CÁC VĂN KIỆN TÒA THÁNH II

16. THÔNG ĐIỆP REDEMTORIS HOMINIS ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI

17. TÔNG HUẤN HẬU THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC “SACRAMENTUM CARITATIS” BÍ TÍCH TÌNH YÊU

18 THÔNG ĐIỆP “SPE SALVI” NIỀM HY VỌNG CỨU ĐỘ

19. THÔNG ĐIỆP ÁNH RẠNG NGỜI CHÂN LÝ VERITATIS SPLENDOR

20. HUẤN THỊ DOMINUS JESUS

21. TÔNG HUẤN GIÁO HỘI TẠI Á CHÂU ECCLESIA IN ASIA

22. TÔNG HUẤN HÒA GIẢI SÁM HỐI

23. TÔNG THƯ NGÀY CỦA CHÚA – DIES DOMINI

24. THÔNG ĐIỆP HUMANAE VITAE CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG PHAOLÔ VI VỀ VIỆC ĐIỀU HÒA SINH SẢN

25. THÔNG ĐIỆP RERUM NOVARUM – TÂN SỰ

26. TÔNG THƯ NGÀN NĂM THỨ BA ĐANG ĐẾN

27. HUẤN THỊ ĐẠO ĐỨC TRONG INTERNET

29. TÔNG HUẤN LOAN BÁO TIN MỪNG (EVANGELII NUNTIANDI)

31. HUẤN THỊ DIGNITAS PERSONAE PHẨM GIÁ CON NGƯỜI (VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐẠO ĐỨC SINH HỌC)

33. TÔNG HUẤN VỀ DẠY GIÁO LÝ TRONG THỜI ĐẠI CHÚNG TA “CATECHESI TRADENDAE”

34. THÔNG ĐIỆP TIN MỪNG VỀ SỰ SỐNG “EVANGELIUM VITAE”

35. TÔNG HIẾN SACRAE DISCIPLINAE LEGES – CÁC LUẬT LỆ VỀ KỶ LUẬT THÁNH

HUẤN THỊ LINH MỤC MỤC TỬ VÀ LÃNH ĐẠO CỘNG ĐOÀN GIÁO XỨ

37. HUẤN THỊ VỀ SỰ HỢP TÁC CỦA GIÁO DÂN VỚI THỪA TÁC VỤ LINH MỤC

21. TÔNG HUẤN GIÁO HỘI TẠI Á CHÂU ECCLESIA IN ASIA

ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLO II

 Chuyển Ngữ: Phêrô ĐXT – Antôn Thiệu

LỜI GIỚI THIỆU

CHƯƠNG MỘT: BỐI CẢNH Á CHÂU – Á CHÂU, NƠI KHAI SINH ĐỨC GIÊSU VÀ GIÁO HỘI

CÁC THỰC TẾ TÔN GIÁO VÀ VĂN HOÁ

CÁC THỰC TẾ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI

CÁC THỰC TẾ CHÍNH TRỊ

GIÁO HỘI TẠI Á CHÂU : TRONG QUÁ KHỨ VÀ TRONG HIỆN TẠI

CHƯƠNG BA: CHÚA THÁNH THẦN LÀ ĐỨC CHÚA VÀ LÀ ĐẤNG TÁC SINH – THÁNH THẦN THIÊN CHÚA TRONG CÔNG TRÌNH SÁNG TẠO VÀ TRONG DÒNG LỊCH SỬ

CHÚA THÁNH THẦN VÀ SỰ NHẬP THỂ CỦA NGÔI LỜI

CHÚA THÁNH THẦN VÀ THÂN THỂ ĐỨC KITÔ

CHÚA THÁNH THẦN VÀ SỨ MẠNG CỦA GIÁO HỘI TẠI Á CHÂU

CHƯƠNG BỐN: ĐỨC GIÊSU CỨU THẾ: MỘT QUÀ TẶNG CẦN LOAN BÁO CHO MỌI NGƯỜI BIẾT – ƯU TIÊN CHO VIỆC LOAN BÁO

LOAN BÁO ĐỨC GIÊSU KITÔ TẠI Á CHÂU

THÁCH ĐỐ CỦA VIỆC HỘI NHẬP VĂN HOÁ

NHỮNG LÃNH VỰC THEN CHỐT CẦN HỘI NHẬP VĂN HOÁ

SỐNG ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU LÀ MỘT CÁCH LOAN BÁO

CHƯƠNG NĂM: HIỆP THÔNG VÀ ĐỐI THOẠI ĐỂ TRUYỀN GIÁO HIỆP THÔNG VÀ TRUYỀN GIÁO PHẢI ĐI ĐÔI VỚI NHAU

HIỆP THÔNG TRONG NỘI BỘ GIÁO HỘI

SỰ LIÊN ĐỚI GIỮA CÁC GIÁO HỘI

CÁC GIÁO HỘI CÔNG GIÁO ĐÔNG PHƯƠNG

CHIA SẺ HY VỌNG VÀ KHỔ ĐAU

SỨ MẠNG ĐỐI THOẠI

ĐỐI THOẠI ĐẠI KẾT

ĐỐI THOẠI GIỮA CÁC TÔN GIÁO

CHƯƠNG SÁU: GIÚP CON NGƯỜI ĐƯỢC THĂNG TIẾN – HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI

PHẨM GIÁ CON NGƯỜI

ƯU TIÊN YÊU THƯƠNG NGƯỜI NGHÈO

TIN MỪNG VỀ SỰ SỐNG

CHĂM SÓC SỨC KHOẺ

GIÁO DỤC

XÂY DỰNG HOÀ BÌNH

HIỆN TƯỢNG TOÀN CẦU HOÁ

NỢ NƯỚC NGOÀI

CHƯƠNG BẢY: NHỮNG NGƯỜI LÀM CHỨNG CHO TIN MỪNG – MỘT GIÁO HỘI LÀM CHỨNG

CÁC CHỦ CHĂN

ĐỜI TU VÀ CÁC HỘI TRUYỀN GIÁO

GIÁO DÂN

GIA ĐÌNH

GIỚI TRẺ

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

CÁC VỊ TỬ ĐẠO

KẾT LUẬN

CẦU NGUYỆN VỚI THÂN MẪU ĐỨC KITÔ

 

LỜI GIỚI THIỆU

Đây là Tông Huấn, trong đó, Đức Thánh Cha đúc kết và chuẩn nhận những suy tư sâu sắc, những nhận định đúng đắn và những phương hướng hành động của Thượng Hội Đồng Giám Mục bàn về Á Châu. Tông Huấn sẽ giúp chúng ta hiểu biết về chính Châu Á của mình với những nét đa dạng và phức tạp, những khó khăn và thách đố trong đời sống cá nhân và xã hội cũng như trong sứ mạng rao giảng Tin Mừng. Đức Thánh Cha đã tổng hợp tất cả thực tại phong phú ấy một cách kỳ diệu và đầy khôn ngoan rồi quy tụ về Đức Giêsu Kitô như là Đấng Cứu Độ duy nhất của toàn thể loài người và vũ trụ.

Nhiều tín hữu Công Giáo Á Châu, trong đó có cả các giám mục, đã từng e ngại không dám công bố tính cách duy nhất của ơn cứu độ này nơi Đức Giêsu Kitô trước số tín đồ đông đảo của các tôn giáo lâu đời khác ở Châu Á. Đức Thánh Cha hiểu nỗi băn khoăn đó. Ngài đã giới thiệu và chỉ dẫn cho chúng ta cách thế khôn ngoan và hữu hiệu để loan báo Đức Giêsu Kitô, cũng như để thực hiện sứ mạng yêu thương và phục vụ của Chúa tại Á Châu này.

Từng câu, từng chữ của Tông Huấn đều đáng cho mỗi chúng ta tìm hiểu và học hỏi, vì nội dung và ý nghĩa phong phú của chúng. Nhất là Tông Huấn sẽ giúp ta đổi mới đời sống đức tin, đổi mới cách loan báo Tin Mừng cho đồng bào cũng như cho các anh em khác. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bản dịch Việt ngữ của Tông Huấn, dịch từ bản Anh ngữ và có tham chiếu với bản Pháp ngữ.?

CHƯƠNG MỘT: BỐI CẢNH Á CHÂU – Á CHÂU, NƠI KHAI SINH ĐỨC GIÊSU VÀ GIÁO HỘI.

5. Con Thiên Chúa nhập thể, một biến cố sẽ được toàn thể Giáo Hội long trọng kỷ niệm vào Năm Đại Xá 2000, đã diễn ra trong một bối cảnh lịch sử và địa lý nhất định. Bối cảnh ấy cũng có một tầm ảnh hưởng quan trọng trên cuộc đời và sứ mạng của Đấng Cứu Chuộc nhập thể. “Nơi Đức Giêsu người Nazareth, Thiên Chúa đã nhận lấy những yếu tố đặc thù của bản tính nhân loại, bao gồm cả việc thuộc về một dân tộc nhất định và một xứ sở nhất định… Nét đặc thù vật lý của xứ sở và những yếu tố địa dư của miền đất ấy là điều không thể tách rời được với thân xác con người mà Ngôi Lời đã nhận lấy”(7). Bởi đó, biết được cái thế giới trong đó Đấng Cứu Thế “cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1, 14) là chìa khoá quan trọng cho ta hiểu biết chính xác hơn ý định của Chúa Cha hằng hữu, cũng như tình thương vô biên của Ngài đối với mỗi thụ tạo : “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con một mình để những ai tin Ngài thì không phải chết nhưng có sự sống đời đời” (Ga 3, 16).

Cũng vậy, Giáo Hội sống và thi hành sứ mạng của mình trong những hoàn cảnh cụ thể của không gian và thời gian. Nếu Dân Chúa trên lục địa Á Châu phải hưởng ứng những gì Chúa muốn họ làm trong công cuộc tân phúc âm hoá này thì họ phải biết nhận thức một cách có phê bình những thực tại đa dạng và phức tạp của lục địa này. Các nghị phụ đã lưu ý : việc thi hành sứ mạng yêu thương và phục vụ của Giáo Hội tại Á Châu bị chi phối bởi hai nhân tố : một là phải biết mình là cộng đoàn các môn đệ của Đức Giêsu Kitô quy tụ chung quanh các vị chủ chăn của mình, và hai là phải nắm vững các thực tế xã hội, chính trị, tôn giáo, văn hoá và kinh tế của Á Châu(8). Trong quá trình Hội Nghị, tình hình Á Châu đã được đưa ra xem xét kỹ lưỡng bởi những người có dịp tiếp xúc mỗi ngày với các thực tế vô cùng khác nhau của đại lục mênh mông này. Sau đây là kết quả suy tư của các nghị phụ, được trình bày một cách tổng hợp.

CÁC THỰC TẾ TÔN GIÁO VÀ VĂN HOÁ

6. Á Châu là lục địa rộng nhất thế giới và là quê hương của gần hai phần ba dân số thế giới, trong đó Trung Quốc và Ấn Độ chiếm gần nửa dân số địa cầu. Nét đánh động nhất của lục địa này là sự đa dạng của các dân tộc, những người “thừa hưởng những nền văn hoá, tôn giáo và truyền thống xa xưa”(9). Chúng ta chẳng thể làm gì hơn, mà chỉ biết sững sờ trước con số khổng lồ của dân cư Á Châu và trước bức tranh ghép vô cùng phức tạp của biết bao nền văn hoá, ngôn ngữ, tín ngưỡng và truyền thống, làm nên phần cơ bản của lịch sử và di sản của gia đình nhân loại.

Á Châu cũng là chiếc nôi của các tôn giáo lớn trên thế giới, như Do Thái Giáo, Kitô Giáo, Hồi Giáo và Ấn Độ Giáo. Đó là nơi khai sinh của nhiều truyền thống tâm linh khác như Phật Giáo, Lão Giáo, Khổng Giáo, Bái Hoả Giáo (“Zoroastrianism”), đạo Giaina (“Jainism”), đạo Sikh và Thần Đạo (“Shintoism”). Chưa kể hằng triệu người theo các tôn giáo truyền thống hay bộ tộc, có nghi thức quy củ và giáo lý chính thức ở những mức độ khác nhau. Giáo Hội hết sức kính trọng các truyền thống này và luôn tìm cách đối thoại chân thành với các tín đồ ấy. Các giá trị tôn giáo mà các đạo ấy giảng dạy đang chờ được hoàn thành trong Đức Giêsu Kitô.

Người dân Châu Á rất tự hào về các giá trị tôn giáo và văn hoá của mình, như quý sự thinh lặng và chiêm niệm, sống giản dị, hoà hợp, từ bỏ, bất bạo động, làm việc chăm chỉ, có kỷ luật, sống thanh đạm, ham học hỏi và truy tầm triết lý(10). Người Á Châu rất quý trọng các giá trị như tôn trọng sự sống, từ bi với mọi loài, gần gũi thiên nhiên, hiếu thảo với cha mẹ, người lớn và tổ tiên, ý thức rất mạnh về cộng đoàn(11). Cách riêng, họ coi gia đình là nguồn sức mạnh, là một cộng đoàn hết sức chặt chẽ có ý thức liên đới cao(12). Các dân Châu Á thường được tiếng là có tinh thần bao dung tôn giáo và sống chung hoà bình. Tuy không phủ nhận những sự căng thẳng và xung đột gay gắt đã có, nhưng ta vẫn có thể nói Á Châu chứng tỏ mình có khả năng đáng kể về việc thích nghi và cởi mở một cách hết sức tự nhiên đối với việc giúp các dân tộc làm giàu cho nhau qua vô số tôn giáo và văn hoá khác nhau. Ngoài ra, dù chịu ảnh hưởng của phong trào duy tân và tục hoá, các tôn giáo Á Châu vẫn chứng tỏ mình còn nhiều sinh lực và còn khả năng canh tân, như có thể thấy qua các phong trào cải cách ngay trong các tập thể tôn giáo khác nhau. Nhiều người, nhất là người trẻ, có sự khát khao rất sâu sắc đối với các giá trị tâm linh, như sự xuất hiện các phong trào tôn giáo mới gần đây là một bằng chứng rõ ràng.

Tất cả những dẫn chứng trên đây đều cho thấy người Á Châu có một cảm thức bẩm sinh về tâm linh và có một nền minh triết về luân lý. Đó chính là cốt lõi mà xoay quanh đó ta có thể xây dựng một ý thức ngày càng đậm đà thế nào là “bản sắc Á Châu”. Ta sẽ khám phá và khẳng định “bản sắc Á Châu” không phải bằng cách đối chất và đối chọi nhau, nhưng bằng cách bổ sung và phối hợp hài hoà với nhau. Trong tinh thần bổ sung và phối hợp hài hoà ấy, Giáo Hội sẽ tìm cách giới thiệu Tin Mừng sao cho vừa trung thành với truyền thống của mình vừa không phản bội cái hồn của Á Châu.

CÁC THỰC TẾ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI

7. Khi đề cập đến việc phát triển kinh tế, ta phải nhìn nhận tình hình trên lục địa Á Châu quả là phức tạp, không theo bất cứ một sự phân loại đơn giản nào. Có quốc gia đã phát triển cao, nhưng cũng có những quốc gia còn đang phát triển thông qua các chính sách kinh tế hữu hiệu. Tuy nhiên, cũng có những nước còn đang rất nghèo, được xếp vào số các nước nghèo nhất trên địa cầu. Trong quá trình phát triển ấy, chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa tục hoá cũng được dịp thắng thế, nhất là tại các khu vực đô thị. Những ý thức hệ này đang làm hại các giá trị truyền thống, xã hội và tôn giáo, đe doạ các nền văn hoá Á Châu tới mức không lường được.

Các nghị phụ đã nói tới những thay đổi nhanh chóng đang diễn ra ngay trong chính các xã hội Châu Á, những khía cạnh tích cực và tiêu cực của những thay đổi này. Trong số đo, phải kể đến hiện tượng đô thị hoá và sự xuất hiện các đô thị khổng lồ. Các đô thị này thường có nhiều khu vực rộng lớn vẫn còn trong tình trạng trì trệ, trở thành nơi phát sinh các tội ác, chủ nghĩa khủng bố, mãi dâm và sự bóc lột các thành phần xã hội yếu kém. Di cư cũng là một hiện tượng xã hội quan trọng, đặt hằng triệu người vào những tình cảnh rất khó khăn về kinh tế, văn hoá và luân lý. Người ta di cư trong phạm vi Châu Á hay từ Châu Á sang các châu lục khác vì nhiều lý do, trong đó có lý do nghèo khổ, chiến tranh và xung đột sắc tộc, sự phủ nhận các quyền con người và những quyền tự do căn bản. Việc thành lập các tổ hợp công nghệ khổng lồ cũng là một nguyên nhân đưa tới sự di cư trong nội bộ Á Châu hay ra ngoài Á Châu, kéo theo những hậu quả tai hại cho đời sống và các giá trị gia đình. Các nghị phụ cũng nhắc tới việc thành lập các nhà máy năng lượng hạt nhân, chú ý tới giá thành và hiệu năng nhưng lại ít quan tâm tới sự an toàn cho dân chúng và sự toàn vẹn của môi trường.

Du lịch cũng là một điều đòi ta phải chú ý đặc biệt. Dù đó là một ngành công nghiệp hợp pháp mang những giá trị văn hoá và giáo dục riêng, nhưng trong một số trường hợp nó cũng tạo ra một ảnh hưởng tai hại trên môi trường vật lý và luân lý của nhiều quốc gia Châu Á, như làm giảm giá trị nhiều thiếu nữ và trẻ em do dịch vụ mãi dâm(13). Công tác mục vụ cho người di cư cũng như cho người du lịch trở nên khó khăn và phức tạp, đặc biệt tại Á Châu, vì tại những nơi đó chưa có những cơ cấu hạ tầng cho việc này. Khi lập chương trình mục vụ ở mọi cấp, chúng ta cần cứu xét tới các thực tế này. Trong bối cảnh này, chúng ta không được phép quên những người di cư từ các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương, đang cần sự chăm sóc mục vụ phù hợp với các truyền thống Giáo Hội của họ(14).

Một số quốc gia Châu Á đang phải đối mặt với những khó khăn có liên quan với việc gia tăng dân số ; đây “không chỉ là vấn đề dân số hay kinh tế, nhưng còn là một vấn đề luân lý”(15). Rõ ràng vấn đề dân số có liên hệ mật thiết với vấn đề thăng tiến con người, nhưng những giải pháp sai lạc đe doạ tới phẩm giá và tính bất khả xâm phạm của sự sống ngày càng xuất hiện nhiều, tạo ra một thách đố đặc biệt cho Giáo Hội tại Châu Á. Ở đây có lẽ ta nên nhắc lại sự đóng góp của Giáo Hội vào việc bảo vệ và thăng tiến sự sống thông qua hệ thống chăm sóc sức khoẻ, phát triển xã hội và giáo dục, làm lợi cho các dân tộc, nhất là những người nghèo. Hội Nghị đặc biệt này cũng phải tuyên dương Mẹ Têrêsa quá cố của thành phố Calcutta, “người nổi tiếng trên khắp thế giới vì đã chăm sóc những người nghèo nhất với lòng yêu thương và vị tha”(16). Mẹ vẫn tiếp tục là biểu tượng cao cả của việc phục vụ sự sống mà Giáo Hội đang cống hiến tại Á Châu, chống lại những lực lượng đen tối đang hoạt động trong xã hội.

Một số nghị phụ nhấn mạnh tới những ảnh hưởng từ bên ngoài trên văn hoá Á Châu. Nhiều hình thức ứng xử mới xuất hiện như một hậu quả của việc quá lệ thuộc các phương tiện truyền thông đại chúng và các loại sách báo, âm nhạc và phim ảnh đang tràn ngập lục địa. Tuy không phủ nhận các phương tiện thông tin xã hội có thể là một lực lượng đáng kể phục vụ cho điều hay cái đẹp(17), nhưng chúng ta không thể bỏ qua tác động tiêu cực mà các phương tiện ấy thường gây ra. Nhiều khi những hiệu quả có ích của các phương tiện ấy có thể trở thành vô hiệu do cách thế kiểm soát và sử dụng các phương thế ấy bởi những người theo đuổi những lợi ích chính trị, kinh tế và ý thức hệ rất đáng ngờ. Kết quả là những mặt tiêu cực của công nghệ truyền thông và giải trí ấy đã làm cho các giá trị truyền thống bị đe doạ, đặc biệt là tính linh thiêng của hôn nhân và sự ổn định của gia đình. Các hình ảnh bạo lực, khoái lạc chủ nghĩa, cá nhân chủ nghĩa thái quá và duy vật chủ nghĩa “đang đánh vào trung tâm của văn hoá Á Châu, tính tôn giáo của nhân dân, gia đình và xã hội”(18). Đây là một tình huống đang đặt ra một thách thức lớn cho Giáo Hội và cho việc loan báo sứ điệp của Giáo Hội.

Tình trạng nghèo đói triền miên và việc bóc lột con người đang là những vấn đề cần khẩn thiết quan tâm. Tại Á Châu có hằng triệu người bị áp bức từ bao thế kỷ nay cứ phải đứng bên lề xã hội về mặt kinh tế, văn hoá và chính trị(19). Khi nghĩ tới tình cảnh của các phụ nữ thuộc các xã hội Châu Á, các nghị phụ ghi nhận rằng “dù sự ý thức của các phụ nữ về phẩm giá và quyền lợi của mình là một trong những dấu chỉ của thời đại, nhưng họ vẫn phải sống nghèo nàn và bị bóc lột, đó vẫn là một vấn đề nghiêm trọng trên khắp châu lục này”(20). Tỷ lệ phụ nữ mù chữ cao hơn nhiều so với nam giới ; trẻ gái có nguy cơ bị giết hại nhiều hơn khi còn là bào thai và thậm chí sau khi được sinh ra. Cũng còn hằng triệu người bản địa hay các bộ tộc trên khắp Châu Á phải sống cô lập về xã hội, văn hoá và chính trị đối với tập thể dân cư đang nắm quyền(21). Thật là khích lệ khi được nghe các giám mục tại Thượng Hội Đồng cho biết rằng các vấn đề trên đây đang nhận được nhiều sự chú ý hơn ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế, Giáo Hội cũng đang tích cực tìm cách quan tâm tới tình hình nghiêm trọng ấy.

Các nghị phụ đã chỉ ra rằng những suy nghĩ vắn tắt trên đây về các thực tế kinh tế và xã hội của Châu Á sẽ chưa đầy đủ, nếu người ta quên không chú ý tới sự tăng trưởng kinh tế rất lớn của một số xã hội Châu Á trong những thập niên gần đây : một thế hệ mới gồm các người thợ lành nghề, các nhà khoa học và kỹ thuật đang phát triển mỗi ngày và con số đông đảo các thành phần ấy chính là điềm tốt báo hiệu sự phát triển của Châu Á. Tuy vậy, trong sự tiến bộ ấy không phải mọi sự đều ổn định và vững chãi, như cuộc khủng hoảng tài chính có ảnh hưởng rộng rãi mới đây mà nhiều nước Châu Á phải chịu đã chứng minh. Tương lai Châu Á tuỳ thuộc sự cộng tác trong nội bộ Châu Á và với các quốc gia thuộc các châu lục khác, nhưng luôn luôn phải dựa vào chính những gì người Á Châu làm theo quan điểm của mình về sự phát triển.

CÁC THỰC TẾ CHÍNH TRỊ

8. Giáo Hội luôn luôn cần phải có một sự hiểu biết đúng đắn về tình hình chính trị ở các quốc gia mà mình đang thi hành sứ mạng. Tại Á Châu ngày nay tình hình chính trị vô cùng phức tạp, với đủ mọi ý thức hệ từ những hình thức chính phủ dân chủ đến những hình thức cai trị thần quyền. Các chế độ độc tài quân sự và các ý thức hệ vô thần đang có mặt rất rõ. Một số nước còn công nhận một tôn giáo chính thức cho quốc gia mình, chỉ cho các cộng đồng thiểu số và các tín đồ thuộc các tôn giáo khác rất ít hay không có chút tự do tôn giáo nào. Một số quốc gia khác, tuy không công khai theo chế độ thần quyền, cũng đẩy các cộng đồng thiểu số xuống hàng công dân hạng hai, không được bảo vệ nhiều trong các quyền con người căn bản. Tại một số nơi các Kitô hữu không được phép thực hành đức tin một cách tự do và không được phép giới thiệu Đức Giêsu Kitô cho người khác(22). Họ bị bách hại và không được dành cho một chỗ đứng xứng hợp trong xã hội. Các nghị phụ đặc biệt nhớ tới đồng bào Trung Quốc và tỏ ý hy vọng mãnh liệt rằng một ngày nào đó tất cả các anh chị em Công Giáo tại Trung Quốc sẽ được phép thực hành tôn giáo của mình một cách tự do và tuyên xưng công khai sự hiệp thông trọn vẹn của mình với Toà Thánh(23).

Trong khi đánh giá cao sự tiến bộ mà nhiều quốc gia Á Châu đã đạt được dưới những hình thức cai trị khác nhau, các nghị phụ cũng không quên lưu ý chúng ta về tình trạng tham nhũng phổ biến có mặt ở các cấp chính phủ lẫn xã hội(24). Dân chúng thường cảm thấy mình hoàn toàn bất lực không thể tự bảo vệ mình trước những nhà chính trị, những viên chức toà án, các nhà hành chánh và các công chức tham ô. Tuy nhiên, khắp nơi tại Châu Á, càng ngày người ta càng ý thức hơn rằng mình có khả năng thay đổi những cơ chế bất công ấy. Càng ngày càng có nhiều người đòi hỏi một sự công bằng xã hội lớn hơn, đòi hỏi được tham gia nhiều hơn vào chính phủ và đời sống kinh tế, được có cơ hội đồng đều trong giáo dục và được phân chia công bằng các nguồn lợi quốc gia. Càng ngày người ta càng ý thức về nhân phẩm và nhân quyền hơn, cương quyết bảo vệ chúng nhiều hơn. Những tập thể thiểu số về văn hoá, xã hội và chủng tộc lâu nay “án binh bất động”, nay đang tìm cách làm chủ lấy sự thăng tiến xã hội của chính mình. Thánh Thần Thiên Chúa luôn giúp đỡ và hỗ trợ các nỗ lực của dân chúng muốn thay đổi xã hội nhằm thoả mãn khát vọng của họ là được sống dồi dào hơn như Chúa hằng mong muốn (x. Ga 10, 10).

GIÁO HỘI TẠI Á CHÂU : TRONG QUÁ KHỨ VÀ TRONG HIỆN TẠI.

9. Lịch sử của Giáo Hội tại Châu Á cũng có từ lâu đời như chính Giáo Hội vậy, vì chính tại Châu Á Đức Giêsu đã thổi Thánh Thần xuống trên các môn đệ và sai họ ra đi tới tận cùng trái đất để loan báo Tin Mừng và quy tụ các cộng đoàn tín hữu. “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (x. Ga 20, 21 ; Mt 28, 28-20 ; Mc 16, 15-18 ; Lc 24, 47 ; Cv 1, 8). Theo lệnh của Chúa, các Tông Đồ đã rao giảng lời Chúa và thành lập các Giáo Hội. Ôn lại đôi điều trong lịch sử vừa phức tạp vừa hấp dẫn này sẽ rất có ích cho chúng ta.

Từ Giêrusalem, Giáo Hội đã phát triển sang Antiôkhia, Rôma và xa hơn nữa, tới tận Êthiôpia ở miền Nam, Scythia ở miền Bắc và Ấn Độ ở miền Đông ; tại đây truyền thống cho rằng chính thánh Tôma tông đồ đã có mặt năm 52 sau Công Nguyên và đã thành lập các Giáo Hội ở miền Nam Ấn Độ. Vào các thế kỷ ba và bốn, tinh thần truyền giáo của cộng đoàn Syria miền Đông với Edessa làm trung tâm, rất đáng được chú ý. Các cộng đoàn khổ tu ở Syria đã là một lực lượng truyền giáo đáng kể tại Á Châu từ thế kỷ thứ ba trở đi. Họ đem đến cho Giáo Hội nguồn sinh lực thiêng liêng, nhất là trong những thời kỳ bị bách hại. Vào cuối thế kỷ thứ ba, Armenia trở thành nước đầu tiên đón nhận Kitô Giáo cho toàn dân, và nay đang chuẩn bị mừng 1700 năm chiụ phép rửa. Vào cuối thế kỷ thứ năm, sứ điệp Kitô Giáo đã lan tới các vương quốc Ả Rập, nhưng vì nhiều lý do, kể cả sự chia rẽ giữa các Kitô hữu, sứ điệp đã không đâm rễ được nơi các dân tộc này.

Các thương gia Ba Tư đã mang Tin Mừng đến Trung Quốc vào thế kỷ thứ năm. Giáo Hội Kitô Giáo địa phương đầu tiên được xây dựng tại đó vào đầu thế kỷ thứ bảy. Vào đời Đường (618 – 907 sau CN), Giáo Hội này phát triển được gần hai thế kỷ. Sự sa sút của Giáo Hội sôi nổi này tại Trung Quốc vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất là một trong những chương đáng buồn trong lịch sử Dân Chúa trên lục địa này.

Vào thế kỷ 13, Tin Mừng được loan báo một lần nữa cho những người Mông Cổ, người Thổ và người Trung Quốc. Nhưng Kitô Giáo rất mau biến mất tại các vùng này vì nhiều lý do, trong số đó phải kể tới sự xuất hiện của Hồi Giáo, sự cô lập về địa lý, thiếu thích nghi với các nền văn hoá địa phương, và có lẽ trên hết là do thiếu chuẩn bị để gặp gỡ các tôn giáo lớn tại Á Châu. Vào cuối thế kỷ 14, Giáo Hội tại Châu Á giảm sút cách thảm hại, ngoại trừ cộng đoàn Nam Ấn Độ sống khá cô lập. Giáo Hội tại Châu Á phải chờ một kỷ nguyên mới của nỗ lực truyền giáo.

