang lấy “những tâm tư như đã có trong Chúa Giêsu” (Phil 2, 5). Hiệu quả mọi hoạt động Phúc âm hóa tùy thuộc vào tính thống nhất không thể bẻ gãy của linh mục và tế vật hy sinh , hay là chức linh mục và Thánh Thể. Ngày nay, công trình của lòng Thiên Chúa thương xót, được chứa đựng trong Lời Chúa và các bí tích, tùy thuộc vào sự thống nhất – trong Thánh Thần – của Chúa Kitô và thừa tác viên. Thừa tác viên không thay thế Ngài nhưng cậy dựa vào Ngài để cho Ngài hành động trong và qua bản thân mình. Nội dung của Tin Mừng Gioan có thể được áp dụng cho mối liên kết này giữa thừa tác vụ của linh mục và Chúa Giêsu : “Thầy là cây nho … Cũng như ngành nho không thể tự nó sinh hoa trái … anh em cũng thế, nếu anh em không ở lại trong Thầy” (15, 14). Như Chúa Giêsu lời mời gọi thành Hostia là nền tảng cho tính vững chắc của lời cam kết sống độc thân để thi hành tác vụ linh mục trong Hội thánh. Điều đó đòi hỏi sự nhập thân của linh mục và tế lễ mà ở đó “Chúa Kitô yêu thương Hội thánh và hiến mình cho Hội thánh, để thánh hoá Hội thánh” (Eph 5, 25-26). Linh mục được mời gọi làm “hình ảnh sống động của Chúa Giêsu Kitô, Hiền thê của Hội Thánh” và biến cả cuộc đời mình thành lễ dâng vì Hội thánh. Như vậy “Độc thân linh mục là sự hiến dâng chính mình trong và với Chúa Kitô cho Hội thánh của Ngài, và diễn tả sự phục vụ của linh mục trong và với Chúa Giêsu”.
3. CÔNG VIỆC MỤC VỤ CỦA LINH MỤC : PHỤC VỤ QUA VIỆC HƯỚNG DẪN DÂN CHÚA TRONG TÌNH YÊU VÀ SỨC MẠNH
“Thi hành chức vụ của Chúa Kitô là Đầu và Chủ chăn theo phận vụ mình, các linh mục nhân danh Giám mục, tụ họp gia đình Thiên Chúa như một cộng đoàn huynh đệ duy nhất, và nhờ Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần, các ngài dẫn đưa họ đến cùng Chúa Cha”. Không chỉ là ý niệm xã hội học hay khả năng tổ chức, việc cần thiết thi hành công việc cai quản (munus regendi ) của linh mục phát xuất từ chức linh mục bí tích :” Nhờ bí tích truyền chức thánh, linh mục được thánh hiến theo hình ảnh Chúa Kitô, Linh mục thượng thẩm vĩnh viễn( Dt 5,1-10; 7,24; 9,11-28), để rao giảng Phúc âm, chăn dắt tín hữu và cử hành việc thờ phượng Thiên Chúa với tư cách tư tế đích thực của Tân ước”.
Vì các linh mục dự phần vào quyền bính của Chúa Kitô nên họ khác với các tín hữu cách đáng kể. Tuy nhiên điều này cho thấy “sự hiện diện của Chúa Kitô trong thừa tác vụ không được hiểu như là… họ được miễn trừ khỏi mọi yếu đuối nhân loại, khỏi tính thích thống trị, sai lầm và kể cả tội lỗi”. Lời nói và sự hướng dẫn của các thừa tác viên mang lại hiệu quả hơn hay kém tùy thuộc vào những phẩm chất tự nhiên hay thủ đắc của họ: trí thông minh, ý chí, tính tình, sự trưởng thành. Ý thức này cùng với nhận biết những cội rễ bí tích của nhiệm vụ mục vụ dẫn các linh mục đến chỗ noi gương Chúa Giêsu, Mục tử nhân lành, và lấy đức ái mục tử làm nhân đức cần thiết cho việc thi hành tác vụ cách hiệu quả.