Những nỗ lực tông đồ của thánh Phanxicô Xaviê, việc Đức Giáo Hoàng Gregoriô XV thành lập Bộ Truyền Bá Đức Tin, và những chỉ thị yêu cầu các nhà truyền giáo phải tôn trọng và đánh giá cao các nền văn hoá địa phương, tất cả những điều này đã góp phần tạo ra những kết quả tích cực hơn vào thế kỷ 16 và 17. Rồi sang thế kỷ 19 hoạt động truyền giáo lại một lần nữa được khơi dậy. Nhiều dòng tu dốc hết tâm lực cho công tác này. Bộ Truyền Bá Đức Tin được tổ chức lại. Người ta bắt đầu nhấn mạnh nhiều hơn tới việc xây dựng các Giáo Hội địa phương. Song song với việc rao giảng Tin Mừng, người ta tổ chức các công tác từ thiện và giáo dục. Nhờ đó, Tin Mừng tiếp tục đến với nhiều người hơn, cách riêng là những người nghèo và những người xấu số, nhưng ở một vài nơi Tin Mừng cũng đến với cả những người thuộc thành phần ưu tú về mặt xã hội và trí thức. Đã có những nỗ lực mới giúp đưa Tin Mừng hội nhập văn hoá, dù những nỗ lực ấy không bao giờ đủ cả. Mặc dù đã có mặt nhiều thế kỷ và mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực tông đồ, nhưng ở nhiều nơi Giáo Hội vẫn bị coi là xa lạ đối với người Á Châu, thậm chí trong tâm trí nhiều người, Giáo Hội còn bị coi là đã liên kết với các chính quyền thực dân.

Đây chính là tình hình của Giáo Hội Á Châu trước Công Đồng Vaticanô II. Tuy nhiên, nhờ sức thúc đẩy của Công Đồng, người ta đã bắt đầu có một cách hiểu mới về việc truyền giáo và kèm theo đó, là một niềm hy vọng mới đã ló dạng. Tính phổ quát của chương trình cứu độ, bản chất truyền giáo của Giáo Hội và trách nhiệm của mọi người trong Giáo Hội đối với công tác này, đã được khẳng định mạnh mẽ trong sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo Hội, Ad Gentes (“Đến với lương dân”), nay trở thành cái sườn cho một cuộc dấn thân mới. Trong Hội Nghị đặc biệt vừa qua, các nghị phụ đã xác nhận sự phát triển gần đây của cộng đoàn Giáo Hội nơi các dân tộc thuộc nhiều khu vực khác nhau của châu lục này. Các ngài cũng kêu gọi nỗ lực truyền giáo nhiều hơn nữa trong những năm sắp tới, nhất là khi chứng kiến thấy những khả năng loan báo Tin Mừng tại vùng Siberia và các nước thuộc vùng Trung Á vừa giành được độc lập như Kazakhstan, Uzbekistan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Turkmenistan(25).

Nghiên cứu các cộng đoàn Công Giáo tại Á Châu, ta sẽ thấy có sự khác nhau thật lạ lùng: nguồn gốc và quá trình phát triển lịch sử khác nhau, thừa hưởng các truyền thống phụng vụ và thiêng liêng khác nhau của các Nghi Lễ khác nhau. Tuy nhiên, tất cả các cộng đoàn ấy đều hợp nhất với nhau trong việc loan báo Tin Mừng về Đức Giêsu Kitô, qua đời sống chứng nhân Kitô giáo, qua các công tác từ thiện và tính liên đới nhân loại. Nếu có một số Giáo Hội được thi hành sứ mạng một cách bình an và tự do, thì cũng có những Giáo Hội phải sống trong những tình huống bạo lực và xung đột hoặc bị các tập thể khác đe doạ vì lý do tôn giáo hay vì những lý do khác. Trong cái thế giới văn hoá hết sức đa dạng của Châu Á này, Giáo Hội phải đối mặt với rất nhiều thách thức về triết học, thần học và mục vụ. Còn ở những nơi khác, nhiệm vụ của các Giáo Hội trở nên khó khăn hơn vì chỉ là thiểu số, trừ Philíppin, với số người Công Giáo chiếm đa số.

Nhưng bất kể phải làm việc trong hoàn cảnh nào, Giáo Hội tại Á Châu cũng thấy mình đang được sống giữa những con người hết sức ngưỡng vọng Thiên Chúa. Giáo Hội biết rằng ngưỡng vọng ấy chỉ có thể được thoả mãn hoàn toàn bởi Đức Giêsu Kitô, cũng là Tin Mừng của Thiên Chúa cho hết mọi dân tộc. Các nghị phụ đã rất xác đáng khi bảo rằng tông thư hậu Thượng Hội Đồng này nên tập trung chú ý tới sự ngưỡng vọng ấy, đồng thời nên cổ võ Giáo Hội tại Á Châu hãy mạnh mẽ tuyên xưng bằng lời nói cũng như bằng việc làm rằng Đức Giêsu Kitô chính là Vị Cứu Tinh.

Thánh Thần Thiên Chúa đã luôn hoạt động trong lịch sử Giáo Hội Châu Á, hẳn cũng sẽ tiếp tục hướng dẫn Giáo Hội ấy. Những yếu tố tích cực tìm gặp được nơi các Giáo Hội địa phương, mà các nghị phụ thường đề cao trong Hội Nghị, càng làm chúng ta thêm hy vọng vào “một mùa xuân mới trong đời sống các Kitô hữu”(26). Một lý do vững chắc cho phép ta hy vọng như thế là càng ngày càng có nhiều giáo dân được huấn luyện đàng hoàng, nhiệt tình và đầy ơn Thánh Thần, nhận thức sâu sắc hơn ơn gọi riêng của mình trong cộng đoàn Giáo Hội. Trong số đó các giáo dân giảng viên giáo lý là những người rất đáng cho chúng ta chân nhận và ca ngợi(27). Các phong trào tông đồ và đặc sủng cũng là một ơn huệ do Chúa Thánh Thần ban cho, đem lại sức sống mới và nghị lực cho công việc đào tạo các giáo dân nam lẫn nữ, các gia đình và giới trẻ(28). Các hiệp hội và các phong trào Giáo Hội nhằm thăng tiến nhân phẩm và công lý đã giúp làm cho mọi người cảm nhận được tính phổ quát của sứ điệp Tin Mừng : mọi người đều được nhận làm con cái Thiên Chúa (x. Rm 8, 15-6).

Trong khi đó, vẫn có những Giáo Hội đang sống trong những hoàn cảnh hết sức khó khăn, “đang trải qua những thử thách đáng kể trong việc thực hành đức tin”(29). Các nghị phụ hết sức cảm động khi nghe những bài tường thuật việc làm chứng rất anh hùng, sự bền chí không gì có thể lay chuyển nổi và sự tăng trưởng đều đặn của Giáo Hội Công Giáo tại Á Châu, hay khi nghe thuật lại những nỗ lực của Giáo Hội Nam Hàn trong việc cứu trợ đồng bào Bắc Hàn, cũng như sự kiên định rất khiêm tốn của cộng đoàn Công Giáo tại Việt Nam, tình trạng cô lập của các Kitô hữu tại những nơi như Lào và Myanmar, sự sống chung khó khăn của thiểu số Kitô hữu với đa số chiếm ưu thế của các tín đồ Hồi Giáo ở những quốc gia Hồi Giáo(30). Thượng Hội Đồng quan tâm đặc biệt tới tình hình của Giáo Hội tại Đất Thánh và tại Thành Thánh Giêrusalem, “trái tim của Kitô Giáo”(31), một thành phố thân yêu đối với tất cả con cái Abraham. Các nghị phụ bày tỏ sự tin tưởng rằng hoà bình của khu vực, thậm chí của cả thế giới, tuỳ thuộc phần lớn vào hoà bình và hoà giải lâu nay không thấy ở Giêrusalem(32).

Tôi không thể kết thúc phần lược qua tình hình Giáo Hội Á Châu này, dù vẫn biết còn lâu mới hoàn bị, mà không nhắc tới các thánh và các vị tử đạo của Á Châu, những vị đã được công nhận cũng như những vị mà chỉ có Chúa biết; tấm gương của các vị ấy chính là nguồn đem lại “sự phong phú thiêng liêng và là phương thế rất tốt để làm công tác phúc âm hoá”(33). Những tấm gương ấy, tuy lặng lẽ, nhưng nói được rất nhiều về tầm quan trọng của một đời sống thánh thiện cũng như tinh thần sẵn sàng hiến dâng mạng sống mình vì Tin Mừng. Các vị ấy chính là thầy dạy và là người che chở, là vinh dự của Giáo Hội Á Châu trong nỗ lực phúc âm hoá. Cùng với toàn thể Giáo Hội, tôi cầu xin Chúa hãy gửi những thợ gặt nhiệt tình nhiều hơn nữa đến gặt các linh hồn mà tôi nhận thấy đã rất sẵn sàng và đông vô kể (x. Mt 9,37-38). Lúc này, tôi nhớ đến một câu đã viết trong Thông Điệp Redemptoris Misssio (Sứ vụ Đấng Cứu Thế) : “Thiên Chúa đang mở ra trước mắt của Giáo Hội những chân trời của một nhân loại đã sẵn sàng cho Tin Mừng được gieo vào”(34). Quang cảnh một chân trời mới, đầy hứa hẹn ấy, tôi thấy như đang hiện ra dần tại Châu Á này, nơi Đức Giêsu đã chào đời và Kitô Giáo được khai sinh.

CHƯƠNG BA: CHÚA THÁNH THẦN LÀ ĐỨC CHÚA VÀ LÀ ĐẤNG TÁC SINH – THÁNH THẦN THIÊN CHÚA TRONG CÔNG TRÌNH SÁNG TẠO VÀ TRONG DÒNG LỊCH SỬ.

15. Nếu đúng là phải đặt trong bối cảnh chương trình cứu độ của Thiên Chúa Ba Ngôi mà Đức Giêsu đã mặc khải, ta mới hiểu được hết vai trò cứu độ của Đức Giêsu, thì đương nhiên Chúa Thánh Thần phải đóng một vai trò hết sức quan trọng trong mầu nhiệm Đức Giêsu và trong công cuộc cứu độ do Ngài thực hiện. Các nghị phụ thường đề cập tới vai trò của Chúa Thánh Thần trong lịch sử cứu độ, và lưu ý rằng chia cắt Đấng Cứu Chuộc và Thánh Thần một cách sai lạc sẽ làm tổn hại tới sự thật của Đức Giêsu là Vị Cứu Tinh duy nhất của hết mọi loài.

Truyền thống Kitô Giáo thường liên kết Chúa Thánh Thần với sự sống và với việc tác sinh. Kinh Tin Kính của Công Đồng Nikêa-Constantinopoli gọi Chúa Thánh Thần là “Đức Chúa và là Đấng ban sự sống”. Bởi thế, không có gì là lạ khi nhiều nhà chú giải thuật trình sáng tạo của sách Sáng Thế đã coi cơn gió mạnh thổi qua trên mặt nước mênh mông là hình ảnh của Chúa Thánh Thần (x. St 1, 2). Chúa Thánh Thần đã có mặt từ giây phút đầu tiên của công trình sáng tạo vũ trụ, còn được coi là biểu hiện đầu tiên của tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi, và Ngài luôn có mặt trên thế giới này như Đấng ban phát sự sống(52). Vì sáng tạo vũ trụ là khởi đầu của lịch sử, nên có thể nói Chúa Thánh Thần là sức mạnh kín đáo đang âm thầm hoạt động trong lịch sử, hướng dẫn lịch sử đi vào con đường sự thật và tốt lành.

Bản thân Chúa Thánh Thần thế nào, Ngài là tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con, những mặc khải ấy là những mặc khải riêng của Tân Ước. Trong suy tư Kitô Giáo, Ngài thường được coi là nguồn sống cho mọi thụ tạo. Sáng tạo vũ trụ là sự thông ban tình yêu mà Chúa đã tự ý thực hiện, một sự thông ban đã đưa mọi sự từ hư vô sang hiện hữu. Không có gì được tạo thành mà không chứa chan tình yêu bất tận giữa Ba Ngôi, đặc điểm của cuộc sống sâu xa của Ba Ngôi, hoặc nói cách khác, không có gì được tạo thành mà không chứa chan Chúa Thánh Thần vì “Thánh Thần Thiên Chúa chan hoà khắp mặt đất” (Kn 1, 7). Sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong cuộc sáng tạo đã tạo ra sự trật tự, hài hoà và lệ thuộc nhau giữa tất cả mọi hữu thể.

Vì được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, nên con người là nơi cư ngụ của Thánh Thần một cách đặc biệt hơn khi được nâng lên làm nghĩa tử của Thiên Chúa (x. Gl 4, 5). Được tái sinh trong phép Rửa, con người mới cảm nghiệm được sự có mặt và sức mạnh của Thánh Thần, không phải chỉ là tác giả của sự sống mà còn là Đấng thanh tẩy và cứu thoát, làm cho con người có được những hoa trái như “yêu thương, vui tươi, bình an, kiên nhẫn, tử tế, tốt lành, trung thành, dịu dàng và tiết độ” (Gl 5, 22-23). Những hoa trái ấy chính là những dấu chỉ cho biết “tình yêu Thiên Chúa đã được đổ vào tâm hồn chúng ta nhờ Thánh Thần mà Chúa đã ban cho chúng ta” (Rm 5, 5). Khi đã tự nguyện đón nhận tình yêu này, con người sẽ được tình yêu biến đổi thành khí cụ thấy được cho Chúa Thánh Thần vô hình sử dụng. Cao quý hơn cả lại chính là khả năng cho và nhận tình yêu, đó là dấu chứng tỏ Chúa Thánh Thần đang có mặt và đang hoạt động nơi chúng ta. Một khi tâm trí con người được Thánh Thần biến đổi và tái tạo là xã hội và văn hoá loài người sẽ chịu ảnh hưởng của Ngài(53). “Quả thật, Thánh Thần là nguồn gốc của các tư tưởng và việc làm cao đẹp, làm lợi cho nhân loại trong cuộc hành trình qua lịch sử này. “Thánh Thần Thiên Chúa có khả năng nhìn xa trông rộng tuyệt vời đang điều khiển dòng lịch sử và đang canh tân bộ mặt trái đất”(54).

Theo sự hướng dẫn của Công Đồng Vaticanô II, các nghị phụ Thượng Hội Đồng đã tập trung chú ý tới hoạt động vừa nhiều vừa đa dạng của Chúa Thánh Thần, Đấng vẫn tiếp tục gieo các hạt giống chân lý vào các dân tộc, tôn giáo, văn hoá và triết lý của họ(55). Nói thế có nghĩa là những tôn giáo, văn hoá và triết lý ấy có thể giúp con người, cá nhân lẫn tập thể, chống lại sự dữ và phục vụ sự sống cũng như tất cả những gì tốt đẹp. Lực lượng tử thần luôn luôn tìm cách cô lập con người, xã hội và các cộng đồng tôn giáo với nhau, gieo rắc nghi ngờ và cạnh tranh, đưa người ta tới chỗ xung đột với nhau. Ngược lại, Thánh Thần luôn nâng đỡ con người đi tìm sự hiểu biết và đón nhận nhau. Thế nên, Thượng Hội Đồng đã có lý khi coi Thánh Thần Thiên Chúa là tác nhân số một của việc đối thoại giữa Giáo Hội với mọi dân tộc, mọi nền văn hoá và mọi tôn giáo.

CHÚA THÁNH THẦN VÀ SỰ NHẬP THỂ CỦA NGÔI LỜI.

16. Dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, lịch sử cứu độ đã được triển khai trên sân khấu thế giới, hay đúng hơn trên sân khấu vũ trụ, đúng như chương trình của Chúa Cha từ đời đời. Chương trình này đã được Thánh Thần khởi sự khi vũ trụ bắt đầu được tạo thành, rồi được Ngài mặc khải trong Cựu Ước, được Ngài hoàn thành nhờ ân huệ của Đức Giêsu Kitô, và cũng được chính Ngài xúc tiến tiếp trong cuộc tạo dựng mới cho tới khi Chúa trở lại trong vinh quang khi lịch sử kết liễu(56). Trong đó, việc Nhập Thể của Con Thiên Chúa được coi là công trình cao đẹp nhất của Chúa Thánh Thần : “Thật vậy, Đức Giêsu Kitô được thụ thai và sinh ra, đó chính là công trình vĩ đại nhất Chúa Thánh Thần đã làm được trong lịch sử sáng tạo và cứu chuộc : đó là ân huệ cao cả nhất, ơn kết hợp hai bản tính, cội nguồn sinh ra mọi ơn khác”(57). Nhập Thể là biến cố trong đó Thiên Chúa kết hợp với mình một cách vừa mới mẻ vừa dứt khoát không chỉ con người mà toàn thể thụ tạo và toàn thể lịch sử(58).

Vì được thụ thai trong lòng Đức Trinh Nữ Maria do quyền năng của Chúa Thánh Thần (x. Lc 1, 35 ; Mt 1, 20), Đức Giêsu Nazaréth, là Đấng Mêsia và là Cứu Tinh duy nhất, phải được đầy Thánh Thần. Thánh Thần ngự xuống trên Ngài khi Ngài chịu phép rửa (x. Mc 1, 10), rồi dẫn Ngài vào hoang địa để được củng cố thêm trước khi hoạt động công khai (x. Mc 1, 12 ; Lc 4, 1 ; Mt 4, 1). Tại hội đường Nazaréth, Ngài bắt đầu công tác ngôn sứ của mình bằng cách áp dụng cho mình quang cảnh mà Isaia đã thấy trước về việc Thánh Thần xức dầu Ngài để Ngài ra đi rao giảng tin vui cho người nghèo, đem lại sự tự do cho người bị giam cầm và công bố một năm hồng ân của Chúa (x. Lc 4, 18-19). Dựa vào quyền năng của Thánh Thần, Đức Giêsu chữa trị người đau và xua trừ ma quỷ, lấy đó làm dấu chỉ báo hiệu Nước Chúa đã đến (x. Mt 12, 28). Sau khi sống lại từ cõi chết, Ngài ban Thánh Thần cho các môn đệ như Ngài từng hứa sẽ ban xuống cho Giáo Hội khi Ngài trở về với Cha (x. Ga 20, 22-23).

Tất cả những điều này chứng tỏ sứ mạng cứu độ của Đức Giêsu đã mang dấu ấn về sự hiện diện của Chúa Thánh Thần sâu đậm tới mức nào : dấu ấn của sự sống, sự sống mới. Chúa Con được Chúa Cha sai tới và Thánh Thần được Chúa Cha và Chúa Con sai tới, hai biến cố này có liên hệ rất mật thiết và rất quan trọng với nhau(59). Hoạt động của Thánh Thần trong công việc sáng tạo và trong lịch sử trở nên có ý nghĩa mới mẻ hẳn khi Ngài can thiệp vào cuộc đời và sứ mạng của Đức Giêsu. “Những hạt giống của Ngôi Lời” mà Thánh Thần đã gieo vãi khắp nơi đều chuẩn bị cho muôn loài thụ tạo, lịch sử và con người đạt tới mức viên mãn trong Đức Kitô(60).

Các nghị phụ tỏ ra rất quan tâm tới khuynh hướng thần học muốn tách biệt hoạt động của Thánh Thần với hoạt động của Chúa Giêsu-Đấng Cứu Thế. Đồng lòng với sự quan tâm ấy, tôi cũng xin lặp lại những gì tôi đã viết trong tông thư “Sứ vụ Đấng Cứu Thế” (“Redemptoris Missio”) : “(Thánh Thần) … không phải là một nhân vật thay thế Đức Kitô, cũng không phải là một cái gì lấp đầy chỗ trống mà có người cho rằng có thật giữa Đức Kitô và Ngôi Lời. Bất cứ điều gì Thánh Thần làm được trong tâm hồn con người, trong lịch sử các dân tộc, trong các nền văn hoá và trong các tôn giáo, đều là một sự chuẩn bị cho Tin Mừng và có thể hiểu đó cũng chỉ là quy chiếu về Đức Kitô, Đấng là Ngôi Lời đã nhờ quyền năng Thánh Thần mà có xương có thịt, “để Ngài cứu độ hết mọi người và thâu tóm tất cả mọi sự ngay chính khi làm người trọn vẹn”(61).

Bởi đó, không được vịn cớ Chúa Thánh Thần có mặt khắp nơi để bào chữa cho việc không thể công bố Đức Giêsu Kitô là vị Cứu Tinh duy nhất và có một không hai. Trái lại, sự có mặt khắp nơi của Chúa Thánh Thần luôn đi đôi với sự cứu độ phổ quát của Đức Giêsu. Chúa Thánh Thần có mặt trong công trình sáng tạo và trong lịch sử sau đó là để chỉ ta hướng về Đức Giêsu Kitô, vì nơi Ngài công trình sáng tạo và lịch sử sẽ được cứu chuộc và hoàn thành. Sự có mặt và hoạt động của Chúa Thánh Thần trước khi Đức Giêsu Kitô nhập thể cũng như vào giây phút Hiện Xuống quan trọng đều hướng ta nhìn tới Đức Giêsu và ơn cứu độ do Ngài mang đến. Chúng ta cũng không bao giờ được phép tách rời sự có mặt khắp nơi của Chúa Thánh Thần với hoạt động của Ngài nơi Thân Thể Đức Kitô, tức là Hội Thánh(62).

CHÚA THÁNH THẦN VÀ THÂN THỂ ĐỨC KITÔ.

17. Chúa Thánh Thần không ngừng giữ gìn mối hiệp thông giữa Đức Giêsu và Giáo Hội của Ngài. Vì Chúa Thánh Thần cư ngụ trong Giáo Hội ấy như trong đền thờ (x. 1Cr 3, 16), nên Ngài hướng dẫn Giáo Hội trước hết trong việc hiểu biết đầy đủ sự thật về Đức Giêsu. Rồi, Ngài làm cho Giáo Hội có khả năng tiếp tục sứ mạng của Đức Giêsu, bằng cách trước hết minh chứng về Đức Giêsu, và như thế, mặc nhiên thực hiện lời Đức Giêsu đã hứa trước khi chết và sống lại, đó là sai Thánh Thần đến với các môn đệ để giúp họ làm chứng về Ngài (x. Ga 15, 26-27). Công việc của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội còn là xác nhận các tín hữu đã được Thiên Chúa nhận làm con để thừa hưởng ơn cứu độ, tức là sự hiệp thông trọn vẹn với Chúa Cha như đã hứa (x. Rm 8, 15-17). Khi trang bị cho Giáo Hội những đoàn sủng và ân huệ khác nhau như thế, Thánh Thần giúp Giáo Hội càng ngày càng hiệp thông chặt chẽ hơn như một thân thể do nhiều bộ phận khác nhau làm nên (x. 1Cr 12, 4 ; Ep 4, 11-16). Thánh Thần thống nhất mọi hạng nguời với những phong tục tập quán khác nhau, những năng lực và tài năng khác nhau, biến Giáo Hội trở thành dấu chỉ của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại dưới quyền lãnh đạo của Đức Kitô(63). Thánh Thần uốn nắn Giáo Hội thành một cộng đoàn các chứng nhân dựa vào quyền năng của Ngài để làm chứng cho Đức Giêsu Cứu Tinh (x. Cv 1, 8). Nếu hiểu như thế thì Chúa Thánh Thần đúng là tác nhân chính yếu của công cuộc phúc âm hoá. Từ đó, các nghị phụ kết luận : cũng như Đức Giêsu hoàn thành công tác trần gian của mình nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, “Chúa Thánh Thần được Chúa Cha và Chúa Con ban cho Giáo Hội trong ngày lễ Ngũ Tuần cũng là để hoàn thành sứ mạng tình yêu và phục vụ của Đức Giêsu tại Á Châu này”(64).

Chương trình cứu độ của Chúa Cha không chấm dứt với cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu. Khi ban Thánh Thần Đức Kitô cho Giáo Hội, là Chúa cũng đồng thời ban hoa trái sứ mạng cứu độ của Ngài cho mọi dân tộc qua mọi thời đại dựa vào việc Giáo Hội công bố Tin Mừng và yêu thương phục vụ gia đình nhân loại. Như công đồng Vaticanô II đã nhận xét, “Giáo Hội được Chúa Thánh Thần hướng dẫn để đóng vai trò của mình trong việc hoàn thành chương trình của Thiên Chúa, Đấng đã đặt Đức Kitô làm nguồn ơn cứu độ cho toàn thế giới”(65). Được Chúa Thánh Thần tăng lực cho có khả năng hoàn tất công cuộc cứu độ của Đức Kitô trên trần gian, Giáo Hội chính là hạt giống của Nước Chúa, luôn náo nức mong cho Nước ấy đến. Căn tính và sứ mạng của Giáo Hội không thể không liên quan với Nước Chúa đã được Đức Giêsu loan báo và khai mở qua tất cả những lời Ngài nói và những việc Ngài làm, nhất là qua cái chết và sự sống lại của Ngài. Trong nhiệm cục cứu độ hiện tại, tất cả những gì Chúa Thánh Thần làm trong công cuộc tạo dựng, trong lịch sử và trong Giáo Hội đều là một phần trong kế hoạch duy nhất và đời đời của Thiên Chúa Ba Ngôi trên mọi hữu thể.

CHÚA THÁNH THẦN VÀ SỨ MẠNG CỦA GIÁO HỘI TẠI Á CHÂU.

18. Chúa Thánh Thần đã từng hoạt động tại Châu Á vào thời các tổ phụ và các ngôn sứ, rồi hoạt động còn mạnh hơn nữa trong thời Đức Giêsu Kitô và Hội Thánh sơ khai, nay vẫn đang hoạt động giữa các Kitô hữu Châu Á để củng cố việc làm chứng đức tin của họ giữa các dân tộc, các nền văn hoá và các tôn giáo của lục địa. Cũng như cuộc đối thoại tình yêu quan trọng giữa Thiên Chúa và con người đã được chuẩn bị bởi Chúa Thánh Thần và được hoàn tất trên miền đất Châu Á này qua mầu nhiệm Đức Kitô, thì cuộc đối thoại hiện nay giữa Chúa Cứu Thế và các dân tộc của châu lục này vẫn sẽ tiếp tục dựa vào quyền năng của Chúa Thánh Thần ấy trong Giáo Hội. Trong tiến trình này, các giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân nam nữ đều đóng vai trò rất quan trọng, như lời Đức Giêsu đã phán, vừa như một lời hứa vừa như một mệnh lệnh : “Anh em sẽ nhận được sức mạnh khi Thánh Thần đến với anh em ; anh em sẽ là nhân chứng của Thầy tại Giêrusalem, trong toàn cõi Giuđê và Samari, cho tới tận cùng trái đất” (Cv 1, 8).

Giáo Hội tin chắc rằng ẩn sâu trong các dân tộc, các nền văn hoá và tôn giáo của Á Châu này luôn có một sự khao khát “nước hằng sống” (x. Ga 4, 10-15), một sự khao khát do chính Chúa Thánh Thần khơi dậy và chỉ mình Đức Giêsu Cứu Thế mới có thể thoả mãn. Giáo Hội trông chờ Chúa Thánh Thần tiếp tục chuẩn bị tâm hồn các dân tộc Á Châu này để họ bước vào cuộc đối thoại với Đấng Cứu Tinh nhân loại. Dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần trong khi thi hành sứ mạng yêu thương và phục vụ, Giáo Hội có thể tạo điều kiện cho Đức Giêsu Kitô và các dân tộc Á Châu gặp gỡ nhau, trong khi các dân tộc ấy tìm kiếm một cuộc sống sung mãn. Chỉ khi nào có cuộc gặp gỡ ấy người ta mới tìm được nuớc hằng sống đem lại sự sống đời đời, hay cụ thể hơn, cho họ hiểu biết Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đức Giêsu Kitô do Ngài sai đến (x. Ga 17, 3).

Giáo Hội đã hiểu rõ rằng mình chỉ có thể hoàn thành sứ mạng khi vâng nghe theo những sự nhắc nhở của Chúa Thánh Thần. Được trao cho nhiệm vụ trở thành dấu chỉ và khí cụ chính hiệu cho Chúa Thánh Thần hoạt động trong các thực tế phức tạp của Châu Á này, Giáo Hội phải biết nhận ra trong tất cả các hoàn cảnh khác nhau của lục địa đâu là tiếng gọi của Chúa Thánh Thần muốn mình làm chứng cho Đức Giêsu Cứu Thế một cách mới mẻ và hiệu quả. Sự thật toàn vẹn về Đức Giêsu cũng như sự cứu độ mà Ngài đã giành được luôn luôn là một ân huệ do Chúa ban cho ta, chứ không bao giờ là kết quả của nỗ lực con người. “Chính Chúa Thánh Thần đã làm chứng với chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa, và nếu là con thì cũng là người thừa tự, thừa tự của Thiên Chúa và đồng thừa tự với Đức Kitô” (Rm 8, 16-17). Bởi đó, Giáo Hội không ngừng kêu lên : “Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến ! Xin hãy tràn ngập tâm hồn các tín hữu Chúa và khơi dậy lửa tình yêu Chúa nơi họ !” Đây chính là ngọn lửa mà Đức Giêsu đã đem xuống địa cầu. Giáo Hội Á Châu cũng chia sẻ nỗi khát mong này là làm sao cho ngọn lửa ấy được khơi dậy (x. Lc 12, 49). Cũng trong niềm khát khao mãnh liệt ấy, các nghị phụ đã tìm cách nhận định xem đâu là những khu vực chính yếu mà Giáo Hội Á Châu cần phúc âm hoá trong lúc tiến sang thiên niên kỷ mới.

CHƯƠNG BỐN: ĐỨC GIÊSU CỨU THẾ: MỘT QUÀ TẶNG CẦN LOAN BÁO CHO MỌI NGƯỜI BIẾT – ƯU TIÊN CHO VIỆC LOAN BÁO.

19. Trước thềm thiên niên kỷ thứ ba, một lần nữa ta lại nghe thấy tiếng nói của Đức Kitô Phục Sinh vang lên trong tâm hồn mỗi Kitô hữu : “Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được trao cho Ta. Vì thế, anh em hãy đi và chiêu mộ các môn đệ từ mọi dân tộc, rửa tội cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy họ tuân giữ tất cả những điều Ta truyền ; và Ta sẽ ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 18-20). Nắm chắc sự trợ giúp không bao giờ thiếu của chính Đức Giêsu và sự hiện diện cũng như quyền năng của Thần Khí Ngài, các tông đồ đã lập tức lên đường sau Lễ Ngũ Tuần để thực thi mệnh lệnh ấy : “Họ ra đi và rao giảng khắp nơi, còn Chúa thì luôn hoạt động với họ” (Mc 16, 20). Những điều họ loan báo có thể được tóm tắt trong mấy chữ của thánh Phaolô : “Chúng tôi không rao giảng bản thân mình, mà rao giảng Đức Giêsu Kitô là Chúa, còn chúng tôi chỉ là tôi tớ của anh em vì Đức Giêsu” (2Cr 4, 5). Được ban cho ơn đức tin ấy, sau hai ngàn năm, Giáo Hội vẫn tiếp tục ra đi gặp gỡ các dân trên thế giới để chia sẻ cho họ Tin Mừng về Đức Giêsu Kitô. Giáo Hội đúng là một cộng đoàn lúc nào cũng rạo rực sự nhiệt tình truyền giáo nhằm làm cho mọi người nhận biết, yêu mến và bước theo Đức Giêsu.

Không thể có sự phúc âm hoá thật sự nếu không có việc công khai loan báo Đức Giêsu là Chúa. Chính vì thế, Công Đồng Vaticanô II và Huấn Quyền Giáo Hội đã trả lời cho tình trạng hiểu biết lẫn lộn và mơ hồ về bản chất thật sự của việc truyền giáo bằng cách luôn luôn nhấn mạnh tới sự ưu tiên phải dành cho việc giới thiệu Đức Giêsu Kitô trong hết mọi công tác phúc âm hoá. Thế nên, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã viết rõ rằng “không có việc phúc âm hoá thật sự, nếu trong đó người ta chưa công bố tên, giáo lý, cuộc đời, các lời hứa, Nước trời và mầu nhiệm của Đức Giêsu Nazareth, Con Thiên Chúa”(66). Đây chính là điều mà các thế hệ Kitô hữu đã làm trong bao nhiêu thế kỷ qua. Chính vì thế, các nghị phụ Thượng Hội Đồng đã tự hào một cách đúng đắn khi nhắc lại rằng “nhiều cộng đoàn Kitô hữu ở Á Châu đã duy trì đức tin hằng nhiều thế kỷ trước bao nghịch cảnh và đã bám chặt vào di sản thiêng liêng ấy một cách hết sức anh hùng. Họ coi việc chia sẻ kho tàng vô biên này là vinh dự lớn lao và là một việc vô cùng khẩn cấp”(67).

Đồng thời, các tham dự viên Hội Nghị đặc biệt này cũng nhắc đi nhắc lại nhu cầu cần phải lặp lại sự dấn thân loan báo Đức Giêsu Kitô ngay chính trên lục địa này, một việc mà lục địa này đã được diễm phúc chứng kiến lần đầu cách đây 2000 năm. Câu nói sau đây của tông đồ Phaolô càng trở nên hiện thực hơn, khi biết rằng rất nhiều người trên châu lục này chưa bao giờ được dịp gặp gỡ Đức Giêsu một cách ý thức và rõ ràng : “Tất cả những ai kêu cầu Danh Chúa sẽ được cứu thoát. Nhưng làm sao kêu cầu Đấng mà họ chưa tin ? Và làm sao tin vào Đấng mà họ chưa hề được nghe nói tới bao giờ ? Và làm sao nghe được Đấng ấy nếu không có người rao giảng ?” (Rm 10, 13-14). Như thế, vấn đề lớn đang đặt ra cho Giáo Hội Á Châu hiện nay là làm sao chia sẻ với anh chị em người Á Châu của mình cái mà chúng ta cho là một quà tặng bao gồm hết mọi quà tặng, tức là Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô.

LOAN BÁO ĐỨC GIÊSU KITÔ TẠI Á CHÂU.

20. Giáo Hội tại Á Châu càng náo nức đối với nhiệm vụ loan báo Đức Giêsu Kitô, vì biết rằng “nhờ sự hoạt động của Chúa Thánh Thần, nơi nhiều cá nhân và nhiều dân tộc đã có sự khao khát, dù không ý thức, được biết sự thật về Thượng Đế, về con người và về cách thế làm sao chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi và sự chết”(68). Sở dĩ có sự lưu ý đến việc loan báo như thế, đó không phải là do một động cơ phe phái hay do tinh thần chiêu mộ tín đồ hoặc bởi sự trịch thượng nào. Giáo Hội rao giảng Tin Mừng chỉ vì muốn tuân theo mệnh lệnh của Đức Kitô, bởi biết rằng ai cũng có quyền được nghe Tin Mừng của một vị Thiên Chúa đã sẵn sàng tự mặc khải và tự hiến mình cho con người nơi Đức Kitô(69). Làm chứng cho Đưc Giêsu Kitô chính là sự phục vụ cao đẹp nhất mà Giáo Hội có thể cống hiến cho các dân tộc tại Á Châu, vì nó đáp ứng nguyện vọng sâu xa của họ là tìm được Đấng Tuyệt Đối, đồng thời nó cho biết những sự thật và nhưng giá trị cần thiết cho sự phát triển toàn diện của con người.

Ý thức sâu xa về sự phức tạp do có quá nhiều tình huống khác nhau tại Á Châu, và vì muốn “sống theo sự thật và trong tình bác ái” (Ep 4, 15), nên Giáo Hội luôn công bố Tin Mừng với sự tôn trọng và quý mến đối với những người nghe. Loan báo mà vẫn tôn trọng các quyền lương tâm sẽ không xâm phạm sự tự do của con người, vì đức tin luôn luôn đòi phía cá nhân phải có sự hương ứng tự do tự nguyện(70). Tuy nhiên, tôn trọng không có nghĩa là không được phép công khai loan báo Tin Mừng một cách nguyên vẹn. Nhất là trong bối cảnh có quá nhiều nền văn hoá và tôn giáo tại Á Châu, cần phải nói rõ rằng “không bao giờ vì tôn trọng và yêu quý các tôn giáo ấy, cũng chẳng bao giờ vì tính phức tạp của các vấn đề được đặt ra mà yêu cầu Giáo Hội rút lui không công bố Đức Giêsu Kitô cho những người không phải là Kitô hữu”(71). Năm 1986 trong lúc viếng thăm Ấn Độ, tôi đã có dịp nói rõ “con đường Giáo Hội đến với các tôn giáo khác là con đường kính trọng thật sự… Một sự kính trọng mang hai mặt : một đàng tôn trọng con người trong hành trình tìm kiếm những giải đáp cho các vấn nạn sâu xa nhất của cuộc sống, đàng khác tôn trọng hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi con người”(72). Thật vậy, các nghị phụ Thượng Hội Đồng sẵn sàng nhìn nhận hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi các xã hội, văn hoá và tôn giáo Á Châu, vì qua đó Chúa Cha chuẩn bị tâm hồn các dân tộc Á Châu đón nhận sự sống sung mãn nơi Đức Kitô”(73).

Tuy nhiên, trong những cuộc tham khảo diễn ra trước Thượng Hội Đồng, nhiều giám mục Á Châu đã nêu lên những khó khăn khi công bố Đức Giêsu là vị Cứu Tinh duy nhất. Trong Hội Nghị, các vị cũng mô tả tình hình ấy như sau : “Một số tín đồ của các tôn giáo lớn tại Á Châu không gặp vấn đề gì khi chấp nhận Đức Giêsu là hiện hình của Thần Minh hay Đấng Tuyệt Đối, hoặc như một Đấng ‘giác ngộ’. Nhưng thật khó cho họ phải coi Ngài là hiện thân duy nhất của Thần Minh”(74). Thật ra, nỗ lực chia sẻ ơn đức tin đối với Đức Giêsu như là Vị Cứu Tinh duy nhất đã đụng phải những khó khăn về triết học, văn hoá và thần học, nhất là nhìn từ những niềm tin có trong các tôn giáo lớn của Á Châu, vốn quyện rất chặt với các giá trị văn hoá và các thế giới quan riêng biệt.

Theo ý kiến của các nghị phụ Thượng Hội Đồng, những khó khăn ấy còn được tăng thêm do sự kiện Đức Giêsu thường được cho là xa lạ với Á Châu. Thật là nghịch lý khi đại đa số người Á Châu có khuynh hướng coi Đức Giêsu, một người sinh ra trên chính mảnh đất Á Châu, là một người Tây Phương hơn là Á Châu. Tin Mừng được loan báo bởi các nhà truyền giáo Tây Phương hẳn là không thể không bị ảnh hưởng bởi những nền văn hoá xuất xứ của họ. Các nghị phụ nhìn nhận đây là một sự kiện không thể tránh được trong lịch sử truyền giáo tại Á Châu. Đồng thời các ngài cũng tận dụng cơ hội này để “bày tỏ một cách đặc biệt sự biết ơn của mình đối với các nhà truyền giáo, nam lẫn nữ, tu sĩ lẫn giáo dân, ngoại quốc lẫn bản địa, đã mang sứ điệp của Đức Giêsu Kitô và ơn đức tin đến. Các ngài cũng muốn có lời đặc biệt để bày tỏ lòng biết ơn với tất cả các Giáo Hội đã gửi và còn tiếp tục gửi các nhà truyền giáo đến Á Châu”(75). Các nhà rao giảng Tin Mừng có thể tìm được can đảm nhờ vào kinh nghiệm của thánh Phaolô, người đã tham gia đối thoại với các giá trị triết học, văn hoá và tôn giáo của người nghe (x. Cv 14,13-17 ; 17,22-31). Ngay cả các công đồng chung của Giáo Hội từng đưa ra những giáo lý có sức ràng buộc Giáo Hội cũng phải sử dụng các tài nguyên ngữ học, triết học và văn hoá có sẵn để làm việc ấy. Thế là, các tài nguyên này đã trở thành một tài sản chung của cả Giáo Hội, được dùng để diễn tả giáo lý về Đức Kitô một cách thích hợp và mang tính phổ quát. Chúng là một phần trong di sản đức tin cần phải thu dụng lấy rồi chia sẻ lại mỗi khi tiếp xúc với các nền văn hoá khác nhau. (76) Thật là một thách đố vượt bậc khi tìm cách loan báo Đức Giêsu sao cho các dân tộc Á Châu có thể nhận ra Ngài, mà vẫn trung thành được cả với giáo lý thần học của Giáo Hội lẫn với gốc gác Á Châu của mình.

Muốn giới thiệu Đức Giêsu Kitô là Vị Cưú Tinh duy nhất, chúng ta cần phải theo một phương pháp sư phạm, đưa người ta dần dần tới chỗ thủ đắc trọn vẹn mầu nhiệm ấy. Cụ thể hơn, phúc âm hoá sơ khởi cho những người ngoài Kitô Giáo và tiếp tục loan báo Đức Giêsu cho những người đã tin là hai công việc phải được tiến hành khác nhau. Khi loan báo Đức Giêsu Kitô lần đầu chẳng hạn, “phải giới thiệu Đức Giêsu Kitô như Đấng thoả mãn những khát vọng sâu xa của con người, được diễn tả qua các thần thoại và văn chương dân gian của các dân tộc Châu Á”(77). Nói chung, nên dành ưu tiên cho phương pháp kể chuyện gần gũi với các hình thức văn hoá của Á Châu. Thật ra, việc loan báo Đức Giêsu Kitô có thể đạt hiệu quả nhất với phương pháp kể lại cuộc đời Ngài, như các sách Tin Mừng đã làm. Những khái niệm hữu thể học, trong đó, một điều chắc hẳn phải giả thiết là có và được bộc lộ ngay trong khi giới thiệu Đức Giêsu, có thể được bổ sung bằng những viễn tượng mang tính quan hệ, lịch sử và cả vũ trụ nhiều hơn. Các nghị phụ lưu ý : Giáo Hội cần phải cởi mở tiếp nhận các phương pháp vừa mới mẻ vừa bất ngờ có thể được dùng để giới thiệu khuôn mặt Đức Giêsu tại Á Châu này(78).

Thượng Hội Đồng còn nhắc nhở việc giảng dạy giáo lý tiếp theo sau đó nên theo “phương pháp sư phạm gợi ý, nghĩa là vận dụng các câu truyện, dụ ngôn và biểu tượng, là những điều hết sức đặc thù trong phương pháp giảng dạy của người Châu Á”(79). Chính Đức Giêsu trong khi thi hành công tác cũng đề cao giá trị của việc tiếp xúc cá nhân. Việc này đòi hỏi người rao giảng Tin Mừng phải quan tâm tới tình cảnh của người nghe, để có thể loan báo cho họ phù hợp với trình độ trưởng thành của họ, theo một hình thức và dùng một ngôn ngữ thích hợp. Nhìn trong viễn tượng ấy, đã nhiều lần các nghị phụ nhấn mạnh rằng phải rao giảng Tin Mừng bằng cách nào đánh động được cảm quan của các dân tộc Á Châu, giới thiệu cho họ những hình ảnh nào về Đức Giêsu mà tâm trí cũng như văn hoá Á Châu có thể lĩnh hội được, nhưng đồng thời vẫn phải trung thành với Kinh Thánh và Truyền Thống. Chẳng hạn như giới thiệu “Đức Giêsu Kitô là Thầy Dạy sự khôn ngoan, là Lương Y chữa lành bệnh, là Vị Giải Phóng, là nhà Hướng Dẫn Tâm Linh, là Đấng Giác Ngộ, là Bạn Hữu thân tình của người nghèo, là người Samari nhân hậu, là Mục Tử tốt lành, là Người Sống Tùng Phục”(80). Có thể giới thiệu Đức Giêsu như Sự Khôn Ngoan nhập thể của Thiên Chúa sẽ làm cho những “hạt giống” của sự khôn ngoan vốn đã có nơi cuộc sống, tôn giáo và dân tộc Châu Á được sinh hoa kết trái(81). Nói với những dân tộc đang chịu đựng quá nhiều đau khổ tại Châu Á, tốt nhất nên loan báo Đức Giêsu là Vị Cứu Tinh “có thể mang lại ý nghĩa cho những người đang phải chịu đựng những sự đau khổ không thể giải thích được”(82).

Đức tin mà Giáo Hội tặng cho con cái Châu Á không thể bị giới hạn trong khuôn khổ của sự hiểu biết và diễn tả thuộc về một nền văn hoá nhất định nào, vì đức tin ấy vượt lên trên tất cả những khuôn khổ ấy và thách thức mọi nền văn hoá dám vươn lên tới những đỉnh cao mới của sự hiểu biết và diễn đạt. Tuy vậy, các nghị phụ vẫn ý thức nhu cầu thúc bách của các Giáo Hội địa phương ở Châu Á là làm sao giới thiệu mầu nhiệm Đức Kitô cho dân tộc mình theo những mô hình văn hoá và theo những cách tư duy của họ. Các ngài đã chỉ ra rằng cuộc hội nhập văn hoá của đức tin trên lục địa này phải dẫn đến việc khám phá lại diện mạo Á Châu của Đức Giêsu, đồng thời phải tìm ra những phương cách mà nhờ đó các nền văn hoá Á Châu có thể nắm bắt được ý nghĩa cứu độ phổ quát của mầu nhiệm về Đức Giêsu và về Giáo Hội Người(83). Ngày nay cần phải thi đua với những vị như Giovanni da Montecorvino, Matteo Ricci và Roberto de Nobili, ấy là mới chỉ kể ra một ít người, để có cái nhìn thấu đáo về các dân tộc và văn hoá của họ.

THÁCH ĐỐ CỦA VIỆC HỘI NHẬP VĂN HOÁ.

21. Văn hoá là không gian vô cùng quan trọng, trong đó con người sẽ có dịp đối diện với Tin Mừng. Văn hoá là kết quả xuất phát từ cuộc sống và sinh hoạt của một tập thể nhân loại nào đó. Nên những người thuộc về tập thể ấy cũng được nền văn hoá trong đó họ sinh sống khuôn đúc lên tới một mức nào đó. Nếu con người và xã hội thay đổi, văn hoá cũng sẽ thay đổi theo. Ngược lại, nếu văn hoá đổi thay thì con người và xã hội cũng được văn hoá ấy biến đổi theo. Nhìn trong viễn tượng ấy, ta càng thấy rõ hơn tại sao phúc âm hoá và hội nhập văn hoá có liên quan mật thiết và tự nhiên với nhau. Đã đành Tin Mừng và việc phúc âm hoá không đồng nhất với văn hoá ; chúng độc lập với văn hoá. Nhưng Nước Chúa lại đến với những con người đã có liên hệ sâu xa với một nền văn hoá nhất định nào đó, và không thể xây dựng Nước Chúa mà không vay mượn một số yếu tố lấy từ các nền văn hoá nhân loại. Bởi đó, đức Phaolô VI mới bảo sự phân cách giữa Tin Mừng và văn hoá là thảm kịch của thời đại hôm nay, sẽ ảnh hưởng sâu xa tới việc phúc âm hoá cũng như tới nền văn hoá(84).

Trong quá trình gặp gỡ các nền văn hoá khác nhau của thế giới, Giáo Hội chẳng những truyền đạt các chân lý và giá trị của mình, cũng như đổi mới các nền văn hoá ấy từ bên trong, mà còn thu dụng nhiều yếu tố tích cực tìm thấy được từ các nền văn hoá khác nhau ấy. Đây là con đường bắt buộc các nhà truyền giáo phải đi qua khi giới thiệu đức tin Kitô Giáo và biến nó thành một phần trong di sản văn hoá của một dân tộc. Ngược lại, các nền văn hoá khác nhau ấy, một khi đã đươc tinh lọc và đổi mới lại dựa vào Tin Mừng, sẽ trở thành những cách biểu đạt rất xác đáng đức tin duy nhất của Kitô Giáo. “Nhờ hội nhập văn hoá, về phần mình, Giáo Hội sẽ trở thành một dấu chỉ dễ hiểu hơn cho biết bản chất thật của mình, cũng như trở thành một dụng cụ đắc lực hơn để thi hành sứ mạng”(85). Dấn thân với các nền văn hoá như thế xưa nay đã trở thành một phần trong cuộc hành trình của Giáo Hội trong lịch sử. Thế nhưng, ngày nay vấn đề này trở nên cấp thiết đặc biệt khi so sánh với tình hình đa chủng tộc, đa tôn giáo và đa văn hoá của Á Châu, một nơi vẫn coi Kitô Giáo như một cái gì xa lạ.

Đến đây, ta cần nhớ lại những gì các nghị phụ thường nói trong Thượng Hội Đồng: Chúa Thánh Thần là tác nhân chính của việc đưa đức tin Kitô Giáo hội nhập văn hoá vào Châu Á(86). Thánh Thần đã từng đưa chúng ta vào chân lý toàn diện cũng sẽ tạo điều kiện cho cuộc đối thoại của chúng ta với các giá trị văn hoá và tôn giáo của các dân tộc được kết quả, vì Ngài đã có mặt nơi các dân tộc ấy một cách nào đó rồi, ban cho những ai thiện chí nghị lực cần thiết để thắng vượt sự dữ và mưu mô của Thần Dữ, đồng thời tạo điều kiện cho mọi người được tham dự vào mầu nhiệm Vượt Qua cách nào chỉ có Chúa biết(87). Sự hiện diện của Chúa Thánh Thần sẽ bảo đảm cho cuộc đối thoại ấy diễn ra trong sự thật, liêm khiết, khiêm tốn và tôn trọng(88). “Khi cống hiến cho người khác Tin Mừng cứu chuộc, Giáo Hội cố gắng tìm hiểu văn hoá của họ. Giáo Hội tìm cách hiểu ra não trạng và tâm hồn của người nghe, những giá trị và tập quán, những vấn đề và khó khăn, những hy vọng và ước mơ của họ. Một khi biết được và hiểu được những khía cạnh khác nhau này của văn hoá, Giáo Hội có thể mở cuộc đối thoại cứu độ ; Giáo Hội có thể giới thiệu Tin Mừng Cứu Độ cho tất cả những ai tự nguyện muốn lắng nghe và muốn đáp trả, giới thiệu một cách kính trọng nhưng cũng rõ ràng và xác tín không kém”(89). Bởi đó, những người Châu Á muốn biến niềm tin Kitô Giáo thành của mình trong tư cách của những người Châu Á, có thể an tâm rằng những hy vọng và uớc mơ, những lo âu và đau khổ của họ chẳng những đã được Đức Giêsu đảm nhận lấy, mà đó còn trở thành điểm nóng cho ơn đức tin và quyền năng Thánh Thần đi sâu vào cuộc sống của họ.

Nhiệm vụ của các vị chủ chăn, dựa trên đoàn sủng của mình, là hướng dẫn cuộc đối thoại ấy với sự nhận định khôn ngoan. Cũng vậy, các nhà chuyên môn trong các môn học thánh và đời cũng đóng vai trò quan trọng trong tiến trình hội nhập văn hoá. Thế nhưng, tiến trình này phải thu hút toàn thể Dân Chúa, vì đời sống Giáo Hội nói chung phải phản ảnh niềm tin mà Giáo Hội đang loan báo và đang thủ đắc. Để bảo đảm cho việc này được thực hiện tốt đẹp, các nghị phụ Thượng Hội Đồng đã chỉ ra một số lãnh vực cần quan tâm đặc biệt, từ suy tư thần học, phụng vụ, đào tạo linh mục và tu sĩ, cho tới huấn giáo và linh đạo(90).

NHỮNG LÃNH VỰC THEN CHỐT CẦN HỘI NHẬP VĂN HOÁ.

21. Thượng Hội Đồng đã khuyến khích các nhà thần học trong một công việc tế nhị là phát triển một nền thần học đã hội nhập văn hoá, nhất là trong môn Kitô học(91). Các nghị phụ ghi nhận rằng “việc làm thần học này cần phải được xúc tiến một cách can đảm, trung thành với Kinh Thánh và Truyền Thống Giáo Hội, chân thành gắn bó với Huấn Quyền, đồng thời không quên các thực tế mục vụ”(92). Tôi cũng thúc giục các nhà thần học hãy làm việc trong tinh thần hiệp nhất với các vị chủ chăn và dân chúng ; các thành phần này sẽ liên kết với nhau thay vì chia rẽ nhau “suy nghĩ bằng cảm thức đức tin đúng đắn, một điều không bao giờ được phép bỏ qua”(93). Phải tiến hành công tác suy tư thần học với lòng tôn trọng các cảm nhận của các Kitô hữu, để nhờ được hướng dẫn từ từ làm quen với các hình thức hội nhập văn hoá diễn tả đức tin, dân chúng không cảm thấy bối rối hay khó chịu. Trong mọi trường hợp, phải tiến hành việc hội nhập văn hoá bằng cách bảo đảm sự tương hợp của nó với Tin Mừng và bảo đảm sự hiệp thông với đức tin của Giáo Hội toàn cầu, phù hợp với Truyền Thống Giáo Hội và luôn nhắm củng cố đức tin của dân chúng(94). Muốn biết sự hội nhập văn hoá có đúng đắn không, ta sẽ xem dân chúng tại đó có trở nên gắn bó hơn với đức tin Kitô Giáo của họ hay không sau khi hiểu đức tin ấy rõ ràng hơn từ văn hoá của mình.

Phụng Vụ là cội nguồn và là cao điểm của toàn bộ đời sống và sứ mạng Kitô Giáo(95). Phụng vụ là phương thế nắm vai trò quyết định trong việc phúc âm hoá, nhất là tại Á Châu, vì tại đây tín đồ các tôn giáo rất bị thu hút trước sự thờ phượng, các lễ hội tôn giáo và các việc đạo đức bình dân(96). Phần lớn phụng vụ của các Giáo Hội Đông Phương đã được hội nhập văn hoá một cách thành công qua nhiều thế kỷ có tác động qua lại với văn hoá địa phương. Tuy nhiên, các Giáo Hội mới được thành lập cần phải làm sao cho phụng vụ trở thành một nguồn nuôi dưỡng ngày càng quan trọng hơn cho đời sống tâm linh của các dân tộc bằng cách vận dụng các yếu tố rút tiả từ các nền văn hoá địa phương, một cách khôn ngoan và hiệu quả. Tuy nhiên, đưa phụng vụ hội nhập văn hoá không phải chỉ là chú ý tới các giá trị văn hoá truyền thống, các biểu tượng và nghi lễ ; còn phải lưu ý tới những thay đổi trong ý thức và thái độ của đồng bào do các nền văn hoá nặng tính tiêu thụ và thế tục đang ảnh hưởng đến cảm quan của người Á Châu về sự thờ phượng và cầu nguyện. Cũng không được phép bỏ qua những nhu cầu nhất định của người nghèo, người di cư, người tị nạn, người trẻ và phụ nữ, nếu muốn đưa phụng vụ hội nhập văn hoá một cách đúng đắn tại Á Châu này.

Các Hội Đồng Giám Mục quốc gia và khu vực cần cộng tác mật thiết hơn với Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích để tìm ra những phương thế hữu hiệu cổ võ các hình thức thờ phượng thích hợp với bối cảnh Châu Á(97). Việc cộng tác ấy hết sức quan trọng, vì Phụng Vụ Thánh là nơi diễn tả và cử hành một niềm tin chung của hết mọi Giáo Hội, và vì thế, các Giáo Hội địa phương không thể sưả đổi Phụng Vụ một cách độc lập với Giáo Hội toàn cầu, một khi Phụng Vụ đã trở thành di sản chung của toàn thể Giáo Hội.

Các nghị phụ Thượng Hội Đồng hết sức nhấn mạnh tới tầm quan trọng của ngôn từ Kinh Thánh khi tiếp tục chuyển giao sứ điệp cứu độ cho các dân tộc Châu Á, vì tại đây ngôn từ truyền đạt được đánh giá rất cao trong việc bảo tồn và trao đổi kinh nghiệm tôn giáo(98). Bởi đó, cần phải phát triển công tác tông đồ Thánh Kinh một cách hiệu quả, sao cho các bản văn thánh được phổ biến rộng rãi hơn và được sử dụng dồi dào hơn trong tinh thần cầu nguyện giữa các thành phần Giáo Hội Á Châu. Các nghị phụ Thượng Hội Đồng đã lưu ý phải lấy đó làm nền tảng cho mọi công việc rao giảng truyền giáo, huấn giáo, dạy dỗ và tu đức dưới bất cứ hình thức nào(99). Cần phải cổ võ và hỗ trợ những nỗ lực chuyển dịch Kinh Thánh ra các ngôn ngữ địa phương. Việc đào tạo về Thánh Kinh phải được coi là một phương thế quan trọng trong nỗ lực giáo dục dân chúng trong đức tin và trang bị cho họ thi hành công tác loan báo Tin Mừng. Phải đưa các khoá học có định hướng mục vụ về Thánh Kinh, nhấn mạnh tới việc áp dụng các điều được giảng dạy vào các thực tế phức tạp của đời sống tại Á Châu, vào trong chương trình đào tạo hàng giáo sĩ, người tận hiến và giáo dân(100). Cũng nên phổ biến Thánh Kinh cho tín đồ các tôn giáo khác, vì lời Chúa tự nó có sưc mạnh gây cảm kích cho các tâm hồn và Thánh Thần mặc khải chương trình cứu độ của Thiên Chúa cho thế giới thông qua Thánh Kinh. Ngoài ra, thể văn kể chuyện trong nhiều tác phẩm của Kinh Thánh rất gần với các bản văn tôn giáo điển hình của Châu Á(101).

Một khía cạnh then chốt khác của việc hội nhập văn hoá, quyết định phần lớn tương lai của tiến trình này, là đào tạo các người rao giảng Tin Mừng. Trong quá khứ, việc đào tạo này thường bám sát phong thái, phương pháp và chương trình nhập từ Tây Phương vào. Các nghị phụ Thượng Hội Đồng, tuy vẫn đánh giá cao những ơn ích do phương thức đào tạo này mang lại, cũng đã nhìn nhận một đóng góp tích cực do các nỗ lực gần đây nhằm thích nghi việc đào tạo các người rao giảng Tin Mừng cho phù hợp với bối cảnh văn hoá của Á Châu. Song song với việc tạo cho đức tin nền tảng vững chắc trong các môn học liên quan đến Thánh Kinh và các giáo phụ, các chủng sinh còn cần phải nắm vững và hiểu biết chi tiết di sản triết học và thần học của Giáo Hội, như tôi đã kêu gọi trong tông thư “Fides et Ratio” (“Đức tin và lý trí”)(102). Với sự chuẩn bị này, họ sẽ rút tỉa được những lợi ích khi tiếp xúc với các truyền thống triết học và tôn giáo của Á Châu(103). Các nghị phụ Thượng Hội Đồng cũng khuyến khích các giáo sư và ban giám đốc các chủng viện tìm cách hiểu biết sâu xa các yếu tố làm nên linh đạo và kinh nguyện thích hợp với tâm hồn người Á Châu, cũng như tham gia sâu xa hơn vào công cuộc tìm kiếm một cuộc sống triển nở hơn của các dân tộc Á Châu ấy(104). Muốn vậy, cần phải lưu ý tới một nhu cầu quan trọng là đào tạo ban điều hành chủng viện(105). Thượng Hội Đồng cũng tỏ ra quan tâm tới việc đào tạo các người tham gia đời tu, lưu ý rõ rằng linh đạo và lối sống của họ phải làm sao tỏ ra nhạy cảm với di sản văn hoá và tôn giáo của những người cùng chung sống với họ và đang được họ phục vụ, luôn giả thiết phải có sự phân định đâu là điều phù hợp với Tin Mừng và đâu là điều không phù hợp(106). Ngoài ra, vì công việc hội nhập văn hoá là công việc chung của toàn thể Dân Chúa, nên vai trò của người giáo dân rất quan trọng. Hơn ai hết, họ chính là những người được mời gọi biến đổi xã hội, cộng tác với các giám mục, linh mục và tu sĩ, bằng cách thổi “tinh thần của Đức Kitô” vào trong não trạng, tập quán, luật lệ và cơ chế của thế giới mà trong đó họ đang sống(107). Việc đưa Tin Mừng hội nhập văn hoá một cách rộng rãi hơn ở mọi cấp trong xã hội Châu Á sẽ tuỳ thuộc phần lớn vào việc đào tạo thích đáng mà mỗi Giáo Hội địa phương làm được cho các giáo dân của mình.

SỐNG ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU LÀ MỘT CÁCH LOAN BÁO.