“Mục đích chính trong hoạt động của các ngài như là mục tử cũng như của quyền bính được trao cho các ngài” là ” đưa cộng đoàn đã được trao cho các ngài đến chỗ phát triển trọn vẹn trong đời sống thiêng liêng và giáo hội”. Tuy nhiên chiều kích cộng đoàn của việc chăm sóc mục vụ không thể xao nhãng việc chăm sóc những nhu cầu của từng người tín hữu … Chính Chúa Giêsu, vị Mục tử nhân lành, đã gọi” từng con chiên” bằng giọng nói mà chúng nhận biết ( Ga 10, 3-4 ). Bằng mẫu mực của mình, ngài đã thiết lập quy luật đầu tiên cho việc chăm sóc cá nhân: đó là nhận biết con người và quan hệ thân thiện với họ. Trong Hội thánh, tầm nhìn cộng đồng về thừa tác vụ mục vụ phải hài hòa với việc chăm sóc mục vụ cá nhân này. Thực vậy, khi xây dựng Hội thánh, người mục tử luôn đi từ chiều kích cá nhân đến chiều kích cộng đoàn. Trong mối tương quan với từng cá nhân hay với cộng đoàn, linh mục chăm sóc cho mọi người “eximia humanitate”. Linh mục đừng bao giờ làm tôi tớ cho một ý thức hệ hay bè phái nào. Ngài bị bó buộc phải cư xử với mọi người “không phải để làm vui lòng người ta nhưng phải theo những đòi hỏi của giáo thuyết và đời sống Kitô giáo”.
Ngày nay hơn bao giờ hết, cung cách hoạt động mục vụ như thế cần thiết để có thể đáp trả nhu cầu trong những cộng đoàn vốn có truyền thống Kitô giáo nhưng đã bị thế tục hóa cách rộng rãi. Trong bối cảnh đó, việc xem xét đến công việc điều hành (munus regendi) có ý nghĩa lớn lao hơn, trong ý nghĩa thừa sai đích thực của nó. Tuy nhiên không nên lẫn lộn munus regendi với nhiệm vụ bàn giấy hay tổ chức. Nó đòi hỏi các linh mục phải thực thi sức mạnh bằng tình thương, và mẫu mực là hoạt động mục vụ của Chúa Giêsu Kitô. Như các sách Tin Mừng cho thấy rõ, không bao giờ Ngài từ khước đảm nhận trách nhiệm phát xuất từ quyền bính cứu thế của Ngài, và Ngài thực thi (quyền bính) bằng tình yêu và sức mạnh. Quyền bính này không phải là sự thống trị mang tính áp bức nhưng là tinh thần ước muốn phục vụ. Hai mặt này – quyền bính và phục vụ – là điểm quy chiếu cho munus regendi của linh mục. Linh mục phải luôn làm nổi bật cách chặt chẽ sự tham dự của mình vào chức năng của Chúa Kitô là Đầu và Mục tử của đoàn chiên.
Linh mục, cùng với và dưới sự hướng dẫn của Giám mục, cũng là mục tử của cộng đoàn được trao phó cho ngài. Được đức ái mục tử thúc đẩy, ngài không nên sợ phải thi hành quyền bính riêng của mình trong những lãnh vực bắt buộc phải thi hành, bởi lẽ linh mục được đặt lên với quyền bính là để phục vụ cho chính mục đích này. Cần phải nhớ lại rằng khi quyền bính được thi hành cách đúng đắn là để “phục vụ chứ không phải thống trị” (non tam praeesse quam prodesse). Những người có quyền phải vượt qua cơn cám dỗ trốn tránh trách nhiệm. Nếu họ không thi hành quyền bính, họ không còn phục vụ nữa. Trong mối hiệp thông chặt chẽ với Giám mục và với tín hữu của mình, linh mục nên tránh đưa vào thừa tác vụ mục vụ của mình mọi hình thức độc đoán cũng như những hình thức quản trị dân chủ xa lạ với thực tại sâu xa của tác vụ, bởi vì những điều đó dẫn đến tình trạng thế tục hóa linh mục và giáo sĩ hóa hàng ngũ giáo dân. Đằng sau những lối tiếp cận đó, hàm ẩn nỗi sợ hãi ẩn giấu không dám đảm nhận trách nhiệm hoặc sợ phạm lầm lỗi, sợ người ta ghét, sợ dân chúng không ưa hoặc là sợ đón nhận thánh giá. Như thế, cuối cùng làm mờ tối cội rễ đích thực của căn tính linh mục : tức là nên giống Chúa Kitô là Đầu và Mục tử của đoàn chiên.