23. Cộng đoàn Kitô hữu càng đâm rễ sâu trong kinh nghiệm với Thiên Chúa, kinh nghiệm xuất phát từ một lòng tin sống động, thì cộng đoàn ấy càng đáng tin cậy khi loan báo cho người khác Nước Chúa đã hoàn thành nơi Đức Giêsu Kitô. Điều này sẽ xảy ra khi họ trung thành lắng nghe lời Chúa, cầu nguyện và chiêm niệm, cử hành mầu nhiệm Đức Giêsu trong các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, và nêu gương hiệp thông thật sự trong đời sống cũng như có đức ái trọn vẹn. Giáo Hội tại chỗ phải thiết tha với việc chiêm ngắm Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa làm người, đồng thời phải không ngừng nỗ lực cho có sự kết hợp mật thiết hơn với Ngài vì Giáo Hội đang tiếp nối sứ mạng của Ngài. Sứ mạng ấy là hoạt động với tinh thần chiêm niệm và chiêm niệm bằng hoạt động. Bởi đó, một nhà truyền giáo không có kinh nghiệm sâu xa về Thiên Chúa trong kinh nguyện và chiêm niệm sẽ ảnh hưởng rất ít về mặt thiêng liêng hoặc sẽ ít thành công trong việc truyền giáo. Đây là một kết luận rút ra từ kinh nghiệm thi hành tác vụ linh mục của tôi, và, như tôi đã viết ở một chỗ khác, qua các lần tiếp xúc với các vị đại biểu của các truyền thống tâm linh ngoài Kitô Giáo, nhất là của Á Châu, tôi càng xác tín hơn về điều này : tương lai của việc truyền giáo tuỳ thuộc phần lớn vào đời sống chiêm niệm(108). Tại Á Châu, quê hương của các tôn giáo lớn qua đó không những cá nhân mà cả dân tộc bày tỏ lòng khát khao thế giới thần linh, Giáo Hội đuợc kêu gọi hãy trở thành một Giáo Hội cầu nguyện, hết sức thiêng liêng, cả khi dấn thân vào các bận tâm nhân bản và xã hội trước mắt. Mọi Kitô hữu cần phải sống một linh đạo truyền giáo lấy cầu nguyện và chiêm niệm làm trọng tâm.

Tại Châu Á, một người có tôn giáo thật sự sẽ sớm được kính trọng và được hưởng ứng. Cầu nguyện, chay tịnh và khổ hạnh dưới nhiều hình thức khác nhau là những điều rất được trân trọng. Từ bỏ, siêu thoát, khiêm nhường, giản dị và thinh lặng là những điều mà tín đồ của bất cứ một tôn giáo nào cũng coi là những giá trị lớn. Các nghị phụ Thượng Hội Đồng lưu ý rằng muốn việc cầu nguyện không trở nên xa lạ với sự thăng tiến con người, “phải liên kết công tác xây dựng công lý, bác ái và từ thiện với một đời sống cầu nguyện và chiêm niệm thật sự, và linh đạo này cũng phải là cội nguồn sinh ra mọi công tác phúc âm hoá”(109). Xác tín tầm quan trọng của các chứng nhân chính hiệu trong công cuộc phúc âm hoá tại Châu Á, các nghị phụ Thượng Hội Đồng đã tuyên bố : “Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô chỉ có thể được công bố bởi những người đã được thúc đẩy và linh hứng bởi tình thương Chúa Cha dành cho con cái Ngài, biểu lộ qua con người Giêsu Kitô. Việc công bố Tin Mừng là một sứ mạng đòi phải có những người thánh thiện làm cho người khác nhận biết và yêu mến Đấng Cứu Thế ấy qua chính đời sống của mình. Ta chỉ có thể đốt lửa bởi một vật gì đó đang cháy. Thế nên, Tin Mừng chỉ có thể được loan báo một cách thành công tại Châu Á, khi các giám mục, giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân đang rạo rực tình yêu đối với Đức Kitô, khao khát làm cho Ngài được nhiều người nhận biết hơn, yêu mến và theo đuổi nhiều hơn”(110). Kitô hữu nào giới thiệu Đức Kitô thì phải đưa sứ điệp mà mình sắp công bố hiện thân vào đời sống của mình.

Tuy nhiên, về mặt này, có một tình huống đặc biệt của Á Châu cần được ta đặc biệt lưu ý. Giáo Hội ý thức rằng làm chứng một cách thinh lặng bằng cuộc sống vẫn là con đường duy nhất để loan báo Nước Chúa tại nhiều nơi của Châu Á, những nơi bị cấm loan báo công khai, tự do tôn giáo bị phủ nhận hay bị hạn chế một cách hệ thống. Giáo Hội tại những nơi đó đang làm chứng theo lối ấy một cách có ý thức, coi đó như một cách “vác thập giá của mình” (Lc 9, 23), đồng thời vẫn kêu gọi và thúc giục các chính phủ hãy nhìn nhận sự tự do tôn giáo như một quyền căn bản của con người. Những lời nói sau đây của Công Đồng Vaticanô II rất đáng cho chúng ta nhắc lại : “Con người có quyền tự do tôn giáo. Sự tự do ấy hệ tại chỗ này : mọi người phải được tự do khỏi mọi áp lực đến từ cá nhân hay các tập thể xã hội hoặc từ một quyền lực nhân loại nào đó, bắt mình phải hành động ngược với lương tâm của mình trong các vấn đề tôn giáo, cũng như bị ngăn cản không được hành động theo lương tâm mình, bất kể trong chỗ riêng tư hay nơi công khai, một mình hay cùng với người khác, trong những giới hạn chính đáng”(111). Tại một số nước Châu Á, còn phải làm sao cho người ta nhìn nhận và đưa ra thực hành lời tuyên bố trên đây.

Thế nên, rõ ràng là loan báo về Đức Giêsu Kitô tại Á Châu là một việc làm mang nhiều khía cạnh phức tạp, cả về nội dung lẫn trong phương pháp. Các nghị phụ Thượng Hội Đồng ý thức rất rõ rằng không có gì là bất chính nếu có nhiều cách khác nhau để làm công tác loan báo Đức Giêsu, miễn là trong quá trình đắc thủ đức tin và chia sẻ đức tin, người ta phải luôn tôn trọng đức tin trong toàn bộ của nó. Thượng Hội Đồng ghi nhận rằng : “việc phúc âm hoá hiện nay là một việc vừa phải phong phú vừa phải năng động. Nó bao gồm nhiều khía cạnh và nhiều yếu tố khác nhau như làm chứng, đối thoại, công bố, dạy giáo lý, hoán cải, rửa tội, hội nhập vào cộng đoàn Giáo Hội, thiết lập Giáo Hội, hội nhập văn hoá và thăng tiến con người cách toàn diện. Có nhiều yếu tố trên đây sẽ được tiến hành chung với nhau, nhưng cũng có những yếu tố cần phải được xúc tiến tuần tự theo những bước hay những giai đoạn của toàn bộ tiến trình phúc âm hoá”(112). Tuy nhiên, chân lý phải được công bố trong toàn bộ công cuộc phúc âm hoá chính là sự thật toàn vẹn về Đức Giêsu Kitô. Khi giới thiệu Đức Giêsu cho một người, chẳng những chúng ta được phép mà còn cần nhấn mạnh một vài khía cạnh trong toàn bộ mầu nhiệm vô tận của Đức Giêsu. Nhưng không được phép vì thế mà làm phương hại cho sự toàn vẹn của đức tin. Rốt cuộc, phải làm sao cho việc chấp nhận đức tin của một người được xây dựng trên sự hiểu biết vững chắc về bản thân Đức Giêsu Kitô như xưa nay và đâu đâu Giáo Hội vẫn giới thiệu : Ngài là Chúa muôn loài, “Đấng hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một” (Dt 13, 8).

CHƯƠNG NĂM: HIỆP THÔNG VÀ ĐỐI THOẠI ĐỂ TRUYỀN GIÁO HIỆP THÔNG VÀ TRUYỀN GIÁO PHẢI ĐI ĐÔI VỚI NHAU.

24. Thể theo ý định muôn đời của Chúa Cha, Giáo Hội đã được báo trước từ thuở ban sơ của thế giới, rồi được chuẩn bị trong Cưu Ước, được Đức Kitô Giêsu thành lập và được Chúa Thánh Thần giới thiệu cho thế giới trong ngày Lễ Ngũ Tuần, Giáo Hội ấy “đang tiến bước trong cuộc lữ hành của mình giữa bao bách hại của thế giới và giữa bao an ủi của Thiên Chúa”(113), đang khi vẫn nỗ lực trở nên hoàn thiện trong vinh quang thiên quốc. Vì Thiên Chúa đã muốn “toàn thể nhân loại trở thành một dân của Chúa, làm nên một Thân Thể của Đức Kitô và được xây dựng thành một đền thờ của Chúa Thánh Thần”(114), nên Giáo Hội trong thế giới này chính là “kế hoạch yêu thương nhân loại của Thiên Chúa mà con người có thể trông thấy, chính là bí tích của sự cứu độ”(115). Bởi đó, không thể hiểu Giáo Hội chỉ như một tổ chức xã hội hay cơ quan phục vụ sự an sinh cho loài người. Dù cưu mang trong mình nhiều con người tội lỗi chăng nữa, Giáo Hội cũng phải được chúng ta coi là nơi ưu tiên cho Thiên Chúa và con người gặp gỡ nhau, là nơi Thiên Chúa quyết định mặc khải đời sống nội tâm nhiệm mầu của mình và thực hiện chương trình cứu độ thế giới.

Mầu nhiệm của kế hoạch tình yêu ấy đã được làm cho thấy và được trở nên hữu hiệu trong chính cộng đoàn những người đã từng nhờ phép Rửa mà chôn mình vào cái chết cùng với Đức Kitô, để rồi cũng như Đức Kitô được Chúa Cha vinh quang nâng dậy khỏi cõi chết, họ cũng bước đi được trong cuộc sống mới (x. Rm 6,4). Trọng tâm của mầu nhiệm Giáo Hội chính là mối hiệp thông nối kết Đức Kitô Lang Quân với mọi người đã chịu phép Rửa. Nhờ sự hiệp thông sống động và có khả năng đem lại sự sống ấy, “các Kitô hữu không còn thuộc về mình nữa, mà đã trở thành của Chúa”(116). Một khi kết hợp với Chúa Con trong mối dây yêu thương của Thánh Thần, các Kitô hữu cũng kết hợp với Chúa Cha, và từ sự hiệp thông này mà các Kitô hữu được hiệp thông với nhau qua Đức Kitô trong Thánh Thần(117). Nếu thế, mục tiêu trước tiên của Giáo Hội là làm bí tích diễn tả sự kết hiệp nội tâm của con người với Thiên Chúa và, vì sự hiệp thông giữa con người với nhau xuất phát từ sự hiệp thông của họ với Thiên Chúa, Giáo Hội cũng là bí tích diễn tả sự thống nhất của nhân loại(118). Nơi Giáo Hội sự thống nhất ấy đã khởi sự. Nhưng Giáo Hội cũng đồng thời “là dấu chỉ và là dụng cụ” cho sự thống nhất sẽ được hoàn thành trong tương lai(119).

Một đòi hỏi thiết yếu của cuộc sống trong Đức Kitô là hễ ai hiệp thông với Chúa thì phải sinh hoa kết quả : “Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, người ấy sẽ sinh nhiều hoa trái” (Ga 15, 5). Như thế, thật là đúng khi bảo rằng ai không sinh hoa kết quả, thì ấy là người đã không sống trong sự hiệp thông : “Cành nào không sinh hoa trái thì (Cha Thầy) sẽ tỉa đi” (Ga 15, 2). Hiệp thông với Đức Kitô, và từ đó phát sinh sự hiệp thông giữa các Kitô hữu với nhau, chính là điều kiện cần thiết để sinh hoa kết quả ; và sự hiệp thông với người khác, một món quà của Đức Kitô và Thánh Thần, chính là hoa quả tuyệt vời nhất mà cành cây có thể sinh ra. Hiểu như thế thì hiệp thông và truyền giáo là hai việc không thể tách rời nhau. Chúng thẩm thấu và bao hàm nhau, đến nỗi có thể nói “hiệp thông vừa là gốc vừa là trái của việc truyền giáo : hiệp thông đưa tới truyền giáo và truyền giáo được hoàn thành trong sự hiệp thông”(120).

Dựa trên thần học của sự hiệp thông, Công Đồng Vaticanô II đã mô tả Giáo Hội là Dân Chúa đang hành hương, một dân mà không dân nào không có liên hệ cách này hay cách khác(121). Trên cơ sở đó, các nghị phụ Thượng Hội Đồng nhấn mạnh mối liên hệ nhiệm mầu giữa Giáo Hội và tín đồ các tôn giáo khác của Châu Á, ghi nhận rằng các tín đồ ấy “có liên hệ (với Giáo Hội) bằng nhiều cách và ở nhiều mức độ khác nhau”(122). Giữa đông đảo các dân tộc, các nền văn hoá và các tôn giáo khác nhau như thế, “càng thấy sống đời sống Giáo Hội như một sự hiệp thông quan trọng thế nào”(123). Thật ra, công tác phục vụ sự hiệp nhất do Giáo Hội thực hiện có một tầm quan trọng đặc biệt tại Á Châu, vì tại đây có quá nhiều căng thẳng, chia rẽ và xung đột, do những khác biệt về chủng tộc, xã hội, văn hoá, ngôn ngữ, kinh tế và tôn giáo gây ra. Chính trong bối cảnh ấy các Giáo Hội địa phương ở Châu Á, hiệp thông với Đấng Kế Vị thánh Phêrô, cần cổ võ sự hiệp thông nhiều hơn nữa trong tâm trí cũng như trong tâm hồn bằng sự cộng tác mật thiết hơn giữa các Giáo Hội với nhau. Một điều cũng quan trọng không kém đối với sứ mạng phúc âm hoá của họ là xây dựng các quan hệ với các Giáo Hội và các cộng đồng Kitô khác, cũng như với tín đồ các tôn giáo khác(124). Bởi đó, Thượng Hội Đồng nhắc lại sự dấn thân của Giáo Hội Châu Á với công tác cải thiện các quan hệ đại kết cũng như sự đối thoại giữa các tôn giáo, vì nhìn nhận rằng xây dựng sự hiệp nhất, nỗ lực hoà giải, thiết lập các dây liên đới, xúc tiến sự đối thoại giữa các tôn giáo và các nền văn hoá, loại bỏ những thành kiến và gầy dựng sự tin tưởng giữa các dân tộc, đó chính là những công việc vô cùng quan trọng để Giáo Hội thi hành sứ mạng phúc âm hoá trên châu lục này. Muốn vậy, toàn thể cộng đồng Công Giáo phải thành thật xét mình, phải can đảm hoà giải và tiếp tục dấn thân đối thoại. Trước thềm thiên niên kỷ thứ ba này, ai cũng thấy rõ là muốn có khả năng phúc âm hoá, Giáo Hội phải ra sức phục vụ cho sự nghiệp hiệp nhất ấy trong mọi chiều kích. Hiệp thông và truyền giáo phải đi đôi với nhau.

HIỆP THÔNG TRONG NỘI BỘ GIÁO HỘI.

25. Quy tụ chung quanh Đấng Kế Vị thánh Phêrô, cùng cầu nguyện và làm việc với nhau, các giám mục trong Hội Nghị đặc biệt dành cho Á Châu lần này đã trở thành hiện thân của sự hiệp thông Giáo Hội giữa các Giáo Hội địa phương vô cùng khác biệt được lãnh đạo bằng đức ái. Sự có mặt của tôi tại các phiên họp chung của Thượng Hội Đồng vừa là một cơ hội tốt để tôi chia sẻ những niềm vui và hy vọng cũng như những lo lắng và băn khoăn của các giám mục, vừa là một dịp cho tôi thực hiện tác vụ của mình một cách sâu sắc và kỹ lưỡng hơn. Thật vậy, chính khi đặt mình trong viễn tượng hiệp thông Giáo Hội, người ta mới thấy rõ hơn thẩm quyền của Đấng Kế Vị thánh Phêrô mang tính phổ quát, không phải một quyền hành mang tính pháp lý trên các Giáo Hội địa phương mà là một sự trổi vượt mang tính mục vụ nhằm xây dựng sự hiệp nhất trong đức tin và đời sống của toàn thể Dân Chúa. Ý thức rằng “trong vai trò Đấng Kế Vị thánh Phêrô, Đức Giáo Hoàng có nhiệm vụ hết sức độc đáo là bảo đảm và đẩy mạnh sự hiệp nhất trong Giáo Hội”(125). Các nghị phụ Thượng Hội Đồng đánh giá cao sự phục vụ mà các bộ của giáo triều Rôma và cơ quan ngoại giao của Toà Thánh đóng góp cho các Giáo Hội địa phương, trong tinh thần hiệp thông và cộng sự của hàng giám mục(126). Sự phục vụ của các cộng sự viên thân cận với Đấng Kế Vị thánh Phêrô mang một nét đặc biệt là tỏ ra rất tôn trọng và rất nhạy cảm trước sự đa dạng chính đáng của các Giáo Hội địa phương, của các nền văn hoá và dân tộc mà họ có dịp tiếp xúc.

Mỗi Giáo Hội địa phương phải được xây dựng vững vàng bằng cách minh chứng tinh thần hiệp thông với Giáo Hội, vì đây chính là bản chất làm cho các cộng đoàn ấy là Giáo Hội. Các nghị phụ Thượng Hội Đồng đã quyết định mô tả giáo phận là sự hiệp thông của các cộng đoàn chung quanh vị mục tử ; trong đó giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân tham gia cuộc “đối thoại bằng đời sống và bằng tâm hồn”, cuộc đối thoại được Chúa Thánh Thần nâng đỡ(127). Giáo phận là nơi ưu tiên cho ta thấy cụ thể hình ảnh sự hiệp thông của các cộng đoàn giữa bao thực tế xã hội, chính trị, tôn giáo, văn hoá và kinh tế vô cùng phức tạp của Á Châu. Nói tới sự hiệp thông Giáo Hội là ngụ ý bảo rằng mỗi Giáo Hội địa phương phải trở thành cái mà các nghị phụ Thượng Hội Đồng gọi là “Giáo Hội tham gia (participatory Church)”, tức là một Giáo Hội trong đó mọi người đều sống đúng ơn gọi riêng của mình và thi hành đúng vai trò riêng của mình. Muốn xây dựng cộng đoàn “hiệp thông để truyền giáo” và “truyền giáo bằng hiệp thông”, người ta cần phải nhìn nhận, phát triển và sử dụng hiệu quả đoàn sủng của mỗi thành phần trong Giáo Hội(128). Cách riêng, cần cổ võ sự tham gia nhiều hơn nữa của giáo dân và các người tận hiến trong việc lập kế hoạch mục vụ và quyết định, thông qua các cơ chế mang tính tham gia như các Hội Đồng Mục Vụ và các Hội Nghị Giáo Xứ(129).

Tại mỗi giáo phận, giáo xứ vẫn là nơi thông thường cho tín hữu quy tụ lại để được lớn lên trong đức tin, để sống mầu nhiệm hiệp thông Giáo Hội và tham gia và sứ mạng của Giáo Hội. Thế nên, các nghị phụ Thượng Hội Đồng thúc giục các vị chủ chăn hãy nghĩ ra những phương cách mới mẻ và hữu hiệu để chăn dắt các tín hữu, làm sao cho mỗi người, nhất là người nghèo, cảm nhận được mình là một thành phần thực thụ của giáo xứ và của toàn thể Dân Chúa. Cùng với giáo dân lập kế hoạch mục vụ, điều đó phải trở thành một nét sinh hoạt bình thường của mọi giáo xứ(130). Thượng Hội Đồng lưu ý đặc biệt hơn nữa giới trẻ là thành phần mà “giáo xứ cần phải tạo nhiều điều kiện hơn để họ hiệp thông và cộng tác… dựa vào phong trào tông đồ giới trẻ có tổ chức và các câu lạc bộ giới trẻ”(131). Không ai bị loại trừ một cách tiên thiên không cho tham gia trọn vẹn vào sinh hoạt và sứ mạng của giáo xứ chỉ vì gốc gác xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá hay giáo dục. Nếu mỗi môn đệ Đức Kitô đều có cái để cống hiến cho cộng đoàn, thì cộng đoàn cũng phải tỏ ra sẵn sàng tiếp nhận và sử dụng sự cống hiến ấy.

Trong bối cảnh ấy và dựa trên kinh nghiệm mục vụ của mình, các nghị phụ Thượng Hội Đồng nhấn mạnh tới giá trị của các cộng đoàn Giáo Hội cơ bản như một phương thế hữu hiệu để đẩy mạnh sự hiệp thông và cộng tác trong các giáo xứ và giáo phận, và như một lực lượng thật sự cho công cuộc phúc âm hoá(132). Những tập thể nhỏ bé này sẽ giúp các tín hữu sống thành những cộng đoàn đức tin, cầu nguyện và yêu thương như các Kitô hữu đầu tiên (x. Cv 2, 44-47 ; 4, 32-35). Các tập thể này còn giúp các đoàn viên sống Tin Mừng trong tinh thần yêu thương huynh đệ và phục vụ, từ đó trở thành điểm khởi hành vững chắc cho một xã hội mới, biểu hiện một nền văn minh tình thương. Cùng với Thượng Hội Đồng, tôi khuyến khích Giáo Hội tại Á Châu, chỗ nào có thể được, hãy coi các cộng đoàn cơ bản ấy như một nét tích cực trong công tác phúc âm hoá của Giáo Hội. Nhưng các cộng đoàn ấy chỉ thực sự hữu hiệu, khi biết hiệp thông với Giáo Hội địa phương và Giáo Hội toàn cầu, hiệp thông từ trong tâm hồn với các vị chủ chăn và Huấn Quyền của Giáo Hội, sẵn sàng mở rộng trong tinh thần truyền giáo, không rơi vào tình trạng cô lập hay triển khai theo một ý thức hệ nào, như đức giáo hoàng Phaolô VI đã viết(133). Sự có mặt các cộng đoàn nhỏ này không nhằm loại bỏ các tổ chức và cơ cấu đã được thiết lập, vì chúng vẫn còn cần thiết để giúp Giáo Hội chu toàn sứ mạng của mình.

Thượng Hội Đồng cũng nhìn nhận vai trò của các phong trào canh tân trong việc xây dựng sự hiệp thông, tạo các cơ hội cho người ta kinh nghiệm Thiên Chúa một cách thâm sâu hơn qua đức tin và các bí tích, và cổ võ việc hoán cải đời sống(134). Trách nhiệm của các vị chủ chăn là hướng dẫn, đồng hành và khuyến khích các tập thể ấy, để chúng hội nhập tốt vào trong sinh hoạt và sứ mạng của giáo xứ và giáo phận. Những ai tham gia các hiệp hội và các phong trào ấy hãy góp tay xây dựng Giáo Hội địa phương, không coi mình như những tổ chức thay thế các cơ chế giáo phận và sinh hoạt giáo xứ. Sự hiệp thông trong Giáo Hội sẽ trở nên vững chắc hơn, khi các người lãnh đạo các phong trào ấy tại địa phương cùng làm việc chung với các vị chủ chăn trong tinh thần bác ái, vì lợi ích của mọi người (x. 1Cr 1, 13).

SỰ LIÊN ĐỚI GIỮA CÁC GIÁO HỘI.

26. Sự hiệp thông nội bộ nói trên đây sẽ góp phần xây dựng sự liên đới giữa các Giáo Hội địa phương. Quan tâm tới các nhu cầu tại chỗ là điều hợp tình hợp lý và cần thiết, nhưng vì sự hiệp thông, các Giáo Hội địa phương vẫn phải cởi mở tiếp nhận nhau và cộng tác với nhau, để dù dị biệt, các Giáo Hội ấy vẫn cho thấy và bảo vệ được mối hiệp thông với Giáo Hội toàn cầu. Muốn hiệp thông thì phải hiểu nhau và có sự phối hợp trong việc thi hành sứ mạng, mà vẫn không làm hại tới sự tự trị và quyền lợi của mỗi Giáo Hội đúng theo truyền thống của Giáo Hội ấy về thần học, phụng vụ và thiêng liêng. Tuy nhiên, lịch sử cũng cho thấy sự hiệp thông giữa các Giáo Hội Châu Á đã bị tổn thương như thế nào do những chia rẽ giữa các Giáo Hội ấy. Qua nhiều thế kỷ, quan hệ giữa các Giáo Hội khác nhau về quyền tài phán, về truyền thống phụng vụ và kiểu cách truyền giáo đã có lúc trở nên căng thẳng và khó khăn. Các giám mục có mặt tại Thượng Hội Đồng này đã nhìn nhận rằng, thậm chí cho tới hôm nay trong nội bộ và giữa các Giáo Hội địa phương ở Châu Á thỉnh thoảng vẫn xảy ra những chia rẽ đáng tiếc, thường đi đôi với những sự khác nhau về nghi thức, ngôn ngữ, chủng tộc, giai cấp và ý thức hệ. Một số vết thương đã phần nào được chữa khỏi, nhưng vẫn chưa được lành mạnh hoàn toàn. Ý thức rằng chỗ nào yếu kém trong sự hiệp thông thì lời chứng và nỗ lực truyền giáo của Giáo Hội ở chỗ đó bị thiệt hại, các nghị phụ đã đề nghị những bước cụ thể để củng cố lại quan hệ giữa các Giáo Hội Á Châu. Ngoài những lời nói ủng hộ và khuyến khích thiêng liêng cần thiết, các nghị phụ còn đề nghị một sự phân phối linh mục cân bằng hơn, liên đới trong vấn đề tài chính một cách hữu hiệu hơn, trao đổi văn hoá và thần học và gia tăng các cơ hội cộng tác với nhau giữa các giáo phận. (135)

Các hiệp hội giám mục khu vực và lục địa, đặc biệt Hội Đồng các Thượng Phụ Công Giáo miền Trung Đông và Liên Hiệp Hội Đồng Giám Mục Á Châu đã góp tay cổ võ sự đoàn kết giữa các Giáo Hội địa phương và tạo điều kiện cho có những điểm cộng tác với nhau để giải quyết các vấn đề mục vụ. Tương tự như thế, có nhiều trung tâm thần học, linh đạo và hoạt động mục vụ khắp Châu Á cổ võ sự hiệp thông và cộng tác một cách thực tiễn(136). Mọi người phải quan tâm làm sao cho các sáng kiến đầy hưá hẹn này được phát triển rộng rãi hơn để cả Giáo Hội lẫn xã hội Á Châu được nhờ.

CÁC GIÁO HỘI CÔNG GIÁO ĐÔNG PHƯƠNG.

27. Tình hình của các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương, nhất là tại Trung Đông và Ấn Độ, rất đáng chú ý. Từ thời các tông đồ, đó đã là những cơ quan bảo tồn di sản thiêng liêng, phụng vụ và thần học rất quý giá. Những truyền thống và nghi lễ của các Giáo Hội ấy, được khai sinh từ những nỗ lực đưa đức tin hội nhập văn hoá sâu xa vào chính những quốc gia Á Châu này, rất đáng cho chúng ta kính trọng. Cùng với các nghị phụ Thượng Hội Đồng, tôi kêu gọi mọi người hãy nhìn nhận những phong tục chính đáng và sự tự do chính đáng của các Giáo Hội này trong các vấn đề kỷ luật và phụng vụ, theo như Giáo Luật của các Giáo Hội Đông Phương quy định(137). Dựa vào giáo huấn của Công Đồng Vaticanô II, chúng ta thấy cần phải vượt qua những nỗi lo sợ và hiểu lầm thỉnh thoảng xảy ra trong quan hệ giữa các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương và Giáo Hội La Tinh, cũng như giữa chính các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương ấy với nhau, nhất là liên quan đến việc chăm sóc dân chúng của các Giáo Hội ấy, kể cả khi ở ngoài lãnh thổ của họ(138). Là con cái của một Giáo Hội duy nhất, được tái sinh trong sự sống mới nơi Đức Kitô, các tín hữu hãy tập đón nhận mọi sự trong tinh thần quyết tâm chung, tin tưởng nhau và yêu thương trọn vẹn. Không được để các sự xung đột gây ra những chia rẽ, mà thay vào đó, phải giải quyết các xung đột trong tinh thần chân thật và tôn trọng nhau, vì ngoài tình thương ra, không gì có thể mang lại điều hay lẽ phải(139).

Các Giáo Hội đáng kính này sẽ phải tham gia trực tiếp vào cuộc đối thoại đại kết với các Giáo Hội chị em của mình là các Giáo Hội Chính Thống. Thượng Hội Đồng thúc giục các Giáo Hội ấy cứ tiếp tục con đường đó(140). Họ cũng có nhiều kinh nghiệm quý báu về việc đối thoại giữa các tôn giáo, nhất là với Hồi Giáo. Điều này có thể có ích cho các Giáo Hội khác tại Á Châu và những nơi khác. Rõ ràng là các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương đang làm chủ một kho tàng kếch sù gồm các truyền thống và kinh nghiệm có thể hết sức bổ ích cho toàn thể Giáo Hội.

CHIA SẺ HY VỌNG VÀ KHỔ ĐAU

28. Các nghị phụ Thượng Hội Đồng cũng ý thức tới nhu cầu phải hiệp thông và cộng tác một cách hữu hiệu với các Giáo Hội đang có mặt trong các lãnh thổ trước đây là của Liên Bang Xô Viết tại Á Châu này, đang xây dựng lại trong những hoàn cảnh hết sức cam go như hậu quả của một giai đoạn lịch sử khó khăn. Giáo Hội luôn đồng hành với các Giáo Hội ấy trong lời cầu nguyện, chia sẻ những đau khổ và những hy vọng mới nhen nhúm của họ. Tôi khuyến khích toàn thể Giáo Hội hãy hỗ trợ các Giáo Hội ấy về luân lý, tinh thần, lẫn vật chất, cho các Giáo Hội ấy mượn các nhân sự, có chức thánh hay không, để giúp các cộng đoàn ấy chia sẻ với các dân cư tại chỗ tình thương Thiên Chúa, đã được mặc khải nơi Đức Giêsu Kitô(141).

Tại nhiều nơi ở Châu Á, anh chị em chúng ta vẫn đang phải sống đức tin giữa bao hạn chế và thậm chí trong tình trạng tự do hoàn toàn bị chối bỏ. Các nghị phụ Thượng Hội Đồng xin bày tỏ sự quan tâm và lo lắng đặc biệt đối với các chi thể đang đau khổ ấy của Giáo Hội. Cùng với các giám mục Châu Á, tôi xin thôi thúc các anh chị em của các Giáo Hội ấy hãy kết hợp các đau khổ của mình với đau khổ của Chúa Kitô trên thánh giá, vì họ cũng như chúng ta đều biết rằng chỉ có thánh giá, được vác trong đức tin và đức mến, mới dẫn đưa ta tới sự sống lại và sự sống mới cho nhân loại. Tôi khuyến khích các Hội Đồng Giám Mục quốc gia tại Châu Á thành lập văn phòng cứu giúp các Giáo Hội ấy. Và tôi xin đoan hứa : Toà Thánh sẽ tiếp tục gần gũi và quan tâm tới những ai đang chịu bách hại vì niềm tin vào Đức Kitô(142). Tôi kêu gọi các chính phủ và các nhà lãnh đạo quốc gia hãy nhìn nhận và thực thi các chính sách bảo đảm sự tự do tôn giáo cho hết mọi công dân của mình.

Nhiều lần các nghị phụ Thượng Hội Đồng đã hướng lòng trí về với Giáo Hội Công Giáo tại Trung Hoa lục địa và cầu xin cho sớm tới ngày anh chị em Trung Hoa thân yêu của mình được tự do hoàn toàn để thực hành đức tin trong sự hiệp thông trọn vẹn với Tông Toà Phêrô và với Giáo Hội toàn cầu. Kính thưa anh chị em Trung Hoa, tôi xin gửi lời nhắn nhủ nhiệt tình này : đừng bao giờ để cho những khó khăn và đau khổ làm giảm lòng yêu mến Đức Kitô của anh chị em, hay làm sa sút lòng thiết tha của anh chị em đối với quốc gia vĩ đại của mình(143). Thượng Hội Đồng cũng bày tỏ sự liên đới chân tình với Giáo Hội Công Giáo Hàn Quốc, và ủng hộ “những nỗ lực của người Công Giáo đang giúp đỡ nhân dân Triều Tiên đang phải thiếu thốn cả những phương tiện sinh tồn tối thiểu, đồng thời tìm cách xây dựng sự hoà giải giữa hai quốc gia chung một dân tộc, một ngôn ngữ và một kho tàng văn hoá”(144).

Cũng thế, Thượng Hội Đồng cũng thường hay nhớ tới Giáo Hội tại Giêrusalem, một miền đất chiếm một vị trí đặc biệt trong tâm hồn mọi Kitô hữu. Thật vậy, những lời sau đây của ngôn sứ Isaia đã tìm được sự đồng cảm trong tâm hồn hằng triệu tín hữu trên khắp thế giới vì Giêrusalem chiếm một vị trí độc đáo và thân thương : “Hãy vui mừng với Giêrusalem, hãy vì thành đô mà hoan hỉ, hỡi tất cả những người yêu mến thành đô … để được thành đô cho hưởng trọn nguồn an ủi, được thoả thích nếm mùi sung mãn vinh quang” (Tv 66, 10-11). Giêrusalem, vốn là một thành phố của sự hoà giải giữa con người và Thiên Chúa và giữa con người với nhau, nhưng lại thường xuyên trở thành nơi xung đột và chia rẽ. Các nghị phụ Thượng Hội Đồng kêu gọi các Giáo Hội hãy liên đới với Giáo Hội tại Giêrusalem bằng cách chia sẻ những đau khổ, cầu nguyện và cộng tác với Giáo Hội ấy phục vụ hoà bình, công lý và hoà giải giữa hai dân tộc và giữa ba tôn giáo đang có mặt tại Đất Thánh(145). Tôi xin lặp lại lời kêu gọi mà tôi đã từng gửi tới các nhà lãnh đạo chính trị và các nhà lãnh đạo tôn giáo, cũng như mọi người thiện chí, hãy tìm ra những giải pháp để bảo đảm cho Giêrusalem được bình an và toàn vẹn. Như tôi đã từng viết, ước nguyện hết sức mãnh liệt của tôi là được đến đó trong một cuộc hành hương mang tính tôn giáo, như vị tiền nhiệm của tôi là đức giáo hoàng Phaolô VI, để cầu nguyện tại Đất Thánh, là nơi Đức Giêsu Kitô đã sống, đã chết và đã sống lại, đồng thời để viếng thăm nơi mà từ đó các tông đồ với sức mạnh của Chúa Thánh Thần đã ra đi loan báo Tin Mừng Đức Giêsu Kitô cho thế giới(146).

SỨ MẠNG ĐỐI THOẠI

29. Chủ đề chung của các Thượng Hội Đồng theo châu lục, giúp Giáo Hội chuẩn bị đón mừng Năm Đại Xá 2000, chính là công cuộc tân phúc âm hoá. Cần phải mở một kỷ nguyên mới loan báo Tin Mừng không những vì sau hai ngàn năm vẫn còn một phần lớn gia đình nhân loại chưa nhận biết Đức Kitô, mà còn vì tình hình mà Giáo Hội cũng như thế giới đang sống trước thềm thiên niên kỷ mới này là một tình hình đặt ra rất nhiều thách đố đối với niềm tin tôn giáo và các chân lý luân lý xuất phát từ niềm tin ấy. Gần như ở đâu cũng thấy có xu hướng xây dựng sự tiến bộ và thịnh vượng mà không cần liên hệ với Thiên Chúa, đồng thời giản lược chiều kích tôn giáo của con người thành một chiều kích nằm trong lãnh vực riêng tư. Một xã hội mà bị tách ra khỏi chân lý căn bản nhất về con người hay bị tách khỏi quan hệ giữa con người với Đấng Tạo Hoá, với sự cứu chuộc do Đức Kitô đem lại trong Thánh Thần, chỉ có thể là càng ngày càng lạc xa nguồn sự sống, nguồn tình yêu và nguồn hạnh phúc thôi. Cái thế kỷ khủng khiếp đang tiến nhanh tới hồi kết ấy đã minh chứng cho ta thấy sự gì sẽ xảy ra khi người ta bỏ rơi sự thật và sự tốt lành để chạy theo quyền lực và sự bành trướng bản thân mình. Tân phúc âm hoá hay là lời kêu gọi hoán cải để lãnh nhận ơn sủng và sự khôn ngoan, chính là nguồn hy vọng duy nhất chính hiệu cho phép ta nghĩ tới một thế giới tốt đẹp hơn và một tương lai sáng sủa hơn. Vấn đề còn lại không phải là Giáo Hội có điều gì quan trọng để nói với con người hôm nay không, mà là Giáo Hội phải nói điều ấy như thế nào cho minh bạch và thuyết phục !

Trong thời gian nhóm họp Công Đồng Vaticanô II, Đức Giáo Hoàng tiền nhiệm của tôi là Phaolô VI đã tuyên bố trong tông thư “Ecclesiam suam” (“Hội Thánh của Ngài”) rằng, vấn đề quan hệ giữa Giáo Hội và thế giới hôm nay chính là một trong những mối bận tâm lớn nhất của thời đại. Ngài viết rằng “vấn đề ấy đã xuất hiện và mang tính khẩn trương tới mưc tạo ra một gánh nặng trên tâm hồn chúng ta, cũng như trở thành một yếu tố kích thích, một lời mời gọi chúng ta”(147). Kể từ Công Đồng ấy, Giáo Hội luôn tỏ ý muốn theo đuổi quan hệ ấy trong tinh thần đối thoại. Tuy nhiên, muốn đối thoại không phải chỉ là một chiến thuật để sống chung hoà bình giữa các dân tộc ; nhưng đó là một phần thiết yếu trong sứ mạng Giáo Hội, vì nó xuất phát từ chính sự đối thoại yêu thương của Chúa Cha với nhân loại thông qua Chúa Con trong quyền năng Chúa Thánh Thần. Giáo Hội chỉ có thể hoàn thành sứ mạng của mình theo một cách giống như cách Thiên Chúa đã làm trong Đức Giêsu Kitô: Ngài trở thành con người, chia sẻ cuộc sống con người và nói bằng ngôn ngữ loài người để truyền đạt sứ điệp cứu độ. Sự đối thoại mà Giáo Hội đề xuất được xây dựng dựa trên nền tảng là lôgíc của sự Nhập Thể. Bởi đó, không phải vì điều gì khác hơn là do liên đới một cách nhiệt tình, vô vị lợi mà Giáo Hội đã mở cuộc đối thoại với những con người Á Châu đang tìm kiếm sự thật trong tình thương.

Là bí tích của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại, Giáo Hội không thể làm gì khác hơn là tham gia đối thoại với mọi dân tộc, vào mọi thời và ở mọi nơi. Để thi hành sứ mạng đã lãnh nhận, Giáo Hội sẽ ra đi gặp gỡ các dân trên thế giới, và không quên rằng tuy chỉ là “đàn chiên nhỏ” giữa một tập thể nhân loại rộng lớn (x. Lc 12, 32), nhưng mình cũng là men trong khối bột thế giới (x. Mt 13, 33). Những nỗ lực đối thoại của Giáo Hội được nhắm trước hết tới những người cùng chia sẻ niềm tin với mình vào Đức Giêsu Kitô là Chúa và là Đấng Cứu Tinh. Rồi nó đi xa hơn thế giới Kitô Giáo để đến với những tín đồ thuộc các truyền thống tôn giáo khác, dựa trên căn bản là tâm hồn của người nào cũng nuôi những khát vọng tôn giáo. Đối thoại đai kết và đối thoại giữa các tôn giáo chính là ơn gọi đích thực của Giáo Hội.

ĐỐI THOẠI ĐẠI KẾT

30. Đối thoại đại kết là lời thách thức và kêu gọi toàn thể Giáo Hội hoán cải, nhất là Giáo Hội tại Châu Á vì tại đây dân chúng đang trông chờ các Kitô hữu cho thấy một dấu hiệu hiệp nhất rõ ràng hơn. Vì tất cả các dân tộc đang cùng có mặt trong ân sủng Thiên Chúa, cần phải khôi phục lại sự hiệp thông giữa những người cùng chấp nhận trong đức tin Đức Giêsu Kitô là Đức Chúa. Chính bản thân Đức Giêsu cũng đã cầu nguyện và không ngừng kêu gọi xây dựng sự hiệp nhất hữu hình giữa các môn đệ, để thế giới nhờ đó tin rằng Chúa Cha đã sai Ngài (x. Ga 17, 21)(148). Rất tiếc, ý nguyện của Chúa muốn Giáo Hội hiệp nhất vẫn phải chờ đợi các môn đệ của Ngài hưởng ứng một cách trọn vẹn và can đảm.

Tại Châu Á, là nơi số Kitô hữu tương đối nhỏ, sự chia rẽ càng làm cho công việc truyền giáo trở nên khó khăn hơn. Các nghị phụ Thượng Hội Đồng nhìn nhận rằng “gương xấu của một Kitô Giáo chia rẽ đúng là một trở ngại lớn cho công cuộc phúc âm hoá tại Châu Á”(149). Thật vậy, nhiều người Á Châu đang tìm kiếm sự hoà hợp và thống nhất qua tôn giáo và văn hoá của họ đã coi sự chia rẽ giữa các Kitô hữu là một lời chứng chống lại Đức Giêsu Kitô. Bởi đó, Giáo Hội Công Giáo tại Á Châu cảm thấy bị thôi thúc cách đặc biệt phải cùng với các Kitô hữu khác làm việc cho sự hiệp nhất, ý thức rằng muốn có được một sự hiệp thông trọn vẹn, mọi người phải sống bác ái, biết phân định, can đảm và luôn hy vọng. “Muốn cho công cuộc đại kết được trung thực và sinh kết quả, phía người Công Giáo cần phải có một số thái độ căn bản : trước hết là bác ái, biểu lộ qua sự nhân hậu và lòng khao khát cộng tác mỗi khi có thể với tín hữu các Giáo Hội và các Cộng Đồng khác ; thứ đến là trung thành đối với Giáo Hội Công Giáo của mình, dù vẫn không làm ngơ hay phủ nhận những khuyết điểm của một số thành phần trong Giáo Hội ; ba là phải có óc phân định để biết đánh giá tất cả những gì là tốt đẹp và đáng khen. Sau cùng là chân thành ước ao được thanh tẩy và được đổi mới”(150). Dù vẫn nhìn nhận còn nhiều khó khăn trong các quan hệ giữa các Kitô hữu, không những từ các thành kiến kế thừa từ quá khứ, mà còn do những phê phán dựa trên những tin tưởng rất sâu đậm ràng buộc chính lương tâm, nhưng các nghị phụ Thượng Hội Đồng vẫn nêu ra những dấu chỉ phản ánh các quan hệ đã được cải thiện giữa một số Giáo Hội và Cộng Đồng Kitô Giáo tại Châu Á. Chẳng hạn các Kitô hữu Công Giáo và các Kitô hữu Chính Thống Giáo thường nhìn nhận giữa hai bên có sự thống nhất về văn hoá, có ý thức mình đang cùng nhau chia sẻ nhiều yếu tố quan trọng của chung một truyền thống Giáo Hội. Những điều này chính là cơ sở vững chắc cho hai bên tiếp tục công cuộc đối thoại đại kết rất kết quả qua thiên niên kỷ tới, một thiên niên kỷ mà chúng ta hy vọng và cầu xin sẽ chấm dứt hoàn toàn những chia rẽ đã diễn ra trong thiên kỷ sắp sửa kết thúc này.

Trên bình diện thực hành, Thượng Hội Đồng đề nghị các Hội Đồng Giám Mục quốc gia tại Châu Á hãy mời các Giáo Hội Kitô Giáo khác tham gia công cuộc cầu nguyện và tham khảo bàn bạc để tìm ra những khả năng xây dựng những cơ cấu và tổ chức mới mang tính đại kết, có thể giúp đẩy mạnh sự hiệp nhất các Kitô hữu. Tổ chức tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất các Kitô hữu sao cho kết quả hơn, cũng là một đề xuất rất tốt của Thượng Hội Đồng. Thượng Hội Đồng khuyến khích các giám mục thành lập và theo dõi các trung tâm đại kết dành để cầu nguyện và trao đổi ; cũng cần phải đưa việc đào tạo tương xứng cho công cuộc đối thoại đại kết vào trong chương trình học của các chủng viện, các nơi đào tạo và các cơ sở giáo dục.

ĐỐI THOẠI GIỮA CÁC TÔN GIÁO

31. Trong Tông Thư “Tertio Millennio Adveniente” (“Khi ngàn năm thứ ba tới”), tôi đã chỉ ra rằng một thiên niên kỷ nữa sắp tới đúng là một cơ hội tốt để đẩy mạnh việc đối thoại giữa các tôn giáo và để tổ chức các cuộc gặp gỡ các nhà lãnh đạo các tôn giáo lớn trên thế giới(152). Tiếp xúc, đối thoại và cộng tác với tín đồ các tôn giáo khác chính là một công việc mà Công Đồng Vaticanô II đã giao cho toàn thể Giáo Hội làm như một bổn phận và một thách đố. Những nguyên tắc hướng dẫn việc quan hệ cách tích cực với các truyền thống tôn giáo khác đã được nêu ra trong Tuyên Ngôn Công Đồng “Nostra aetate” (“Vào thời đại chúng ta”), ban hành ngày 28 tháng 10 năm 1965, đây chính là bản hiến chương của việc đối thoại liên tôn giáo trong thời đại chúng ta. Đứng trên quan điểm Kitô Giáo, đối thoại liên tôn giáo không phải chỉ là một cách để giúp các bên biết nhau và làm giàu cho nhau. Nhưng đó còn là một phần trong chính sứ mạng phúc âm hoá của Giáo Hội, là một cách thực hiện sứ mạng “đến với lương dân”(153). Khi tham gia đối thoại liên tôn giáo, các Kitô hữu xác tín rằng chỉ có Đức Kitô mới đem lại sự cứu độ trọn vẹn và cộng đoàn Giáo Hội mà họ đang tham gia là phương thế thông thường để được ơn cứu độ(154). Đến đây tôi xin nhắc lại những gì tôi đã viết cho Hội Nghị khoáng đại lần thứ năm của Liên Hiệp Hội Đồng Giám Mục Á Châu : “Dù Giáo Hội vui sướng nhìn nhận bất cứ điều gì chân thật và thánh thiện trong các truyền thống tôn giáo của Phật Giáo, Ấn Độ Giáo và Hồi Giáo đều là phản ảnh sự thật đang khai sáng mọi người, nhưng như thế không có nghĩa là Giáo Hội phải bớt đi nhiệm vụ và quyết tâm của mình, tức là tuyên bố một cách dứt khoát Đức Giêsu Kitô là “đường đi, sự thật và sự sống” … Thật ra các tín đồ các tôn giáo khác vẫn có thể nhận được ơn Chúa và được Đức Kitô cứu độ ngoài phương thế thông thường mà Ngài đã lập ra, điều ấy không loại bỏ việc họ được kêu gọi đến nhận lãnh đức tin và phép Rửa như Chúa hằng muốn cho hết mọi người”(155).

Trong quá trình đối thoại ấy, như tôi đã viết trong Tông Thư “Redemptoris Missio” (“Sứ Vụ Đấng Cứu Thế”), “không được bỏ qua những nguyên tắc hay theo chủ nghĩa thoả hiệp giả tạo, mà cả hai bên cùng phải đưa ra và tiếp nhận được những bằng chứng giúp nhau tiến tới trên con đường tìm tòi và sống kinh nghiệm tôn giáo, cũng như loại trừ những thành kiến, thái độ bất khoan nhượng và những ngộ nhận về nhau”(156). Chỉ những ai có đức tin Kitô Giáo trưởng thành và sâu sắc mới đủ tư cách tham gia việc đối thoại liên tôn giáo chính hiệu. “Chỉ những Kitô hữu nào từng đắm mình trong mầu nhiệm Đức Kitô và đang sống hạnh phúc trong cộng đoàn đức tin của mình mới có thể tham gia các cuộc đối thoại liên tôn giáo mà không sợ gặp rủi ro, ngược lại có hy vọng gặt hái những hoa trái tốt đẹp”(157). Bởi đó, Giáo Hội tại Á Châu cần phải giới thiệu những mô hình xứng hợp cho việc đối thoại liên tôn giáo – phúc âm hoá trong khi đối thoại và đối thoại để phúc âm hoá – và cung cấp cho những người tham gia việc đối thoại ấy một sự đào tạo thích đáng.

Sau khi nhấn mạnh nhu cầu đối thoại liên tôn giáo để tạo niềm tin vững chãi vào Đức Kitô, các nghị phụ Thượng Hội Đồng tiếp tục đề cập tới nhu cầu tổ chức cuộc đối thoại bằng cuộc sống và bằng con tim. Môn đệ Đức Kitô phải có con tim dịu dàng và khiêm tốn của Thầy mình, không bao giờ tự phụ, không bao giờ tỏ vẻ luồn cúi khi gặp gỡ các đối tác của mình trong cuộc đối thoại (x. Mt 11, 29). “Những quan hệ giữa các tôn giáo sẽ được mở mang tốt đẹp nhất là khi mọi người sống trong bầu khí cởi mở đối với nhau, có ý muốn lắng nghe, tôn trọng và thông cảm người khác trong những sự dị biệt của họ. Để làm được tất cả những việc này, cần phải có tình yêu đối với người khác. Từ đó mới có sự cộng tác, hoà hợp và làm giàu cho nhau”(158).

Để hướng dẫn những người tham gia vào tiến trình này, Thượng Hội Đồng đề nghị sẽ thảo ra một tập chỉ nam hướng dẫn việc đối thoại liên tôn giáo(159). Trong lúc Giáo Hội tìm kiếm những phương thức mới để gặp gỡ các tôn giáo khác, tôi xin nhắc lại một số hình thức đối thoại đã được tiến hành có kết quả, từ việc trao đổi mang tính hàn lâm giữa các chuyên gia về các truyền thống tôn giáo hay giữa các đại biểu của các truyền thống ấy, cho đến việc cùng nhau hoạt động cho sự phát triển con người toàn diện và bảo vệ các giá trị nhân bản, tôn giáo(160). Tôi xin lặp lại, cần phải làm sống lại tinh thần cầu nguyện và chiêm niệm trong khi tiến hành việc đối thoại liên tôn giáo. Các nam nữ tu sĩ có thể đóng góp một cách rất có ý nghĩa vào việc đối thoại liên tôn giáo bằng cách minh chứng sức sống của các truyền thống lớn về đời khổ hạnh và thần hiệp của Kitô Giáo(161).

Cuộc gặp gỡ đáng nhớ tại Assisi, thành phố của thánh Phanxicô, ngày 27 tháng 10 năm 1986, giữa Giáo Hội Công Giáo và đại biểu các tôn giáo khác trên thế giới, đã cho thấy mọi người có tôn giáo không cần phải từ bỏ truyền thống của mình, vẫn có thể tham gia cầu nguyện và hoạt động cho hoà bình và thiện ích của nhân loại(162). Giáo Hội phải tiếp tục duy trì và cổ võ ở mọi cấp độ tinh thần giao lưu và cộng tác giữa các tôn giáo ấy.

Hiệp thông và đối thoại là hai khía cạnh căn bản trong sứ mạng Giáo Hội, mà một mẫu gương vô cùng siêu việt cho việc này là chính Ba Ngôi Thiên Chúa ; Ngài là cội nguồn cũng như là điểm tới của mọi sứ mạng. Một trong những món “quà sinh nhật” mà các thành viên Giáo Hội, nhất là các vị chủ chăn, có thể dâng lên Chúa Tể lịch sử nhân dịp mừng 2000 năm Ngài nhập thể, chính là củng cố tinh thần hiệp nhất và hiệp thông ở mỗi cấp trong sinh hoạt Giáo Hội, hay là làm sống lại sự “tự hào thánh thiện” về lòng trung thành của Giáo Hội đối với những gì được truyền lại cho mình, đồng thời là nhắc lại niềm tin tưởng của mình vào ơn thánh và sứ mạng bất di bất dịch đã đưa Giáo Hội lên đường đến với các dân tộc trên thế giới để làm chứng tình thương cứu độ của Thiên Chúa. Chỉ khi nào Dân Chúa nhận ra món quà ấy cũng là món quà của mình trong Đức Kitô, họ mới có thể chuyển món quà ấy cho người khác qua việc loan báo và đối thoại.

CHƯƠNG SÁU: GIÚP CON NGƯỜI ĐƯỢC THĂNG TIẾN – HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI.

32. Khi phục vụ gia đình nhân loại, Giáo Hội tìm cách tiếp cận với mọi người cả nam lẫn nữ không phân biệt, cố gắng cùng với họ xây dựng một nền văn minh tình thương, dựa trên các giá trị phổ quát như hoà bình, công lý, liên đới và tự do, tất cả đều đã được thực hiện mỹ mãn nơi Đức Kitô. Như Công Đồng Vaticanô II đã phát biểu một cách rất đáng ghi nhớ : “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô. Quả thật không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ”(163). Nếu thế, Giáo Hội tại Á Châu với đông đảo người nghèo và người bị áp bức hẳn phải được mời gọi sống một cuộc sống hiệp thông, rõ nhất là qua việc yêu thương phục vụ người nghèo và những người không được bảo vệ.

Nếu gần đây Huấn Quyền Giáo Hội nhấn mạnh càng ngày càng nhiều hơn tới nhu cầu phải đẩy mạnh sự phát triển con người vừa trung thực vừa toàn diện(164), thì đó là để đáp ứng với tình cảnh thật sự của các dân tộc trên thế giới, cũng như đáp lại sự ý thức ngày càng tăng rằng không những các hành vi của cá nhân mà cả các cơ cấu trong đời sống xã hội, chính trị và kinh tế thường có hại cho sự ấm no hạnh phúc của con người. Những sự mất cân đối do hố sâu ngày càng tăng giữa một bên là những người đang thừa hưởng năng suất của cải mỗi ngày một lớn của thế giới và một bên là những người bị gạt ra bên lề sự tiến bộ, bắt chúng ta phải thay đổi triệt để não trạng cũng như cơ chế có lợi cho con người. Một thách đố tinh thần rất lớn mà các quốc gia và cộng đồng quốc tế phải đương đầu, có liên hệ đến sự phát triển, chính là phải làm sao có can đảm xây dựng một tình liên đới mới, có thể đưa ra những biện pháp lý tưởng mà hữu hiệu để khắc phục tình trạng kém phát triển lẫn tình trạng phát triển quá độ, cả hai đều phi nhân, có khuynh hướng giản lược con người thành một đơn vị kinh tế trong một mạng lưới tiêu thụ ngày càng gây áp lực trên chúng ta. Để tạo ra sự thay đổi ấy, “Giáo Hội không có những giải pháp mang tính kỹ thuật”, mà chỉ xin “góp phần đầu tiên của mình vào việc giải quyết vấn đề phát triển hết sức khẩn cấp bằng cách trước hết công bố sự thật về Đức Kitô, về bản thân Giáo Hội và về con người, đưa sự thật ấy vào từng tình huống cụ thể”(165). Rốt cuộc, sự phát triển con người không bao giờ chỉ là một vấn đề mang tính kỹ thuật hay kinh tế ; mà tự nền tảng đó chính là một vấn đề nhân bản và luân lý.

Học thuyết xã hội của Giáo Hội, đưa ra một loạt các nguyên tắc để suy nghĩ, các tiêu chuẩn để phê phán và các chỉ dẫn để hành động(166), là học thuyết được gửi tới trước hết cho các thành viên của Giáo Hội. Các tín hữu tham gia vào việc thăng tiến con người cần phải nắm thật vững tổng hợp giáo huấn quý giá này, biến nó thành một phần thiết yếu của toàn bộ công cuộc phúc âm hoá. Thế nên, các nghị phụ Thượng Hội Đồng đã nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc cung ứng cho các tín hữu (qua các hoạt động giáo dục, nhất là qua các chủng viện và các cơ sở đào tạo) một sự huấn luyện vững chãi về học thuyết xã hội của Giáo Hội(167). Các Kitô hữu lãnh đạo trong Giáo Hội và ngoài xã hội, nhất là các giáo dân có trách nhiệm trong đời sống công cộng, cần được đào tạo kỹ lưỡng trong học thuyết này để họ có thể tạo cảm hứng và làm sống dậy xã hội dân sự cùng với những cơ cấu của xã hội này, bằng chính men Tin Mừng(168). Học thuyết xã hội của Giáo Hội không những nhắc nhở các Kitô hữu lãnh đạo về bổn phận của họ, mà còn cho họ biết những đường hướng để hoạt động, phục vụ sự phát triển con người, và giải thoát họ khỏi những ý niệm sai lạc về con người và sinh hoạt của con người.

PHẨM GIÁ CON NGƯỜI

33. Con người, chứ không phải của cải hay kỹ thuật, là chủ thể và là mục tiêu chính yếu của sự phát triển. Thế nên, sự phát triển mà Giáo Hội xúc tiến vượt ra ngoài những vấn đề kinh tế và kỹ thuật. Sự phát triển ấy bắt đầu và kết thúc với sự toàn vẹn của con người, đã được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và được ban cho một phẩm giá cũng như các quyền hạn bất khả nhượng từ chính Thiên Chúa. Các bản Tuyên Ngôn Quốc Tế khác nhau về các quyền con người cũng như các sáng kiến đa dạng được cảm hứng từ các tuyên ngôn ấy chính là dấu hiệu cho thấy càng ngày người ta càng quan tâm tới phẩm giá con người, cả ở cấp toàn cầu. Rất tiếc, trong thực tế, các bản tuyên ngôn này thường xuyên bị vi phạm. Năm mươi năm sau ngày long trọng công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, nhiều người vẫn là nạn nhân của những hình thức bóc lột và sử dụng phi nhân nhất, biến họ thành nô lệ thực sự cho những kẻ có nhiều quyền thế hơn, cho một ý thức hệ, cho quyền lực kinh tế, cho những hệ thống chính trị đàn áp, cho chủ nghĩa kỹ thuật thống trị hay sự xâm nhập của các phương tiện truyền thông đại chúng(169).

Các nghị phụ Thượng Hội Đồng ý thức rất rõ những sự xâm phạm liên tục đối với các quyền con người tại nhiều nơi trên thế giới, nhất là tại Châu Á, nơi có “hằng triệu người đang phải chịu sự kỳ thị, bóc lột, nghèo đói và bị gạt ra bên lề xã hội”(170). Các ngài đã nói lên nhu cầu đặt ra cho toàn thể Dân Chúa tại Châu Á là phải nhận thức rõ về một thách đố không thể tránh được, không thể từ khước được, đó là bênh vực các quyền con người, cũng như đẩy mạnh công lý và hoà bình.

ƯU TIÊN YÊU THƯƠNG NGƯỜI NGHÈO

34. Trong lúc tìm cách thăng tiến phẩm giá con người, Giáo Hội tỏ ra yêu thương ưu tiên người nghèo và người không có tiếng nói trong xã hội, vì Chúa đã tự đồng hoá mình với họ một cách đặc biệt (x. Mt 25, 40). Tình thương ấy không loại trừ ai, mà chỉ thể hiện một sự ưu tiên trong phục vụ như toàn bộ truyền thống Kitô Giáo đã làm chứng. “Yêu thương ưu tiên người nghèo và có những quyết định xuất phát từ tình thương ấy không là gì khác hơn là muốn ôm hết con số đông đảo những người đói khát, túng thiếu, vô gia cư, không được chăm sóc về y tế, và nhất là, không hy vọng có một tương lai tốt đẹp hơn. Không thể không xét đến sự có mặt của những thực tế ấy. Làm ngơ không biết đến tức là đã bắt chước “ông nhà giàu” làm bộ không biết người hành khất Lazarô nằm trước cổng nhà mình (x. Lc 16, 19-31)”(171). Điều này đặc biệt đúng đối với Châu Á, một lục địa có tài nguyên phong phú và có những nền văn minh lớn, nhưng lại là quê hương của một số quốc gia nghèo nhất trên thế giới, và là nơi có hơn nửa dân số phải chịu thiếu thốn, nghèo đói và bị bóc lột(172). Những người nghèo tại Châu Á cũng như những người nghèo trên thế giới sẽ luôn luôn tìm được lý do vững chãi để hy vọng ngay trong chính mệnh lệnh Tin Mừng dạy chúng ta phải yêu thương nhau như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta (x. Ga 13, 34) ; Giáo Hội tại Châu Á cũng không thể làm gì khác hơn là ra sức thi hành mệnh lệnh ấy đối với người nghèo, trong lời nói cũng như trong hành động.