Công cuộc tân Phúc âm hóa đòi hỏi linh mục phải cho thấy sự hiện diện đúng nghĩa của mình trong cộng đoàn. Các ngài nên nhận biết rằng các thừa tác viên của Chúa Giêsu Kitô, phải có mặt và sẵn sàng phục vụ mọi người. Vì thế, sự hội nhập thân tình và huynh đệ của linh mục trong cộng đoàn luôn luôn quan trọng. Trong bối cảnh đó, ta dễ hiểu được ý nghĩa và vai trò mục vụ của kỷ luật liên quan đến phẩm phục giáo sĩ mà linh mục nên mặc thường xuyên, bởi vì đó là sự loan báo công khai, nói lên sự tận hiến vô hạn của mình cho anh chị em tín hữu trong sự phục vụ Chúa Kitô. Xã hội càng bị ghi dấu ấn thế tục, lại càng cần những dấu chỉ.
Linh mục nên tránh rơi vào tình trạng mâu thuẫn : thoái thác thi hành quyền bính riêng của mình để dấn mình vào những vấn đề trần thế, xã hội và cả chính trị , là những vấn đề Chúa đã để cho người đời lo liệu.
Linh mục có được uy thế nào đó đối với giáo dân, và trong một vài nơi, với cả quyền bính dân sự. Tuy nhiên các ngài nên biết rằng uy thế đó phải được sống trong khiêm tốn, và được sử dụng cách đúng đắn nhằm phần rỗi các linh hồn (salus animarum), nhớ rằng Chúa Kitô mới thực sự là Đầu của Dân Chúa. Người tín hữu phải quy hướng về Chúa Kitô chứ không phải là gắn bó với một cá nhân linh mục nào. Tín hữu thuộc về một mình Chúa Kitô mà thôi, bởi vì chỉ một mình Ngài đã cứu chuộc họ bằng máu quý giá của Ngài để tôn vinh Thiên Chúa Cha. Vì thế Ngài là Chúa của mọi thiện hảo siêu nhiên và là Thầy giảng dạy với quyền bính của Ngài. Trong Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần, linh mục chỉ là những người quản lý những hồng ân đã được Hội thánh trao cho. Linh mục không có quyền bỏ rơi giáo dân, hoặc dẫn người ta đi lệch hướng hoặc uốn nắn người ta theo sở thích mình. Ví dụ như linh mục đã không nhận được quyền bính để chỉ giảng dạy cho tín hữu một số chân lý đức tin Kitô giáo, mà bỏ quên những chân lý khác chỉ vì khó được chấp nhận hoặc vì “ít mang tính thời sự”.
Liên quan đến công cuộc tân Phúc âm hóa và việc điều hành mục vụ của các linh mục, cần phải giúp các linh mục có được sự biện phân chân thành và kỹ lưỡng. Chẳng hạn như đằng sau thái độ “không muốn áp đặt”, có thể che giấu khéo léo một quan niệm sai lầm về chính bản chất thần học của thừa tác vụ mục vụ hoặc là thiếu cá tính, nên tìm cách trốn tránh trách nhiệm. Trong việc biện phân này, cũng không nên coi thường sự gắn bó không đúng đắn với những con người hay những vị trí công việc (địa vị), những ước muốn sai lệch mong được nổi tiếng hoặc là thiếu ý hướng ngay lành. Đức ái mục tử mà thiếu khiêm tốn, kể như trống rỗng. Đôi khi, đằng sau sự nổi loạn có vẻ như chính đáng, đằng sau vẻ thụ động đối với sự thay đổi hoạt động mục vụ được Giám mục đề nghị, hoặc đằng sau vẻ phô trương khi giảng dạy, khi cử hành phụng vụ, không chịu mang lễ phục hoặc thay đổi lễ phục theo sở thích của mình… (đằng sau tất cả chuyện đó) có thể che giấu tính tự ái hoặc là muốn được người chú ý, có khi một cách vô thức.
Công cuộc tân Phúc âm hóa đòi hỏi sự đổi mới tính dấn thân cho thừa tác vụ mục vụ, nhất là về phía các linh mục. Như Công đồng đã cho thấy “ân huệ thiêng liêng mà linh mục đã đón nhận khi được phong chức không chỉ chuẩn bị cho họ một sứ vụ giới hạn và hạn hẹp, nhưng cho sứ vụ phong phú nhất, cụ thể là sứ vụ phổ quát của ơn cứu độ cho đến tận cùng thế giới. Lý do là tất cả thừa tác vụ linh mục đều chia sẻ sự phong phú của sứ vụ mà Chúa Kitô đã ủy thác cho các Tông đồ”.
Tình trạng thiếu linh mục như đã kinh nghiệm tại một vài quốc gia, cộng với tính năng động của thế giới đương đại khiến cho ta cần phải kêu gọi các linh mục sẵn lòng thay đổi không những công việc mục vụ của mình, mà còn thay đổi cả thành phố, miền đất xứ sở để đáp ứng nhu cầu và đảm nhận bất cứ sứ vụ nào cần thiết, chấp nhận khước từ những kế hoạch và ước muốn riêng của mình chỉ vì tình yêu Thiên Chúa. “Tự chính bản chất của thừa tác vụ, các linh mục phải được thấm nhuần và linh hoạt hóa bởi tinh thần thừa sai sâu xa, và với tinh thần công giáo thực sự, tầm nhìn của linh mục phải vượt qua ranh giới của giáo phận, xứ sở hay nghi lễ, để nhận ra những yêu cầu của toàn thể Hội thánh, được chuẩn bị trong tinh thần (ra đi) rao giảng khắp nơi”. Cách riêng trong việc thường huấn, cảm thức về Giáo hội địa phương không bao giờ nên làm lu mờ cảm thức về Giáo hội phổ quát, đúng hơn phải thường xuyên hài hòa với nhau.
CÂU HỎI CHƯƠNG BỐN
- Làm thế nào để lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho những người thiếu thốn được biểu lộ rõ ràng hơn qua các cộng đoàn của chúng ta, cách riêng là qua các linh mục ? đã nhấn mạnh đủ đến việc thực hành những công việc của lòng thương xót – về tinh thần cũng như vật chất – như phương thế để đạt đến sự trưởng thành Kitô giáo, cũng như phương thế Phúc âm hóa chưa ?
- Đức ái mục tử trong mọi chiều kích của nó có thực sự là “linh hồn và năng động tính của việc thường huấn linh mục” không ?
- Các linh mục có được khuyến khích chăm sóc cho những anh em linh mục của mình với tinh thần huynh đệ chân thành, nhất là đối với những anh em đau yếu, già cả hoặc những anh em đang gặp khó khăn ? Có những hình thức đời sống chung nào thuận lợi ?
- Các linh mục có hiểu biết và thi hành cách đúng đắn nhiệm vụ những nhà lãnh đạo tinh thần của cộng đoàn được giao phó cho các ngài không ?
- Như đã biết về tình trạng khẩn thiết của sứ vụ tông đồ ở ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ ba, khi mà mọi tín hữu, được mời gọi phải có can đảm tỏ ra mình là tín hữu là người bước theo Chúa Kitô; vậy làm cách nào để nhấn mạnh đến việc các linh mục phải cho người ta thấy – cả về mặt bề ngoài – sự hiện diện đặc biệt của các ngài giữa mọi người?
- Đã nhấn mạnh đủ đến chiều kích truyền giáo của thừa tác vụ thánh chưa ? Cũng như đã nhấn mạnh đủ đến chiều kích phổ quát của Hội thánh trong việc huấn luyện thiêng liêng cho các linh mục chưa ?
- Trong thực tế, chúng ta có bỏ sót việc rao giảng một vài chân lý đức tin hoặc một vài nguyên tắc luân lý, đơn giản chỉ vì người ta khó chấp nhận không ?
- Tất cả các linh mục có được khuyến khích giảng dạy luân lý Kitô giáo trong tính toàn diện của nó không ?
- Một trong những đòi hỏi của thừa tác vụ mục vụ là phối hợp những sáng kiến nhằm thúc đẩy sứ vụ truyền giáo. Vậy những ơn gọi đang có trong Hội thánh có được khuyến khích không ? có tôn trọng những đặc sủng chuyên biệt của họ không ?
Dịch theo bản tiếng Anh. Osservatoire Romano, 21 July 1999.