Sự liên đới với người nghèo sẽ trở nên đáng tin hơn, nếu bản thân các Kitô hữu cũng sống giản dị, theo gương Đức Giêsu. Sống giản dị, tin sâu xa và yêu chân thành mọi người, nhất là đối với người nghèo và những người bị khai trừ, chắc chắn là những dấu hiệu rất rõ cho thấy Tin Mừng đang vào cuộc thế nào. Các nghị phụ Thượng Hội Đồng kêu gọi các người Công Giáo Châu Á hãy chấp nhận một lối sống phù hợp với giáo huấn Tin Mừng, để phục vụ công cuộc truyền giáo của Giáo Hội một cách tốt đẹp hơn và để Giáo Hội trở thành Giáo Hội của người nghèo và cho người nghèo(173).

Trong nỗ lực yêu thương người nghèo tại Châu Á, Giáo Hội quan tâm cách riêng tới những người di cư, những dân tộc bản địa và bộ tộc, phụ nữ và trẻ em, vì họ thường là nạn nhân của những hình thức bóc lột tồi tệ nhất. Ngoài ra, vô số người đang phải chiụ sự kỳ thị vì văn hoá, màu da, chủng tộc, giai cấp, điều kiện kinh tế, hay vì cách suy nghĩ của mình. Trong số đó có cả những người bị biến thành nạn nhân chỉ vì đã trở lại Kitô Giáo(174). Tôi xin hiệp ý với các nghị phụ Thượng Hội Đồng kêu gọi mọi quốc gia hãy nhìn nhận quyền tự do tôn giáo, và các quyền căn bản khác của con người(175).

Hiện nay, Châu Á đang chứng kiến một làn sóng người tị nạn, người tìm kiếm chỗ trú ẩn, người di cư và người lao động ở nước ngoài mà trước đây chưa từng có. Tại những nước mà họ đến, họ thường thấy mình rơi vào tình cảnh không thân hữu, xa lạ về văn hoá, bất lợi về ngôn ngữ và bị thiệt thòi về kinh tế. Họ cần được trợ giúp và chăm sóc để gìn giữ phẩm giá và di sản văn hoá cũng như tôn giáo của mình(176). Dù bị giới hạn về nguồn lực, Giáo Hội tại Châu Á cũng sẵn sàng trở thành nơi tiếp đón những con người mệt mỏi và nặng gánh đau thương ấy vì biết rằng họ sẽ tìm đựợc sự nghỉ ngơi nơi Trái Tim Chúa Giêsu, là nơi không ai cảm thấy mình là người xa lạ cả (x. Mt 11, 28-29).

Hầu như ở nước nào của Châu Á cũng có đông đảo người bản xứ, mà một số trong họ đang sống trong điều kiện kinh tế thấp nhất. Thượng Hội Đồng một lần nữa ghi nhận rằng các dân bản xứ hay bộ tộc ấy lại thường cảm thấy bị cuốn hút bởi con người Giêsu Kitô và Giáo Hội Ngài, như là một cộng đoàn yêu thương và phục vụ(177). Đây chính là cánh đồng bao la cho Giáo Hội tham gia hoạt động giáo dục và y tế, cũng như đẩy mạnh sự dấn thân xã hội. Cộng đoàn Công Giáo cần gia tăng công việc mục vụ giữa đám người này, quan tâm tới các ưu tư và các vấn đề công bằng đang tác động lên đời sống của họ. Muốn thế, phải tỏ lòng kính trọng sâu xa đối với tôn giáo truyền thống của họ và các giá trị của tôn giáo ấy. Cũng cần phải giúp họ biết tự giúp lấy mình, để họ có thể làm việc mà cải thiện tình cảnh của họ, trở thành các người phúc âm hoá chính nền văn hoá và xã hội của mình(178).

Không ai có thể thờ ơ mãi trước đau khổ của vô số trẻ em tại Châu Á, đang trở thành nạn nhân của những sự bóc lột và bạo lực kinh khủng tới mức không thể chịu nổi, không phải chỉ do tội ác của những cá nhân mà thường là hậu quả trực tiếp của những cơ chế thối nát của xã hội. Các nghị phụ Thượng Hội Đồng đã ghi nhận rằng, việc bắt trẻ em lao động, lạm dụng tình dục trẻ em và nghiện ngập ma tuý là những tệ đoan xã hội ảnh hưởng tới trẻ em trực tiếp nhất, và thêm vào những tệ đoan ấy là tình trạng nghèo đói, những chương trình phát triển quốc gia quy hoạch sai(179). Giáo Hội phải làm hết sức mình để khắc phục những tệ đoan ấy, để hành động thay mặt những người bị bóc lột nhiều nhất và để tìm cách hướng dẫn những con người nhỏ bé ấy đến với tình yêu của Đức Giêsu vì Nước Trời là của họ (x. Lc 18, 16)(180). Thượng Hội Đồng bày tỏ sự quan tâm đặc biệt đối với các phụ nữ đang sống trong những tình cảnh vẫn còn rất nghiêm trọng tại Châu Á, bị kỳ thị và bạo hành nhiều khi ngay trong chính gia đình mình, tại nơi làm việc và ngay cả trong hệ thống luật pháp. Mù chữ là hiện tượng phổ biến nhất trong giới phụ nữ, và nhiều phụ nữ chỉ được đối xử như một món hàng trong nghề mãi dâm, du lịch và công nghiệp giải trí(181). Trong cuộc đấu tranh chống lại mọi hình thức bất công và kỳ thị, phụ nữ phải tìm được đồng minh nơi cộng đoàn Kitô hữu, và vì lý do này, Thượng Hội Đồng đề nghị nơi nào có thể, các Giáo Hội địa phương của Châu Á nên đẩy mạnh các hoạt động phục vụ nhân quyền cho các phụ nữ. Mục đích là làm sao tạo ra một sự thay đổi trong thái độ, nhờ hiểu biết thích đáng vai trò của nam và nữ trong gia đình, xã hội và trong Giáo Hội, nhờ ý thức sâu sắc hơn sự bổ sung độc đáo giữa người nam và người nữ, và nhờ nhận thức rõ ràng hơn tầm quan trọng của chiều kích phụ nữ trong mọi lãnh vực của đời sống con người. Những đóng góp của người phụ nữ rất thường bị đánh giá thấp hay bỏ qua, và từ đó đưa tới sự nghèo nàn của con người về mặt tâm linh. Giáo Hội tại Châu Á sẽ làm nổi bật phẩm giá và tự do của người phụ nữ một cách rõ ràng và hiệu quả hơn bằng cách khuyến khích phụ nữ tham gia vào đời sống của Giáo Hội, kể cả trong đời sống trí thức của Giáo Hội, và bằng cách mở ra cho các phụ nữ nhiều cơ hội lớn hơn để họ có mặt và hoạt động trong sứ mạng yêu thương và phục vụ của Giáo Hội(182).

TIN MỪNG VỀ SỰ SỐNG

35. Công tác phát triển con người sẽ bắt đầu bằng việc phục vụ chính sự sống. Sự sống là một quà tặng cao cả Thiên Chúa ban cho chúng ta : Ngài giao sự sống cho chúng ta như giao một kế hoạch và một trách nhiệm. Bởi thế, chúng ta chỉ là người gìn giữ sự sống, chứ không phải chủ nhân của sự sống. Chúng ta đã tự nguyện đón nhận sự sống và trong tâm tình biết ơn, chúng ta sẽ không ngừng tôn trọng và bảo vệ nó, từ khi nó khởi sự cho đến khi nó kết thúc một cách tự nhiên. Từ khi thụ thai, mạng sống con người đã là kết quả hành vi sáng tạo của Thiên Chúa và nó sẽ mãi mãi có liên hệ đặc biệt với Thiên Chúa Tạo Hoá, là nguồn gốc và là cứu cánh duy nhất của sự sống. Vì thế, sẽ không có tiến bộ thật sự, không có xã hội văn minh thật sự, không có sự thăng tiến nhân bản thật sự nếu không biết tôn trọng sự sống con người, nhất là sự sống của những kẻ không có tiếng nói riêng để tự vệ. Sự sống của mỗi người, bất kể còn là con trẻ trong lòng mẹ hay ốm đau, tàn tật hoặc già nua, đều là một quà tặng cho mọi người.

Các nghị phụ Thượng Hội Đồng đã nhiệt tình xác nhận lại giáo huấn của Công Đồng Vaticanô II và Huấn Quyền tiếp theo sau, trong đó có cả tông thư của tôi là “Evangelium Vitae” (“Tin Mừng về Sự Sống”), đề cập đến sự thánh thiện của sự sống con người. Tôi xin hiệp ý với các ngài kêu gọi tín hữu tại các nước đang lấy vấn đề dân số làm lý lẽ để đưa ra các chương trình phá thai và kiểm soát dân số trái tự nhiên, hãy chống lại nền “văn hoá của sự chết”(183). Các tín hữu ấy có thể bày tỏ lòng trung thành của mình với Chúa và sự dấn thân của mình với công cuộc thăng tiến nhân bản thật sự bằng cách ủng hộ và tham gia các chương trình bảo vệ sự sống của những kẻ không có khả năng bảo vệ chính mình.

CHĂM SÓC SỨC KHOẺ

36. Theo chân Đức Giêsu Kitô động lòng trắc ẩn đối với mọi người đã tìm cách “chữa trị mọi loại bệnh tật và đau ốm” (Mt 9, 35), Giáo Hội tại Châu Á cũng cam kết dấn thân sâu hơn nữa vào việc chăm sóc người đau ốm, vì đây là một phần quan yếu trong sứ mạng đem ơn cứu độ của Đức Kitô đến cho con người toàn diện. Như người Samari tốt lành trong dụ ngôn (x. Lc 10, 29-37), Giáo Hội cũng muốn chăm sóc người ốm đau và bệnh tật một cách cụ thể(184), nhất là tại những nơi thiếu sự chăm sóc y tế sơ đẳng do tình trạng nghèo đói và bị gạt ra bên lề xã hội.

Nhiều lần trong các dịp thăm viếng Giáo Hội tại nhiều nơi trên thế giới, tôi đã hết sức cảm động trước các bằng chứng phi thường mang tinh thần Kitô Giáo của các tu sĩ và người tận hiến, các bác sĩ, các điều dưỡng viên và các nhân viên y tế, nhất là những anh chị em đang làm việc với người tàn tật hoặc trong giai đoạn chăm sóc cuối cùng hoặc đang phải chiến đấu với sự lan tràn các loại bệnh mới như bệnh AIDS (SIDA). Các nhân viên y tế Kitô Giáo càng ngày càng được mời gọi quảng đại và xả thân hơn để chăm sóc nạn nhân của chứng nghiện ma tuý và bệnh AIDS, là những người thường bị xã hội khinh bỉ và bỏ rơi(185). Nhiều cơ sở y tế Công Giáo tại Á Châu đang phải chịu những áp lực của các chính sách y tế không dựa trên những nguyên tắc Kitô Giáo ; rồi có nhiều cơ sở phải gánh chịu những khó khăn tài chính ngày càng cao. Mặc dù thế, ta vẫn phải công nhận chính tình yêu đến quên mình và lòng tận tuỵ yêu nghề rất đáng nêu gương của những con người ấy đã làm cho các cơ sở đó trở thành nơi phục vụ đáng khâm phục cho xã hội và trở thành một dấu chỉ hết sức rõ ràng và hữu hiệu về tình thương không suy suyển của Thiên Chúa. Phải khuyến khích và ủng hộ các nhân viên y tế ấy trong những gì tốt đẹp mà họ đang thực hiện. Chính sự dấn thân không ngơi nghỉ và sự hiệu năng liên tục của họ là phương cách tốt nhất bảo đảm cho các giá trị và đạo đức Kitô Giáo thâm nhập sâu xa vào các hệ thống y tế của châu lục này, biến đổi chúng từ bên trong(186).

GIÁO DỤC

37. Đâu đâu trên Châu Á này ta cũng thấy Giáo Hội dấn thân vào hoạt động giáo dục một cách rõ ràng và rộng rãi ; chính vì thế đó là một yếu tố then chốt cho Giáo Hội có mặt giữa các dân tộc của lục địa này. Tai nhiều nước, các trường Công Giáo đóng một vai trò quan trọng trong việc phúc âm hoá, hội nhập đức tin, giới thiệu những cách sống cởi mở và tôn trọng nhau, cổ võ sự cảm thông giữa các tôn giáo. Các trường học của Giáo Hội thường là những nơi duy nhất cung cấp các cơ hội giáo dục cho thiếu nữ, các dân tộc thiểu số, người nghèo ở thôn quê và trẻ em kém may mắn. Các nghị phụ Thượng Hội Đồng tin chắc rằng mình phải mở rộng và phát triển việc tông đồ giáo dục tại Châu Á, quan tâm đặc biệt hơn tới những người bị thiệt thòi, để tất cả mọi người có khả năng đóng trọn vẹn vai trò công dân trong xã hội(187). Như các nghị phụ Thượng Hội Đồng đã ghi nhận, điều đó có nghĩa là hệ thống giáo dục Công Giáo cần phải nhắm một cách rõ ràng hơn nữa tới việc thăng tiến nhân bản, tạo một môi trường cho các học sinh không chỉ tiếp thu những yếu tố chính của học đường mà còn nhận được một sự đào tạo nhân bản toàn diện dựa trên giáo huấn của Đức Kitô(188). Các trường Công Giáo cần phải tiếp tục là nơi cho người ta giới thiệu và tiếp nhận đức tin một cách tự do. Cũng thế, các đại học Công Giáo không chỉ tiếp tục tìm sự xuất sắc về học vấn như đã từng nổi tiếng, mà còn phải bảo tồn được một bản sắc Kitô Giáo rõ ràng để làm men Kitô Giáo trong các xã hội Á Châu(189).

XÂY DỰNG HOÀ BÌNH

38. Vào cuối thế kỷ 20 này, thế giới vẫn còn bị đe doạ bởi các lực lượng gây ra xung đột và chiến tranh, và Á Châu cũng không thoát khỏi những hiện trạng này. Trong số các lực lượng ấy phải kể đến thái độ bất khoan nhượng và khai trừ các giá trị xã hội, văn hoá, chính trị và tôn giáo. Từng ngày bạo lực vẫn đổ xuống trên các cá nhân và cả một dân tộc, và thế là nền văn hoá của sự chết làm chủ, lúc nào cũng nhơ đến bạo lực để giải quyết các căng thẳng, kể cả khi không thể biện minh được. Đứng trước tình hình xung đột đáng thất vọng ấy ở nhiều nơi trên thế giới, Giáo Hội được mời gọi hãy tham gia sâu xa hơn vào các nỗ lực của quốc tế và của liên tôn giáo nhằm gây dựng hoà bình, công lý và hoà giải. Giáo Hội tiếp tục nhấn mạnh tới cách giải quyết các xung đột bằng thương lượng và phi quân sự. Và Giáo Hội mong tới ngày các quốc gia không còn coi chiến tranh là phương cách đặt định những yêu sách hay là phương thế giải quyết các bất đồng. Giáo Hội tin chắc rằng chiến tranh chỉ sinh ra nhiều vấn đề hơn là giải quyết, đối thoại mới chính là con đường duy nhất đúng đắn và cao thượng đưa tới sự ưng thuận và hoà giải, và Thiên Chúa cũng đặc biệt chúc lành cho nghệ thuật xây dựng hoà bình, một nghệ thuật vừa đòi sự kiên nhẫn vừa giả thiết phải có sự khôn ngoan.

Một điều hết sức đáng ngại tại Á Châu là sự chạy đua liên tục trong việc mua sắm các vũ khí có sức huỷ diệt tập thể, một sự chi tiêu vô đạo đức và phung phí ngân sách quốc gia, dù thậm chí có khi ngân sách ấy chưa đủ để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của người dân. Các nghị phụ Thượng Hội Đồng cũng đề cập tới con số mìn rất lớn chôn ở mảnh đất Á Châu, vẫn còn gây thương tật hay giết chết hằng trăm ngàn người vô tội, đồng thời làm hư hại đất màu vốn dùng để sản xuất lương thực(190). Trách nhiệm của mọi người, nhất là của những người cai trị quốc gia, là phải nỗ lực tích cực hơn nữa cho việc giải trừ vũ khí. Thượng Hội Đồng hô hào chấm dứt chế tạo, mua bán và sử dụng các vũ khí hạt nhân, hoá học và sinh học, đồng thời thúc giục những người đã từng gài mìn hãy tham gia công tác phục hồi và tái thiết(191). Trên hết, các nghị phụ Thượng Hội Đồng cầu xin Chúa, là Đấng thấu suốt lương tâm của mỗi người, hãy gieo những cảm thức hiếu hoà vào tâm hồn những kẻ đang bị cám dỗ đi theo con đường bạo động ; có thế, viễn tượng của Thánh Kinh mới trở thành sự thật : “Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cầy, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến” (Is 2, 4).

Thượng Hội Đồng đã được nghe nhiều lời chứng kể lại những nỗi thống khổ của người dân Irắc và sự kiện nhiều người Irắc, đặc biệt là trẻ em, đã chết vì thiếu thuốc men và những mặt hàng căn bản khác do lệnh cấm vận liên tục. Cùng với các nghị phụ Thượng Hội Đồng, tôi muốn bày tỏ một lần nữa sự liên đới của tôi với nhân dân Irắc, và tôi luôn gần gũi trong lời cầu nguyện và trong niềm hy vọng với con cái Giáo Hội tại nước ấy. Thượng Hội Đồng cầu xin Chúa soi sáng lòng trí của mọi người chịu trách nhiệm tìm ra một giải pháp công bằng cho cơn khủng hoảng ấy, để một dân tộc đã bị thử thách một cách đau đớn như thế khỏi phải chịu những khổ đau và buồn phiền nhiều hơn nữa(192).

HIỆN TƯỢNG TOÀN CẦU HOÁ

39. Khi cứu xét vấn đề thăng tiến con người tại Châu Á, các nghị phụ Thượng Hội Đồng đã nhìn nhận tiến trình toàn cầu hoá kinh tế có ảnh hưởng rất quan trọng. Một đàng các ngài nhìn nhận nhiều hiệu quả tích cực của tiến trình ấy, nhưng đàng khác các ngài cũng chỉ ra rằng toàn cầu hoá cũng gây thiệt hại cho người nghèo(193), đẩy các quốc gia nghèo hơn ra ngoài lề các quan hệ kinh tế và chính trị quốc tế. Nhiều quốc gia Á Châu không thể đứng vững được trong nền kinh tế thị trường toàn cầu ấy. Và có lẽ còn ý nghĩa hơn nữa, cũng có sự toàn cầu hoá về văn hoá, do các phương tiện thông tin đại chúng hiện đại tạo ra, mau chóng kéo các xã hội Á Châu vào nền văn hoá tiêu thụ vừa tục hoá vừa duy vật mang tính toàn cầu. Kết quả là có sự xói mòn các giá trị gia đình và xã hội truyền thống, mà cho đến hôm nay chúng vẫn góp phần bảo vệ các dân tộc và xã hội. Tất cả những điều trên đây cho ta thấy rõ rằng các nhà lãnh đạo quốc gia và các tổ chức quan tâm đến sự thăng tiến con người phải trực tiếp xem xét những khía cạnh đạo đức và luân lý trong việc toàn cầu hoá.

Giáo Hội cũng nhấn mạnh cần phải “toàn cầu hoá mà không gạt ai ra rìa”(194), Cùng với các nghị phụ Thượng Hội Đồng, tôi kêu gọi các Giáo Hội địa phương khắp nơi, nhất là các Giáo Hội ở các nước Phương Tây, hãy nỗ lực bảo đảm sao cho học thuyết xã hội của Giáo Hội có ảnh hưởng cần thiết trên việc hình thành các tiêu chuẩn đạo đức và pháp lý để điều hoà các thị trường tự do của thế giới cũng như để sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội. Các nhà lãnh đạo và các nhà chuyên môn Công Giáo phải thúc giục các chính phủ cũng như các tổ chức tài chính và thương mại nhìn nhận và tôn trọng các tiêu chuẩn ấy(195).

NỢ NƯỚC NGOÀI

40. Ngoài ra, trong lúc đi tìm sự công bằng giữa một thế giới đã bị những sự bất bình đẳng về xã hội và kinh tế làm biến dạng, Giáo Hội không thể bỏ qua gánh nặng nợ nần mà các nước đang phát triển tại Á Châu phải chịu, ảnh hưởng tới hiện tại và tương lai của các nước ấy. Nhiều khi, các nước ấy buộc lòng phải cắt giảm chi tiêu cho các nhu cầu tối thiểu của cuộc sống như lương thực, sức khoẻ, cư trú và giáo dục, hầu có thể trả các món nợ họ đang phải chịu với các tổ chức tiền tệ và ngân hàng thế giới. Nói cách khác, đã có nhiều người bị buộc phải sống trong những điều kiện hết sức ô nhục đối với phẩm giá con người. Tuy không quên tính cách phức tạp về mặt kỹ thuật của vấn đề này, Thượng Hội Đồng cũng nhìn nhận rằng, chính đây là nơi trắc nghiệm khả năng của các dân tộc, các xã hội và các chính phủ trong việc đánh giá nhân vị và sinh mạng của hằng triệu người cao hơn những lợi lộc tài chính và vật chất(196).

Năm Đại Xá 2000 sắp tới chính là thời cơ thuận lợi cho các Hội Đồng Giám Mục trên thế giới, nhất là tại các nước giàu hơn, khuyến khích các tổ chức tiền tệ và ngân hàng thế giới tìm ra những phương cách làm nhẹ tình trạng nơ nần quốc tế ấy. Trong số những phương cách ấy có thể kể đến việc thương thảo lại nợ nần kèm theo việc giảm nợ gốc hoặc huỷ bỏ hoàn toàn, cũng như đầu tư và tham gia kinh doanh để trợ giúp nền kinh tế của các nước nghèo hơn(197). Các nghị phụ Thượng Hội Đồng cũng ngỏ lời với các nước nợ nần. Họ cần phải gia tăng ý thức trách nhiệm quốc gia, lưu ý lập kế hoạch kinh tế đúng đắn, quản lý một cách lành mạnh và trong sáng, và mở chiến dịch quyết chống tham nhũng(198). Các ngài cũng kêu gọi các Kitô hữu tại Châu Á lên án mọi hình thức tham nhũng và thâm lạm công quỹ do những người đang cầm quyền(199). Công dân của các nước nợ nần cũng thường là nạn nhân của việc phung phí và làm việc không hiệu quả ngay trong nước mình, trước khi là nạn nhân của khủng hoảng nợ nần trên trường quốc tế.

MÔI TRƯỜNG

41. Một khi quan tâm tới tiến bộ kinh tế và kỹ thuật mà không quan tâm tới sự cân bằng sinh thái của trái đất, chúng ta sẽ không thể nào tránh khỏi bị thiệt hại nặng nề về môi trường, và kèm theo đó là thiệt hại cho con người. Người ta sẽ tiếp tục không tôn trọng môi trường một cách trắng trợn, bao lâu vẫn chỉ coi trái đất và những tiềm năng của nó như những đối tượng tiêu thụ và sử dụng ngay tại chỗ, để mặc cho con người tham lam lợi nhuận một cách vô độ muốn làm gì thì làm(200). Nhiệm vụ của các Kitô hữu và của tất cả những ai còn hướng lòng về với Đấng Tạo Hoá là phải bảo vệ môi trường bằng cách lấy lại tâm tình tôn trọng đối với toàn thể thụ tạo của Thiên Chúa. Ý muốn của Tạo Hoá là con người phải đối xử với thiên nhiên, không phải như một kẻ khai thác tàn bạo mà như một người quản lý thông minh và có trách nhiệm(201). Các nghị phụ Thượng Hội Đồng tha thiết kêu gọi trách nhiệm nhiều hơn nữa từ phía các nhà lãnh đạo quốc gia, các nhà làm luật, các nhà kinh doanh và tất cả những ai trực tiếp tham gia vào việc quản lý các tài nguyên của trái đất(202). Các ngài lưu ý nhu cầu phải giáo dục dân chúng, nhất là giới trẻ, về trách nhiệm đối với môi trường, huấn luyện họ biết quản lý thụ tạo mà Chúa đã giao cho loài người. Bảo vệ môi trường không phải chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà còn là và trên hết là vấn đề đạo đức. Mọi người đều có nghĩa vụ luân lý là chăm sóc môi trường, không phải chỉ vì ích lợi của mình mà còn vì ích lợi của các thế hệ tương lai.

Để kết luận, nên nhớ rằng khi hô hào các Kitô hữu làm việc và xả thân phục vụ cho sự phát triển con người, các nghị phụ Thượng Hội Đồng đã dựa trên một số trực giác cốt lõi của truyền thống Kinh Thánh và truyền thống Giáo Hội. Người Israel xưa hết sức nhấn mạnh tới mối quan hệ không thể cắt đứt được giữa việc thờ phượng Chúa và việc chăm sóc người yếu kém, được Kinh Thánh mô tả một cách điển hình là “cô nhi, quả phụ và ngoại kiều” (x. Xh 22, 21-22 ; Đnl 10, 18 ; 27, 19), là những người trong các xã hội thời đó dễ bị sự bất công gây hại nhất. Thỉnh thoảng trong các sách Ngôn Sứ chúng ta cũng nghe người ta kêu gào sự công bằng, đòi hỏi sự sắp xếp xã hội cho đúng đắn, bằng không sẽ không thể nào thờ phượng Chúa thật sự (x. Is 1, 10-17 ; Am 5, 21-24). Lời hô hào của các ngôn sứ đầy tràn Thánh Thần, “Thiên Chúa muốn lòng nhân chứ không phải hy lễ” (Hs 6, 6), đã vọng lại trong tiếng gọi của các nghị phụ Thượng Hội Đồng. Đức Giêsu cũng đã từng lấy những lời ấy thành lời của chính mình (x. Mt 9, 13), rồi các thánh ở mọi thời và khắp mọi nơi cũng hành động như thế. Hãy nghe lại lời thánh Gioan Kim Khẩu: “Anh em có muốn tôn kính thân thể Chúa Kitô không ? Nếu muốn thì đừng bỏ qua khi thấy thân thể ấy trần truồng. Đừng tôn vinh thân thể ấy với đủ gấm vóc lụa là trong đền thờ để tự cho phép mình bỏ qua khi thấy thân thể ấy ngoài kia đang run lạnh và trần truồng. Đấng đã từng nói ‘Đây là mình Thầy’ cũng chính là Đấng sẽ nói ‘Các ngươi đã thấy ta đói mà không cho ăn’. .. Có ích gì khi bàn Thánh Thể oằn xuống với những chén lễ bằng vàng nặng ký, trong khi Đức Kitô đang hấp hối vì đói khát ? Hãy cho Ngài hết đói khát đã, rồi mới lấy những gì còn thừa lại mà trang hoàng bàn thờ!”(203). Trong lời hô hào của Thượng Hội Đồng về sự phát triển con người và công bằng trong các việc của con người, chúng ta được nghe lại một tiếng nói vừa cũ vừa mơi. Cũ bởi vì nó xuất phát từ truyền thống Kitô Giáo luôn đi tìm sự hài hoà theo như ý Đấng Tạo Hoá muốn ; còn mới vì đó là tiếng nói ngỏ với vô số đồng bào tại Á Châu hôm nay đang lâm cảnh ngộ ấy.

CHƯƠNG BẢY: NHỮNG NGƯỜI LÀM CHỨNG CHO TIN MỪNG – MỘT GIÁO HỘI LÀM CHỨNG.

42. Công Đồng Vaticanô II đã lên tiếng rõ ràng rằng toàn thể Giáo Hội đều phải truyền giáo, công việc phúc âm hoá là nhiệm vụ của toàn thể Dân Chúa(204). Vì toàn thể Dân Chúa được sai đi rao giảng Tin Mừng, nên phúc âm hoá không bao giờ là một công việc riêng lẻ của cá nhân. Đó luôn luôn là một công việc chung của cả Giáo Hội, phải được thi hành trong sự hiệp thông với toàn thể cộng đoàn đức tin. Sứ mạng chỉ có một và không thể chia năm sẻ bảy, vì chỉ bắt nguồn từ một gốc và chỉ nhắm tới một mục tiêu. Nhưng trong sứ mạng ấy có những trách nhiệm khác nhau và những hình thức hoạt động khác nhau(205). Nhưng dù gì chăng nữa, rõ ràng là không thể nào có sự công bố Tin Mừng thực sự, nếu các Kitô hữu không đồng thời lấy đời sống mình làm lời chứng, đi đôi với sứ điệp mà mình rao giảng : “Hình thức làm chứng đầu tiên là chính cuộc sống của người truyền giáo, của gia đình Kitô hữu và của cộng đoàn Giáo Hội, một cuộc sống giới thiệu một cung cách sống mới… Mọi người trong Giáo Hội, nỗ lực bắt chước Tôn Sư của mình đều có thể và đều có bổn phận phải làm chứng theo hình thức này. Nhiều khi, đó là cách duy nhất để truyền giáo”(206). Ngày nay người ta đang cần đặc biệt hình thức chứng tá đích thực của Kitô Giáo ấy, vì “con người hôm nay tin tưởng các chứng nhân hơn là thầy dạy, tin vào kinh nghiệm hơn là bài vở, tin vào cuộc sống và hành động hơn là lý thuyết”(207). Đây là điều hết sức đúng trong bối cảnh Châu Á hiện nay, nơi người ta sẵn sàng bị thuyết phục bởi một đời sống thánh thiện hơn là bởi các lý luận đầy trí tuệ. Thế nên, kinh nghiệm đức tin và kinh nghiệm về các ơn của Chúa Thánh Thần phải là nền tảng cho toàn bộ công cuộc truyền giáo, bất luận ở thị thành hay thôn quê, ở trường học hay bệnh viện, làm việc với những người tàn tật, di cư hay các bộ tộc, hoặc theo đuổi sự công bằng và các quyền con người. Tình cảnh nào cũng là cơ hội cho các Kitô hữu bày tỏ sức mạnh do sự thật về Đức Kitô mang lại cho đời sống của họ. Thế nên, cảm kích trước đông đảo các nhà truyền giáo đã từng làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa một cách anh hùng với các dân tộc trên lục địa này, ngày nay Giáo Hội tại Á Châu cố gắng làm chứng về Đức Giêsu Kitô và Tin Mừng của Ngài không kém phần hăng hái. Sứ mạng của người Kitô hữu không cho phép ta làm kém đi.

Vì ý thức về bản chất truyền giáo của Giáo Hội và hướng tới ngày sưc mạnh của Chúa Thánh Thần được tuôn đổ xuống một lần nữa, các nghị phụ Thượng Hội Đồng ngỏ ý mong muốn tông huấn hậu Thượng Hội Đồng sẽ đưa ra một vài chỉ thị và đường hướng cho những ai đang làm việc trong cánh đồng truyền giáo bao la của Á Châu này.

CÁC CHỦ CHĂN

43. Chính Chúa Thánh Thần giúp Giáo Hội có khả năng hoàn thành sứ mạng do Đức Kitô trao cho. Trước khi sai các môn đệ ra đi làm chứng nhân, Đức Giêsu đã ban cho họ Chúa Thánh Thần (x. Ga 20, 22) ; Ngài làm việc thông qua họ và đánh thức con tim của những người lắng nghe họ (x. Cv 2, 37). Điều này cũng đúng đối với những người được Ngài sai đi hôm nay. Ở một mặt nào đó, tất cả những người đã chịu phép Rửa, do chính ơn bí tích này, đều được yêu cầu tham gia vào việc tiếp nối sứ mạng cứu độ của Đức Kitô, và họ có khả năng làm việc này chính nhờ tình yêu của Chúa đã được đổ vào lòng họ thông qua Chúa Thánh Thần mà Chúa Cha vẫn còn đang ban cho họ (Rm 5, 5). Nhưng ở một mặt khác, sứ mạng chung này sẽ được thực hiện nhờ những chức vụ và đoàn sủng khác nhau trong Giáo Hội. Trách nhiệm chính yếu đối với sứ mạng của Giáo Hội đã được Đức Kitô giao cho các tông đồ và những người kế vị các ngài. Do sự truyền chức giám mục và nhờ hiệp thông trong phẩm trật với Thủ Lãnh Giám Mục Đoàn, các giám mục đã nhận được trách nhiệm và quyền hạn giảng dạy, cai quản và thánh hoá Dân Chúa. Do chính ý muốn của Đức Kitô và nhờ hoạt động trong khuôn khổ Giám Mục Đoàn, Đấng kế vị thánh Phêrô, tức là tảng đá mà trên đó Giáo Hội được xây dựng (x. Mt 16, 18), sẽ thi hành một tác vụ hiệp nhất hết sức đặc biệt. Bởi đó, các giám mục có nhiệm vụ phải thi hành tác vụ của mình trong thế liên kết với Đấng Kế Vị thánh Phêrô, là người bảo đảm cho lời giảng dạy và sự hiệp thông của họ trong Giáo Hội được có sự thật.

Liên kết với các giám mục trong việc loan báo Tin Mừng, các linh mục được mời gọi ngay lúc chịu chức hãy trở thành người chăn dắt đàn chiên, người rao giảng tin vui cứu độ và người cử hành các bí tích. Để phục vụ Giáo Hội như Đức Kitô muốn, các giám mục và linh mục cần phải được đào tạo một cách vững chắc và liên tục, nhờ đó họ có nhiều cơ hội để canh tân đời sống nhân bản, tâm linh và mục vụ, cũng như được theo học các khoá liên quan đến thần học, linh đạo và các khoa nhân văn(208). Dân chúng Châu Á cần được thấy các giáo sĩ không phải chỉ là các nhân viên từ thiện và các nhà quản lý hành chánh, mà còn là những con người đặt hết tâm trí vào những gì sâu xa của Chúa Thánh Thần (x. Rm 8, 5). Thái độ kính trọng mà các dân tộc Châu Á dành cho các vị lãnh đạo là những người có trách nhiệm trong các thừa tác vụ của Giáo Hội cần phải được đáp lại bằng đời sống luân lý ngay thẳng của họ. Bằng đời sống cầu nguyện, phục vụ nhiệt tình và hạnh kiểm gương mẫu, các giáo sĩ sẽ làm chứng mạnh mẽ cho Tin Mừng ngay trong các cộng đoàn mà họ đang chăn dắt nhân danh Đức Kitô. Tôi sốt sắng cầu xin cho các thừa tác viên đã chịu chức trong các Giáo Hội Á Châu sẽ sống và làm việc trong tinh thần hiệp thông và cộng tác với các giám mục và mọi tín hữu, làm chứng cho một tình yêu mà Đức Giêsu đã tuyên bố là dấu hiệu đích thực của người môn đệ Chúa (x. Ga 13, 35).

Tôi hết sức mong muốn mọi người lưu ý tới mối bận tâm của Thượng Hội Đồng về việc chuẩn bị những người sẽ lãnh đạo và giảng dạy trong các chủng viện và các phân khoa thần học(209). Sau một thời gian huấn luyện chu đáo về các khoa học thánh và các môn liên hệ, họ cần được đào tạo một cách đặc biệt hơn, tập trung vào linh đạo của linh mục, nghệ thuật linh hướng và các khía cạnh khác của một công tác hết sức khó khăn và tế nhị đang chờ đợi họ, tức là giáo dục các linh mục tương lai. Đây là một hoạt động tông đồ quan trọng bậc nhất đối với sự an sinh và phát triển của Giáo Hội.

ĐỜI TU VÀ CÁC HỘI TRUYỀN GIÁO

44. Trong Tông Huấn hậu Thượng Hội Đồng “Vita Consecrata” (“Đời thánh hiến”), tôi đã nhấn mạnh tới sự liên quan mật thiết giữa đời tu và việc truyền giáo. Cả trong ba khía cạnh đời tu là “sự tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi”, “dấu hiệu của tình huynh đệ” và là “phục vụ đức ái”, đời tu luôn cho thấy tình yêu của Thiên Chúa trong thế giới bằng cách làm chứng cho sứ mạng cứu độ mà Đức Giêsu đã thực hiện khi tận hiến hoàn toàn cho Chúa Cha. Vì ý thức rằng mọi hoạt động trong Giáo Hội đều được hậu thuẫn bởi việc cầu nguyện và sự hiệp thông với Chúa, nên Giáo Hội Châu Á luôn tỏ ra tôn trọng và quý chuộng các cộng đoàn chiêm niệm, coi đó như một nguồn đặc biệt tạo ra sức mạnh và cảm hứng. Thể theo lời khuyên của các nghị phụ Thượng Hội Đồng, tôi nhiệt liệt cổ võ việc thành lập các cộng đoàn đan tu và chiêm niệm ở những nơi nào có thể làm được. Bằng cách này, theo như Công Đồng Vaticanô II đã nhắc, việc xây dựng đô thị trần gian có thể đặt được nền móng nơi Chúa và vươn tới Chúa, không để cho những người xây dựng nó phải làm việc vô ích(210).

Tìm kiếm Chúa, sống tinh thần hiệp thông huynh đệ và phục vụ người khác, đó chính là ba đặc điểm chính yếu của đời tu, có thể gửi đến cho các dân tộc Á Châu hiện nay một lời chứng mang tinh thần Kitô Giáo hết sức lôi cuốn. Hội Nghị Đặc Biệt dành cho Á Châu này thúc giục những ai sống trong đời tu hãy cố gắng làm chứng cho mọi người thấy rằng ai cũng được mời gọi nên thánh, đồng thời hãy trở thành gương sáng cho người Kitô hữu lẫn người ngoài Kitô giáo, về lòng yêu thương xả thân vì mọi người, nhất là những anh chị em yếu kém nhất. Trong một thế giới thường không còn ý thức mạnh mẽ về sự hiện diện của Thiên Chúa nữa, những người tu trì cần phải đưa ra được lời chứng ngôn sứ đủ sức thuyết phục về thế ưu việt của Thiên Chúa và sự sống vĩnh cửu. Khi sống thành cộng đoàn, họ phải làm chứng về các giá trị của tình huynh đệ Kitô hữu và sức biến đổi của Tin Mừng(211). Tất cả những ai theo đuổi đời tu đều được mời gọi trở thành người đi đầu trong việc tìm kiếm Chúa, một sự tìm kiếm luôn làm dao động lòng người và được bày tỏ hết sức rõ ràng dưới nhiều hình thức tu đức và sống đời sống tâm linh tại Châu Á này(212). Trong các truyền thống tôn giáo đông đảo của Châu Á, những ai dâng mình theo đuổi đời sống chiêm niệm và tu đức đều được kính trọng đặc biệt, lời chứng của họ cũng có sức thuyết phục rất cao. Sống thành cộng đoàn, làm chứng trong thinh lặng và bình an, đó có thể là hình ảnh thôi thúc mọi người xây dựng một sự hoà hợp lớn hơn nữa trong xã hội. Những người tu trì trong truyền thống Kitô Giáo cũng được trông mong như vậy. Sống nghèo khó và từ bỏ trong thinh lặng, sống thanh khiết và chân thành, sống quên mình trong vâng phục, tất cả những điều ấy có thể trở nên lời chứng hùng hồn, đánh động mọi người thiện chí, đưa ta tới chỗ đối thoại rất tốt với các nền văn hoá và tôn giáo chung quanh, cũng như với những người nghèo và những người không được ai bênh vực. Nếu vậy, đời tu đúng là một phương thế đặc biệt có thể làm cho công cuộc phúc âm hoá được kết quả(213).

Các nghị phụ Thượng Hội Đồng nhìn nhận vai trò vô cùng quan trọng của các dòng tu, các tu hội truyền giáo và các hiệp hội sống đời tông đồ trong công cuộc phúc âm hoá tại Châu Á trong các thế kỷ qua. Đứng trước những sự đóng góp tuyệt vời ấy, Thượng Hội Đồng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với các tổ chức ấy và thôi thúc họ đừng nao núng trong sự dấn thân truyền giáo của mình(214). Tôi xin hiệp ý với các nghị phụ Thượng Hội Đồng kêu gọi những ai đang sống trong bậc tu trì hãy làm sống lại lòng nhiệt thành công bố sự thật cứu độ của Đức Kitô. Mọi người ấy cần phải được đào tạo và huấn luyện thích đáng, là lấy Chúa Kitô làm trọng tâm và trung thành với đoàn sủng của tu hội mình, lưu ý hơn tới sự thánh thiện và làm chứng của chính mỗi người ; đồng thời phải làm sao cho linh đạo và lối sống của mình tỏ ra biết nhạy cảm với di sản tôn giáo của dân tộc đang sống chung với họ và đang được họ phục vụ(215). Tuy vẫn tôn trọng đoàn sủng riêng của mình, nhưng họ cũng cần đưa mình tham gia vào chương trình mục vụ chung của giáo phận nơi họ làm việc. Về phần mình, các Giáo Hội địa phương cũng cần phải hiểu lý tưởng của đời tu, đồng thời cổ võ các ơn gọi ấy. Muốn vậy, mỗi giáo phận cần lập ra một chương trình mục vụ dành cho các ơn gọi, kể cả việc cắt cử các linh mục và tu sĩ làm việc trọn vẹn thời gian của mình với giới trẻ, giúp họ nghe được và phân định được tiếng gọi của Chúa(216).

Trong bối cảnh hiệp thông với Giáo Hội toàn cầu, tôi không thể không thúc giục các Giáo Hội Châu Á gửi các nhà truyền giáo của mình ra đi, dù chính mình đang cần những thợ làm vườn nho. Tôi sung sướng khi thấy những tu hội truyền giáo thuộc đời sống tông đồ vừa được thành lập tại một số nước Á Châu để nói lên ý thức của mình về tính truyền giáo của Giáo Hội và về trách nhiệm của mỗi Giáo Hội Châu Á trong việc rao giảng Tin Mừng cho toàn thế giới(217). Các nghị phụ Thượng Hội Đồng khuyên nên “thành lập ngay trong mỗi Giáo Hội địa phương của Châu Á, chỗ nào chưa có, các hội truyền giáo thuộc đời sống tông đồ, có đặc điểm là dấn thân truyền giáo “cho lương dân, cho những người ngoài và để phục vụ sự sống” (“ad gentes, ad exteros, ad vitam”)(218). Những sáng kiến ấy chắc chắn sẽ mang lại kết quả dồi dào không những trong các Giáo Hội tiếp nhận các nhà truyền giáo mà cả trong các Giáo Hội gửi các vị ấy đến nữa.

GIÁO DÂN

45. Như Công Đồng Vaticanô II đã chỉ rõ, do ơn gọi của mình, các giáo dân được đặt một cách vững chắc vào trong thế giới để thi hành những công việc hết sức đa dạng. Chính tại nơi này họ được mời gọi truyền bá Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô(219). Do ơn sủng và do tiếng gọi từ bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức, mọi giáo dân đều là nhà truyền giáo ; và địa bàn truyền giáo của họ là những thế giới vô cùng rộng rãi và phức tạp như chính trị, kinh tế, công nghiệp, giáo dục, truyền thông, khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật và thể thao. Tại nhiều nước Châu Á, người giáo dân đang phục vụ như các nhà truyền giáo chính hiệu, tiếp xúc với những đồng bào Á Châu có thể chưa bao giờ có dịp gặp gỡ các giáo sĩ và tu sĩ(220). Tôi xin gửi lời cám ơn của toàn thể Giáo Hội đến họ, và tôi khuyên tất cả các giáo dân hãy nhận lấy vai trò riêng của mình trong sinh hoạt và sứ mạng của Dân Chúa, làm chứng cho Đức Kitô ở bất cứ nơi nào mình có mặt.

Nhiệm vụ của các chủ chăn là bảo đảm cho các giáo dân được huấn luyện làm các nhà truyền bá Tin Mừng, có khả năng đương đầu với những thách đố của thế giới hiện nay, không chỉ bằng sự khôn ngoan và hiệu năng của thế gian, mà còn với một tâm hồn đã được sự thật của Đức Kitô đổi mới và củng cố(221). Trong lúc làm chứng cho Tin Mừng ở mọi lãnh vực của đời sống trong xã hội, người giáo dân có thể có một vai trò độc nhất vô nhị trong việc nhổ tận rễ những sự bất công và đàn áp, và để làm việc này họ cũng cần được đào tạo thích đáng. Muốn thế, tôi xin hiệp ý với các nghị phụ Thượng Hội Đồng đề nghị thành lập ở cấp giáo phận hay cấp quốc gia những trung tâm đào tạo giáo dân, chuẩn bị họ làm công việc truyền giáo như những chứng nhân cho Đức Kitô tại Á Châu ngày nay(222).

Các nghị phụ Thượng Hội Đồng tỏ ra quan tâm nhất là làm sao cho Giáo Hội trở thành một Giáo Hội tham gia, trong đó không ai cảm thấy mình bị khai trừ. Các ngài coi việc tham gia rộng rãi hơn của phụ nữ trong sinh hoạt và sứ mạng của Giáo Hội Châu Á là một nhu cầu hết sức cấp bách. “Phụ nữ có một năng khiếu hết sức đặc biệt trong việc truyền đạt đức tin, đến nỗi chính Đức Giêsu cũng đã quan tâm đến năng khiếu ấy trong công cuộc rao giảng Tin Mừng. Như đã thấy với người phụ nữ Samari sau khi gặp Đức Giêsu tại bờ giếng Giacóp : Ngài đã chọn chị làm người đầu tiên để quảng bá niềm tin mới trong một miền đất không phải của người Do Thái”(223). Để đẩy mạnh sự phục vụ của phụ nữ trong Giáo Hội, cần tạo nhiều cơ hội hơn nữa cho họ tham dự các lớp thần học và các lãnh vực nghiên cứu khác ; nam giới trong các chủng viện và các lớp đào tạo cần được huấn luyện thế nào để biết coi phụ nữ là những cộng sự viên của mình trong việc tông đồ(224). Cần phải cho phụ nữ tham gia một cách thực sự vào các chương trình mục vụ, trong các hội đồng mục vụ cấp giáo phận và giáo xứ, cũng như trong các hội nghị giáo phận. Phải đánh giá cho hết mức khả năng cũng như những đóng góp của họ trong các ngành y tế, giáo dục, trong việc chuẩn bị các tín hữu lãnh nhận bí tích, xây dựng cộng đoàn và hoà giải. Như các nghị phụ Thượng Hội Đồng có ghi nhận, sự hiện diện của các phụ nữ trong sứ mạng yêu thương và phục vụ của Giáo Hội sẽ góp phần đáng kể vào việc đưa Đức Giêsu từ bi, chuyên chữa lành và hoà giải, đến với dân Á Châu, nhất là những người nghèo và những người bị gạt ra ngoài lề xã hội(225).

GIA ĐÌNH

46. Gia đình là môi trường bình thường cho trẻ em lớn lên, đạt tới sự trưởng thành cá nhân và xã hội. Gia đình cũng là nơi cưu mang di sản của chính nhân loại, vì thông qua gia đình, sự sống được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Gia đình chiếm giữ một vị trí hết sức quan trọng trong các nền văn hoá Châu Á.. Và, như các nghị phụ Thượng Hội Đồng đã lưu ý, các giá trị gia đình như lòng hiếu thảo, yêu thương và chăm sóc người già và người bệnh, yêu trẻ và sống hoà thuận vẫn đang được quý trọng trong các nền văn hoá và truyền thống tôn giáo Châu Á.

Nhìn bằng cặp mắt người Kitô hữu, gia đình còn là “Giáo Hội tại gia” (“ecclesia domestica”)(226). Gia đình người Kitô hữu nói riêng, cũng như Giáo Hội nói chung, phải là nơi lấy sự thật của Tin Mừng làm quy luật sống và làm quà tặng của gia đình cho cộng đoàn rộng lớn hơn. Gia đình không phải chỉ là đối tương cho Giáo Hội chăm sóc về mục vụ, mà còn là một trong các nhân viên đắc dụng nhất trong công cuộc phúc âm hoá. Hiện nay các gia đình người Kitô hữu đang được mời gọi để làm chứng cho Tin Mừng trong những thời thế và hoàn cảnh khó khăn, đó là khi bản thân gia đình cũng đang bị biết bao lực lượng khác đe doạ(227). Muốn làm nhân viên phúc âm hoá trong một thời đại như thế, gia đình người Kitô hữu cần phải trở thành một “Giáo Hội tại gia” chính hiệu, sống trọn ơn gọi Kitô hữu của mình một cách khiêm tốn và đầy yêu thương.

Như các nghị phụ Thượng Hội Đồng đã chỉ ra, điều ấy có nghĩa là gia đình cần phải tham gia tích cực vào sinh hoạt giáo xứ, tham dự các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể và bí tích Sám Hối, dấn thân phục vụ người khác. Điều ấy cũng có nghĩa là các bậc cha mẹ phải cố gắng biến những giây phút cả gia đình quy tụ bên nhau thành cơ hội để cầu nguyện, đọc và suy niệm Kinh Thánh, cử hành các nghi thức do chính các cha mẹ thực hiện, và giải trí lành mạnh. Tất cả những việc này sẽ giúp làm cho gia đình người Kitô hữu trở thành trọng tâm của công cuộc phúc âm hoá, trong đó ai cũng cảm nghiệm được tình thương của Chúa và chia sẻ cho người khác(228). Các nghị phụ Thượng Hội Đồng cũng nhìn nhận rằng trẻ em phải có một vai trò trong công cuộc phúc âm hoá, cả trong gia đình lẫn trong các cộng đoàn rộng lớn hơn(229). Xác tín rằng “tương lai thế giới và Giáo Hội sẽ đi qua gia đình”(230), một lần nữa xin đề nghị mọi người hãy học hỏi và thi hành những gì tôi đã viết về gia đình trong tông huấn “Familiaris consortio” (“Cộng đoàn gia đình”), sau Hội Nghị khoáng đại thường kỳ lần thứ năm của Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1980.

GIỚI TRẺ

47. Các nghị phụ Thượng Hội Đồng tỏ ra hết sức nhạy cảm trước vấn đề giới trẻ trong Giáo Hội. Những vấn đề vừa nhiều vừa phức tạp mà giới trẻ đang đương đầu trong thế giới Á Châu biến chuyển này buộc Giáo Hội phải nhắc người trẻ nhớ rằng họ là người có trách nhiệm về tương lai của xã hội và của Giáo Hội, đồng thời bắt Giáo Hội phải cổ võ và hỗ trợ họ trong mỗi hoạt động của họ nhằm nói lên rằng họ sẵn sàng nhận lấy trách nhiệm ấy. Giáo Hội xin gửi tới họ sự thật của Tin Mừng như một mầu nhiệm lạc quan, có sức giải phóng mà họ cần biết, cần sống và cần chia sẻ một cách xác tín và can đảm.

Nếu người trẻ phải là những nhân viên đắc dụng của sứ mạng ấy thì Giáo Hội cần phải dành cho họ sự chăm sóc mục vụ thích hợp(231). Đồng ý với các nghị phụ Thượng Hội Đồng, tôi khuyên ở đâu có thể làm được, mỗi giáo phận tại Châu Á hãy chỉ định những nhà tuyên uý hay linh hướng giới trẻ để xúc tiến việc đào tạo họ về mặt tâm linh và tông đồ. Các trường học và các giáo xứ Công Giáo đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp một sự đào tạo toàn diện cho người trẻ, bằng cách đưa họ vào con đường làm môn đệ chân chính của Đức Kitô và phát huy nơi họ những đức tính nhân bản cần thiết để thi hành sứ mạng. Các phong trào tông đồ giới trẻ có tổ chức và các câu lạc bộ giới trẻ sẽ cho họ có cơ hội cảm nghiệm thế nào là tình bằng hữu Kitô Giáo, một điều hết sức quan trọng đối với giới trẻ. Giáo xứ, các hiệp hội và các phong trào có thể giúp người trẻ đương đầu tốt hơn với các áp lực xã hội bằng cách không những giúp họ trưởng thành hơn trong đời sống Kitô hữu, mà còn giúp họ dưới những hình thức như hướng nghiệp, dạy nghề và tư vấn thanh niên.

Chương trình đào tạo Kitô Giáo dành cho giới trẻ Châu Á phải giúp họ ý thức rằng họ không phải chỉ là đối tượng cho Giáo Hội chăm sóc, mà còn là “nhân viên và cộng sự viên trong sứ mạng Giáo Hội qua các hoạt động tông đồ yêu thương và phục vụ khác nhau”(232). Bởi đó, tại các giáo xứ và giáo phận, thanh niên nam nữ phải được mời gọi tham gia vào việc tổ chức các hoạt động liên quan đến mình. Nhờ sự tươi trẻ và nhiệt tình, tinh thần liên đới và luôn hy vọng, họ có thể trở thành người hoà giải trong thế giới chia rẽ hiện nay ; và về điều đó, thật là khích lệ khi thấy người trẻ tham gia vào các chương trình trao đổi giữa các Giáo Hội và các quốc gia Châu Á, cũng như ở những nơi khác, nhằm cổ võ sự đối thoại giữa các tôn giáo và các nền văn hoá.

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

48. Trong kỷ nguyên toàn cầu hoá, “các phương tiện truyền thông xã hội trở nên quan trọng tới mức đối với nhiều người đó là phương tiện chính yếu để thông tin và giáo dục, hướng dẫn và soi sáng các thái độ của cá nhân, gia đình và xã hội nói chung. Cách riêng, thế hệ trẻ đang lớn lên trong một thế giới bị các phương tiện thông tin đại chúng chi phối”(233). Thế giới hiện nay đang chứng kiến sự ra đời của một nền văn hoá mới, “không hoàn toàn dựa trên nội dung được diễn đạt mà dưa trên những cách thông tin mới, với những ngôn ngữ mới, những kỹ thuật mới và một khoa tâm lý mới”(234). Các phương tiện truyền thông xã hội đóng một vai trò rất đặc biệt trong việc hình thành khuôn mặt thế giới, hình thành các nền văn hoá và các kiểu cách suy tư ; từ đó, đưa tới những thay đổi nhanh chóng và rộng rãi trong các xã hội Châu Á.

Sứ mạng phúc âm hoá của Giáo Hội không thể không chịu tác động sâu xa của các phương tiện truyền thông đại chúng. Vì các phương tiện ấy càng ngày càng có ảnh hưởng nhiều hơn, ngay tại những vùng xa xôi của Châu Á, nên chúng cũng có thể hỗ trợ rất nhiều cho công cuộc loan báo Tin Mừng, bất kể ở chân trời góc biển nào. Tuy nhiên, “sử dụng các phương tiện truyền thông để phổ biến sứ điệp Kitô Giáo và giáo huấn chân chính của Giáo Hội thôi chưa đủ. Còn cần đưa sứ điệp ấy vào trong nền “văn hoá mới” do các phương tiện thông tin mới tạo ra”(235). Muốn vậy, Giáo Hội cần tìm mọi cách để đưa vấn đề phương tiện thông tin đại chúng vào kế hoạch mục vụ và hoạt động mục vụ của mình, để nhờ biết sử dụng cách hữu hiệu, Tin Mừng có thể lan ra xa hơn, đến được với các cá nhân cũng như các dân tộc, đưa các giá trị của Nước Trời thâm nhập các nền văn hoá của Châu Á.

Tôi xin nhắc lại lời ca ngợi của các nghị phụ Thượng Hội Đồng dành cho đài phát thanh Chân Lý Á Châu (Radio Veritas Asia) vì gần ba mươi năm, đài đã phục vụ công cuộc phúc âm hoá bằng truyền thanh. Cần phải nỗ lực để củng cố khí cụ truyền giáo tuyệt vời này bằng cách lên chương trình cho các ngôn ngữ, giúp đỡ nhân sự và tài chính từ các Hội Đồng Giám Mục và từ các giáo phận Á Châu này(236). Bên cạnh việc truyền thanh, Giáo Hội có thể nhờ các nhà xuất bản và các thông tấn xã Công Giáo giúp phổ biến thông tin và cung cấp chương trình giáo dục và đào tạo liên tục về mặt tôn giáo cho khắp châu lục này. Ở nơi nào các Kitô hữu chỉ là một thiểu số, đó có thể là những phương thế rất quan trọng giúp bảo tồn và nuôi dưỡng ý thức về bản sắc của Công Giáo, và giúp quảng bá kiến thức về các nguyên tắc luân lý Công Giáo(237).

Tôi xin lấy lại những lời nhắn nhủ của các nghị phụ Thượng Hội Đồng về việc phúc âm hoá nhờ các phương tiện thông tin xã hội, được coi là “điểm nóng của thời đại hôm nay”, hy vọng rằng làm như thế có thể giúp thăng tiến con người và phổ biến sự thật về Đức Kitô, phổ biến giáo huấn Giáo Hội(238). Thật là bổ ích, nếu mỗi giáo phận thành lập được, ở nơi nào có thể, một văn phòng liên lạc và thông tin. Việc giáo dục về thông tin, bao hàm việc tập đánh giá “các sản phẩm” của thông tin một cách có phê bình, ngày càng phải trở thành một phần quan trọng trong việc đào tạo linh mục, chủng sinh, tu sĩ, giáo lý viên, các giáo dân chuyên ngành, học sinh-sinh viên tại các trường Công Giáo và các cộng đoàn giáo xứ. Đứng trước ảnh hưởng rộng rãi và đặc biệt của các phương tiện truyền thông đại chúng, người Công Giáo cần cùng làm việc với các thành viên của các Giáo Hội và các cộng đoàn Giáo Hội khác, cùng với tín đồ các tôn giáo khác, sao cho trong các phương tiện truyền thông ấy luôn có một chỗ dành cho các giá trị thiêng liêng và luân lý. Cùng với các nghị phụ Thượng Hội Đồng, tôi cổ võ việc triển khai các kế hoạch mục vụ liên quan đến vấn đề truyền thông ở cấp quốc gia và cấp giáo phận, theo như đã được chỉ dẫn trong huấn thị mục vụ “Aetatis Novae” (“Thời đại mới”), không quên lưu ý cách riêng tới những hoàn cảnh đang nổi bật tại Châu Á.

CÁC VỊ TỬ ĐẠO

49. Dù các chương trình đào tạo và các chiến lược phúc âm hoá có quan trọng đến đâu chăng nữa, rốt cuộc chính sự tử đạo là nơi cho thế giới thấy rõ nhất bản chất thật của sứ điệp Kitô Giáo. Tự thân chữ “tử đạo’ đã có nghĩa là làm chứng, và những ai đổ máu mình ra vì Đức Kitô đều đã làm chứng tốt nhất về giá trị đích thực của Tin Mừng. Trong sắc chỉ cử hành Năm Đại Xá 2000, “Incarna-tionis Mysterium” (“Mầu nhiệm Nhập Thể”), tôi đã nhấn mạnh tầm quan trọng sinh tử của việc tưởng nhớ các vị tử đạo : “Về phương diện tâm lý, tử đạo là bằng chứng hùng hồn nhất cho thấy sự thật của đức tin, vì đức tin có thể đem lại cho cái chết, kể cả cái chết tàn bạo nhất, một bộ mặt nhân đạo, và vẫn chứng tỏ được vẻ đẹp của mình ngay giữa những cuộc bách hại khốc liệt nhất”(239). Qua nhiều thời đại, Á Châu đã cống hiến cho Giáo Hội và thế giới vô số các vị tử đạo vì đức tin, và từ giữa lòng Châu Á, ta luôn nghe cất lên bài ca ngợi tuyệt vời này : “Đoàn tử đạo quang huy ca tụng Ngài”. Đây là bài ca của những ai đã chết vì Đức Kitô trên mảnh đất Á Châu này vào những thế kỷ đầu tiên của Giáo Hội; đó cũng là tiếng hân hoan thốt lên của những người nam, ngươi nữ trong những thế kỷ gần đây như thánh Phaolô Miki và các bạn, thánh Laurenxô Ruiz và các bạn, thánh Anrê Dũng Lạc và các bạn, thánh Anrê Kim Taegon và các bạn. Chớ gì đoàn người Á Châu tử đạo đông đảo, xưa và nay, không bao giờ ngừng dạy cho Giáo Hội Á Châu biết thế nào là làm chứng cho Chiên Con, và trong Máu Chiên Con, họ đã giặt tấm áo trắng tinh của mình (x. Kh 7, 14). Chớ gì họ đứng vững như các chứng nhân bất khuất làm chứng cho sự thật rằng, dù lúc nào và ở đâu, các Kitô hữu cũng được kêu gọi loan báo điều duy nhất là sức mạnh của thập giá Chúa Kitô ! Và chớ gì máu các vị tử đạo Á Châu bây giờ và mãi mãi là hạt giống hứa hẹn một sự sống mới cho Giáo Hội tại mọi chân trời góc biển của lục địa này !