KẾT LUẬN
“Công cuộc Phúc âm hóa mới cần có những nhà rao giảng mới, những Linh Mục dấn thân sống chức Linh Mục như một con đường nên thánh”. Muốn đạt tới điều đó, quan trọng cơ bản là mỗi Linh mục khám phá việc nên thánh là một nhu cầu tuyệt đối. “Trước khi thanh luyện kẻ khác, các Linh mục phải thanh luyện lấy mình, muốn dạy dỗ kẻ khác, các ngài phải được dạy dỗ; các ngài phải trở nên ánh sáng để soi sáng, và trở nên gần gũi với Chúa để mang kẻ khác tới gần Chúa ; các ngài phải được thánh hóa để thánh hóa kẻ khác”. Cam kết này được cụ thể hóa nhờ sự thống nhất đời sống cách sâu xa dẫn dắt Linh mục trở thành và sống như một Kitô khác trong mọi hoàn cảnh đời sống.
Người tín hữu và những người cộng tác trong các sinh hoạt mục vụ khác nhau trong giáo xứ nhìn thấy, quan sát, cảm nhận, và lắng nghe không những chỉ khi Lời Chúa được rao giảng nhưng cả khi cử hành phụng vụ nhất là Thánh Lễ. Người tín hữu cũng nhận ra con người Linh mục khi họ được đón tiếp tại văn phòng giáo xứ (việc tiếp đón cần phải thoải mái vui vẻ) ; khi họ được thấy mẫu gương điều độ và chừng mực qua cách Linh mục dùng bữa và nghỉ ngơi; khi họ viếng thăm và họ vui mừng vì sự đơn sơ và khó nghèo của Linh mục ; và khi họ nói chuyện cũng như bàn hỏi những quyền lợi chung, họ được an ủi do cái nhìn tinh thần, sự lịch thiệp và cách cư xử đối đãi với dân chúng với vẻ cao thượng của Linh Mục, “Ân sủng và đức ái Bàn Thờ được phổ biến qua tòa giảng, trong tòa giải tội, tại văn khố của giáo xứ, trong các trường học và nhà nguyện, tại nhà tín hữu, trên đường đi và trong bệnh viện, trên các phương tiện chuyên chở công cộng và qua những phương tiện truyền thông. Linh mục có cơ hội làm tròn phận sự mục tử ở khắp nơi. Người ta phổ biến thánh lễ của linh mục trong mọi hoàn cảnh. Sự liên kết thiêng liêng của linh mục với Đức Kitô, Linh Mục và chủ nhân, làm cho họ trở thành hạt lúa của Thiên Chúa để trở thành bánh đích thực của Đức Kitô vì lợi ích các anh em – như thánh Inhaxiô thành Antiokia nói (Epist. Ad Romanos IV, 1)”.
Như vậy, Linh mục của Ngàn năm thứ ba sẽ có thể lặp lại phản ứng của các môn đệ đi thành Emmaus, sau khi họ nghe Đức Giêsu, Vị Thầy Thần Linh, giải thích Kinh Thánh thì bảo nhau : “dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Lc 24,32). Chúng ta, những mục tử hãy phó thác mình cho Đức Maria, Nữ Vương và là Mẹ Giáo Hội, để qua sự kết hợp với Đấng đại diện Đức Kitô, chúng ta có thể khám phá ra những phương cách mới chứng tỏ một ý muốn chân thành đổi mới nơi các Linh mục của Giáo Hội trong nhiệm vụ Thầy dạy Lời Chúa, thừa tác viên các bí tích và lãnh đạo cộng đoàn. Chúng ta hãy cầu xin Nữ Vương của công cuộc Truyền giáo cho Giáo Hội được tái khám phá ra con đường mới mà lòng thương xót của Thiên Chúa, trong Chúa Kitô và qua Chúa Thánh Thần, đã sắm sẵn từ đời đời để lôi kéo mọi người kể cả thế hệ chúng ta vào trong sự hiệp thông với Người.
Roma, từ Điện Các Thánh Bộ, ngày 19 tháng 3 năm 1999, Lễ Trọng Kính Thánh Giuse, Quan Thầy Giáo Hội Toàn Cầu
Hồng y Dario Castrillón Hoyos
Chủ tịch
+ Csaba Ternyák,
Tổng Giám Mục Hiệu Tòa Eminentiana, Bí thư