KẾT LUẬN

LỜI TRI ÂN VÀ KHÍCH LỆ

50. Để kết thúc Tông Huấn hậu Thượng Hội Đồng, là tông huấn tìm cách phân định tiếng Chúa Thánh Thần muốn nói vơi các Giáo Hội tại Á Châu (x. Kh 1, 11) và giới thiệu những kết quả thu lượm được trong Hội Nghị Đặc Biệt về Á Châu của Thượng Hội Đồng Giám Mục vừa qua, tôi muốn bày tỏ lòng tri ân của Giáo Hội đối với tất cả các anh chị em Á Châu đã đóng góp cách này hay cách khác vào sự thành công của sự kiện Giáo Hội quan trọng ấy. Trước hết và trên hết, chúng ta hãy cùng nhau ca ngợi Thiên Chúa một lần nữa về kho tàng phong phú của lục địa rộng lớn này, kho tàng các văn hoá, các ngôn ngữ, các truyền thống và các cảm nhận tôn giáo khác nhau. Xin chúc tụng Chúa đã ban cho các dân tộc Châu Á này được phong phú về những sự dị biệt nhiều mặt của mình, nhưng vẫn hiệp nhất với nhau trong cùng một khát vọng, khát vọng được sống hoà bình và sung mãn. Cách riêng lúc này, khi sắp sửa đến lần kỷ niệm thứ 2000 ngày Đức Giêsu Kitô giáng sinh, chúng ta tạ ơn Chúa đã chọn Á Châu làm nơi cư ngụ trên trần gian này cho Con Chúa Nhập thể, cũng là Đấng Cứu Độ thế giới.

Tôi không thể không đánh giá cao các giám mục Á Châu về tình yêu sâu xa của các vị đối với Đức Giêsu Kitô, đối với Giáo Hội và các dân tộc Châu Á này, cũng như về sự hiệp thông và quảng đại dấn thân của các vị cho công việc phúc âm hoá. Tôi hết lòng biết ơn tất cả những ai đang làm nên đại gia đình Giáo Hội Châu Á : các giáo sĩ, nam nữ tu sĩ và những người tận hiến khác, các nhà truyền giáo, giáo dân, các gia đình, giới trẻ, các dân tộc bản xứ, các người lao động, người nghèo và người đau khổ. Tận đáy lòng tôi luôn có một chỗ đặc biệt dành cho những người Á Châu đang bị bách hại vì niềm tin vào Đức Kitô của mình. Họ là những cột trụ kín đáo của Giáo Hội, đã được chính Đức Giêsu ủi an rằng : “Anh em là người có phúc trong Nước Trời” (Mt 5, 10).

Những lời nói sau đây của Đưc Giêsu là để trấn an Giáo Hội tại Châu Á : “Hỡi đàn chiên bé nhỏ, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em” (Lc 12, 32). Những người tin vào Đức Kitô vẫn còn là một thiểu số ít ỏi trong lục địa mênh mông và đông dân nhất này. Tuy nhiên, thay vì là thiểu số nhút nhát rụt rè, họ vẫn sống tích cực trong đức tin, tràn trề hy vọng và sức sống, một điều chỉ do tình yêu mới có được. Một cách khiêm tốn nhưng rất dũng cảm, họ đã gây được ảnh hưởng lên các nền văn hoá và các xã hội Châu Á, nhất là họ đã tác động lên đời sống của những người nghèo đói và bơ vơ, mà nhiều người trong số đó không cùng một đức tin Công Giáo với họ. Họ đúng là một tấm gương cho các Kitô hữu mọi nơi luôn hăng hái chia sẻ kho tàng Tin Mừng “dù thuận lợi hay không thuận lợi” (2Tm 4, 2). Họ tìm được sức mạnh nơi quyền năng tuyệt vời của Chúa Thánh Thần, Đấng đã không coi thường những con số bé nhỏ của Giáo Hội Châu Á nhưng luôn bảo đảm cho Giáo Hội ấy được có mặt như một chút men pha trộn với khối bột một cách âm thầm và kín đáo cho tới khi tất cả khối bột dậy men (x. Mt 13, 33).

Mọi dân tộc trên Châu Á này đều cần đến Đức Giêsu Kitô và Tin Mừng của Ngài. Á Châu đang khao khát nước hằng sống mà chỉ mình Đức Giêsu mới có thể cung cấp (x. Ga 4, 10-15). Thế nên, các môn đệ Đức Kitô tại Châu Á này phải hết lòng trong nỗ lực chu toàn sứ mạng đã nhận được từ nơi Chúa, Đấng đã hứa sẽ ở với họ cho đến tận thế (x. Mt 28, 20). Tin tưởng vào Chúa là Đấng không để những ai đã được Ngài kêu gọi phải thất bại, Giáo Hội Châu Á hân hoan tiến vào Ngàn Năm Thứ Ba. Niềm vui duy nhất của Giáo Hội Châu Á lúc này là được chia sẻ với các dân tộc đông đảo của Châu Á món quà vĩ đại mà mình đã nhận được, tức là tình thương của Đức Giêsu Cứu Thế. Ước vọng duy nhất của Giáo Hội Châu Á lúc này là được tiếp tục sứ mạng phục vụ và yêu thương, để tất cả mọi người trên Châu Á “được sống và sống dồi dào” (Ga 10, 10).

CẦU NGUYỆN VỚI THÂN MẪU ĐỨC KITÔ

51. Đứng trước một sứ mạng đầy thách đố như thế, chúng ta hướng về Đức Maria, người mà như các nghị phụ Thượng Hội Đồng đã nói, rất được các Kitô hữu Châu Á yêu mến và tôn kính như người Mẹ của chính mình và của Đức Kitô(240). Khắp nơi trên Châu Á ta thấy hằng trăm đền thánh và nhà thờ kính Đức Maria, quy tụ không những các tín hữu Công Giáo mà cả tín đồ các tôn giáo khác nữa.

Trước thềm thiên niên kỷ thứ ba của Kitô Giáo, tôi xin trao Giáo Hội Á Châu cho Đức Maria, gương mẫu của mọi môn đệ và Ngôi Sao sáng ngời của công cuộc phúc âm hoá, vì tin tưởng tuyệt đối rằng Mẹ luôn lắng tai nghe, luôn mở rộng tấm lòng và không ngừng cầu nguyện :

Lạy Đức Maria rất thánh, ái nữ của Thiên Chúa chí tôn,

là Trinh Mẫu của Chúa Cứu Thế và là Mẹ của mọi người chúng con,

Xin đoái nhìn đến Giáo Hội của Con Mẹ đã được trồng trên mảnh đất Á Châu này.

Xin Mẹ dẫn đường và làm gương cho Giáo Hội trong khi Giáo Hội tiếp tục sứ mạng yêu thương và phục vụ của Con Mẹ tại Á Châu này. Mẹ đã tự nguyện đón nhận tiếng gọi của Chúa Cha để làm Thân Mẫu Thiên Chúa; xin dạy chúng con biết thanh tẩy khỏi tâm hồn mình tất cả những gì không phải là của Chúa, để tâm hồn ấy được đầy tràn Chúa Thánh Thần từ trời cao.Mẹ đã suy niệm các mầu nhiệm của thánh ý Thiên Chúa trong sự thinh lặng nội tâm ;xin giúp chúng con trên đường dương thế biết phân định các dấu chỉ của bàn tay quyền năng Chúa.Mẹ đã mau chóng đến thăm bà Elisabeth để giúp đỡ bà trong lúc chờ sinh nở ;xin cầu cho chúng con cũng có tinh thần nhiệt thành và phục vụ như Mẹtrong lúc thi hành nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng.Mẹ đã ca ngợi Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết hân hoan tuyên xưng lòng tin vào Đức Kitô Cứu Thế.Mẹ đã động lòng thương người túng thiếu và đã thay mặt họ cầu xin với Con Mẹ, xin dạy chúng con không bao giờ ngại ngùng thưa chuyện với Đức Giêsu về thế giới, cũng như nói với thế giới về Đức Giêsu.Mẹ đã đứng dưới chân Thánh Giá khi Con Mẹ trút hơi thở cuối cùng, xin cũng có mặt bên chúng con khi chúng con tìm cách hiệp thông trong tinh thầnvà trong hành động với tất cả những người đang đau khổ.Mẹ đã cầu nguyện cùng với các môn đệ trong Nhà Tiệc Ly, xin giúp chúng con biết mong đợi Chúa Thánh Thần đến với chúng con và đi bất cứ nơi nào Ngài đưa dẫn.Xin Mẹ hãy che chở Giáo Hội khỏi mọi quyền lực đang đe doạ Giáo Hội.Xin giúp Giáo Hội trở thành hình ảnh đích thực của Chúa Ba Ngôi.Xin cầu nguyện cho Giáo Hội nhờ tình thương và sự phục vụ của mình mà làm cho các dân tộc Á Châu nhận biết Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Thế duy nhất, và nhờ đó nếm được niềm vui vì được sống sung mãn.Lạy Đức Maria, Mẹ của công cuộc sáng tạo mới và là Mẹ của lục địa Á Châu này,xin cầu cho chúng con, là con cái Mẹ, bây giờ và mãi mãi !

Ban hành tại New Delhi, Ấn Độ, ngày 6 tháng 11 năm 1999, tức ức năm thứ 22 triều đại Giáo Hoàng của tôi. Gioan Phaolô II

CHÚ THÍCH:

  1. Đức Gioan Phaolô II, “Diễn văn tại Hội Nghị Khoáng Đại lần thứ 6 của Liên Hiệp Hội Đồng Giám Mục Á Châu”, Manila (15.1.1995), 11 : Insegnamenti XVIII, 1 (1995), 159.
  2. Tông thư “Tiến tới thiên niên kỷ thứ ba” (10.11.1994), 38 : AAS 87 (1995), 30.
  3. “Diễn văn…”, 11 : Insegnamenti XVIII, 1 (1995), 159.
  4. Tông thư “Tiến tới thiên niên kỷ thứ ba”, 38 : AAS 87 (1995), 30.
  5. x. Hội nghị đặc biệt về Á Châu của Thượng Hội Đồng Giám Mục, “Nuntius” (Sứ điệp kết thúc), 2.
  6. “Diễn văn…”, 10: Insegnamenti XVIII, 1 (1995), 159.
  7. Đức Gioan-Phaolô II, “Thư đề cập đến việc hành hương tới các địa điểm có liên quan tới lịch sử cứu độ” (29.6.1999), 3 : L’Osservatore Romano (30-06 – 01-07-1999), 8.
  8. x. Đề nghị 3.
  9. Đề nghị 1.
  10. x. Hội nghị đặc biệt về Á Châu của Thượng Hội Đồng Giám Mục, “Đề cương”, 3.
  11. Như trên.
  12. x. Đề nghị 32.
  13. x. Hội nghị đặc biệt về Á Châu của Thượng Hội Đồng Giám Mục, “Tài liệu làm việc”, 9.
  14. x. Đề nghị 36 và 50.
  15. x. Đề nghị 44.
  16. x. Đề nghị 27.
  17. x. Đề nghị 45.
  18. Hội Nghị đặc biệt về Á Châu của Thượng Hội Đồng Giám Mục, “Tài liệu làm việc”, 9.
  19. x. Đề nghị 39.
  20. x. Đề nghị 35.
  21. x. Đề nghị 38.
  22. x. Đề nghị 22.
  23. x. Đề nghị 52.
  24. x. Hội nghị đặc biệt về Á Châu của Thượng Hội Đồng Giám Mục, “Đề cương”, 6.
  25. x. Đề nghị 56
  26. Tông thư “Tiến tới thiên niên kỷ thứ ba”, 18 : AAS 87 (1995), 16.
  27. x. Đề nghị 29.
  28. x. Đề nghị 29 và 31.
  29. x. Đề nghị 51.
  30. x. Đề nghị 51, 52 và 53.
  31. x. Đề nghị 57.
  32. x. như trên.
  33. x. Đề nghị 54.
  34. “Diễn văn…”, số 3 : AAS 83 (1991), 252.
  35. x. Đề nghị 5.
  36. Hội Nghị đặc biệt về Á Châu của Thượng Hội Đồng Giám Mục, “Tường trình trước khi thảo luận” : L’Osservatore Romano (22.4.1998), 5.
  37. Hội nghị đặc biệt về Á Châu của Thượng Hội Đồng Giám Mục, “Tường trình sau khi thảo luận”, 3.
  38. x. Đề nghị 8.
  39. “Diễn văn…”, số 11 : AAS 83 (1991), 260.
  40. x. như trên
  41. Hội Nghị đặc biệt về Á Châu của Thượng Hội Đồng Giám Mục, “Tường trình sau khi thảo luận”, 3.
  42. Sách lễ Rôma : Kinh Nguyện Thánh Thể 1 cho các thánh lễ Hoà Giải.
  43. Đức Gioan-Phaolô II, tông thư “Đấng Cứu Chuộc loài người” (4.3.1979), 10 : AAS 71 (1979), 274.
  44. Hiến chế mục vụ “Vui Mừng và Hy vọng”, 22.
  45. “Diễn văn…” số 9 : AAS 71 (1979), 272t.
  46. Hội Nghị đặc biệt về Á Châu của Thượng Hội Đồng Giám Mục, “Tường trình sau khi thảo luận”, 3.
  47. x. như trên
  48. x. như trên
  49. x. Đề nghị 5.
  50. Đức Gioan Phaolô II, Tông thư “Sứ vụ Đấng Cứu Thế” (7.12.1990), 6 : AAS 83 (1991), 255.
  51. Tông thư “Đấng Cứu Chuộc loài người” (4.3.1979), 7 : AAS 71 (1979), 269.
  52. x. Đức Gioan Phaolô II, Tông thư “Là Chúa và là Đấng tác sinh” (18.5.1986), 54 : AAS 78 (1986), 875.
  53. x. như trên
  54. Tông thư “Sứ vụ Đấng Cứu Thế” (7.12.1990), 28 : AAS 83 (1991), 274 ; x. Hiến chế “Vui Mừng và Hy Vọng”, 26.
  55. x. Đề nghị 11 ; Vaticanô II, Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo Hội “Đến với lương dân”, 4 và 15 ; Hiến chế tín lý về Giáo Hội “Ánh sáng muôn dân”, 17 ; Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới hôm nay “Vui Mừng và Hy Vọng”, 11, 22 và 38 ; Tông thư “Sứ vụ Đấng Cứu Thế” (7.12.1990), 28 : AAS 83 (1991), 273t.
  56. x. Hội nghị đặc biệt về Á Châu của Thượng Hội Đồng Giám Mục, “Tường trình trước khi thảo luận” : L’Osservatore Romano (22.4.1998), 5.
  57. Tông thư “Là Chúa và là Đấng tác sinh” (18.5.1986), 50 : AAS 78 (1986), 870 ; x. Thánh Tôma Aquinô, “Tổng luận thần học”, III, 2, 10-12 ; 6, 6 ; 7, 13.
  58. x. Đức Gioan Phaolô II, Tông thư “Là Chúa và là Đấng tác sinh” (18.5.1986), 50 : AAS 78 (1986), 870.
  59. x. như trên.
  60. x. Đức Gioan Phaolô II, Tông thư “Sứ vụ Đấng Cứu Thế” (7.12.1990), 28 : AAS 83 (1991), 274.
  61. “Diễn văn…”, số 29 : AAS 83 (1991), 275 ; x. Hiến chế “Vui Mừng và Hy Vọng”, 45.
  62. x. Đức Gioan Phaolô II, Tông thư “Sứ vụ Đấng Cứu Thế” (7.12.1990), 29 : AAS 83 (1991), 275.
  63. x. CĐ. Vaticanô II, Hiến chế “Ánh sáng muôn dân”, 13.
  64. Đề nghị 12.
  65. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế “Ánh sáng muôn dân”, 17.
  66. Đức Gioan Phaolô II, Tông huấn “Loan báo Tin Mừng” (8.12.1975), 22 : AAS 68 (1976), 20.
  67. Đề nghị 8.
  68. Đức Gioan Phaolô II, Tông thư “Sứ vụ Đấng Cứu Thế” (7.12.1990), 45 : AAS 83 (1991), 292.
  69. x. như trên.
  70. X. Vaticanô II, Tuyên ngôn về tự do tôn giáo “Phẩm giá con người”, 3-4 ; Tông thư “Sứ vụ Đấng Cứu thế”, 39 : AAS 83 (1991), 287 ; Đề nghị 40.
  71. Đức Phaolô VI, Tông huấn “Loan báo Tin Mừng”, 53 : AAS 68 (1976), 41t.
  72. “Diễn văn với các đại biểu các tôn giáo ngoài Kitô Giáo”, Madras (5.2.1986), 2 : AAS 78 (1986), 767.
  73. x. Đề nghị 11 và 12 ; tông thư “Sứ vụ Đấng Cứu Thế”, 28 : AAS 83 (1991), 273t.
  74. “Tường trình trước khi thảo luận” : L’Osservatore Romano (22.4.1998), 5.
  75. Đề nghị 58.
  76. x. Đức Gioan-Phaolô II, Tông thư “Đức tin và lý trí” (14.9.1998), 72 : AAS 91 (1999), 61.
  77. “Tường trình sau khi thảo luận”, 15.
  78. x. như trên
  79. x. như trên
  80. Đề nghị 6.
  81. x. “Tường trình sau khi thảo luận”, 6.
  82. x. như trên
  83. x. “Tường trình trước khi thảo luận” : L’Osservatore Romano (22.4.1998), 5.
  84. x. Tông huấn “Loan báo Tin Mừng”, 20 : AAS 68 (1976), 18t.
  85. Tông thư “Sứ vụ Đấng Cứu Thế”, 52 : AAS 83 (1991), 300.
  86. x. “Tường trình sau khi thảo luận”, 9.
  87. x. Hiến chế “Vui Mừng và Hy Vọng”, 22 ; Tông thư “Sứ vụ Đấng Cứu Thế”, 28 : AAS 83 (1991), 273t.
  88. x. Tông thư “Sứ vụ Đấng Cứu Thế”, 56 : AAS 83 (1991), 304.
  89. Đức Gioan-Phaolô II, “Bài giảng trong Thánh lễ dành cho người Công Giáo miền Tây Bengal, Calcutta” (4.2.1986), 3 : Insegnamenti IX, 1 (1986), 314.
  90. x. Đề nghị 43.
  91. x. Đề nghị 7.
  92. x. như trên
  93. Tông thư “Sứ vụ Đấng Cứu Thế”, 54 : AAS 83 (1991), 302.
  94. x. như trên
  95. x. Vaticanô II, Hiến chế về phụng vụ thánh, 10 ; “Tường trình sau khi thảo luận”, 14.
  96. x. “Tường trình sau khi thảo luận”, 14 ; Đề nghị 43.
  97. x. đề nghị 43.
  98. x. “Tường trình sau khi thảo luận”, 13.
  99. x. Đề nghị 17.
  100. x. Đề nghị 18.
  101. x. Đề nghị 17.
  102. “Diễn văn…”, số 60 ; 62 ; 105 : AAS 91 (1999), 52t ; 54 ; 85t.
  103. x. Đề nghị 24.
  104. x. Đề nghị 25.
  105. x. như trên.
  106. x. Đề nghị 27.
  107. x. Đề nghị 29.
  108. x. Tông thư “Sứ vụ Đấng Cứu Thế”, 91 : AAS 83 (1991), 338.
  109. Đề nghị 19.
  110. Đề nghị 8.
  111. Tuyên ngôn về tự do tôn giáo, 2.
  112. Đề nghị 6.
  113. Thánh Augustinô, “De Civitate Dei”, XVIII, 51, 2 : PL 41, 614 ; x. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế “Ánh sáng muôn dân”, 8.
  114. Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh “Đến với lương dân”, 7 ; x. Hiến chế “Ánh sáng muôn dân”, 17.
  115. Đức Phaolô VI, “Diễn văn trước Hồng Y đoàn” (22.6.1973) : AAS 65 (1973), 391.
  116. Đức Gioan-Phaolô II, Tông huấn sau Thượng Hội Đồng “Người kiô hữu giáo dân” (30.12.1988), 18 : AAS 81 (1989), 421.
  117. x. như trên ; hiến chế “Ánh sáng muôn dân”, 4.
  118. x. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, 775.
  119. x. như trên.
  120. Tông huấn “Người Kitô hữu giáo dân”, 32 : AAS 81 (1989), 451t.
  121. x. Hiến chế “Ánh sáng muôn dân”, 16.
  122. Đề nghị 13.
  123. x. như trên.
  124. x. “Tường trình trước khi thảo luận” : L’Osservatore Romano (22.4.1998), 6.
  125. Đề nghị 13 ; x. Hiến chế “Ánh sáng muôn dân”, 22.
  126. x. đề nghị 13.
  127. x. Đề nghị 15 ; Thánh Bộ giáo lý đức tin, “Thư gửi các giám mục Hội Thánh Công Giáo về một số khía cạnh của Giáo Hội, được hiểu như sự hiệp thông theo ‘Ý niệm Hiệp Thông’” (28.5.1992), 3-10 : AAS 85 (1993), 839-844.
  128. x. Đề nghị 15.
  129. x. như trên.
  130. x. Đề nghị 16.
  131. Đề nghị 34.
  132. x. đề nghị 30 ; x. Tông thư “Sứ vụ Đấng Cứu Thế”, 51 : AAS 83 (1991), 298.
  133. X. tông huấn “Loan báo Tin Mừng”, 58 : AAS 68 (1976), 46-49 ; Tông thư “Sứ vụ Đấng Cứu Thế”, 51 : AAS 83 (1991), 299.
  134. x. Đề nghị 31.
  135. x. Đề nghị 14.
  136. x. “Tường trình trước khi thảo luận” : L’Osservatore Romano (22-4-1998), 6.
  137. x. Đề nghị 50.
  138. x. Đề nghị 36 và 50.
  139. x. Đức Gioan-Phaolô II, “Diễn văn tại Thượng Hội Đồng các giám mục Giáo Hội theo nghi lễ Syro-Malabar” (8.1.1996), 6 : AAS 88 (1996), 41.
  140. x. Đề nghị 50.
  141. x. Đề nghị 56.
  142. x. Đề nghị 51.
  143. x. Đề nghị 52.
  144. Đề nghị 53.
  145. x. đề nghị 57.
  146. x. “Thư đề cập đến việc hành hương tới các địa điểm có liên quan tới lịch sử cứu độ”, 7 : L’Osservatore Romano , 9.
  147. AAS 56 (1964), 613.
  148. x. Đề nghị 42.
  149. x. như trên.
  150. Đức Gioan-Phaolô II, “Diễn văn tại buổi triều yết chung” (26-6-1995), 4 : Insegnamenti XVIII, 2 (1995), 138.
  151. x. “Diễn văn tại buổi triều yết chung” (20-01-1982), 2 : Insegnamenti V, 1 (1982), 162.
  152. x. “Diễn văn…” số 53 : AAS 83 (1991), 302.
  153. x. Tông thư “Sứ vụ Đấng Cứu Thế”, 55 : AAS 87 (1991), 302.
  154. x. như trên.
  155. “Diễn văn…”, số 4 : AAS 83 (1991), 101t.
  156. “Diễn văn…”, số 56 : AAS 83 (1991), 304.
  157. Đề nghị 41.
  158. x. như trên.
  159. x. như trên
  160. x. Tông thư “Sứ vụ Đấng Cứu Thế”, 57 : AAS 83 (1991), 305.
  161. x. Tông huấn hậu Thượng Hội Đồng “Đời sống thánh hiến” (25.3.1996), 8 : AAS 88 (1996), 383.
  162. x. Tông thư “Quan tâm đến xã hội” (30.12.1987), 47 : AAS 80 (1988), 582.
  163. Hiến chế ” Vui Mừng và Hy Vọng”, 1.
  164. Xét về nhiều mặt, cơ sở ban đầu cho Giáo Hội dựa vào là tông thư “Các điều mới” của đức giáo hoàng Leô XIII (15.3.1891), là văn kiện thúc đẩy Giáo Hội đưa ra một loạt các lời tuyên bố long trọng đề cập đến các khía cạnh khác nhau của vấn đề xã hội. Trong số đó có tông thư “Thăng tiến các dân tộc” (26.3.1967) do đức giáo hoàng Phaolô VI đưa ra để hưởng ứng giáo huấn của công đồng Vaticanô II trước tình hình thế giới đã thay đổi. Nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày ban hành tông thư này, tôi đã đưa ra tông thư “Quan tâm đến xã hội” (30.12.1987), trong đó, dựa vào các Huấn Quyền trước, tôi kêu gọi tất cả các tín hữu hãy ý thức mình được gọi tham gia một sứ mạng phục vụ có bao hàm cả việc đẩy mạnh sự phát triển con người toàn diện.
  165. Tông thư “Quan tâm đến xã hội”, 41 : AAS 80 (1988), 570t.
  166. x. Thánh bộ Giáo Lý Đức Tin, huấn thị về sự tự do và giải phóng của Kitô Giáo , “Ý thức về tự do” (22.3.1986), 72 : AAS 79 (1987), 586.
  167. x. Đề nghị 22.
  168. x. Đề nghị 21.
  169. x. Tông huấn hậu Thượng Hội Đồng “Người Kitô hữu giáo dân”, 5 : AAS 81 (1989), 400-402 ; tông thư “Tin Mừng về sự sống” (25.3.1995), 18 : AAS 87 (1995), 419t.
  170. Đề nghị 22 ; x. Đề nghị 39.
  171. Tông thư “Quan tâm đến xã hội”, 42 : AAS 80 (1988), 573 ; x. Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn thị về sự tự do và giải phóng của Kitô Giáo, “Ý thức về tự do”, 68 : AAS 79 (1987), 583.
  172. x. Đề nghị 44.
  173. x. như trên.
  174. x. Đề nghị 39.
  175. x. Đề nghị 22.
  176. x. Đề nghị 36.
  177. x. Đề nghị 38.
  178. x. như trên.
  179. x. Đề nghị 33.
  180. x. như trên.
  181. x. Đề nghị 35.
  182. x. như trên.
  183. Đề nghị 32.
  184. x. Đức Gioan-Phaolô II, Tông thư “Đau khổ dem lại ơn cứu độ” (“Salvifici doloris”) (11.2.1984), 28-29 : AAS 76 (1984). 242-244.
  185. x. Đề nghị 20.
  186. x. như trên.
  187. x. Đề nghị 21.
  188. x. như trên.
  189. x. như trên.
  190. x. Đề nghị 23.
  191. x. như trên.
  192. x. Đề nghị 55.
  193. x. Đề nghị 49.
  194. Đức Gioan-Phaolô II, Sứ điệp cho ngày quốc tế cầu nguyện cho hoà bình (1.1.1998), 3 : AAS 90 (1998), 50.
  195. x. Đề nghị 49.
  196. x. Đề nghị 48.
  197. x. như trên. ; Tông thư “Khi ngàn năm thứ ba đến”, 51 : AAS 87 (1995), 36.
  198. x. Đề nghị 48.
  199. x. Đề nghị 22 ; Tông thư “Quan tâm đến xã hội”, 44 : AAS 80 (1988), 576t.
  200. x. Tông thư “Đấng Cứu Chuộc loài người”, 15 : AAS 71 (1979), 287.
  201. x. như trên.
  202. x. Đề nghị 47.
  203. “Các bài giảng về tin mừng Matthêu”, 50, 3-4 : PG 58, 508-509.
  204. x. Sắc lệnh “Đến với lương dân”, 2 và 35.
  205. x. Tông thư “Sứ vụ Đấng Cứu Thế”, 31 : AAS 83 (1991), 277.
  206. x. như trên.
  207. x. như trên.
  208. x. Đề nghị 25.
  209. x. như trên.
  210. x. Hiến chế “Ánh sáng muôn dân”, 46.
  211. x. Đề nghị 27.
  212. x. Tông huấn hậu Thượng Hội Đồng “Đời sống thánh hiến”, 103 : AAS 88 (1996), 479.
  213. x. Tông huấn “Loan báo Tin Mừng”, 69 : AAS 68 (1976), 59.
  214. x. Đề nghị 27.
  215. x. như trên.
  216. x. như trên.
  217. x. Đề nghị 28.
  218. x. như trên.
  219. x. Hiến chế “Ánh sáng muôn dân”, 31.
  220. x. Đề nghị 29.
  221. x. như trên.
  222. x. như trên.
  223. Đức Gioan-Phaolô II, “Diễn văn tại buổi yết kiến chung” (13.7.1994), 4 : Insegnamenti XVII, 2 (1994), 40.
  224. x. Đề nghị 35.
  225. x. như trên.
  226. Hiến chế “Ánh sáng muôn dân”, 11.
  227. x. “Tường trình trưóc khi thảo luận” : L’Osservatore Romano (11.4.1998), 6.
  228. x. Đề nghị 32.
  229. x. Đề nghị 33.
  230. Đức Gioan-Phaolô II, “Diễn văn tại Liên hiệp các Văn phòng tư vấn gia đình chịu ảnh hưởng Kitô Giáo” (29.11.1980), 4 : Insegnamenti III, 2 (1980), 1454.
  231. x. Đề nghị 34.
  232. x. như trên.
  233. Tông thư “Sứ vụ Đấng Cứu Thế”, 37 : AAS 83 (1991), 285.
  234. x. như trên.
  235. x. như trên.
  236. x. Đề nghị 45.
  237. x. như trên.
  238. x. như trên.
  239. “Diễn văn…” số 13 : AAS 91 (1999), 142.
  240. x. Đề nghị 59.